Mã tấu khác đao ở độ dài, mã tấu dài hơn và rộng bản hơn đao vì nó sinh ra để chặt chân ngựa!

Theo cách phân loại của tôi thì:
- Kiếm:

- Gươm:

- Đao:

- Mã tấu:

Lâu rồi không lên mạng, hôm nay vô tình thấy tranh luận này, tuy có hơi muộn em cũng xin phép góp vài dòng cho xôm tụ.
Thực ra tên gọi binh khí Việt đa dạng một phần do vị trí địa lý và lịch sử giao chiến, giao thương nữa.
"Mã Tấu" thực ra là kiểu trại âm và rút gọn của tiếng Hán "Trảm Mã Đao"
Tương tự như chữ "Giết" khi xông trận là kiểu trại âm của từ "Sát"
Và binh khí nà bề rộng bản đủ lớn, cứng chắc để đoạn đứt ống quyển và giáp của thiết kỵ - đối tượng chủ yếu là kỵ binh.
Riêng về tên gọi "Gươm" với "Kiếm" thì theo em là Kiếm là từ gọi theo tiếng Hán (剱), "gươm" (鎌 / 劍 ) là cách gọi giống dân miền thượng và Chiêm Thành ngày trước [nếu để ý sẽ thấy các từ Việt lai Chăm đều không viết ra tiếng Hán được nên mới có chữ Nôm để ghi lại]. Cả hai có thể quy nạp chung một đặc điểm là binh khí hạng nhẹ, trang bị cho bộ binh / kỵ binh chủ yếu dùng một tay phối hợp với khiên ở tay còn lại. Có thể hai hoặc một lưỡi nhưng bề rộng bản và chiều dài từ đốc kiếm / gươm đến lưỡi thường từ 1.2m đến 1.45m để tiện giắt bên hông / lưng, xoay trở được trong khu vực rừng núi.
Thường để trang bị đại trà trong quân đội thì binh khí 01 lưỡi dễ chế tác trong thời gian ngắn hơn. Trong điều kiện thời bình thì kiếm 2 lưỡi có họa tiết tinh xảo xuất hiện như một phần trang trí hơn là trang bị cho các tầng lớp quý tộc nhiều hơn trong dã binh.