Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 11:10:17 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4  (Đọc 109479 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #50 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2009, 10:37:31 pm »

Bấy giờ, vũ khí đánh xa chủ yếu là cung nỏ, loại binh cụ truyền thống của quân đội nước ta ngay từ buổi đầu dựng nước và giữ nước. Quân và dân thời Trần đã kế thừa truyền thống chế tạo và sử dụng cung nỏ trong sự nghiệp giữ nước.  Bấy giờ, tập cưỡi ngựa và sử dụng cung kiếm là việc bắt buộc đối với mọi vương hầu, tướng lĩnh.

Cùng với Giảng Võ đường tức là nơi học tập lý luận binh pháp ở Thăng Long còn có trường bắn, bãi tập hay trường đua. Ngoài đua ngựa, các tướng còn luyện tập và đọ tài cung kiếm ở đó. Quan Thái uý Trần Tự Khánh vốn nổi tiếng tài bắn cung. Trong Hịch tướng sĩ, Trần Quốc Tuấn khuyên các tướng phải “huấn luyện quân sĩ, tập dượt cung tên, khiến cho người người giỏi như Bàng Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ”. Trần Cụ là người nổi tiếng giỏi bắn nỏ nên được vua Trần Anh Tông cho vào cung để dạy thát tử.

Cung, nỏ với mũi tên tẩm thuốc độc là vũ khí lợi hại của quân đội Đại Việt. Sử chép về chiến công của các đội quân cung nỏ thời Trần năm 1285 như sau: “Lý Hằng đem quân hộ tống Thoát Hoan chạy về Tư Minh. Quân ta lấy tên độc bắn trúng vào gối bên tả của Hằng, Hằng chết. Tuỳ tướng là Lý Quán thu nhặt 5 vạn quân còn lại lấy đồ đồng dấu Thoát Hoan vào trong để trốn về Bắc. Đến Tư Minh, Hưng Vũ vương đuổi theo dùng tên thuốc độc bắn trúng, Lý Quán chết, quân Nguyên tan vỡ” 1. Tên Việt gian Trần Kiện không thể thoát khỏi mũi tên độc của gia nô của Hưng Đạo Vương là Nguyễn Địa Lô ở Ma Lục (Lạng Sơn). Nguyên sử nói rằng, trong trận Bạch Đằng (1288), quân Trần “bắn tên như mưa”, gây nhiều tổn thất cho chúng.

Cung, nỏ là thứ vũ khí đánh xa quan trọng nhất trong thời bạch khí. Ngoài cung nỏ, quân đội nhà Trần còn sử dụng  máy bắn đá, bẫy đá, nhưng có lẽ không thông dụng lắm, nên không thấy phản ánh nhiều trong sử sách.

Quân đội Đại Việt cũng được trang bị câu liêm, móc câu chùm, chông sắt và những phương tiện đánh thành. Câu liêm vừa là vũ khí vừa là đồ quân dụng của thuỷ quân, có thể dùng để cắt dây leo hoặc để móc thuyền.

Trong trận Bạch Đằng (1288), tướng Nguyên là Phàn Tiếp bị thương nhảy xuống nước, quân ta dùng câu liêm móc lên bắt sống. Trong cuộc kháng chiến năm 1285, trên đường tháo chạy của quân Nguyên, có hàng trăm dặm liền, từ Nội Bàng đến Nữ Nhi - Khâu Cấp, quân ta đã đào hố đặt chông để bẫy giặc. Binh thư yếu lược có nói về cách sử dụng chông sắt. Phương pháp nối thang đánh thành cũng được mô tả trong sách ấy.

Mũ che đầu, khiên mộc, áo giáp... là các phương tiện hộ thân. Hình ảnh hai người chiến binh thời Lý - Trần được khắc hoạ trên đồ gốm, đều cầm giáo và khiên. Sứ Nguyên là Trần Phu cho biết: “Mỗi lần đến trước cửa điện, xuống xe, thì Thái sư Trần Quang Khải và Thái uý Trần Đức Việt, mỗi người cầm một miếng ván tròn như gương màu xanh rộng 6 xích, trên vẽ mặt trời, mặt trăng, sao Bắc Đẩu và 28 vị tinh tú, có ý dùng để tự che chở cho mình” (An Nam tức sự). áo giáp có thể bằng da trâu, bằng mây hay đồng, sắt. Năm 1214, tướng Nguyễn Nộn bị đối thủ dùng gươm đâm thủng áo giáp sắt, bị thương.

Vì sử liệu quá hạn chế, nên chúng ta không thể khảo xét tường tận về chế độ trang bị của quân đội nhà Trần.  Từ thế kỷ XIII và nhất là từ thế ỷ XIV, hoả khí đã xuất hiện và sử dụng khá phổ biến ở một số nước trên thế giới.  Phát minh thuốc súng và sử dụng nó trong quân sự sớm nhất là ở Trung Hoa và Ấn Độ. Người Trập và người châu Âu đã học cách chế chất nổ và pháo từ các nước đó.

Ở Việt Nam, yêu cầu của cuộc chiến tranh giữ nước ngày một cao, tổ tiên ta đã không ngừng nghiên cứu, sáng tạo các loại vũ khí và phương tiện chiến đấu. Theo truyền thuyết và dã sử thì ở nước ta thuốc súng đã xuất hiện khá sớm, được sử dụng trong hội hè, đình đám và cả trong quân sự. Thời Lý - Trần, trong dân gian đã có tục đốt pháo mừng Xuân.

Nguyên sử, phần An Nam truyện có chép việc sử dụng pháo của quân nhà Trần. Sự kiện đó diễn ra vào tháng 2-1285, khi quân Nguyên tiến đến gần Đông Bộ Đầu, đóng ở bên kia sông Nhị, chuẩn bị tiến công vào Kinh thành Thăng Long, thì quân ta do vua Trần chỉ huy từ bên này sông đã “bắn pháo hô to, thách đánh” (nguyên văn của Nguyên sử là: Phát pháo đại hô cầu chiến). Tuy nhiên, đó mới chỉ là sử liệu duy nhất phản ánh về hoả khí của quân đội Đại Việt thế kỷ XIII. 


_________________________________
1. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.2, tr.92.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #51 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2009, 10:39:29 pm »

Đến giai đoạn cuối Trần (thế kỷ XIV), việc sử dụng hoả khí trong quân đội Đại Việt đã phổ biến và có hiệu quả. Năm 1382, tại cửa biển Thần Dầu, trong một trận thuỷ chiến với quân xâm lược Chiêm Thành, viên tướng dưới quyền chỉ huy của Hồ Quý Ly là Nguyễn Đa Phương đã mở hàng cọc, cho quân xông thẳng vào thuỷ quân Chiêm, ném đồ hoả khí thiêu cháy gần hết đoàn thuyền chiến của giặc.

Đặc biệt là sự kiện xảy ra trên sông Hải Triều (sông Luộc) vào tháng Giêng năm Canh Ngọ (1390), khi vua Chiêm là Chế Bồng Nga với hàng tướng là Trần Nguyên Diệu chỉ huy hơn 100 chiến thuyền đi dò xét trận thế, chuẩn bị đánh quân ta. Lúc đó, Đô tướng Trần Khát Chân chỉ huy quân Trần đã dàn thế trận mai phục, bố trí các khầu pháo hai bên bờ sông và trên thuyền chiến. Khi thuyền giặc chưa kịp tập hợp thì một tiểu thần bị Bồng Nga trách phạt đã sang đầu hàng quân ta và chỉ chiến thuyền sơn màu lục là thuyền có vua Chiêm đang đứng thị sát. Tướng Trần Khát Chân sai hoả pháo cùng bắn một loạt.  Đạn bay trúng giữa thân Chế Bồng Nga xuyên xuống tận ván thuyền. Bồng Nga chết ngay, quân địch tan vỡ 1.

Như vậy, có thể nói rằng từ thế kỷ XIII, ở Đại Việt đã biết chế tạo và sử dụng thuốc súng trong mục đích quân sự và sang cuối thế kỷ XIV thì quân đội Đại Việt đã được trang bị và sử dụng hoả pháo phổ biến trong chiến đấu và hoả khí đã xuất hiện ở nước ta vào thời kỳ này. Một trong những người có công sáng chế và cải tiến hoả pháo thời đó là Hồ Nguyên Trừng, con trai trưởng của Hồ Quý Ly. Lúc đó Hồ Quý Ly là một trọng thần trong vương triều Trần.

Sử liệu không cho biết phương thức chế tạo vũ khí thời Trần ra sao. Tất nhiên là nhà nước thời Trần đã lập các quan xưởng để chế tạo các đồ binh khí. Ngoài ra, chúng ta biết rằng, trước và sau mỗi lần kháng chiến, vua Trần thường hạ chiếu “truyền cho cả nước sắm sửa vũ khí”.

Năm 1282, Hoài Văn hầu Trần Quốc Toàn đã lập một đội quân hơn nghìn gia nô và thân thuộc, tự sắm vũ khí, đóng chiến thuyền, chờ ngày giết giặc, cứu nước.

Mùa Xuân năm Bính Tuất (1286), vua Trần hạ lệnh cho các vương hầu, tôn thất mộ thêm binh và sửa soạn đồ binh khí, thuyền ghe, chuẩn bị bước vào cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên lần thứ ba.

Trong chiến tranh chống xâm lược thời Trần, vũ khí phần lớn do nhân dân tự trang bị lấy. Hơn nữa, với phương thức tổ chức quân đội theo quốc sách “ngụ binh ư nông”, “thời bình làm nông, thời chiến làm binh”, thì các vũ khí thông thường như giáo, mác, gậy, cung nỏ, v.v. do quân vương hầu, quân địa phương và dân binh tự trang bị là chuyện dễ hiểu. Và, có lẽ cũng do vậy mà sử sách đã phản ánh sự kiện Linh từ quốc mẫu (vợ Thát sơ Trần Thủ Độ) đã quyên góp được nhiều đồ binh khí của các nhà để có thêm vũ khí cho quân đột. Hình thức tự “sắm sửa vũ khí” theo lệnh của triều đình nói trên là phổ biến dưới triều Trần.

Về quân trang - quân phục đời Trần, sử sách phản ánh hết sức tản mạn, ít ỏt. Có thể biết cách ăn mặc của quân lính, võ quan thời Trần qua những quy định của nhà nước. Năm 1293, sứ nhà Nguyên sang ta không thấy y phục của quân dân Đại Việt có màu xanh, đỏ, vàng tía, bởi vì đó là những màu sắc bị cấm, chỉ dành riêng cho vua và những người quyền quý.

Năm 1300, định thể lệ áo mũ mới cho các quan văn, võ. Về áo mặc, kích thước tay áo của các quan từ 1 thước 2 tấc đến 9 tấc, không được mặc thứ “áo phủ phía trước”, tụng quan không được mặc áo “xiêm”. Quan văn võ đều đội mũ “chữ đinh”, thêm miếng lụa bọc màu tím xen màu biếc.  Năm 1396, quy định cho các quan văn võ, tước từ cửu phẩm trở lên đội mũ Giác Đinh, từ thất phẩm trở xuống đội mũ Thái Cổ. Năm 1374, có lệnh cấm quân dân không được mặc áo kiểu của người phương Bắc . . .

Bấy giờ, quân sĩ Vân Đồn đội nón Ma Lôi. Lúc đó, Trần Khánh Dư trấn giữ Vân Đồn, ông thấy quân dân đều ăn mặc, trang phục kiểu Trung Quốc. Khánh Dư ra lệnh: “Quân đóng ở Vân Đồn là để giữ giặc Hồ (giặc Bắc), không nên đội nón phương Bắc, trong chiến tranh khi vội vàng khó phân biệt; phải đội nón Ma Lôt. Ai trái lệnh thì phạt” 2.


_____________________________
1. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, tr.67.
2. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, tr.60.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #52 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2009, 10:41:23 pm »

Ma Lôi là một hương ở Hồng Lộ (Hải Dương) khéo nghề đan cật tre làm nón. Bấy giờ có loại khăn và mũ giành riêng cho nhà vua hoặc các tướng khi duyệt binh. Vua Trần Anh Tông có hai chiếc “ mũ võ” để đội khi kiểm duyệt quân đội hay khi đến Giảng Võ đường, đặt tên là mũ Vũ Uy và Vũ Đức.

Năm 1351 , khi duyệt cấm quân ở điện Thiên An, Nguyễn Trung Ngạn mặc áo chiến bào, đội khăn quan võ, đeo “đăng kim nghiền” bằng gỗ vuông sơn son thiếp vàng bốn cạnh, trông rất oai nghiêm.

Nhìn chung, trang phục của võ quan, tướng lĩnh và binh lính nhà Trần đã khá tươm tất, thống nhất; về triều phục các quan văn võ, càng về sau càng được quy định phân biệt theo phẩm hàm, chức tước của họ.

Quân đội thời Trần là một quân đội chính quy, có tổ chức quy củ và được trang bị khá tốt. Tất nhiên, thời bấy giờ, về trang bị giữa quân ta và quân Nguyên không thua kém nhau nhiều. Điều chủ yếu đưa đến thắng lợi của quân dân ta là vấn đề huấn luyện con người để phát huy hiệu quả của các binh khí kỹ thuật đó.

2. Chế độ luyện quân

Nhà Trần đặc biệt coi trọng đào luyện các võ quan, tướng lĩnh trên cả hai mặt đức và tài. Hình thức bồi dưỡng, rèn luyện đức độ có thể bằng ban chiếu dụ, truyền hịch, hoặc tổ chức cho các tướng học tập, họp bàn, tuyên thệ, v.v..

Nội dung rèn luyện trước tiên là bồi dưỡng tình cảm của võ quan, tướng lĩnh đối với quê hương, đất nước, đối với quân sĩ, đề cao lòng nhân nghĩa, “trung quân ái quốc”, tinh thần trách nhiệm của người cầm quân.

Trước khi bước vào cuộc đọ sức quyết liệt với giặc Nguyên (1285), ở cương vị là Quốc công tiết chế (tổng chỉ huy quân đội), Trần Quốc Tuấn đã ra Hịch tướng sĩ, kêu gọi, khơi dậy lòng trung nghĩa, tinh thần chiến đấu hy sinh “vì nước quên mình” của các tướng. ý chí quyết chiến, quyết thắng được bài hịch khích lệ đã từ các tướng sĩ truyền đến toàn quân, tạo nên một sức mạnh chính trị tinh thần hết sức to lớn.

Tháng 11- 1282, vua Trần Nhân Tông triệu tập các vương hầu bách quan đến Bình Than bàn kế đánh giặc. Qua hội nghị đó, triều đình đã chung đúc trí tuệ, mưu lược của các tôn thất, tướng sĩ để đạt tới một phương lược giữ nước tối ưu, để mọi người cùng thống nhất ý chí và hành động. Qua hội nghị đó, triều đình nhà Trần đã động viên tinh thần đánh giặc của các tướng sĩ, làm cho mọi người dù được tham gia hội nghị hay không, đều nhận thấy bổn phận của người tướng trước nguy cơ giặc ngoại xâm.

Hai sự kiện đối với Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư và Hoài Văn hầu Trần Quốc Toàn mà sử sách đã ghi đều thể hiện tinh thần đó. Trước khi bước vào cuộc sống mái với giặc, triều đình và tướng sĩ đã đồng lòng, đồng sức, đồng chí hướng, hết mực quyết tâm xả thân cứu nước. Nhân tố tinh thần - chính trị đó là hết sức cần thiết, giữ vai trò quyết định chiến thắng.

Cũng như thời Lý, triều Trần tổ chức hội thề hằng năm ở Long Trì hay tại đền Đồng Cổ, gọi là lễ Hội thề quốc nhân hay Lễ Minh thệ. Sách Lịch triều hiến chương loại chí miêu tả một buổi hội thề như sau:

“Hàng năm, ngày mồng 4 tháng 4, tể tướng và trăm quan, hồi gà gáy đến trực ngoài cửa thành, mờ sáng tiến vào triều. Vua ngự ở cửa hữu lang điện Đại Minh; trăm quan mặc nhung phục làm lễ hai lậy rồi lui ra; đều đủ đội ngũ nghi trượng theo hầu cửa tây Kinh thành đến đền thờ thần núi Đồng Cổ, họp nhau như thế rồi uống máu. Quan Trung thư kiểm chính đọc lời thề rằng: “Làm tôi hết lòng, làm quan thanh bạch, không giữ lời thề thần minh tru diệt” . Đọc xong, quan tể tướng sai đóng cửa đại để kiểm điểm. Người nào thiếu mặt thì phạt 5 quan tiền. Ngày hôm ấy con trai, con gái bốn phương đứng ở cạnh đường để xem chật ních, cho là hội lớn” 1.


_________________________
1. Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Sđd, t.II, tr.206.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #53 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2009, 10:44:34 pm »

Hình thức hội thề đó đã góp phần gắn bó các triều thần văn võ với vua và hoàng tộc.  Tuy nhiên, để nâng cao chất lượng quân đội, yếu tố tài năng quân sự, tức là thông thạo binh pháp, giỏi võ nghệ của đội ngũ võ quan, tướng lĩnh không thể thiếu được. Các vua Trần nói chung đều trọng võ. Lúc đó, xu hướng coi trọng võ nghệ trở thành phương châm sống của vua quan, của quý tộc Trần.

Sử chép: Bấy giờ các vương hầu phần nhiều lấy sự đánh nhau tay không và một mình đi “ăn cướp” là dũng cảm.  Vũ Uy vương (con Trần Thái Tông) cũng thường trốn thành ra đấu võ ở bến Đông. Tại kinh thành vua thường tổ chức cho quân sĩ đánh nhau với hổ (tất nhiên con vật đã được bẻ móng, rọ mõm) 1.

Thượng hoàng Trần Nhân Tông cũng nói: “Nhà ta vốn là người ở vùng hạ lưu, đời đời ưa chuộng hùng dũng.., nếp nhà theo nghề võ...” 2.
 
Do truyền thống thượng võ mà con cái các nhả quyền quý hoặc nhiều người khác cũng đã sớm quan tâm đến việc học tập và rèn luyện võ nghệ. Khi trở thành các võ quan, họ lại tiếp tục học tập quân sự một cách thường xuyên, có hệ thống theo quy chế của triều đình.  Năm 1253, triều Trần lập Giảng Võ đường và xây dựng trường đua làm nơi để dạy võ và huấn luyện quân sự. Trần Quốc Tuấn viết sách Binh thơ yếu lược và Vạn Kiếp tông bí truyền thư. Theo lời Trần Khánh Dư, bấy giờ “đã lấy sách này dạy bảo con em làm gia truyền, không tiết lộ cho người ngoài biết”. Bí thuật của Trần Quốc Tuấn có thể là phương pháp bày binh bố trận theo cách riêng, thích hợp với hoàn cảnh đất nước, dựa trên cơ sở tư tưởng quân sự “dĩ đoản chế trường” mà ông đã tổng kết.

Binh thư yếu lược và Vạn Kiếp tông bí truyền thư là những bộ binh thư, binh pháp đầu tiên của nước ta, đã được nhà quân sự Trần Quốc Tuấn dày công nghiên cứu, biên soạn. Việc học tập và giảng dạy quân sự có lúc đã theo phương pháp mới mà có thể gọi là khoa học, như lời dặn của Trần Quốc Tuấn: “Con cháu và bồi thần của ta có theo bí thuật này thì hãy lấy lòng sáng suốt mà thi hành bày xếp, không nên lấy ngu tối mà dạy truyền, trái thế thì không chỉ phải chịu tai ương mà còn vạ lây đến con cháu đời sau” 3. 

Hoặc như lời Trần Khánh Dư viết trong lời tựa sách Vạn Kiếp tông bí truyền thư rằng: “Cho nên Quốc công ta mới hiệu đính, biên tập đồ pháp của các nhà, soạn thành một sách, tuy ghi cả những việc nhỏ nhặt, nhưng người dùng thì nên bỏ bớt chỗ rườm rà, tóm lược lấy chất thực” 4.

Như vậy, theo Trần Quốc Tuấn và Trần Khánh Dư, học binh pháp của ta hay của nước ngoài đều phải sáng tạo, linh hoạt, chứ không rập khuôn máy móc.

Việc học binh thơ, binh pháp là điều bắt buộc đối với vua, thát tử, với các vương hầu và tướng lĩnh. Bởi vì, bấy giờ vua là chỉ huy tối cao của quân đội, vua thường “tự làm tướng” đi đánh giặc, thát tử là người kế vị, còn các vương hầu và tướng lĩnh đều là những người trực tiếp chỉ huy các đạo quân.

Trần Quốc Tuấn đòi hỏi các tướng phải dày công nghiên cứu binh pháp, nhất là bộ Binh thư yêú lược.  Ông nói: “Các ngươi biết chuyên tập sách này, theo lời ta dạy bảo thì trọn đời là tôi chủ, nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời ta dạy bảo thì trọn đời là nghịch thù”. 5. 
 
Quan điểm xây dựng quân đội của Trần Quốc Tuấn cũng như của vương triều là “quân cốt tinh nhuệ”, trong đó cái “tinh” trước hết là ở đội ngũ chỉ huy, những người trực tiếp cầm quân đánh giặc, vì theo như ông khẳng định: “Nước lấy dân làm gốc, binh lấy tướng làm gốc, quân lấy tướng làm chủ” (Binh thư yếu lược).

Việc đào luyện tướng sĩ tuy ở các đời vua có chỗ khác nhau, nhưng nhìn chung nhà Trần đều chú ý trên cả hai phương diện đức và tài, vừa phát huy phẩm chất vừa nâng cao năng lực của các tướng lĩnh, nhằm tạo ra một đội ngũ tướng lĩnh chỉ huy quân đội tài cán và trung thành với vương triều.


_______________________________
1, 2 . Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t. 2 , tr. 24 , tr. 78.
3,4,5. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.2, tr.84-85.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #54 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2009, 10:45:58 pm »

Cùng với việc chú trọng đào luyện phẩm chất và tài năng quân sự cho các võ quan, tướng lĩnh, triều Trần còn rất quan tâm đến vấn đề tổ chức tập trận và luyện rèn sĩ tốt.  Dưới thời Trần, vào các giai đoạn chuẩn bị kháng chiến chống Mông - Nguyên, không khí luyện tập võ nghệ thật sôi nổt. Trong Hịch tướng sĩ, Trần Quốc Tuấn nhắc nhở các tướng: phải chăm lo “luyện rèn quân sĩ, tập dượt cung tên” khiến cho ai ai cũng giỏi cung kiếm. Trong quân đội, binh lính được tập cưỡi ngựa, học bắn cung nỏ, múa kiếm, phóng lao, sử dụng giáo, mác v.v..

Nhà nước khuyến khích mở lò luyện võ và cho phép các vương hầu, quý tộc đôn đốc rèn tập và trang bị cho quân lính dưới quyền. Việc rèn luyện kỹ, chiến thuật thường thông qua các buổi tập trận. Chính sử ghi chép nhiều về hình thức tập trận lớn, các đợt thao diễn quân đội do chính nhà vua hoặc quốc công tiết chế chỉ huy. 

Năm 1263, Trần Nhân Tông hạ lệnh cho các đạo quân sắm sửa khí giới, đóng thuyền chiến và tổ chức tập trận ở bãi phù sa sông Bạch Hạc (Phú Thọ) . Sau Hội nghị Bình Than, các cuộc duyệt binh và diễn tập đã được tổ chức quy mô ở Thăng Long và trên những địa bàn chiến lược như Bạch Hạc, Vạn Kiếp... Năm 1283, vua Nhân Tông đích thân chỉ huy các vương hầu điều động quân thuỷ, bộ thao diễn tập trận. Năm 1284, Trần Quốc Tuấn được lệnh điều khiển các vương hầu, tướng lĩnh mở cuộc duyệt binh lớn ở Đông Bộ Đầu, rồi sau đó chia quân đi đóng giữ ở những nơi xung yếu ở phía bắc và đông bắc Tổ quốc. Tháng Chạp năm ấy, vua ngự giá ra Hải Đông (Hải Dương), sai Hưng Đạo vương “tiết chế đại hội thuỷ bộ chư quân” ở Vạn Kiếp. Bấy giờ, trại quân đóng liên tiếp một dải ở Vạn Kiếp, thuyền chiến san sát trên sông Lục Đầu, cờ xí trang nghiêm, qua mâu (gươm giáo) rực sáng, ba quân thực là sung sức.

Cuộc kháng chiến chống Nguyên vừa kết thúc, năm 1286, vua Trần đã lệnh cho Hưng Đạo vương cùng các vương hầu và các võ quan “kiểm duyệt quân đội làm đồ binh khí, đóng thuyền chiến và mở cuộc tập trận” 1. Năm sau, triều đình lại triệu tập toàn quân, tổ chức diễn tập và triển khai lực lượng phòng vệ, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lần thứ ba (1288). Những sự kiện trên chứng tỏ vua Trần và Trần Quốc Tuấn rất chăm lo rèn luyện quân sĩ. 

Thông qua các kỳ tập trận và thao diễn, các tướng sĩ và quân lính quen với chiến trận và địa hình, biết hiệp đồng chiến đấu giữa các đơn vị, các loại quân, đồng thời nâng cao thêm sĩ khí trước khi bước vào cuộc đọ sức quyết định với quân giặc. Chính nhờ thế mà chất lượng quân đội thời Trần ngày một tinh, sự đối phó với quân giặc cũng được chủ động và có hiệu quả. Câu nói của Trần Quốc Tuấn: “Năm nay đánh giặc nhàn”, một phần cũng do sự chuẩn bị đó.

Binh lực thời bấy giờ tổ chức tốt, luyện tập có quy chế và bài bản, kỷ luật nghiêm minh; tuy số lượng ít nhưng dũng mãnh lạ thường; vì thế, triều Trần dám đương đầu và đã nhiều lần đánh thắng quân Mông - Nguyên đông và thiện chiến nổi tiếng đương thời.

Trên đây là một số nội dung chủ yếu của binh chế Đại Việt thời Trần. Binh chế thời bấy giờ do nhà nước phong kiến mà đại diện là vua và triều đình nhà Trần thiết lập, trước hết nó bảo vệ quyền lợi cho giai cấp phong kiến thống trị, trong đó chủ yếu là vua và hoàng tộc. Điều đó thể hiện trong quan điểm về tổ chức xây dựng và nhất là trong quá trình tuyển chọn, đào luyện, sử dụng...

Tuy nhiên, cũng cần khẳng định rằng, binh chế của nhà Trần trong giai đoạn phát triển của vương triều là một binh chế tiến bộ, với những quy định khá chặt chẽ trên nhiều phương diện. Binh chế đó mang tính nhân dân, theo quan điểm chiến tranh toàn dân, “bách tính giai binh” (toàn dân là lính), “cử quốc nghênh địch” (cả nước đánh giặc). Chính vì thế, khi giai cấp phong kiến thời Trần còn đại diện cho lợi ích dân tộc, thì binh chế đó đã phát huy hiệu lực to lớn của nó. Trên thực tế, từ binh chế đó mà nhà Trần đã ba lần đánh thắng quân xâm lược Mông - Nguyên và nhiều lần đẩy lùi quân giặc xâm phạm biên giới, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.

Sử gia Phan Huy Chú khi nghiên cứu về binh chế đời Trần có nhận xét khá sắc sảo như sau: Đại để lúc vô sự thì phục binh ở nơi thuận tiện; khi có nạn thì đều hết sức chống cự. Thế là đời Trần nhân dân ai cũng là binh, nên mới phá được giặc dữ, làm cho thế nước được mạnh , đó là chính sách tốt, là chế độ hay của người cận cổ.


___________________________
1. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, tr.58.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #55 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2009, 10:59:21 pm »

CHƯƠNG III

BA LẦN ĐÁNH THẮNG QUÂN MÔNG - NGUYÊN XÂM LƯỢC


I- CUỘC KHÁNG CHIẾN LẦN THỨ NHẤT (1258)

Năm 1251, ngay sau khi lên ngôi đại hãn Mông Cổ, Mông Kha đã khẩn trương chuẩn bị cho việc chinh phục các nước phía đông và Đông Nam châu Á.

Năm 1253, em Mông Kha là Hất Tất Liệt cùng tướng Ngột Lương Hợp Thai được lệnh đem quân đánh chiếm Kinh đô nước Đại Lý (tỉnh Vân Nam, Trung Quốc). Đến 1256, nước Đại Lý bị diệt vong.

Năm 1257, Mông Kha (chủ trương xuất quân đánh Nam Tống từ bốn mặt. Mông Kha thân dẫn đại quân tiến theo con đường Tứ Xuyên. Một cánh quân do Hốt Tất Liệt chỉ huy vượt sông Trường Giang đánh chiếm Ngạc Châu (Vũ Xương, Hồ Bắc, Trung Quốc). Một cánh quân khác tiến đánh vùng Kinh Sơn ở hạ lưu sông Trường Giang. Ngột Lương Hợp Thai được lệnh kéo quân từ Đại Lý đánh vào Đại Việt, rồi từ đó phát triển tiến công vào Ung Châu (Nam Ninh, Quảng Tây), Quế Châu (Quế Lâm, Quảng Tây, Trung Quốc), tiến thẳng lên phía bắc gặp cánh quân của Hốt Tất Liệt ở Ngạc Châu. 

Như vậy, mục tiêu của cánh quân Ngột Lương Hợp Thai là đánh chiếm Đại Việt, tạo một bàn đạp để vừa bao vây vu hồi quản Nam Tống từ phía nam, vừa thực hiện “kế ở lâu dài”, phát triển tiến công xuống Đông Nam châu Á.  Lực lượng quân xâm lược khoảng 4 vạn (gồm 2 vạn quân Mông Cổ và 2 vạn quân người địa phương). Đến A Mân (Khai Viễn), chúng dừng lại và cho sứ đưa thư đến Đại Việt, dụ vua Trần Thát Tông ra hàng.

Tháng 9-1257, sứ thần Mông Cổ đầu tiên đến Quy Hoá, Phú Thọ. Sau đó, Ngột Lương Hợp Thai lại lần lượt phái tiếp hai sứ nữa sang. Theo lệnh triều đình nhà Trần, cả nước khẩn trương chuẩn bị chống giặc. Tháng 10, vua Trần Thái Tông xuống chiếu cử Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn thững lĩnh quân thuỷ bộ lên chặn giặc ở biên giới. Đến tháng 12, toàn dân được lệnh sắm sửa vũ khí.

Vua Trần ra lệnh tống giam cả ba sứ thần Mông Cổ lần lượt đến, biểu lộ ý chí kiên quyết bảo vệ đất nước. Ngột Lương Hợp Thai chờ mãi không thấy sứ về bèn quyết định tiến quân. Y sai hai viên tướng, mỗi người chỉ huy một cánh quân theo đường tả ngạn và hữu ngạn sông Thao tiến trước. Đại quân tiến theo sau.

Tháng 1-1258, hai cánh quân đi trước gặp nhau ở Bạch Hạc, tiếp tục tiến về Thăng Long theo đường bộ. Để cản giặc, vua Trần Thái Tông đã cho lập phòng tuyến chống giặc ở Bình Lệ Nguyên, nơi sông Cà Lồ chắn ngang đường giặc tiến quân. Quân lính, voi, ngựa dàn ra san sát trên bờ nam. Thuyền chiến của ta triển khai phía hạ lưu sông Cà Lồ.

Quân địch tổ chức lực lượng làm ba đột. Đội tiên phong do Triệt Triệt Đô vượt sông trước ở phía hạ lưu có nhiệm vụ cướp cho được thuyền của ta. Bản đội do Ngột Lương Hợp Thai chỉ huy sẽ đánh vào chính diện quân ta. Còn đội của Hoài Đô sẽ đánh vòng vào phía sau quân ta. 

Ngột Lương Hợp Thai vạch kế hoạch tiến công cho Triệt Triệt Đô như sau: “Quân ngươi khi đã qua sông, đừng đánh chúng vội, chúng tất đến chống lại ta. Phò mã (Hoài Đô - TG) theo sau cắt hậu quân của chúng. Ngươi rình cướp lấy thuyền. Quân Man nếu tan vỡ chạy ra sông, không có thuyền tất bị ta bắt” 1.

Vừa sang sông, quân Mông Cổ tiến công ào ạt. Quân ta dũng cảm chiến đấu, bám giữ trận địa. Vua Trần Thái Tông xông lên phía trước, tự mình đốc thúc tướng sĩ đánh giặc. Ở đây địa hình đồng trống và đồi thấp, kỵ binh địch phát huy được sức mạnh tiến công. Địch lấn dần trận địa ta. Lê Tần (tức Lê Phụ Trần) thấy quân ta chưa thể đương nổi, đã khuyên vua hãy tạm rút lut. Vua Trần lên thuyền, xuôi theo sông Cà Lồ về đến Phù Lỗ. Quân Mông Cổ đuổi theo trên bờ, bắn tên xuống thuyền nhưng ta vẫn rút lui an toàn.


______________________________
1. Dẫn theo Hà Văn Tấn, Phạm Thị Tâm: Cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông thế kỷ XIII, Sđd, tr.72.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #56 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2009, 11:02:37 pm »

Ngày 18-1-1258, vua Trần cho phá cầu Phù Lỗ, bày trận bên sông. Quân Mông Cổ tìm chỗ nước nông, vượt sông tiếp tục tiến công. Quân ta không đương nổi, phải tiếp tục rút về hướng Thăng Long, quân Mông Cổ tiếp tục đuổi theo.  Trước thế tiến công mạnh mẽ của địch, triều đình quyết định tạm thời rút khỏi kinh đô để bảo toàn lực lượng.

Cuộc rút lui của triều đình và dân chúng được tổ chức chu đáo. Bà Linh Từ quốc mẫu, vợ Trần Thủ Độ đứng ra sắp xếp việc lánh nạn cho các cung phi và vợ con các tướng về vùng sông Hoàng Giang (khúc sông Hồng vùng Lý Nhân), sau đó lại thu  thập những quân khí cất trong thuyền các gia đình đi lánh nạn gửi cho quân đội.

Quân chủ lực Đại Việt theo sông Hồng về đóng giữ ở vùng Thiên Mạc (nay thuộc Duy Tiên, Hà Nam).  Quân Mông Cổ tiến vào Thăng Long bỏ trống. Sáu mươi mốt phố phường vắng lặng, không còn dân, không còn lương thực. Bọn giặc chỉ tìm thấy trong nhà ngục những tên sứ mà Ngột Lương Hợp Thai đã phái vào Đại Việt trước đây. Bọn xâm lược điên cuồng tàn phá Kinh thành Thăng Long.

Trong quá trình rút lui theo sông Hồng, vua tôi nhà Trần cùng nhau bàn tính phương lược đánh giặc. Trong triều đình đã có người hoang mang, dao động. Một hôm, nhà vua đi thuyền đến gặp Thát uý Trần Nhật Hạo, em ruột của vua bàn về kế đánh giặc. Nhật Hạo lấy ngón tay, nhúng nước viết vào mạn thuyền hai chữ “Nhập Tống”. Tức là Nhật Hao muốn khuyên vua bỏ nước, bỏ dân sang nương nhờ nhà Tống. Lúc đó chính nhà Tống đang bị quân Mông Cổ vây hãm. Nhưng quyết tâm kháng chiến của triều đình và quân dân ta vẫn vững vàng.

Khi Trần Thái Tông quay thuyền đi hỏi Trần Thủ Độ vị thái sư này đã trả lời: “Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo!”. Câu nói đanh thép đó phù hợp với quyết tâm kháng chiến của quân, dân ta, càng củng cố thêm ý chí đánh giặc giữ nước của triều đình và của cả dân tộc. 

Ở Thăng Long, quân Mông Cổ bắt đẩu gặp khó khăn.  Trong thành không tìm ra lương thảo cho mấy vạn người, ngựa ăn. Đánh nống ra vùng quanh Thăng Long thì nhân dân các hương ấp đã cất giấu lương thực và chống trả quyết liệt Trong tình hình đó, quân giặc mới đóng ở Thăng Long được 9 ngày đã vô cùng hoảng hốt, lo sợ. Sức chiến đấu giảm sút nặng nề.

Đánh giá thời cơ chuyển sang phản công đã đến, vua Trần ra lệnh cho các tướng sĩ ráo riết chuẩn bị cuộc phản công chiến lược. Cuối tháng 1 - 1258, Trần Thái Tông đem quân đi thuyền ngược sông Hồng tiến về Thăng Long. Quân ta đã được bảo toàn, củng cố, sung sức, mở cuộc tiến công mạnh mẽ vào Đông Bộ Đầu là nơi lực lượng chủ yếu của quân giặc cụm lại, trong đó có cơ quan đầu não.  Quân Trần tiến quân theo hai cánh. Cánh quân thuỷ (do vua Trần Thái Tông và Thát tử Hoảng trực tiếp chỉ huy) từ sông Hồng đổ bộ lên Đông Bộ Đầu từ phía đông. Cánh quân bộ chia làm hai mũi từ phía nam và phía tây thọc thẳng vào khu địch đóng quân.

Nửa đêm ngày 28-1-1258, tướng tiên phong Trần Khánh Dư hạ lệnh đánh úp. Quân ta bất ngờ tiến công trong lúc địch đang ngủ, người không kịp mặc giáp, ngựa không kịp thắt yên. Quân Mông Cổ lâm vào cảnh hỗn loạn. Cuộc phản công diễn ra quyết liệt cho đến sáng 29-1. Bị đánh bất ngờ trong lúc sức chiến đấu đang suy sụp, quân địch bị thiệt hại nặng. Chúng hoảng hốt theo đường cũ dọc bờ phải sông Hồng, tháo chạy về hướng Vân Nam. Chạy đến bến Cổ Sở, nay thuộc xã Yên Sở ngoại thành Hà Nội, giặc định cướp phá xóm làng, nhưng bị nhân dân Cổ Sở vũ trang đánh trả quyết liệt.

Sử cũ ghi : “Khoảng đời Nguyên Phong nhà Trần, người Thát Đát vào cướp, đi đến cõi châu ấy, ngựa khuỵu chân không đi được, người thôn ấy đem quân chống đánh, chém được đầu giặc, bọn giặc chạy tan” 1.

Giặc chạy lên ngã ba Bạch Hạc. Theo truyền thuyết thì Phùng Lộc Hộ, người đã đánh giặc ở vùng này khi chúng mới kéo sang, lại đem quân địa phương đánh đuổt. Chạy đến trại Quy Hoá, quân Mông Cổ lại bị nhân dân miền núi do chủ trại Hà Bổng chỉ huy đổ ra đánh. Chúng hoảng sợ cắm đầu chạy thoát thân, không còn dám cướp bóc, đốt phá như khi tiến vào Đại Việt. Cuộc xâm lược Đại Việt của quân Mông Cổ đã hoàn toàn bị đánh bại.


________________________________
1. Nguyễn Lương Bích: Việt Nam ba lần đánh Nguyên toàn thắng, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1981, tr.80. Có thể nhân dân Cổ Sở lúc đó đào hố bẫy ngựa của giặc.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #57 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2009, 11:04:51 pm »

Có thể có mấy nhận xét về cuộc kháng chiến chống xâm lược năm 1258.

Về địch: Xâm lược Đại Việt, quân Mông Cổ nhằm ba mục đích lớn: Một là khuất phục, thôn tính Đại Việt, hai là tạo một mũi vu hồi chiến lược đánh vào quân Nam Tống ở Hoa Nam và ba là về lâu dài, biến Đại Việt thành một bàn đạp để phát triển xuống phía nam, đánh chiếm các nước khác, mở rộng đế quốc Mông Cổ.
Đây là một thất bại lớn đầu tiên trên đường chinh chiến luôn luôn thắng lợi từ châu âu sang châu Á trong suốt hơn 40 năm trước đó của quân Mông Cổ, nhất là khi thành phần chỉ huy gồm hàng chục tướng lĩnh, quý tộc có tên tuổt.

Về ta: Triều đình nhà Trần đã kịp thời phát hiện không thể dùng quân đội đương đầu trực diện bằng cách đánh dàn trận với quân Mông Cổ thiện chiến. Vì quân Mông Cổ đã quen chinh chiến, còn quân ta thì trải qua nhiều năm chưa chiến đấu với giặc ngoài, nên khó tránh khỏi lúng túng và tổn thất.  Do đó, quân ta phải chặn đánh địch từng bước, rồi rút lui chiến lược, bảo toàn lực lượng, làm suy yếu địch bằng cách buộc chúng rải quân ra đương đầu với cuộc chiến đấu của cả quân và dân Đại Việt. Đồng thời còn cất giấu lương thực, triệt đường tiếp tế, làm cho chúng suy yếu dẩn. Sau đó tiến hành phản công chiến lược bằng lực lượng của ta đã được bảo toàn, củng cố, đánh địch bằng cả quân của triều đình và quân của địa phương. Đó là bài học kinh nghiệm lớn cho các cuộc kháng chiến về sau.

Trong điều kiện đó, hạ được quyết tâm rút lui chiến lược, rút bỏ Kinh đô là một điều sáng suất, bình tĩnh và táo bạo.  Điều quan trọng là triều đình, tướng lĩnh, quân đội và dân chúng đều vững vàng, không hoang mang, hỗn loạn trước những diễn biến to lớn chưa từng thấy. Đó cũng là nhờ sự gắn bó giữa triều đình và trăm họ, lúc thường cũng như lúc đất nước nguy biến. Nhờ đó, quân dân ta đã tạo được thời cơ để thực hành cuộc phản công chiến lược, quét sạch quân thù ra khỏi bờ cõi.

Thắng lợi trong cuộc kháng chiến lần này, tuy quy mô về sử dụng lực lượng địch - ta, về phạm vi không gian và thời gian, về tính ác liệt, về lực lượng địch bị tiêu diệt chưa lớn nhưng có ý nghĩa rất trọng đại. Vì đây là thắng lợi của trận đầu qua đó triều Trần rút được nhiều kinh nghiệm để lãnh đạo chiến tranh giừ nước, tạo được lòng tin của triều đình và trăm họ về khả năng của quân dân ta đánh thắng được quân xâm lược lớn mạnh trong những tình huống sẽ còn khó khăn phức tạp hơn.

Nhớ lại tác dụng và ý nghĩa của thắng lợi năm Nguyên Phong thứ 7 (1258), Trần Nhân Tông, ông vua anh hùng của hai cuộc kháng chiến thắng lợi năm 1285 và 1288, trong một bài thơ của mình, đã có câu:

“Bạch đầu quân sĩ tại
Vãng vãng thuyết Nguyên Phong
”
(Những người lính đầu bạc
Vẫn thường thường kể lại chuyện đời Nguyên Phong
). 

Thắng lợi năm 1258 được đời đời ghi vào những trang sử rực rỡ của dân tộc Việt Nam anh hùng.


II. ĐẤU TRANH NGOẠI GIAO GIỮA HAI CUỘC KHÁNG CHIẾN (1258-1284)

Sau thất bại năm 1258, đế quốc Mông Cổ vẫn không hề từ bỏ ý đồ xâm chiếm Đại Việt. Vì còn phải tập trung lực lượng và cố gắng giải quyết vấn đề tranh chấp nội bộ, rồi thanh toán quân Nam Tống cho nên chúng chưa thể động binh đánh Đại Việt.

Tuy nhiên, đó là thời gian đấu tranh ngoại giao rất căng thẳng. Nhà Trần phải đối phó với nhiều thủ đoạn đe doạ, yêu sách, gây sức ép về chính trị, kể cả âm mưu khuynh đảo nội bộ vương triều. Triều đình nhà Trần đã đối phó với các thủ đoạn đó một cách vừa khôn khéo, vừa kiên quyết làm cho các thủ đoạn đó thất bại hoàn toàn. Phải khôn khéo để có thể trì hoãn được chiến tranh trong phạm vi khả năng, có thì giờ để chuẩn bị lực lượng. Mặt khác, phải kiên quyết giữ vững nguyên tắc, không để tổn hại đến quốc thể và chủ quyền dân tộc.

Có thể nghiên cứu cuộc đấu tranh ngoại giao lâu dài đó theo ba giai đoạn:
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #58 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2009, 11:05:39 pm »

1. Giai đoạn thứ nhất từ năm 1258 đến năm 1266.

Đó là thời kỳ mà đế quốc Mông Cổ phải tập trung giải quyết những vấn đề nội bộ trong nước, chưa thể tổ chức xâm lược Đại Việt.  Năm 1258, ngay sau khi bị đánh đuổi, chạy dài về Vân Nam, Ngột Lương Hợp Thai đã sai ngay hai sứ sang dụ vua Thái Tông tới chầu. Căm phẫn vì thấy Kinh thành Thăng Long bị tàn phá, Trần Thái Tông đã sai trói hai sứ, đuổi về.  Đồng thời vua Trần vẫn cho sứ sang Nam Tống cống voi và nói ý định truyền ngôi cho con.

Ngày 30-3-1258, Thát tử Hoảng lên ngôi, tức Trần Thánh Tông. Lúc này, một phần vì sứ Mông Cổ nhiều lần sách nhiễu, một phẫn vì nhà Trần đã suy xét về thực lực của Mông Cổ và của Nam Tống nên vua Trần đã quyết định thông hiếu với Mông Cổ. Lê Phụ Trần được cử cầm đầu sứ bộ, Chu Bác Lãm làm phó, tiến vào đất địch. Ngột Lương Hợp Thai đã dẫn họ đến gặp chúa Mông Cổ Mông Kha bấy giờ ở vùng Thiểm Tây. Sứ bộ này đã đi đến thoả thuận là định lệ ba năm cống một lần.

Sau đó, Mông Kha lại sai Nậu Lạt Đinh, một tín đồ hồi giáo đưa thư sang Đại Việt với nội dung: Trước ta sai sứ thông hiếu, các người giữ lại không cho về, vì thế mới có việc xuất quân năm ngoái, làm cho chúa nước ngươi phải chạy ra nơi thảo dã. Ta lại sai hai sứ đến chiêu an, các ngươi lại trói đuổi sứ của ta. Nay đặc sai sứ sang dụ rõ ràng, nếu các ngươi thực lòng nội phụ thì quốc chủ phải thân đến, nhược bằng còn không sửa lỗi thì nói rõ cho ta biết.

Bất chấp những lời đe doạ đó, vua Trần vẫn không sang chầu, chỉ trả lời một cách khôn khéo: “Nước nhỏ thành tâm thờ bề trên, thì nước lớn đối đãi lại như thế nào ?”.  Nậu Lạt Đinh phải trở về không. Sau đó, tên cầm đầu bộ máy thống trị của quân Mông Cổ ở Vân Nam lại sai Nậu Lạt Đinh sang ta lần nữa, tiếp tục thúc ép vua Trần sang chầu vua Nguyên. Vua Trần đã lựa lời lảng tránh: Đợi khi có ân đức tới sẽ cho con em sang làm con tin. Ý muốn nói rõ, dứt khoát rằng vua Đại Việt không sang chầu. Nậu Lạt Đinh một lần nữa phải trở về không.

Năm 1259, Đại hãn Mông Kha đánh quân Nam Tống ở Hợp Châu. Tướng Tống là Vương Kiên đã kiên trì cố thủ trong thành nhỏ trên núi Điếu Ngư suốt 5 tháng trời. Trần Hưng Đạo đã ca tụng cuộc chiến dấu anh dũng này trong Hịch tướng sĩ. Ngày 11-8- 1259, Mông Kha trúng đạn chết. Hàng chục vạn quân Mông Cổ đã phải rút lut.  Được tin Mông Kha chết, em Hốt Tất Liệt là A Lý Bất Kha chiếm quốc đô Mông Cổ là Caracôrum, mưu toan giành ngôi đại hãn. Trong tình hình đó, Hốt Tất Liệt dừng ngay cuộc tiến công, giảng hoà với Nam Tống, rút quân về phương bắc. Năm 1260, Hốt Tất Liệt tự xơng là đại hãn ở Khai Bình, tiến hành cuộc chiến tranh chống A Lý Bất Kha. Ngột Lương Hợp Thai cũng phải rút quân từ Vân Nam về phương bắc, tham gia cuộc chiến tranh đó.

Trong tình hình đó, Hốt Tất Liệt vẫn không quên hướng chiến lược Đại Việt. Năm 1261, hắn gửi đến vua Trần một chiếu thư với lời lẽ giả nhân giả nghĩa nhưng sặc mùi ban ơn láo xược của thượng quốc: Mới đây, thú thần ở nước Đại Lý là An phủ Nhiếp Chi Mạch Đinh chạy trạm dâng biểu nói nước khanh có thành ý hướng phong mở nghĩa. Nghĩ khanh trước kia, thời tiên triều đã từng thần phục, từ xa cống phương vật, nên ban chiếu chỉ dụ các quan liêu, sĩ thứ nước khanh phàm áo mũ, điển lễ, phong tục vẫn y theo cựu chế của nước mình, không phải thay đổi... Ngoài ra ta đã cấm các biên tướng ở Vân Nam không được thiện tiện đưa binh lấn cướp biên giới, quấy nhiễu nhân dân nước khanh. Các quan liêu, sĩ thứ nước khanh cứ yên ổn làm ăn như trước.

Trước những thủ đoạn mới đó của kẻ thù, triều đình nhà Trần vẫn đề cao cảnh giác, tích cực chuẩn bị đối phó với một cuộc chiến tranh xâm lược mới. Tháng 3- 1261, đinh tráng ở khắp các lộ được tuyển chọn để bổ sung cho quân triều đình. Ở các phủ, lộ cũng lập các đội tuyển phong, sẵn sàng chiến đấu ở địa phương. Năm 1262, các lộ được lệnh chế tạo vũ khí và thuyền chiến. Tháng 4 năm đó, vua Trần ra lệnh tập trận thuỷ lục ở chín bãi phù sa sông Bạch Hạc. Năm 1263, Trần Thủ Độ đi tuần ở vùng Lạng Sơn.

Mặt khác, về ngoại giao, nhà Trần vẫn lợi dụng những điều trong chiếu thư của Hốt Tất Liệt năm 1261 để đấu tranh bảo vệ chủ quyền, quốc thể và vạch mặt các luận điệu giả dối của kẻ thù. Tuy có nhượng bộ trên một số việc như là ba năm nộp cống một lần, chịu cho Hốt Tất Liệt đặt chức Đạt Lỗ Hoa Xích (darugatri) tức quan giám sát ở Đại Việt nhưng nhà Trần vẫn tìm cách biểu lộ ý chí độc lập, tự chủ của mình.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #59 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2009, 11:11:35 pm »

Ví dụ: trong việc nộp cống, không phải bao giờ vua Trần cũng giữ đúng hạn ba năm, kiên quyết chống lại việc nộp người (như nho sĩ, thầy thuốc, thợ thủ công...). Đặc biệt nhà Trần chú trọng tìm cách ngăn trở hoạt động của những viên Đạt Lỗ Hoa Xích, ra lệnh cho dân không dược giao thiệp với người Hồi Hột thường được dùng làm gián điệp cho Mông Cổ, mua chuộc các viên Đạt Lỗ Hoa Xích, v.v..

2. Giai đoạn thứ hai của cuộc đấu tranh ngoại giao bắt đầu từ năm 1267, kéo dài đến năm 1279.

Năm 1264, A Lý Bất Kha đầu hàng Hốt Tất Liệt. Cuộc nội chiến chấm dứt.  Hốt Tất Liệt tiếp tục trở lại cuộc chiến tranh xâm lược Nam Tống đồng thời tăng cường sức ép đối với Đại Việt để chuẩn bị cho cuộc chiến tranh xâm lược tiếp theo. Cuộc đấu tranh ngoại giao trở nên quyết liệt hơn. Tháng 10-1267, Hốt Tất Liệt gửi chiếu thư cho nhà Trần đòi phải thực hiện sáu việc:

1. Quân trưởng phải vào chầu,

2. Con em quân trưởng phải sang làm con tin,

3. Kê biên số dân,

4. Đưa quân ứng dịch,

5. Nộp phú thuế,

6. Vẫn đặt chức Đạt Lỗ Hoa Xích như cũ.

Cũng năm 1267, Hốt Tất Liệt phong cho con trai là Hốt Kha Xích làm Vân Nam vương, đóng quân ở Vân Nam (Trung Quốc) chuẩn bị các cuộc tiến công xuống phía nam.  Nếu Đại Việt chấp nhận sáu việc nói trên, tức là bước đầu chịu khuất phục trước sự uy hiếp của đế quốc Mông Cổ.  Vì vậy, vương triều Trần kiên quyết chống lại tất cả sáu khoản đó. Đó là nội dung chủ yếu của cuộc đấu tranh ngoại giao trong giai đoạn này.

Đặc biệt, vua Trần vẫn khéo léo và kiên quyết từ chối việc quân trưởng phải vào chầu, phái sứ bộ sang Nguyên đem phương vật và biểu xin miễn việc vào chầu, vì lý do sức khoẻ.  Nhà Trần cũng cự tuyệt nhiều yêu sách khác của chúa Mông Cổ.

Trong những năm 1267 và 1268, Hốt Tất Liệt đòi nhà Trần phải nộp các lái buôn Hồi Hột hiện sống ở Đại Việt.  Ý muốn qua những người lái buôn này, dò xét tình hình Đại Việt lấy cớ là muốn biết tình hình Tây Vực 9trung Á và Tây Á). Vua Trần biết rõ âm mưu đó nên đã trả lời rằng các thương nhân Hồi Hột đã chết hết, không còn ai nữa. Vua Trần cũng từ chối việc nộp voi cho Hốt Tất Liệt. Trong thư năm 1269, vua Trần viết: “Loài thú ấy thân thể to lớn, bước đi chậm chạp, không như ngựa của thượng quốc”. “Xin tuân sắc chỉ đợi đến năm tiến cống sau sẽ đem dâng”. Trong thư năm 1272, vua Trần lại viết: “Vì quản tượng không chịu rời nhà, nên khó sai họ đi” 1.

Về mặt nghi thức ngoại giao, vua Trần cũng đấu tranh rất khôn khéo để giữ quốc thể, không bao giờ chịu lạy chiếu chỉ của Hất Tất Liệt. Khi chúa Mông Cổ hạch sách về việc này thì vua Trần đã trả lời rằng không lạy chiếu thư là phong tục riêng của Đại Việt, mà chính Hết Tất Liệt đã có chiếu thư chấp nhận các phong tục đó từ năm 1261. Nhìn chung, triều Trần vẫn kiên nhẫn tiếp đãi tử tế các sử giả Mông Cổ, nhưng đối với các tên sứ quá hống hách và láo xược cũng có khi đã cảnh cáo như sai vệ binh tuốt gươm trần thị uy, hay giam lỏng một thời gian.

Năm 1271, Hốt Tất Liệt tiến thêm một bước trong việc củng cố địa vị thống trị của Mông Cổ ở Trung Quốc, đặt quốc hiệu là Nguyên. Nhân dịp đó, để thị uy, vua Nguyên đã cho sứ sang đòi vua Trần vào chầu. Thánh Tông từ chối là có bệnh không đi. Ngày 17-1-1279, vua Trần lại tiếp nhận chiếu thư của Hốt Tất Liệt.


_________________________
1. Dẫn theo Hồng Nam và Hồng Lĩnh (chủ biên): Những trang sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam chống phong kiến Trung Quốc xâm lược Sđd, tr.367 (trích Nguyên sử).
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM