Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 02:43:54 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 4  (Đọc 109506 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #100 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2009, 08:27:58 am »

2. Quan hệ quân sự giữa Đại Việt với Ai Lao thế kỷ XIII-XIV.

Thơ tịch Việt Nam đã dùng từ Ai Lao để gọi tên những cơ dân láng giềng phía tây. Họ đã gây ra những vụ lấn chiếm đất đai của Đại Việt vào cuối thế kỷ XIII cho đến giữa thế kỷ XIV. Nhưng đây chỉ là những vụ “xâm nhiễu biên giới” một cách tự phát của những nhóm người riêng lẻ. 

Vào những năm cuối thế kỷ XIII, ở biên giới phía tây, Ai Lao thường xâm phạm quấy rối, chiếm giữ sông Chàng Long.  Năm 1297, Ai Lao lại sang cướp phá ở Đà Giang, triều đình đã sai Phạm Ngũ Lão đánh dẹp, lấy lại được đất cũ 1 . 

Tháng 10-1298, Đại Việt đem quân đi đánh Ai Lao, không mang lại kết quả. “Tướng là Trương Hiển chết tại trận được tặng tước Minh Tự, cho thờ ở Thái Thường” 2.  Tháng 3-1301, quân Ai Lao lại sang cướp phá vùng Đà Giang. Phạm Ngũ Lão đưa quân đi đánh, gặp quân giặc ở Mường Mai (nay thuộc đất huyện Mai châu’ tỉnh Hòa Bình), giao chiến thắng lợi. Phạm Ngũ Lão được phong làm “ Thân vệ Đại tướng quân, ban cho Quy phù” 3.

Năm 1329, Minh Tông (bấy giờ là thượng hoàng) đi tuần thú đạo Đà Giang, đích thân đi đánh Ai Lao, sai Thiên tri Nguyễn Trung Ngạn đi theo để biên soạn thực lục. Thượng hoàng đến Mường Việt (nay là đất huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La) đóng quân lại. Khi đó trại chủ Chiêm Chiêu (một nhóm của người Ai Lao) đến dâng thư xin đem cả trại ra hàng. Đến khi thượng hoàng thân chinh sai Chiêu Nghĩa hầu Phụ Minh chia quân từ đường Thanh Hóa tiến sang để tiếp ứng quân nhà vua cùng tiến đánh Chiêm Chiêu. Nhưng Chiêu Nghĩa hầu muốn tâng công nên đã đánh Chiêm Chiêu trước và bị thua trận. Tuyên úy tướng quân Vũ Tư Hoằng liều sức chiến đấu, chết tại trận. “Trận chiến này, thượng hoàng đích thân chỉ huy, hiệu lệnh nghiêm minh, uy thanh vang dội, Ai Lao nghe tiếng chạy tan” 4.

Năm 1334, thượng hoàng đi tuần thú Nghệ An, tự kéo quân đánh Ai Lao. Lấy Nguyễn Trung Ngạn làm Phát vận xứ Thanh Hóa, vận tải lương đi trước. Xa giá tới Châu Kiềm (tức đất Mật Châu, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An).  Quân Ai Lao nghe tin chạy trốn. Nguyễn Trung Ngạn mài vách núi khắc chữ ghi công rồi về. Lần xuất quân này không có kết quả.

Năm 1335, Ai Lao xâm lấn đất Nam Nhung (thuộc Tương Dương, Nghệ An) . Minh Tông lấy Đoàn Nhữ Hài làm đốc tướng, các quân đều chịu sự chỉ huy của ông, đem quân Thần Vũ và quân Nghệ An tiến đánh, đoán chừng Ai Lao giữ đất Nam Nhung, quân ít và yếu, đánh nhất định thắng. Vả lại, trại đó sát ngay sông lớn Tiết La (một khúc của sông Lam ở gần vùng Cửa Rào), sau khi thắng trận bắt được tù binh theo dòng xuôi suông, đi qua vùng nào cũng đều có diễu võ dương oai, nhân đó dụ bảo con em các vùng ấy vào chầu, ý muốn lập kỳ công để lấn lướt người cùng hàng. Đến ngày giao chiến, mây mù che lối, quân Ai Lao đã phục sẵn voi ngựa, hai mặt giáp công, quan quân nhà Trần thua to sa xuống nước chết đuối đến quá nửa, Nhữ Hài cũng ở trong số người chết đuối đó.

Thượng hoàng được tin đó bảo rằng: “Nhữ Hài dùng mưu tất thắng, thừa kế tất thắng, công đã gần thành, cuối cùng bị giặc nhử mồi mà chết. Nhữ Hài không phải không biết tình thế của giặc, chỉ vì muốn làm to quá mới đến nỗi vậy. Thế mới biết sự mong muốn của con người không thể vượt quá giới hạn được” 5.

Bấy giờ nhà Trần đang suy yếu, quân Ai Lao cũng nhân cơ hội đó thường vào cướp phá vùng biên giới. Những cuộc thân chinh của Minh Tông đều thất bại, nhất là từ khi Dụ Tông lên ngôi (1341), tình hình biên giới phía tây không phải là êm đẹp và đã có những vụ xâm lấn từ Ai Lao vào biên giới Đại Việt dẫn đến những cuộc đụng độ vũ trang.

Vào năm 1346, quân Ai Lao lại cướp phá biên giới. Dụ Tông “sai BảoUy vương Hiến đánh tan bọn chúng” 6. Tuy nhiên, việc Ai Lao quấy nhiễu ở biên giới phía tây không phải là một nguy cơ trầm trọng, vì thế lực của Ai Lao không mạnh lắm. Sau thất bại của quân Ai Lao (năm 1346), xung đột quân sự giữa Đại Việt và Ai Lao có giảm đi.

Trong nửa đầu thế kỷ XIV, các địa điểm sinh tụ của người Ai Lao ở thượng lưu sông Mê Công đã trở thành những địa bàn quần cư lớn. Những tiểu quốc mới phôi thai từ cuối thế kỷ XIII như Mường Xoa (nay là Luông Prabăng), Mương Thuôn (nay là Xiêng Khoảng), Viên Chăn (nay là thủ Đô Viêng Chăn), đều đang phát triển mạnh... Mường Xoa là một địa bàn lâu đời nhất và phát triển nhất, giữ vai trò như một trung tâm của các vùng tụ cơ của người Ai Lao ở thượng lưu sông Mê Công, nơi mà họ Pha Ngậm kế nhau làm vua. 


__________________________
1. Cương mục, Sđd, t.I, tr.552.
2, 3, 4. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.2, tr.75, 86, 116.
5, 6. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.2, tr.123, 180.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #101 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2009, 09:35:39 pm »

Đến giữa thế kỷ XIV, các tiểu quốc có nhu cầu liên kết với nhau để tiếp tục phát triển và giữ quyền tự chủ hoàn toàn của mình vào năm 1353. Đó là niên biểu chính thức thành lập vương quốc Lan Xang 1, một quốc gia Lào thống nhất và đã căn bản hình thành những yếu tố nền tảng của nước Lào ngày nay: lãnh thổ, tộc người, văn hóa.

Trên bước đường xây dựng vương quốc, vua Pha Ngậm đã tăng cường mối quan hệ mật thiết sẵn có với vương quốc Campuchia và đặc biệt đã lập quan hệ thân hữu với Đại Việt. 

Xu hướng liên kết phía đông trở thành xu hướng lịch sử tất yếu để bảo vệ nền tự chủ, trước xu hướng Đại Thái đã có tiền đề từ Ra Ma Kam Heng (Xu Khô Thay) 2. Từ đây, Lan Xang và Đại Việt bắt đầu một thời kỳ lịch sử mới trong quan hệ giữa hai nước, tình hình biên giới phía tây của Đại Việt ổn định. 

Quan hệ quân sự của Đại Việt với các vương quốc phía nam và phía tây, từ sau khi Đại Việt chiến thắng quân Nguyên, đến cuối thế kỷ XIV là những cuộc xung đột liên miên với Chăm pa và Ai Lao đã làm cho vương triều Trần thêm suy yếu, sức sản xuất bị phá hoại, nhân dân thêm đói khổ. Chiến tranh và đói kém đã đưa chế độ phong kiến nhà Trần vào thời kỳ khủng hoảng.


II. KHỞI NGHĨA NÔNG DÂN CUỐI THỜI TRẦN


1. Nhà Trần suy vong.

Ngay từ tháng 10-1285, quân Nguyên vừa rút lui, Trần Nhân Tông đã xuống chiếu định hộ khẩu trong nước. Triều thần can là dân vừa lao khổ, định hộ khẩu thực không phải là việc cần kíp. Vua nói: “Chỉ có thể định hộ khẩu vào lúc này, thẳng nên qua đó mà xem xét tình trạng hao hụt, điêu tàn của dân ta hay sao” 3.

Trước câu nói đó của vua, quần thần đều khâm phục, nhưng nhà sử học Ngô Thì Sỹ lại bàn rằng: “Quân địch vừa lui, kẻ có vết thương chưa dậy được, kẻ lưu tán chưa trở về, thôn xóm như gò đống, đồng nội tiêu điều, chiêu dụ vỗ về còn không kịp, mà lại vội vàng làm sổ hộ khẩu, quan trên tra xét, dân nhỏ hội họp, một con gà, nửa con lợn, không phải không tổn phí, sổ mới sánh cũ không phải là không sai nhau vì sau cuộc loạn ly, có người bỏ nghiệp riêng mà tham gia việc công. Làm như vậy thì nhiễu dân chúng quá lắm ư ?” 4.
 
Sau cuộc kháng chiến chống Nguyên, triều Trần lúc đầu còn quan tâm đến việc phục hồi kinh tế và xây dựng đất nước. Nhưng lại nhân thắng lợi, nhà Trần lo củng cố địa vị thống trị và thâu tóm những thành quả đấu tranh của nhân dân.

Mặt khác, triều đình đã lấy hàng loạt ruộng đất của xã dân để phong cấp cho các vương hầu và những công thần làm thái ấp. Các quý tộc lại lợi dụng quyền thế để chiếm đoạt thêm ruộng đất của nông dân, làm cho chế độ điền trang thái ấp mở rộng, xâm phạm đến quyền lợi của nhân dân.

Cùng với tình trạng bán ruộng của nông dân, nạn cướp đoạt ruộng đất cũng phát triển. Cung phi của Trần Anh Tông là Trần Thị Chuyên xâm đoạt ruộng đất của dân, nhiều người kêu lên nhà vua, nhưng mãi đến khi Trần Thị Chuyên chết, việc mới được giải quyết.

Các vua Trần còn lấy ruộng đất công phong cấp cho tướng lĩnh có công trong cuộc chiến tranh, làm giảm diện tích ruộng làng xã. Năm 1289, Nguyễn Khoái được phong hầu, “ban cho một quận thang mộc” 5, gọi là Khoái Lộ (đất Khoái Châu, Hưng Yên ngày nay) 6. Phạm Ngộ làm Tham tán nhung vụ cho Trần Quốc Tuấn cũng được cấp 80 mẫu ruộng. Minh Tông cho Đặng Bảo 20 mẫu ruộng. . .

Từ đó về sau, việc cấp ruộng để phong cho quan lại thường diễn ra và đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống người dân làng xã. Vào lúc này, điền trang đã phát triển ở các địa phương. Ở Tô Xuyên, An Mỹ, Quỳnh Phụ (Thái Bình), có điền trang lớn của Hưng Nghĩa hầu Vũ Trung Khái - phò mã nhà Trần 7.


_________________________
1. Lan Xang là một triệu voi.
2. Cuối thế kỷ XIII, Xu Khô Thay (Thái) dưới triều vua Ra Ma Kam Heng đã chinh phục những vùng rộng lớn, trong đó có cả lãnh thổ của người Lào.
3. Đại việt Sử ký toàn thư, Sđd, t.2, tr. 58.
4. Theo Trần Quốc Vượng - Hà Văn Tấn: Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam. Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1960, t.1, tr.441.
5. Tức đất phong của vương hầu.
6. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.2, tr.65.
7. Hoàng Giáp: Mấy suy nghĩ về đất Quỳnh Phụ đời Trần trong Thái Bình với sự nghiệp nhà Trần, Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh Thái Bình, 1986, tr. 111.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #102 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2009, 09:41:45 pm »

Vùng Hương Khê (Hà Tĩnh), có điền trang của Hoàng hậu Bạch Ngọc, vợ của vua Trần Duệ Tông (1371-1377), rộng đến 3.985 mẫu 1. Cho đến cuối thời Trần, nhiều quý tộc đã có những điền trang tư hữu rất lớn. Các quý tộc chủ điền trang không chú ý đến việc phát triển kinh tế mà lại nghiêng về cuộc sống hưởng lạc. Đã thế, họ còn dùng đất vào những việc phi sản xuất như cúng ruộng vào nhà chùa.

Năm 1324, Văn Huệ vương Trần Quang Triều đã đem 300 mẫu ruộng ở Gia Lâm và ruộng ở Động Gia Trang, An Lưu Trang cúng cho chùa Quỳnh Lâm, tất cả hơn nghìn mẫu. Con công chúa Nhật Trình là Di Loan cư sĩ cũng đem ruộng ở phủ Thanh Hoa cúng cho chùa 300 mẫu 2. Ruộng đem cúng vào chùa nhiều như thế chứng tỏ số lượng ruộng đất tư hữu của quý tộc ở thời kỳ này rất lớn.

Quý tộc quan lại còn bày đủ cách để bóc lột nhân dân. Trần Khánh Dư cho người nhà buôn nón “ma lôi” bắt quân lính phải mua, thu lợi hàng nghìn tấm vải. Khi vua Trần Anh Tông gọi về triều hỏi tội, Trần Khánh Dư nhân đó tâu vua: “Tướng là chim ưng, dân lính là vịt, dùng vịt để nuôi chim ưng thì có gì là lạ” 3.

Quan lại cấp dưới cũng ra sức vơ vét của dân. Hồ Tông Thốc làm An phủ sứ, ăn lễ của dân, bị phát giác, Nghệ Tông triệu vào hỏi việc ấy, Thốc đáp: một  người được ơn vua thì cả nhà hưởng lộc nước.

Sự mở rộng điền trang, thái ấp tất nhiên xâm phạm đến ruộng đất công của công xã và quyền lợi của nhân dân. Đó là một đòn mạnh đánh vào cơ sở hạ tầng của chế độ phong kiến.  Sự áp bức bóc lột cũng ngày càng đè nặng lên đầu nhân dân.  Người nông dân không những bị cướp đoạt ruộng đất, mà còn phải nộp tô thuế, chịu lao dịch, quân dịch nặng nề. Trong khi sức sản xuất chưa được phục hồi thì việc tăng cường áp bức bóc lột, tất nhiên sẽ dẫn đến hậu quả làm cho nền kinh tế bị kìm hãm và mâu thuẫn xã hội trở nên gay gắt.


Những mâu thuẫn chứa đựng trong chế độ nhà Trần đã bộc lộ sâu sắc. Mâu thuẫn trước hết diễn ra trong nội bộ quý tộc quan lại cầm quyền không còn giữ được sự thống nhất đoàn kết như trong những năm đánh giặc. Các cuộc tranh giành địa vị, quyền lợi dẫn tới chia bè kéo cánh, giết hại lẫn nhau. Huệ Vũ vương Trần Quốc Trẩn bị Văn Hiến hầu và Trần Khắc Trung tìm cách vu cho tội mưu phản để bị sát hại (năm 1328).

Càng về sau, với sự chuyên quyền của Hồ Quý Ly, cuộc đấu tranh giành quyền bính trong nội bộ giai cấp thống trị càng khốc liệt, dẫn đến chia rẽ sâu sắc.  Trong các làng xã, số địa chủ tơ hữu ruộng đất cũng ngày càng đòng và dần dần đã trở thành một lực lượng lớn của xã hội. Sự mở mang ruộng đất của giai cấp quý tộc, địa chủ đã ảnh hưởng lớn đến sản xuất của nhân dân và đẩy một số nông dân ra khỏi quê hương, ra khỏi sản xuất. Những người nông dân nghèo khổ này chính là lực lượng chủ yếu trong các cuộc khởi nghĩa đương thời.

Cuối thời Trần, quý tộc càng mở rộng điền trang, thái ấp, số lượng nô tỳ càng tăng lên. Hàng loạt nông dân bị phá sản phải bán mình làm nô tỳ cho quý tộc. Nhưng trong điền trang thái ấp, quý tộc chỉ tìm cách tăng cường bóc lột sức lao động của nô tì mà không chăm lo phát triển sản xuất và không bảo đảm được đời sống tối thiểu cho họ.

Tình hình đó tăng thêm sức phản kháng của nô tỳ. Nhiều nô tỳ đã bỏ trốn khỏi điền trang thái ấp và họ đã cùng với những người nông dân nghèo khổ tự vũ trang thành các đội quân khởi nghĩa.  Nhân tình trạng dân bị đói rét lưu vong, quý tộc lại chiêu tập thêm để mở mang đất đai tăng thêm lợi lộc không những không giải quyết được mâu thuẫn xã hội, trái lại càng làm cho nguy cơ trở nên trầm trọng. Cuối cùng, cuộc đấu tranh giai cấp nổ ra quyết liệt, đó là những cuộc khởi nghĩa của dân nghèo và nô tỳ.

2. Những cuộc khởi nghĩa nông dân cuối thời Trần.

Bước vào những năm 40 của thế kỷ XIV, tình hình chính trị - xã hội Đại Việt có những xáo động lớn. Năm 1341, Hiến Tông mất, thượng hoàng Minh Tông cử Hoàng tử Hạo mới sáu tuổi lên làm vua - tức Trần Dụ Tông. Trần Dụ Tông vừa lên ngôi, trong mấy năm liên tiếp thiên tai xảy ra dồn dập, nạn hạn hán, lụt lội gây ra mất mùa đói kém. Năm 1343, cả hai vụ đều mất, nạn đói rất nghiêm trọng, làm cho dân nghèo cùng gia nô các vương hầu nổi dậy khắp nơi. Sử cũ ghi lại rằng: “Năm ấy mất mùa đói kém, dân nhiều kẻ trộm cướp, nhất là gia nô các vương hầu” 4.


___________________________
1. Trương Hữu Quýnh: Chế độ ruộng đất ở Việt Nam thê kỷ XI-XV, t .1 tr.179-180.
2. Theo Trần Quốc Vượng - Hà Văn Tấn: Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, Sđd, t.1, tr.441.
3. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.2, tr.74.
4. Toàn thư. Sđd, t.2, tr.128.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #103 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2009, 09:48:07 pm »

Trong những cuộc nổi dậy của dân nghèo, lớn nhất là cuộc khởi nghĩa của Ngô Bệ 1 ở Hải Dương là nơi có nhiều đại điền trang của quý tộc. Ngô Bệ, người Trà Hương, mùa Xuân năm 1344, đã lãnh đạo dân nghèo tụ tập nhau ở núi Yên Phụ (Hải Dương) để cướp phá các nhà phú hào quyền quý. Triều đình nhà Trần đã phải tăng cường lực lượng để đàn áp, cho đặt 20 đô phong đoàn ở các lộ để đuổi bắt giặc cướp 2.

Cũng năm 1344, sử ghi thêm: “Năm này mất mùa đói kém dân nhiều kẻ phải làm sư và làm nô cho các thế gia” 3. Năm 1345, trời lại hạn hán, các cuộc khởi nghĩa chống triều đình vẫn tiếp tục nổi lên. Vua Trần một mặt dùng chính sách xoa dịu như xét lại tội ác tù phạm, giảm nhẹ tội cho những can phạm tội thường, một mặt sai quân đàn áp các cuộc khởi nghĩa. Ngô Bệ bị quân triều đình tiến công ở núi Yên Phụ, vì lực lượng còn yếu, quân của Ngô Bệ thua phải lẩn tránh. Nhưng khắp nơi nhân dân vẫn nổi dậy. Hơn 10 năm sau, đến 1358, nhân một năm đói lớn, lực lượng quân khởi nghĩa của Ngô Bệ lại tập hợp ở núi Yên Phụ dựng cờ yết bảng, tuyên bố khẩu hiệu đấu tranh là “chẩn cấp dân nghèo” 4.

Đây là lần đầu tiên trong lịch sử quần chúng nhân dân Đại Việt có một khẩu hiệu đấu tranh mang tính giai cấp. Khẩu hiệu đó ít nhiều phù hợp với nguyện vọng dân nghèo. Vì thế họ hăng hái đi theo cờ nghĩa của Ngô Bệ, chiếm được cả một vùng rộng lớn từ “xã Thiên Liêu đến huyện Chí Linh” 5.

Những lúc quân đội của triều đình tập trung lực lượng về đàn áp quyết liệt, Ngô Bệ và nghĩa quân phải phân tán đi nơi khác, nhưng sau đó lại trở về Yên Phụ để mở rộng hoạt động ra các vùng xung quanh.

Cùng với cuộc khởi nghĩa của Ngô Bệ, nhân dân các lộ cũng nổi dậy. Vì thế, cuối năm 1358, vua đã hạ chiếu cho An phủ sứ các lộ phải đem quân phong đoàn đi trấn áp quân khởi nghĩa. Tháng 8-13(59, mưa to, nước dâng cao, nhà của nhân dân trôi nhiều, lúa ngập lụt hết. Dân càng hoạn nạn, các cuộc nổi dậy của nông dân càng tiếp diễn mạnh mẽ. Nhưng đến tháng 3-1360 thì Ngô Bệ bị các quan bản bộ bắt ở núi Yên Phụ cùng với 30 người. Tất cả bị nhốt vào cũi giải về Thăng Long xử chém. Cuộc khởi nghĩa của Ngô Bệ kéo dài trong 16 năm (1344-1360), thì chấm dứt.

Tiếp theo cuộc khởi nghĩa của Ngô Bệ, do tình hình đời sống khốn khổ, thiên tai hoành hành hên miên, nhiều cuộc khởi nghĩa khác của dân nghèo, đặc biệt là của các nô tỳ ở các đại điền trang đã nổi dậy mạnh mẽ. Lợi hại nhất vẫn là các cuộc khởi nghĩa ở vùng Hải Dương, nơi có nhiều đại điền trang của quý tộc, khởi nghĩa liên tiếp nổi dậy kéo dài hai chục năm.

Cuộc khởi nghĩa có thanh thế lớn nhất lúc bấy giờ là cuộc khởi nghĩa do một người đứng đầu tên là Tề, nổ ra vào năm 1354. Tề tự xưng là cháu ngoại của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, tụ tập những gia nô vì đói bỏ trốn khỏi các điền trang, nổi dậy bạo động trong một vùng rộng lớn từ trung du đến đồng bằng (thuộc các xứ Lạng Giang lạng Sơn, Bắc Giang, Bắc Ninh) và Nam Sách (Hải Dương)  6.

Từ đây, phong trào nông dân khởi nghĩa lại lan rộng hơn các năm trước. Năm 1360, triều đình phải xuống chiếu cho cấm quân đi đàn áp mà không dẹp nổi phải ra lệnh bắt gia nô của các vương hầu công chúa đều phải thích chữ vào trán và khai rõ sổ hộ tịch. Người nào không thích chữ và không có tên trong sổ bị coi là giặc cướp và bị trị tội 7. Hai năm sau (1362), trong nước đại hạn suốt từ tháng Năm tới tháng Bảy, nạn đói xảy ra trầm trọng, triều đình xuống chiếu miễn cho cả nước một nửa tô thuế và cho các nhà giàu đem thóc phát chẩn cho dân nghèo rồi trao quan tước cho họ 8.

Năm 1363, nhà Trần lại cho chọn tuyển dân binh sung bổ vào quân các lộ để tăng cường lực lượng đàn áp nhân dân.  Năm 1366, triều đình xuống chiếu cho An phủ sứ các lộ đem quân đi đàn áp các cuộc khởi nghĩa.

Năm 1378 là năm có lụt lớn, kho tàng cạn kiệt, triều đình phải ra lệnh tăng thuế đinh mỗi người nộp ba quan bất kể có ruộng hay không. Năm 1379, vẫn đại hạn và đói lớn.  Nguyễn Bổ, người Bắc Giang nổi dậy bạo loạn, tự xưng là Đường lang tử y, dùng pháp thuật để chiêu tập quần chúng, đặt hiệu xưng vương. Nhưng cuộc khởi nghĩa đã bị quân triều đình đánh dẹp ngay và Nguyễn Bổ bị giết. 

Trong thời gian này, quân Chăm pa lại kéo vào cướp phá vùng đất Nghệ An làm cho đời sống nhân dân thêm cùng cực mâu thuẫn càng thêm gay gắt. Năm 1381, nhân có quân Chăm pa kéo vào cướp phá, Hồ Thuật, người Diễn Châu nổi dậy bạo loạn bị xử chém. Mùa Thu năm 1382, bị lụt to nhưng quân dân Nghệ An, Diễn Châu vẫn phải đi vét các cảng, đào các kênh ở Hải Tây để chuẩn bị đánh Chăm pa.


__________________________
1. Ngô Bệ, lãnh tụ khởi nghĩa nông dân lớn nhất thời Trần, quê Trà Hương (nay thuộc Kinh Môn, tỉnh Hải Dương).
2, 3, 4, 5. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.2, tr.128-129, tr.138-139.
6. Toàn thư, Sđd, t.2, tr.134.
7. Toàn thư, Sđd, t.2, tr.140 - 141.
8. Toàn thư, Sđd, t.2, tr.140 - 141
« Sửa lần cuối: 14 Tháng Năm, 2009, 09:52:27 pm gửi bởi UyenNhi05 » Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #104 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2009, 09:49:38 pm »

Năm 1389, phong trào nông dân khởi nghĩa lại càng lên mạnh. Đế Nghiền (tức Trần Phế Đế) sau khi bị giáng làm Linh Đức vương, đã bị Hồ Quý Ly bức tử và chôn ở núi An Bài, nhưng lại có một người ở Thanh Hóa là Nguyễn Thanh đã phao tin và giả làm Linh Đức vương còn sống, đi lánh nạn ở vùng sông Lương (sông Chu), tập hợp quần chúng nổi dậy khởi nghĩa, được nhiều người hưởng ứng. Cùng lúc, ở Nông Cống có Nguyễn Ky đã tập hợp nông dân tự xưng là Lỗ vương Điền Kỵ (tướng nước Tề thời Chiến Quốc) nổi dậy bạo loạn.

Nhưng cuộc khởi nghĩa làm rung động cả chính quyền nhà Trần năm 1389 là cuộc khởi nghĩa do Phạm Như Ôn 1, một nhà sư ở phủ Quốc Oai( Sơn Tây) cầm đầu, được nông dân hưởng ứng rất đông, tạo nên một thế lực quân sự lớn.  Nông dân được tổ chức thành các quân hiệu: Thần Kỳ, Dũng Đấu, Vô Hạn. Phạm Như Ôn đã dùng Nguyễn Tông Mại, người ở Cổ Sở, và Nguyễn Khả Hành, người La Xã, làm hành khiển. Nghĩa quân từ Quốc Oai tiến công thẳng về Thăng Long. Quân của triều đình không chống cự nổi.

Thuận Tông và Thượng hoàng Nghệ Tông phải bỏ kinh thành chạy sang Bắc Giang. Nghĩa quân chiếm kinh thành ba ngày rồi rút quân ra đóng ở Nộn Châu (Quốc Oai). Giai cấp phong kiến thống trị vô cùng hoảng sợ trước khí thế của nghĩa quân. Vua Trần phải điều quân Thánh Dực do tướng Hoàng Phụng Thế chỉ huy, đang cầm cự với quân Chăm pa ở Hoàng Giang về để đánh quân khởi nghĩa. Hoàng Phụng Thế từ Miệt Giang  (phân lưu sông Hát, thông với sông Đáy), tiến công theo đường thủy. Quân khởi nghĩa tan vỡ, Phạm Như Ôn bị bắt và bị giết cùng với Nguyễn Tông Mại và Nguyễn Khả Hành. 

Vào lúc này, Hồ Quý Ly, một người ngoại thích của nhà Trần đã nắm quyền bính trong triều. Năm 1392, Hồ Quý Ly đã cho đặt quân tuần tiễu và cho canh giữ các sông, ải ở các lộ để đàn áp phong trào nổi dậy. Nhưng các cuộc khởi nghĩa vẫn liên tiếp nổ ra, tình hình sản xuất thấp kém, hạn hán, bão lụt, sâu cắn lúa hoành hành.

Năm 1397, người Hồng Y nổi dậy ở Tuyên Quang. Phạm Cự Luận được lệnh của Hồ Quý Ly đem quân Thần Sách đi đàn áp, bị thua, Phạm Cự Luận tử trận.

Năm 1399, tình hình triều Trần hết sức rồi ren. Hồ Quý Ly lập mưu giết Trần Thuận Tông và phe chống đối của Trần Khát Chân, tổng cộng hơn 370 người. Nguyễn Nhừ Cái vốn là người trước kia trốn vào núi Thiết Sơn làm tiền giấy giả, nhân tình hình đó đã chiêu tập nhân dân hơn một vạn người, nổi dậy trên một địa bàn rộng lớn ở các vùng Lập Thạch (Vĩnh Phúc), Đáy Giang (Sơn Tây), Đà Giang (Hòa Bình), Lịch Sơn (Tuyên Quang) , Tản Viên sơn Tây) . . . Quan quân chịu nhiều vất vả mà vẫn không chế ngự được.

Cuối năm đó, Hồ Quý Ly phải sai An phủ sứ Động Lộ là Nguyễn Bằng Cử cầm quân tiến đánh Nguyễn Nhữ Cái mới dẹp yên được.  Những cuộc khởi nghĩa của nông nô và dân nghèo ở cuối thời Trần cuối cùng đều thất bại, nhưng những cuộc đấu tranh ấy đã giáng một đòn chí mạng vào chế độ điền trang thái ấp và là tiếng chuông báo hiệu tình hình nguy biến của nhà nước quân chủ phong kiến nhà Trần.

Quan hệ quân sự giữa Đại Việt với các vương quốc phía nam và phía tây đã có từ lâu và là một yêu cầu trong quá trình dựng nước và giữ nước của các dân tộc. Sự liên minh giữa các quốc gia trong đấu tranh chống kẻ thù chung có ý nghĩa lớn, làm tăng thêm sức mạnh đánh thắng quân xâm lược phương Bắc lúc đó. Song, trong thực tế lịch sử lại có sự xâm lấn lãnh thổ giữa các vương quốc là kết quả của sự phát triển của các nhà nước quân chủ phong kiến, nó tùy thuộc vào sức mạnh chính trị, quân sự của mỗi vương triều ở từng giai đoạn.

Khi nhà Trần vững mạnh, có quân đội tinh nhuệ thì các vương quốc lân bang thần phục, vị nể. Nhưng bước sang thế kỷ XIV, khi vương triều Trần suy yếu, xa rời dân, lòng dân ly tán dẫn đến lực lượng vũ trang cũng phân tán, thì các vương quốc như Chăm pa và Ai Lao đã đưa quân cướp phá đất nước, kể cả Kinh thành Thăng Long cũng nhiều phen điêu đứng. Quân đội nhà Trần lúc đó không đảm đương được nhiệm vụ bảo vệ đất nước và bảo vệ nhân dân nữa.

Mặt khác, giai đoạn cuối thời Trần, chính sách “Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc” mà Trần Hưng Đạo căn dặn, không được thực hiện. Vì thế, triều đình nhà Trần ngày càng thoái hóa. Phong trào quần chúng bạo động nổi lên mạnh mẽ. Nông dân chống áp bức bóc lột, nô tỳ đứng lên đòi được giải phóng khỏi “thân phận trâu ngựa” của mình. 

Khởi nghĩa nông dân cuối thời Trần kéo dài ngót nửa thế kỷ XIV, thể hiện tinh thần chiến đấu bền bỉ, sức mạnh vùng lên của các tầng lớp bị áp bức chống chế độ nhà Trần. Đó là những sự kiện lịch sử quân sự phủ đầy những trang sử cuối thời Trần. Các cuộc khởi nghĩa tuy đều bị thất bại nhưng nó đã báo hiệu tình hình nguy biến của nhà nước quân chủ phong kiến nhà Trần. Nhận rõ thời cơ đó, Hồ Quý Ly đã từng bước nắm được các quyền lực quân sự, tạo được những uy đầu tiên để nắm lấy chính quyền vào năm 1400.


_________________________
1. Phạm Như Ôn, nhà sư, lãnh tụ cuộc khởi nghĩa lớn của nông dân cuối thời Trần. Năm 1389, khi nhà Trần suy đồi đổ nát, Phạm Như Ôn tập hợp nông dân nghèo nổi dậy ở Quốc Oai Thượng (Hà Tây) chống lại triều đình và địa chủ. Phạm Như Ôn lấy Nguyễn Tông Mại và Nguyễn Khả Hành làm hành khiển, lập ba đạo quân: Thần Kỳ, Dũng Đấu, Vô Hạn, đánh chiếm Kinh sư (Thăng Long) trong ba ngày, khiến triều đình hoảng sợ, phải điều tướng Hoàng Phụng Thế đem quân Tả Thánh Dực đến mới đánh bại được nghĩa quân. Phạm Như Ôn bị bắt và bị giết cùng Nguyễn Tông Mại, Nguyễn Khả Hành năm 1390.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #105 vào lúc: 15 Tháng Năm, 2009, 08:05:20 pm »

CHƯƠNG V

TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ VIỆT NAM THỜI TRẦN THẾ KỶ XIII


Đến thế kỷ XIII, lịch sử quân sự Việt Nam có bước phát triển lớn. Đại Việt thời Trần cùng với những chiến công oanh liệt trong ba cuộc kháng chiến chống giặc Mông – Nguyên xâm lược, đã xuất hiện nhiều tác phẩm lý luận và những tư tưởng quân sự rất tiến bộ.

So với những quan điểm, tư tưởng quân sự cùng thời gian đó ở các nước châu Á, châu Âu, có thể nói đây là những quan điểm, tư tưởng vượt thời đại. Sự phát triển của quan điểm tư tưởng quân sự là một nội dung quan trọng của lịch sử quân sự lúc đó.

Qua thực tiễn chỉ đạo chuẩn bị và thực hành chiến tranh, qua những tác phẩm quân sự nổi tiếng của Trần Quốc Tuấn (như Hịch tướng sĩ, Di chúc Canh Tý [năm 1300], một số nội dung quan trọng của Binh thư yếu lược), qua những áng văn thơ của các vua Trần và các nhà chính trị - quân sự thời Trần, đã xuất hiện một hệ thống lý luận, tư tưởng về chiến tranh giữ nước với những luận điểm rất tiến bộ. Những luận điểm, tư tưởng đó đã có tác dụng to lớn đối với sự chỉ đạo thực tiễn chiến tranh giữ nước thời Trần, đặt nền tảng cho sự phát triển tư tưởng, lý luận quân sự các đời sau.

Trong lý luận, tư tưởng quân sự Việt Nam thời Trần thế kỷ XIII, nổi bật lên các quan điểm, tư tưởng sau đây:

I. KIÊN CƯỜNG BẤT KHUẤT, QUYẾT ĐÁNH QUYẾT THẮNG QUÂN XÂM LƯỢC LỚN MẠNH.

 Thế kỷ XIII, quân Mông Cổ gồm những đạo quân thiện chiến đã từng chiến thắng khắp nơi trên thế giới, chinh phục nhiều nước ở châu Âu và châu Á. Sau khi Mông Cổ chinh phục Trung Quốc, lập ra triều đại Nguyên thì tư tưởng đại Mông Cổ nhập làm một với chủ nghĩa bành trướng Đại Hán, sức mạnh của kẻ uy hiếp và xâm lược nước ta được tăng lên gấp bội. Trước kẻ thù lớn mạnh đã từng đánh trăm trận trăm thắng đó, nền độc lập của dân tộc nhơ ngàn cân treo sợi tóc.  Nguy cơ mất nước là điều có thể thấy rõ.

Trong tình hình đó, phản ứng đầu tiên và rất mạnh mẽ của triều đình Trần là không sợ quân xâm lược lớn mạnh, kiên quyết tổ chức đánh trả, xem giặc Mông Thát là “kẻ thù không đội trời chung”. Từng bước, bằng những biện pháp kịp thời và có hiệu lực, đã biến quyết tâm kháng chiến rất cao của triều đình thành quyết tâm hy sinh chiến đấu, giết giặc lập công của cả nước.

Trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất (12-1257 - 2-1258), khi quân giặc mới kéo sang, vua Trần Thái Tông đã xuống chiếu cho các tướng đem quân thuỷ bộ lên chặn địch ở biên giới Mặt khác ra lệnh tống giam tất cả các tên sứ thần Mông Cổ. Triều đình, các tướng sĩ, toàn quân, toàn dân đều có quyết tâm cao chống giặc, gìn giữ và bảo vệ đất nước. 

Trong cuộc kháng chiến lần thứ hai (năm 1285) quân Mông - Nguyên xâm lược nước ta với một lực lượng mạnh gấp mười lăm lần so với cuộc chiến tranh lần thứ nhất. Quyết tâm kháng chiến của triều đình, vì vậy, càng to lớn. Triều đình đã thực hiện một loạt biện pháp chiến lược quan trọng nhằm biến quyết tâm lớn lao đó thành quyết tâm của toàn thể muôn dân trăm họ, của cộng đồng các dân tộc trên đất nước.

Tháng 11-1282, vua Trần đã mở hội nghị các vương hầu, bách quan ở Bình Than. Mục đích cuộc họp này là “bàn kế đánh phòng” và “chia quân giữ nơi hiểm yếu” 1. Hội nghị Bình Than có tác dụng rất quan trọng là thống nhất quyết tâm trên dưới, biến quyết tâm kháng chiến chống giặc của triều đình thành quyết tâm của toàn bộ vương hầu, quý tộc, từ đó huy động được rộng rãi lực lượng của tầng lớp quý tộc quan liêu tham gia kháng chiến.

Quyết tâm của triều đình và Bộ Thống soái nhà Trần cũng được chuyển thành quyết tâm của các tướng sĩ thông qua Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn - vị Quốc công tiết chế.


________________________
1. Toàn thư, q.5, t.41b.
« Sửa lần cuối: 15 Tháng Năm, 2009, 08:12:28 pm gửi bởi UyenNhi05 » Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #106 vào lúc: 15 Tháng Năm, 2009, 08:11:48 pm »

“Ta thường nghe: Kỷ Tín 1 đem mình chết thay, cứu thoát cho Cao Đế; Do Vu 2 chìa lưng chịu giáo, che chở cho Chiêu vương; Dự Nhượng 3  nuốt than báo thù cho chủ; Thân Khoái 4 chặt tay cứu nạn cho nước; Kính Đức 5, một chàng tuổi trẻ, thân phò Thái Tông thoát khỏi vòng vây của Thế Sung; Cảo Khanh 6, một bề tôi xa, miệng mắng Lộc Sơn, không theo mưu kế nghịch tặc.

Từ xưa các bậc trung thần nghĩa sĩ, bỏ mình vì nước, đời nào không có? Giả sử các bậc đó cứ khư khư theo thói nhi nữ thường tình, thì cũng chết già ở xó cửa, sao có thể lưu danh sử sách, cùng trời đất muôn đời bất hủ được?  Các ngươi vốn dòng võ tướng, không hiểu văn nghĩa, nghe những chuyện ấy nửa tin nửa ngờ.

Thôi việc đời trước, hẵng tạm không bàn, nay ta lấy chuyện Tống Nguyên mà nói: Vương Công Kiên 7 là người thế nào? Tỳ tướng của ông là Nguyễn Văn Lập lại là người thế nào? mà lấy thành Điếu Ngưu nhỏ như cái đấu, chống quân Mông Kha đông hàng trăm vạn, khiến cho sinh linh bên Tống đến nay còn đội ơn sâu! Cát Đãi Ngột Lang 8 là người thế nào? Tỳ tướng của ông là Cân Tu Tư lại là người thế nào? mà xông vào lam chướng trên đường muôn dặm,đánh quân Nam Chiếu trong khoảng vài tuần, khiến cho quân trưởng người Thát đến nay còn lưu tiếng tốt!

Huống chi ta cùng các ngươi sinh phải thời rối ren, lớn lên gặp buổi khó nhọc, ngó thấy sứ giặc đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn tấc lưỡi cú diều mà lăng nhục triều đình,

đem tấm thân dê chó mà bắt nạt tể phụ. Thác mệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa, để thoả lòng tham không cùng, giả hiệu Vân Nam vương mà thu bạc vàng, để vét của kho có hạn. Thật khác nào ném thịt cho hổ đói, giữ sao cho khỏi tai vạ về sau.

Ta thường đến bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, nước mắt đầm đìa, ruột đau nhơ cắt, chỉ giận không được ăn thịt nằm da, nuốt gan uống máu quân thù, dù trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn thây ta bọc trong da ngựa cũng nguyện xin làm. 

Các ngươi ở lâu môn hạ, nắm giữ binh quyền, không có mặc thì ta cho áo, không có ăn thì ta cho cơm, quan thấp thì ta thăng chức, lương ít thì ta cấp bổng; đi thuỷ thì ta cho thuyền, đi bộ thì ta cho ngựa; lúc trận mạc thì cùng nhau sống chết, lúc ở nhà thì cùng nhau vui cười, so với Công Kiên đãi kẻ tỳ tướng, Ngột Lang đãi người phụ tá, nào có kém gì? 

Nay các người ngồi nhìn chủ nhục mà không biết lo, thân chịu quốc sỉ mà không biết thẹn, làm tướng triều đình phải hầu quân giặc mà không biết tức, nghe nhạc thái thường đãi yến nguỵ sứ mà không biết căm. Hoặc lấy việc chọi gà làm vui đùa, hoặc lấy việc đánh bạc làm tiêu khiển; hoặc vui thú vườn ruộng, hoặc quyến luyến vợ con, hoặc lo làm giàu mà quên việc nước; hoặc ham săn bắn mà quên việc binh, hoặc thích rượu ngon, hoặc mê tiếng hát.

Nếu có giặc Mông Thát tràn sang, thì cựa gà chọi không thể đâm thủng áo giáp của giặc mẹo cờ bạc không thể dùng làm mưu lược nhà bình, vườn ruộng nhiều không chuộc được tấm thân ngàn vàng, vợ con bận không ích gì cho việc quân quốc; tiền của dẫu nhiều khôn mua được đầu giặc, chó săn tuy khoẻ khôn đuổi được quân thù, chén rượu ngon không thể làm cho giặc say chết, tiếng hát hay không thể làm cho giặc điếc tai.


_______________________
1. Hán Cao Tổ bị Hạng Vũ vây, Kỷ Tín giả làm Cao Tổ ra hàng. Cao Tổ trốn thoát còn Kỷ Tín bị thiêu chết.
2. Theo Tả truyện: Sở Chiêu vương đời Xuân Thu lúc lánh nạn bị kẻ cướp đâm. Do Vu đã chìa lưng ra che cho Chiêu vương.
3. Trí Bá (đời Chiến Quốc) bị Triệu Tương Tử giết, gia thần Trí Bá là Dự Nhượng đã nuốt than cho khác giọng, giả làm hành khất mưu giết Tương Tử để báo thù cho chủ.
4. Thân Khoái là viên quan giữ ao cá của Tề Trang Công, khi Trang Công bị Thôi Trữ giết, Thân Khoái đã chết theo.
5. Kính Đức tức Uất Trì Cung đời Đường, đã lấy mình che chở, hộ vệ cho Đường Thái Tông (bấy giờ còn là Tần Vương) thoát khỏi vòng vây của Vương Thế Sung.
6. Khi An Lộc Sơn nổi loạn, đánh đuổi Đường Huyền Tông, Nhan Cảo Khanh đã chửi mắng Lộc Sơn bị Lộc Sơn cắt lưỡi.
7. Vương Công Kiên, tức Vương Kiên, tướng Tống giữ Hợp Châu (Tứ Xuyên), đã huy động quân dân anh dũng chiến đấu ở núi Điếu Ngư, cầm cự với đạo quân Mông Cổ trong bốn tháng trời, cho đến khi Mông Kha chết, quân Mông Cổ phải rút lui.
8. Tức Ngột Lương Hợp Thai.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #107 vào lúc: 15 Tháng Năm, 2009, 08:25:42 pm »

Lúc bấy giờ, chúa tôi nhà ta cùng bị bắt, đau xót biết chừng nào? Chẳng những thái ấp của ta không còn, mà bổng lộc các ngươi cũng về tay kẻ khác, chẳng những gia quyến ta bị đuổi, mà vợ con các ngươi cũng bị bắt đi; chẳng những thân ta kiếp này chịu nhục, rồi đến trăm năm sau, tiếng dơ khôn rửa, tên xấu còn lưu mà đến gia thanh các ngươi cũng không khỏi mang tiếng là tướng bại trận. Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi muốn vui chơi phỏng có được không?

Nay ta bảo thật các ngươi: nên nhớ câu “đặt mồi lửa vào dưới đống củi” 1 làm nguy cơ, nên lấy điều “kiềng canh nóng mà thổi rau nguội” 2 làm răn sợ, huấn luyện quân sĩ, tập dượt cung tên, khiến cho người người đều giỏi như Bàng Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ 3; có thể bêu được đầu Hốt Tất Liệt ở cửa khuyết, làm rữa thịt Vân Nam vương ở Cảo Nhai 4.

Như vậy chẳng những thái ấp của ta mãi mãi vững bền, mà bổng lộc các ngươi cũng đời đời hưởng thụ; chẳng những gia quyến ta được yên ấm gối chăn,mà vợ con các ngươi cũng được bách niên giai lão; chẳng những tông miếu của ta sẽ được muôn đời tế lễ mà tổ tông các ngươi cũng được thờ cúng quanh năm; chẳng những thân ta kiếp này đắc chí, mà đến các ngươi trăm năm về sau tiếng vẫn lưu truyền; chẳng những thuỵ hiệu ta không bị mai một, mà tên họ các ngươi cũng được sử sách lưu thơm. Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi không muốn vui chơi phỏng có được không?

Nay ta chọn binh pháp các nhà soạn thành một quyển gọi là Binh thư yếu lược. Nếu các ngươi biết chuyên tập sách này,  theo lời ta dạy bảo, thì trọn đời là tôi chủ , nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời ta dạy bảo, thì trọn đời là cừu thù 5. Vì sao vậy?


_______________________
1. Câu ở trong Hán thư. "ôm mồi lửa đặt dưới đống củi rồi nằm lên trên, lửa chưa kịp cháy vẫn cho là yên".
2. Câu ở Sở từ. "Kẻ sợ canh nóng thường thổi cả rau nguội".
3. Bàng Mông và Hậu Nghệ là hai nhân vật bắn cung giỏi trong thần thoại Trung Quốc.

4. Nơi trú ngụ của các vua "man di" khi vào chầu vua Hán ở Trường An.
5. Binh pháp các nhà nói ở đây, là binh pháp của các danh nhân quân sự thời cổ của Trung Quốc. Đời Tống, trong kho tàng rất phong phú của sách quân sự Trung Quốc, bảy quyển được chọn ra, tập hợp trong một bộ gọi là Võ kinh thất thư. Võ kinh thất thơ gồm Binh pháp Tôn Tử của Tôn Vũ, Binh pháp Ngô Tử của Ngô Khởi, Binh pháp Tư Mã cửa Tư Mã Tương Như, sách Uất Liêu Tử (bốn tác giả trên sống đời đông Chu), sách Lục thao của Khương Tử Nha (đời Tây Chu), sách Tam Lược của Hoàng Thạch Công (đời Hán), sách Đường Thái Tông  Lý - Vệ Công vấn đổi của Lý Tĩnh (đời Đường).
Trong Võ Kinh thất thư, Binh pháp Tôn Tử là quyển quan trọng nhất, có tác dụng chủ đạo đối với nội dung nhiều quyển khác. Từ đời Lý Võ kinh thất thư được đưa vào nghiên cứu và học tập ở Đại Việt. Nhiều nội dung của Võ kinh thất thơ được chọn đưa vào Binh thư yếu lược.
Quyển Binh thư yếu lược ta dùng hiện nay, do Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, ấn hành năm 1977, ngoài các nội dung trích từ Võ kinh thất thư và nhiều nội dung phù hợp với các luận điểm nêu trong Di chúc Canh Tý (1300), trong Hịch tướng sĩ... của Trần Hưng Đạo, còn gồm một số sự việc quân sự diễn ra sau thời Trần: thời Minh, Thanh, thời Tây Sơn, chắc là do một nhà nghiên cứu quân sự nào đó của nước ta thời kỳ cận đại ghi thêm vào. Lược bỏ những đoạn này, chọn lọc những nội dung trích từ binh pháp “các nhà” mà soạn giả Trần Quốc Tuấn tâm đắc, đưa vào sách để rèn dạy tướng sĩ, những nội dung phù hợp với Di chúc Canh Tý, với Hịch Tướng Sĩ và với hoạt động thực tiễn của quân dân ta thời Trần thì sách Binh thư yếu lược hiện dùng có chất lượng tốt, vừa phản ánh những kinh nghiệm, những luận điểm chung trong phép dùng binh của các nhà, vừa phản ánh những tơ tưởng, luận điểm và nghệ thuật quân sự có nét riêng của dân tộc Việt Nam thời Trần. Trong đó có nhiều luận điểm đến nay còn giữ nguyên giá trị. Lý luận và tư tưởng quân sự là sản phẩm của một giai đoạn lịch sử nhất định, của một quá trình chiến đấu bền bỉ và suy nghĩ sâu sắc. Tư tưởng quân sự thời Nguyễn, khi mà triều đình thì đầu hàng, thoả hiệp với quân xâm lược, quân đội triều đình thì không có tinh thần, trình độ thấp kém, thường đánh đâu thua đấy, mặc dù lúc đó có những phong trào kháng chiến chống Pháp kiên cường nhưng không thành công. Tư tưởng đó không thể sánh với tư tưởng quân sự thời Trần khi mà triều đình phong kiến cùng trăm họ kháng chiến rất kiên cường, bền bỉ trong nhiều năm, suy tính, bàn bạc rất sâu sắc, sáng tạo, ba lần đánh thắng kẻ thù xâm lược hung hãn nhất của loài người và của dân tộc ta lúc đó, lập nên những chiến tích oanh liệt và lưu lại những luận điểm quân sự vượt thời đại.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #108 vào lúc: 15 Tháng Năm, 2009, 08:27:51 pm »

Giặc Mông Thát với ta là kẻ thù không đội trời chung, mà các ngươi cứ điềm nhiên không muốn rửa nhục, không lo trừ hung, lại không dạy quân sĩ, chẳng khác nào quảy mũi giáo mà chịu đầu hàng, giơ tay không mà chịu thua giặc. Nếu vậy, rồi đây sau khi dẹp yên quân giặc 1, muôn đời để thẹn, há còn mặt mũi nào đứng trong cõi trời che đất chở nữa? Cho nên ta viết bài hịch này để các ngươi biết rõ bụng ta” 2.
 
Hịch tướng sĩ nổi tiếng của Trần Quốc Tuấn có tác dụng động viên rất mạnh mẽ tinh thần của tướng sĩ. Bằng những lời lẽ, những lập luận vừa sắc bén, hùng hồn, vừa thiết tha, đi sâu vào tình cảm của tướng sĩ, bài hịch đã động viên lòng yêu nước, chí căm thù quân xâm lược, ý thức trách nhiệm với đất nước, với lịch sử, phê phán những xu hướng ăn chơi, hưởng lạc, buông lỏng trách nhiệm, không thấy nguy cơ nước mất nhà tan, cũng không thấy hạnh phúc của đất nước, của nhà mình khi kháng chiến thắng lợi. Từ đó mà đề ra trách nhiệm phải chăm lo học tập, rèn luyện, nâng cao khả năng chiến đấu, quyết tâm giết giặc lập công và lòng tin vào thắng lợi của cuộc kháng chiến.

Thấm nhuần tinh thần kiên cường bất khuất của hịch văn, ý chí quyết “ăn thịt nằm da, nuốt gan uống máu quân thù”., “dù trăm thân phơi ngoài nội cỏ, nghìn thây bọc trong da ngựa”, quyết “bêu đầu Hốt Tất Liệt”, “làm rữa thịt Vân Nam vương”, các tướng sĩ đã có những hành động đẹp đẽ trong những tình huống nguy hiểm khó khăn.

Trần Bình Trọng bị địch bắt trong chiến đấu, bị mua chuộc và uy hiếp, đã hiên ngang mắng vào mặt giặc: “Ta thà làm ma nước Nam, không thèm làm vương đất Bắc”.

Đỗ Khắc Chung được nhà vua phái đi gặp Ô Mã Nhi để dò xét tình hình, đã vững vàng bẻ lại các luận điệu láo xược của giặc với một khí phách làm cho tên tướng giặc phải khâm phục.

Người thiếu niên quý tộc Trần Quốc Toàn đã tự lập một đội quân gồm hơn một nghìn gia nô và thân thuộc, sắm vũ khí, đóng thuyền chiến, nóng lòng chờ ngày giết giặc cứu nước. Lá cờ của đội quân đó mang sáu chữ “Phá cường địch, báo hoàng ân” (phá giặc mạnh, báo ơn vua). Người thiếu niên đó đã anh dũng hy sinh khi chặn đứng quân địch không cho chúng vượt sông Cầu để về nước trong cuộc kháng chiến lần thứ hai.

Để biểu thị quyết tâm cao giết giặc cứu nước, các tướng sĩ đều khắc vào tay hai chữ Sát Thát (giết quân Thát, tức quân Mông Cổ). 

Để biến quyết tâm kháng chiến của triều đình và của quân đội thành quyết tâm đánh giặc của toàn dân, tháng 1-1285, vua Trần Thánh Tông đã mời đại biểu phụ lão trong cả nước về Kinh Đô Thăng Long, đặt tiệc ở điện Diên Hồng, hỏi kế đánh giặc. Trả lời câu hỏi của nhà vua là nên đánh hay không, các phụ lão đều đồng thanh hô to: Đánh!

Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng bấy giờ “muôn người cùng nói, như từ một miệng”. Các bô lão trở về địa phương mình đã truyền đạt ý chí và quyết tâm đó cho toàn dân.

Tiếng vang của Hội nghị Bình Than, của bài Hịch tướng sĩ của Hội nghị Diên Hồng dội vào lòng yêu đất nước, chí căm thù giặc vốn có trong tâm tư, tình cảm của từng người dân từng gắn bó với triều đình qua cát chính sách tiến bộ có tác dụng khoan thư sức dân đã được ban hành thời đó.

Triều đình lại ra lời hiệu triệu viết lên bảng lớn, treo khắp các nẻo đường đất nước được trăm họ khắp nơi hưởng ứng: Tất cả các quận, huyện trong nước, nếu có giặc ngoài đến, phải liều chết mà đánh. Nếu sức không địch nổi thì cho phép lẩn tránh vào rừng núi, không được đầu hàng.


__________________________
1. Nguyên văn là “bình lỗ chi hậu”, nhiều bản dịch là “sau trận Bình Lỗ”. Trần Quốc Tuấn có nói rằng thời Đinh Lê đắp thành Bình Lỗ mà phá được quân Tống (Toàn thư, q.6, t.8a). Ngô Tất Tố dịch là “sau khi dẹp yên quân giặc”. Chúng tôi không rõ là Quốc Tuấn nói theo ý nào và nếu là trận Bình Lỗ, thì là chỉ trận nào...
2. Dựa vào bản dịch của Hà Văn Tấn - Phạm Thị Tâm trong Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên - Mông thế kỷ XIII, Sđd, tr.374-375.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #109 vào lúc: 15 Tháng Năm, 2009, 08:29:04 pm »

Với một trạng thái tinh thần như vậy, nhân dân cả nước đều đứng lên quyết tâm chiến đấu khi giặc đến: trực tiếp đương đầu, gây tổn thất, đẩy lùi quân xâm lược khi chúng kéo đến làng như ở Cổ Sở (gần Thăng Long) và ở Yên Duyên (Thanh Hoá) , làm thanh dã (vườn không nhà trống), cất dấu lương thực không để lọt vào tay quân giặc đang khốn quẫn về tiếp tế lương thảo, kiên trì bám trụ sau lưng địch, tiến công liên tục vào các đồn, trại địch ở bất cứ nơi nào chúng đóng quân, cắt các đường giao thông vận chuyển của chúng, đánh địch ban ngày, chú trọng tiến công chúng ban đêm.

Cơ cấu tổ chức lực lượng vũ trang thời đó thuận lợi cho việc phát triển các hoạt động cả nước đánh giặc nói trên. Khắp nơi, một bộ phận quân triều đình làm nòng cốt cho quân các lộ,phủ. Quân các lộ phủ làm nòng cốt cho hương binh thổ binh. Hương binh thổ binh phối hợp với các lực lượng trên làm nòng cốt cho nhân dân đứng vững, bám trụ địa bàn để thường xuyên tiến công địch khắp mọi nơi, mọi lúc.

Chính các hoạt động này của toàn quân, toàn dân kiên trì đánh giặc là nỗi lo sợ thường xuyên và là tai hoạ lớn cho quân xâm lược. Trong quá trình kháng chiến, sức mạnh của quân địch nhiều lúc đã gây nên những tình huống lao đao đối với triều đình và quân, dân ta, nhất là trong cuộc kháng chiến lần thứ hai. Có kẻ đã hoảng sợ như Trần Nhật Hạo, một số kẻ hèn nhát đã đầu hàng địch như Trần Ích Tắc, Trần Kiện, Trần Tú Hoãn, Trần Văn Lộng, Lê Trắc, v.v.. Nhưng tinh thần quật cường, bất khuất của triều đình và bách quan, của quân và dân đã được giữ vững và phát triển mạnh hơn lên qua những bước thử thách hiểm nghèo. Và với tinh thần đó, quân và dân ta đã kiên trì kháng chiến chống quân xâm lược lớn mạnh, giành được thắng lợi vẻ vang trong cả ba cuộc kháng chiến.

Trong những thời điểm cam go của các cuộc kháng chiến, ý chí kiên định của những nhân vật chủ chốt trong lãnh đạo kháng chiến đã có tác dụng to lớn giữ vững quyết tâm kháng chiến của triều đình.

Đó là trường hợp của Trần Thủ Độ khi ông bàn bạc với vua Trần trên sông Hồng trong cuộc rút lui chiến lược đầu tiên của triều đình đầu năm 1258. Ông đã có một câu trả lời đầy khí phách: “Đầu tôi chưa rơi xuống đất xin bệ hạ đừng lo!”.

Đó cũng là trường hợp của Trần Hưng Đạo trong những ngày hết sức gian nan, nguy hiểm của cuộc kháng chiến lần thứ hai, đầu năm 1285. Trả lời câu hỏi vừa có tính chất thăm dò, nhưng cũng vừa phản ánh sự lo lắng của vua Trần , ông đã tâu: “(Bệ hạ) trước hết hãy chém đầu tôi rồi sau hãy hàng”.


II. TẠO NGUỒN SỨC MẠNH GIỮ NƯỚC Ở TRONG DÂN - CHÚNG CHÍ THÀNH THÀNH

1. Triều đình nhà Trần đã biết tìm nguồn sức mạnh để giữ nước ở trong dân

Sau chiến tranh thắng lợi, vua Trần Anh Tông hỏi Trần Quốc Tuấn về kế sách giữ nước về sau, Trần Quốc Tuấn đã có nhiều ý trả lời rất quan trọng, sau này ghi lại thành Di chúc Canh Tý (1300) của Trần Quốc Tuấn.

Di chúc đã nêu một kết luận tổng quát: “Khoan thư sức dân, làm kế sâu rễ bền gốc (triều đình sâu rễ bền gốc trong dân - T.G). Đó là thượng sách để giữ nước” (Thả, khoan dân lực, dĩ vi thâm căn cố đế chi kế, thử thủ quốc chi thượng sách dã).

Ở nhiều nước trên thế giới, khi nói về lực lượng tiến hành chiến tranh, kể cả chiến tranh chính nghĩa, người ta thường đề cập đến xây dựng và sử dụng quân đội. Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc là ở quân đội. Ở phương Đông, ngoài quân đội, thường có đề cập đến dân. Nhưng tranh thủ dân là để dân đồng tình, ủng hộ và phục vụ triều đình, phục dịch quân đội khi chuẩn bị và tiến hành chiến tranh. Dân không được xem như lực lượng chiến đấu trực tiếp.

Thời Trần, nếu triều đình chỉ dựa vào quân đội, thì quân đội nhỏ bé của mình không thể đủ sức chống lại đội quân xâm lược đông hơn gấp nhiều lần và quen chinh chiến hơn. Cho nên phải dựa vào dân, động viên dân chúng cùng quân đội đánh giặc, xem dân cũng là một lực lượng chiến đấu bên cạnh quân đội.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM