Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 12:54:59 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lời thú nhận muộn mằn  (Đọc 43726 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #30 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2009, 11:04:24 pm »


21 giờ. Lệnh qua điện vô luyến của Linarès: Rút khỏi Tú Lệ và lui về hướng sông Đà xuyên qua rừng rậm... Thật chẳng ra sao! Một trăm hai mươi kilômél trên cái xứ sở như thế này với những đoạn đèo ở độ cao một nghìn hai hoặc một nghìn rưỡi mét trên dải đường mòn ngoằn ngoèo. Tôi xác định kế hoạch với Tourret, còn gọi là Pierrot, lúc này rất bực bội do bị áp lực nhưng rất tự tin.

Tình thế gay go: đêm tối như mực, đối phương bao vây chúng tôi. đơn vị phân tán trên ba ngọn núi. Cần phải mất hơn hai tiếng đồng hồ để xuống khỏi các chỗ đó. Như vậy sẽ là chơi ván bài của quân Việt, đi tới chỗ bị tiêu diệt. Còn nữa, tôi cần phải biết được số hai trăm năm mươi người của Gia Hội ra sao. Lẽ ra họ đã phải về tới chỗ tôi rồi và tôi không thể bỏ mặc họ. 21 giờ 30. Tôi trả lời Hà Nội: không có câu hỏi. Tự đánh giá tình hình. Sẽ sút đi trong ban ngày khi đã biết được số phận của đơn vị Gia Hội.

23 giờ. Có nhiều ánh đuốc ở hướng đông. Cuối cùng đó là đơn vị của Gia Hội mà tôi liên lạc được qua máy vô tuyến. Họ đã lợi dụng những đường mòn tưởng chừng không đi qua được nhưng đám dân binh của họ nắm vững, đó là lí do họ về chậm. Đoạn đầu đội quân bắt đầu về tới đồn.

Tôi ra lệnh bố trí họ ở dưới chân ngọn núi, tổ chức một điểm tựa khép kín, đào hầm hào và rải dây thép gai xung quanh, số dây thép chưa dùng tới còn để ở trong làng. Một tiếng đồng hồ sau, họ là hai trăm năm mươi người hoạt động ở phía dưới.

Quân Việt không thấy bắn. Họ muốn có một trận thắng lớn, đè bẹp chúng tôi cùng một lúc ở trong khu đồn. Nhưng chắc chắn họ không biết rằng tôi chiếm giữ cốt 876 và 820, ở đó quân dù của tôi ngụy trang kín đáo. Chắc chắn là họ sẽ tấn công trước lúc trời sáng nhưng ở đâu và bằng cách nào? Sở chỉ huy của tôi ở dưới một cái hố, nắp bên trên làm bằng vài đoạn thân gỗ tròn, một chiếc đèn ắc-quy, các máy liên lạc vô tuyến.

Bruno gọi Hervé, Francis, Polo, Bernard: Chúng sắp nhảy sổ vào chúng ta. Tất cả đám trai tráng của các anh bị căng thẳng, mặc dù mệt mỏi. Không được nao núng. Phải giữ vững. Tất cả đáp lời tôi: OK, Bruno. Không có vấn đề gì. Chúng tôi sẵn sàng.

2 giờ sáng. Mọi thứ nổ tung, bừng sáng. Hoả lực súng cối, lựu đạn vũ khí bắn thẳng. Trận đánh lọt thỏm giữa rừng rậm trong đêm tối như mực. Khung cảnh mới hùng tráng làm sao! Tôi hoàn toàn tỉnh táo, mọi mệt nhọc đã tan biến.

Quân Việt tấn công dữ dội trận địa của tôi. Họ xung phong nhiều đợt. Quân sĩ của tôi nấp kín trong hầm hào, được bảo vệ bởi mìn, dây thép gai, lưới mắt cáo, nổ súng ở khoảng cách bốn mươi mét.

Những cuộc liên lạc qua vô tuyến của chúng tôi giống như một đường hình sin sống động phản ánh rõ trận chiến đấu. Bruno gọi Polo, Hervé: Yểm hộ tôi thật sát, tới mức tối đa, hướng hoả lực của các anh vào gần hơn nữa. Polo, Hervé gọi Bruno: Rõ, Bruno. Sẽ tóm được chúng... Trong hai tiếng đồng hồ dài dằng dặc trận đánh diễn ra dữ dội để rồi sau đó giảm bớt cường độ.

Quân Việt dậm chân, hò hét. Họ vô cùng ngạc nhiên, tưởng đâu tất cả chúng tôi đều ở ngay trong đồn... Họ làm cho tôi có cảm tưởng là họ rút. 4 giờ sáng. Thế là... Đã yên tĩnh đôi chút. Tôi hút vài tẩu thuốc lá. Bây giờ chuyện gì sắp xẩy ra đây? 5 giờ. Quân Việt đã cảm thấy điều cần phải làm: đẩy lùi Hervé trên điểm cao 852 để khống chế toàn bộ trận địa.

Quân Việt hò hét lao lên trên đỉnh núi nhưng Hervé đã dự kiến mọi chuyện và đối với anh bạn này, cần phải bước qua xác của anh ta nếu muốn tiến lên. Cũng nấp kín trong hầm hào, anh ta nhằm trúng những lính Việt, vốn không thấy tấm trái mắt cáo tệ hại, họ sa lầy trong tấm lưới ấy. Trời sáng dần.

Tú Lệ đã giữ vững với những thiệt hại tối thiểu. Một số tử vong và khoảng vài chục bị thương. Thật dễ thở khi là người chiến thắng. Nhưng thử hỏi, được bao lâu đây?

Chúng tôi quan sát thấy đoàn quân Việt, có lẽ tới một nghìn người, rút lui về hướng đông, trên con đường mòn đi tới Gia Hội. Lúc ban đêm tôi đã yêu cầu máy bay yểm trợ. Những chiếc B.26 đã có mặt và thích thú oanh tạc, nhưng rất nhanh, thời tiết trở nên xấu đi. Các ngọn núi biến mất trong màn sương mù.

Lúc 9 giờ và chỉ trong chốc lát, một chiếc B.26 đã xuyên được qua màn sương mù. Linarès, vị tướng tốt bụng này, nói trong máy liên lạc. Tôi báo cáo với ông tình thế hiện tại. Ông nói: “Hoan hô. Nhưng bám chắc đấy!” Tôi trả lời ông: “Trước hết tôi cần phải chuyển thương binh của tôi về phía sau, xin ngài cố gắng cử cho tôi năm chiếc Morane đã yêu cầu”
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #31 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2009, 11:05:13 pm »


III
CUỘC RÚT LUI KHÓ KHĂN VỀ SÔNG ĐÀ


Lệnh cho những người ở Gia Hội đi về phía sông Đà, tôi nói với họ: “Đi càng nhanh càng tốt. Các anh sẽ bắt liên lạc với trung đội của tôi đang chiếm giữ đèo Khau Phạ”. Đơn vị Gia Hội được cứu thoát mà không phải chiến đấu. 10 giờ. 11 giờ. Giữa trưa. Chúng tôi vẫn chờ đợi những chiếc Morane. Điện của tướng Linarès: Bất khả thi, các máy bay không thể lên được vì khí tượng xấu. 13 giờ. Sau khi chôn cất và tưởng niệm các tử sĩ, tiểu đoàn bắt đầu cuộc hành quân dài rút lui. Phải leo lên những ngọn núi và kéo đài đội ngũ theo hàng một trên con đường mòn nhỏ hẹp ấy.

Đi đầu là đại đội của Wilde, theo sau là sở chỉ huy của tôi và Trapp. Đi tập hậu là Leroy và Magnillat. Hai chiếc B.26 đã lên được và bay lượn bên trên Tú Lệ cho mãi đến 16 giờ 30 nhưng khí tượng vẫn bế tắc. Họ tiếc rẻ chia tay với chúng tôi. Tôi hành tiến về đèo Khau Phạ. Các thương binh được cuốn tròn vào trong những chiếc dù rồi được khiêng bằng một chiếc đòn dài, do các đồng ngũ luân phiên nhau khiêng trên vai.

17 giờ. Tôi lên tới giữa đoạn đèo ở độ cao một nghìn ba trăm mét. Một màn mưa bụi làm cho con đường mòn trơn trượt. Thật là nhọc nhằn? Mọi người đã không kịp thở từ năm hôm nay và kêu ca chuyện mệt mỏi. Tourret và tôi, mỗi người đeo trên lưng một máy vô tuyến 300 nặng mười lăm kilô. Tôi tự hỏi, Tourret đang mồ hôi đầm đìa, lấy ở đâu ra cái sức mạnh ấy, vì chúng tôi biết điều này: thân hình anh ấy chỉ nặng có sáu mươi kilô.

Leroy và Magnillat chạm trán dữ dội với các đơn vị lớn quân Việt vốn đã bám theo họ và đang tìm cách tràn lên. Bị hai khẩu đại liên của quân Việt bắn chéo cánh sẻ, tình thế trở lên hỗn loạn. Polo gọi Bruno: Tệ hại. Tôi có ba mươi người gục ngã. Bernard gọi Bruno: Tôi bị chia cắt với Polo. Bị tổn thất nghiêm trọng. Bruno gọi Polo và Bernard. Lao thẳng lên đỉnh đèo. Phá huỷ thứ gì quá nặng. Điều chủ yếu là tới được đỉnh cao với quân số tối đa.

Thực là khổ cực! Linh mục Jeandel tốt bụng ở bên cạnh tôi, không đi được nữa. Ông ấy muốn chờ các thương binh. Sau này ông ấy sẽ trở về sau khi bị bắt giữ trong hai năm. Polo và Bernard tiếp tục trận đánh kiềm chế, có trời biết ra sao.

Đến nửa đêm, những phân đội cuối cùng của Bernard tới được đỉnh đèo. Mệt nhoài, chúng tôi thử điểm lại tình hình. Ngủ, ngủ nhưng như vậy tức là chấm hết. Chúng tôi thiếu mất chừng tám mươi người vừa tử sĩ, thương binh và mất tích. Trước mắt, quân Việt không thể làm được bất kỳ điều gì. Chúng tôi chiếm giữ đoạn đèo này mà họ chỉ có thể tràn qua sau khi đã lấy lại hơi sức và tổ chức một cuộc hành quân đường dài.

Tôi ra lệnh: 3 giờ sáng, xuất phát về hướng Mường Chấn, ở cách đây chừng mười hai tiếng đồng hồ đi bộ. Đi đầu là Polo và Bernard, họ vừa chịu những tổn thất nghiêm trọng, tiếp sau là Hervé. Francis sẽ cầm giữ đỉnh đèo cho đến 6 giờ sáng để cho đại bộ phận đơn vị đồng ngũ có thời gian vượt lên trước. Tourret sẽ chỉ huy bộ phận đi đầu và bắt đầu từ 9 giờ phải lần lượt bố trí các đại đội mai phục ở những địa điểm thuận lợi. Các đại đội này sẽ chỉ rút đi khi đơn vị cuối cùng đã đi qua. Riêng cá nhân tôi, tôi sẽ ở bộ phận tập hậu cùng với Francis.

Tôi buộc phải bắt cái cậu Tourret tốt bụng này đứng nghiêm bởi lẽ cậu ta cho rằng vị trí của cậu ta phải là ở bộ phận tập hậu. Nhưng tôi giữ ý định là tôi phải có mặt ở nơi mà cuộc chiến sẽ nổ ra. Không tài nào chợp mắt đi được. Quần áo, thân thể ướt đẫm, lạnh thấu xương, người tôi run lên. Trời lạnh trong cái đêm đen tối và lạnh giá ở độ cao một ngàn hai trăm mét này.

3 giờ sáng. Lẳng lặng, các đơn vị chuyển mình như những bóng đen. Tôi còn lại một mình với Francis, bình thản điềm tĩnh. Tôi biết là Thượng đế đã tiếp sức cho cậu ấy. 6 giờ. Như đã dự kiến, chúng tôi rời bỏ đỉnh đèo và chạy xuống dốc theo hướng tây càng nhanh càng tốt. Các đồng ngũ của tôi hẳn đã ở xa và quân Việt đợi trời sáng rõ để phản ứng. Cho mãi đến 8 giờ, mọi việc trôi chẩy theo đúng nghĩa của từ đó. Nhưng rồi quân Việt bắt đầu quấy rối trung đội đi sau cùng của tôi, đầu tiên một cách lẻ tẻ bằng những phân đội nhỏ. Đến 9 giờ, chuyện này trở nên nghiêm trọng.

Tôi mai phục đại đội ở một địa điểm thuận lợi. Quân Việt cách ba trăm mét, hai trăm mét, rồi năm mươi mét. Nổ súng thoả chí và rút lui khẩn trương. Mọi người được báo trước là các thương binh tử sĩ sẽ không thể được thu dung. Đó là con bài áp dụng cho tất cả chúng tôi.

Sáu kilômét đi thêm về phía tây, Hervé đợi chúng tôi cùng với đại đội của cậu ta được bố trí mai phục một cách đáng khen. Cậu ấy để cho Francis đi qua, giờ đây đã yên ổn. Tôi ở lại với Hervé. Chúng tôi đợi quân Việt, chẳng mấy lúc họ hiện ra và lại tiếp tục đối đầu. Rút lui khẩn trương.

Tám kilômét đi xa hơn, Bernard, nấp kín trong bụi rậm, đợi cho Hervé đi qua khỏi để gánh vác lấy phần việc của mình. Lại một lần nữa, tôi ở lại với đại đội hậu vệ và chúng tôi lại đọ súng với các phân đội đi đầu của quân Việt. Và cứ như vậy cho mãi đến Mường Chấn, ở đó bộ phận đi đầu của tiểu đoàn tới được lúc 13 giờ.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #32 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2009, 11:05:50 pm »


Đến 15 giờ, cùng với các phân đội cuối cùng, tôi về tới khu đồn.

- Hoan hô, Tourret. Các ổ mai phục của cậu được bố trí rất hay.

- Cám ơn, thưa thiếu tá, nhưng tôi những muốn được ở cùng một chỗ với thiếu tá.

Mọi người mệt lử. Chúng tôi đã phá huỷ các khẩu súng cối, ba phần tư các đài thông tin. Một số anh em đi chân đất, những đôi bốt nhẩy dù của họ tỏ ra quá nặng nề. Chúng tôi đã mất thêm chừng vài chục người trong ngày hôm đó... Đây là đại đội lính chiến. Tôi cần phải cứu thoát họ, đưa họ về Hà Nội. Đồn này không thể giữ được. Đây thực sự là một cái bẫy chuột đối mặt với một trận cường tập, trong đó chúng tôi sẽ bị khống chế ở khắp mọi nơi.

Thượng sĩ Peyrol, đồn trưởng, có trong tay khoảng bốn chục dân binh. Một người cao, mảnh khảnh, đôi mắt trong sáng, anh biết rõ những gì mà chúng tôi vừa phải gánh chịu và đã cung ứng cho chúng tôi toàn bộ lương thực, thực phẩm, đạn dược dự trữ của anh. Những bữa ăn nóng được nấu cho năm trăm năm mươi lính dù của tôi, lúc này nằm gục ở bất kỳ một mảnh bóng râm nào có được ở trong khu đồn.

Không quân đã báo hiệu có hoạt động tăng cường của quân Việt trên những điểm cao khống chế chúng tôi. Không còn nghi ngờ gì, họ sẽ nghiền nát chúng tôi đêm nay trong cái bẫy chuột này. Tướng Linarès, một lần nữa lại bay trên đầu chúng tôi:

- Bruno, anh sẽ làm gì đây?

- Tôi chưa rõ, thưa tướng quân. Nhưng tôi sẽ giải quyết được. - Và tôi kết thúc bằng câu: - Xin gửi ngài những cái hôn may mắn.

Tôi cần phải suy nghĩ bất chấp nỗi mệt mỏi đang chế ngự con người tôi. Ngủ, không nghĩ ngợi gì nữa.... Liệu có phải một giấc mơ không đây? Không. Sư đoàn 312 quân Việt với mười chín người, rõ ràng là đang ở đây. 17 giờ. Cuộc họp toàn bộ êkíp của tôi, cùng với thượng sĩ Peyrol. Như mọi lúc, chúng tôi đều mày râu nhẵn nhụi. Quy tắc ở tiểu đoàn chúng tôi là có chết cũng phải chết trong tư thế như vậy.

Đây là các mệnh lệnh của tôi - Xuất phát lúc 19 giờ trong đêm tối theo trật tự Bernard - Francis - Polo - Hervé. Chúng tôi đi không vội vã nhằm tới được đồn Ý Tòng ở cách mười bốn tiếng đồng hồ đi bộ.

- Các anh còn hai tiếng đồng hồ để xoá bỏ nỗi mệt nhọc và lấy lại sức lực cho đám trai tráng của các anh. Việc di chuyển sẽ tiến hành không một tiếng động, không được trò chuyện. Bernard bố trí đi đầu một trung đội lính thuộc địa. Trong trường hợp gặp phải quân Việt, họ sẽ nói là họ đi chiếm giữ lối ra phía tây của khu lòng chảo (ở đơn vị Bernard và Francis, quân số hai mươi lăm phần trăm là người địa phương).

- Peyrol, tôi yêu cầu ở anh một nhiệm vụ phải hi sinh: ở lại trong đồn của anh càng lâu càng tốt sau khi chúng tôi xuất phát. Làm ầm ỹ, tạo ra cảm tưởng là tiểu đoàn hãy còn ở đấy. Trong trường hợp quân Việt tấn công, điều này tất yếu xẩy ra, các anh cứ nhẩy vào rừng và tìm cách ra được bờ sông Đà.

- Bernard - Hervé - Polo - Francis, không có ý kiến gì chứ?

- Không, Bruno.

- Peyrol thế nào?

- Sẽ làm như vậy, thưa thiếu tá.

19 giờ. Đoàn quân ma khởi động. Liệu chúng tôi có rơi vào thảm họa không? Tôi nói nhỏ vào máy vô tuyến: Bruno gọi tất cả: Nếu mọi việc trôi chẩy, thì đừng trả lời. Bernard gọi Bruno (bằng một giọng thì thầm rất nhỏ): Chúng tôi đi xuyên qua những toán quân Việt. Chúng tưởng chúng tôi là một đơn vị của chúng. Phải, không thể tin được. Năm trăm năm mươi con người của tôi đi như vậy xuyên qua giữa đám quân Việt đang bao vây khu đồn... “Ai dám đánh thì đánh thắng”. Có ai đó đã nói như vậy.

Mường Chấn lùi xa dần... Bruno gọi Bernard. Đẩy nhanh tốc độ. Hành quân cấp tốc nếu có thể. Bernard gọi Bruno: Rõ. Và bước đi kéo dài ra. 22 giờ. 23 giờ. 7 giờ sáng. 8 giờ. 9 giờ.... Đã mười bốn tiếng đồng hồ, chúng tôi hành tiến như những người máy. Một chiếc B.26 bay trên đầu chúng tôi và báo tin: “Mường Chấn bị phá huỷ. Đơn vị trong đồn đã rút vào rừng”. Lạy Trời! Xin Trời phù hộ cho người thượng sĩ anh hùng ấy thoát nạn.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #33 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2009, 11:09:22 pm »


14 giờ, còn vài kilômét nữa thì tới khu đồn. Ở đoạn đèo cuối cùng này chúng tôi gặp được một tiểu đoàn dù người thuộc địa được tướng Linarès phái tới chi viện cho chúng tôi. Tiểu đoàn trưởng và cơ quan tham mưu của họ, vẻ mặt thư giãn thoải mái. Họ vừa ăn điểm tâm xong. Không thiếu bất cứ thứ gì, quầy ăn dã chiến, rượu vang, khăn giải bàn. Tôi bảo họ: “Cẩn thận. Các anh cần làm ăn nghiêm túc. Trước khi trời tối, họ sẽ ngồi trên lưng các anh đấy”.

Mệt mỏi đến choáng váng, cuối cùng là Ý Tòng. Mười lăm thương binh của chúng tôi đã hành quân với một đầu đạn nằm trong cánh tay hay cẳng chân. Một vài người phải bó bột. Cần phải lấy lại hơi sức. Giờ đây được che chở vòng ngoài bởi một tiểu đoàn còn nguyên vẹn, trước tiên là chúng tôi đã được cứu thoát nhưng vẫn còn lại việc phải đi tới được Tạ Bú, cách đây năm tiếng đồng hồ đi bộ.

20 giờ. Tiểu đoàn quân thuộc địa bảo vệ vòng ngoài cho chúng tôi bị tấn công và không bám được trận địa. Có tổn thất to lớn. Cái quầy ăn đẹp đẽ của họ biến mất vĩnh viễn. Dứt khoát là tất cả không thoát được. Đứng dậy! Tiến lên! Theo trật tự như vậy và trong im lặng. Như một cỗ máy chính xác, đoàn quân lại khởi động.

Hai giờ sáng. Tạ Bú. Đoàn thuyền độc mộc đang chờ chúng tôi. Porcher, tay trung úy nặng đến chín mươi kilô của tôi, do sợ hãi đã phá mọi kỷ lục, và là người đầu tiên qua sông. Nhưng thử hỏi, có ai trong chúng ta lại không sợ hãi trong tình cảnh đó.

Tôi là người cuối cùng lên thuyền. Giờ đây có những lực lượng lớn trấn giữ bờ phía tây con sông. Mọi việc đã được dự kiến. Tiếp đón nồng nhiệt, những bữa ăn nóng. Chúng tôi được cứu thoát. Nhưng mọi người đã vượt quá giới hạn của cái bất khả thi. Trong trạng thái mơ mơ màng màng, đoàn quân nằm gục xuống... ngủ, ngủ.

Gilles chỉ huy tất cả số tiểu đoàn được cử đi tăng viện. Sở chỉ huy của ông đặt tại sân bay Nà Sản. Linarès và Ducournau ở bên ông ấy. Một chiếc Morane đưa tôi tới chỗ họ. Một xe Jeep chờ tôi. Tôi vất vả trèo lên xe nhưng không tài nào bước xuống được. Người ta đỡ cho tôi đứng xuống... Linarès hỏi tôi nhưng tôi không cất nổi tiếng để trả lời. Vết sưng tấy bên háng phải làm tôi đau đớn và tôi không thể chịu được nữa nên đã ngất đi. Một vài mũi tiêm và sau đó Linarès mỉm cười hỏi tôi:

- Thế nào, Bruno, những nụ hôn tốt lành ấy, anh tưởng tướng quân của anh là một cô gái làng chơi chăng?

Hoan hô Linarès! Một vị tướng thực thụ, tôi yêu ông biết bao. Nhân từ, sáng suốt, cảm thông nỗi đau khổ của mọi người.

Hôm nay là 23 tháng mười. Kể từ ngày 16, làm thế nào mà chúng tôi đã duy trì được một cường độ như vậy? Nhẩy dù xuống Tú Lệ, các công việc, cuộc tấn công của quân Việt, cuộc rút lui chết người với bốn mươi hai tiếng đồng hồ hành quân. Đuổi theo sau một cách quyết liệt là quân đối phương đông hơn chúng tôi gấp mười lần về số quân. Một tuần lễ không ngủ hay hầu như không ngủ, ngoài một tiếng đồng hồ dừng chân, lúc đó người ta ngã vật ra trong một chiếc hố.

Hà Nội đã nói: “Bọn họ hỏng hết rồi” Và tất cả bộ tư lệnh đạo quân viễn chinh đã nín thở để theo dõi nỗi cực khổ dai dẳng của chúng tôi. Kinh nghiệm của tôi về cái xứ sở này, cuộc sống trải qua từ mười lăm năm nay với những thiếu thốn, gian khổ của nó, vốn hiểu biết về quân Việt đã giúp cho tôi có những quyết định cần phải có vào thời điểm then chốt nhất. Và cái tiểu đoàn tuyệt vời của tôi, được rèn luyện thật quyết liệt từ một năm nay và do một êkíp sĩ quan như vậy chỉ huy đã làm tốt phần còn lại.

Cái tên Bigeard cùng một lúc bùng nổ trên tất cả các tờ nhật báo: “Cuộc rút lui khỏi Tú Lệ”, “Họ từ địa ngục trở về”, “Trang sử thi bi thảm”. Jules Roy, một nhà văn tài năng và lỗi lạc, tôi có dịp gặp được ở Hà Nội sau này đã cho đăng một bài nổi tiếng trong tờ Tạp chí của Paris, tháng tư 1953 với nhan đề “Cuộc rút lui của một ngàn con người”. Tôi trích ra đây một vài đoạn:

“Quân Việt minh không bắn và lúc đó Bigeard hiểu ra vì sao bọn họ để yên cho đơn vị đồn trú tiếp đón vui vẻ đại đội của Gia Hội. Bọn họ muốn có một trận đại thắng. Nhưng Bigeard không hề nói gì, kể cả với Tourret. Anh là người chỉ huy và giữ kín những lo lắng cho riêng mình.

“Liệu anh ta có hơi bực bội trong thời điểm đó không? Liệu anh ta có quát to để giữ được im lặng trong lúc bước chân của số người ở Gia Hội làm cho sỏi đá lăn xuống dốc phát ra tiếng động? Rất có thể là không. Đó không phải là tính cách của anh ấy. Trên khuôn mặt trơ lì của Bigeard, cần phải nắm bắt được cái tia sáng ngắn ngủi loé lên trong đôi mắt anh, tia sáng của những niềm vui và những nỗi buồn đau khổ. Ngoài tia sáng đó, mọi thứ khác đều bất động. Đó không phải là vì anh ấy không có cảm xúc gì mà là vì anh ấy biết cách chỉ huy. 

“… Trong những ý kiến của Bigeard, có một câu nói thường hay lặp lại. “Các anh nhìn chúng tôi với cái gậy giữ thăng bằng đặt trên hai vai ư?...” Đây là dấu hiệu nhục nhã của thời kỳ bị giam giữ và những công việc mà người ta thực hiện khi bị bắt làm tù binh của Việt minh. Bigeard bị ám ảnh bởi cái hình ảnh này. Anh đã cố tìm cách thuyết phục tôi tin rằng khi dẫn dắt tiểu đoàn của mình tiến về sông Đà, anh chỉ có nghe theo một nỗi sợ hãi. Nhưng mà nếu thế, trái ngược với một mệnh lệnh, vì sao anh đã chờ đợi những người của đồn Gia Hội? Vì sao buổi sáng ngày 20 tháng mười, anh vẫn còn cứ chờ đợi những chiếc máy bay Morane có nhiệm vụ chuyển số thương binh đi. Đỉnh cao nhân cách của con người này chính là ở chỗ đó. Anh không bỏ mặc bất kỳ một ai. Anh không nghĩ cho cá nhân mình trước tiên mà là nghĩ tới những người khác. Ở trong con người anh, mọi việc bắt đầu từ cái đó và tiếp diễn theo cái đó. Nếu như anh đã đợi đến tận 13 giờ rồi mới rút đi, đó không phải là vì anh đã giành được một chiến thắng trong đêm. Dù cho anh đã kìm chân quân đối phương trước các khẩu đại liên của mình, dù cho anh không nhận được sự chi viện của chiếc máy bay B.26 đã xuyên được qua màn sương mù che kín các quả đồi, thì anh vẫn cứ đợi. Và khi anh tin chắc là những chiếc Morane sẽ không tới hạ cánh ở Tú Lệ, anh chỉ để lại sau lưng mình những người chết, trên những ngọn núi khói lửa, sau khi đã tổ chức ở từng đại đội lễ bồng súng chào họ theo nghi thức quân sự. Anh hạ lệnh cho từng trung đội cuốn tròn các thương binh lại trong những chiếc dù và khiêng đi, chỉ mãi tới lúc đó, anh mới chỉ huy đơn vị rút đi.

“Cha tuyên uý đã ở Iại trong cuộc vượt đèo, trong đêm 20 rạng ngày 21 tháng mười, trong lúc đó Bigeard giúp cho các thương binh nhắm mắt. Posuerunt me custodem... Người vệ sĩ không nao núng, đó là Bigeard, và chính anh là người bao giờ cũng có mặt ở vị trí nóng bỏng nhất, đi tập hậu, cùng với đại đội phải chống đỡ thường trực sức tấn công của quân Việt, trong lúc đó Tourret điều độ cuộc hành quân và bố trí các đội xung kích bảo vệ trên các quả đồi.

“Trong văn phòng của anh, phía trên lò sưởi, có một lá cờ nửa đen, nửa đỏ với dòng chữ thêu kim tuyến vốn là câu châm ngôn của tiểu đoàn dù số 6, kể từ ngày thành lập “Ai dám đánh thì đánh thắng!” Người  ta bảo rằng đó là câu của Bigeard. Người ta lại còn có thể tin rằng khẩu hiệu đó được sáng tác vì nhu cầu của sự nghiệp. Nhưng mà không. Đối với Bigeard, câu khẩu hiệu ngắn gọn, có phần nào sáo rỗng đó trở nên thật đơn giản nhưng quyết liệt, sắc sảo và lạnh lùng như một lưỡi dao găm”.


Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #34 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2009, 11:14:18 pm »


IV
TRỞ LẠI TÒA CHỦNG VIỆN, ĐỘI QUÂN TUYỆT VỜI


Tiểu đoàn quay về toà chủng viện, ở đó chúng tôi chăm sóc các vết thương, sắp xếp lại trật tự trong đơn vị, tiếp nhận tăng viện. Những ngôi sao nổi bật, những phần thưởng dồn dập dành cho chúng tôi! Lễ tuyên dương trên sân vận động Mangin trong đó tiểu đoàn nhận được khá nhiều huân chương chữ thập chiến tranh. De Chevigné trao tặng cho tôi chiếc cà vại của người chỉ huy của đội lê dương danh dự. Letourneau lúc đó là Cao ủy của nước Pháp ở Đông Dương chủ trì một bữa dạ tiệc chào mừng tôi, có mặt tướng Salan, người kế nhiệm tướng De Lattre, tham dự có mặt của Linarès và nhiều quan chức cao cấp. Tôi cảm thấy ngượng ngùng khi đứng quanh chiếc bàn lớn và trước bảng thực đơn sang trọng ấy… Tôi hình dung ra những suy nghĩ của Gaby và mẹ già của tôi khi đọc được các số báo.

Trang sử thi Tú Lệ đã kết thúc. Thời kỳ đó, chúng tôi nghĩ là trang sử thi đó sẽ để lại ấn tượng trong tâm trí những người tham dự suốt những năm dài mà chưa biết rằng còn rất nhiều những thử thách khác đang chờ đợi chúng tôi. Nhưng, trong suốt quá trình những đêm đầy máu và mồ hôi ấy, mọi người đã có thể rút ra được một niềm tự hào chính đáng, niềm tự hào đã dứt khoát “gắn kết” các đơn vị và tôi luyện đội quân vượt lên trên cái khả thi.

Sau một tháng nghỉ ngơi nhưng cũng có cả huấn luyện với cường độ cao, trong thời gian đó chúng tôi phải tiếp nhận quân số tăng viện để bù lấp các tổn thất, bổ sung đầy đủ phương tiện, vũ khí, hợp thức hóa việc khen thưởng và buồn thay, cả tình thế của những người mất tích, tiểu đoàn lại một lần nữa sẵn sàng hơn bao giờ hết. Trong thời kỳ này chúng tôi gặp lại thượng sĩ Peyrol của chúng tôi, người được để lại ở đồn Mường Chấn. Anh đã tìm cách thoát được khỏi chỗ đó, sau rất nhiều chặng đường và vừa mới được tặng danh hiệu hiệp sĩ của đội lê dương danh dự. Anh vẫn cứ là một đồng ngũ hoàn hảo và mười lăm năm sau vẫn còn viết thư cho tôi.

Ông Giáp, ông ấy vẫn tiếp tục và tuyệt nhiên không để cho chúng tôi được nghỉ ngơi trên những vòng nguyệt quế của mình. Chúng tôi được tung ra trên vùng đồng bằng, chống lại trung đoàn 42 rất nổi tiếng và đã gieo rắc sự sợ hãi bằng việc bố trí những trận phục kích chết người, bằng việc rải mìn trên trục đường Hà Nội – Hải Phòng, bằng việc tấn công các đồn bốt độc lập.

Tôi phải liên lạc với đồn trưởng đồn Bần Yên Nhân (cách Hà Nội bốn mươi kilômét về phía đông) bị tấn công đêm hôm trước. Đồn này có chừng một trăm người và bốn khẩu đại bác 105. Viên trung úy trình bày lại với tôi về trận tấn công anh ta phải chống đỡ và vẽ mấy hình bầu dục lên trên tấm bản đồ, là những chỗ anh ta giả định quân Việt ẩn nấp trong các làng mạc.

Mệnh lệnh lập tức được ban bố: Hervé đi đầu, tiếp sau là sở chỉ huy của tôi, Polo và Francis. Bernard theo sau chúng tôi cách ba hay bốn kilômét kèm theo các khẩu pháo 105 mà anh ta chịu trách nhiệm bảo vệ.

Sau một cuộc hành tiến hai tiếng đồng hồ trên những đoạn đê nhỏ, Hervé bị bám đánh cách một ngôi làng một trăm mét. Cậu ta có ba bị thương. Bruno gọi Hervé: Kìm chân quân Việt bằng hoả lực. Tránh tổn thất. Bruno gọi Bernard: Cho các khẩu 105 dàn trận và bắn một trăm quả đạn vào phía bắc ngôi làng ngay sau khi dàn trận xong. Bruno gọi Polo: Vượt qua ngôi làng khá xa về hướng bắc. Bruno gọi Francis: Anh sẽ tấn công vào làng từ hướng đông theo lệnh của tôi, sau khi pháo bắn.

Tôi gọi gấp Hà Nội xin máy bay yểm hộ. Và vụ việc diễn ra như trong buổi tập: quan sát của không quân, yểm trợ tối đa, đầu tiên là pháo binh, sau đó đến không quân: Trong lúc Francis mở cuộc tấn công, thì Hervé và Polo vây sát ngôi làng và hoả lực pháo binh bỏ ngỏ phía tây ngôi làng, lối ra duy nhất khả thi đối với quân Việt.

Ngày hôm sau, chúng tôi hành động theo một kịch bản tương tự ở một hang ổ khác của trung đoàn 42. Trong bốn mươi tám tiếng đồng hồ, có hàng trăm xác quân Việt, 4 khẩu trung liên F.M, 80 súng trường thu được, phía chúng tôi chỉ có bốn bị thương.

Chúng tôi vừa mới phục vụ cho tướng Cogny, chỉ huy trưởng một khu vực ở Bắc Kỳ. Thiếu tướng trẻ, cao to, đường nét cân đối, đẹp trai, kỹ sư bách khoa, rất quyến rũ. Ông thực hiện một phiên liên lạc giữa trận đánh cuối cùng. Ngạc nhiên khi thấy tôi điều động bảy trăm con người cũng ngon lành như đối với một tiểu đội chiến đấu, ông đã mời tôi tới ăn bữa tối ở sở chỉ huy và về sau, khi ông chỉ huy cả xứ Bắc Kỳ, tôi gần như là lực lượng dự bị riêng ông.

Trên vùng thượng du Bắc Kỳ, Gilles đã đẩy lùi được cuộc tấn công của tướng Giáp ở Nà Sản. Ông được thăng cấp tướng. Ducournau là phó phụ trách tác chiến của ông. Nhưng quân Việt không ở đâu xa. Họ ở Sơn La, Chiềng Đông, Yên Châu, trên đèo Cò Nòi, có nghĩa là trên toàn bộ xứ Thái đen, mà tôi đã chiếm lại được trong nhiệm kỳ thứ nhất và là nơi tôi đã làm biết bao công việc trong nhiệm kỳ thứ hai, trước khi bị cách chức khỏi Sơn La theo lệnh của thủ tướng Ramadier.

Gilles có nhu cầu được nới rộng địa bàn. Ducournau tổ chức một cuộc tấn công theo hướng đèo Cò Nòi, một địa danh nhắc lại những kỷ niệm đen tối. 25 tháng chạp 1952. Tết Noel ở xa những người thân yêu. Lại nhộn nhịp náo động trong tòa chủng viện. Ngày mai lại một lần nữa chúng tôi nhẩy dù xuống vùng thượng du ở bản Sớm, ba mươi kilômét về hướng đông nam của Nà Sản và cách đèo Cò Nòi mười lăm kilômét về phía đông, với mục đích bắt liên lạc với các phân đội đến từ Nà Sản.

Kịch bản quen thuộc, rất chính xác: trang bị, máy bay, bản đồ, nhiệm vụ cho từng đại đội. Tôi đã biết bản Sớm, hẻo lánh giữa rừng rậm và bị khống chế bởi một ngọn núi, trên đó tôi đã giao chiến với quân Việt trong năm 1946.

Như thường lệ, tôi ngồi trên chiếc máy bay thứ nhất. Hai trăm kilômét bay trên cái vùng quang cảnh quen thuộc… Đứng dậy! Bám chặt! Nhẩy! Phía dưới tôi, bản Sớm biến mất sau một lớp cỏ tranh cao tới hai thước, che giấu nhiều tảng đá. Liệu tôi có bị gãy chân không đây? Không. Thu gọn mình, tôi tiếp đất giữa hai dãy đá tảng… Miễn sao quân Việt không đón đợi ở điểm hẹn, ít nhất là ngay trước mắt… Đội quân của tôi đang từ trên trời rơi xuống.

Bruno gọi Polo, Hervé, Francis, Bernard: Tôi tiếp đất tốt. Các anh hướng theo chỗ tôi. Các phản hồi nhanh chóng và mười phút sau khi nhẩy, tôi đã liên lạc được qua máy vô tuyến với bốn chỉ huy đại đội của tôi. Bruno gọi Hervé: Ngay lập tức chiếm lấy ngọn núi khống chế chúng ta. Bruno gọi Polo: Bố trí một ổ mai phục mạnh trên đường mòn phía bắc. Bruno gọi Francis: Chiếm giữ đường mòn phía nam. Bruno gọi Bernard: Thu gom dù và những ai bị tai nạn lúc nhẩy, bắt liên lạc với y tá các đại đội. Hai mươi phút sau, Bernard gọi Bruno: Thu gom được 90% số dù và hai mươi người gặp tai nạn, trong đó có mười người bị gẫy chân. Thật không may viên trung úy Porcher khổng lồ của tôi đã rơi đúng một tảng đá.

Thật tuyệt diệu được chỉ huy một cỗ máy như vậy, cỗ máy đã được rà trơn biết bao nhiêu! Mười lăm kilômét hành tiến vừa khiêng vác thương binh trước khi gặp được Ducournau đang chiếm giữ đèo Cò Nòi với nhiều tiểu đoàn và dưới quyền chỉ huy của ông, tôi đã làm việc trong một thời kỳ tệ hại suốt năm tháng trời. Cuộc sống mệt nhoài, những trận tấn công không dứt cách từ ba mươi đến năm mươi kilômét, ở đó địa hình thù địch còn cộng thêm vào nỗi mệt nhọc của mọi người.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #35 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2009, 11:15:57 pm »


V
DƯỚI QUYỀN CHỈ HUY CỦA DUCOURNAU


Tất cả hành trang chỉ là cái túi dết của quân dù và dưới trời mưa, cái giá lạnh, cái nắng, cần phải chịu đựng, hoạt động không ngơi nghỉ, thực hành cận chiến ở mức độ cao nhất. Chắc chắn, tôi thấy sung sướng được phục vụ dưới quyền của Ducournau, nhưng mà tôi sẽ phải thực hiện những mệnh lệnh trong một khuôn khổ do các cấp trên của tôi ấn định. Còn trong suốt quá trình của hai nhiệm kỳ trước đây, tôi hành động trên cái xứ sở này theo sáng kiến của riêng mình.

Tôi nhận được lệnh trấn giữ một ngọn núi ở phía nam Cò Nòi, từ nơi đó tôi nhìn thấy rất rõ con đường thuộc địa số 41 dẫn về Chiềng Đông. Nực cười cho số phận, chúng tôi bố trí trên những vị trí do quân Việt chiếm giữ tháng giêng năm 1949… cách đây đã ba năm, nơi họ mai phục đón đợi tôi, khi tôi từ Sơn La quay về.

Trong một vài tiếng đồng hồ, đơn vị của tôi đã tổ chức được một trận địa nghiêm túc. Tôi được tăng viện một đội xung kích khoảng năm chục người dưới quyền chỉ huy của trung úy Chabanne, nhỏ nhắn, da ngăm, cơ bắp khoẻ khoắn, giỏi tán gái, cá tính mạnh mẽ và hình như có ảnh hưởng nhất định đối với đội xung kích của tôi.

Ngày 1 tháng giêng 1953… Lại một năm mới đến trên cái đoạn đường mòn õng ẹo này vốn đã chinh phục chúng tôi mạnh mẽ hơn một tình nhân điên rồ, ở đó tiểu đoàn đi theo hàng một, có đội xung kích của Chabanne đi trước cách ba kilômét để trinh sát, có nhiệm vụ thực hành một cuộc tấn công vào Chiềng Đông nơi hiện có chừng một trăm quân Việt, rồi rút lui.

Tới Chiềng Đông sau hai lần chạm súng qua loa, tôi ở tại vị trí mà trong nhiệm kỳ trước tôi đã chiếm giữ… câu chuyện tái diễn vĩnh cửu. Quân Việt đã bỏ chạy…. Đêm xuống, chúng tôi trở về Cò Nòi không gặp sự cố nào. Tôi đã để Chabanne ở lại mai phục trên những con đường mòn dẫn tới khu lòng chảo Chiềng Đông và nói rõ với anh ta là tôi sẽ đeo ống nghe vô tuyến thường trực, sẵn sàng chi viện cho anh ta trong trường hợp có phiền phức. Brigitte Friand, một nữ phóng viên có bằng tốt nghiệp khóa đào tạo lính dù, một phụ nữ nhỏ nhắn, xinh đẹp, tự tin, đã quyết tâm ở lại với Chabanne có mật danh là “Raymond”. Anh em trong đơn vị nhìn như muốn nuốt chửng lấy cô ấy. Tôi khâm phục cái cô gái rất giản dị ấy, mạo hiểm cuộc sống của mình trong cái khu rừng rậm đầy muỗi và vắt này và ở đó quân Việt luôn luôn rình mò, biết lợi dụng bất kỳ sai sót nhỏ nào từ phía chúng tôi.

Chabanne “Raymond” phải nằm im bốn mươi tám tiếng đồng hồ với hi vọng có quân địch đi qua. Ngày 2 tháng giêng, không một thông báo nào từ phía anh ấy. Đêm ngày 2 rạng ngày 3, vẫn không thấy gì. Tôi bắt đầu lo ngại… Cuối cùng ngày 3 tháng giêng vào lúc 8 giờ sáng, tiếng vọng của một trận chiến đấu: những loạt đạn của vũ khí tự động, những tiếng nổ của lựu đạn ở cách vị trí của tôi ba kilômét về phía đông.

Tôi lại bám lấy máy vô tuyến. Có câu trả lời… Raymond gọi Bruno: Tôi đã có một cuộc phục kích ở Chiềng Đông. Sáu quân Việt chết, thu được tài liệu, vũ khí nhưng quân Việt đã chặn đường rút về của tôi và bám lấy tôi ở phía đông vị trí của tôi, cách ba kilômét. Tôi lập tức cho các khẩu cối 81 hoạt động và cử Trapp và Polo đi chi viện cho Raymond và cái cô Brigitte dũng cảm, đã không được tắm rửa từ ba ngày nay.

Thế là xong… đội xung kích còn nguyên vẹn…

- Raymond, tại sao anh không báo cáo?

- Thưa tiểu đoàn trưởng, tôi có thói quen độc lập hành động.

Tôi khiển trách anh ta, báo cho anh ta biết nếu lần sau còn làm chuyện điên rồ, tôi sẽ yêu cầu cách chức anh ta.

Tôi đánh giá cao người sĩ quan có cá tính này, vốn hành động giống như tôi đã làm trong những nhiệm kỳ trước đây của tôi… Raymond dũng cảm, anh sẽ trở thành một chàng trai giống hệt Bigeard. Tôi còn gặp lại anh ta sau này ở Algérie nhưng kể từ lúc này, anh ta báo cáo qua máy vô tuyến mọi hoạt động, dù cho là nhỏ nhất.

Ngày 5 tháng giêng chúng tôi lại quay lại Chiềng Đông một lần nữa. Hai đêm hành quân vô ích bởi lẽ quân Việt tạm thời không nhúc nhích. Ngày 7 tháng giêng, Ducournau, do cảm thấy một mối đe dọa từ phía tây Cò Nòi, đã cử tôi ra hướng đó, cách tám kilômét trấn giữ điểm cao 705 ở giữa rừng rậm, từ đó tiểu đoàn tôi, ngụy trang kín đáo sẽ phải toả ra xung quanh, phát hiện mọi hoạt động của quân đối phương.

705 mét. Chúng tôi sống trên đỉnh núi đó trong khoảng mười lăm ngày, tất nhiên là ngủ ngay trên mặt đất. Về thức ăn, là hộp khẩu phần ăn; một vài cái hố nước đọng cho phép chúng tôi rửa mặt và đun nước pha cà phê. Một trận địa bất khả xâm phạm được nhanh chóng tổ chức. Sở chỉ huy của tôi bố trí nằm ở giữa hai tảng đá, một hang ổ thực thụ của tướng cướp, mang dáng vẻ ghê gớm với lá cờ của tôi mang dòng chữ: “Ai dám đánh sẽ đánh thắng”.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #36 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2009, 11:16:35 pm »


Hàng ngày, các đơn vị đi phục kích trên những nẻo đường mòn chạy về phía tây. Hôm ấy đến lượt đội xung kích của Chabanne. Anh ta đi cách cao điểm 705 ba kilômét, trên một con đường mòn trong hẻm núi dọc theo một con suối nước chảy xiết. Tôi thường trực ngồi trước ống nghe sẵn sàng chi viện anh ta bằng các khẩu cối 81 và cử một đại đội đi tăng cường.

Chabanne báo cho tôi biết có khoảng một trăm quân Việt, theo hàng một, tiến về phía anh ta. Tôi nghe thấy tiếng súng nổ dữ dội từ ổ phục kích của anh ta trên điểm cao 705… Raymond gọi Bruno: mười lăm quân Việt ngã gục. Tôi thu được một trung liên F.M nhưng quân Việt vòng lên các điểm cao và sắp tràn qua chúng tôi.
 
Có một đội tuần tra đi trên máy bay. Tôi bắt liên lạc với họ và yêu cầu họ can thiệp, kịp thời chi viện cho Raymond. Đội tuần tra hướng dẫn các phi công bổ nhào thẳng đứng và nói rõ với họ oanh tạc quân Việt cách ba trăm mét về phía tây. Nhưng trên máy bay chỉ còn lại những bình napan, họ bèn thả xuống.

Raymond gọi Bruno: Tôi có cảm tưởng là họ thả napan ngay trên đất chúng tôi… Rồi, im lặng hoàn toàn trong máy vô tuyến. Từ cao điểm 705, tôi phái Bernard cùng đại đội cậu ấy tức tốc lao xuống đấy với nhiệm vụ xác định cho rõ tình hình càng nhanh càng tốt và báo cáo ngay với tôi.

Thời gian trôi qua chậm chạp… Có lẽ đã một tiếng đồng hồ… Vẫn im phăng phắc… Cuối cùng… Raymond gọi Bruno: Mọi việc ổn. Một vài vết bỏng nhẹ, tôi đã lệnh cho anh em nằm dài dưới suối… Hoan hô Chabanne! Một tay cừ khôi, tích cực, một con mãnh hổ thực thụ trong chiến đấu. Cậu ta sắp chia tay với chúng tôi nhưng tôi sẽ còn nhắc đến cậu ta trong cuộc chiến tranh dài ngày ở Algérie, ở đó, cậu ta phục vụ dưới quyền chỉ huy của tôi trong năm năm.

Ngày 9 tháng hai, tôi phải tiến hành một trận tấn công vào Yên Châu. Lại cái nơi khỉ ho cò gáy đã xung phong chiếm được trong nhiệm kỳ thứ nhất và tôi đã nhẩy dù xuống trong nhiệm kỳ thứ hai. Hai mươi kilômét hành tiến, ban đêm, trên một con đường mòn rất khó đi, song song với con đường thuộc địa số 41. Đánh chiếm trước lúc trời sáng những ngọn núi mà tôi biết quá rõ. Quân Việt, bị bất ngờ, rút xuống phía nam.

Từ 17 đến 20 tháng hai, Ducournau, thường xuyên bị sức ép, quyết định dùng hai tiểu đoàn tiến hành một trận tấn công chớp nhoáng về phía bắc sông Đà, vùng Tạ Khoa. Đi đầu là tiểu đoàn của tôi, trọn một đêm hành quân để nghĩ về gia đình của mình, về một cuộc sống bình yên, một cô gái đẹp… Thường xuyên đôi mắt tôi nhắm lại và tôi bước đi như một người mộng du.

Tảng sáng, chúng tôi tới bờ sông Đà, trên những điểm cao phía nam… Lại gặp cái con sông hùng vĩ, trước kia, vượt qua trên những chiếc mảnh bằng tre để tấn công Văn Yên. Lần này, đám lao công người Thái khiêng đến cho chúng tôi hai chiếc xuồng máy… Chiến tranh đã trở nên tiện nghi: hộp khẩu phần ăn thay thế cho thịt trâu khô, việc chuyển thương nhanh hơn, máy bay thường xuyên chi viện, những khẩu pháo 105 bố trí ở Cò Nòi, một ông bố Gilles và một Ducournau là những người chỉ huy nhiệt tình và không để cho chúng tôi phải thất nghiệp một lúc nào.

Tiểu đoàn theo sau chúng tôi không được huấn luyện để leo núi dốc đứng của Tú Lệ, mọi người bước đi kéo dài. Ducounau, hành tiến cùng với họ. Khoảng 10 giờ tiến kịp chúng tôi. Ông ấy phàn nàn dữ dội về tiểu đoàn này cùng cả bộ máy chỉ huy của nó. Ngày hôm ấy, nấp kín trên những đỉnh núi phủ đầy thảm thực vật dầy đặc, chúng tôi quan sát việc di chuyển của quân Việt bên phía bờ bắc. Ban đêm, chúng tôi bố trí một đại đội mai phục, đại đội này qua sông trên hai chiếc xuồng máy.

Tất nhiên, cái ông Ducournau ghê gớm này cùng với tôi qua sông trên chuyến đầu tiên… Tuy chịu trách nhiệm về nhiều tiểu đoàn, ông ta vẫn có mặt ở giữa một trăm năm mươi người, cùng với họ nằm dán mình dưới đất trong ổ phục kích. Đây là một vị chỉ huy thực thụ vì người chỉ huy ấy, người ta sẵn sàng xông lên. Ban ngày, hai mươi quân Việt thọc vào trận địa của chúng tôi quá nửa bị giết, thu được vũ khí và sau đó là một cuộc rút lui khẩn trương, nhanh chóng hành quân đường dài quay về Cò Nòi. Đại tá muốn chứng minh là chúng tôi có thể bất ngờ xuất hiện, giáng đòn ở mọi nơi mà không bị phát hiện… Tôi không có gì để nói. Tôi cũng vẫn luôn luôn sử dụng những phương thức như vậy.

Tiểu đoàn được tập hợp lại ở Nà Sản, ở đó đang tràn ngập những hoạt động nhộn nhịp dưới quyền kiểm soát của tướng Gilles, đã trở thành người anh hùng của Nà Sản. Ông yêu cầu tôi thực hiện một cuộc tấn công vào Sơn La, nơi lại đã bị quân Việt chiếm giữ. Nhiệm vụ: bất ngờ xuất hiện, giáng đòn và rút lui càng nhanh càng tốt.

Ngày 25 tháng hai 1953. Đêm xuống, chúng tôi hành tiến về Sơn La, trang bị rất gọn nhẹ, chỉ có vũ khí và mấy đồ hộp đút trong túi. Chúng tôi luồn lách với tốc độ bẩy kilômét một giờ trên một con đường mòn song song với con đường đã quen thuộc trong các nhiệm kỳ trước của tôi… Sơn La…. Lại vẫn Sơn La. Cuối cùng rồi tôi cũng đến phải bỏ mạng lại ở cái thị xã hẻo lánh này thôi, nơi ấy số phận vẫn cứ dắt dẫn tôi bước tới một cách khắc nghiệt.

Đối với tôi việc dắt dẫn đơn vị, ào ạt tràn lên từ phía tây để rồi, trước khi trời sáng, chế ngự được khu thành cổ bằng cách chiếm giữ ngọn núi phía bắc và không bị phát hiện bởi những cái bẫy chuông báo động của địch là một việc dễ dàng. Trời mưa, chúng tôi bị ướt và rét cóng. Trời sáng dần… Thật là một quang cảnh bi thảm! “Sơn La của chúng tôi” còn lại những gì đây? Khu thành cổ, bệnh viện bị phá huỷ. Ngôi biệt thự nhỏ của tôi trước kia đã bị tốc hết mái. Cái thị xã mà vì nó tôi đã chịu biết bao đau khổ! Đúng rồi, không bao giờ nên trở lại cái nơi ở đó ta đã từng được vui sướng. Chỉ có chừng ba mươi quân Việt ở trong cái thị xã chết này. Trapp, được các khẩu súng cối 60 và 81 của tôi yểm trợ đã lao lên xung phong. Quân Việt bị chết một số, vũ khí và tài liệu thu được, và lại một lần nữa, rút lui càng nhanh càng tốt.

Từ 18 đến 21 tháng ba, tướng Gilles lại yêu cầu tôi một lần nữa đánh chiếm Sơn La và tìm cách tiếp cận với quân đối phương. Những đòn đánh đẹp, thành công với những tổn thất không đáng kể… Biết bao hành động quả cảm để rồi cuối cùng, trong vài tuần lễ tới bỏ lại cái xứ sở này!
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #37 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2009, 11:17:20 pm »


VI
CUỘC HÀNH QUÂN ADOLPHE, RỒI NƯỚC LÀO


Tôi phải nói vài câu về cuộc hành quân “Adolphe” (29 tháng ba đến 3 tháng tư) để nhắc đến một con người đặc biệt, tiểu đoàn trưởng Bréchignac, chỉ huy trung đoàn lính dù tảo thanh số 1. Tốt nghiệp trường Saint Cyr, thân hình vuông vức, rắn chắc, một sức mạnh của thiên phú, không biết mệt mỏi, biết cách sống dè sẻn, đôi mắt xanh sắc sảo, cứng rắn, được anh em khiếp sợ và mến phục. Cho đến hết nhiệm kỳ, anh ấy là đối thủ chủ yếu của tôi, mặc dù chúng tôi quí mến lẫn nhau, trong cuộc ganh đua xem ai là người số một, người mạnh nhất!

Tướng Gilles, con cáo già với vầng hào quang về một vinh quang mới toanh và về hai ngôi sao trên cấp hàm của ông, biết rằng nhiều tiểu đoàn quân Việt, đến từ Mộc Châu đang phát triển về phía tây theo hướng Yên Châu. Bréchignac và bản thân tôi như tình cờ là hai tiểu đoàn mũi nhọn, chúng tôi được chỉ định để cấp tốc ngăn chặn quân Việt, tiêu diệt tối đa và rút lui. Nhiệm vụ thật hay! Dễ dàng trên giấy tờ.

Tôi phải phát triển ở phía bắc con đường thuộc địa số 41, lợi dụng các điểm cao. Bréchignac cũng phải làm như vậy ở phía nam. Yên Châu, bản Thìn. Mọi việc ổn và chúng tôi tiến bước thêm xuống phía nam. Cuối cùng và trước khi trời tối, theo những nguyên tắc đã trở thành nếp sống của tiểu đoàn, mỗi người đào hố cá nhân, các bãi xạ giới đã được phát quang, các đỉnh núi chiếm giữ có thể dựa lẫn vào nhau, sở chỉ huy của tôi, một chiếc hố, vài thân gỗ tròn, các chỉ huy trưởng đơn vị của tôi thường trực ngồi trước máy vô tuyến.

Bréchignac, ở phía nam, hành động thoải mái hơn. Ý thức được sức mạnh của mình và giá trị của tiểu đoàn được đào luyện theo hình ảnh của mình, anh ấy ít thận trọng hơn. Vào nửa đêm có một trận tấn công kinh điển của quân Việt: hoả lực súng cối và xung phong, một cơn sóng cuộn có sức đè nén thực thụ, rất khó cản lại nếu như mọi việc không được tính toán trước. Bruno gọi Bréchignac: Chỗ anh thế nào? – Chỗ tôi, yên ổn. Bréchignac gọi Bruno: Tôi có một đại đội bị tràn qua tổn thất nghiêm trọng… Trung đoàn dù thuộc địa số 1 như vậy là mất sáu chục người trong lúc tổn thất của tôi rất nhỏ.

Nhưng Bréchignac đã phản ứng, động viên các đơn vị của mình và chúng tôi đã có thể rút đi bằng việc tiến hành một trận đánh kiềm chế ở cùng một độ cao. Trở về chỗ tướng Gilles, nhiệm vụ hoàn thành, quân Việt bị một đòn nặng. Tôi phải nhắc đến tên Bréchignac, bởi lẽ tôi sẽ còn nói lại về anh ấy.

Tháng giêng, tháng hai, tháng ba, tháng tư, đã bốn tháng trời lặn ngụp qua lại hàng trăm kilômét, ăn đồ hộp, tắm rửa trong một dòng suối khi có cơ hội. Chúng tôi nghỉ lấy lại hơi sức đã bốn mươi tám tiếng đồng hồ ở Nà Sản. Máy bay Linarès vừa hạ cánh. Ông triệu tập tôi tới trước mặt tướng Gilles. Tôi trình diện, trong lòng sung sướng, hi vọng rằng ông sẽ báo tin chúng tôi được quay về Hà Nội.

- Bruno, tôi cần đến anh cho một nhiệm vụ tế nhị. Chớ có bảo tôi là anh đang mệt, tôi biết điều đó… Ngày mai, anh sẽ được máy bay chuyển sang Lào cùng với tiểu đoàn. Một cuộc tấn công của quân Việt đã hình thành nhằm vào Luang Prabang. Anh sẽ đi tiên phong trong binh đoàn cơ động số 1 đã có mặt tại vị trí đó và do đại tá Daillier chỉ huy, đại tá sẽ cho anh các chỉ dẫn.

Tôi nuốt nước bọt:

- Rõ, thưa tướng quân.

Với Linarès không có chuyện tranh cãi, ông ấy là một trong số người mà vì họ, tôi sẽ làm điều tưởng chừng như không thể.

Cuộc họp êkíp của tôi. Họ thất vọng nhưng hãnh diện lại được nhận một nhiệm vụ vẻ vang nhưng gay go. Duy nhất, Leroy, “Polo”, buồn ra mặt. Vợ cậu ta, một cô giáo, đã sang được Hà Nội, dạy học ở đó. Sáu tháng không gặp lại cô vợ xinh xắn. Cậu ta đăm chiêu lo lắng, Polo rồi sẽ về Hà Nội, sẽ được thuyên chuyển về một cơ quan tham mưu. Lúc nào cũng có cô vợ bám gót, muốn giữ rịt cậu ta lại. Vài năm sau cậu ta sẽ rời khỏi quân đội… Cuộc đời là như vậy. “Đáng tiếc, mình thấy thiếu vắng cậu, Polo. Mình thích nghe giọng nói của cậu trong máy vô tuyến”.

Lepage, cấp phó của Polo, thay thế chỉ huy đại đội. Le Boudec, phó của Trapp thì đi học. Bourgeois chỉ huy hậu cứ của tôi trong tòa chủng viện ở Hà Nội, đã lên với tôi kể từ khi có sự cố của Porcher. Sau khi chúng tôi cơ bản đã bình phục, cậu ta lại chỉ huy hậu cứ.

Hai trăm năm mươi kilômét trên máy bay Dakota. Chúng tôi hạ cánh ở Luang Prabang, nước Lào mà tôi chưa hiểu gì. Cảnh đẹp, được thư giãn những con người tươi cười sung sướng được sống, những cô gái Lào xinh đẹp. Nhưng chúng tôi chẳng có thời gian để ngắm nhìn thành phố cùng những cô gái Lào xinh đẹp này.

Cùng với tôi có Schoendoerffer, nhà nhiếp ảnh, hai mươi hai tuổi, hãy còn là một chú bé nhưng tự tin một cách kinh khủng. Cậu ta đi theo con đường của mình với bộ phim “Trung đội số 317” và bộ phim tuyệt vời “Vĩnh biệt nhà vua”. Tôi còn gặp lại cậu ấy trong trận chiến ở Điện Biên Phủ, lúc bị bắt và sau này ở nước Pháp. Một chàng trai rất hay, giầu tình cảm, khiêm tốn, tích cực, chung thủy trong tình bạn!

Sau khi tiếp xúc với đại tá Daillier, tôi phải ngược dòng sông Mékong theo hướng bắc cho tận tới Pắc Hu, bố trì ở đó hình thành trận địa phòng ngự và từ đó hoạt động khắp vùng xung quanh, càng xa càng tốt về hướng đông bắc, nhằm tiếp cận với quân Việt. Pắc Hu, ngôi làng lớn với những mái nhà sàn, những cánh rừng cọ, những cô gái ngực để trần. Tôi đứng chân trên một ngọn núi khống chế ngôi làng. Sông Mékong kiêu hãnh chảy ở dưới chân chúng tôi về phía tây.

Tiểu đoàn, trong vòng bốn mươi tám tiếng đồng hồ, đã bố trí được một pháo đài thực thụ, sở chỉ huy đặt trong hầm đào dưới đất, những hố cá nhân, lưới dây thép mắt cáo được thả dù xuống rải xung quanh. Chúng tôi mong muốn có một cuộc tấn công của quân Việt, nhưng việc đó không xẩy ra bởi lẽ chúng tôi đi tìm họ bằng những cuộc hành quân ngày càng vươn ra xa. Hai mươi rồi ba mươi và tám mươi kilômét…

Daillier, ngồi trong sở chỉ huy tiện nghi của ông ở Luang Prabang, ngày càng điều chúng tôi đi xa hơn. Tôi ở trong tình thế phải tác chiến liên tục, phải tổ chức trinh sát, phải tự bảo vệ và ở cuối giai đoạn phải chui rúc xuống đất… Không được để có việc gì bất ngờ xảy ra. Cần phải chịu đựng, né tránh những ổn thất bởi lẽ cái ông đại tá tốt bụng này không hình dung ra điều mà ông ta đòi hỏi ở chúng tôi… Trên tấm bản đồ một phần bốn trăm nghìn của ông ấy thì những chặng đường được vượt qua nhanh chóng. Tôi những muốn được trông thấy ông ta lăn lộn ở bên cạnh chúng tôi ít nhất một lần để ông ta hiểu ra được.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #38 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2009, 11:18:03 pm »


VII
TRUNG ĐỘI SỐ 317


Chính là trong thời kỳ này chúng tôi trông thấy những trung đội người Lào bỏ chạy trước cuộc tấn công của quân Việt, thực tế này đã gợi ý cho Schoendoerffer làm bộ phim nổi tiếng của anh: “Trung đội số 317”.

Trong vòng một tháng, như vậy là chúng tôi giải tỏa cho Luang Prabang, ngăn chặn quân Việt ra khỏi các căn cứ của họ, đã hủy bỏ nhiều cuộc tấn công của họ. Một trong những lời tuyên dương về tôi nêu rõ: “Trên một xứ sở có địa hình khó khăn, đã thực hành những cuộc tấn công với độ dài hơn tám mươi kilômét, đánh vào hệ thống bố trí của đối phương, duy trì một tinh thần tiến công cao mặc dù đã năm tháng ròng tác chiến liên tục ở vùng thượng du”.

Cuối cùng, trở về Hà Nội, chúng tôi không hề có lấy một ngày thất nghiệp kể từ ngày đổ bộ lên đất liền. Biết bao chặng đường đã đi qua! Biết bao kilômét dưới chân mình. Và thật dễ chịu biết bao nếu được một phụ nữ vuốt ve… Điều mơ ước kể cũng hay. Tiếc thay, đối với tôi, không có chuyện đó.

Việc huấn luyện lại diễn ra khẩn trương hơn bởi lẽ chúng tôi phải, hình như vậy, bắt đầu từ lúc này trở nên Chủ Động. Đó là điều mà tướng Navarre, vị chỉ huy trưởng mới ở Đông Dương vừa ra lệnh. Ngoài ra ông còn khẳng định rằng: “Bây giờ, chúng ta sắp được chỉ huy”. Cảm ơn, thưa tướng quân! Chúng tôi chờ đợi ngài! Linarès vị chỉ huy tuyệt vời đã về nước. Cogny, vị tướng giỏi, kỹ sư bách khoa, thay thế ông ấy ở Bắc Kỳ.

Nà Sản đã bị bỏ lại cũng như xứ Thái đen, giờ đây nằm trong tay quân Việt… Năm năm chịu khổ cực để đạt tới kết quả như vậy đó?... Gilles và Ducournau ở Hà Nội. Tướng Giáp, vẫn cứ vững vàng ở vị trí của ông ta, sắp sửa tiếp tục đánh bại các viên tướng của chúng tôi trước khi có trận truy kích, dẫm chân lên những ngôi sao của người Mỹ.

Tinh thần tiểu đoàn của tôi cực kỳ tốt… Chẳng thiếu một ai lại chưa có được danh hiệu lê dương danh dự, tấm mề-đay quân nhân hoặc một, hai huân chương chữ thập chiến tranh! Sautereau và Martellino tiếp tục nổi bật.

Mặc dầu công việc huấn luyện diễn ra hàng ngày, tôi vẫn coi trọng đôi chút thư giãn. Thật dễ chịu khi được ngủ trên một chiếc giường, được uống tách cà phê sữa nóng bỏng, được viết dăm lá thư cho những người thân mình để lại ở nước Pháp. Tôi động viên Gaby: “Anh sẽ trở về… Còn mười sáu tháng nữa… Anh sẽ trở về để mãi mãi không rời xa em nữa”. Cô ấy gửi cho tôi nhiều bài cắt ra từ các tờ nhật báo, những người dân thành Toul lấy làm tự hào về tôi, và mẹ tôi hẳn phải vui sướng.

Các cô gái đẹp ở Hà Nội không thiếu và khi mà người ta là một người “chiến thắng”, họ thường sẵn sàng… Nhưng mà để mà làm gì? Tôi biết rằng chuyện này chẳng dẫn tới đâu cả, rằng tôi phải chơi ván bài đến tận cùng, nếu không vận may sẽ rời bỏ tôi.

Ducournau báo với tôi rằng tôi sẽ liên tục đi làm một nhiệm vụ đặc biệt gay go, rằng tiểu đoàn dù số 6 phải ở trong một khuôn khổ siêu hạng, do đó phải tăng cường huấn luyện đối với tám trăm con người tác chiến của tôi, hàng ngày thực hiện hành quân cấp tốc ba mươi kilômét, với vũ khí trang bị đeo trên lưng.

Ngày 14 tháng bẩy 1953. Diễu binh khổng lồ ở Hà Nội trước mặt các tướng Navarre, Cogny và Gilles. Dẫn đầu đội quân của tôi, với chiều cao một mét tám mươi, cân nặng bảy mươi kilô, với bộ trang phục tác chiến oai vệ, tôi kiêu hãnh bước đi, ý thức được khối sức mạnh có kỷ luật đang ưỡn ngực bước theo sau tôi. Những tràng vỗ tay ran lên khi tôi đi qua. “Đó là Bigeard, người đã có trận Tú Lệ”. A! Những quân nhân này, chỉ cần có chút gì cho họ để họ đi ra trận bắn giết lẫn nhau: một nụ cười một vài tràng vỗ tay, một tấm huân chương chữ thập chiến tranh không tốn kém gì lắm cho quốc gia. Và người ta bước vào trận xung phong mà quên đi mất rằng những người chết, những người bị thương nặng sẽ nhanh chóng bước ra khỏi các hồi ức.

Tướng Cogny, khi giới thiệu cuộc diễu binh này, có sự tham gia của tất cả các đơn vị ứng chiến của ông, muốn khoe khoang sức mạnh của mình, chơi con bài của De Lattre và ru ngủ quân Việt vốn không nghi ngờ rằng khá nhiều đơn vị sắp nhẩy xuống đầu họ từ trên trời.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #39 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2009, 11:19:16 pm »


VIII
NHỮNG HANG ĐỘNG Ở LẠNG SƠN


Ngày 16 tháng bẩy, 14 giờ. Được triệu tập đến sở chỉ huy của Ducournau, ở đó, tôi gặp lại Tourret, cấp phó của tôi ở Tú Lệ vừa nhận quyền chỉ huy tiểu đoàn dù số 8 (tướng Gilles hình như đã giao phó như thế cho tôi bốn cấp phó trong suốt cả nhiệm kỳ phục vụ của tôi, cốt là để tôi phải kèm cặp, đào tạo họ kiểu Bruno. Đối với một người nguyên là binh nhì trên phòng tuyến Maginot, tôi có thể nở mũi lắm chứ!). Cùng có mặt ở đây, sếp của tiểu đoàn dù người ngoại quốc số 2 và thiếu tá Bréchignac của trung đoàn dù thuộc địa số 1.

- Thưa các vị, ngày mai chúng ta sẽ nhẩy dù xuống Lạng Sơn, ở đó theo tin tức tình báo của chúng ta, một khối lượng quan trọng vũ khí đạn dược đã được cất dấu trong các hang động. Phải đánh nhanh, đánh mạnh bởi vì không có đơn vị bạn nào trong vòng bán kính bảy mươi kilômét. Kẻ địch, ngày đầu có khoảng sáu trăm quân chống cự và có thể giữa ngày thứ hai và thứ tư sẽ tăng lên tới hai, ba ngàn.

Bigeard, Tourret, các anh sẽ nhẩy xuống Lạng Sơn vào lúc 8 giờ cùng với sở chỉ huy của tôi trong đợt đầu. Tiểu đoàn dù người ngoại quốc số 2 sẽ nhẩy đợt hai vào lúc 13 giờ xuống Lộc Bình ở phía nam Lạng Sơn ba mươi kilômét và sẽ đón hai tiểu đoàn của các anh. Bréchignac, đơn vị của anh phải ở trong tư thế sẵn sàng chiến đấu tại sân bay Bạch Mai. Anh sẽ nhẩy nếu tình hình cuộc hành binh xấu đi.

Bigeard, Tourret và sở chỉ huy của tôi, sau khi hoàn thành nhiệm vụ sẽ hành quân bộ về Lộc Bình, ở đó đã có tiểu đoàn dù người ngoại quốc số 2 đón đợi. Sau đó cả ba tiểu đoàn sẽ phát triển về hướng Đình Lập, bắt liên lạc với binh đoàn cơ động số 5, rồi từ đó chúng ta sẽ được ưu tiên hành quân bằng cơ giới về Tiên Yên. Tổng cộng là bảy mươi kilômét hành quân bộ và năm mươi kilômét bằng cơ giới, nếu đoạn đường này đã được khôi phục. Giữ bí mật tuyệt đối. Cấm trại tất cả quân số và bắt tay ngay vào việc chuẩn bị. Các vị không có câu hỏi gì chứ?

- Không, thưa đại tá.

Ducournau vốn rất ngắn gọn nhưng không bao giờ bỏ quên điều gì.

Trở lại tòa chủng viện, nghiên cứu hồ sơ, các bản đồ, các tập không ảnh trên đó có chỉ rất rõ vị trí các hang động nổi tiếng nói trên. Mỗi người nhận được nhiệm vụ của mình và nhiệm vụ nào là nặng nề nhất mà theo tinh thần của lính dù, trong nhiệm vụ đó chúng tôi ít nhiều phải gặp được một may mắn nào đó… Tôi thấy tự hào được lựa chọn cùng với anh bạn Tourret trung thành của tôi, chúng tôi những người sống sót của Tú Lệ. Lepage, giờ đây ở trong vòng tay của cô vợ, cũng thấy sung sướng được chỉ huy đại đội Polo.

17 tháng bẩy, 7 giờ. Ba mươi sáu chiếc Dakota cất cánh từ sân bay Bạch Mai cùng với sở chỉ huy của Ducournau, tiểu đoàn của tôi, một trung đội công binh, một bộ phận của tiểu đoàn dù thuộc địa số 8. Một loạt hai mươi chiếc Dakota khác cất cánh từ Gia Lâm với số người còn lại của Tourret.

Trong buổi sớm mai mát mẻ ấy, dưới ánh nắng vàng tươi đẹp, thật xúc động khi nhìn thấy đội quân dù của tôi, trang bị vũ khí nặng nề, lần lượt, có trật tự chui lọt thỏm vào trong những chiếc máy bay xếp hàng thẳng tắp. Tôi thấy hơi thót tim, không biết mình đã đeo trên cổ tấm huy hiệu “gặp may mắn” hay chưa…. Vâng, nó đây rồi, như vậy là tôi sẽ trở về… Mọi việc sẽ tốt đẹp.

Một chiếc máy bay vừa cất cánh thì rơi sập xuống, may thay không có thiệt hại về người, số quân đó được chuyển sang một máy bay khác. Một chiếc khác do trục trặc kỹ thuật, buộc phải quay về và cũng được thay thế…. Thôi nào! Thượng đế vẫn còn phù hộ chúng ta.

8 giờ. Sau một tiếng đồng hồ bay, người hơi bị lắc lư chao đảo trên những chiếc máy bay “bà già”, bay sát cánh nhau ba chiếc một, Lạng Sơn đã ở dưới chân chúng tôi, cách hai trăm mét. Lại tiếp xúc với mặt đất, lăn tròn người đúng phép, bắt liên lạc vô tuyến với các sĩ quan của tôi. Bruno gọi Hervé, Francis, Bernard, Lepage: Khẩn trương cho biết tình hình đơn vị. Tiến thẳng về các mục tiêu dự kiến. Để lại mấy người để thu gom và đối cháy số dù, bởi lẽ chúng ta đã nhẩy bằng những chiếc dù tái chế (đây không phải là chuyện tiết kiệm nhỏ đâu) gửi số người bị tai nạn khi nhẩy về sở chỉ huy của tôi.

Hai ngàn quân dù từ trên trời rơi xuống, quang cảnh mà người ta không bao giờ quên được. Hai mươi hai người gặp nạn, trong số đó mười chín người sẽ được chuyển về phía sau bằng vài chiếc trực thăng mà chúng tôi sắp có trong tay. Tôi có phiên liên lạc hoàn hảo với cái ông Ducournau ghê gớm, lúc này đã thấy lo ngại về bước tiến của chúng tôi trong các hang động… “Thưa đại tá, xin cứ từ từ, tôi đang hành quân, xin bố trí chi viện cho tôi và xin đại tá bắt liên lạc với không quân”.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM