Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 02:44:01 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 11  (Đọc 140000 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #140 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2009, 10:57:21 pm »

Trong thời gian này, bộ đội tỉnh Sóc Trăng tiến công căn cứ số 1, chặn đánh thiệt hại các tiểu đoàn bảo an 482, 428, 535. Trung đoàn 1 chủ lực quân khu tiến công địch ở khu vực Lái Hiếu, lấn sát thị xã Vị Thanh (tỉnh lỵ Chương Thiện), địch buộc phải đưa quân chi viện cho Vị Thanh.

Tại khu vực Giồng Riềng, Trung đoàn 20 chủ lực quân khu hoạt động mạnh, địch phải đưa Trung đoàn 31 quân cộng hoà lên giải toả. Nhưng, lực lượng vũ trang địa phương ở các tỉnh cùng nhân dân tích cực tiến công, căng kéo địch và tiêu hao chúng, làm cho kế hoạch lấn chiếm, cướp lúa gạo của địch bị thất bại. 

Tháng 10- 1973, quân nguỵ Sài Gòn chuẩn bị lấn chiếm vùng tây nam Long Mỹ và khu vực phía nam sông Cái Lớn, khu Gò Quao. Nhưng chúng vừa triển khai, pháo binh Quân khu 9 lập tức bắn phá chi khu Gò Quao, làm thiệt hại Sở Chỉ huy hành quân của Trung đoàn 33 - Sư đoàn 21, Chỉ huy sở tiểu khu Chương Thiện, Sở Chỉ huy Liên đoàn bảo an tỉnh An Giang và Bộ Chỉ huy Hải quân nguỵ. Ngày hôm sau, bộ đội đặc công của ta đánh chìm 5 tàu địch, buộc chúng phải rút tất cả về Vị Thanh.

Cùng thời gian này, các chiến sĩ Trung đoàn 10 tiến công diệt 4 đồn ở xã Vĩnh Thuận Đông, uy hiếp chi khu Long Mỹ. Trung đoàn 20 đánh kìm chân địch ở tuyến sông Cái Bé, diệt một chi đoàn thiết giáp nguy, phá hỏng 22 xe Mi 13. Trung đoàn 2 của quân khu tiến công địch ở chi khu Ngang Dừa.  Trung đoàn 20 nhân đà thắng lợi, mở rộng tuyến sông Cái Bè (Giồng Riềng). Các đơn vị bộ đội tỉnh Cẩn Thơ đẩy mạnh tiến công địch ở Vĩnh Tường, Vĩnh Chèo và kênh Xàng Xà No (Vị Thanh).

Trong khi trên địa bàn Chương Thiện quân ta thắng lớn, đánh bại hoàn toàn cuộc lấn chiếm Chương Thiện lần 2 của quân đội Sài Gòn, thì ở các tỉnh Cần thơ, Rạch Giá, Cà Mau, ta kìm giữ và tiêu hao lực lượng Sư đoàn 2 1 nguỵ, thú hồi và mở rộng vùng giải phóng dọc tuyến sông ông Đốc, mở thông hành lang vận tải U Minh đi Cà Mau . . . 

Ở Trung Nam Bộ (Quân khu Cool, từ tháng 12- 1973 đến tháng 2-1974, quân và dân ta đánh bại các cuộc hành quân của Sư đoàn 9 nguy lấn chiếm các lõm giải phóng ở kênh Tám (từ Ngã sáu đến Ngã ba Mỹ Thiện) diệt 400 tên địch, đồng thời dành bại cuộc hành quân lấn chiếm Vùng 4 Kiến Tường của Sư đoàn 7 nguỵ, đánh thiệt hại 1 tiểu đoàn, giữ vững khu vực ngã ba Bằng Lăng.

Như vậy. cuộc chiến đấu chống địch phá hoại Hiệp định Pari, lấn chiếm các vùng giải phóng của quân và dân ta đã giành được thắng lợi lớn. Cuối năm 1973, cục diện chiến trường miền Nam có những chuyển biến lớn có lợi cho cách mạng. Nguỵ quân, nguỵ quyền Sài Gòn có bước suy yếu mới toàn diện.

Chúng không thực hiện được mục tiêu lấn chiến bình định các vùng đông dân, nhiều lúa gạo, nhất là các tỉnh đồng bằng miền Tây, miền Trung, miền Đông Nam Bộ và Khu V, Tây Nguyên; trong khi đó, nền kinh tế, tài chính của chính quyền Sài Gòn hoàn toàn phụ thuộc Mỹ. Quốc hội Mỹ đang xem xét viện trợ năm tài khoá 1973 - 1974 cho chính quyền Sài Gòn, nhưng có khả năng sẽ bị cắt giảm đến mức thấp nhất. Điều này khiến cho Sài Gòn gặp muôn vàn khó khăn, đạn được, trang bị cho quân đội bị hao hụt không được bổ sung đủ, sức chiến đấu của quân đội Việt Nam cộng hoà (nguỵ) giảm sút nghiêm trọng.

Về ta, sau Hiệp định Pari, sự lãnh đạo có nhiều sai lầm như đánh giá không đúng âm mưu địch, nặng về chỉ đạo đấu tranh hoà bình, hoà hợp, tiếp xúc với địch, mất cảnh giác, giăng lực lượng ra giữ các tuyến trực -tiếp tiếp xúc với địch, không kiên quyết đánh trả trừng trị địch vi phạm, để mất đất mất dân. Trung ương kịp thời nhận ra khuyết điểm đã chuyển hướng chỉ đạo đấu tranh và xác định con đường phát triển cơ bản của cách mạng miền Nam là con đường bạo lực cách mạng.

Nghị quyết 21 của Trung ương đã chỉ đạo cho quân và dân ta hành động đúng đắn, kiên quyết đấu tranh.  nên đã giành được những thắng lợi lớn, tạo được thế mới, lực mới có điều kiện và khả năng đưa cách mạng tiến lên từng bước vững chắc. Xu thế phát triển của tình hình ngày càng có lợi cho ta hơn.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #141 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2009, 10:59:01 pm »

Trên cơ sở những thắng lợi đã giành được trong cuộc đấu tranh sau Hiệp định Pa ri, ngày 24- 10- 1973. Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương quyết định thành lập Quân đoàn 1 mang tên Binh đoàn Quyết thắng. Đây là quân đoàn chủ lực đầu tiên của quân đội ta, gồm các sư đoàn 308, 312. 320B bộ binh, Sư đoàn phòng không 367, Lữ đoàn công binh 299.  Trung đoàn thông tin 40, do Thiếu tướng Lê Trọng Tấn làm Tư lệnh, Thiếu tướng Lê Quang Hoà làm Chính uỷ.  Tháng 10- 1973, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương chủ trương nhân thời cơ thuận lợi mở đợt hoạt dộng quân sự:

Đánh bại một bước quan trọng kế hoạch bình định lấn chiếm phân tuyến của địch, giành dân, giành quyền làm chủ ở vùng đồng bằng và vùng ven đô thị đông dân, nhiều của. Từng bước đưa phong trào đấu tranh chính trị ở thành thị tiến lên, đồng thời chuẩn bị lực lượng, cơ sở, tạo điều kiện và thời cơ đẩy tới cao trào cách mạng.

Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương, mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng, Tổng Tư lệnh, các mặt trận, quân khu ở miền Nam mở đợt hoạt động quân sự Xuân Hê 1974 nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, mở rộng vùng giải phóng, tạo thế chiến trường áp sát các căn cứ và đô thị địch.

Miền Đông Nam Bộ, tháng 3-1974. ta mở chiến dịch đường số 2 Bà Rịa - Long Khánh đánh bại địch lấn chiếm, giữ vững địa bàn. Cùng thời gian này. ở tây nam Sài Gòn, ta tiến công địch ở Tabăngrôboong. hoàn chỉnh vùng giải phóng dọc biên giới tỉnh Tây Ninh – Campuchia, mở thông hành lang chiến lược từ miền Đông Nam Bộ xuống miền Tây và liền Trung Nam Bộ (khu IX, Khu VIII).

Tháng 5- 1974, Bộ Chỉ huy Miền sử dụng Sư đoàn 7 và Sư đoàn 9 tiến công địch ở khu vực Bến Cát - Rạch Bãp, phá vỡ tuyến phòng thủ trung gian của địch ở đường 7 ngang, ngăn chặn quân chủ lực địch đưa quân bình định vùng giáp ranh Sài Gòn và lấn chiếm Lộc Ninh. Chiến thắng đường 7 (ngang bến Cát - Rạch Bắp) tạo thế chiến lược mới trên chiến trường miền Đông, lực lượng ta đứng chân vững chắc trên tuyến vành đai Sài Gòn-Gia Định.

Ở Quân khu 8, địch lấn chiếm mất Vùng 4 Kiến Tường - địa bàn quan trọng nối với căn cứ Đồng Tháp Mười và vùng biên giới Campuchia. Qua đợt hoạt động mùa khô năm 1974, quân và dân Quân khu 8 giải phóng được 9 xã, diệt 150 đồn, bốt, phá tan hệ thống kìm kẹp của địch ở vùng kênh Hai Tám, kênh Dương Văn Dương và vùng tây huyện Cái Bè.  Tuy vậy, đến cuối tháng 7- 1974 ta vẫn chưa khôi phục được Vùng 4 Kiến Tường.

Quân khu 9, trong 15 ngày đầu tháng 3-1974, bộ đội chủ lực quân khu phối hợp với lực lượng tỉnh Vĩnh Long mở 32 điểm ở nam bắc sông Mang Thít. Tháng 4- 1974, bộ binh và pháo binh quân khu cùng bộ đội địa phương tiến công diệt 1 giang đoàn thuyền, 1 chi đoàn xe Mi 13 ở khu vực Xẻo Rô, gỡ hết các đồn, bốt địch ở nam sông Cái Lớn. Ta thu hồi tuyến sông ông Đốc địch đã lấn chiếm trước đó, mở thông hành lang từ U Minh đi Cà Mau, v.v..

Kết quả 6 tháng đầu năm 1974, quân và dân Quân khu 9 diệt 263 dồn, bốt. Trung đoàn 1 và Tiểu đoàn 309 quân khu và tỉnh là những đơn vị lập thành tích xuất sắc.

Trong đợt hoạt động Xuân Hè năm 1974 trên toàn miền Nam, ta đã mở rộng, hoàn chỉnh vùng giải phóng, tạo được thế liên hoàn giữa các quân khu. các tỉnh, các chiến trường. Trong cuộc tiến công này nổi bật và sôi động nhất là Tây Nguyên và chiến dịch tiến công Nông Sơn - Trung Phước - Thượng Đức ở Quảng Đà, Quảng Nam (Khu V). 

Ở Tây Nguyên, sau chiến thắng Chư Nghé. trong các ngày 16, 17-3- 1974, trên hướng Kon Tum, Sư đoàn 10 đánh diệt Tiểu đoàn biệt động quân 95 và 2 đại đội của Tiểu đoàn biệt động 62 ở Com Rẫy. Trung đoàn 24 - Sư đoàn 1 0 đánh căn cứ Con Rốc, diệt Tiểu đoàn bảo an 270, bảo vệ con đường 220 vu hồi phía dông thị xã Kon Tum nối với đường 19 đông Plâyku, giải phóng một vùng rộng, buộc địch phải co về tuyến hòng ngự trước ngày 27-1-1973.

Thừa thắng, ngày 15-5, Sư đoàn 10 và Trung đoàn 3 thuộc Sư đoàn 304, Trung đoàn pháo binh 40 tiến công, tiêu diệt chi khu, quận lỵ Đắc Pét, tiếp sau diệt chi khu, quận lỵ Măng Đen, bức địch rút khỏi quận lỵ Măng Bút. Các vị trí cuối cùng của địch ở bắc và đông thị xã Kon Tum được hoàn toàn giải phóng.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #142 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2009, 11:52:23 pm »

Ở Gia Lai, ngày 8-3- 1974, Sư đoàn 320 tiến công căn cứ Lệ Ngọc - một trong những cứ điểm mạnh bảo vệ vòng ngoài Sở Chỉ huy Quân đoàn 2 ngụy và sân bay Cù Hanh. Ngày 14-4-1974, Trung đoàn 48 (Sư đoàn 320) tiến công cứ điểm 711, 601 diệt Tiểu đoàn biệt động quân 82, một chi đoàn xe bọc thép M113.  Ngày 30-5-1974 Trung đoàn 25 tiến công cứ điểm Ia Xúp, diệt Tiểu đoàn bảo an 211 (Đắc Lắc).

Vùng giải phóng phía tây các tỉnh Tây Nguyên được giải phóng hoàn chỉnh, tạo thuận lợi cho ta mở đường ôtô và đặt đường ống dẫn dầu chạy suốt Tây Nguyên đến miền Đông Nam Bộ, hình thành thế trận vây hãm quân địch trong các thị xã Buôn Ma Thuộc, Plâyku, Kon Tum, Quảng Đức từ hướng tây. 

Hoà cùng chiến thắng ở Tây Nguyên, bộ đội chủ lực Quân khu 5 được tăng cường Sư đoàn 304 mở đợt hoạt động quân sự tiến công địch ở Thượng Đức, Nông Sơn - Trung Phước, đường 16 Quế Sơn. Ngày 18-7- 1974, Sư đoàn 2 chủ lực quân khu có pháo binh chi viện, nổ súng đánh Nông Sơn - Trung Phước. Đây là cụm cứ điểm liên hoàn gồm 10 vị trí lớn, nhỏ trải dài trên 4 km. Địch có khoảng 2.000 tên, trong đó có Tiểu đoàn biệt động biên phòng 78.

Ngày ta tiến công, địch đưa Tiểu đoàn 3 - Trung đoàn 56 thuộc Sư đoàn 3 quân cộng hoà lên thay cho Tiểu đoàn 78. Địch hoàn toàn bất ngờ khi pháo binh ta xuất hiện bắn thẳng trực tiếp, phá tan 38 trong số 41 lô cốt, gây hoang mang lớn cho sĩ quan, binh lính địch. Được pháo binh chi viện có hiệu quả, Sư đoàn 2 đánh chiếm căn cứ Nông Sơn - Trung Phước, đến 17 giờ 15 phút ta làm chủ hoàn toàn trận địa.

Ngày 29-7- 1974, Sư đoàn 304 (thiếu) tiến công Thượng Đức ở phía tây huyện Đại Lộc, cách Đà Nẵng 40 km. Đây là cụm cứ điểm mạnh để bảo vệ vòng ngoài căn cứ quân sự liên hợp Đà Nẵng. Lực lượng địch trong căn cứ có Tiểu đoàn biệt động quân 79, 2 đại đội bảo an, 1 đại đội cảnh sát dã chiến, 16 trung đội dân vệ. Đợt tiến công đầu tiên không thành. Ngày 6-8- 1974, Sư đoàn 304 tiến công lần thứ hai, đến ngày 7-8 ta chiếm toàn bộ căn cứ, diệt Tiểu đoàn biệt động 79 và 10 trung đội bảo an, dân vệ, giải phóng quận lỵ Thượng Đức và 4 xã ven quận lỵ với 13.000 dân.

Cùng với cuộc tiến công của Sư đoàn 304. Trung đoàn 38 tiến công dịch trên tuyến phòng thủ ngoại vi huyện Quế Sơn, diệt nhiều địch. Lữ đoàn 52 và 1 đại đội xe bọc thép K63 của Trung đoàn 574 cùng lực lượng vũ trang Quảng Ngãi tiến công chi khu quận lỵ Minh Long, diệt và làm tan rã toàn bộ quân dịch đóng ở đây, giải phóng huyện Minh Long. 

Lúc này do vị trí quan trọng của Thượng Đức, địch đưa Sư đoàn dù nguỵ, lực lượng dự bị chiến lược từ Trị - Thiên vào cùng Sư đoàn 2 nguỵ quyết chiếm lại Thượng Đức. Cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt, kéo dài hơn 100 ngày liên tục Đầu tháng 12-1974, dịch thấy không còn khả năng tái chiếm Thượng Đức, chúng buộc phải rút lui, chuyển về phòng giữ Đà Nẵng.

Thượng Đức là trận thử sức với lực lượng tinh nhuệ dự bị chiến lược của quân nguỵ Sài Gòn, ta đã thắng. Địch phải bỏ cuộc. Từ trận Thượng Đức, Nông Sơn - Trung Phước đến Đắc Pét, Com Rẫy, Ia Xúp Tây Nguyên cho thấy rõ khả nàng chiến đấu của khối chủ lực cơ động của ta hơn hẳn chủ lực cơ động của địch.

Chiến tranh đã bước vào giai đoạn cuối. Thời cơ chiến lược mới cũng bắt đầu xuất hiện rõ dần.  Trên mặt trận đấu tranh chính trị có những chuyển biến mới. Ngày 18-6-1974, tại Sài Gòn, 301 linh mục đạo Thiên Chúa ra tuyên cáo lên án chính quyền Thiệu tham nhũng, hiếu chiến, độc tài. Các tổ chức Mặt trận nhân dân cứu đói, Uỷ ban bảo vệ quyền lợi lao động ra đời, tập hợp các tầng lớp nhân dân chống Thiệu - Kỳ, đòi Thiệu - Kỳ từ chức, đòi thi hành Hiệp định Pa ri, đòi thả tù chính trị, đòi có công ăn việc làm.

Trong khi dó, ở Mỹ, Tổng thống Níchxơn buộc phải từ chức (tháng 7- 1974) do vụ bê bối Oatơghết. Phó Tổng thống Mỹ G.Pho (G.R.Ford) lên thay. Pho cam kết tiếp tục ủng hộ Thiệu. Nhưng thực tế khả năng viện trợ của Mỹ cho Sài Gòn giảm 50% trong khi nền kinh tế nguỵ và hậu cần chiến tranh lệ thuộc Mỹ tới 90%.

Quốc hội Mỹ quyết định cắt giảm viện trợ cho chính quyền Sài Gòn từ 1 tỉ 500 triệu đô la về quân sự và 800 triệu đô la về kinh tế năm tài khoá 1974 - 1975 xuống còn 700 triệu đôla về quân sự, 400 triệu đô la về kinh tế. Sự cắt giảm viện trợ của Mỹ khiến cho nguỵ quyền Nguyễn Văn Thiệu vô cùng hoang mang. So sánh lực lượng ta mạnh hơn hẳn địch.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #143 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2009, 11:53:01 pm »

Vấn đề đặt ra trong giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh là ta phải có đủ sức mạnh đánh tiêu diệt lớn quân địch, nếu chỉ sử dụng các sư đoàn độc lập hoặc phối hợp như hiện nay không còn thích hợp nữa, mà cần phải có những binh đoàn chủ lực cơ động binh chủng hợp thành lớn, làm quả đấm quyết định.

Vì vậy, tiếp sau thành lập Quân đoàn 1 (10-1973), Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương quyết định thành lập Quân đoàn 2, tháng 5- 1974, mang bí danh Binh đoàn Hương Giang, do Thiếu tướng Hoàng Văn Thái làm Tư lệnh, Thiếu tướng Lê Linh, Chính uỷ. Quân đoàn 2 gồm các sư đoàn 304, 305, 324 bộ binh, Sư đoàn phòng không 673, Lữ đoàn pháo binh 164, Lữ đoàn xe tăng 203, Lữ đoàn công binh 219, Trung đoàn thông tin 463.

Tại miền Đông Nam Bộ, ngày 20-7- 1974, Quân đoàn 4, mang bí danh Binh đoàn Cửu Long được thành lập gồm Sư đoàn 7, Sư đoàn 9 bộ binh, Trung đoàn pháo mặt đất 24, Trung đoàn phòng không 71, Trung đoàn đặc công 429 và 3 tiểu đoàn thông tin, do Thiếu tướng Hoàng Cầm làm Tư lệnh, Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện, Chính uỷ.

Các quân đoàn chủ lực cơ động của Quân đội nhân dân Việt Nam ra đời, chứng tỏ qua chiến đấu, quân đội ta đã trưởng thành vượt bậc về tổ chức, chỉ huy, về tư tưởng, chính trì và tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô ngày càng lớn, đáp ứng nhiệm vụ nặng nề trong giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh.

Cùng với sự ra đời của các quân đoàn chủ lực cơ động, khối chủ lực các quân khu, mặt trận ở miền Nam được củng cố vững mạnh và phát triển. Mặt trận Tây Nguyên có 2 sư đoàn và 2 trung đoàn bộ binh, 1 trung đoàn đặc công, 1 trung đoàn xe tăng, 2 trung đoàn pháo binh, 1 trung đoàn cao xạ, 1 trung đoàn thông tin, 1 trung đoàn công binh. Quân khu 5 có 2 sư đoàn bộ binh, 2 trung đoàn pháo mặt đất, 1 trung đoàn pháo cao xạ, 1 trung đoàn xe tăng, thiết giáp, 1 trung đoàn thông tin, 2 trung đoàn công binh và hàng chục tiểu đoàn, đại đội đặc công, biệt động, hàng vạn cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang địa phương và dân quân du kích.

Quân khu Trị - Thiên có 3 trung đoàn bộ binh và một số đơn vị binh chủng. Nam Bộ có Sư đoàn 6 bộ binh ở miền Đông, Sư đoàn 8 ở miền Trung, Sư đoàn 4 ở miền Tây; Trung đoàn 812 ở Khu VI; Trung đoàn Quyết Thắng ở Sài Gòn - Gia Định, cùng hàng chục đoàn, đội, tiểu đoàn đặc công, biệt động, trinh sát ở vùng ven đô và nội thành.

Trên miền Bắc, công cuộc khôi phục, phát triển kinh tế tăng trưởng khá so với những năm chiến tranh phá hoại, đời sống nhân dân ổn định. Năm 1973 và năm 1974, hơn 200.000 tấn vật chất cùng 80.000 quân được chuyển vào Nam. Riêng chiến trường Nam Bộ xa nhất cũng tiếp nhận dự trữ được 45.000 tấn vật chất đủ cung cấp cho 20.000 người hoạt động trong 6 tháng.

Rõ ràng, đến thời điểm này, thế và lực của cách mạng mạnh hơn hẳn thế và lực của nguỵ quân, nguỵ quyền Sài Gòn. Tình hình trên đây đã tạo ra thời cơ mới rất thuận lợi, giúp Bộ Chính trì Trung ương Đảng và Quân uỷ Trung ương vạch kế hoạch chiến lược và hạ quyết tâm giải phóng miền Nam trong 2 năm 1975- 1976.


II. QUYẾT TÂM VÀ KẾ HOẠCH CHIẾN LƯỢC
GIẢI PHÓNG HOÀN TOÀN MIỀN NAM CỦA BỘ BỘ CHÍNH TRỊ

Dưới ánh sáng của Nghị quyết 21 của Trung ương, những tháng cuối năm 1973 và đầu năm 1974, quân và dân ta ở miền Nam đã giành được những thắng lợi rất quan trọng trên mặt trận quân sự, chính trị và phung phá bình định. Ta đã tạo được thế mới và lực mới eho cách mạng miền Nam phát triển đi lên.

Từ tháng 3- 1973, một tổ chức lâm thời mang tên Tổ trung tâm được thành lập để giúp Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh theo dõi tình hình miền Nam và quốc tế, vạch kế hoạch chiến lược trình Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Tổ trung tâm gồm một số cán bộ cục Tác Chiến Bộ Tổng tham mưu: Vũ Lăng, Cục trưởng Cục Tác chiến; Võ Quang Hồ, Lê Hữu Đức, Phó Cục trưởng Cục Tác chiến. Đồng chí Lê Trọng Tấn, Phó Tổng tham mưu trưởng trực tiếp chỉ đạo tổ, đến đầu năm 1974, đồng chí Hoàng Văn Thái, Phó Tổng tham mưu trưởng thứ nhất trực tiếp chỉ đạo.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #144 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2009, 11:53:17 pm »

Tổ trung tâm làm việc hết sức khẩn trương, nghiêm túc, qua nhiều lần khảo nghiệm thực tế, xin ý kiến của các đồng chí lãnh đạo cấp cao Đảng và quân đội, bổ sung, chỉnh lý đến 5 lần mới viết xong Dự thảo đề cương Kế hoạch giành thắng lợi ở miền Nam... mang số hiệu 133/TGL, ngày 16-5-1974. 

Ngày 21-7-1974, tại Đồ Sơn (Hải Phòng) đồng chí Hoàng Văn Thái và Lê Trọng Tấn, Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân và là người trực tiếp chỉ đạo Tố trung tâm vạch kế hoạch chiến lược, báo cáo với đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng về kế hoạch chiến lược đã dự thảo và công việc chuẩn bị cho hội nghị Bộ Chính trị sắp tới.

Sau khi trao đổi ý kiến với đồng chí Hoàng Văn Thái và Lê Trọng Tấn về so sánh lực lượng giữa ta và dịch sau Hiệp định Pari, tình hình quốc tế có liên quan, phương hướng và kế hoạch chiến lược giành thắng lợi trong năm 1975 và vài năm tiếp sau, đồng chí Lê Duẩn nêu ý kiến: Thắng lợi lớn của việc ký Hiệp định Pa ri là Mỹ phải công nhận độc lập, chủ quyền thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ nước Việt Nam, Mỹ phải rút quân, còn ta thì ở lại, hành lang chiến lược Bắc - Nam nối liền thông suốt. Ta đang ở thế thắng, thế đi lên. Nguy quyền miền Nam đang ở thế thua, thế đi xuống. Do đó, kế hoạch chiến lược cần phải nghiên cứu kỹ cách đánh thế nào để thắng to, thắng nhanh, Mỹ không trở tay kịp, các nước có ý đồ can thiệp cũng khó can thiệp được. Phải nghiên cứu phát huy sức mạnh tổng hợp, bảo đảm bí mật, giành cho được bất ngờ, bất ngờ càng cao thì thắng lợi càng lớn. Chú ý đẩy mạnh đấu tranh chính trị, kết hợp chặt chẽ với đòn quân sự và đấu tranh ngoại giao. 

Tiếp tục nghiên cứu ý kiến chỉ đạo của đồng chí Lê Duẩn, kết hợp ý kiến của một số đồng chí trong Bộ Chính trị, ý kiến của đồng chí Tổng Tư lệnh và các dông chí trong Bộ Tổng tham mưu và tình hình mới nhất ở chiến trường, Tổ trung tâm soạn thảo bản đề cương mới Kế  hoạch giành thắng lợi chiến lược ở miền Nam mang số hiệu 172/TG1 .

Ngày 26-8- 1974, bản dự thảo đã xong. Bản dự thảo khẳng định thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của trận Thượng Đức, thể hiện rõ thế và lực của ta mạnh hơn hẳn thế và lực của địch. Thời cơ lớn của cách mạng miền Nam đã xuất hiện. Bản dự thảo kế hoạch đề xuất Tiến hành ba đòn chiến lược trên cả ba vùng, trong đó đô thị có tầm quan trọng quyên định, đặc biệt là Sài Gòn - Gia Định và Đà Nẵng. Hướng tiên công chủ yếu là Tây Nguyên và Đông Nam Bộ.

Kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam được chia làm hai bước. Bước một, năm 1975, mở cuộc tiến công rộng khắp ba vùng, đánh bại về cơ bản chương trình bình định của địch, diệt và làm tan rã một bộ phận quan trọng chủ lực nguỵ. Bước hai, năm 1976, tổng công kích, tổng khởi nghĩa giải phóng hoàn toàn miền Nam. 

Trong thời gian này, Trung ương Cục miền Nam và Quân uỷ Miền gửi cho Ban Chấp hành Trung ương và Quân uỷ Trung ương kế hoạch hoạt động mùa khô 1974 - 1975 với quyết tâm giành thắng lợi quyết định để tiến lên hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam trong hai năm 1975 - 1976. 

Như vậy, ý tưởng và quyết tâm của hậu phương lớn với tiền tuyến lớn gặp nhau ó điểm giải phóng hoàn toàn miền Nam trong thời gian ngắn nhất là một trong vài năm tới.  Vấn đề còn lại là phương án hành động sao cho giành thắng lợi nhanh nhất, gọn nhất, bất ngờ nhất, ít tốn xương máu nhất.

Ngày 30-9-1974, Hội nghị Bộ Chính trị khai mạc, thảo luận tình hình miền Nam và kế hoạch tác chiến chiến lược do Bộ Tổng tham mưu soạn thảo. Đồng chí Lê Duẩn chủ trì hội nghị. Hội nghị giành hai ngày nghe Bộ Tổng tham mưu trình bày tình hình miền Nam trong chín tháng năm 1974 và kế hoạch tác chiến.

Đồng chí Hoàng Văn Thái, Phó Tổng tham mưu trưởng báo cáo về tình hình địch: Địch đã bị thất bại nghiêm trọng trong âm mưu và kế hoạch bình định năm 1974. Chúng dang suy yếu toàn diện cả về quân sự, chính trị, kinh tế. Tuy quân của chúng còn đông, nhưng bị Mỹ cắt giảm viện trợ xuống mức thấp nhất, trang thiết bị, vũ khí cũ không được thay thế đủ số lượng, đạn được thiếu. Tinh thần sĩ quan, binh lính Sài Gòn rêu rã, số đào ngũ tăng gấp nhiều lần những năm trước. Do đó, quân chủ lực Sài Gòn không đủ sức đối phó với các cuộc tiến công của ta.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #145 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2009, 11:54:13 pm »

Về phía ta, phong trào đấu tranh chống Mỹ - Thiệu phá hoại hiệp định của các tầng lớp nhân dân miền Nam lên cao - nhất là vùng đô thị. Vùng giải phóng được mở rộng liên hoàn. Khối chủ lực Quân giải phóng tiến bộ nhiều trong tác chiến hiệp đồng binh chủng, tinh thần, ý chí chiến đấu được hun đúc, nâng cao, nhưng còn phải nâng cao hơn nữa tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, đánh địch trong thành phố, thị xã. Đồng chí Hoàng Văn Thái đề nghị cho tuyển thêm 15 vạn quân vào cuối năm 1974 và 6 vạn nữa vào đầu năm 1975 để đủ lực lượng dự trữ thực hiện kế hoạch thời cơ giành thắng lợi hoàn toàn.

Tiếp theo, đồng chí Lê Trọng Tấn, Phó Tổng tham mưu trưởng báo cáo Dự thảo kế hoạch chiến lược hai năm 1975-1976 và riêng kế  hoạch năm 1975. Kế hoạch chiến lược gồm hai bước:

Bước một, năm 1975 tranh thủ thời cơ, tập trung lực lượng và phương tiện tiến công lớn và rộng khắp nhằm tiêu diệt và làm tan rã một bộ phận quan trọng sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch, giải phóng thêm nhiều vùng đất đai, đánh bại về cơ bản chương trình bình định của địch, mở thông hành lang Tây Nguyên di miền Đông Nam Bộ à xuống ba tỉnh Khu V, từ Tây Ninh xuống Sài Gòn, Tây Ninh di Long An; mở địa bàn áp sát Sài Gòn và các căn cứ trọng yếu của địch.

Kế hoạch chiến lược năm 1975 chia làm ba đợt:

Đợt 1, từ tháng 12- 1974 đến tháng 2- 1975, tiến công có mức độ, chủ yếu hoạt dộng ở đồng bằng sông Cửu Long và miền Đông Nam Bộ.

Đợt 2, từ tháng 3 đến tháng 6-1975. Đây là đợt chủ yếu, mở chiến dịch tiến công quy mô lớn trên chiến trường nam Tây Nguyên và các chiến dịch phối hợp ở miền Đông Nam Bộ, bắc Khu V và Tn - Thiên. Ở đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục tiến công và nổi dậy, dành phá bình định, mở vùng giải phóng liên hoàn.

Đợt 3, từ tháng 8 đến tháng 10-1975, phát triển thắng lợi của đợt 2 bằng đẩy mạnh hoạt động quân sự ở Khu V và Trị - Thiên, đồng thời tích cực chuẩn bị lực lượng sẵn sàng thực hiện phương án thời cơ.

Bước hai, năm 1976 thực hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Hướng chiến lược và nhiệm vụ của từng chiến trường, Bộ Tổng tham mưu đề nghị :

Trị - Thiên, Quảng Đà là chiến trường đánh phá bình định, tiêu diệt lực lượng chủ lực, địa phương địch, giải phóng đại bộ phận nông thôn, thực hiện chia cắt chiến lược. 

Tây Nguyên - trọng điểm nam Tây Nguyên là chiến trường chủ yếu của chủ lực đánh tiêu diệt lớn lực lượng địch.  Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long và vùng ven Sài Gòn là chiến trường chủ yếu dành phá bình định nhằm tạo thế bao vây cô lập Sài Gòn.

Miền Đông Nam Bộ, chiến trường của chủ lực đánh tiêu diệt lớn quân chủ lực dịch, mở mảng, mở vùng, mở hành lang từ Tây Ninh đi Khu VIII, Kiến Phong đi Kiến Tường, tạo bàn đạp áp sát Sài Gòn, Mỹ Tho.

Bộ Tổng tham mưu dự kiến thời cơ chiến lược có thể xuất hiện trong ba tình huống:

- Khi ta đánh mạnh vào đợt 2.

- Ngay trong mùa mưa ở Nam Bộ.

- Những tháng cuối năm 1975 khi nguy quyền Sài Gòn tổ chức bầu tổng thống.

Phương hướng hành động “kiềm chế Mỹ, đánh đổ nguỵ, hạn chế chiến tranh trong phạm vi miền Nam, đồng thời sẵn sàng đối phó với phản ứng của Mỹ bằng không quân, hải quân, quân cứu hoả” 1.



________________________
1. Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tổng hành dinh trong mùa Xuân toàn thắng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.134.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #146 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2009, 11:54:46 pm »

Trong báo cáo của Bộ Tổng tham mưu, đồng chí Lê Trọng Tấn cũng trình bày cụ thể về kế hoạch hậu cần chiến lược để các chiến trường làm cơ sở vạch kế hoạch tác chiến cho phù hợp; về khả năng đảm bảo vật chất của ta để đánh lớn, nhất là đạn pháo cho năm 1975 của ta chỉ còn 96 vạn viên pháo xe kéo và đạn cối, trong đó có 24 vạn viên đạn pháo 120 mm, 85 mm, 130 mm, 152 mm. Vì vậy, sử dụng pháo binh phải hết sức tiết kiệm; về khả năng can thiệp trở lại của Mỹ v.v..  Bộ Chính trị thảo luận rất sôi nổi, tranh luận, đề cập toàn diện về tình hình địch, ta, về thời cơ chiến lược, về kế hoạch chiến lược một năm và hai năm.

Về địch, Bộ Chính trị nhất trí khẳng định ta mạnh hơn hẳn địch. Mỹ đã rút khỏi miền Nam thì khó có khả năng can thiệp trở lại khi ta đánh lớn, can thiệp bằng lục quân rất khó vì Quốc hội Mỹ đã cấm tổng thống đưa quân ra nước ngoài khi chưa có ý kiến của Quốc hội, can thiệp bằng không quân thì không giải quyết được chiến trường. Nhưng cho dù có can thiệp thế nào thì chúng cũng không cứu vãn được sự sụp đổ của nguỵ quân, nguỵ quyền miền Nam.

Về kế hoạch chiến lược, Bộ Chính trị thấy hai năm 1975 và 1976 đều có vị trí quan trọng, nhưng năm 1975 là năm bản lề, vì nó tạo điều kiện cho năm 1976 giành thắng lợi cuối cùng. Năm 1975 ta bắt đẩu tiến công ở nam Tây Nguyên kết hợp đánh phá bình định của địch ở đồng bằng sông Cửu Long, Khu V.

Tình thế cách mạng đã chín muồi. Hội nghị Bộ Chính trị nhất trí duyệt kế hoạch chiến lược cơ bản đã dự thảo mang số hiệu 172/TG 1 ngày 26-8- 1974 do Bộ Tổng tham mưu soạn thảo. Bộ Chính trị thống nhất nhấn mạnh tầm quan trọng của thời cơ, khi thời cơ chiến lược xuất hiện: “Nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975”.

Bộ Chính trị đề ra hướng chiến lược cho bộ đội chủ lực phải chuẩn bị cả hai hướng:

- Tây Nguyên - trọng điểm nam Tây Nguyên là hướng chiến lược rất quan trọng.

- Miền Đông Nam Bộ là hướng quyết định cuối cùng. 

Tây Nguyên được chọn làm chiến trưởng chủ yếu trong cuộc tổng tiến công lớn và rộng khắp năm 1975.  Sáng ngày 8-10- 1974, đồng chí Lê Duẩn kết luận hội nghị nêu rõ sự nhất trí và quyết tâm cao của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương là hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân ở miền Nam trong hai năm 1975, 1976 như kế hoạch chiến lược đã xác định.

Đồng chí nói: Do sự phát triển của tình hình, Bộ Chính trị hạ quyết tâm hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ ở miền Nam. Lúc này chúng ta đang có thời cơ. Hai mươi năm chiến đấu mới tạo được thời cơ này, chúng ta phải biết nắm lấy để đưa sự nghiệp giải phóng dân tộc đến thắng lợi hoàn toàn. Để thực hiện quyết tâm chiến lược ấy phải có chiến lược tổng hợp của chiến tranh nhân dân? toàn dân, toàn diện. Quân đội là lực lượng quyết định.  Cần phải có kế hoạch xây dựng, tác chiến rất cấp bách với tinh thẩn khẩn trương quyết thắng.

Bộ Chính trị quyết định động viên nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ở cả hai miền mở cuộc tổng công kích, tổng khởi nghĩa cuối cùng, đưa chiến tranh cách mạng phát triển đến mức cao nhất, tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân nguy, đánh chiếm Sài Gòn - Gia Định, giải phóng hoàn toàn miền Nam, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân, tiến tới thống nhất nước nhà. Mọi công việc chuẩn bị phải tiến hành hết sức khẩn trương, tạo điều kiện và cơ sở vật chất đầy đủ nhất để bảo đảm đánh mạnh, thắng nhanh và triệt để nhất trong thời gian hai năm 1975, 1976. Đây là thời cơ thuận lợi không cho phép ta chần chừ, do dự.

Ngay sau khi Hội nghị Bộ Chính trị kết thúc, Tổ trung tâm, Bộ Tổng tham mưu nghiên cứu, bổ sung, viết hoàn chỉnh kế hoạch chiến lược, đồng thời điện truyền đạt nhiệm vụ cho các chiến trường về kế hoạch quân sự bước đầu được Bộ Chính trị và Quân uỷ thông qua.

Trong lúc Bộ Chính trị đang họp thảo luận kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam trong hai năm, thì tại Tây Nguyên, lực lượng vũ trang khẩn trương chuẩn bị mở chiến dịch nam Tây Nguyên theo nhiệm vụ Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh giao cho mặt trận lần thứ nhất, tháng 9-1974. Khu vực tác chiến lúc đấu chủ yếu là Thuần Mẫn, Đức Lập.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #147 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2009, 11:55:01 pm »

Đang chuẩn bị theo phương án của nhiệm vụ được giao tháng 9-1974, thì ngày 13-11-1974, Mặt trận Tây Nguyên được Bộ Tổng tư lệnh giao nhiệm vụ lần thứ hai. Nhiệm vụ lần này được mở rộng quy mô lớn hơn, nặng nề hơn trước. Cụ thể:

- Tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, diệt, làm bị thương từ 4 đến 5 vạn tên, trong đó diệt từ 3 đến 4 trung đoàn bộ binh, thiết giáp, đánh thiệt hại từ 1 đến 2 sư đoàn chủ lực ngụy, làm giảm nhanh quân số của chúng. Mở thông hành lang chiến lược từ đường 14 qua Gia Nghĩa xuống đường 20 nối với miền Đông Nam Bộ từ Tây Nguyên xuống ba tỉnh Khu V.

- Giải phóng nhân dân và phần lớn vùng đất bằng nam Plâyku và Cheo Reo, xung quanh Buôn Ma Thuộc. Tích cực  phối hợp với mặt trận đánh phá bình định ở đồng bằng. Cụ thể diệt từ 3 đến 4 tiểu khu, chi khu, từ 1 đến 2 tỉnh lỵ Gia Nghĩa và Cheo Reo.

- Đánh phá giao thông khi có thời cơ thì thực hiện cắt đứt đường 19, 14, 21, trọng điểm là đường 19. 

- Phát triển đấu tranh chính trị trong các thị xã, ra sức xây dựng các cơ sở tự vệ mật, các đội biệt động, diệt ác ôn, tạo thế làm chủ cơ sở.

Đến lúc này, mục tiêu thị xã Buôn Ma Thuộc vẫn chưa được xác định trong nhiệm vụ của chiến dịch Tây Nguyên, mà chỉ gắng sức giải phóng Đức Lập, Thuần Mẫn, Kiến Đức và vùng đất bằng xung quanh Buôn Ma Thuộc, xung quanh Plâyku và Cheo Reo.

Bộ Chính trị thấy cần phải có thời gian nghiên cứu đánh giá tình hình ta, địch kỹ hơn, sát hơn, nhất là khả năng can thiệp trở lại của Mỹ khi ta đánh lớn, mới đủ cơ sở khoa học hạ quyết tâm chiến lược chắc thắng. Do vậy, chiến dịch Tây Nguyên vẫn chưa được Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương giao tiến công Buôn Ma Thuộc. Đây là thể hiện trách nhiệm cao và sự thận trọng, nghiêm túc, cân nhắc kỹ lưỡng từng tình huống, từng nhiệm vụ của từng chiến trường của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương.

Đã hơn hai tháng trôi qua kể từ Hội nghị Bộ Chính trị tháng 10- 1974, tình hình miền Nam và quốc tế có nhiều biến chuyển có lợi cho ta. Đợt hoạt động quân sự Đông Xuân năm 1974 - 1975 không rầm rộ, sôi động như mọi nam trước, nhưng kết quả tốt, đáng khích lệ, ta tạo được một thế trận áp sát các đô thị miền Nam.

Tây Nguyên đang triển khai làm đường chiến dịch, chiến đấu ở nam Tây Nguyên, các đơn vị tham gia chiến dịch bắt đầu hành quân vào vị trí tập kết, vận chuyển vật chất lót sẵn cho chiến dịch, đồng thời thực hiện nghi binh chiến dịch, bắn pháo vào Kon Tum, Plâyku, đánh lạc hướng sự chú ý của tình báo địch.

Ở miền Đông Nam Bộ, chiến dịch đường 14 - Phước Long khai triển. Đêm 12-12-1974, ta bắt đấu tiến công chi khu Bù Na, nhưng không thành. Ngày 13 ta tiếp tục tiến công chi khu Bù Đốp, vây ép Bù Na, đánh chiếm Vĩnh Thiện, đến ngày 16- 12, ta quét sạch hệ thống đồn bốt địch từ đông bắc Đồng Xoài đến Kiến Đức và từ Ngã ba Liễu Đức đến cầu Phước Tín.

Ở Trị - - Thiên và Quân khu 5, Quân đoàn 2 hoạt động phía tây thành phố Huế, Sư đoàn 2 chủ lực Quân khu 5 đánh địch, tạo bàn đạp phía tây và tây nam Đà Nẵng, Tam Kỳ. Các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long tiến công và nổi dậy giải phóng nhiều vùng nông thôn, tạo được thế trận áp sát phía nam Sài Gòn và đường số 4 . . .

Địch buộc phải chuyển từ hành quân tiến công lấn chiếm sang phòng ngự trên toàn chiến trường. Quân chủ lực Sài Gòn có 13 sư đoàn, 19 liên đoàn biệt động, 6 sư đoàn không quân, 2.000 xe tăng, thiết giáp, 1.500 đại bác các loại và nhiều hạm đội trên sông, cùng hơn 1 triệu cảnh sát, phòng vệ dân sự được bố trí như sau:

Ở Quân khu 1, địch bố trí 4 sư đoàn (Sư đoàn thuỷ quân lục chiến, sư đoàn bộ binh 1, 2, 3), 4 liên đoàn biệt động quân, 21 tiểu đoàn và một số đại đội pháo gồm 418 khẩu, 5 thiết đoàn và 6 chi đội tăng, thiết giáp gồm 449 xe, Sư đoàn 1 không quân có 373 máy bay các loại, trong đó có 96 máy bay chiến đấu. Phần đông lực lượng này tập trung giữ Huế, Đà Nẵng.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #148 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2009, 11:55:23 pm »

Ở Quân khu 2, địch bố trí 2 sư đoàn (22,.23), 8 liên đoàn biệt động, 14 tiểu đoàn và nhiều đại đội pháo gồm 382 khẩu, 5 thiết đoàn và 13 chi đội tăng, thiết giáp gồm 477 chiếc, 2 sư đoàn không quân (sư đoàn 6 và Sư đoàn 2), trong đó có 138 máy bay chiến đấu. Số quân trên rải ra phòng giữ 12 tỉnh đồng bằng và Tây Nguyên. Riêng Tây Nguyên địch bố trí Sư đoàn 23 (thiếu), 7 liên đoàn biệt động quân, 1 sư đoàn không quân, 5 thiết đoàn xe tăng, thiết giáp, 4 tiểu đoàn pháo, 37 tiểu đoàn bảo an. Phần lớn lực lượng này, địch tập trung vào phía bắc Tây Nguyên phòng giữ Kon Tum, Plâyku; còn Buôn Ma Thuộc, địch chỉ bố trí Trung đoàn 53 (thiếu 1 tiểu đoàn), 1 tiểu đoàn tăng, thiết giáp, 2 tiểu đoàn bảo an, cảnh sát.  Tổng quân số khoảng 8.000 tên.

Ở Quân khu 3, địch bố trí 4 sư đoàn chủ lực sư đoàn dù, các sư đoàn bộ binh (18, 5 và 25), 7 liên đoàn biệt động quân, 14 tiểu đoàn và nhiều đại đội pháo gồm 376 khẩu, 7 thiết đoàn và 15 chi đội xe tăng, thiết giáp gồm 655 xe, 2 sư đoàn không quân, trong đó có hơn 250 máy bay chiến đấu A37, F5E. Toàn bộ quân địch triển khai theo hình vòng cung từ tây bắc, bắc và đông bắc bảo vệ Sài Gòn từ xa. 

Ở Quân khu 4, địch bố trí 3 sư đoàn chủ lực (sư đoàn bộ binh 7, 9 và 21), 18 liên đoàn bảo an, 15 tiểu đoàn và 55 đại đội pháo gồm 380 khẩu, 5 thiết đoàn và 17 chi đội tăng, thiết giáp gồm 493 xe. 1 sư đoàn không quân trong đó có 72 máy bay chiến đấu; 586 tàu: xuồng chiến đấu trên sông. Quân chủ lực địch tập trung giữ Cần Thơ, Chương Thiện, đường số 4 và tuyến biên giới.

Cách bố trí lực lượng của dịch như trên bộc lộ nhược điểm của thế trận phòng ngự trên toàn chiến trường. Mạnh ở hai đầu Trị - Thiên và Sài Gòn, yếu và sơ hở ở Khu V. Riêng ở Tây Nguyên địch cũng mắc sai lầm tương tự, tập trung lực lượng phòng giữ Kon Tum, Plâyku, để mỏng yếu, sư hở ở Đắc Lác, Quảng Đức. Khi ta nổ súng thực hành chia cắt chiến dịch, đường 14, 19, 21 bị cắt đứt thì tập đoàn phòng ngự địch ở bắc Tây Nguyên hoàn toàn bị giam chân, mắc kẹt, Buôn Ma Thuộc bị cô lập.

Trong khi đó, Mỹ giảm viện trợ cho nguỵ quyền Sài Gòn từ 1.026 triệu đô la năm tài khoá 1973 - 1974 xuống còn 700 triệu đô la năm tài khoá 1944 - 1975. Nguyễn Văn Thiệu phải kêu gọi quân lính tác chiến “kiểu con nhà nghèo”. Hoả lực chi viện bằng không quân, pháo binh giảm 60% vì thiếu bom, đạn; sức cơ động giảm 50% vì thiếu phương tiện. Cuộc chiến tranh diễn ra quy mô ngày càng lớn, nhưng ta thì chủ động, mạnh lên với khí thế mới, địch thì ngày càng suy yếu, bị động.

Đã có thêm những nhân tố và sự kiện mới giúp Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương hạ quyết tâm cuối cùng. Ngày 18-12-1974, Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng họp tại khu “Nhà con Rồng” Bộ Quốc phòng để thảo luận kế hoạch chiến lược và thông qua quyết tâm lần cuối cùng. Dự họp Bộ Chính trị mở rộng lần này có các đồng chí trong Quân uỷ Trung ương, các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy các chiến trường Nam Bộ và Khu V, các Phó Tổng tham mưu trưởng.

Đồng chí Lê Duẩn khai mạc hội nghị. Đồng chí nêu rõ yêu cầu lần này hội nghị phải thảo luận, bàn cho kỹ để đi đến hạ quyết tâm lần cuối cùng cho đúng và chính xác, không sợ mất thời gian. Đồng chí Lê Ngọc Hiền, Phó Tổng tham mưu trưởng trình bày dự kiến kế hoạch chiến lược năm 1975. Đây là bản dự thảo được Bộ Chính trì duyệt hồi tháng 10 có bổ sung, điều chỉnh một số nội dung của kế hoạch.

Tất cả các đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị, Uỷ viên Quân uỷ Trung ương và các đồng chí ở Nam Bộ, Khu V đều lần lượt phát biểu ý kiến. Trong ba ngày đầu hội nghị, các đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị, Uỷ viên Quân uỷ Trung ương đều phát biểu xoay quanh phương pháp tác chiến, tình hình địch, ta, chọn hướng tiến công. Các ý kiến đều đồng ý với phương án của Thường trực Quân uỷ Trung ương chọn hướng chính là Tây Nguyên, mục tiêu đầu tiên là Buôn Ma Thuộc.

Ngày 22-12-1974, Hội nghị nghỉ họp để tham dự mít tinh kỷ mềm 30 năm thành lập Quân đội nhân dân (22-12-1944 - 22-12-1974). Nhân dịp này, Đảng, Nhà nước, Quốc hội tuyên dương công trạng và quyết định thưởng Huân chương Sao Vàng cho quân đội. Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng trân trọng gắn Huân chương Sao Vàng lên Quân kỳ Quyết thắng trong tiếng vỗ tay nhiệt liệt. Đại tướng Võ Nguyên Giáp thay mặt quân đội ta phát biểu và hứa quyết tâm: Các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam kiên quyết giương cao lá cờ Quyết thắng, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước và nhân dân giao cho trong giai đoạn mới, xứng đáng với phần thưởng cao quý của Quốc hội, Chính phủ, xứng đáng với lòng tin cậy của Đảng và nhân dân.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #149 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2009, 11:55:38 pm »

Việc tuyên dương công trạng và tặng thưởng Huân chương Sao Vàng cho quân đội trong dịp này là nguồn động viên, khích lệ quân đội và lực lượng vũ trang kịp thời của Đảng, Nhà nước, có tác dụng nâng cao sĩ khí và tinh thần chiến dấu của cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang trên cả hai miền Bắc - Nam, tạo nên một phong trào thi đua quyết thắng “đánh cho nguỵ nhào” trong toàn quân, toàn dân.

Ngày 23- 12- 1974, Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng tiếp tục làm việc. Tình hình chiến trường diễn biến mau lẹ từng ngày có lợi cho cách mạng. Bộ Chính trị đang họp, thì một tin vui từ miền Đông Nam Bộ đưa tới: 5 giờ 35 phút ngày 26-12, Quân đoàn 4 tiến công chi khu Đồng Xoài, hình thành thế bao vây, cô lập thị xã Phước Long. Đồng chí Phạm Hùng và Trần Văn Trà đang tham gia Hội nghị Bộ Chính trị xin ý kiến đồng chí Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp cho đánh luôn Phước Long và xin một đại đội xe tăng, một đại đội pháo 130 mm chi viện. Đồng chí Lê Duẩn và Võ Nguyên Giáp đồng ý và lệnh cho Bộ Tổng tham mưu điện cho Quân đoàn 4 thi hành.

Ngày 31-12, Quân đoàn 4 được tăng cường Trung đoàn bộ binh 16, hai tiểu đoàn pháo cao xạ, một đại đội xe tăng tiến công địch ở thị xã Phước Long. Bộ đội ta nổ súng diệt hệ thống đồn bốt, hoả điểm vòng ngoài và chiếm khu quân sự Phước Bình, chiếm núi Bà Rá làm bàn đạp. Địch tập trung lực lượng đánh ngăn chặn các đường tiến vào thị xã. Một đơn vị bộ binh của ta lọt vào trong thị xã và bị bao vây. Địch cho máy bay ném bom, bắn phá dữ đội vào đội hình quân ta.

Tư lệnh Quân đoàn 4 Hoàng Cầm quyết định dùng pháo 130 mm bắn mạnh vào thị xã và cho các mũi bộ binh, xe tăng bỏ qua các ổ đề kháng vòng ngoài còn lại, đánh thẳng vào các mục tiêu bên trong thị xã, thực hiện chiến thuật ngoài đánh vào trong đánh ra. Cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt, giằng co suốt sáu ngày liền. Địch lợi dụng công sự, các điểm chắn đã xây sẵn, chống cự quyết liệt. Quân đoàn 4 xốc lại đội hình, sáng ngày 6-1-1975, tổ chức tiến công đồng loạt từ nhiều hướng vào thị xã mạnh mẽ và kiên quyết, đè bẹp sức kháng cự của địch. Đến 19 giờ cùng ngày ta hoàn toàn làm chủ thị xã diệt 1.160 địch, bắt 2.140 tên khác, giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long. Đây là một tỉnh nằm án ngữ cửa ngõ phía tây bắc Sài Gòn được giải phóng hoàn chỉnh.

Mỹ - Thiệu làm rùm beng “sự kiện Phước Long”, chúng tố cáo ta vi phạm hiệp định. Một bộ phận Hạm đội 7, trong đó có tàu sân bay chạy bằng năng lượng nguyên tử Intơpraidơ được điều đến bờ biển Nam Việt Nam; Sư đoàn 3 lính thuỷ đánh bộ Mỹ ở Ôkinaoa đặt trong tình trạng báo động khẩn cấp. Quân chủ lực Việt Nam cộng hoà được điều đến mặt trận Phước Long, mở các cuộc phản công tái chiếm thị xã, hòng đẩy ta ra xa khu vực đường 14 - Phước Long. Nhưng các cuộc phản công của quân chủ lực nguy đều bị ta đánh bại.

Cuối cùng cả Mỹ lẫn nguỵ buộc phải lờ “sự kiện Phước Long”. J.Xlixingiơ (J.Schlesinger), Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ buộc phải tuyên bố “đây chưa phải là một cuộc tiến công ồ ạt của Bắc Việt Nam”. Còn đại sứ Mỹ Ma tin (Martin) ở Sài Gòn thì nói với Thiệu “Việc yểm hộ của Mỹ lúc này chưa được phép”. 

Qua “sự kiện Phước Long” ta thấy quân chủ lực nguỵ suy yếu nghiêm trọng, chúng không đủ sức phản kích chiếm lại những vùng đã mất. Mỹ cung khó có khả năng can thiệp trở lại bằng lực lượng quân sự. Chiến thắng đường 14 - Phước Long nói lên khả năng mới nhất của quân và dân ta, khẳng định ta có dầy đủ tinh thần và lực lượng mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Chiến thắng Phước long có thể coi đó là đòn trinh sát chiến lược cực kỳ xuất sắc và thành công, nó cho ta hiểu biết chính xác khả năng của Mỹ và chính quyền, quân đội Sài Gòn. Nó là nhân tố mới rất quan trọng đề Hội nghị Bộ Chính trị khẳng định quyết tâm chiến lược giải phóng hoàn toàn miền Nam. 

Sáng ngày 8- 1- 1975, đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng, kết luận hội nghị: Cuộc họp lần này có đông đủ các đồng chí Nam Bộ và Khu V ra dự. Chúng ta rất phấn khởi đạt sự nhất trí cao, quyết tâm hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ ở miền Nam trong hai năm, tiến tới thống nhất đất nước. Hiện nay ta đang ở thế chủ động; ta đã tạo được thế chiến lược liên hoàn từ Trị - Thiên đến đồng bằng sông Cửu Long. Ta đã xây dựng được những quả đấm chủ lực mạnh, cơ động, tạo được bàn đạp xung quanh Sài Gòn.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM