Híc...! Híc...!
Có vẻ như anh em mình hơi bị khoái cái vụ này nên không viết thì không đành. Thực ra mình đang đợi a/e trên Khoa VK giử tài liệu xuống nhưng chưa biết bao giờ có nên đành viết lại theo trí nhớ vậy

.
Đây là ảnh bộ TBKN 23 mm bắn thay pháo tăng hiện tại của TSQTTG:

Để cho có đầu có đuôi phải hơi dài dòng một chút.
I- Sơ lược về sự phát triển của TB Kẹp nòng 23 mm tại LX và VN
A- TBKN của Liên Xô:
Về sự cần thiết phải sử dụng pháo kẹp nòng để bắn thay pháo tăng (hoặc) các loại pháo khác có lẽ không cần nói nữa. Chỉ xin tóm tắt như thế này- nó cho phép tiết kiệm khá lớn về nhiều mặt: tiết kiệm đạn, tiết kiệm nòng pháo, tiết kiệm bia bắn, tiết kiệm công phục vụ v.v… Ngoài ra, yêu cầu về thiết bị trường bắn cũng đơn giản hơn. Tất nhiên, TBKN không thể thay thế hoàn toàn việc bắn pháo khi luyện tập, kiểm tra song nó có thể thay thế khoảng 2/3 đến ¾ các bài bắn. Việc tiết kiệm này hiện đã được quy ra tiền và nó là một con số khá lớn.
Tuy nhiên, để thực sự mô phỏng được phát bắn phục vụ cho HL thì TBKN cũng cần đáp ứng một số yêu cầu sau:
- Có quỹ đạo đường đạn tương đối giống với quỹ đạo đường đạn pháo- đặc biệt là trong tầm bắn 2500 m trở lại. Đây là yêu cầu cơ bản.
- Có tiếng nổ và chớp lửa dầu nòng tương đối giống khi bắn pháo.
- Mô phỏng được động tác nạp đạn pháo.
- Đảm bảo an toàn cho nòng pháo và các thiết bị khác.
- Tháo lắp dễ dàng, nhanh chóng.
Từ tính toán đường đạn người ta thấy đối với pháo xe tăng 100 mm thì đường đạn của pháo 23mm là giống nhất. Ngoài ra khi bắn nó tạo ra tiếng nổ và khói lửa đầu nòng khá lớn cũng gây cảm giác bắn pháo cho người tập.
Do số lượng xe tăng T54, T55 (lắp pháo 100mm) sản xuất ra là khá lớn nên LX quyết định lắp đặt hẳn một dây chuyền sản xuất TBKN và đạn chuyên dùng cho TBKN này. Đặc điểm của loại đạn này là: vỏ bằng đồng, gờ hất vỏ đạn to hơn đường kính đuôi vỏ đạn (trông giống như viên đạn thể thao). Đây là một đặc điểm quan trọng để cho khâu hất vỏ đạn có thể hất nó ra ngoài khi mở khá nòng pháo.
TBKN này có kết cấu khá đơn giản. Cụ thể gồm có:
1- Gốc nòng: có hình dáng gần giống như đuôi một quả đạn pháo, xung quanh có gờ để chống tiến, có rãnh đặt các then chống lùi, chống xoay, có lỗ để lắp nòng và then hãm nòng.
2- Nòng pháo: Là nòng cỡ 23 mm nhưng chế tạo riêng cho TBKN này, ở loa che lửa có thêm một vòng định tâm.
3- Khâu (vòng) hất vỏ đạn: Nó được gá trên gốc nòng và tiếp giáp với đuôi nòng kẹp. Đường kính của khâu này bằng đoạn đuôi vỏ đạn và tất nhiên là nhỏ hơn gờ hất vỏ đạn. Nó có hai tai liên kết với vần hất vỏ đạn của khóa nòng.
4- Then hãm nòng: để liên kết nòng với góc nòng.
5- Kim hỏa chuyên biệt (gần như kim hỏa pháo nhưng phần đầu nhỏ hơn), lò xo cũng nhẹ hơn.
6- Chày tống đạn: Dùng để nạp đạn cho an toàn.
Khi lắp TB người ta đưa nòng 23 ly vào nòng pháo trước (thò một đoạn đuôi ra), sau đó liên kết với gốc nòng bằng then hãm nòng. Tiếp đó đưa cả bộ vào trong nòng pháo, lắp then chống tụt, then chống xoay (bằng vít). Thế là có thể bắn được.
Từ đây xin gọi TBKN này là TB1.
B- Sự ra đời của TBKN đầu tiên tại VN:
Những năm cuối 6x, khi viện trợ T54, PT76 cho VN thì LX cũng viện trợ một số bộ TB1 này nhưng chủ yếu để ở Trường bắn của BC. Tuy nhiên, cho đến khoảng năm 80- 82 thì tất cả các nòng này đều đã mòn gần hết khương tuyến. Đặc biệt là hết đạn. Bên ta đề nghị bạn giúp đỡ thì bạn trả lời: “Loại TBKN này LX đã ngừng sản xuất từ lâu rùi và hiện tại không còn để viện trợ”.
Trong khi đó lực lượng TTG phát triển rất mạnh mẽ, yêu cầu HL thực hành cường độ ngày một cao. Vì vậy, một yêu cầu hết sức cấp thiết đặt ra là phải nghiên cứu chế tạo một TBKN mới có thể thay thế TBKN trên. Những người đầu tiên quan tâm đến vấn đề này là các giáo viên khoa “Vũ khí và bắn” của Trường SQTTG, trong đó nhân vật tích cực nhất là anh Hà Văn Nhượng- kỹ sư VK, người Chi Nê, Lạc Thủy, HB.
Xuất phát từ thực tế là đạn và nòng 23 mm cao xạ trong kho của BC còn khá nhiều (hồi 71- 72 lắp lên xe BTR50PK làm CX tự hành mờ) nên anh em có ý tưởng là cải tiến nó để làm kẹp nòng. Và sau một thời gian mày mò đc HV Nhượng đã cho ra đời một TBKN mới mô phỏng TB1 của LX, có những cải tiến để có thể bắn được đạn CX 23 mm. Xin tạm gọi đây là TB2
Xin nói riêng về viên đạn này một chút. Đạn 23mm CX về cơ bản là khác với đạn 23mm KN của LX trước đây. Trước hết, vỏ đạn làm bằng sắt sơn, bình thường đóng hộp sắt hàn kín 20 v/h, chỉ đục ra ít ngày là vàng khè ngay. Vì là đạn chiến đấu nên đầu đạn có 2 loại: đạn xuyên cháy và đạn nổ, loại này khi chạm mục tiêu sẽ nổ như kiểu đạn “đum đum”. Tuy nhiên, cái khác cơ bản là gờ hất vỏ đạn của nó nhỏ hơn đoạn đuôi vỏ đạn. Ở đoạn đuôi này cũng có một cái gờ nhưng đó là gờ định vị nên nó rất mỏng, chiều cao chỉ chừng 0,2- 0,3 mm.
TB2 có cấu tạo gần như TB1, chỉ khác ở cái “khâu hất vỏ đạn”. Vì cái gờ hất vỏ đạn của đạn CX nhỏ hơn đuôi nên TB2 phải lợi dụng cái gờ định vị để hất vỏ đạn. Mà như trên đã nói cái gờ này cực kỳ mỏng manh nên việc chế tạo cái khâu này phải rất chính xác và hình dạng của nó cũng hơi khác cái khâu của TB1.
Khoảng năm 82 thì chúng tôi tiến hành bắn thử lần đầu tiên TB2. Và rất phấn khởi một điều là bắn phát nào cũng nổ, đạn rất căng y như đạn pháo (sơ tốc của đạn 23mm là 900m/s, tương đương đạn nổ pháo 100). Tuy nhiên, một khó khăn xuất hiện là : không hất được vỏ đạn. Cái gờ định vị mỏng manh ấy không thể chịu nổi lực rút vỏ đạn của cái khâu nên nó cứ bị “chợt” đi. Dù rằng trước khi bắn đã lau chùi đạn rất cẩn thận và thoa một lớp dầu nhờn nữa. Thế nhưng nó vẫn ngoan cố ỳ ra đấy.
Sau những cải tiến thêm về khâu hất vỏ đạn vẫn không thành công KS Nhượng nghĩ đến việc giảm Pmax (áp suất lớn nhất) trong nòng pháo. Cũng là một điều dễ hiểu vì nếu giảm được Pmax thì vỏ đạn ít trương nở hơn, ma sát của nó với buồng nòng ít hơn và dễ rút ra hơn. Thế là anh cho khoan lỗ trích khí ra (lúc đầu là phải bịt lại). Tuy nhiên, kể cả cách này vẫn không giải quyết được khó khăn trên. SK đi vào bế tắc.