Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 08:21:08 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Ngọn lửa chiến tranh lạnh - Tập 1  (Đọc 186511 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #140 vào lúc: 01 Tháng Sáu, 2009, 10:17:47 am »

Tơruman coi thường lời cảnh cáo của Chính phủ Trung Quốc.

Ngày 7 và 10 tháng 7, Chu Ân Lai hai lần họp Hội nghị quốc phòng nghiên cứu tăng cường lực lượng bảo vệ Đông Bắc. Và quyết định điều 13 binh đoàn tập kết ở các vùng An Đông, Khoan, Điện, Thông Hóa bên bờ sông Áp Lục để chờ lệnh.

Khi đó, vì mong muốn giải quyết hòa bình vấn đề Triều Tiên, ngày 13 tháng 7 Thủ tướng Ấn Độ Nêru gửi điện cho Xtalin và Êkixơn, đưa ra chủ trương cục bộ hóa cuộc xung đột, dùng phương thức hòa bình kết thúc chiến tranh và khôi phục địa vị hợp pháp của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ở Hội đồng Bảo an.

Ngày 15 tháng 7, Xtalin gửi điện phúc đáp Nêru:
“Tôi hoan nghênh đề nghị hoà bình của Ngài. Ngài chủ trương nên thông qua Hội đồng Bảo an gồm đại biểu 5 nước lớn trong đó có cả Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa tham gia để giải quyết hòa bình vấn đề Triều Tiên, tôi hoàn toàn tán thành quan điểm đó. Tôi tin tưởng rằng, để giải quyết nhanh chóng vấn đề Triều Tiên, việc lắng nghe đại biểu nhân dân Triều Tiên trình bày ý kiến của họ tại Hội đồng Bảo an là điều thích hợp”.

Trái lại, chính quyền Tơruman từ chối kiến nghị của Nêru. Êkixơn ngày 18 tháng 7 gửi điện phúc đáp Nêru, không tán thành kiến nghị của ông, vẫn chủ trương ủng hộ "quân Liên Hợp Quốc” tấn công quân sự Bắc Triều Tiên để lập lại hòa bình và an ninh khu vực.

Êkixơn vẫn dùng luận điệu cũ rích "phải dùng hành động quân sự khẩn cấp để lập lại hòa bình và an ninh" nêu trong nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc về vấn đề Triều Tiên.

Đề nghị thiện chí của Nỉu không được Tơruman tiếp nhận, Neru rất lấy làm tiếc.

Ngày 20 tháng 7, Nêru công bố với toàn thế giới các bức điện ngày 13 tháng 7 ông gửi cho Xtalin và Êkixơn, đồng thời cũng công bố cả những bức điện trao đổi với Xtalin trong 2 ngày 15 và 16 tháng 7 để qua đó chứng tỏ ông đã có những cô gắng nhằm giải quyết vấn đề Triều Tiên.

Malích, đại biểu Liên Xô thường trú ở Liên Hợp Quốc nhân đến phiên đảm nhiệm chức Chủ tịch Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, ngày 1 tháng 8 trở lại Hội đồng Bảo an.

Ngày 4 tháng 8, Malích đưa ra trước Hội đồng một dự án nghị quyết giải quyết hoà bình vấn đề Triều Tiên, đòi chấm dứt những hành vi đối địch trong biên giới Triều Tiên, khi thảo luận vấn đề Triều Tiên phải mời đại biểu Trung Quốc dự, và nghe ý kiến của đại biểu nhân dân Triều Tiên.

Chính phủ Trung Quốc ngày 20 tháng 8 gửi điện ủng hộ đề nghị của Chính phủ Liên Xô.

Nhưng do nhiều nguyên nhân, đề nghị của Malích đã bị phủ quyết ở Hội đồng Bảo an ngày 1 tháng 9.

Tơruman rút cục muốn làm gì? Lúc này, quân Mỹ xâm lược và quân Lý Thừa Vãn đã thua chạy về Phu San - một dải đất hẹp chỉ có 10.000 km2, trên 90% lãnh thổ và trên 92% dân số Nam Triều Tiên đã được Quân đội nhân dân Bắc Triều Tiên giải phóng, Tơruman còn định giở quái chiêu gì đây?

Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai, các cán bộ Tham mưu Bộ Tổng Tham mưu Quân giải phóng cũng đang suy nghĩ về câu hỏi đó.

Sáng ngày 11 tháng 8, Chu Ân Lai đột nhiên đến Bộ Tổng Tham mưu hỏi cán bộ Tham mưu:

- Về mặt quân sự, các đồng chí suy nghĩ thế nào, ý kiến các đồng chí ra sao?

Cán bộ Tham mưu nói, phải nâng cao cảnh giác, đề phòng quân Mỹ tập kích. Quân hai bên giằng co nhau ở sông Lạc Đông không bên nào tiến lên được. Quân đội Bắc Triều Tiên tác chiến trên bán đảo dài và hẹp, sợ nhất là bị quân Mỹ cắt ngang lưng. Quân Mỹ nếu đổ bộ ở phía sau, quân đội Bắc Triều Tiên sẽ bị kẹt ở sông Lạc Đông, không quay về được.

- Quân Mỹ có thể đổ bộ ở đâu? - Chu Ân Lai hỏi, sau khi nghe các Tham mưu phát biểu

- Có thể là Trấn Nam Phố.

- Nguyên Sơn. Nhân Xuyên.

- Cũng có thể ở Quần Sơn.

Chu Ân Lai rất coi trọng những ý kiến đó.

Xưa nay vẫn thế, trước những ý kiến then chốt có liên quan đến đại cục, ông không bao giờ tuỳ tiện tỏ thái độ, chỉ khẽ gật đầu.

Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #141 vào lúc: 01 Tháng Sáu, 2009, 10:17:57 am »

Sau đó, Chu Ân Lai đến báo cáo tình hình với Mao Trạch Đông. Mao Trạch Đông cũng cho rằng khả năng đó rất lớn.

- Vạn nhất gặp tình huống đó, tình thế Triều Tiên sẽ khó giải quyết không có đất xoay trở nữa.

- Trước tình hình đó, trước mắt, chúng ta chỉ có thể làm một số công việc chuẩn bị - Chu Ân Lai nói.

- Đúng vậy, chỉ có thể chuẩn bị sẵn sàng.- Mao Trạch Đông gật đầu.

Quân uỷ Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã đi kiểm tra tình hình chuẩn bị của bộ đội biên phòng Đông Bắc, một lần nữa chỉ thị cho họ "gấp rút chuẩn bị, phải hoàn thành mọi công việc trước ngày 30 tháng 9"

Việc gì cũng vậy, tính trước thì được, không tính trước thì hỏng, điều mà Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai lo ngại rốt cuộc đã xảy ra.

Ngày 15 tháng 9, quân Mỹ đổ bộ thành công lên Nhân Xuyên. Kim Nhật Thành cử Phó soái của ông - Bộ trưởng Bộ Nội vụ Phác Nhất Vũ đến An Đông, trình bày với Chính phủ Trung Quốc tình hình chiến sự xấu đi nhanh chóng sau khi quân Mỹ đổ bộ, khẩn thiết đề nghị Trung Quốc xuất quân chi viện. Ngày 17 tháng 9, Chu Ân Lai đồng ý cử một nhóm tiền trạm 5 người lấy danh nghĩa các tuỳ viện quân sự sứ quán Trung Quốc ở Triều Tiên, sang Triều Tiên thăm dò tình hình, khảo sát địa hình, chuẩn bị chiến trường.

Ngày 20, Chu Ân Lai vạch ra nguyên tắc tác chiến cơ bản: "Chiến tranh chống Mỹ viện Triều phải là cuộc chiến đấu lâu dài tự lực cánh sinh; trong chiến dịch phải tập trung ưu thế tuyệt đối về binh lực và hỏa lực, bao vây tiêu diệt một thiểu số quân địch đã bị chia cắt, từng bước làm suy yếu quân địch để có lợi cho tác chiến lâu dài"

Phương châm này được Mao Trạch Đông tán thành.

Ngày 1 tháng 10, quân Mỹ vượt qua giới tuyến 38, tiếp tục tiến lên phía bắc. Chu Ân Lai nhờ Đại sứ Ấn Độ ở Trung Quốc qua Neru chuyển lời tới Ngoại trưởng Anh Bêvin:

“Trung Quốc không thể bỏ qua vấn đề Triều Tiên".

“Quyết không tha thứ cho nước ngoài xâm lược, cũng quyết không để mặc cho bọn đế quốc xâm lược người láng giềng của mình. Ai mưu toan gạt gần 500 triệu người Trung Quốc ra ngoài Liên Hợp Quốc, ai muốn gạt bỏ và phá hoại lợi ích của một phần tư loài người, hòng giải quyết độc đoán bất kỳ vấn đề nào của phương Đông có quan hệ trực tiếp với Trung Quốc, kẻ đó nhất định sẽ sứt đầu mẻ trán."

Chính quyền Tơruman đã coi thường lời cảnh cáo của Chính phủ Trung Quốc. Rạng sáng ngày 2, Mác Áctơ căn cứ vào quyết định của Hội đồng Tham mưu trưởng ra mệnh lệnh tác chiến số 2 của "quân Liên Hợp Quốc”, lệnh cho các "quân Liên Hợp Quốc" lập tức từ đất liền và từ biển cùng một lúc vượt giới tuyến 38 tấn công lên phía bắc.

Thế là, hai bên "giới tuyến 38” nổ ra một cuộc chiến đấu tấn công và phòng thủ vô cùng ác liệt.

Quân đội Nhân dân Triều Tiên vì hoả lực, nhân lực đều kém xa "quân Liên Hợp quốc" nên lâm vào thế yếu, buộc rút lui về phía bắc. Chỉ trong một thời gian rất ngắn "quân Liên Hợp Quốc" được trang bị một số lượng lớn máy bay, đại bác và xe tăng điên cuồng xâm phạm Bắc Triều Tiên, thổi ngọn lửa chiến tranh xâm lược nhanh chóng lan tới biên giới Trung - Triều .
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #142 vào lúc: 01 Tháng Sáu, 2009, 10:20:34 am »

Bành Đức Hoài nhận lệnh trong lúc lâm nguy
.

Trước tình hình nghiêm trọng như vậy, Mao Trạch Đông vội triệu Chu Ân Lai đến bàn bạc đối sách, sau đó điện khẩn cho Cao Cương, Đặng Hoa:

"Mời đồng chí Cao Cương sau khi nhận được điện về ngay Bắc Kinh họp. Đề nghị đồng chí Đặng Hoa lệnh cho bộ đội biên phòng kết thúc công tác chuẩn bị sớm hơn thời hạn, sẵn sàng chờ lệnh lên đường. Đề nghị đồng chí Đặng Hoa gửi điện về báo cáo tình hình chuẩn bị và cho biết rõ liệu có thể cho quân lên đường chiến đấu ngay được không”

Quá trưa ngày 2 tháng 10, Cao Cương vội vã bay về Bắc Kinh. Ông sớm đã dự đoán, Mao Trạch Đông lần này triệu gấp ông về Bắc Kinh chắc chắn là vấn đề xuất quân viện Triều, bởi vậy ông đã định bụng: Lần này bất kể ra sao cũng không được nhấn mạnh việc bộ đội biên phòng chuẩn bị chưa được đầy đủ nữa.

Khoảng 3 giờ chiều, Mao Trạch Đông, Chu Đức, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai, Cao Cương, Lâm Bưu và Nhiếp Vĩnh Trăn họp ở Di Niên Đường.
Vừa mới bắt đầu, Mao Trạch Đông đưa ngay ra một bức điện nói với Cao Cương:

- Đây là điện khẩn của Kim Nhật Thành, chúng tôi xem rồi, đồng chí xem đi.

Lát sau, Mao Trạch Đông nói.

- Tình hình Triều Tiên nghiêm trọng như vậy, bây giờ không phải là vấn đề xuất quân hay không xuất quân, mà là phải xuất quân ngay, xuất quân sớm một ngày hay muộn một ngày là cực kỳ quan trọng đối với chiến cuộc. Hôm nay, trước tiên thảo luận hai vấn đề bức thiết: Một là thời gian xuất quân, hai là cử ai làm thống soái cầm quân.

Thấy mọi người im lặng, Mao Trạch Đông nói tiếp:

- Mọi người nghĩ xem, môi hở thì răng lạnh, người ta sắp mất nước rồi, chúng ta thấy mà không buồn sao, chẳng ra tay giúp họ sao. Đồng chí Cao Cương, đồng chí đứng trên gò cao (Cao là cao; cương là gò, triền núi; cao cương là cái gò cao. Đây là cách chơi chữ của Mao Trạch Đông (ND)) nhìn được xa, đồng chí nói xem, dù thế nào trận này cũng phải đánh chứ.

Cao Cương nghe Mao Trạch Đông nói vậy, vội đáp

- Nếu sớm muộn nhất định phải đánh, thế thì đánh muộn hay hơn. Hiện giờ không cách gì đánh được, đánh tồi, mất cả giang sơn, chúng ta nói sao với nhân dân? Hơn nữa, trong chúng ta cũng chưa có ai đi Triều Tiên đánh nhau với Mỹ, ai cầm quân đi?

Mao Trạch Đông nhìn Lâm Bưu:

- Đồng chí Lâm Bưu là cựu Tư lệnh của Dã chiến quân 4, đánh trận có kinh nghiệm. Binh đoàn 13 bộ đội biên phòng Đông Bắc là đơn vị chủ chốt của Dã chiến quân 4, đồng chí Lâm Bưu đi được không?

Lâm Bưu nghe Mao Trạch Đông nói, vẻ bối rối:

- Thưa Chủ tịch, tôi gần đây bị đổ mồ hôi ghê gớm. Phó Liên Chương đã làm giấy yêu cầu tôi đi Liên Xô chữa bệnh.

Mao Trạch Đông hoàn toàn không ngờ tới viên Thống soái quân sự mà mình tín nhiệm nhất cũng cáo ốm thoái thác, rất thất vọng, giọng buồn bực:

- Thôi được, người này nói khó, người kia nói ốm, đợi cho bọn quỷ Mỹ cưỡi lên đầu chúng ta bĩnh ra đó vậy.

Nói xong ông hầm hầm đi ra khỏi phòng họp.

Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #143 vào lúc: 01 Tháng Sáu, 2009, 10:20:43 am »

Họp Bộ Chính trị xong, Mao Trạch Đông trở về phòng ngủ kiêm phòng làm việc, tinh thần thể xác đều rã rời. 

Chiến sĩ cảnh vệ Tiểu Lý Tử đỡ ông nằm xuống, rồi nhè nhẹ xoa bóp. Mao Trạch Đông suốt đời cứ phải phấn đấu mới ngủ được một giấc. Các chiến sĩ cảnh vệ thường mua kẹo cho ông ăn để ông ngủ được ngon giấc. Hôm nay chắc chắn ngủ không được, Mao Trạch Đông dụi hai mắt đỏ ngầu, miệng ngáp dài, ngồi chịu trận trên xa lông.

Tiểu Lý Tử định đi ra, bỗng nhìn thấy cửa sổ chưa hạ, bèn nhẹ chân bước tới khẽ kéo cửa sổ xuống, lỡ tay cửa sổ tuột xuống kêu đánh "rầm" một tiếng.

Tiểu Lý Tử biết là có lỗi to, cứ đứng ngây ra đó.

- Tiểu Lý Tử, đọc cho tôi nghe một đoạn sách nào - Mao Trạch Đông khẽ nói.

Tiểu Lý Từ rất ít đọc sách, anh chỉ thuộc được một số bài thơ và từ của Mao Trạch Đông mà anh đã đọc đã nghe.

- "Ai dám cầm ngang thanh đao, dựng đứng vó ngựa; Chỉ có ta, Đại tướng quân họ Bành"

Vừa đọc đến đó, Lý Tử đã nghe thấy Mao Trạch Đông rất thích thú hỏi:

- Đồng chí đọc gì đấy?

Tiểu Lý Tử vội đáp:

- Dạ... "Ai dám cầm ngang thanh đao, dựng đứng vó ngựa, chỉ có ta Đại tướng quân họ Bành ạ"

Mao Trạch Đông vỗ đùi, từ xa lông đứng phắt dậy:

- Hay, hay cho Đại tướng quân họ Bành! Tiểu Lý Tử, cậu học có tiến bộ, mau đi gọi Lý Ngân Kiều đến đây!

Tiểu Lý Tự vội quay người chạy đi gọi Lý Ngân Kiều. Lý Ngân Kiều đến. Mao Trạch Đông bảo: 

- Đồng chí mau đi tìm Uông Đông Hưng, bảo cho một chiếc chuyên cơ đi đón Bành Đức Hoài ở Tây An về, phải đón ngay về đây.

- Rõ thưa Chủ tịch tôi đi làm ngay - Lý Ngân Kiều vội đáp

- Ngoài ra, các đồng chí phải ghi công cho Tiểu Lý Tử, - Mao Trạch Đông đột nhiên chuyển đề tài.

- Ghi công gì ạ ?

Câu nói của Mao Trạch Đông làm cho Lý Ngân Kiều chẳng hiểu mô tê ra sao.

Mao Trạch Đông cười tít:

- Đồng chí ấy học rất thuộc, cứ ghi công về thành tích học tập.

Tất nhiên đó chỉ là một câu chuyện vui. Nhưng Tiểu Lý Tử nằm mơ cũng không thể nghĩ rằng ngẫu nhiên mấy câu thuộc lòng của mình lại trùng hợp với dòng suy nghĩ của Mao Trạch Đông, từ đó dẫn đến việc Bành Đức Hoài - danh tướng một thời của Đảng Cộng sản Trung Quốc và quân đội Trung Quốc - lại bắt đầu đạo diễn một màn kịch chiến tranh uy vũ hùng tráng nhất kể từ sau Đại chiến thế giới lần thứ hai.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #144 vào lúc: 01 Tháng Sáu, 2009, 10:21:53 am »

Quân Chí nguyện vượt sông Áp Lục
.

Chạng vạng tối ngày 19 tháng 10 năm 1950, trong cơn mưa thu mịt mùng giá lạnh, các quân đoàn 40, 39, 42, 38 và ba sư đoàn pháo binh Quân Chí nguyện nhân dân Trung Quốc cùng một lúc lần lượt vượt sông Áp Lục ở ba bến An Lạc, Trường Miến, và Tập An rầm rộ tiên vào Triều Tiên.

Ngày 25 tháng 10, quân đoàn 40 đơn vị tiên phong của Quân Chí nguyện đánh trận đầu tiên với quân Nam Triều Tiên. Cuộc chiến tranh chống Mỹ viện Triều chính thức bắt đầu. Tính đến tháng 6 năm 1951, quân Chí nguyện liên tục mở 5 chiến dịch, cơ bản hoàn thành mục tiêu chiến lược đề ra lúc đầu giành được thắng lợi có tính quyết định trong cuộc chiến tranh chống Mỹ viện Triều.

Từ ngày 25 tháng 10 đến ngày 5 tháng 11 (1950) là chiến dịch đầu tiên. Quân Chí nguyện dùng 2 sư đoàn của quân đoàn 42 tổ chức phòng ngự ở khu vực Hoàng Thảo Lĩnh, Phó Chiến Lĩnh thuộc mặt trận miền đông, kiềm chế quân địch ở tuyến phía đông, lại dùng 3 quân đoàn 38, 39, 40 và một sư đoàn của quân đoàn 42 (sau tăng thêm quân đoàn 50, quân đoàn 66) phản kích ở mặt trận miền Tây. Chiến dịch này tiêu diệt đại bộ phận sư đoàn 6 quân Nam Triều Tiên, gây thiệt hại nặng cho sư đoàn 1 kị binh Mỹ, tổng cộng tiêu diệt hơn 15.000 địch, đánh lui quân địch đến phía nam sông Thanh Xuyên.

Ngày 7 tháng 11, các quân đoàn 20, 26, 27 thuộc binh đoàn 9 quân Chí nguyện dưới quyền chỉ huy của Tư lệnh kiêm Chính uỷ Tống Thời Luân tiến vào Triều Tiên. Tới lúc này, binh lực tác chiến ngoài mặt trận của quân Chí nguyện tới 9 quân đoàn, 30 sư đoàn, tổng cộng hơn 380.000 người, chiếm ưu thế hơn hẳn so với lực lượng bộ binh của "quân Liên Hợp Quốc" gồm 5 quân đoàn 13 sư đoàn, 3 lữ đoàn, tổng cộng 220.000 người.

Ngày 27 tháng 11, quân Chí nguyện mở cuộc phản kích mạnh mẽ trên cả hai mặt trận đông và tây, bắt đầu chiến dịch thứ hai. Ở mặt trận phía tây, quân Chí nguyện tiêu diệt sư đoàn 7 quân Nam Triều Tiên, đánh quị sư đoàn 2 quân Mỹ. Ở mặt trận phía đông, đánh quị sư đoàn lục chiến 1, sư đoàn bộ binh 2 quân Mỹ. Tình hình đó buộc Mác Áctơ phải ra lệnh cho "quân Liên Hợp Quốc” và quân Nam Triều Tiên rút lui toàn bộ. Tư lệnh tập đoàn quân số 8 quân Mỹ trong khi bại trận rút lui đã chết vì tai nạn xe. Rítwây lên thay. Đến 24 tháng 12, chiến dịch kết thúc, quân Chí nguyên tiêu diệt tất cả hơn 360.000 địch, giành lại được khu vực phía bắc giới tuyến 38, xoay chuyển chiến cuộc Triều Tiên.

Dư luận Mỹ gọi thất bại này là "ác mộng”, "bi kịch", kinh hoàng kêu lên đây là "cuộc chiến bại lớn nhất trong lịch sử lục quân Mỹ”. Tập đoàn thống trị Mỹ cũng lâm vào tình trạng hỗn loạn.

Để đập tan âm mưu của "quân Liên Hợp Quốc" dùng đàm phán để tranh thủ thời gian chỉnh đốn quân đội tiếp tục chiến tranh, Mao Trạch Đông gửi điện cho Bành Đức Hoài chỉ thị cho quân Chí nguyện vượt giới tuyến 38 tác chiến.

Ngày 31 tháng 12 (1950), quân Chí nguyện tập trung các quân đoàn 38, 39, 40, 42, 50, 66 phối hợp với các quân đoàn 1, 2, 5, của Quân đội nhân dân Triều Tiên mở chiến dịch thứ 3. Đến ngày 8 tháng 1 năm 1951, chiến dịch kết thúc, tổng cộng diệt hơn 190.000 địch, chiếm được Xơ Un, đánh lui quân địch đến tận tuyến Bình Trạch, An Thành, Đê Xuyên, Tam Trắc.

Ngày 25 tháng 1 (1951), địch tập trung 5 quân đoàn, 16 sư đoàn, 3 lữ đoàn, tổng cộng 230.000 quân tổ chức tấn công. Quân Chí nguyện vận dụng phương châm dương đông kích tây lệnh cho các quân đoàn 38, 50, phối hợp với quân đoàn 1 Quân đội Nhân dân Triều Tiên, dùng quân đoàn 26 làm lực lượng dự bị, tổ chức phòng ngự ở bờ nam sông Hán, mặt trận phía tây, kiềm chế hoạt động của mũi tấn công chủ yếu của quân địch. Trong khi đó ở mặt trận phía đông, dùng các quân đoàn 39,40,42, 66 phối hợp với các quân đoàn 2,3 của Quân đội Nhân dân Triều Tiên mở cuộc phản kích vào hướng Hoành Thành, tiêu diệt một bộ phận của sư đoàn 8 quân Nam Triều Tiên và sư đoàn 2 quân Mỹ. Đây là chiến dịch thứ tư. Chiến dịch kết thúc ngày 21 tháng 4. Tổng cộng diệt hơn 780.000 quân, chặn địch ở phía nam giới tuyến 38.

Ngày 15 tháng 4, các quân đoàn 63, 64, 65 của binh đoàn 19 do Tư lệnh Dương Đắc Chí, Chính uỷ Lý Chí Dân chỉ huy cùng với các quân đoàn 12, 15, 60 của binh đoàn 3 do Tư lệnh kiêm Chính uỷ Trần Canh chỉ huy tiến vào Triều Tiên tham chiến. Trong tình hình binh lực tấn công chiếm ưu thế, quân Chí nguyện quyết định mở chiến dịch phản kích, giành quyền chủ động trong chiến tranh.

Ngày 22 tháng 4, chiến dịch thứ năm mở màn ở mặt trận phía tây, quân Chí nguyện tiêu diệt sư đoàn 24, lữ đoàn 29 quân Mỹ, một bộ phận sư đoàn 1, sư đoàn 6 quân Nam Triều Tiên, tiến đến gần Xơ Un. Ở mặt trận phía đông, tiêu diệt đại bộ phận sư đoàn 9, sư đoàn 3 quân Nam Triều Tiên và một bộ phận quân Mỹ. Từ đó, toàn tuyến chuyển sang thế phòng ngự vận động, di chuyển về giới tuyến 38. Ngày 10 tháng 6 chiến dịch kết thúc. Tổng cộng tiêu diệt hơn 820.000 quân, chiến tuyến ổn định ở vùng phụ cận giới tuyến 38.

Mác Áctơ bị cách chức Tổng tư lệnh, Rítwây lên thay.

Từ trung tuần tháng 6 năm 1951 đến khi chiến tranh kết thúc (ngày 27 tháng 7 năm 1953) là giai đoạn thứ hai của cuộc chiến tranh chống Mỹ viện Triều. Hai bên ở vào giai đoạn cầm cự chiến lược, hình thức tác chiến chính là trận địa chiến, đồng thời tiến hành đàm phán đình chiến.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #145 vào lúc: 01 Tháng Sáu, 2009, 10:23:52 am »

VIII. KHẨU CHIẾN Ở BÀN MÔN ĐIẾM

Mỹ tung tin hòa đàm

Chiến dịch thứ 5 vừa kết thúc ít lâu, Mỹ chính thức tung ra tin hòa đàm. Ngày 30 tháng 6 năm 1951, Tổng tư lệnh "quân Liên Hợp Quốc” Rítwây theo lệnh của Uỷ ban an ninh quốc gia Mỹ tuyên bố với phía Trung Quốc tỏ ý muốn đàm phán đình chiến, và đề nghị tổ chức đàm phán trên chiếc tàu của Đan Mạch neo ở cảng Nguyên Sơn.

Ngày hôm sau, tức ngày 1 tháng 7, Tư lệnh tối cao Quân đội nhân dân Triều Tiên Kim Nhật Thành và Tư lệnh quân Chí nguyện Trung Quốc Bành Đức Hoài dùng hình thức ra tuyên bố để trả lời Ritwây, đồng ý cử đại biểu gặp đại biểu Mỹ, và đề nghị cuộc gặp sẽ tổ chức ở Khai Thành, khu vực do phía Bắc Triều Tiên kiểm soát.

Tuyên bố của Rítwây đưa ra dường như rất đột ngột, và lời phúc đáp của phía Bắc Triều Tiến dường như cũng nhanh chóng khác thường. Kỳ thực, vấn đề đàm phán đình chiến chẳng những được nêu ra khá sớm, hơn nữa đã được chuẩn bị từ lâu rồi.

Ngày 2 tháng 10 năm 1950, khi quân Mỹ ngang nhiên vượt giới tuyến 38 tấn công miền Bắc Triều Tiên, Liên Xô và nhiều nước khác đã từng đưa ra Đại hội đồng Liên Hợp Quốc dự thảo nghị quyết giải quyết hòa bình vấn đề Triều Tiên. Chính phủ Trung Quốc cũng ra tuyên bố ủng hộ. Nhưng ngược lại, Mỹ thao túng Liên Hợp Quốc phủ quyết dự thảo đó.

Ngày 11 tháng 1 năm 1951, Mỹ đột ngột đưa ra đề nghị đàm phán đình chiến với Bắc Triều Tiên và giật dây Liên Hợp Quốc thông qua 5 ý kiến có tính nguyên tắc giải quyết vấn đề Triều Tiên và Viễn Đông do "Uỷ ban 3 bên của Liên Hợp Quốc về ngừng bắn ở Triều Tiên” đưa ra, đòi ngừng bắn lập tức ở Triều Tiên, dùng mọi biện pháp thực hiện nghị quyết của "Liên Hợp Quốc" về việc thành lập "Chính phủ” thống nhất ở Triều Tiên, đại biểu 4 nước Anh, Mỹ, Liên Xô, Trung Quốc thảo luận giải quyết vấn đề Viễn Đông...

Khi đó Quân Chí nguyện đã liên tục tiến hành 3 chiến dịch phản công, đuổi quân Mỹ đến vĩ tuyến 37, giải phóng Xơ Un. Trọng điểm chiến lược của Mỹ là ở châu Âu, Mỹ không muốn ném vào Triều Tiên nhiều binh lực hơn nữa, cho rằng đánh tiếp chẳng những có thể thất bại mà còn có thể bị đuổi ra khỏi bán đảo Triều Tiên. Để tránh bị tiêu diệt hoàn toàn, Mỹ vội vàng đưa ra đề nghị đàm phán ngừng bắn.

Lập trường này của Mỹ được thể hiện rất rõ trong quyết định của Uỷ ban an ninh quốc gia Mỹ. Phân tích quyết định này, ta thấy khi đó lợi ích cơ bản nhất và mối đe doạ lớn nhất của Mỹ vẫn là ở châu Âu. Mỹ cần phải bố trí lực lượng quân sự lớn ở châu Âu, và khuyến khích các nước Đồng minh NATO cũng làm như vậy. Lợi ích cơ bản của Mỹ quyết định Mỹ tuyệt đối không thể sa lầy trong cuộc chiến lâu dài ở châu Á, tiêu hao lực lượng quân sự vốn cần bố trí ở châu Âu- điều mà rất có thể là Kremli đang mong muốn. Trên cơ sở phân tích đó, Chính phủ Mỹ quyết định phương châm tác chiến ở Triều Tiên: Chỉ giới hạn chiến tranh ở Triều Tiên; hạn chế lực lượng hải quân không quân, không tăng viện nữa; tận dụng mọi khả năng giữ cho mặt trận chỉ xảy ra ở vùng phụ cận giới tuyến 38, sau đó tìm kiếm ngừng bắn; kí kết hiệp nghị ngừng bắn, khôi phục lại tình trạng như trước ngày 25 tháng 6 năm 1950 ở Triều Tiên.

Chính phủ Mỹ nhấn mạnh, trừ phi "quân Liên Hợp Quốc" vì lý do quân sự bị đánh bật ra khỏi bán đảo Triều Tiên, còn quyết không tự động rút quân; trong trường hợp trụ không nổi thì rút tập đoàn quân 8 đi bảo vệ Nhật Bản.

Bành Đức Hoài với tư cách Tổng tư lệnh quân Chí nguyện nắm rất vững tình hình của địch, cũng hiểu rõ tình hình của bên mình. Sau khi Mỹ đưa ra tin hòa đàm, ông cho rằng hoà đàm lúc này là có lợi vì liên quân Trung-Triều chiếm được nhiều đất hơn, đồng thời còn có thể bớt sự hi sinh. Với tư cách là Tư lệnh chiến trường, Bành Đức Hoài đã phản ánh lên Trung ương tình hình đó và nêu cả ý kiến của mình.

Khi đó Mao Trạch Đông có tính toán riêng của ông. Ông không muốn đàm phán vì cho rằng địch chỉ giả vờ hoà đàm, đây chỉ là kế hoãn binh. Ông muốn giành thắng lợi lớn hơn nữa. Các binh đoàn 19, Binh đoàn 3, binh đoàn 20, quân đoàn 47, quân đoàn 16... tiếp tục được huy động để mở cuộc phản kích lớn. Trải qua những trận giành đi giật lại với địch ở giới tuyến 38, cuối cùng ổn định được mặt trận ở vùng phụ cận giới tuyến 38.

Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #146 vào lúc: 01 Tháng Sáu, 2009, 10:24:01 am »

Trong một năm diễn ra cuộc chiến tranh xâm lược Triều Tiên, Mỹ đã bị giáng những đòn nặng nề. Mức tiêu hao vật tư và binh lính của họ gấp hơn hai lần năm đầu của Đại chiến thế giới thứ hai. Vật tư bình quân mỗi tháng 850.000 tấn, gần tương đương với số lượng Mỹ viện trợ một năm rưỡi cho khối NATO. Trọng điểm chiến lược toàn cầu của Mỹ vốn ở châu Âu, nhưng trong chiến tranh xâm lược Triều Tiên, Mỹ đã huy động tới 1/3 lực lượng Lục quân, 1/5 lực lượng không quân, 1/2 hải quân, ấy là chưa kể số quân đội các nước Anh, Pháp, tham gia từ mức 420.000 người (khi quân Chí nguyện Trung Quốc vào Triều Tiên) tăng lên tới 690.000. Đó là sự đảo ngược về mặt chiến lược. Ấy vậy mà Mỹ vẫn cảm thấy binh lực không đủ? Lực lượng dự bị chiến lược của Mỹ chỉ còn lại 2 sư đoàn quân Mỹ ở Nhật Bản, 3 sư đoàn quân nguỵ và 6 sư đoàn rưỡi ở trong nước, đưa thêm quân sang Triều Tiên là chuyện rất khó khăn. Anh và Pháp lại càng không muốn đưa thêm quân sang thêm nữa. Cái giá Mỹ đã phải trả lớn như vậy, mà thắng lợi thì lại rất mờ mịt. Điều đó chẳng những làm cho dân chúng Mỹ rất bất mãn, tâm lý phản chiến, chán ghét chiến tranh ngày càng dâng cao, mà còn làm cho mâu thuẫn trong nội bộ tập đoàn thống trị Mỹ ngày càng gay gắt.

Đứng trước cục diện bất lợi về quân sự và chính trị đó, Phó Tham mưu trưởng lục quân Mỹ Wâyđơman than thở: "Chiến tranh Triều Tiên là cái hang không đáy, nhìn không thấy hi vọng thắng lợi của “quân Liên Hợp Quốc". Tập đoàn thống trị Mỹ cảm thấy đơn thuần chỉ dựa vào thủ đoạn quân sự không thể đánh bại được liên quân Trung Triều, không thể giải quyết được vấn đề Triều Tiên. Ngày 15 tháng 5, Uỷ ban An ninh quốc gia Mỹ bèn đưa ra quyết đinh "Thông qua đàm phán đình chiến để kết thúc hành động đối địch". Đầu tháng 6, Mỹ thông qua Tổng thư ký Liên Hợp Quốc Lye nhiều lần tỏ ý muốn thông qua đàm phán kết thúc chiến tranh. Phía Mỹ sở dĩ trước cứng sau mềm hoàn toàn là do bị liên quân Trung-Triều đánh và cục diện hoà đàm cũng do đó mà có. Trong khi tỏ ý muốn hoà đàm, về mặt quân sự, Mỹ cũng tạm thời thôi không tấn công toàn diện mà triển khai xây dựng trận địa phòng ngự ở vùng phụ cận giới tuyến 38, chuyển sang thế phòng ngự chiến lược

Qua 5 chiến dịch, liên quân Trung-Triều tuy đuổi quân địch về đến giới tuyến 38, đã xoay chuyển chiến cuộc Triều Tiên, bộ binh chiếm ưu thế rất lớn, pháo binh, xe tăng và lực lượng bảo đảm hậu cần cũng mạnh thêm, nhưng về trang bị kĩ thuật còn kém rất xa so với quân địch khi đó, quân Chí nguyện đã từ 300.000 quân khi vào Triều Tiên tăng lên đến 770.000 quân, Quân đội nhân dân Triều Tiên từ 110.000 quân tăng lên 340.000 quân, tổng binh lực liên quân lên tới 1.200.000 quân. Tỉ lệ binh lực giữa địch, ta là 1/1,6, rõ ràng liên quân chiếm ưu thế:

Nhưng còn trang bị kĩ thuật? Quân địch có hơn 3560 khẩu pháo, trên 1130 xe tăng, hơn 1670 máy bay, hơn 20 tàu chiến; liên quân có rất ít xe tăng và máy bay, mà số lượng và chất lượng pháo cũng kém xa quân địch. Quyền khống chế trên không, trên biển hoàn toàn nắm trong tay đối phương. Liên quân tuy số lượng bộ binh nhiều, sức chiến đấu mạnh, chiếm ưu thế nhưng do không được tự do hoạt động ban ngày, nên tính cơ động của quân lính và việc cung ứng vật tư bị hạn chế rất lớn, ưu thế trên rất khó phát huy đầy đủ.

Trong tình hình đó, liên quân nếu muốn tiêu diệt sinh lực địch cần có thời gian, đòi hỏi, một quá trình địch suy yếu đi ta lớn mạnh lên, đòi hỏi một quá trình cải thiện trang bị kĩ thuật để nâng cao năng lực tác chiến hiện đại cho liên quân. Và như vậy, chiến tranh tất phải kéo dài. Thắng nhanh không được thì khi khách quan đã xuất hiện khả năng giải quyết hòa bình, chúng ta đương nhiên phải nắm lấy thời cơ, một mặt chuẩn bị đánh lâu dài, một mặt đàm phán đình chiến để tranh thủ giải quyết hoà hình vấn đề Triều Tiên.

Do đó, sau khi Mỹ tung ra dư luận hòa bình vào cuối tháng 5, thì đầu tháng 6 Kim Nhật Thành tới Bắc Kinh để cùng Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai bàn bạc các phương châm, phương án liên quan đến đàm phán đình chiến.

Ngày 23 tháng 6, Đại sứ Liên Xô ở Liên Hợp Quốc Malích có buổi nói chuyện qua chương trình phát thanh Cái giá phải trả cho hòa bình do Ban tin tức của Liên Hợp Quốc thực hiện. Malích nói: "Sự nghiệp bảo vệ duy trì hòa bình là có thể thực hiện được. Những vấn đề gay cấn nhất trước mắt trong cuộc xung đột ở Triều Tiên cũng có thể giải quyết được. Để làm được điều đó các bên đều phải có thiện ý mong muốn giải quyết hòa bình vấn đề Triều Tiên. Nhân dân Liên Xô cho rằng, bước thứ nhất là hai bên tham chiến cần phải đàm phán ngừng bắn, đình chiến, rút quân đội ra khỏi giới tuyến 38".

Cuộc nói chuyện đó của Malich đại biểu cho quan điểm của phía Triều Trung. Ngày 25 tháng 6, xã luận của Nhân dân nhật báo Trung Quốc viết: "Nhân dân Trung Quốc hoàn toàn ủng hộ kiến nghị của Malích và cố gắng thực hiện theo tinh thần đó. Quân Chí nguyện nhân dân Trung Quốc tham gia chiến tranh Triều Tiên chống xâm lược với mục đích mong muốn giải quyết hòa bình vấn đề Triều Tiên”

Cùng lúc đó, Tơruman cũng có buổi diễn thuyết về chính sách ở bang Tennetxi. Ông ta một mặt hò hét phải tiếp tục tiến hành chiến tranh xâm lược, mặt khác lại tỏ ý muốn tham gia giải quyết hòa bình vấn đề Triều Tiên.

Tiếp sau là tuyên bố của Rítwây và tuyên bố đáp lại của Thủ tướng Kim Nhật Thành và Tư lệnh Bành Đức Hoài mà chúng ta nói ở trên.
Từ đó, chiến tranh Triều Tiên bắt đầu cục diện giằng co, vừa đánh vừa đàm, đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị đan xen nhau.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #147 vào lúc: 01 Tháng Sáu, 2009, 10:24:46 am »

Mỹ không mảy may thật lòng

Cuộc đàm phán đình chiến bắt đầu: Rítwây đưa ra đề nghị: Xe các sĩ quan liên lạc của họ đều cắm một lá cờ trắng to để tránh bị bắn nhầm. Sau mấy phiên họp, một phóng viên hãng U.P.I Mỹ viết một bài nói rằng, đường đường là đại biểu của nước Mỹ, đại diện cho Tổng tư lệnh quân Liên Hợp Quốc đi đàm phán mà trên xe lại cắm cờ trắng, thật chẳng ra sao cả chẳng khác gì đầu hàng! Bài báo đã gây tranh cãi ầm ĩ. Họ đã nói, cắm cờ trắng là vì an toàn, là dấu hiệu để bảo vệ họ, nay phóng viên hãng U.P.I lại nói vậy, thì họ không làm nữa, không cắm cờ trắng nữa.

Về sau họ lại bảo đàm phán ở Khai Thành cũng không được, lí do vì Khai Thành không có "Không khí trung lập". Thế là họ ngừng đàm phán, đòi chuyển địa điểm từ Khai Thành đến Bàn Môn Điếm nằm trên tuyến tiếp xúc quân sự giữa hai bên, nếu không họ sẽ không tiếp tục đàm phán. Phía liên quân vì mục đích gạt bỏ cái cớ đối phương nêu ra nhằm ngăn cản việc họp lại, đã chấp nhận yêu cầu của họ, các cuộc hội đàm sau này đều diễn ra ở Bàn Môn Điếm.

Đối với việc đàm phán đình chiến, Mỹ tỏ ra không mảy may thật lòng.

Một mặt, họ ráo riết chuẩn bị chiến tranh, đưa từ Mỹ sang hơn 100.000 lính bổ sung cho số thiếu hụt, tăng thêm pháo binh, bộ đội xe tăng; hai liên đội máy bay ném bom chiến đấu thuộc hai sư đoàn 136 và 116 không quân Mỹ được điều sang Nhật Bản; điều sư đoàn 40, sư đoàn 45 quân Mỹ từ Nhật Bản sang Triều Tiên, tăng cường lực lượng tác chiến cho lục quân, không quân; biên chế lữ đoàn 28, lữ đoàn 29 Anh và lữ đoàn 25 Canađa, trung đoàn 16 Niudilân thành sư đoàn 1 Liên hiệp Anh; mở rộng sân bay Đại Khâu; làm mới mười mấy căn cứ tiếp tế vận tải cho hải quân không quân; sửa chữa cả chục sân bay tiền duyên như Đông Đậu Xuyên Lí, Vĩnh Bình, Lân Đề v.v... Họ còn cấp tốc làm đường, vận chuyển vật tư tác chiến, cho một số lượng lớn máy bay đi ném bom các tuyến giao thông vận tải và căn cứ hậu phương của quân Chí nguyện. Mặt khác, trên bàn đàm phán họ cố tình chuyện nọ xọ chuyện kia, chỉ riêng vấn đề thảo luận chương trình cũng đã kéo dài hơn nửa tháng. Khi thảo luận việc phân chia giới tuyến quân sự, Mỹ vin cớ họ có "ưu thế hơn về hải quân, không quân" nên phải được "đền bù” ở đất liền, phải phân chia giới tuyến theo tuyến Khai Thành- Y Xuyên- Thông Xuyên nằm sâu trong trận địa của quân Chí nguyện từ 38-68 km, mưu toan không đánh mà cướp được một vùng rộng 120.000 km2, của phía liên quân.

Trò loè bịp chính trị đó lẽ đương nhiên bị phía Trung - Triều kiên quyết cự tuyệt, phía Mỹ lại giở giọng hù doạ công nhiên nói, thế thì "để bom đạn, đại bác và súng máy tranh luận vậy".

Rítwây cũng ngông cuồng tuyên bố. "Với uy lực của quân Liên Hợp Quốc, chúng ta có thể giành được đường phân chia ranh giới mà đoàn đại biểu quân Liên Hợp Quốc đòi hỏi”.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #148 vào lúc: 01 Tháng Sáu, 2009, 10:26:04 am »

Thắng lợi lịch sử

Sau khi bắt đầu cuộc đàm phán đình chiến ở Triều Tiên, quân Chí nguyện theo phương châm của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và Mao Trạch Đông đề ra là "Tác chiến lâu dài, tích cực phòng ngự” đã thay đổi chiến lược. Bộ đội được chia ra luân phiên nhau tác chiến, quán triệt phương châm đánh những trận tiêu diệt nhỏ. Trong thời gian này, hai quân đoàn 67,68 của binh đoàn 20 do Tư lệnh Dương Thành Vũ, Chính uỷ Trương Nam Sinh chỉ huy tháng 6 vào Triều Tiên; 2 quân đoàn 36 và 37 do Tư lệnh Đổng Kì Vũ, Chính uỷ Cao Khắc Lâm chỉ huy vào Triều Tiên tháng 9.

Trên bàn đàm phán, khi thảo luận việc phân chia giới tuyến, phía Mỹ lấy cớ "đền bù” ưu thế hải quân, không quân của họ, đòi vạch giới tuyến quân sự ở hậu phương trận địa quân đội Trung-Triều, cướp không 120.000 km2 đất đai. Đòi hỏi vô lí này bị phía Trung-Triều kiên quyết cự tuyệt. Phía Mỹ lại hò hét chiến tranh: "Để cho bom đạn, đại bác và súng máy tranh luận vậy!".

Tiếp đó quân "Liên Hợp Quốc" và quân Nam Triều Tiên từ ngày 18 tháng 8 đến ngày 18 tháng 9 mở cuộc tấn công mùa hè, huy động 7 sư đoàn tấn công trận địa Quân đội nhân dân Triều Tiên ở tuyến phía đông. Quân Chí nguyện phối hợp với Quân đội nhân dân Triều Tiên ngoan cường đánh trả, đập tan cuộc tấn công, tiêu diệt hơn 78.000 địch, còn địch chỉ chiếm được 179 km2 đất.

Từ 29 tháng 9 đến 22 tháng 10, "quân Liên Hợp Quốc” lại mở cuộc tấn công mùa thu nhằm mục tiêu chính là trận địa của quân Chí nguyện, thực hiện "chiến thuật dùng xe tăng thọc sâu”. Quân Chí nguyện giằng co với địch hơn một tháng, tiêu diệt hơn 79.000 tên, chặn đứng cuộc tấn công của chúng, ổn định mặt trận ở giới tuyến 38.

Trước và trong thời gian mở cuộc tấn công mùa thu, bắt đầu từ trung tuần tháng 8 "quân Liên Hợp Quốc" thực thi "chiến dịch phong toả các tuyến giao thông từ trên không”, hay còn gọi là "chiến dịch thắt cổ”, âm mưu ném bom 3 tháng liên tục để cắt đứt đường tiếp tế, tiêu diệt khả năng tác chiến của quân đội Trung-Triều. Với sự giúp đỡ toàn lực của quân dân Triều Tiên, quân Chí nguyện tổ chức không quân, bộ đội pháo cao xạ, bộ đội đường sắt, bộ đội công trình, bộ đội vận tải kể cả cơ quan và bộ đội ở hậu phương triển khai cuộc chiến đấu qui mô lớn chống "chiến dịch thắt cổ”, xây dựng và kiện toàn mạng lưới giao thông vận tải chằng chịt thông suốt từ hậu phương ra tiền tuyến, lấy binh trạm làm trung tâm, đường sắt và đường quốc lộ kết hợp với nhau, hình thành "tuyến đường vận tải huyền thoại", cơ bản bảo đảm vận chuyển vật tư ra tiền phương, giành được thắng lợi có tính chiến lược.

Tướng Mỹ Vanphrết không thể không thừa nhận: "Tuy không quân và hải quân đã dốc hết sức nhằm cắt đứt việc tiếp tế của cộng sản, song cộng sản vẫn vận chuyển được vật tư ra tiền tuyến với một nghị lực ngoan cường đến khó tin và đã sáng tạo nên những kì tích phi thường”.

Xuân hè năm 1952, để giữ vững lâu dài trận địa, quân Chí nguyện và Quân đội nhân dân Triều Tiên đã tiến hành cuộc chiến đấu củng cố trận địa, lấy việc xây dựng địa đạo làm trung tâm. Đến cuối tháng 8, toàn bộ chiến tuyến dài 250 km với độ sâu từ 20-30 km nằm vắt ngang bán đảo Triều Tiên đã hình thành, tạo nên một hệ thống phòng ngự kiên cố, nòng cốt là công sự địa đạo kết hợp với công sự dã chiến. Công sự địa đạo là một sáng tạo lớn trong lịch sử chiến tranh. Nó đã giải quyết được vấn đề: Khi bị địch quân dùng hoả lực mạnh tấn công, một quân đội trang bị vũ khí yếu kém hơn vẫn bảo tồn có hiệu quả sinh lực và vẫn có thể sát thương được địch, tăng cường đến mức cao nhất tính ổn định của phòng ngự, tạo cơ sở vững chắc cho việc quán triệt phương châm chiến lược "tác chiến lâu dài, tích cực phòng ngự”..

Từ ngày 18 tháng 9 đến 31 tháng 10 năm 1952, quân Chí nguyện chủ động mở các cuộc phản kích chiến thuật trên toàn tuyến, tấn công 77 lần vào 60 mục tiêu địch, tiêu diệt hơn 27.000 tên, chiếm 17 trận địa địch. Từ ngày 14 tháng 10 đến ngày 25 tháng 1, dưới quyền chỉ huy của tướng Vanphrết, "quân Liên Hợp Quốc" lần lượt huy động 60.000 quân, hơn 300 khẩu pháo, hơn 170 xe tăng, hơn 3.000 lượt máy bay, mở "cuộc tấn công sắt thép" vào mục tiêu chính là Thượng Cam Lĩnh, mưu toan xoay chuyển chiến cuộc Quân Chí nguyện lần lượt đưa vào 40.000 quân, hơn 180 khẩu pháo, phòng ngự kiên cường, tiêu diệt 25.000 tên, giữ vững được trận địa. Chiến dịch Thượng Cam Lĩnh đã nổi tiếng trong lịch sử chiến tranh thế giới vì mức độ dày đặc của binh lực hỏa lực, vì những trận chiến đấu tàn khốc quyết liệt, vì những cuộc giành đi giật lại nhiều lần.

Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #149 vào lúc: 01 Tháng Sáu, 2009, 10:26:13 am »

Tháng 11 năm 1952, Đê vít Aixenhao được bầu làm Tổng thống thứ 34 của Hoa Kỳ. Vị danh tướng trong chiến tranh châu Âu, Thống soái quân Đồng minh trong Đại chiến thế giới thứ hai này sau khi lên nhậm chức, đã lập tức ra sức cổ suý cho chính sách bành trướng, cùng với đại diện 15 nước tham gia "quân Liên Hợp Quốc" vạch kế hoạch gấp rút phong toả Trung Quốc. Quân Chí nguyện làm theo chỉ thị của Mao Trạch Đông "chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết, kiên quyết đập tan âm mưu đổ bộ của quân địch, tranh thủ giành thắng lợi chiến tranh lớn hơn”, đã đào hơn 720 km đường hào, làm hơn 600 lô-cốt bê-tông; điều thêm 4 quân đoàn, 1 sư đoàn xe tăng, 7 binh đoàn pháo cao xạ vào Triều Tiên; 14 sư đoàn không quân sẵn sàng tham chiến; tích trữ 123.000 tấn đạn dược và một số lương thực đủ cho toàn quân ăn trong 8 tháng rưỡi.

Quân Chí nguyện công sự kiên cố, phòng thủ chặt chẽ đã khiến "quân Liên Hợp Quốc" không dám liều lĩnh tấn công, chúng đành phải đồng ý nối lại cuộc đàm phán đã đứt đoạn nửa năm trời. Để thúc đẩy cuộc đàm phán đình chiến, Mao Trạch. Đông chỉ thị: quân Chí nguyện chỉ có đánh, không có đàm, không được lơi lỏng, tất cả phải làm theo kế hoạch đã định.

Bắt đầu từ ngày 13 tháng 5 năm 1953, Quân Chí nguyện mở cuộc phản công mùa hè. Đến ngày 15 tháng 6, cuộc đàm phán đình chiến đã đạt được một hiệp nghị toàn bộ, sắp sửa đi đến ký kết hiệp định đình chiến. Bành Đức Hoài từ tháng 4 năm 1952 đã về nước an dưỡng và sắp nhận công tác thường trực quân uỷ Trung ương nay cũng trở lại Triều Tiên chuẩn bị tham dự việc ký hiệp định.

Nhưng tập đoàn Lý Thừa Vãn rắp tâm phá hoại đình chiến, dùng chiêu bài "thả tại chỗ" giam giữ một cách vô lí 27.000 tù binh quân đội nhân dân Triều Tiên, và hò hét phải "đánh thẳng tới bờ sông Áp Lục. Để thực sự đạt được hiệp định đình chiến, Quân Chí nguyện tập trung 5 quân đoàn và hơn 1000 khẩu pháo, ngày 13 tháng 7 mở chiến dịch Kim Thành, đột phá chính diện tuyến phòng ngự dài 25 km của 4 sư đoàn quân Nam Triều Tiên, tiêu diệt hơn 78.000 tên. Chiến dịch chưa kết thúc, thì tướng Clác người kế nhiệm chức Tổng tư lệnh "quân Liên Hợp Quốc" và Lý Thừa Vãn - tên đầu sỏ tập đoàn thống trị Nam Triều Tiên lập tức xin kí kết ngay hiệp định đình chiến. Ngày 27 tháng 7, hai bên kí kết chính thức. Đến đây, cuộc chiến tranh chống Mỹ viện Triều kết thúc. Tướng Clác rầu rĩ nói: "Tôi là viên Tư lệnh lục quân Mỹ đầu tiên kí vào bản hiệp ước đình chiến khi chưa giành được thắng lợi".

Trong cuộc chiến tranh chống Mỹ viện Triều kéo dài suốt 33 tháng, các đơn vị Quân Chí nguyện lần lượt thay nhau sang Triều Tiên tham chiến gồm: 25 quân đoàn bộ binh, 10 sư đoàn binh mặt đất; 5 sư đoàn, 21 trung đoàn, 62 tiểu đoàn pháo cao xạ; 3 sư đoàn, 6 trung đoàn lính thiết giáp; 14 trung đoàn, 2 tiểu đoàn công binh; 10 sư đoàn, 1 trung đoàn lính đường sắt; 10 sư đoàn, 3 đại đội không quân; 2 sư đoàn công an. Số lượt người tham gia chiến tranh chống Mỹ viện Triều lên tới hơn 3 triệu. Trong chiến đấu, hơn 360.000 người hi sinh, bị thương và mất tích, hơn 6.000 đơn vị lập công tập thể hơn 300.000 người vinh dự nhận danh hiệu anh hùng chiến sĩ thi đua.

Trên chiến trường Triều Tiên, Mỹ đã sử dụng tất cả các loại vũ khí sát thương quy mô lớn trừ bom nguyên tử, ép buộc 15 nước đưa quân tham chiến, chuyển đến chiến trường hơn 73 triệu tấn vật tư chiến tranh, chi phí chiến tranh 83 tỉ USD (chỉ sau chiến phí của Mỹ trong Đại chiến thế giới thứ hai), đã huy động 1/3 lục quân Mỹ, 1/5 không quân và đại bộ phận hải quân. Nhưng, với trang bị vũ khí yếu kém hơn, Quân Chí nguyện và Quân đội nhân dân Triều Tiên lại giành được những chiến quả rực rỡ: giết, làm bị thương, bắt làm tù binh tất cả hơn 1.090.000 tên (trong đó có hơn 390.000 quân Mỹ), bắn rơi bắn bị thương 12.200 máy bay, bắn chìm bắn bị thương, 257 tầu chiến, bảo vệ được toàn vẹn lãnh thổ nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên và an ninh của Trung Quốc, duy trì được hòa bình Viễn Đông và hòa bình thế giới.

Thắng lợi này là thắng lợi vĩ đại của nhân dân Trung-Triều chống xâm lược Mỹ, là thắng lợi của lực lượng yêu chuộng hòa bình toàn thế giới, là thắng lợi có tính lịch sử. Đúng như Tổng tư lệnh Bành Đức Hoài tháng 9 năm 1953, nói trong “Báo cáo về công tác chống Mỹ viện Triều của Quân Chí nguyện Nhân dân Trung Quốc”: "Thắng lợi đó chứng minh hùng hồn rằng: Thời đại mà từ mấy trăm năm nay bọn xâm lược phương Tây chỉ cần đặt vài khẩu đại bác trên bờ biển phương Đông đã có thể chiếm được cả một quốc gia, đã vĩnh viễn qua rồi". 
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM