Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:07:07 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quá trình mở mang và hoàn thiện lãnh thổ  (Đọc 83057 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
menthuong
Thành viên
*
Bài viết: 411


Nhất tướng công thành vạn cốt khô


« vào lúc: 28 Tháng Mười, 2009, 05:00:58 pm »

Việt Nam ngày nay là sự kế thừa đương nhiên của nhà nước Văn Lang thời các Vua Hùng. Nhưng trải mấy nghìn năm lịch sử cương vực nước ta đã nhiều lần thay đổi. Để có diên mạo như ngày nay, tổ tiên người Việt đã đổ bao mồ hôi và xương máu. Tìm lại lịch sử việc giữ vững biên cương, mở mang lãnh thổ cũng lắm lý thú. Rất tiếc thời đi học chúng tôi ít được các thầy chỉ rõ và đến nay tài liệu cũng còn tản mát.

Vốn ưa tìm hiểu, tôi cố gắng lục tìm tư liệu nhưng thấy thiếu nhiều và lắm khi lại trái ngược nhau. Một điều dễ thống nhất là: Việc mở mang lãnh thổ của ta chủ yếu là là quá trình “Nam tiến” (南進,The March to the South) của người Việt. Còn việc các nhóm Mông – Dao di cư thì  đến nay vẫn tiép diễn nhưng không có tác dụng mở mang lãnh thổ.

Quá trình Nam tiến của đại Việt như sau: Đời nhà  Đinh và Tiền Lê: miền Bắc và miền Trung đến đèo Ngang ; Đời nhà  Lý: mở rộng đến Cửa Việt (sông Hãn thuộc Quảng Trị, 1069); Đời nhà  Trần: thêm đến đèo Hải Vân (1306); Đời nhà  Hồ: đến Quảng Ngãi (1402); Đời nhà  Lê: đến Khánh Hòa (1470); Chúa Nguyễn: - hết miền Trung (Phan Thiết, 1697); Đời nhà  Nguyễn hết miền Nam: Lục Tỉnh (1765).

Trong khi quan quân, dân chúng  Đại Việt chiếm, lấn, vượt qua Chiêm Thành và xuống đồng bằng sông Cửu Long thì người Hoa cũng từ Trung Quốc Nam tiến xuống vùng đất này. Quá trình nam tiến của người Hoa chủ yếu bằng đường biển và nó gắn chặt với tiến trình lịch sử phát triển của Đàng Trong, tình hình vùng duyên hải Nam Trung Hoa. Quá trình này khởi nguồn từ năm 1600 khi Nguyễn Hoàng cát cứ, thâu nhận nhân lực và qua 4 giai đoạn: Giai đoạn I: Từ cuối thế kỷ XVI đến trước năm 1645, chủ yếu là thương nhân; Giai đoạn II: Từ 1645 đến 1678, chủ yếu là nạn dân, trong đó có thể có một số ít thương nhân và các sĩ phu; Giai đoạn III: Từ 1678 đến trước năm 1685, chủ yếu là di thần nhà Minh, trong đó đông đảo là binh lính; Giai đoạn IV: Từ 1685 trở đi, thành phần đa dạng hơn bao gồm cả thương gia, trí thức Nho giáo, các nhà sư. Quá trình lịch sử người Hoa các vùng duyên hải phía nam Trung Quốc di cư đến Đàng Trong sinh sống đã làm phong phú thêm tiến trình lịch sử phát triển của Đàng Trong. Người Hoa đã được các chúa Nguyễn trọng dụng, được cư dân bản địa tiếp nhận và hỗ trợ, các cộng đồng người Hoa đã lần lượt ra đời. Những cố gắng và cống hiến của người Hoa đã tạo cho hó có chỗ đứng vững chắc và vị trí khá quan trọng trong lòng xã hội Đàng Trong. Người Hoa giữ được bản sắc dân tộc nhưng không đồng hoá được dân Việt và dân bản địa và vùng đất họ sinh sống mau chóng thuộc về Đại Việt.

Như vậy, cuộc Nam tiến của Đại Việt là quá trình đánh trả, ngăn chặn rồi lấn lướt những chính quyền hiếu chiến ở biên Nam. Đồng thời cũng được thi hành ôn hòa qua kế hoạch dinh điền, mở mang khai phá đất đai bị bỏ hoang ở biên trấn, sống hòa lẫn cùng dân bản địa, vừa canh chừng giặc, vừa sản xuất lương thực theo đường lối “ngụ binh ư nông” mà Đại Việt đã khôn ngoan áp dụng từ khi thu hồi được độc lập. Công bằng mà xét thì công cuộc này được mở màn từ thời Tiền Lê ở thế kỷ X, quyết liệt trong thời Lý, tương đối hòa bình trong thời Trần, vừa đánh, vừa lấn vừa đàm ở thời Hồ, thời Hậu Lê đối với Chiêm Thành. Tới thời các chúa Nguyễn, Đại Việt đã biết lợi dụng cuộc nội tranh trong vương thất các nước Chiêm Thành, Chân Lạp mà thực hiện vừa bảo hộ, vừa lấn, vừa dần chiếm rồi dứt điểm xác lập chủ quyền cả về đất đai và dân cư. Điều đáng chú ý là tuy không phải là người mang gươm đi mở đất nhưng Đại Việt đã có những phụ nữ đóng góp đáng kể cho sự nghiệp này. Đó là Công chúa Huyền Trân thời Trần (1306) đã chính thức đem lại vùng Thuận Hoá về cho đất nước; là Công nữ Ngọc Vạn (1620) và Ngọc Khoa (1631) thời các chúa Nguyễn đã mở đường cho công cuộc làm chủ Nam Trung bộ và Nam Bộ của người Việt .

Muộn hơn hướng Nam tiến là việc xác lập quyền cai trị vùng độn với láng giềng ở Tây, Tây-Bắc. Quá trình đó diễn ra liên tục từ khi xác lập quyền tự chủ đến thế kỷ XIX. Đó là quá trình xác lập chủ quyền đối với vùng Tây Nguyên (năm 1830 bởi vua Minh Mạng 明命仁皇帝), Tây Bắc (1841)...

Như vậy, trong buổi đầu lịch sử cương vực nước ta chỉ gồm vùng đồng bằng, trung du miền núi Bắc bộ nay. Đầu thời phong kiến tự chủ mới đến bắc dãy Hoành Sơn. Thời Lý (thế kỷ XI) đã ổn định biên giới vùng Đông Bắc và về phía Nam kéo tới sông Thạch Hãn (Quảng Trị). Sang đời Trần bắt đầu kinh dinh vùng Tây Bắc và Tây Nghệ An, Thanh Hoá vào kéo cương giới phía Nam đến đèo Hải Vân và nhà Hồ tiếp tục phát triển vào đến Quảng Ngãi. Nhà Hậu Lê đã ổn định biên giới phía Tây và mở mang bờ cõi phiá Nam tới Bình Định. Họ Nguyễn phát triển lãnh thổ vào đến Hà Tiên, Cà Mau và bắt đầu kinh dinh vùng cao nguyên phía Tây.

Trong thời hiện đại, sau 30 năm chiến tranh (1945-1975) và những tranh chấp về đường biên mốc giới kéo dài hơn 10 năm, tới cuối thế kỷ XX Chính phủ Việt Nam đã ký Hiệp ước biên giới với Trung Quốc, Lào, Campuchia và nước Việt Nam có diện mạo ngày như ngày nay. Tất nhiên trên thực địa và trong thực tế hàng ngày vẫn còn va chạm, những điểm chưa nhất quán, đặc biệt là với Trung Quốc và Campuchia.
Riêng vùng lãnh hải và Biển Đông, vịnh Thái Lan thì còn nhiều điểm bất đồng bởi những phức tạp do lịch sử để lại.

Qúa trình mở mang lãnh thổ về phía Nam, xác định chủ quyền ở phía Bắc, phía Tây thường diễn ra ở những vùng mà cư dân bản địa vốn không thuần là người tộc Việt. Nhưng công cuộc hoàn thiện lãnh thổ của Việt Nam đã cơ bản hoàn thành vào thế kỷ XIX và hơn 100 năm qua cộng đồng dân tộc Việt Nam đã trở thành khối thống nhất, hoà hợp. Suốt lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, địa bàn cư trú của đồng bào các dân tộc thiểu số luôn là địa bàn chiến lược xung yếu, là “phên dậu” trấn giữ, bảo vệ biên cương Tổ quốc. Có thể nói: nếu không có ý chí ngoan cường, tinh thần 先发制人“tiên phát chế nhân” của vua quan, tính thần khai khẩn đất hoang cần cù của quan quân và dân chúng, sự hi sinh cao đẹp của “người đẹp” Đại Việt thì có lẽ đất nước của Vua Hùng đã bị đế chế Hoa Hán nuốt chửng hoặc bị vương quốc Chân Lạp, Chăm Pa, Ai Lao, Nam Chiếu lấn lướt từ lâu và đâu có được diện mạo hình chữ S như ngày nay

Những năm gần đây, trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng bào các dân tộc thiểu số và miền núi tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, đoàn kết đồng lòng dưới sự lãnh đạo của Đảng, tích cực lao động sản xuất, phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng- an ninh, góp phần đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn trong chiến lược “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch, giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia.

Song do nhiều nguyên nhân, vấn đề dân tộc, sắc tộc ở nhiều nước đang diễn biến hết sức phức tạp đã ảnh hưởng trực tiếp đến nước ta. Sự bùng nổ trào lưu ly khai dân tộc trên thế giới hiện nay, ngoài nguyên nhân bên trong (vấn đề lịch sử để lại, những mâu thuẫn nội tại...) còn là sự kích động, tiếp tay của các thế lực hiếu chiến phản động, sự can thiệp lật đổ, gây ảnh hưởng khu vực và phục vụ cho chiến lược toàn cầu của các thế lực bên ngoài. Các thế lực thù địch đã kích động, chia rẽ khối đoàn kết giữa các dân tộc, tôn giáo, đẩy mạnh truyền đạo trái phép, nhất là truyền đạo ở các vùng dân tộc thiểu số với các thủ đoạn mị dân, nhằm tập hợp, lôi kéo quần chúng vào các tổ chức phản động núp dưới các hình thức tôn giáo; ráo riết tổ chức lực lượng để hình thành cái gọi là “Nhà nước Đề ga độc lập” ở Tây Nguyên, “nhà nước Khơ-me Crôm độc lập” ở Tây Nam bộ, “Vương quốc Mông” ở vùng miền núi phía Bắc, “Vương quốc Chămpa” ở miền Trung…tăng cường các hoạt động giành giật quần chúng với ta ở cơ sở, kích động bạo loạn.

Mong các bậc trí giả quan tâm chỉ giáo thêm!

Logged

menthuong
Thành viên
*
Bài viết: 411


Nhất tướng công thành vạn cốt khô


« Trả lời #1 vào lúc: 28 Tháng Mười, 2009, 05:11:36 pm »

Tìm hiểu về quá trình mở mang và hoàn thiện lãnhthổ Đại Việt (Việt Nam nay) tôi thấy xuất hiện tên một số vương quốc mà thời cận đại đã không còn tồn tại và thời đi học chúng tôi cũng chưa được biết đến. Sau đây là chút hiểu biết của tôi, chắc chắn còn sơ lược, thậm chí nhầm lẫn nên rất mang được CBCS trong QSVN bổ sung, sửa chữa và chỉ dẫn thêm.

Về một số vương quốc cổ:

 1. Bồn Man:

Tiểu quốc của người Thái này được thành lập vào khoảng năm 1369 sau khi nhà Nguyên mất quyền kiểm soát ở Vân Nam vào tay nhà Minh - Trung Quốc. Các bộ tộc người Thái ở phía nam Vân Nam, với sự hậu thuẫn của hoàng thân quan quân Đại Lý mất nước chạy xuống, dành được cơ hội độc lập trong lãnh thổ với phía tây và phía nam là vương quốc Lan Xang (Lão Qua), phía đông và phía bắc là Đại Việt. Vương quốc được các tù trưởng thuộc dòng họ Cầm 琴 cai trị ở Sầm Nưa (ngày nay là thị xã Sầm Nưa của Lào), dân số ước chừng 9 vạn hộ.

Năm Mậu Thìn (1448) Bồn Man (phía đông nam giáp tỉnh Nghệ An, tỉnh Quảng Bình, phía tây bắc giáp tỉnh Hưng Hóa, tỉnh Thanh Hóa của Đại Việt và phía tây tới tận Hủa Phăn của Lạn Xang) xin nội thuộc Đại Việt, Nhà Lê đặt làm châu Qui Hợp . Nhưng các thổ hào ở đây vẫn luôn quấy phá Đại Việt. Năm Quang Thuận thứ 10 (1469), triều Lê Thánh tông sai “Bảo chính công thần nhập nội Thiếu bảo trụ quốc” Lê Hy Cát (1438-1483) chỉ huy quân đi dẹp.

Năm 1478, Cầm Công (琴公,thủ lĩnh của Bồn Man) liên kết với Lão Qua (là đất Thượng Lào- tức Luang Prabang - ở phía Tây Bắc nước ta, có khi còn gọi là nước Nam Chướng) đem binh quấy nhiễu, cướp bóc ở khu vực phía tây của Đại Việt. Mùa Thu năm Kỷ Hợi (1479) Lê Thánh Tông sai “thái úy Lê Thọ Vực làm Chinh tây tướng quân, đi theo đường chính phủ Trà Lân; đô đốc Đông quân phủ Trịnh Công Lộ làm Chinh di tướng quân, đi theo đường An Tây; Trấn lỗ tướng quân Lê Đình Ngạn đi theo đường Ngọc Ma; Du Kỵ phó tướng quân Lê Lộng đi theo đường Thuận Châu và Mỗi Châu; Thảo tặc phó tướng quân Lê Nhân Hiếu đi theo đường phủ Thanh đô” từ Nghệ An, Thanh Hóa, Hưng Hóa đi đánh dẹp phá tan quân Bồn Man và Lão Qua. Nhân thế thắng, kéo vào thành Lão Qua, lấy được của báu. Vua Lão Qua phải chạy trốn, quân Đại Việt truy đánh tới lưu vực sông Mê Kông (Kim Sa) giáp với Miến Điện ngày nay. Sau đó, để dẹp loạn tận gốc, Thánh Tông lại sai Lê Niệm  cầm quân sang đánh Bồn Man, tù trưởng Bồn Man là Cầm Công bị thua chết, người Bồn Man đều xin hàng. Sau khi Cầm Công bị giết, Lê Thánh Tông đã sát nhập lãnh thổ Bồn Man vào Đại Việt, đặt tên là xứ Trấn Ninh 鎮寧府 (Sầm Nưa sau này gọi là Sầm Châu) và giao cho một người họ hàng của Cầm Công là Cầm Đông 琴冬 làm Tuyên úy Đại sứ nhưng việc quản lý thực sự vẫn do các quan binh Đại Việt nắm. Đây là lần tây chinh xa nhất của Đại Việt. Từ đó, phần lãnh thổ này thuộc về Việt Nam.

 Khi người Pháp thành lập Liên bang Đông Dương (Union Indochinoise,東洋聯邦, theo Sắc lệnh của Chính phủ Cộng hoà Pháp ký ngày 17 tháng 10 năm 1887, sau đó vào ngày 18/4/1899 có Sắc lệnh sát nhập thêm Lào) đã dựa theo địa hình và cắt tỉnh Houaphan (Hủa Phăn) giao về lãnh thổ Lào. Đây là vấn đề đã được lịch sử an bài !

Ngày nay, so với tuyến Tây nam và tuyến phía bắc thì vấn đề biên giới Việt-Lào tương đối yên ắng hơn. Đến 6/2008, hai bên đã thống nhất nội dung các văn kiện pháp lý, kỹ thuật, phục vụ việc thực hiện Dự án tăng dày và tôn tạo hệ thống mốc quốc giới Việt Nam-Lào, để báo cáo hai Chủ tịch Ủy ban liên hợp cắm mốc biên giới Việt Nam-Lào xem xét, thông qua.

2. Nước Dã Năng:

Lý Bí 李畚,503-548) đánh thắng quân Lương (đầu 544), tự xưng là Nam Việt đế (南越帝,542-548), đặt tên nước là Vạn Xuân (萬春, 544-602). Tháng 6 năm 545, vua Lương Vũ đế cử Dương Phiếu, Trần Bá Tiên, Tiêu Bột đi đánh Vạn Xuân. Trần Bá Tiên là tướng giỏi nhà Lương. Quân Lương đến Giao Châu, Lý Nam đế mang quân ra đánh bị thua nặng mấy trận, mất thành Gia Ninh (545), lui về Tân Xương là vùng của người Lạo, lại bị quân Lương đánh úp tại hồ Điển Triệt (546), phải ẩn náu trong động Khuất Lạo, giao lại binh quyền cho tả tướng quân Triệu Quang Phục 趙光復.

Trong khi đó, Lý Phật Tử 李佛子 cùng anh Lý Nam  Đế là Lý Thiên Bảo 李天寶 đem 3 vạn người vào Cửu Chân, đánh chiếm được Đức Châu (Hà Tĩnh), giết tướng nhà Lương là Trần Văn Giới. Sau đó, hai tướng họ Lý mang quân ra đánh Ái Châu (Thanh Hóa), Trần Bá Tiên mang quân tới đánh, Thiên Bảo và Phật Tử bị thua, bèn thu nhặt quân còn sót được vạn người chạy sang đất người Di Lạo ở Ai Lao.

Lý Thiên Bảo thấy động Dã Năng 也能 ở đầu nguồn Đào Giang, đất phẳng rộng màu mỡ có thể ở được mới đắp thành để ở, lấy tên đất mà đặt quốc hiệu. Đến bây giờ quân chúng tôn làm chúa, xưng là Đào Lang Vương 郎王. Lý Phật Tử là tướng dưới quyền.  Năm 555, Thiên Bảo chết không có con nối, quân chúng suy tôn Lý Phật Tử lên nối ngôi. Sau đó áp dụng kế thống gia, lấy được mũ đâu mâu móng rồng dùng để đánh giặc của Triệu Việt Vương (趙越王, 546-571) đã đánh bại, truy đuổi buộc Triệu nhẩy xuống biển tự vẫn (cửa Đại Nha) lên làm vua cả nước, đóng đô ở Phong Châu. Vì Phật tử cũng xưng là Lý Nam Đế, nên đời sau gọi là Hậu Lý Nam Đế (後李南帝; 571-602) để phân biệt với nhà Lý 前李氏 của Lý Bí.

Năm 602, Tùy Văn Đế 隋文帝 cử Thứ sử Qua Châu là Lưu Phương. Vua Tùy xuống chiếu sai Phương thống lĩnh 27 doanh quân sang đánh sang đánh Vạn Xuân. Phương lấy họa phúc mà dụ. Hậu Lý Nam Đế sợ hãi xin đầu hàng, bị quân Tuỳ bắt đưa về Bắc rồi chết. Vạn Xuân của Lý Nam đế và Dã Năng chấm dứt.

3. Đại Lịch quốc:

Đầu thế kỷ XI vùng châu Quảng Nguyên 廣源州 người Nùng (bên TQ gọi là Choang) hay nổi loạn gây mất ổn định vùng biên cả Đại Việt và Đại Tống. Nùng Tồn Phúc 儂存福 được Lý Thái Tông phong ở châu Thảng Do 儻猶州, em là Nùng Tồn Lộc 儂存祿 được phong ở châu Vạn Nhai, em vợ là Dương Đức được phong ở châu Vũ Lạc. Năm 1038, Nùng Tồn Phúc nổi dậy ở phía bắc nước Đại Cồ Việt, giết chết Nùng Tồn Lộc và Dương Đức chiếm lấy đất, tự xưng là Chiêu Thánh hoàng đế 昭聖皇帝, lập A Nùng 阿濃 làm Ninh Đức Hoàng hậu, đặt quốc hiệu là Trường Sinh quốc (長期國,Chang Qi Guo) rồi đem quân đi đánh phá các nơi. Có lẽ vì Tồn Lộc và Dương Đức không đồng tình với việc phản nhà Lý của Tồn Phúc nên bị giết. Năm 1039, vua Lý Thái Tông thân chinh đi đánh, bắt được Nùng Tồn Phúc và con là Nùng Tri Thông đem về kinh xử tử. A Nùng  và Nùng Trí Cao chạy thoát được.

Năm Tân Tị (1041) Nùng Trí Cao (儂智高; 1025-1055) hoặc Nông Trí Cao cùng với mẹ về lấy được châu Thảng Do (gần châu Quảng Nguyên) lập ra nước Ðại Lịch 大曆國, sau lại đổi thành Nam Thiên Quốc 南天國 với cương giới gần phủ kín hai tỉnh Quảng Tây và Quảng Đông. Thái Tông sai tướng lên đánh, bắt được Nùng Trí Cao. Vua thương tình tha tội chết và cho làm Quảng Nguyên Mục và gia phong cho tước Thái Bảo. Nhưng năm Mậu Tý (1048), Nùng Trí Cao lại nổi dậy, chiếm giữ động Vật Ác (phía tây Cao Bằng), xưng là Nhân Huệ hoàng đế 仁惠皇帝, quốc hiệu là Ðại Nam 大南 chống lại triều đình.Vua sai tướng Quách Thịnh Dật 郭盛溢 lên đánh, Trí Cao lại đầu hàng. Tuy nhiên, theo giai thoại của người Tày - Thái địa phương, khi quân Lý tới nơi, ông nói với Quách Thịnh Dật đừng tiến quân, ông sẽ không gây hấn với nhà Lý nữa mà sẽ tiến sang phương Bắc.

Năm 1052, Nùng Trí Cao lại nổi dậy lần nữa, tự xưng là Nhân Huệ hoàng đế, đặt quốc hiệu là Đại Nam. Để tăng thêm thanh thế, ông xin phụ thuộc vào Trung Quốc, vua Nhân Tông nhà Tống không cho. Trí Cao bèn đem quân sang đánh Trung Quốc. Được sự hậu thuẫn của các thủ lĩnh người Thái - Tày ở Quảng Tây là Nùng Trí Trung, Nùng Kiến Hậu, thanh thế Trí Cao càng thêm lớn mạnh. Ông đánh lấy Ung châu, rồi sau đó chiếm cả thảy được 8 châu ở đất Quảng Đông và Quảng Tây, bao gồm: Hoành châu 橫, Quý châu 貴, Cung châu 龔, Tầm châu 潯, Đằng châu 籐, Ngô châu 梧, Khang châu 康, Đoan châu 端州. Do đó Phong sử có câu:

Mở mang, mang chạy lên rừng,
Ta hay mang chạy ta đừng mở mang.
Nhà Tống lo sợ. Lý Thái Tông dâng biểu sang Trung Quốc xin mang quân phối hợp đánh Nùng Trí Cao. Khi quân Đại Cồ Việt sắp vào biên giới, tướng nhà Tống là Địch Thanh can Tống Nhân Tông rằng: “Có một Nùng Trí Cao mà đất Lưỡng Quảng không chế được, lại phải nhờ quân ngoại quốc vào đánh giúp. Nếu có ai nhân đó mà nổi loạn, thì làm thế nào?”. Vua Tống nghe lời bèn sai các tướng Dư Tĩnh và Tôn Miện đi đánh Nùng Trí Cao và sai sứ nói với Lý Thái Tông rằng không cần quân Lý giúp. Dư Tĩnh đánh mãi không được, nhà Tống lấy làm lo. Nhân khi Trí Cao dâng biểu xin lĩnh chức Tiết độ sứ Ung châu và Quý châu, vua nhà Tống đã toan thuận cho, Địch Thanh lại can không nên chấp thuận và xin đem quân đi đánh.

Đầu năm 1053, Địch Thanh ra hợp quân với Dư Tĩnh và Tôn Miện đóng ở Tân Châu (Liễu Châu tỉnh Quảng Tây), hội các tướng lại cấm không cho ra đánh nhau. Bấy giờ có quan Kiềm hạt tỉnh Quảng Tây là Trần Thự trái tướng lệnh đem quân đi đánh bị thua, Địch Thanh đem chém, rồi lệnh cho quân nghỉ 10 ngày. Quân đi thám biết chuyện về báo Trí Cao biết. Trí Cao tưởng là quân nhà Tống không dám đánh, bèn không phòng giữ. Địch Thanh đem quân đến cửa Côn Lôn (gần phủ Nam Ninh) đánh Nùng Trí Cao. Lúc đang đánh nhau, Địch Thanh đem quân kỵ đánh hai bên tả hữu áp lại, quân của Trí Cao tan vỡ, tướng dưới quyền là Hoàng Sư Mật và 57 người tử trận. Quân Tống đuổi theo giết hơn 2200 quân của Trí Cao. Ông đốt thành bỏ chạy.
Tháng 10 năm 1053, Trí Cao sai thủ hạ là Lương Châu đến cầu cứu Đại Cồ Việt. Lý Thái Tông sai chỉ huy sứ Vũ Nhị đi tiếp ứng cho Trí Cao. Nhưng quân Lý chưa tới nơi thì Trí Cao lại bị Địch Thanh đánh bại, phải chạy trốn sang nước Đại Lý. Quân Lý rút về.

Năm 1055, thời vua Lý Thánh Tông ở Việt Nam, Đô giám nhà Tống là Tiêu Chú lại theo đường Đặc Ma (Vân Nam) đánh úp, bắt được mẹ Trí Cao là A Nùng, em Trí Cao là Trí Quang, con là Kế Phong. Quân Tống lại mộ những người cảm tử vào đất Đại Lý để lùng tìm Trí Cao. Quân cảm tử chưa tới thì người nước Đại Lý ngại gây hấn với nhà Tống đã bắt Nùng Trí Cao chém chết, mang đầu đem nộp nhà Tống. Nhà Tống giết luôn gia quyến của Trí Cao. Nhưng sử Trung Hoa gọi ông là Lưu Trang đã theo Triệu Khuông Dẫn về thủ đô nước Tống được đối đãi trọng hậu với tước Hầu trong hàng quí tộc nước Tống sau bị Tống Thái Tổ giết vì muốn dùng rượu độc để hạ sát Tống Thái Tổ. Con Nùng Trí Cao là Nùng Trí Hội được nhà Tống cho coi châu Qui Hoá (1073).

Hiện nay còn di tích thành Na Lữ, nơi ông đóng quân, ở gần thị xã Cao Bằng. Đền Khâu Sầm (Kỳ Sầm) đại vương thờ Nùng Trí Cao vẫn còn ở Cao Bằng, lễ hội đền Khâu Sầm vẫn được tổ chức hằng năm.
Logged

menthuong
Thành viên
*
Bài viết: 411


Nhất tướng công thành vạn cốt khô


« Trả lời #2 vào lúc: 01 Tháng Mười Một, 2009, 04:59:43 pm »

Điều đáng chú ý là trong quá trình "mở cõi" tuy không phải là người mang gươm đi mở đất nhưng Đại Việt đã có những phụ nữ đóng góp đáng kể cho sự nghiệp này. Đó là Công chúa Huyền Trân thời Trần (1306) đã chính thức đem lại vùng Thuận Hoá về cho đất nước; là Công nữ (có sách chép là Công chúa, mặc dù cha của nàng chưa hề làm Vua) Ngọc Vạn (1620) và Công nữ Ngọc Khoa (1631) thời các chúa Nguyễn đã mở đường cho công cuộc làm chủ Nam Trung bộ và Nam Bộ của người Việt.

Đúng như lưu bút của bà Trương Mỹ Hoa, nguyên phó chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam lưu tại Huyền Trân Công Chúa Điện, Huế, 2008 : "Có những vấn đề của phụ nữ phải được giải quyết từ Quốc gia, có những vấn đề của Quốc gia phải giải quyết từ người phụ nữ".

Ngoài 3 vị trên có ai biết thêm một phụ nữ nào khác có công mở cõi không và sự tích chi tiết của họ là gì?
Logged

caytrevietnam
Trung tá
*
Bài viết: 471


Trồng sen trong biển lửa


« Trả lời #3 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2009, 12:40:29 am »

Chỉ xin có vài ý với bác menthuong như sau:

Nam tiến như trong bài viết trên của bác và như phần đông chúng ta đang hiểu là sự khai phá, chiếm đóng, mở rộng lãnh thổ. Do đó bác lấy trường hợp nhóm Mông – Dao di cư hay sự chạy loạn, “tị nạn” của quan dân nhà Minh gọi là Nam tiến thì nghe có vẻ không hợp.

Các nhóm người Minh chạy loạn đó, 1 số khi đến đã xin thần phục chính quyền chúa Nguyễn hoặc làm quan cho Chân lạp (như Mạc Cửu chẳng hạn)

Về Tây tiến, vùng đất nay là Tây Bắc đã thuộc về Đại Việt từ lâu, ít nhất là phần lớn đã được triều Lê kiểm soát chứ không phải đến thời Nguyễn mới “có được”

Còn công cuộc mở mang lãnh thổ, nói là về cơ bản đã hoàn thành vào thế kỷ XIX cũng chưa chính xác mà đúng hơn là nó đã bị chặn lại bởi cuộc xâm lược của Pháp, nếu không…

Trong bài thứ 2 về các vương quốc cổ

Bồn Man thực ra cùng lắm chỉ là một lãnh địa tự trị, đầu thời Lê đã xin nội thuộc nước ta nhưng cứ quấy phá, nên danh nghĩa là thuộc đất ta mà thực ra là độc lập. Đến cả khi quân Lê báo tin thắng trận Ai lao, khi về qua đó còn bị chặn lại cơ mà. Xứ này có lẽ rộng lớn, một phần nay thuộc vào đất Nghệ An

Nước Dã Năng thì chỉ thấy sử chép vậy,các nhà nghiên cứu sau này cũng chả truy xem nó thực ra nằm ở đâu

Còn có một số “nước khác” bị mất trong quá trình mở nước của người Việt. Theo như bài “VN xưa đã thôn tính mấy nước” đăng trên tạp chí Tri tân số 15 (19/9/1941) có kể ra các nước sau: Qua Oa (khoảng Bình Thuân đến Bà Rịa Vũng Tàu), Tam Phật Tề (khoảng Mỹ Tho, bến Tre ngày nay), Mãn Thích Da (khoảng Vĩnh Long, Trà Vinh)

Về những phụ nữ có đóng góp vào quá trình mở nước, thời xưa trọng nam kinh nữ, mấy ai chép mà biết được hết, đến như bà Huyền Trân là nổi nhất còn bị người đời đặt lời ca chê bai … Thời Lê có bà công chúa được gả cho vua Lào, không rõ có đóng góp ý không hay chỉ để liên kết, tạo sự ổn định như sách lược gả con gái cho các tù trưởng của các vua Lý
Logged

SỐNG VỮNG CHÃI 4000 NĂM SỪNG SỮNG
LƯNG ĐEO GƯƠM TAY MỀM MẠI BÚT HOA
menthuong
Thành viên
*
Bài viết: 411


Nhất tướng công thành vạn cốt khô


« Trả lời #4 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2009, 06:52:25 am »

Chỉ xin có vài ý với bác menthuong như sau:

Nam tiến như trong bài viết trên ....

Các nhóm người Minh chạy loạn ...

Về Tây tiến...

…

Trong bài thứ 2 về các vương quốc cổ...

Về những phụ nữ có đóng góp vào quá trình mở nước, thời xưa trọng nam kinh nữ, mấy ai chép mà biết được hết, đến như bà Huyền Trân là nổi nhất còn bị người đời đặt lời ca chê bai … Thời Lê có bà công chúa được gả cho vua Lào, không rõ có đóng góp ý không hay chỉ để liên kết, tạo sự ổn định như sách lược gả con gái cho các tù trưởng của các vua Lý

Đúng là những ý kiến góp ý bổ ích và chân tình. Tôi sẽ nghiên cứu, bổ sung, sửa đổi ngay trong suy nghĩ của mình. Roll Eyes
Cám ơn .

Bước Nam tiến lần thứ Hai
 của Đại Việt  và vai trò của Công chúa Huyền Trân

Từ sau trận đánh của Lý Thường Kiệt vào năm 1104, các vua Chiêm trở nên thần phục Đại Việt hơn, đây là giai đoạn Chiêm Thành và Đại Việt có mối giao hảo tốt đẹp. Nhưng từ khi Thái Tông (陳太宗, 1225-1258) nhà Trần lên thay nhà Lý (1225), Chiêm Thành lại quấy phá do đó vua thân Nam chinh vào năm 1252 bắt nhiều cung phi và quân dân Chiêm. Từ đó việc giao hảo trở lại bình thường trong khi Đại Việt lo chống giặc Nguyên Mông. Thắng lợi vang dội của Đại Việt đã buộc Toa Đô rút khỏi Chiêm Thành và là đòn răn đe vua tôi họ Chế về sức mạnh của Đại Việt.
 
Thực hiện lời hứa hôn từ 1301, năm 1306 nhà Trần gả công chúa Huyền Trân (玄珍公主, sinh năm Đinh Hợi 1287, là con Trần Nhân Tông) cho vua Chiêm Thành bấy giờ là Chế Mân (制旻, Jaya Simhavarman IV, trị vì 1287-1307). Đổi lại Chế Mân dâng đất cho Đại Việt gồm Châu Ô (tên cũ của vùng đất từ đèo Lao Bảo đến lưu vực sông Thạch Hãn (nay là sông Quảng Trị) và Châu Rí (tên cũ của vùng đất Hóa Châu đời nhà Trần, ngày nay gồm các huyện Phú Lộc, Hương Điền thuộc tỉnh Thừa Thiên và các huyện Duy Xuyên, Hoà Vang thuộc tỉnh Quảng Nam).

Các vùng đất này được vua Trần Anh Tông Thuyên (陳英宗,1293-1314) đổi tên là Thuận Châu và Hóa Châu, nay thuộc vùng nam Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế. Đây là bước Nam tiến thứ hai, bước mở đất hoà bình: “Đổi chác khôn ngoan khéo nực cười, Vốn đà không mất lại thêm lời, Hai châu Ô Lý vuông ngàn dặm, Một gái Huyền Trân của mấy mươi !”.Về Chiêm được hơn năm thì chồng mất (5/1307), Công chúa được vua Trần sai Trần Khắc Chung vờ sang viếng tang, tìm cách cứu thoát được Huyền Trân khỏi tuẫn táng theo chồng. Tháng 8/1308, Huyền Trân về đến Thăng Long. Theo di mệnh của Thượng hoàng Nhân Tông, công chúa đầu gia Phật giáo ở núi Trâu Sơn (nay thuộc Bắc Ninh), dưới sự ấn chứng của quốc sư Bảo Phát. Công chúa thọ Bồ tát giới và được ban pháp danh Hương Tràng. Huyền Trân viên ngày mồng 9 tháng giêng năm Canh Thìn (1340). Dân chúng quanh vùng thương tiếc và tôn bà là "Thần Mẫu" và lập đền thờ cạnh chùa Nộn Sơn.

Lãnh thổ Đại Việt phía nam lúc này đã tới đèo Hải Vân và người Việt biết đến kĩ thuật canh tác và cấy lúa nước vụ hè gọi là vụ “Chiêm”. Trong việc này dân gian có lúc đã không công bằng khi nói về mối quan hệ giữa Công chúa và tướng quân Trần Khắc Chung:

Tiếc thay hạt gạo trắng ngần,
Đã vo nước đục lại vần lửa rơm.

Những năm đầu thời kỳ nhà Hồ 胡氏 (1400-1407) nhằm tránh thế “lưỡng đầu thọ địch” đã liên tục đem quân tấn công Chiêm Thành (1400, 1402, 1403) và đã mở mang được lãnh thổ từ đèo Hải Vân tới bắc tỉnh Quảng Ngãi ngày nay, lập ra các Châu Thăng 升, Châu Hoa 花 và Châu Tư 思, buộc dân Việt vào khai khẩn. Nhưng nhà Hồ không uy hiếp được kinh thành Đồ Bàn nên phần lãnh thổ này bị Chiêm Thành lấy lại sau khi nhà Hồ sụp đổ (1407). Khi đánh nhà Hậu Trần của Đại Việt, Trương Phụ chỉ tiến đến Hoá Châu (1413), không tiến xuống phía Nam tiếp.
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười Một, 2009, 10:54:15 am gửi bởi menthuong » Logged

menthuong
Thành viên
*
Bài viết: 411


Nhất tướng công thành vạn cốt khô


« Trả lời #5 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2009, 11:27:08 am »

Bước Nam tiến thứ Tư
và vai trò của 2 Công nữ Chúa Nguyễn

Thời Trịnh - Nguyễn phân tranh, do áp lực từ các cuộc tấn công của chúa Trịnh từ phương bắc và nhu cầu mở rộng đất đai về phương nam, các chúa Nguyễn đã bắt đầu một công cuộc mở mang nhanh, mạnh bờ cõi Việt Nam về phía nam. Quá trình này chấm dứt sự tồn tại 17 thế kỷ của vương quốc Chăm Pa. Bước này chia thành nhiều giai đoạn khác nhau:

Năm 1611, Nguyễn Hoàng (阮潢,1558-1612) đánh Chiêm Thành lấy đất lập ra phủ Phú Yên chia ra làm hai huyện là Đồng Xuân và Tuyên Hòa, nay thuộc Phú Yên.

Khi đó, vùng đất Nam Bộ nay thuộc quyền cai quản của Thủy Chân Lạp còn là vùng đất sình lầy, nước mặn, chẳng trồng trọt gì được, thỉnh thoảng mới có một một vùng đất cao để làm vườn làm nhà, đường giao thông lại không có, dân cư thưa thớt. Các quan lại Thủy Chân Lạp (di huệ của Chân Lạp) cũng quản lý rất lỏng lẻo, đất đai bỏ hoang, trộm cắp hoành hành, thú dữ rập rình. Trong bối cảnh đó, đồng thời với việc Chúa Nguyễn tổ chức khai thác miền đất đã chiếm được của Chiêm Thành, nhiều dân Việt ở Đàng Trong bỏ dải đất miền Trung khắc nghiệt, vào khai khẩn đất làm ruộng ở Mô Xoài (Bà Rịa), Đồng Nai, phải tốn công đắp đê ngăn nước mặn, đào mương, đúc cống, chật vật và họ cũng tổ chức buôn bán ở Sài Gòn. Trong quá trình đó họ không gặp phản kháng gì đặc biệt của Chân Lạp.

Nhằm rảnh tay đối phó với Chúa Trịnh ở Đàng ngoài và tranh giành ảnh hưởng với người Bồ ở Chiêm Thành, năm 1631 Sãi Vương Nguyễn Phúc Nguyên (阮福元, 1613-1635) học tập vua nhà Trần đã đi một nước cờ cao “đổi giai nhân lấy bình yên”.

  Một trong những người thiếp của ông là Nguyễn Thị Giai (阮氏, 1578-1630) trưởng nữ của Khiêm vương Mạc Kính Điển 莫敬典 mà Kính Điển lại chính là cháu Mạc Đăng Doanh (莫登瀛, 1530-1540), chắt Mạc Đăng Dung (莫登庸, 1527-1530). Khi nhà Mạc thất cơ (1592), Kính Điển tử trận em là Mạc Cảnh Huống vào Nam theo Nguyễn Hoàng có đem theo con Kính Điển cùng đi. Người con gái đó được  Nguyễn Thị Ngọc Dương (vợ Cảnh Huống, dì Phúc Nguyên)  tiến cháu vào hầu Phúc Nguyên khi cha Sãi vương là Nguyễn Hoàng còn tại vị và vì thế nên con Mạc Kính Điển lại mang họ Nguyễn. Chính Nguyễn Thị Giai là thân mẫu của Nhị Công nữ Ngọc Van 玉萬公女  và Tam Công nữ Ngọc Khoa, hai giai nhân góp công trong việc mở mang bờ cõi Đại Việt về phía Nam. Như vậy 2 Công nữ của Chúa Nguyễn có công đặt bàn đạp Nam tiến cho Đại Việt là thuộc dòng dõi nhà Mạc (1527-1592) vốn phát tích ở Cổ Trai, Dương Kinh, Hải Phòng và là hậu duệ của Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi.
Logged

menthuong
Thành viên
*
Bài viết: 411


Nhất tướng công thành vạn cốt khô


« Trả lời #6 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2009, 11:28:00 am »

 Năm 1623 chúa Nguyễn Phúc Nguyên (阮福元, Chúa Sãi, 1613-1634) gây áp lực với Chân Lạp, “mượn” vùng đất Prey Nokor (Sài Gòn ngày nay) đặt trạm và quan chức thu thuế lưu dân Việt đang sinh sống xung quanh ở Sài Gòn, Đồng Nai, Bà Rịa. Nhờ sự tác động của hoàng hậu Somdach Prea Peaccayo dey Preavoreac Ksattecey (tức Ngọc Vạn Công nữ 玉萬公女, người con gái thứ hai của Sãi Vương được Chúa gả cho vua Chân Lạp là Chey-Chetta II vào năm 1620), vua Chân Lạp đồng ý cho người Việt đến đó canh tác. Đây là lần đầu tiên quan binh Đại Việt chính thức đặt chân lên đất Chân Lạp, và Mô Xoài là bàn đạp để người Việt dần dần tiến xuống đồng bằng sông Cửu Long, một bước đặt nền từ chủ trương hôn phối.

Năm 1631 Sãi vương gả tam Công nữ là Ngọc Khoa 玉姱公女 cho vua Chiêm Porome kết tình hoà hiếu và đây cũng là nguyên nhân mà từ 1639 người Bồ Đào Nha không giao thương với Chiêm nữa. Truyền thuyết cũng như tục ngữ Chiêm Thành đều có ý trách cứ, nếu không muốn nói là phẫn nộ, cho rằng bà Ngọc Khoa đã làm cho vua Po Romê trở nên mê muội và khiến cho nước Chiêm sụp đổ. Năm 1653 vua nước Chiêm Thành là Bà Thấm nhằm đòi lại đất Phú Yên đã đưa quân ra đánh chiếm. Chúa Hiền là Nguyễn Phúc Tần (阮福瀕,1648-1687) sai quan cai cơ là Hùng Lộc sang đánh. Bà Thấm phải dâng thư xin hàng. Chúa Nguyễn để từ sông Phan Lang trở vào cho vua Chiêm, còn từ sông Phan Lang trở ra lấy làm phủ Thái Ninh, sau đổi làm phủ Diên Khánh, nay thuộc Khánh Hòa. Tại đây đặt dinh Thái Khang để Hùng Lộc làm thái thú.

Năm 1658, vua nước Chân Lạp mất, nội bộ nước Chân Lạp lục đục vì tranh giành ngôi. Chúa Nguyễn Phúc Tần (阮福瀕, 1648-1687) đã giúp một hoàng thân Chân Lạp lên ngôi, đáp lại vị vua mới của Chân Lạp đã ký hiệp ước triều cống chúa Nguyễn hàng năm và cho phép người Việt được làm chủ vùng đất đã khai hoang ở Sài Gòn, Đồng Nai và Bà Rịa. Lúc này Tiêm La (hậu duệ của Phù Nam cũ) đã mạnh nên muốn giang tay ra phía Đông tới đây nhưng vì nhà Nguyễn đang mạnh nên phải thôi. Tại khu vực này lưu dân Việt sinh sống ngày càng đông đúc, chúa Nguyễn đã cử một đội quân mạnh để giữ gìn an ninh cũng như đặt các quan cai trị và thu thuế.
Logged

menthuong
Thành viên
*
Bài viết: 411


Nhất tướng công thành vạn cốt khô


« Trả lời #7 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2009, 11:28:52 am »

Năm 1679 có quan nhà Minh gồm Dương Ngạn Địch và phó tướng Hoàng Tiến là Tổng binh Trấn thủ đất Long môn (Quảng Tây), Trần Thượng Xuyên và phó tướng Trần An Bình là tổng binh châu Cao, Lôi, Liêm (Quảng Đông) không chịu làm tôi nhà Thanh, đem 3000 người cùng 50 chiếc thuyền sang xin ở làm dân Đại Việt. Chúa Hiền nhân muốn khai khẩn đất Chân Lạp, bèn cho vào ở đất Đông Phố (Gia Định). Những người này chia nhau ở đất Lộc Đã (Đồng Nai), Ban Lân (Biên Hòa) và Mỹ Tho (Tiền Giang), cày ruộng, làm nhà, lập ra phường phố, có người phương Tây, người Nhật Bản, người Chà Và đến buôn bán khá đông.

Năm 1680 Mạc Cửu, người gốc Quảng Đông, khi nhà Thanh cướp ngôi nhà Minh đã cùng gia quyến bỏ sang Chân Lạp, mở sòng bạc và cai quản 7 xã gồm toàn lưu dân, gọi là Hà Tiên. Mạc Cửu mở rộng đất đai gồm vùng đất Hà Tiên, Rạch Giá, Phú Quốc vốn thuộc Chân Lạp nhưng Chân Lạp không kiểm soát được. Năm 1718 để tránh áp lực thường xuyên của Xiêm La sang cướp phá, Mạc Cửu đã dâng đất khai phá xin nội thuộc về chúa Nguyễn, chúa Phúc Chu đổi tên thành Trấn Hà Tiên, phong cho Mạc Cửu làm chức Tổng binh, cai quản đất Hà Tiên. Khi Mạc Cửu mất, con là Mạc Thiên Tứ lại được làm chức đô đốc, tiếp tục cai quản Hà Tiên. Mạc Thiên Tứ đắp thành, xây lũy, mở chợ, làm đường và đưa người về dạy học để khai hóa đất Hà Tiên.

Năm 1693 với lý do vua nước Chiêm Thành là Bà Tranh bỏ không tiến cống, chúa Nguyễn Phúc Chu (阮福周, Chúa Quốc,1691-1725) sai quan tổng binh là Nguyễn Hữu Cảnh đem binh đi đánh bắt được Bà Tranh cùng thân thuộc về Phú Xuân (Huế). Chúa Nguyễn đổi đất Chiêm Thành làm Thuận Phủ, nay thuộc Bình Thuận. Đất này cho con cháu của Bà Tranh làm đề đốc trấn giữ, bắt đổi y phục như người Việt Nam để phủ dụ dân Chiêm Thành.

Tuy nhiên, do sự kháng cự của người Champa và cũng cần tập trung cho việc khai phá đồng của Chân Lạp nên qua năm 1695, chúa Quốc đổi Thuận Phủ ra làm Thuận Thành Trấn, dành cho người Chăm cơ chế tự trị nhưng vẫn thuộc sự bảo hộ của chúa Nguyễn. Đến năm 1832, vua Minh Mạng (明命皇帝,1820-1840) xóa bỏ cơ chế tự trị, lập thành tỉnh Bình Thuận.Việc này đồng nghĩa với việc Vương quốc Chăm Pa chính thức không còn tồn tại.

Năm 1698 chúa Nguyễn Phúc Chu  (阮福啁, 1691-1725) sai Nguyễn Hữu Cảnh làm kinh lược đất Chân Lạp. Ông chia đất Đông Phố của những người Tàu ra làm dinh, làm huyện, lấy Đồng Nai làm huyện Phúc Long và Sài Gòn làm huyện Tân Bình. Ông đặt Trấn Biên dinh (Biên Hòa), đất Trấn Biên thì lập làm xã Thanh Hà, và Phan Trấn dinh (Gia Định), đất Phan Trấn thì lập làm xã Minh Hương, rồi sai quan vào cai trị. Chúa Nguyễn lại chiêu mộ những kẻ lưu dân từ Quảng Bình trở vào để lập ra thôn xã và khai khẩn ruộng đất, lập sổ bộ nước Việt. Năm 1699, triều đình Chân Lạp tổ chức một cuộc phản công nhằm dành lại nhưng bị thất bại.
Năm 1739 Mạc Thiên Tứ mở rộng đất đai kiểm soát của mình sang bán đảo Cà Mau, Bạc Liêu, Hậu Giang, Sóc Trăng. Đưa thêm các vùng đất mới này vào Trấn Hà Tiên thuộc lãnh thổ Đàng Trong của chúa Nguyễn
Năm 1753, biết vua Chân Lạp là Nặc Nguyên thông sứ với chúa Trịnh ở ngoài Đàng Ngoài để lập mưu đánh chúa Nguyễn, chúa Nguyễn Phúc Khoát (阮福闊,Võ Vương, 1738-1765) sai Nguyễn Cư Trinh sang đánh Nặc Nguyên. Năm 1755, Nặc Nguyên (Ang Tong) thua bỏ thành Nam Vang chạy sang Hà Tiên nhờ Mạc Thiên Tứ, rồi xin dâng hai phủ Tầm Bôn và Lôi Lạp (nay là Long Xuyên và Cần Thơ) cho chúa Nguyễn để cầu hòa.
Logged

menthuong
Thành viên
*
Bài viết: 411


Nhất tướng công thành vạn cốt khô


« Trả lời #8 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2009, 11:30:40 am »

Năm 1757 Nặc Nguyên (Ang Tong) mất, chú họ là Nặc Nhuận đang xin chúa Nguyễn phong cho làm vua thì bị người con rể là Nặc Hinh giết và cướp ngôi. Quan tổng suất là Trương Phúc Du thừa kế sang đánh thắng Nặc Hinh. Chúa Nguyễn Phúc Khoát (阮福闊, 1738-1765) cho lập Nặc Tôn (Outey II), con Nặc Nhuận, vốn đang nương nhờ Mạc Thiên Tứ ở Hà Tiên trong lúc hoạn nạn, làm vua Chân Lạp. Nặc Tôn dâng đất Tầm Phong Long (vùng đất nằm giữa Sông Tiền và Sông Hậu tương ứng với Châu Đốc, Sa Đéc, Vĩnh Long, Trà Vinh) để tạ ơn chúa Nguyễn. Nặc Tôn lại dâng 5 phủ là Hương Úc, Cần Bột, Trực Sâm, Sài Mạt, Linh Quỳnh để tạ ơn Mạc Thiên Tứ (5 phủ này về sau khi Pháp thành lập Liên bang Đông Dương đã cắt trả về cho Cao Miên, ngày nay là 2 tỉnh Takéo và Kampot). Vương quốc Chân Lạp chính thức chấm dứt sự tồn tại. Mạc Thiên Tứ đem những đất ấy dâng chúa Nguyễn, chúa cho thuộc về trấn Hà Tiên cai quản.

Cuộc Nam tiến của Đại Việt đến đây kết thúc bởi phía trước đã là biển (Vịnh Thái Lan). Sau này quan dân Đại Việt luôn tâm niệm về cội nguồn Văn Lang của mình:

Từ thủa mang gươm đi mở cõi,
Ngàn năm thương nhớ đất Thắng Long.

Nguồn:
http://hoptuyenlsvh.blogspot.com/2005/02/tn-mn-v-qu-trnh-m-mang-b-ci-t-nc-vit.html
http://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_ti%E1%BA%BFn
http://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%A3nh_th%E1%BB%95_Vi%E1%BB%87t_Nam_qua_t%E1%BB%ABng_th%E1%BB%9Di_k%E1%BB%B3
http://www.vn.net/article.php/2008053123023240
Logged

lonesome
Moderator
*
Bài viết: 1244


« Trả lời #9 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2009, 02:14:14 pm »

Năm 1757 Nặc Nguyên (Ang Tong) mất, chú họ là Nặc Nhuận đang xin chúa Nguyễn phong cho làm vua thì bị người con rể là Nặc Hinh giết và cướp ngôi. Quan tổng suất là Trương Phúc Du thừa kế sang đánh thắng Nặc Hinh. Chúa Nguyễn Phúc Khoát (阮福闊, 1738-1765) cho lập Nặc Tôn (Outey II), con Nặc Nhuận, vốn đang nương nhờ Mạc Thiên Tứ ở Hà Tiên trong lúc hoạn nạn, làm vua Chân Lạp. Nặc Tôn dâng đất Tầm Phong Long (vùng đất nằm giữa Sông Tiền và Sông Hậu tương ứng với Châu Đốc, Sa Đéc, Vĩnh Long, Trà Vinh) để tạ ơn chúa Nguyễn. Nặc Tôn lại dâng 5 phủ là Hương Úc, Cần Bột, Trực Sâm, Sài Mạt, Linh Quỳnh để tạ ơn Mạc Thiên Tứ (5 phủ này về sau khi Pháp thành lập Liên bang Đông Dương đã cắt trả về cho Cao Miên, ngày nay là 2 tỉnh Takéo và Kampot). Vương quốc Chân Lạp chính thức chấm dứt sự tồn tại. Mạc Thiên Tứ đem những đất ấy dâng chúa Nguyễn, chúa cho thuộc về trấn Hà Tiên cai quản.

Cuộc Nam tiến của Đại Việt đến đây kết thúc bởi phía trước đã là biển (Vịnh Thái Lan). Sau này quan dân Đại Việt luôn tâm niệm về cội nguồn Văn Lang của mình:

Từ thủa mang gươm đi mở cõi,
Ngàn năm thương nhớ đất Thắng Long.

Nguồn:
http://hoptuyenlsvh.blogspot.com/2005/02/tn-mn-v-qu-trnh-m-mang-b-ci-t-nc-vit.html
http://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_ti%E1%BA%BFn
http://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%A3nh_th%E1%BB%95_Vi%E1%BB%87t_Nam_qua_t%E1%BB%ABng_th%E1%BB%9Di_k%E1%BB%B3
http://www.vn.net/article.php/2008053123023240


Từ thời anh em Sử Lễ Đài TTVNOL viết cái Hợp Tuyển đấy đến nay thì bên đó có nhiều bài mới hay hơn nhiều, bạn có rảnh qua đó cập nhật thông tin nhé.
Logged
Trang: 1 2 3 4 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM