Tìm hiểu về quá trình mở mang và hoàn thiện lãnhthổ Đại Việt (Việt Nam nay) tôi thấy xuất hiện tên một số vương quốc mà thời cận đại đã không còn tồn tại và thời đi học chúng tôi cũng chưa được biết đến. Sau đây là chút hiểu biết của tôi, chắc chắn còn sơ lược, thậm chí nhầm lẫn nên rất mang được CBCS trong QSVN bổ sung, sửa chữa và chỉ dẫn thêm.
Về một số vương quốc cổ:
1. Bồn Man:Tiểu quốc của người Thái này được thành lập vào khoảng năm 1369 sau khi nhà Nguyên mất quyền kiểm soát ở Vân Nam vào tay nhà Minh - Trung Quốc. Các bộ tộc người Thái ở phía nam Vân Nam, với sự hậu thuẫn của hoàng thân quan quân Đại Lý mất nước chạy xuống, dành được cơ hội độc lập trong lãnh thổ với phía tây và phía nam là vương quốc Lan Xang (Lão Qua), phía đông và phía bắc là Đại Việt. Vương quốc được các tù trưởng thuộc dòng họ Cầm 琴 cai trị ở Sầm Nưa (ngày nay là thị xã Sầm Nưa của Lào), dân số ước chừng 9 vạn hộ.
Năm Mậu Thìn (1448) Bồn Man (phía đông nam giáp tỉnh Nghệ An, tỉnh Quảng Bình, phía tây bắc giáp tỉnh Hưng Hóa, tỉnh Thanh Hóa của Đại Việt và phía tây tới tận Hủa Phăn của Lạn Xang) xin nội thuộc Đại Việt, Nhà Lê đặt làm châu Qui Hợp . Nhưng các thổ hào ở đây vẫn luôn quấy phá Đại Việt. Năm Quang Thuận thứ 10 (1469), triều Lê Thánh tông sai “Bảo chính công thần nhập nội Thiếu bảo trụ quốc” Lê Hy Cát (1438-1483) chỉ huy quân đi dẹp.
Năm 1478, Cầm Công (琴公,thủ lĩnh của Bồn Man) liên kết với Lão Qua (là đất Thượng Lào- tức Luang Prabang - ở phía Tây Bắc nước ta, có khi còn gọi là nước Nam Chướng) đem binh quấy nhiễu, cướp bóc ở khu vực phía tây của Đại Việt. Mùa Thu năm Kỷ Hợi (1479) Lê Thánh Tông sai “thái úy Lê Thọ Vực làm Chinh tây tướng quân, đi theo đường chính phủ Trà Lân; đô đốc Đông quân phủ Trịnh Công Lộ làm Chinh di tướng quân, đi theo đường An Tây; Trấn lỗ tướng quân Lê Đình Ngạn đi theo đường Ngọc Ma; Du Kỵ phó tướng quân Lê Lộng đi theo đường Thuận Châu và Mỗi Châu; Thảo tặc phó tướng quân Lê Nhân Hiếu đi theo đường phủ Thanh đô” từ Nghệ An, Thanh Hóa, Hưng Hóa đi đánh dẹp phá tan quân Bồn Man và Lão Qua. Nhân thế thắng, kéo vào thành Lão Qua, lấy được của báu. Vua Lão Qua phải chạy trốn, quân Đại Việt truy đánh tới lưu vực sông Mê Kông (Kim Sa) giáp với Miến Điện ngày nay. Sau đó, để dẹp loạn tận gốc, Thánh Tông lại sai Lê Niệm cầm quân sang đánh Bồn Man, tù trưởng Bồn Man là Cầm Công bị thua chết, người Bồn Man đều xin hàng. Sau khi Cầm Công bị giết, Lê Thánh Tông đã sát nhập lãnh thổ Bồn Man vào Đại Việt, đặt tên là xứ Trấn Ninh 鎮寧府 (Sầm Nưa sau này gọi là Sầm Châu) và giao cho một người họ hàng của Cầm Công là Cầm Đông 琴冬 làm Tuyên úy Đại sứ nhưng việc quản lý thực sự vẫn do các quan binh Đại Việt nắm. Đây là lần tây chinh xa nhất của Đại Việt. Từ đó, phần lãnh thổ này thuộc về Việt Nam.
Khi người Pháp thành lập Liên bang Đông Dương (Union Indochinoise,東洋聯邦, theo Sắc lệnh của Chính phủ Cộng hoà Pháp ký ngày 17 tháng 10 năm 1887, sau đó vào ngày 18/4/1899 có Sắc lệnh sát nhập thêm Lào) đã dựa theo địa hình và cắt tỉnh Houaphan (Hủa Phăn) giao về lãnh thổ Lào. Đây là vấn đề đã được lịch sử an bài !
Ngày nay, so với tuyến Tây nam và tuyến phía bắc thì vấn đề biên giới Việt-Lào tương đối yên ắng hơn. Đến 6/2008, hai bên đã thống nhất nội dung các văn kiện pháp lý, kỹ thuật, phục vụ việc thực hiện Dự án tăng dày và tôn tạo hệ thống mốc quốc giới Việt Nam-Lào, để báo cáo hai Chủ tịch Ủy ban liên hợp cắm mốc biên giới Việt Nam-Lào xem xét, thông qua.
2. Nước Dã Năng:Lý Bí 李畚,503-548) đánh thắng quân Lương (đầu 544), tự xưng là Nam Việt đế (南越帝,542-548), đặt tên nước là Vạn Xuân (萬春, 544-602). Tháng 6 năm 545, vua Lương Vũ đế cử Dương Phiếu, Trần Bá Tiên, Tiêu Bột đi đánh Vạn Xuân. Trần Bá Tiên là tướng giỏi nhà Lương. Quân Lương đến Giao Châu, Lý Nam đế mang quân ra đánh bị thua nặng mấy trận, mất thành Gia Ninh (545), lui về Tân Xương là vùng của người Lạo, lại bị quân Lương đánh úp tại hồ Điển Triệt (546), phải ẩn náu trong động Khuất Lạo, giao lại binh quyền cho tả tướng quân Triệu Quang Phục 趙光復.
Trong khi đó, Lý Phật Tử 李佛子 cùng anh Lý Nam Đế là Lý Thiên Bảo 李天寶 đem 3 vạn người vào Cửu Chân, đánh chiếm được Đức Châu (Hà Tĩnh), giết tướng nhà Lương là Trần Văn Giới. Sau đó, hai tướng họ Lý mang quân ra đánh Ái Châu (Thanh Hóa), Trần Bá Tiên mang quân tới đánh, Thiên Bảo và Phật Tử bị thua, bèn thu nhặt quân còn sót được vạn người chạy sang đất người Di Lạo ở Ai Lao.
Lý Thiên Bảo thấy động Dã Năng 也能 ở đầu nguồn Đào Giang, đất phẳng rộng màu mỡ có thể ở được mới đắp thành để ở, lấy tên đất mà đặt quốc hiệu. Đến bây giờ quân chúng tôn làm chúa, xưng là Đào Lang Vương 郎王. Lý Phật Tử là tướng dưới quyền. Năm 555, Thiên Bảo chết không có con nối, quân chúng suy tôn Lý Phật Tử lên nối ngôi. Sau đó áp dụng kế thống gia, lấy được mũ đâu mâu móng rồng dùng để đánh giặc của Triệu Việt Vương (趙越王, 546-571) đã đánh bại, truy đuổi buộc Triệu nhẩy xuống biển tự vẫn (cửa Đại Nha) lên làm vua cả nước, đóng đô ở Phong Châu. Vì Phật tử cũng xưng là Lý Nam Đế, nên đời sau gọi là Hậu Lý Nam Đế (後李南帝; 571-602) để phân biệt với nhà Lý 前李氏 của Lý Bí.
Năm 602, Tùy Văn Đế 隋文帝 cử Thứ sử Qua Châu là Lưu Phương. Vua Tùy xuống chiếu sai Phương thống lĩnh 27 doanh quân sang đánh sang đánh Vạn Xuân. Phương lấy họa phúc mà dụ. Hậu Lý Nam Đế sợ hãi xin đầu hàng, bị quân Tuỳ bắt đưa về Bắc rồi chết. Vạn Xuân của Lý Nam đế và Dã Năng chấm dứt.
3. Đại Lịch quốc:Đầu thế kỷ XI vùng châu Quảng Nguyên 廣源州 người Nùng (bên TQ gọi là Choang) hay nổi loạn gây mất ổn định vùng biên cả Đại Việt và Đại Tống. Nùng Tồn Phúc 儂存福 được Lý Thái Tông phong ở châu Thảng Do 儻猶州, em là Nùng Tồn Lộc 儂存祿 được phong ở châu Vạn Nhai, em vợ là Dương Đức được phong ở châu Vũ Lạc. Năm 1038, Nùng Tồn Phúc nổi dậy ở phía bắc nước Đại Cồ Việt, giết chết Nùng Tồn Lộc và Dương Đức chiếm lấy đất, tự xưng là Chiêu Thánh hoàng đế 昭聖皇帝, lập A Nùng 阿濃 làm Ninh Đức Hoàng hậu, đặt quốc hiệu là Trường Sinh quốc (長期國,Chang Qi Guo) rồi đem quân đi đánh phá các nơi. Có lẽ vì Tồn Lộc và Dương Đức không đồng tình với việc phản nhà Lý của Tồn Phúc nên bị giết. Năm 1039, vua Lý Thái Tông thân chinh đi đánh, bắt được Nùng Tồn Phúc và con là Nùng Tri Thông đem về kinh xử tử. A Nùng và Nùng Trí Cao chạy thoát được.
Năm Tân Tị (1041) Nùng Trí Cao (儂智高; 1025-1055) hoặc Nông Trí Cao cùng với mẹ về lấy được châu Thảng Do (gần châu Quảng Nguyên) lập ra nước Ðại Lịch 大曆國, sau lại đổi thành Nam Thiên Quốc 南天國 với cương giới gần phủ kín hai tỉnh Quảng Tây và Quảng Đông. Thái Tông sai tướng lên đánh, bắt được Nùng Trí Cao. Vua thương tình tha tội chết và cho làm Quảng Nguyên Mục và gia phong cho tước Thái Bảo. Nhưng năm Mậu Tý (1048), Nùng Trí Cao lại nổi dậy, chiếm giữ động Vật Ác (phía tây Cao Bằng), xưng là Nhân Huệ hoàng đế 仁惠皇帝, quốc hiệu là Ðại Nam 大南 chống lại triều đình.Vua sai tướng Quách Thịnh Dật 郭盛溢 lên đánh, Trí Cao lại đầu hàng. Tuy nhiên, theo giai thoại của người Tày - Thái địa phương, khi quân Lý tới nơi, ông nói với Quách Thịnh Dật đừng tiến quân, ông sẽ không gây hấn với nhà Lý nữa mà sẽ tiến sang phương Bắc.
Năm 1052, Nùng Trí Cao lại nổi dậy lần nữa, tự xưng là Nhân Huệ hoàng đế, đặt quốc hiệu là Đại Nam. Để tăng thêm thanh thế, ông xin phụ thuộc vào Trung Quốc, vua Nhân Tông nhà Tống không cho. Trí Cao bèn đem quân sang đánh Trung Quốc. Được sự hậu thuẫn của các thủ lĩnh người Thái - Tày ở Quảng Tây là Nùng Trí Trung, Nùng Kiến Hậu, thanh thế Trí Cao càng thêm lớn mạnh. Ông đánh lấy Ung châu, rồi sau đó chiếm cả thảy được 8 châu ở đất Quảng Đông và Quảng Tây, bao gồm: Hoành châu 橫, Quý châu 貴, Cung châu 龔, Tầm châu 潯, Đằng châu 籐, Ngô châu 梧, Khang châu 康, Đoan châu 端州. Do đó Phong sử có câu:
Mở mang, mang chạy lên rừng,
Ta hay mang chạy ta đừng mở mang.
Nhà Tống lo sợ. Lý Thái Tông dâng biểu sang Trung Quốc xin mang quân phối hợp đánh Nùng Trí Cao. Khi quân Đại Cồ Việt sắp vào biên giới, tướng nhà Tống là Địch Thanh can Tống Nhân Tông rằng: “Có một Nùng Trí Cao mà đất Lưỡng Quảng không chế được, lại phải nhờ quân ngoại quốc vào đánh giúp. Nếu có ai nhân đó mà nổi loạn, thì làm thế nào?”. Vua Tống nghe lời bèn sai các tướng Dư Tĩnh và Tôn Miện đi đánh Nùng Trí Cao và sai sứ nói với Lý Thái Tông rằng không cần quân Lý giúp. Dư Tĩnh đánh mãi không được, nhà Tống lấy làm lo. Nhân khi Trí Cao dâng biểu xin lĩnh chức Tiết độ sứ Ung châu và Quý châu, vua nhà Tống đã toan thuận cho, Địch Thanh lại can không nên chấp thuận và xin đem quân đi đánh.
Đầu năm 1053, Địch Thanh ra hợp quân với Dư Tĩnh và Tôn Miện đóng ở Tân Châu (Liễu Châu tỉnh Quảng Tây), hội các tướng lại cấm không cho ra đánh nhau. Bấy giờ có quan Kiềm hạt tỉnh Quảng Tây là Trần Thự trái tướng lệnh đem quân đi đánh bị thua, Địch Thanh đem chém, rồi lệnh cho quân nghỉ 10 ngày. Quân đi thám biết chuyện về báo Trí Cao biết. Trí Cao tưởng là quân nhà Tống không dám đánh, bèn không phòng giữ. Địch Thanh đem quân đến cửa Côn Lôn (gần phủ Nam Ninh) đánh Nùng Trí Cao. Lúc đang đánh nhau, Địch Thanh đem quân kỵ đánh hai bên tả hữu áp lại, quân của Trí Cao tan vỡ, tướng dưới quyền là Hoàng Sư Mật và 57 người tử trận. Quân Tống đuổi theo giết hơn 2200 quân của Trí Cao. Ông đốt thành bỏ chạy.
Tháng 10 năm 1053, Trí Cao sai thủ hạ là Lương Châu đến cầu cứu Đại Cồ Việt. Lý Thái Tông sai chỉ huy sứ Vũ Nhị đi tiếp ứng cho Trí Cao. Nhưng quân Lý chưa tới nơi thì Trí Cao lại bị Địch Thanh đánh bại, phải chạy trốn sang nước Đại Lý. Quân Lý rút về.
Năm 1055, thời vua Lý Thánh Tông ở Việt Nam, Đô giám nhà Tống là Tiêu Chú lại theo đường Đặc Ma (Vân Nam) đánh úp, bắt được mẹ Trí Cao là A Nùng, em Trí Cao là Trí Quang, con là Kế Phong. Quân Tống lại mộ những người cảm tử vào đất Đại Lý để lùng tìm Trí Cao. Quân cảm tử chưa tới thì người nước Đại Lý ngại gây hấn với nhà Tống đã bắt Nùng Trí Cao chém chết, mang đầu đem nộp nhà Tống. Nhà Tống giết luôn gia quyến của Trí Cao. Nhưng sử Trung Hoa gọi ông là Lưu Trang đã theo Triệu Khuông Dẫn về thủ đô nước Tống được đối đãi trọng hậu với tước Hầu trong hàng quí tộc nước Tống sau bị Tống Thái Tổ giết vì muốn dùng rượu độc để hạ sát Tống Thái Tổ. Con Nùng Trí Cao là Nùng Trí Hội được nhà Tống cho coi châu Qui Hoá (1073).
Hiện nay còn di tích thành Na Lữ, nơi ông đóng quân, ở gần thị xã Cao Bằng. Đền Khâu Sầm (Kỳ Sầm) đại vương thờ Nùng Trí Cao vẫn còn ở Cao Bằng, lễ hội đền Khâu Sầm vẫn được tổ chức hằng năm.