Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 11:12:27 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lý thuyết quân sự Trung Hoa  (Đọc 61240 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
dungrommel
Thành viên
*
Bài viết: 237


WWW
« Trả lời #10 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2009, 12:25:56 am »

B.   Loại trừ các nguyên nhân gây ra Chiến tranh
 Theo quan điểm cũ về thiên hạ, Trung Hoa không giống một quốc gia thời nay. Vua nước Tàu được gọi là Thiên Tử, được coi là biểu tượng của đạo đức và hòa hài. Ngày nào nhà vua còn thi hành nhân chính, đối xử thân ái và gương mẫu cho mọi người, Trời còn thương và giúp cho thanh bình trù phú, ngày đó còn có Mệnh Trời. Mọi người sống trong thiên hạ đều là thần dân và phải có nhiệm vụ trung thành với nhà vua. Qui tắc đó không phải chỉ áp dụng cho người Trung Hoa mà trên một mức độ nào đó áp dụng cho cả những dân tộc man di ở biên giới. 
Để làm tròn nhiệm vụ gìn giữ hòa bình và trật tự, nhà vua có trách nhiệm loại trừ tất cả những gì đang hoặc có thể gây ra bạo loạn làm gián đoạn thanh bình của vương quốc. Sự rối loạn tồi tệ nhất chính là chiến tranh. Chiến lược quốc gia dùng trong trấn áp bạo loạn và ngăn ngừa chiến tranh là phú và cường. Giàu có nhờ quản trị kinh tế quốc gia, mạnh mẽ nhờ chuẩn bị quân sự.
  Như Thái Công đã đề cập trong Lục Thao, nếu quốc gia nghèo (hay chưa đủ giàu có), thì không có cách gì có thể thi hành đức Nhân. Cho nên, nhà vua phải tìm cách làm cho nước giàu. Thực tế là có giàu mới mạnh được. Theo Thái Công, bậc quân vương phải quản trị cho khéo léo 3 kho lẫm: nông nghiệp, kỹ nghệ và thương mại. Khi nhân dân được phép làm ăn riêng, quốc gia sẽ đủ ăn, đủ dùng và nhà vua sẽ được yên ổn. 
Tư Mã Pháp khuyên nhà vua nên cai trị hợp với đạo trời và phát triển kinh tế. Có như thế, các chư hầu mới có thể tuân phục và được các lân bang liên minh. Được vậy thì ngục thất trống rỗng và chiến tranh sẽ không xảy ra. 
Tôn Tử và Ngô Tử, trên cương vị một chiến lược gia, không để ý nhiều đến các chính sách xã hội -chính trị trong các vấn đề họ đưa ra ngoại trừ nhận định rằng những vấn đề đó có thể ảnh hưởng đến tiềm năng chiến tranh. Chẳng hạn như Tôn Tử cho rằng người lãnh đạo phải vun trồng Tu Đạo (Xiu Dao) và duy trì một tổ chức hay hệ thống thích hợp (Bảo Pháp) ngõ hầu đưa tới những chính sách thắng lợi.11
 Nếu được như thế, dân chúng sẽ hoàn toàn ủng hộ nhà cầm quyền và sẽ theo tới cùng không nề nguy hiểm.12
 Ngô Tử tin rằng nếu bậc quân vương chuẩn bị chiến tranh với một nước khác, trước hết ông phải dạy cho dân và thể hiện tình lân tuất đối với họ. Nếu người dân biết rằng nhà vua yêu thương và xót xa khi họ chết, họ sẽ sát cánh với nhà vua đối phó với các vấn đề khó khăn và cảm thấy tiến lên chết cho quốc gia là một điều vinh hạnh, xấu hổ khi thụt lùi để bảo tồn mạng sống.13 
Tôn Tử và Ngô Tử thực sự quan tâm chỉ là làm sao thắng trận. Hòa hài và trật tự là những điều họ đề cập nhưng không nói tới phát triển kinh tế. 
Úy Liễu Tử nhấn mạnh vào chiến thắng bằng Đạo hay ảnh hưởng luân lý. Thắng bằng Đạo là thắng lợi của nhà cầm quyền, là thắng lợi mà không cần phải dương oai diệu võ. Làm sao có thể đạt tới thắng lợi đó ? 
Bậc quân vương phải quan tâm đến tất cả mọi người dân sống trong nước và không để một tấc đất bỏ hoang. Khi đất được cày cấy, nước sẽ giàu và dân sẽ no đủ. Do đó, dân tăng lên và được cai trị một cách thích dáng, nước sẽ yên. Khi nước giàu có và yên ổn, thì nhà cầm quyền đủ tư cách để cai trị Thiên Hạ. Những chiến lược gia thời cổ dường như tin rằng nếu nhà vua cai trị quốc gia bằng đạo đức
 11 Nguyên văn: Thiện dụng binh giả, tu đạo nhi bảo pháp, cố năng vi thắng bại chi chính. (Tôn Tử Binh Pháp, Quân Hình Thiên)
 12 Nguyên văn: Kim dân dữ thượng đồng ý, khả dữ chi tử, khả dữ chi sinh, nhi bất úy nguy dã.(Tôn Tử Binh Pháp, Thủy Kế Thiên)
13 Nguyên văn: Tích chi đồ quốc gia giả, tất tiên giáo bách tính nhi thân vạn dân. Dân tri quân chi ái kỳ mệnh, tích kỳ tử, nhược thử chi chí, nhi dữ chi lâm nan, tắc sĩ dĩ tiến tử vi vinh, thoái sinh vi nhục hĩ. (Ngô Tử Binh Pháp, Đồ Quốc thiên)
và nhân chính thì không những có thể giữ cho đất nước thanh bình và trật tự mà còn có thể khiến cho các nước khác thần phục Trung Hoa. Nếu được như thế thì rối loạn hay chiến tranh sẽ chấm dứt. Tuy nhiên, không phải vì thế mà loại hẳn việc quân sự. Khổng Tử nhấn mạnh đến cả lương thực lẫn khí giới đối với một chính quyền. Ông còn nhắc nhở là nếu nhà vua không dạy cho thần tử kỹ thuật binh bị thì cũng là bỏ rơi họ.14 Úy Liễu Tử cho rằng chuẩn bị chiến tranh cũng quan trọng chẳng khác gì chiến đấu. 14 Dĩ bất giáo dân chiến, thị vị khí hĩ. (Luận Ngữ, Tử Lộ).
 Đối với các chiến lược gia cổ thời, khi nào đất nước còn phú cường, thì còn khiến cho vui lòng kẻ gần và lôi cuốn kẻ xa. Triết học đó sau này được các Pháp gia chấp nhận và nhấn mạnh vào sự quan trọng của sức mạnh trong tương quan giữa nước này với nước khác. Họ tin rằng khi nước mạnh thì các nước chung quanh sẽ thần phục, còn khi nước yếu thì lại phải triều cống nước khác. Do đó, các Pháp gia nhấn mạnh vào canh nông và chiến đấu là những chính sách chủ yếu trong nhiều nước thời Chiến quốc.
C.   Việc liên minh 
Thay vì dựa hoàn toàn vào việc loại trừ chiến tranh, các chiến lược gia thời xưa thường liên minh với các quốc gia khác để ngăn ngừa hay thủ thắng trong chiến trận. 
Như đề cập ở trên, vào thời Xuân Thu, Chiến Quốc, các vương hầu đã phát triển tương quan giữa các quốc gia tương tự như liên hệ ngoại giao ngày nay để ngăn ngừa chiến tranh. Về sau, khi chiến tranh không thể tránh được, việc liên minh trở nên một phương thức quan trọng để làm mạnh cho ta và làm suy yếu địch. Tôn Tử có nói rằng:
Phá hủy sự liên minh của địch là phương thức hạng nhì trong việc thủ thắng, chỉ đứng sau việc tấn công vào chiến lược của địch. Đó là hình thức thắng mà không cần chiến tranh.
 Khi Ngô Tử bàn về các yếu tố có thể ảnh hưởng đến quyết định của bậc quân vương có nên có chiến tranh hay không, ông nói rằng ” khi lân bang không đến giúp kẻ địch, thì có thể đánh mà không cần phải bói toán gì cả. Trái lại khi khắp nơi đổ về giúp đỡ và nước địch lại được các nước lớn giúp đỡ (tứ lân chi trợ, đại quốc chi viện), thì tốt hơn hết là nên tránh đi ”. Úy Liễu Tử lại không tin vào liên minh. Theo ông, một nước phải triều cống, nhượng đất để được đồng minh giúp đỡ thì đồng minh đó chưa thể tin được vì không binh lính nào đánh cho nước khác mà lại cũng hăng hái như đánh cho nước mình.
 Quan niệm tìm kiếm đồng minh trong thời Xuân Thu, Chiến Quốc là một hiện tượng độc nhất vô nhị giữa các chư hầu. Theo truyền thống Trung Hoa, nếu vì lý do nào đó mà vua đem quân đánh chư hầu hay nhung địch, thì nhà vua chỉ cần hặc tội người đó và truyền lệnh cho các nước khác đi theo chinh phạt. Các chư hầu bắt buộc phải theo mệnh vua mà đem quân đến giúp. Cho nên không có liên minh giữa Thiên Tử và chư hầu. 
Hình ảnh rõ rệt nhất về việc liên minh để giành quyền lực giữa các quốc gia sau thời Xuân Thu, Chiến Quốc là thời Tam Quốc. Vận dụng ngoại giao giữa các nước Ngụy, Thục, Ngô là những thí dụ rõ ràng trong việc tìm liên minh và phá liên minh của địch. Cùng với việc sử dụng gián điệp, việc liên minh và phá liên minh đã trở thành những phần vụ quan trọng trong chiến lược của người Trung Hoa. Dưới lý thuyết chiến tranh nhân dân, hoạt động bí mật do các tiểu tổ Cộng Sản đã có tác dụng hết sức lớn lao trong việc chiến thắng giữa Quốc Dân Đảng của Đảng Cộng Sản vào năm 1949. Mặt Trận Liên Minh là một chiến lược tuyệt diệu của Mao dùng để liên minh với nhiều giai tầng trong xã hội để chống lại kẻ thù. Tất cả những chiến lược đó đều tìm thấy trong các binh thư cổ. 
Logged

Không có bạn bè vĩnh viễn và kẻ thù vĩnh viễn. Tất cả chỉ vì sự tồn tại của mình.
Khi hai bàn tay nắm chặt và buông lơi một đất nước vĩ đại sẽ hình thành hoặc bị diệt vong.
dungrommel
Thành viên
*
Bài viết: 237


WWW
« Trả lời #11 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2009, 12:27:56 am »

D.   Chuẩn bị chiến tranh
 Trước khi quyết định đi tới chiến tranh, cần phải chuẩn bị một số giai đoạn thì mới có thể bảo đảm chiến thắng.
a/ Lượng giá lực lượng địch và đặt kế hoạch cho chiến tranh
 Như Tôn Tử đã nói, chiến tranh là việc quan trọng sinh tử cho một quốc gia, con đường sống còn hay bị tiêu diệt. Cho nên, trước khi khởi chiến, nhà vua và cận thần phải đánh giá chính xác lực lượng địch trên cả hai phương diện chiến lược và chiến thuật để xem có thể thắng hay không và thắng như thế nào.
 Trên phương diện chiến lược, đấng quân vương và triều đình phải quan tâm đến các vấn đề sau: tình trạng kinh tế và xã hội chính trị của địch, các tương quan quốc tế, tài nguyên chiến tranh, khả năng chiến đấu và đạo đức của quân địch, tổ chức cơ ngũ của họ và khu vực chiến trường. 
Các vấn đề chiến thuật quan trọng nhất là việc sử dụng lực lượng quân sự trong những điều kiện có sẵn để đạt một số mục tiêu chiến lược. Cơ ngũ của địch, tinh thần binh sĩ, tiếp liệu và địa hình , thời tiết và các yếu tố ngẫu nhiên khác trên chiến địa cũng có thể hưởng đến hành quân cần phải lượng giá một cách chính xác vào thời gian các tướng lãnh tại mặt trận.
 Trong việc lượng giá sức mạnh của địch, một số chiến lược gia thời xưa như Tôn Tử và Thái Công chẳng hạn thảo luận cả chiến lược lẫn chiến thuật một cách chi tiết, những người khác chỉ đề cập sơ qua mà không phân biệt đâu là chiến lược đâu là chiến thuật.
 Trong phần này chúng tôi sẽ chủ yếu bàn về các vấn đề chiến lược còn các vấn đề chiến thuật sẽ để ở phần sau. 
Theo Tôn Tử, chiến tranh bị chi phối mạnh mẽ bởi 5 yếu tố quan trọng. Đó là tinh thần binh sĩ, thời tiết, địa hình, cấp chỉ huy, quân luật và tổ chức. Khi quyết định những điều kiện quân sự, các yếu tố đó được dùng làm căn bản để so sánh với 7 trạng thái: vua nào có chính nghĩa, tướng nào có tài hơn, quân đội nào có lợi thế về thiên nhiên và địa hình, bên nào quân luật và lệnh lạc được thi hành nghiêm chỉnh hơn, quân đội nào mạnh hơn, bên nào có các cấp chỉ huy huấn luyện kỹ hơn, bên nào thưởng phạt công minh hơn.15 
Nếu tính toán kỹ lưỡng dựa trên những yếu tố và trạng thái nêu trên, người ta có thể tiên đoán bên nào thắng, bên nào bại.
 Để lượng giá địch quân, Ngô Tử đưa ra một số nhận xét về tình trạng quân sự của các quốc gia căn cứ vào tính chất và tình trạng chính trị của mỗi nước. Ông không phân biệt các vấn đề chiến lược với các vấn đề chiến thuật. Chẳng hạn như khi lượng giá về tình trạng địch quân, ông đưa ra 8 điều kiện có thể đánh mà không cần bói toán. Tất cả những trường hợp đó đều có những lợi điểm đặc biệt trên chiến trường khiến có thể tấn công ngay. Thí dụ ”vào lúc có gió lớn hay đại hàn địch quân dậy sớm để phá băng nên mỏi mệt, thứ hai là nóng nực giữa mùa hạ dậy trễ ...thứ tám là khi địch quân chưa hàng ngũ chỉnh tề, chưa đóng trại hay khi tiến vào vùng đồi núi ...16
 Tất cả những dữ kiện trên thuộc về chiến thuật. Tuy nhiên, ông cũng liệt kê 6 tình huống hoàn toàn nên tránh tấn công địch vì là những vấn đề chiến lược. Chẳng hạn như:
Thứ nhất là địch quốc rộng, dân đông và giàu có.
Thứ hai, khi người trên yêu thương kẻ dưới và lòng nhân của họ lan tràn khắp nơi.
 Thứ ba là thưởng phạt phân minh và cai trị thích đáng.
Thứ tư là người có tài được trọng dụng, người khôn ngoan được giao trách nhiệm và người có khả năng được giao công việc.
 Thứ năm là quân đội lớn và trang bị đầy đủ.
 Thứ sáu là được sự giúp đỡ khắp mọi nơi và những nước mạnh phò tá.
Nói chung là nếu không bằng địch quân trong những điều kiện này thì nên tránh.17

15 Nguyên văn: Sở vị ngũ cá cơ bản vấn đề bất ngoại hồ đạo, thiên, địa, tướng dữ pháp. Cố kinh chi dĩ ngũ sự, hiệu chi dĩ kế, nhi sách kỳ tình: nhất viết đạo, nhị viết thiên, tam viết địa, tứ viết tướng, ngũ viết pháp. Viết quân thục hữu đạo, tướng thục hữu năng, thiên địa thục đắc, pháp lệnh thục hành, binh chúng thục cường, sĩ tốt thục luyện, thưởng phạt thục minh, ngô dĩ thử tri thắng phụ hĩ. (Tôn Tử Binh Pháp, Thủy Kế Thiên)
16 Nguyên văn: Phàm liệu địch, hữu bất bốc nhi dữ chi chiến giả bát: nhất viết tật phong đại hàn, tảo hưng ngụ quyển, phẫu băng tế thủy, bất đạn gian nan. Nhị viết thịnh hạ viêm nhiệt, yến hưng vô gián, hành khu cơ khát vụ ư thủ viễn ... Bát viết trận nhi vị định, xá hi vị tất, hành phản thiệp hiểm, bán ổn bán xuất, chư như thử giả kích chi vật nghi. (Ngô Tử Binh Pháp, Liệu Địch Thiên)
17 Nguyên văn: Nhất viết thổ địa quảng đại, nhân dân phú chúng. Nhị viết thượng ái kỳ hạ, huệ thi lưu bố. Tam viết thưởng tín hình sát, phát tất đắc thời. Tứ viết trần công cư liệt, nhiệm hiền sử năng. Ngũ viết sư đồ chi chúng, binh giáp chi tinh. Lục viết tứ lân chi trợ, đại quốc chi viện. Phàm thử bất như địch quân, tị chi vật nghi. (Ngô Tử Binh Pháp, Liệu Địch Thiên)
 Sáu trường hợp này cũng tương tự với 5 yếu tố căn bản mà Tôn Tử đã nói tới, là những điều triều đình cần phải lượng định chính xác trước khi ra quân. Không một yếu tố nào trong những yếu tố này lại có thể quyết định tại mặt trận sau khi đã khởi binh.
 Để chuẩn bị cho chiến tranh, Úy Liễu Tử nhấn mạnh sự cải thiện tình trạng kinh tế -xã hội và chính trị quốc gia. Việc củng cố các trung tâm kinh tế và dân cư, việc khẩn hoang, lôi cuốn dân ngụ cư để quốc gia thêm trù phú an ninh đều là những chiến lược quan trọng. Để theo đuổi những chiến lược này, theo Úy Liễu Tử, bậc quân vương phải bành trướng thẩm quyền ra khắp thiên hạ mà không phải dùng đến việc binh. 
Ông không bàn cãi về việc làm cách nào để lượng giá địch và làm sao để quyết định là có gây chiến hay không ngoại trừ việc nói là ”khi nhìn thấy có thể thắng, thì hãy đánh, nếu không thì tránh đi”. Tuy nhiên, ông đề nghị một kế hoạch năm giai đoạn cho chiến tranh: trước hết, quyết định những chiến lược căn bản trong buổi họp với bách quan, cử nguyên soái, đặt kế hoạch tấn công và chiến lược tự vệ, và sau cùng là khởi chiến. Ông nhấn mạnh vào chiến lược phá hủy tinh thần quân địch để ép chúng phải rút lui mà không cần đánh. 
Thái Công thảo luận về những vấn đề chiến lược trong gần một nửa đầu của cuốn Lục Thao. Ông phân tách các chiến lược chính trị kể cả các chính sách quốc nội, các chính sách cá nhân, việc sử dụng thủ đoạn, và các nguyên tắc hành quân. Một số những vấn đề này liên quan tới việc lượng định sức mạnh của địch.
 Thái Công rất quan tâm về việc củng cố sức mạnh của lực lượng cách mạng và làm suy yếu sức mạnh của địch trước khi khởi sự. Ông khuyên Văn Vương vun trồng đức độ, kính trọng hiền tài và thi hành nhân chính trong nước để được đại chúng ủng hộ. Đồng thời, ông đề ra nhiều thủ đoạn kể cả hối lộ, mỹ nhân kế, gián điệp hầu tạo ra tham nhũng, mất trật tự, và loạn lạc trên đất địch để phá vỡ sự đoàn kết chính trị và quân sự. Ông cẩn thận quan sát những thay đổi trên các chính sách của địch, đạo đức và tính hạnh của từng cá nhân, những cận thần tâm phúc và những người thân với vua hay bị vua xa lánh. Khi thấy kẻ địch bị thiên tai và nhân họa nặng nề, ông mới khuyên Văn Vương nổi dậy. Ông lượng định tình trạng của nhà Thương và nói với Văn Vương là ”thiên tử nhà Thương đã bị bao vây bởi cận thần phản phúc và xấu xa và đắm mình trong sắc dục với tì thiếp, không làm tròn nhiệm vụ. Hơn nữa, ruộng nhiều cỏ hơn là lúa, triều đình nhiều kẻ xấu và gian hơn là trung lương hiền đức, quan lại áp bức nhân dân không còn đếm xỉa gì đến luật lệ hay lương tâm. Đây là lúc nước đang sắp đổ”. Sau khi phân tích như thế, Thái Công khuyên Văn Vương nếu giương cao ngọn cờ cách mạng và khởi binh thì quân đi đến đâu, mọi người sẽ công nhận quyền lãnh đạo và theo ông tới đó.
Trên phương diện chiến thuật, Thái Công cũng giống Tôn Tử và Ngô Tử. Ông nhấn mạnh các nguyên tắc quan sát trực tiếp tại mặt trận và áp dụng mưu mẹo tùy theo địa hình, thời tiết và các điều kiện khác. Những vấn đề đó sẽ được bàn trong những phần sau. 
Cũng như Úy Liễu Tử, khi bàn về chuẩn bị chiến tranh, Tư Mã Pháp chú trọng đặc biệt đến việc thiết lập pháp chế, cắt đặt đúng người, vận động để cho nhân dân ủng hộ chiến tranh và tích trữ chiến cụ ... Sau đó, nhà vua còn phải xét 5 yếu tố: thiên nhiên, vật liệu, tinh thần, địa hình và khí giới. Dùng những yếu tố đó để lượng định, nhà vua có thể tiên tri được sẽ thắng hay không. Đó là những vấn đề chiến lược cần quan tâm nghiên cứu trước khi ra quân. Khi bàn về những nguyên tắc của hoạt động chiến thuật tại chiến trường, Tư Mã Pháp thực sự chỉ liệt kê trong hoàn cảnh nào phải làm gì. Thí dụ như ”không đoàn quân nào bị bắt phải chiến đấu liên tục trên ba ngày, không binh đội nào phải chiến đấu liên tục trên nửa ngày và không binh sĩ nào bị bắt phải chiến đấu liên tục trên 2 giờ”
 b/ Việc tuyển tướng và tính độc lập của đạo làm tướng
  Việc đề cử các tướng và tính độc lập của tư cách chỉ huy luôn luôn là những vấn đề quan yếu trong nghệ thuật chiến tranh thời xưa. Tài năng và đức độ của một vị tướng được coi là những yếu tố quan trọng có thể ảnh hưởng đến kết quả trận chiến. Khi một vị tướng được chỉ định thống lãnh quân đội ra trận, việc đăng đàn bái tướng là một đại sự. Đích thân nhà vua phải chủ tọa và hành lễ trao toàn quyền để vị tướng có thể hành xử một cách độc lập tại mặt trận mà nhà vua không được can thiệp đến. 
Theo Tôn Tử, một tướng giỏi phải có những đức như khôn ngoan, thành thực, nhân hậu, can đảm và nghiêm minh. Nếu có đủ những đức tính đó và được trao cho binh quyền thì nhà vua phải tin tưởng vào sự quyết định của vị tướng đó mà không tự mình chỉ huy quân lính. Một đấng quân vương có thể đem lại đại họa nếu không biết gì về việc binh mà lại muốn nắm quyền ban hành lệnh lạc. Cho nên, Tôn Tử đề nghị là có những trường hợp lệnh của vua không phải thi hành.18
Ngô Tử tin rằng vị tướng phải có cả khả năng cai trị lẫn khả năng điều quân. Ông ta phải chú tâm vào 5 vấn đề: hành chánh, chuẩn bị, quyết tâm, cẩn trọng và kinh tế. Dĩ nhiên ông ta phải hết sức đức độ, nhân từ và can đảm để lãnh đạo. Nếu đất nước có những vị tướng như thế ắt sẽ mạnh. Nếu mất các người tài như thế sẽ bị tổn hại lớn.19
18 Nguyên văn: Bất tri tam quân chi sự, nhi đồng tam quân chi chính, tắc quân sĩ hoặc hĩ. Bất tri tam quân chi quyền, nhi đồng tam quân chi nhiệm, tắc quân sĩ nghi hĩ. Tam quân ký hoặc thả nghi, tắc chư hầu chi nạn chí hĩ. Thị vị loạn quân dẫn thắng. (Tôn Tử, Mưu Công thiên)
19 Nguyên văn: Cố tướng chi sở thận giả ngũ: nhất viết lý, nhị viết bị, tam viết quả, tứ viết hình, ngũ viết ước. Nhiên kỳ uy đức nhân dũng, tất thị dĩ tất hạ an chúng, bố địch quyết nghi, thi lệnh nhi hạ bất phạm, sở tại khấu bất cảm địch. Đắc chi quốc cường, khứ chi quốc vong, thị vị lương tướng. (Ngô Tử, Luận Tướng Thiên)
  Úy Liễu Tử ví tướng như trái tim mà phụ tá như chân tay. Khi vị tướng chỉ huy tại trận tiền, ông phải hoàn toàn chỉ huy dựa trên phán đoán của mình chứ không dựa vào thiên văn hay địa lý (theo nghĩa huyền bí) . Ông ta cũng phải bỏ qua lệnh của nhà vua và không màng đến sự hiện diện của kẻ thù. Ông ta phải can đảm như hổ lang và hành động nhậm lẹ như sấm chớp. Ông ta cũng không dễ dàng nổi nóng hay bị mua chuộc. Những đức tính đó là căn bản để cho vị tướng có thể được ban cho toàn quyền chỉ huy. Úy Liễu Tử nhấn mạnh đặc biệt vào kỷ luật nghiêm minh. Không dung tha bất cứ ai phạm pháp. Tử hình là hình phạt duy nhất. Ông viết:
Ta nghe nói tướng giỏi thời xưa kẻ nào dám giết đi một nửa quân của mình nếu họ phạm tội là kẻ bình được thiên hạ, dám giết đi một phần ba thì làm nên nghiệp bá, kẻ nào dám giết một phần mười thì chắc chắn rằng lệnh ban ra quân sĩ phải theo.
 Kỷ luật nghiêm khắc có một hậu quả to lớn đối với quân đội của Trung Hoa. Tuy nhiên không phải Úy Liễu Tử chỉ đặt nặng vấn đề giết chóc. Ông cũng đề cao việc tướng lãnh phải có đức độ để làm gương cho sĩ tốt. Chẳng hạn như khi gặp khó khăn, kẻ làm tướng phải đích thân tham gia, chia xẻ khó khăn với binh lính. Ông viết:
Tướng không được che dù khi trời nắng gắt, cũng không được mặc áo ngoài khi trời lạnh giá. Khi có đường khó trước mặt, tướng phải xuống xe, xuống ngựa đi bộ với lính. Không đủ nước cho binh sĩ thì không được uống, không đủ thực phẩm cho binh sĩ thì không được ăn, không được dựng lều khi lính chưa hạ trại. Dù khó khăn tới mức nào thì tướng lãnh cũng phải chia xẻ với binh lính. Nếu tướng lãnh còn giữ được như thế thì binh đội còn tinh thần.
Khi đề cập đến việc độc lập trong chỉ huy, Thái Công đã viết thêm: 
Vấn đề quân sự không lệ thuộc vào lệnh của nhà vua. Mọi lệnh lạc đều do tướng.
Để bảo đảm rằng tướng có quyền chỉ huy độc lập, Thái Công nhấn mạnh vào nghi thức phong tướng. Nhà vua phải công khai tuyên bố một cách nghiêm trang giao toàn quyền cho vị nguyên nhung.
Logged

Không có bạn bè vĩnh viễn và kẻ thù vĩnh viễn. Tất cả chỉ vì sự tồn tại của mình.
Khi hai bàn tay nắm chặt và buông lơi một đất nước vĩ đại sẽ hình thành hoặc bị diệt vong.
dungrommel
Thành viên
*
Bài viết: 237


WWW
« Trả lời #12 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2009, 12:28:21 am »

c/ Các vấn đề hậu phương và tiếp liệu từ quân địch
 Bất cứ viên chức chỉ huy quân sự nào cũng biết rằng tiếp liệu thiếu thốn sẽ làm suy giảm nghiêm trọng sức chiến đấu. Nếu thiếu thốn quá, sự tồn vong của đoàn quân cũng bị đe dọa. Các chiến lược gia cổ thời của Trung Hoa rất quan tâm tới vấn đề này. Tôn Tử bàn rất chi tiết. Khi tính toán sự tốn phí của một đạo quân 10 vạn người, ông viết:
 Trong việc điều hành chiến đấu, nếu trên chiến trường có một ngàn cỗ xe, một ngàn cỗ xe bọc da trâu, mười vạn giáp binh, mang lương đủ cho một ngàn dặm, cả chi phí tại mặt trận lẫn ở nhà, kể cả đãi khách, từ món nhỏ như keo sơn, tiền tiêu cho các cỗ xe sẽ lên tới 1000 lạng bạc một ngày. Đó là tiền nuôi một đoàn quân mười vạn người.20
 Theo Tôn Tử, khi một đoàn quân giáp chiến, khí giới bị cùn nhụt, tổn thất, việc chiến phí quân dụng gia tăng càng gấp bội. Nếu chiến dịch kéo dài, quốc khố sẽ hao kiệt và hậu quả sẽ không biết ra sao. Để giải quyết vấn đề đó, ngoài việc khuyên nên thần tốc trong chiến tranh, ông còn đề nghị rằng ”kẻ giỏi dùng binh không phải đi chinh phạt đến hai lần, lương không vận tải quá ba bận” 21 .Thay vào đó, ông đưa ra ý kiến lấy lương thực của địch. Tôn Tử nói là ”quân lính có thể đem trang bị từ nước mình nhưng phải dựa vào lương thực của phía địch. Như thế thì sẽ có dư dả thực phẩm”. Nếu lấy được của địch thì ”một hộc của địch bằng hai mươi hộc của ta, một lượng của địch bằng hai mươi lượng của ta” 22
20 Nguyên văn: Phàm dụng binh chi p háp, trì xa thiên tứ, cách xa thiên thặng, thiên lý quĩ lương, tắc nội ngoại chi phí, tân khách chi dụng, giao tất chi tài, xa giáp chi phụng, nhật phí thiên kim, nhiên hậu thập vạn chi sư cử hĩ. ( Tôn Tử binh pháp, Tác Chiến Thiên)
 21thiện dụng binh giả, dịch bất tái tịch, lương bất tam tải
22cố trí tướng vụ thực vu địch, thực địch nhất chung, đương ngô trấp chung, kị cán nhất thạch, đương ngô trấp thạch
 Thực ra, Tôn Tử còn đề ra tư tưởng thu đoạt trang bị cũng như lấy binh lính của địch xung vào quân của mình. Khi lấy được chiến xa thì chỉ cần thay thế cờ hiệu là thành của mình. Các tù binh cũng phải đối đãi cho tử tế. Cái đó gọi là ”thắng một trận thì mạnh thêm lên” 23
 Dường như Ngô Tử không đồng ý với nguyên tắc này vì ông không cho phép binh lính cướp bóc các thị trấn chiếm được.
Khi quân hạ trại không được chặt cây, lấy hoa màu, giết gia súc hay đốt kho lẫm24
 Dù sao chăng nữa, quan điểm của Tôn Tử ”lấy của địch để cung cấp cho ta” đã hoàn toàn được các chiến lược gia Trung Hoa chấp nhận.
23thắng địch nhi ích cường (Tôn Tử Binh Pháp, Tác chiến thiên )
 24quân chi sở chí, vô san kỳ mộc, phát kỳ ốc, thu kỳ chúng, sát kỳ lục súc, phàn kỳ tích tụ.(Ngô Tử binh pháp, Ứng Biến thiên)
Logged

Không có bạn bè vĩnh viễn và kẻ thù vĩnh viễn. Tất cả chỉ vì sự tồn tại của mình.
Khi hai bàn tay nắm chặt và buông lơi một đất nước vĩ đại sẽ hình thành hoặc bị diệt vong.
dungrommel
Thành viên
*
Bài viết: 237


WWW
« Trả lời #13 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2009, 12:28:54 am »

4.   CÁC NGUYÊN TẮC CHIẾN LƯỢC VÀ CHIẾN THUẬT CHÍNH YẾU ĐỜI TIÊN TẦN
 Không có từ nào tương đương với hai chữ chiến lược và chiến thuật trong các tác phẩm quân sự đời xưa. Những từ dùng trong sách vở có ý nghĩa tương tự với chiến lược và chiến thuật có lẽ là thao lược và trận. Chữ trên có thể hiểu như chiến lược, chữ dưới chỉ có thể dịch ra là đội hình hay bố trí và theo một nghĩa rộng cũng là chiến thuật. Cũng như nhiều tác giả Trung Hoa trong các lãnh vực khác, các chiến lược gia quân sự thời xưa không đưa ra một định nghĩa nào cho những khái niệm này. 
Trong những tác phẩm hiện đại của Tây phương người ta không thể nào lẫn lộn giữa chiến thuật và chiến lược. Chẳng hạn như theo Karl V. Clausewitz, rõ ràng ông đặt hai vấn đề nêu trên ở hai mức độ khác nhau. Chiến lược nói về một cấp độ toàn thể và cao hơn trong khi chiến thuật có tính chất cục bộ và thấp hơn. Ông định nghĩa chiến thuật là lý thuyết dùng các lực lượng quân sự trong tác chiến, còn chiến lược là lý thuyết dùng kỹ thuật chiến đấu vào mục tiêu của chiến tranh. Trong khi vai trò của chiến thuật là quyết định đánh một trận cách nào và hình thức gì dùng trong trận đánh, vai trò của chiến lược liên quan tới khi nào, ở đâu và dùng lực lượng gì để đánh trận. Chúng tôi sẽ tóm lược các nguyên tắc chiến lược, chiến thuật chính trong các binh thư cổ của Trung Hoa và dành việc thảo luận sâu hơn về các vấn đề này trong các chương kế tiếp.
A.   Nguyên tắc Đánh Lừa
 Chiến tranh là một khoa học hay một nghệ thuật ? Clausewitz có lẽ là người đầu tiên trong lịch sử hiện đại đặt câu hỏi một cách nghiêm chỉnh. Ông tin rằng nếu đứng trên lãnh vực trù liệu thì chiến tranh là một khoa học nhưng khi đánh giá thì lại nằm trong lãnh vực nghệ thuật. Các luật lệ hay nguyên tắc được đặt ra một cách khoa học còn áp dụng các nguyên lý đó vào chiến đấu thì lại là một nghệ thuật. Không có một thảo luận nào tương tự như thế trong các binh thư cổ của Trung Hoa nhưng trong các tác phẩm của Tôn Tử, Ngô Tử và nhiều người khác cho thấy là các chiến lược gia Trung Hoa đã bao gồm cả phương pháp khoa học lẫn nghệ thuật áp dụng trong chiến tranh trước Clausewitz đến 2500 năm. Chẳng hạn như Tôn Tử bắt đầu tác phẩm bằng chương trù liệu và tính toán (Thủy Kế Thiên) liệt kê 5 yếu tố căn bản có thể dùng để lượng giá tình trạng của địch quân và của chính mình. Kết quả của các lượng giá đó có thể giúp tiên tri được khả dĩ thắng hay bại. Những chi tiết tương tự cũng có thể tìm thấy trong Ngô Tử và các sách khác. Lượng giá tình hình địch được coi như ưu tiên một trước khi khởi chiến. 
Việc áp dụng các nguyên tắc khoa học vào trong chiến tranh có liên quan mật thiết với tin tức chính xác. Các tác giả binh thư cổ của Trung Hoa chú trọng đặc biệt tới việc thu lượm tin tức. Tôn Tử đã viết:
Biết được địch và biết chính mình, đánh một trăm trận sẽ không bao giờ nguy hiểm. Không biết địch mà chỉ biết mình, thắng hay thua có thể bằng nhau. Còn chẳng biết mình cũng chẳng biết gì về địch thì trận nào cũng nguy.25 
Tiến trình của biết chính thực là thu lượm và phân tích tin tức trong chiến tranh. Tin tức chính xác và lượng giá tình hình một cách đúng đắn về địch lẫn ta có thể cho ta cơ hội thắng trận. Thế nhưng nó không đương nhiên bảo đảm một chiến thắng. Người ta còn phải ngăn ngừa không cho địch biết tình trạng thực của mình và cho địch biết những tin tức sai lạc để đưa địch tới những quyết định khiến cho địch phải thua. Các chiến lược gia quân sự cổ thời gọi là áp dụng kỹ thuật đánh lừa. Nó đã trở thành một khuôn vàng thước ngọc trong các chiến dịch của Trung Hoa. Đây là một nghệ thuật. Trong việc áp dụng vào chiến tranh, Tôn Tử là người đầu tiên và cũng là người coi trọng nguyên tắc này nhất:
 Khi có khả năng thì làm như yếu đuối, khi hoạt động thì làm như không hoạt động. Khi ở gần thì làm như còn ở xa, khi ở xa làm như đã tới gần. Đem mồi nhử địch, làm như mất trật tự để đánh địch ... Làm cho tướng địch tức giận và rối loạn. Giả vờ như yếu kém để cho địch thêm kiêu căng. Làm cho địch căng thẳng để cho mỏi mệt. Khi địch đoàn kết thì chia rẽ họ. Tấn công lúc không phòng bị, bất ngờ khi địch không mong đợi.26
25 Nguyên văn: Tri bỉ tri kỷ, bách chiến bất đãi. Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ. Bất tri bỉ, bất tri kỷ, mỗi chiến tất bại. (Tôn Tử binh pháp, Mưu Công Thiên)
26 Nguyên văn: Quỷ đạo giả, cố năng nhi thị chi bất năng, dụng nhi thị chi bất dụng, cận nhi thị chi viễn, viễn nhi thị chi cận. Lợi nhi dụ chi, loạn nhi thu chi, thực nhi bị chi, cường nhi tị chi, nộ nhi nhiểu chi, ti nhi kiêu chi, trật nhi lao chi, thân nhi li chi. Công kỳ vô bị, xuất kỳ bất ý, thử binh gia chi thắng, bất khả tiên truyền dã. (Tôn Tử binh pháp, Thủy Kế Thiên)
 Thái Công cũng trình bày ý niệm tương tự trong Âm Mưu và Dụng Gián trong sách Lục Thao. Cả hai từ ngữ này đều nói về các mẹo dùng gián điệp. Ông ta gọi mưu kế đó là Văn Phạt nghĩa là gửi các điệp viên sang nước địch hoạt động. Những người đó không phải chỉ thu lượm tin tức mà còn dùng đủ mọi cách để gây rắc rối cho nước địch. Tiền bạc và nữ nhân là những phương tiện quan trọng dùng để làm cho địch băng hoại và để mua các gián điệp đôi.
Đánh lừa còn là một chiến lược quan trọng khi chiến dịch đang tiến hành. Thái Công nói với Văn Vương ”cho địch thấy mình rối loạn trong khi thực ra mình chỉnh tề, cho địch thấy mình đói trong khi mình no, cho địch thấy mình chậm lụt yếu đuối trong khi thực ra mình sắc xảo, mạnh mẽ ... nếu muốn tấn công bên tây thì đánh bên đông trước”. Những điều đó cũng y hệt các lời khuyên của Tôn Tử.
 Mặc dù nguyên tắc này vốn dĩ được áp dụng trong chiến tranh đã lâu nhưng vẫn thường bị chỉ trích. Các nho sĩ cho rằng việc dùng mưu kế, lừa dối vô hạn định trong chiến tranh là vô luân. Cho nên một số có khuynh hướng tán dương Ngô Tử trong việc nhấn mạnh nguyên tắc cổ truyền là đức nhân từ và đức chính trực trong chiến tranh. Tuy nhiên nếu tin rằng Ngô Tử không dùng mưu trong chiến tranh là điều ngây thơ. Câu sau đây cho ta thấy Ngô Tử nghĩ về mưu kế như thế nào:
Nếu tướng địch ngu ngốc hay tin vào kẻ khác thì ta có thể lừa y, đưa y vào bẫy. Nếu y tham lam vô sỉ thì có thể đút lót. Nếu y vô mưu và hay thay đổi ý, làm cho y mệt và kiệt sức. Nếu người trên giàu có, kiêu căng, người dưới nghèo khó, hận thù, thì chia rẽ họ.27 
27 Nguyên văn: Kỳ tướng ngu nhi tín nhân, khả trá nhi dụ, tham nhi vật danh, khả hóa nhi lộ, khinh biến vô mưu, khả lao nhi khốn, thượng phú nhi kiêu, hạ bần nhi oán, khả li nhi gián (Ngô Tử Binh Pháp, Luận Tướng Thiên)
Úy Liễu Tử cũng tin rằng dùng mưu là một phần cần thiết cho chiến tranh. ”Khi có lực, giả vờ như không, khi không có, làm như là có, phải luôn luôn cho địch những tin tức sai lầm để cho địch quyết định sai”
 Lý thuyết dùng mưu kế như một nghệ thuật áp dụng trong chiến tranh không giới hạn ở đó. Nó còn được dùng vào nguyên tắc Kỳ và Chính, Hư và Thực.
Logged

Không có bạn bè vĩnh viễn và kẻ thù vĩnh viễn. Tất cả chỉ vì sự tồn tại của mình.
Khi hai bàn tay nắm chặt và buông lơi một đất nước vĩ đại sẽ hình thành hoặc bị diệt vong.
dungrommel
Thành viên
*
Bài viết: 237


WWW
« Trả lời #14 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2009, 12:29:44 am »

 B/ Nguyên tắc Kỳ -Chính, Hư -Thực 
Nếu người ta chấp nhận nguyên tắc lừa dối như là một lý thuyết căn bản trong Tôn Tử Binh Pháp thì người ta phải tin rằng nguyên tắc Kỳ -Chính, Hư -Thực là một thực hành cần thiết cho việc dụng mưu. Tất cả những phân tích quan trọng của Tôn Tử đều liên quan đến Kỳ-Chính, Hư-Thực.
 Kỳ là viết tắt của Kỳ Binh, có thể được diễn dịch là lực lượng bất thường, Chính là Chính Binh là đối nghịch của Kỳ Binh hay có thể dịch ra là lực lượng bình thường.
 Hư là trống rỗng, Thực là chắc chắn dùng để chỉ sức mạnh của đội hình. Hư là khu vực yếu, Thực là khu vực mạnh. Kỳ -Chính, Hư -Thực là hai đôi đối nghịch chỉ các lực lượng có nhiệm vụ bổ túc lẫn nhau. Chẳng hạn như người ta có thể dùng lực lượng bình thường để đối trận nhưng dùng lực lượng bất thường để chiến thắng. Trong khi lực lượng bình thường cầm chân địch tại trận tiền thì lực lượng bất thường tấn công vào bên hông hay tập hậu. Phối hợp hai lực lượng này một cách thích hợp trong chiến dịch sẽ đem lại thắng lợi. Dù một lực lượng quân sự lớn cách mấy vẫn có mặt mạnh, mặt yếu. Nếu biết dùng lực lượng thực của ta đánh vào chỗ hư của địch, kết quả cũng như dùng đá chọi trứng.
 Không lời bình luận nào nói về sự quan trọng của nguyên tắc Kỳ -Chính, Hư -Thực và những nhiệm vụ phụ rõ ràng hơn lời Đường Thái Tông nói với Lý Vệ Công (Lý Tĩnh):
Theo ta không cuốn binh thư nào hơn Tôn Tử, trong đó không gì quan trọng hơn nguyên tắc Hư -Thực ... Dạy cho tướng lãnh cách áp dụng Kỳ và Chính vào chiến trận trước và rồi cách điều binh theo Hư -Thực. Nếu ngươi không biết cách dùng Kỳ như Chính, Chính như Kỳ thì không mong rằng họ biết rằng Hư cũng có thể dùng như Thực, Thực cũng như Hư. Việc dùng Kỳ hay Chính trên căn bản là theo mình nhưng tình trạng Hư hay Thực là theo đội hình của địch. Sự thay đổi dùng Kỳ hay Chính phải hợp với đội hình địch Hư hay Thực. Nếu địch Thực, ta phải dùng Chính binh, nếu địch Hư ta phải dùng Kỳ binh. Nếu một viên tướng không biết dùng Kỳ -Chính thì dù có biết khai thác chỗ yếu, chỗ mạnh của địch thì cũng không áp dụng được cho chu đáo.
 Mặc dầu nhiều bình luận gia nghi ngờ về sự chân xác của lời độc thoại này và đặt câu hỏi về giá trị của việc áp dụng Kỳ -Chính, những nguyên tắc căn bản và quan hệ hỗ tương giữa Kỳ -Chính, Hư -Thực vẫn còn có thể chấp nhận được.
 Quả thực không một cuốn binh thư nào bàn về nguyên tắc này một cách rõ ràng hơn Tôn Tử. Ngô Tử, Úy Liễu Tử và Thái Công thỉnh thoảng có dùng các từ ngữ đó trong sách của họ nhưng không đưa ra một lý luận có hệ thống. Mục tiêu của việc dùng Kỳ -Chính, Hư -Thực là tập trung một lực lượng ưu thắng đánh vào một vị trí đã chọn trong một cuộc tấn công bất ngờ.
 C/ Ưu thế quân số
 Quan điểm bình thường nhất cũng biết là nguyên tắc sơ đẳng trong chiến trận là tập trung lực lượng vào một mặt để áp đảo đối phương bằng ưu thế lực lượng. Khi Tôn Tử bàn về chiến lược tấn công, ông viết: ”khi ta mười mà địch một thì bao vây, khi ta gấp năm địch thì tấn công, khi gấp đôi địch thì chia cắt họ”28 
28 Cố dụng binh chi pháp, thập tắc vi chi, ngũ tắc công chi, bội tắc phân chi. (Tôn Tử Binh Pháp, Mưu Công Thiên)
Dựa vào đó chúng ta hiểu rằng Tôn Tử rất chuộng ưu thế về quân số. Khi lực lượng dưới các tiêu chuẩn ông đưa ra người ta mới phải dùng đến nguyên tắc Kỳ -Chính, Hư -Thực để vận dụng tình thế. Ngay cả khi lực lượng gấp đôi địch quân, người ta cũng không tấn công nếu không chia cắt một phần ra khỏi trận địa để làm cho địch suy yếu ngõ hầu đạt được ưu thế tuyệt đối về quân số. Cho nên khi lực lượng ngang với địch Tôn Tử cũng không dám quyết thắng. Còn khi lực lượng yếu hơn địch thì ông đề nghị rút lui để tránh bị địch bắt. 
Mặc dầu các chiến lược gia khác như Ngô Tử, Úy Liễu Tử, Thái Công không nhấn mạnh vào sự quan trọng của ưu thế quân số như Tôn Tử nhưng họ cũng đề nghị nên áp đảo đối phương bằng một lực lượng mạnh hơn. Thái Công chẳng hạn đề cao nguyên tắc ” nhất ”. Ngoài những vấn đề khác, nhất có nghĩa là lực lượng phải luôn luôn tập trung vào một điểm hay một mặt. Có như thế, viên tướng mới có thể đánh địch bắng sức mạnh tối đa mà ông ta có. Nguyên tắc tương tự cũng tìm thấy trong Úy Liễu Tử. Ông ta nói rằng môt đoàn quân có thể thắng trận nếu biết tập trung lực lượng đúng mức, và có thể thua nếu bị phân tán và chia cắt.
Ngô Tử hầu như không nói gì tới lợi ích của ưu thế về số lượng. Trái lại, ông thường nhấn mạnh tới nguyên tắc có thể đánh bại một quân địch đông đảo hơn bằng một đạo quân ít nhưng thiện chiến, ông thường khẳng định rằng nếu biết chọn cách tấn công thích đáng thì có thể thắng một quân địch đông gấp mười. 
Trên thực tế, người ta không thể luôn luôn mong được quân số đông hơn địch và cũng không thể chỉ rút lui khi yếu sức hơn. Ngay cả Tôn Tử cũng không nghĩ rằng hễ cứ ít quân hơn là tránh né mà phải biến đổi những bất lợi đó bằng cách dùng Kỳ -Chính hay Hư Thực. Tôn Tử nói là ”quân phải đối phó với tấn công của địch mà không bị đánh bại nhờ vào phép kỳ chính ”29.Phối hợp kỳ chính vô cùng vô tận, không ai có thể dùng hết được30 
Nếu biết dùng nguyên tắc Kỳ -Chính, người ta giữ được thế chủ động tại mặt trận. Muốn làm chủ tình thế, phải chọn được thời gian và địa điểm chiến trường, phải làm sao cho địch không biết ta điều quân ra sao trong khi ta biết rõ cách bố trí của địch. Như thế thì khi ta muốn đánh, dù địch có ẩn sau thành cao hào sâu cũng không tránh được vì có thể ta sẽ tấn công vào những vị trí mà địch không đề phòng. Khi muốn tránh đối trận thì ta có thể vạch một lằn ranh trên mặt đất, kẻ địch không tấn công được vì ta có thể dụ địch đi đâu thì đi.31 
Nếu người ta có thể làm được như Tôn Tử đề ra thì sẽ có thể tập trung lực lượng trong khi địch chia rẽ. Do đó, ta có thể dùng toàn lực tấn công vào một phần bộ của địch và như thế sẽ có ưu thế trội về quân số.32
 29tam quân chi chúng, khả sử tất thụ địch nhi bại giả, kỳ chính thị dã. Tôn Tử Binh Pháp, B inh Thế Thiên
30Chiến thế, bất quá kỳ chính. Kỳ chính chi biến, bất khả thắng cùng dã
31Nguyên văn: Cố ngã dục chiến, địch tuy cao điệp thâm câu, bất đắc bất dữ ngã chiến giả, công kỳ sở tất cứu dã. Ngã bất dục chiến, tuy hoạch địa nhi thủ chi, địch bất đắc dữ ngã chiến giả, quai kỳ sở chi dã (Tôn Tử Binh Pháp, Hư Thực Thiên
32 Ngã chuyên vi nhất, địch phân vi thập, thị dĩ thập công kỳ nhất dã)
Logged

Không có bạn bè vĩnh viễn và kẻ thù vĩnh viễn. Tất cả chỉ vì sự tồn tại của mình.
Khi hai bàn tay nắm chặt và buông lơi một đất nước vĩ đại sẽ hình thành hoặc bị diệt vong.
dungrommel
Thành viên
*
Bài viết: 237


WWW
« Trả lời #15 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2009, 12:30:35 am »

 D/ Địa Hình và Chiến Thuật
  Hoạt động của con người bị ảnh hưởng bởi hình thể địa lý dưới nhiều mức độ khác nhau. Tùy theo mục đích của từng người, ảnh hưởng của địa thế trên hành động có thể tiêu cực hay tích cực. Nếu một vị tướng nắm được chủ động thì sẽ khai thác được địa lợi. Đó là lý do tại sao Tôn Tử nói rằng địa hình có thể hỗ trợ rất lớn cho chiến đấu.
  Trong các chiến lược gia thời xưa, không ai bàn nhiều về địa hình địa vật như Tôn Tử. Trong 13 thiên Tôn Tử Binh Pháp, ông dành 4 chương bàn về ảnh hưởng của các loại địa thế trong chiến trận. Ông xếp loại các thế đất quan trọng và liệt kê những bất lợi trong việc hành binh. Ông cũng chỉ cho phải ứng phó với từng loại địa hình như thế nào. Ông không bàn về làm cách nào khai thác ưu điểm của từng loại hình thế trên mặt trận nhưng không vì thế mà chúng ta có thể phủ nhận việc Tôn Tử áp dụng chiến đấu theo địa hình. Ngược lại, ông khẳng định rằng lực lượng bạn phải luôn luôn đến trước để nắm vững hình thế ngõ hầu chiếm được thượng phong. Ông viết: 
Nói chung, kẻ nà chiếm được chiến địa để đợi địch sẽ nhàn nhã, kẻ nào đến sau vội vã sẽ mệt mỏi. Trong khi ta nghỉ ngơi thì địch kiệt sức. Đó là kiểm soát được các yếu tố vật chất.33
33 Nguyên văn: Phàm tiên xứ chiến địa nhi đãi địch giả dật, hậu xứ chiến địa nhi xu chiến giả lao. (Hư Thực Thiên)
Tuy Tôn Tử nhấn mạnh về sự quan trọng của ưu thế quân số, ông cũng nhận ra rằng đông hơn chưa phải là yếu tố quyết định. Với nguyên tắc Kỳ -Chính, Hư -Thực Tôn Tử không bỏ qua việc khai thác lợi điểm của địa hình. 
Mặc dù Tôn Tử đưa ra việc áp dụng địa thế một cách có hệ thống và thay đổi chiến thuật theo từng vùng, chính Ngô Tử mới là người chú trọng nhất vào lợi dụng hình thể mặt đất. Ông nhấn mạnh vào sự quan trọng của địa hình tăng cường cho một quân số ít người. Ông thường viết là quân số không phải yếu tố quyết định cho cuộc chiến. Một đội ngũ có kỷ luật được huấn luyện kỹ và biết cách khai thác địa thế có thể đánh bại một lực lượng đông gấp mười. Khi Vũ Hầu hỏi về việc tấn công một địch quân đông đảo hơn, ông trả lời:
Nếu đất dễ thì nên tránh, nếu đất hiểm yếu thì nên tấn công. Cho nên khi một chống mười thì không gì bằng nơi đất hiểm, khi mười chống trăm thì không gì bằng đất dốc, khi ngàn chống vạn, không gì bằng đường đèo. Nếu chúa công có một lực lượng nhỏ bất thần tấn công kẻ địch nơi đường hẹp, lại đánh trống khua chiêng thì dù địch có lớn cũng phải kinh sợ. Cho nên nói rằng nếu cầm quân nhiều thì nên tìm đất dễ, cầm quân ít thì phải tìm đất hẹp.34
 Dựa trên nhận thức đó, Ngô Tử liệt kê thế đất là một trong bốn yếu tố mà một vị tướng phải quen thuộc trước khi điều quân. ”Khi đường hẹp và nguy hiểm, nơi có núi cao và đèo hình cổ chai thì là chỗ mười người phòng thủ, nghìn người không qua được chính là nhờ vào thế đất” 35
34Nguyên văn: Vũ Hầu vấn viết: Nhược địch chúng ngã quả, vi chi nại hà ? Khởi đối viết: Tị chi ư dị, yêu chi ư ách. Cố viết, dĩ nhất kích thập, mạc thiện ư ách, dĩ thập kích bách, mạc thiện ư hiểm, dĩ thiên kích vạn, mạc thiện ư trở. Kim hữu thiểu tốt, tốt khởi, kích kim minh cổ ư ách lộ, tuy hữu đại chúng, mạc bất kinh động. Cố viết, dụng chúng giả vụ dị, dụng thiểu giả vụ ải.(Ngô Tử Binh Pháp, Ứng Biến Thiên)
 35lộ hiệp đạo hiểm, danh sơn đại tắc, thập phu sở thủ, thiên phu bất quá, thị vị địa cơ (Ngô Tử, Luận Tướng)
 Vũ Vương cũng đã nhiều lần hỏi Thái Công về những chiến thuật sử dụng theo từng địa thế khác nhau. Cũng tương tự như Tôn Tử và Ngô Tử nhưng Thái Công đào sâu hơn vào vấn đề và chú trọng đến hành quân tại những vùng đất đai hiểm trở nhất là trong trường hợp tấn công. 
Trong vai trò một nhà cách mạng phải đối phó với quân đội hùng mạnh của nhà Thương, Thái Công biết rằng sẽ không thể đánh bại kẻ địch bằng một lực lượng nhỏ hơn để thay thế triều đại này nếu ông không tìm ra một chiến thuật mới làm cho địch rối loạn.
Để đạt tới mục tiêu đó, Thái Công phác họa một loại chiến xa mới kéo bằng bốn con ngựa và vô số khí giới mới. Để sử dụng các loại vũ khí mới này, ông cũng đề ra những chiến thuật mới. Thái Công là chiến thuật gia cổ thời đầu tiên bàn về các hoạt động phối hợp nhiều loại lực lượng khác nhau trên nhiều hình thế đất đai khác nhau, bàn về việc dùng chiến xa và các đội kỵ binh và sử dụng bộ binh trong những tình trạng khác nhau.
 Trong cuộc thảo luận dài với Vũ Vương về chiến thuật quân sự, ông bao gồm đủ loại các chiến dịch trên đủ loại địa hình như tại vùng núi non, sông hồ và rừng rú. Rõ ràng là trong vai trò một cách mạng gia, Thái công nghiêng về công kích. Tuy nhiên, khi phân tích tiềm năng các lực lượng trên các thế đất, ông vẫn có cái nhìn rất cân đối. Ông không bỏ qua ưu thế của địa hình trong phòng ngự nhất là khi thảo luận về nguyên tắc tấn công một kẻ địch đông đảo bằng một lực lượng nhỏ bé. Ông nhấn mạnh vào việc lợi dụng các hình thế đặc biệt như lòng chảo hay dốc đá để ngăn chặn kỵ binh và chiến xa của địch quân. 
Khi thảo luận về các chiến dịch vùng núi non, Thái Công đưa ra một chiến thuật đặc biệt gọi là Ô Vân Trận (Wuyunzhen), trong đó quân đội được bố trí nhịp nhàng phòng thủ tất cả các hướng có thể xâm nhập. 
Theo Tướng Từ Bội Căn trong Thái Công Lục Thao Kim Chú Kim Dịch (Đài Bắc, Thương Vụ 1976) ô vân trận giống như đàn quạ và đám mây tan hợp di động một cách nhịp nhàng. Một lực lượng trừ bị được giữ lại để đối phó với những nhu cầu bất ngờ. Thái Công có lẽ là người đầu tiên phân biệt lực lượng tấn công và lực lượng trừ bị. 
Trong việc khai thác địa hình, Tư Mã Pháp đề nghị nên chọn đất cao ở phía sau và phía bên phải, đất hiểm và đất dốc bao che một bên hông.
E.   Đánh bại địch bằng cách làm suy bại tinh thần địch
  Ngoài việc có ưu thế quân số và lợi điểm địa hình, người ta còn phải khai thác những cơ hội đặc biệt để tấn công bất ngờ hầu đánh bại địch dễ dàng. Tôn Tử gọi là nguyên tắc kiểm soát luân lý, tinh thần, vật chất và yếu tố hoàn cảnh. (khí, tâm, lực, biến-Tôn Tử, Quân Tranh Thiên) 
Tôn Tử thường nhấn mạnh rằng một vị tướng phải luôn luôn khai thác tình trạng quân địch và tìm lợi thế để dẫn đến thắng lợi. Dùng lực lượng chiến đấu cũng chẳng khác gì lăn gỗ hay lăn đá. Khi gỗ đá ở ”trên đất bình ổn thì củng bình ổn, trên đất không bình ổn thì nó chuyển động. Nếu nó vuông thì nó đứng nhưng nếu nó tròn nó sẽ lăn. Vì thế sức mạnh của quân đội được điều động thích đáng chẳng khác gì các tảng đá tròn lăn trên triền núi cao xuống”36 
Không giống như ưu thế quân số và lợi điểm địa hình, cái gọi là tình trạng ở trên liên quan đến tâm hồn và điều kiện vật chất do ảnh hưởng bởi thời tiết, tiếp liệu và điều kiện sinh sống. Tôn Tử có nói rằng ”lấy quân ở gần chiến trường đợi địch đến từ xa, trong tình trạng nghỉ ngơi trong khi địch kiệt sức, được nuôi dưỡng đầy đủ trong khi địch đói khổ”37 Nếu bắt được giây phút đó để đối địch thì thắng dễ như lăn đá từ trên một triền dốc cao xuống. Lực dùng một phút mà kết quả thì vô cùng to lớn. 
Một cơ hội khác còn đắc dụng hơn để tấn công là khi địch hàng ngũ, sắp xếp chưa tề chỉnh, rối loạn và tinh thần xuống thấp vì chỉ huy kém hay vì nội bộ bất hòa. Tôn Tử đã từng nhắc nhở là một vị vua chúa kiêu căng can thiệp vào việc binh có thể làm cho quân ngũ rối loạn và gieo nghi kỵ trong các cấp chỉ huy. Nếu quân ở trong tình trạng như thế thì sẽ rất dễ bị đánh bại trên chiến trường. Có lẽ vì thế mà Tôn Tử nói rằng ”một đội quân có thể bị cướp đi tinh thần và tướng mất hết can đảm”38. Nếu quân suy nhược thì tướng mất tinh thần.
36Nguyên văn: Cố thiện chiến giả, cầu chi ư thế, bất quí ư nhân cố năng trạch nhân nhi nhiệm thế.Nhiệm thế giả, kỳ chiến nhân dã, như chuyển mộc thạch. Mộc thạch chi tính, an tắc tĩnh, nguy tắc động, phương tắc chỉ, viên tắc hành. Cố thiện chiến chi thế như chuyển viên thạch ư thiên nhận chi sơn giả, thế dã. (Tôn Tử, Binh Thế Thiên)
37dĩ cận đãi viễn, dĩ dật đãi lao, dĩ bão đãi ngạ (Tôn Tử, Quân Tranh Thiên)
38 cố tam quân khả đoạt khí, tướng quân khả đoạt tâm (Tôn Tử, Quân Tranh Thiên)
 Khi bàn về vấn đề này Ngô Tử nhiều trường hợp cụ thể chứ không phải chỉ lý thuyết chung. Ông liệt kê 8 hoàn cảnh có thể tấn công mà không nghi ngại gì. Đó là các trường hợp quân địch mỏi mệt, xuống tinh thần vì thời tiết khắc nghiệt, thiếu tiếp tế hay tương quan giữa cấp trên cấp dưới không thuận thảo. 
Ngoài ra, có những trường hợp địch lâm vào thế bất lợi, hàng ngũ dễ rối loạn và có thể bị đánh tan không mấy khó khăn chẳng hạn như địch đang tiến tới chưa chỉnh đốn kịp, hạ trại nhưng chưa bố phòng. Khi gặp những trường hợp đó cần phải tấn công thần tốc và thường là thắng trận.
  Là nhà cách mạng, chiến lược chủ yếu của Thái Công là lấy một chống mười hay đánh bại một lực lượng đông bằng quân số ít nhưng tinh nhuệ. Để đạt mục tiêu đó ông đề ra nhiều chiến thuật khác nhau. Ông phân tích kỹ càng thời điểm tấn công. Chẳng hạn như ông liệt kê 14 hoàn cảnh mà địch quân có thể bị tiêu diệt dễ dàng. Khi địch kinh hoàng, kiệt sức, hạ trại hay khi có bão và vì thế bố phòng khó khăn thì phải lợi dụng ngay để tấn công. Ông thích đánh bại kẻ địch đông gấp mười. 
Tư Mã Pháp mô tả tương tự về cách nào để chọn cơ hội tấn công ngõ hầu đánh bại kẻ địch một cách dễ dàng. Ông cho rằng thời điểm thích hợp để tấn công là khi địch quân chưa chỉnh tề hay đang vội và khi địch quân đang kinh khiếp thì nên đánh bồi thêm. 
Logged

Không có bạn bè vĩnh viễn và kẻ thù vĩnh viễn. Tất cả chỉ vì sự tồn tại của mình.
Khi hai bàn tay nắm chặt và buông lơi một đất nước vĩ đại sẽ hình thành hoặc bị diệt vong.
dungrommel
Thành viên
*
Bài viết: 237


WWW
« Trả lời #16 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2009, 12:31:59 am »

F.   Thu lượm tin tức và Sử dụng Gián điệp
  Nói chung, thành quả một chiến dịch tùy thuộc vào sự phán đoán của người chỉ huy, và việc đó lại do cách nào có được tin tức chính xác về tình trạng bố phòng của địch. Tôn Tử nói rõ là ”biết mình biết người trăm trận không nguy”. Ông cũng nhấn mạnh vào việc cần thiết phải bảo mật với địch để có thể tự do trong hành động. Ông nói:
Nếu ta có thể biết được địch bố trí ra sao trong khi ta dấu kín được thì ta ta tập trung mà địch chia cắt ... Nơi đó, ta có ưu thế vế quân số.39
Nếu biết sử dụng tin tức về địch một cách thích đáng, ta có thể chọn được thời gian và địa điểm và do đó cơ hội thắng sẽ cao hơn. Trái lại nếu không biết gì về địch, người chỉ huy không biết được chiến địa hay thời gian giao tranh và do đó lực lượng nọ không thể tiếp ứng lực lượng kia. 
Biết mình và biết người đòi hỏi một quá trình phức tạp trong thu lượm tin tức ở hai cấp độ: chiến lược và chiến thuật. Trên bình diện chiến lược, tin tức cần thiết bao gồm cả tình trạng xã hội -chính trị, kinh tế và quân sự của nước địch. Tin tức này có thể thu lượm hoặc từ tài liệu chính thức phổ biến cho công chúng, hoặc do gián điệp và đặc vụ thu thập. Tin tức chiến thuật chủ yếu do chính lực lượng chiến đấu thu thập ngay tại mặt trận. 
Tôn Tử bỏ riêng một chương trong Tôn Tử Binh Pháp để bàn về vấn đề này. Theo ông, trong một trận chiến quyết định nếu không biết gì về tình trạng của địch thì là thiếu lòng nhân. Minh quân hiền tướng có thể đánh bại địch quân dù họ có biến hóa thế nào chăng nữa chính là vì ”biết trước” và điều đó ”không phải từ thần thánh hay suy ra từ việc cũ, hay do tính toán mà phải từ những người biết rành rẽ tình trạng của địch”40. Người của Tôn Tử đề cập ở đây chính là gián điệp.
  Tôn Tử cho rằng gián điệp là tài sản quí của một quốc gia. Không kẻ nào trong quân ngũ liên hệ mật thiết với viên tướng hơn gián điệp. Theo Tôn Tử, một tướng lãnh nếu không khôn ngoan, nhân từ, công bình không thể dùng gián điệp được. Có lẽ ông là chiến lược gia quan tâm đến dụng gián nhiều hơn cả. Không những ông gửi điệp viên sang trại địch mà còn hiểu được tầm quan trọng của việc chiêu mộ dân bản xứ và nội gián ngay trong quốc gia địch hay doanh trại địch. Ông còn quan tâm phát triển gián điệp nhị trùng bằng cách mượn ngay điệp viên của địch. Ông nói về điệp viên sống mang tin về nhưng cũng dự trù cả những người đưa tin sai cho địch và có thể bị giết khi địch thua. Theo Tôn Tử thì ”không chỗ nào mà không dùng đến gián điệp” (vô sở bất dụng gián dã)
39 Nguyên văn: Cố hình nhân nhi ngã vô hình tắc ngã chuyên nhi địch phân. Ngã chuyên vi nhất, địch phân vi thập, thị dĩ thập công kỳ nhất dã. Tắc ngã chúng nhi địch quả ...(Tôn Tử, Hư Thực Thiên)
40 Nguyên văn: Cố minh quân hiền tướng, sở dĩ động nhi thắng nhân, thành công xuất ư chúng giả, tiên tri dã. Tiên tri giả, bất khả thu ư quỉ thần, bất khả tượng ư sự, bất khả nghiệm ư độ, tất thu ư nhân tri địch chi tình giả dã. (Tôn Tử, Dung Gián Thiên)
 Việc thu lượm tin tức chiến thuật tại mặt trận phải do chính quân đội thực hiện bằng trực tiếp quan sát. Tôn Tử tóm tắt những hiện tượng thông thường và ý nghĩa của nó dựa trên kinh nghiệm của một chiến sĩ. ”Khi địch ở gần mà nằm yên ắt là cậy địa thế hiểm yếu. Khi địch khiêu chiên từ xa, ắt là muốn cho ta tiến lên vì họ có địa lợi hay ở đất dễ. Khi cây lay động là địch đang tới, khi chim bay lên là dấu hiệu địch mai phục, khi cầm thú hoảng hốt chạy là ta phải đề phòng. Bụi tung thẳng lên cao là dấu hiệu có chiến xa. Bụi thấp và tản rộng là bộ binh đang tiến ”41 
Các chiến dịch bí mật được Ngô Tử để vào điều kiện thứ ba trong bốn điều kiện sử dụng quân đội. ”Khéo léo dùng gián điệp và tình báo” là danh ngôn của ông. Phối hợp hành động giữa khinh binh được dùng để chia cắt địch, Ngô Tử sử dụng gián điệp và tình báo để gây mâu thuẫn giữa vua với quan và tạo cho người trên kẻ dưới phiền trách lẫn nhau. Dần dần địch sẽ bị suy thoái. Ngô Tử gọi việc sử dụng mật vụ là tiềm năng liên quan đến thực trạng chiến dịch.42
41Nguyên văn: Cận nhi tĩnh giả, thị kỳ hiểm dã. Viễn nhi khiêu chiến giả, dục nhân chi tiến dã. Kỳ sở cư dị giả, lợi dã. Chúng thụ động giả, lai dã. Điểu khởi giả, phục dã. Thú hãi giả, phúc dã. Trần cao nhi nhuệ giả, xa lai dã, ti nhi quảng giả, đồ lai dã. (Tôn Tử, Hành Quân Thiên)
42Thiện hành gián mưu, khinh binh vãng lai, phân tán kỳ chúng, sử kỳ quân thần tương oán, thượng hạ tương cữu thị vị sự cơ. (Ngô Tử, Luận Tướng Thiên)
 Úy Liễu Tử không bàn đến việc sử dụng điệp vụ như Tôn Tử nhưng ông đề nghị một hệ thống tự bảo mật trong quân đội để đề phòng tình báo địch xâm nhập, tiết lậu tin tức ra ngoài. Phương thức ông sử dụng là trách nhiệm liên đới, cấp chỉ huy và quân sĩ chịu trách nhiệm chung và bị phạt chung nếu có kẻ vi phạm quân luật mà không ngăn chặn hay phát giác. Phương thức thứ hai ông đưa ra là kiểm soát liên lạc tin tức giữa các đơn vị. Khi quân lính hạ trại, không được phép đi từ trại này sang trại kia ngoại trừ trình được mật hiệu. Bất cứ ai vi phạm đều bị tử hình nhất là tại mặt trận. Nếu thi hành các phương thức đó, Úy Liễu Tử tin rằng quân đội sẽ có thể bảo mật được.
  Thái Công cũng đặt vấn đề mật vụ và thu lượm tin tức quan trọng như Tôn Tử. Ông liệt kê 12 phương pháp bí mật có thể tóm tắt như sau: lũng đoạn vua quan địch bằng quà cáp và nữ sắc, hối lộ các đại thần và cấy gián điệp trên đất địch, kết thân với các thành phần lỗi lạc và các cấp lãnh đạo. Tin tức thu lượm được từ các nguồn này giới hạn vào trong các vấn đề chiến lược. 
Trong việc thu lượm tin tức chiến thuật, Thái Công đưa ra các dấu hiệu để phân biệt địch mạnh và địch yếu. Khi một viên tướng thấy các dấu hiệu đó thì có thể đưa ra những phán đoán chính xác có nên tấn công hay tránh đối đầu với địch. 
Tư Mã Pháp dùng bốn chữ để chỉ phương pháp thu lượm tin tức. Đó là Gián Viễn, Quan Mi (Jianyuan Guanmei) có nghĩa là nếu địch ở xa thì dùng gián điệp để dò xét, còn ở gần thì quan sát trực tiếp.
G.   Chiến tranh chính trị và chiến tranh tâm lý 
Trong những phần trước, chúng tôi đã đề cập đến ảnh hưởng tinh thần trong chiến đấu. Chẳng hạn như Ngô Tử coi luân lý là một trong bốn tiềm năng mà một viên tướng phải biết trước khi điều quân. Úy Liễu Tử cho rằng một viên tướng sở dĩ thắng trận là bởi vì binh sĩ đưới quyền sẵn lòng chiến đấu. Khi họ có tinh thần cao thì họ đánh trận giỏi và khi tinh thần xuống thấp thì chỉ muốn rút lui. Cả Ngô Tử lẫn Úy Liễu Tử đều nhấn mạnh vào sự quan trọng của việc phá hoại tinh thần chiến đấu của địch trong khi vẫn giữ được tinh thần quân mình. Điều đó cũng tương tự như chiến tranh tâm lý và chiến tranh chính trị thời nay.
Chiến lược tiến hành chiến tranh tâm lý và chiến tranh chính trị có thể áp dụng tại nhiều mức độ khác nhau. Trước hết, nhà vua và vị nguyên soái phải vun trồng đức độ ngõ hầu gia tăng sự hòa hợp giữa thiên tử với thứ dân. Trương Dự nói rằng ”nếu nhà vua đối đãi với nhân dân bằng nhân nghĩa, đạo lý, tin tưởng ở họ thì quân sĩ sẽ một lòng và vui vẻ phụng sự bề trên”
Ảnh hưởng tinh thần được hầu hết các binh gia bàn đến. Theo Ngô Tử, tứ hòa là những lý thuyết quan trọng bậc nhất cho một vị quân vương thi hành trước khi khởi chiến. Khi quốc gia, quân đội, trận thế và chính chiến dịch đều hòa hài, thì cả nước sẵn sàng chiến đấu và sẽ thắng. Nếu không được thế thì đừng giao chiến. Ngô Tử nhấn mạnh vào giáo dục chính trị bằng lễ nghi và đạo đức để gây hăng hái cho ba quân. Ông viết ”cần phải dạy cho quần chúng bằng cách dùng lễ nghi, và động viên họ bằng lẽ phải để tạo tinh thần liêm sỉ. Chỉ người có liêm sỉ mới có thể chiến đấu, không thì chỉ có thể tự phòng mà thôi”43 
43phàm chế quốc, trị quân, tất giáo chi dĩ lễ, lệ chi d ĩ nghĩa, sử hữu sỉ dã. Phù nhân hữu sỉ, tại đại túc dĩ chiến, tại tiểu túc dĩ thủ dã (Ngô Tử, Đồ Quốc Thiên)
Đây có lẽ là lý thuyết sớm sủa nhất về giáo dục chính trị và vận động quân sĩ.
 Úy Liễu Tử coi chiến thắng bằng tinh thần là thành tựu bậc nhất trong việc dụng binh. Theo ông đó là chiến tranh chính trị. Ông nói: ”liên tục cải tiến sức mạnh chính trị, kinh tế, quân sự và tăng cường kiến thức về địch ngõ hầu làm suy yếu và phá hủy tinh thần địch. Dẫu địch còn đó nhưng không còn chiến đấu được nữa. Thế gọi là chiến thắng bằng ảnh hưởng tinh thần” 
Mặc dù Úy Liễu Tử không dùng từ ngữ chiến tranh chính trị và chiến tranh tâm lý, chúng ta cũng hình dung ra được là nếu có thể dánh bại kẻ địch mà không cần tiêu diệt lực lượng họ thì không thể nào không dùng đến chiến tranh tâm lý hay chính trị. 
Có lẽ chiến lược gia đầu tiên của Trung Hoa và có thể của cả thế giới thảo luận chiến tranh tâm lý và chính trị một cách có hệ thống là Thái Công. Thay vì dùng từ ngữ hiện đại là chiến tranh tâm lý hay chiến tranh chính trị, Thái Công chọn chữ Văn Phạt (Wenfa) diễn tả một quan niệm tương tự. Văn phạt theo tiếng Hán có nghĩa là ”tấn công bằng những biện pháp phi quân sự” hay ”tấn công mà không dùng vũ khí”. Trên nghĩa rộng có thể áp dụng cho cả địch lẫn cho mình. Khi nhắm vào quân mình, chủ yếu là vào tinh thần quân sĩ.
Khi áp dụng vào địch, Thái Công đề ra 3 phương pháp để đối phó với nhiều hạng người khác nhau.
 * Đối với vua địch và các cận thần, chiến lược căn bản của Thái Công là tạo mâu thuẫn, chữ Hán gọi là Ly Gián. Thái Công đưa ra 12 phương pháp có thể tóm tắt trong đút lót, nữ sắc, điệp viên để làm suy bại, gây nghi ngờ giữa vua và tả hữu và ngay cả mua kẻ cộng tác trong các cận thần. 
* Với quân địch, ta cũng áp dụng chiến thuật tương tự. Ngoài ra, một chiến lược đặc biệt được đưa ra để sao cho địch nhân tưởng lầm ta yếu đuối nên khinh địch và đâm ra kiêu căng, dễ sa bẫy và bị đánh bại. Thái Công gọi chiến lược này là ”tấn công một kẻ địch mạnh để làm cho mình mạnh hơn” (công cường ích cường). 
* Đối với dân chúng nước địch, chiến lược của Thái Công là chia rẽ họ với chính quyền bằng cách dụ dỗ theo mình. Thái Công gọi là Tán Chúng Ích Chúng (Sanzhong yizhong).
 * Đối với quân mình, mục tiêu đầu tiên đặt ra khi áp dụng chiến tranh tâm lý và chiến tranh chính trị là nâng cao tinh thần trong suốt cuộc chiến ngõ hầu có thể thắng trận.
Để đạt mục tiêu đó Thái Công đòi hỏi cấp chỉ huy phải chia vui xẻ buồn với binh lính. Ông viết: “Tướng khôn ngoan mùa đông không mặc áo cừu, mùa hạ không dùng quạt, mưa không che dù, chịu đựng gió sương cùng với binh sĩ nếu không sẽ không thể hiểu được thực trạng của quân mình. Tướng can đảm xuống ngựa đi bộ cùng với binh sĩ qua những khe đá, nếu không sẽ không biết được nỗi khó nhọc mà binh lính phải chịu. Khi lính đã hạ trại, tướng mới đóng trại, khi bữa ăn của lính chưa nấu xong, tướng chưa được ăn.. Đó là một viên tướng tiết chế được sự ham muốn của mình. Nếu làm tướng mà chia xẻ nóng lạnh, đói khát, sướng khổ với quân sĩ, họ có thể chiến đấu tới chết để thắng trận.” 
Tương tự như thế, Úy Liễu Tử đưa ra cùng một chiến lược để bảo tồn tinh thần binh sĩ giống như công tác chính trị hiện nay. Tôn Tử có một phương pháp tình cảm hơn. Ông ví tướng với quân chẳng khác gì cha với con. Ông viết: Nếu tướng coi lính như con em, thì sẽ phải cùng đi với họ vào khe núi sâu. Đối xử với họ như con đẻ thì họ sẽ sống chết với mình.44
44 Nguyên văn: Thị tốt như anh nhi, cố khả dỉ chi phó thâm cốc, thị tốt như ái tử, cố khả dữ chi câu tử.
Quan niệm ”phụ tử binh” nay trở thành một chủ thuyết quan trọng của Trung Hoa, là một tin tưởng vững chắc trong quân đội. Các lãnh tụ hiện đại cũng đề cập tới nhiều lần. Chiến tranh tâm lý và chiến tranh chính trị đã trở nên một phần bộ quan trọng trong chiến lược ngày nay được cả cán bộ dân sự lẫn quân sự áp dụng. Hệ thống chính trị viên trong cả Hồng Quân lẫn quân đội Quốc Dân Đảng tuy mới được Tưởng Giới Thạch du nhập từ Liên Xô hồi thập niên 1920 nhưng vai trò của nó vốn dĩ hiện hữu trong các tư tưởng quân sự Trung Hoa từ thời thượng cổ. 
Logged

Không có bạn bè vĩnh viễn và kẻ thù vĩnh viễn. Tất cả chỉ vì sự tồn tại của mình.
Khi hai bàn tay nắm chặt và buông lơi một đất nước vĩ đại sẽ hình thành hoặc bị diệt vong.
dungrommel
Thành viên
*
Bài viết: 237


WWW
« Trả lời #17 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2009, 12:32:53 am »

5.   VIỆC PHÁT TRIỂN CỦA LÝ THUYẾT QUÂN SỰ TRUNG HOA SAU ĐỜI TẦN 
Ngay từ đầu chương này, chúng ta đã nhận rõ là các lý thuyết quân sự của Trung Hoa đã phát triển đầy đủ trước khi nhà Tần gồm thâu lục quốc. Từ đó về sau các học thuyết trở nên trì trệ. Dẫu có một số lớn tác phẩm về đề tài này được viết ra nhưng nội dung chủ yếu không thay đổi gì mấy. Dựa trên nhận định đó, nghiên cứu này chỉ duyệt qua một số tác phẩm chọn lọc về lý thuyết quân sự đời Tiên Tần chứ không mở rộng sự bàn luận tới mọi tác phẩm, mọi thời đại. Tuy nhiên chúng tôi cũng lược qua một số tác phẩm sau đời Tần để khỏi có một khoảng trống lớn giữa thời thượng cổ và thời hiện đại.
Theo những tài liệu đã tìm thấy, hầu hết các binh thư từ đời Tần trở về sau chỉ được soạn thảo trong một vài thời kỳ của một số triều đại. Theo con số của Lục Đạt Tiết thì 60% của tổng số 850 tác phẩm sau đời Tần được soạn ra trong ba triều đại. Thời Minh khởi sắc nhất gồm 286 tác phẩm, thời Tống thứ nhì với 104 tác phẩm và thời Thanh thứ ba với 101 tác phẩm. Cả ba triều đại này đều phải đối phó với cường địch từ bên ngoài và luôn luôn bị xâm lấn. Cho nên lý thuyết quân sự cũng là một sản phẩm của nhu cầu xã hội. Khủng hoảng khiến con người phải đấu tranh để sống còn và từ đó nảy ra nhiều tư tưởng mới. 
Tuy nhiên đó chỉ mới làm gia tăng số lượng sách vở chứ không đưa tới một sáng tạo mới nào trên lãnh vực lý thuyết. Thất bại đó cũng bởi vì xã hội Trung Hoa quá trì trệ do sự độc tôn chính trị và văn hóa sau đời Tần và nhất là sau đời Hán. Trước và trong thời Xuân Thu, chỉ các quan lại mới được giao phó việc binh bị. Huấn luyện quân sự không tách rời khỏi giáo dục dân sự. Quân sĩ có cả huấn luyện quân sự và dân sự. Đến thời Chiến Quốc, vì sự suy thoái của giai cấp sĩ phu và sự đe dọa của chiến tranh, giới nông dân trở thành xương sống của lực lượng quân sự thay thế tầng lớp quan lại. Khả năng của một người lính bình thường có sút giảm ít nhiều nhưng xã hội lúc đó vẫn phát triển trên cả văn hóa lẫn quân sự. Đến khi thống nhất đời nhà Tần và nhà Hán, xã hội Trung Hoa mất đi tính năng động vì sự chuyên chế của nhà cầm quyền. Huấn luyện quân sự tách rời khỏi giáo dục dân sự, quân lính không còn biết làm thơ và người nông dân cảm thấy xa lạ với các vấn đề quốc sự nên miễn cưỡng gia nhập quân ngũ. Sự thay đổi đó làm cho Trung Hoa mất cái tinh thần võ dũng. Giáo sư Lôi Bá Luân (Lei Bai-lun) đã mô tả hiện tượng đó là ”văn hóa mà không có quân sĩ”. Phẩm chất của quân đội Trung Hoa vì thế càng xuống dốc. Đo có lẽ là một trong những lý do tại sao rất ít binh thư xuất sắc trong suốt cả một thời kỳ dài sau nhà Tần và nhà Hán. 
Hơn nữa, một số lớn các tác phẩm quân sự trong giai đoạn này lại do các nho sĩ soạn chứ không phải tướng lãnh. Không có kinh nghiệm chiến đấu, những nhà nho này thường vay mượn nhiều của các tác phẩm xưa như Tôn Tử, Thái Công và viết quá nhiều về những chuyện lặt vặt. Sau đây là vài điểm phác họa về sự phát triển lý thuyết quân sự của thời kỳ này. 
A.   Trận thế 
Trận thế là phương thức sắp xếp binh lữ trong chiến trận còn gọi là trận đồ (ngày nay gọi là đội hình), có thể áp dụng cho cả phòng ngự lẫn tấn công. Vũ khí và trang bị là những yếu tố ảnh hưởng đầu tiên vào các nguyên tắc chiến lược và chiến thuật. Hệ thống vũ khí ngày nay khác hẳn với gươm giáo cung tên thời xưa. Cho nên, các trận thế cổ không thể nào áp dụng cho việc điều binh thời nay nếu không thay đổi tận gốc rễ. 
Nói chung, các chiến lược gia Trung Hoa trước đời Tần chỉ đề cập một số nguyên tắc căn bản của trận đồ. Chẳng hạn như Tôn Tử thảo luận về nguyên tắc trận thế chiến thuật (hình) một cách chi tiết, nhưng đề cập đến trận đồ (trận) chỉ giản lược đôi lần mà không đi sâu. Ngô Tử cũng không thảo luận chi tiết về vấn đề này. Úy Liễu Tử và Thái Công chỉ đưa ra vài lời chỉ về nguyên tắc lập trận. Thí dụ Úy Liễu Tử viết:
“Nói chung, mọi thế trận đều phải đối diện với địch. Tuy nhiên có những trận đồ sắp xếp binh sĩ hướng cả vào trong lẫn ra ngoài trong đội hình tự vệ và cũng có những trận đồ bắt lính đứng hay ngồi. Đứng là để tấn công trong khi ngồi là để phòng thủ.”
  Sau đời Tần, trận pháp trong nhiều trường hợp trở thành đề tài chính. Một vài tác giả còn đề cập đến những trận đồ đặc biệt.
 Hà Lương Thần (He Liangchen), một trong số ít người soạn binh thư thời nhà Minh có kinh nghiệm về chiến đấu đã đưa ra một hình ảnh tổng quát về sự bệnh hoạn của việc phát triển trận đồ. Kết luận của ông là trận đồ càng phức tạp thì càng khó áp dụng. Nếu ai dùng nó trên chiến trường sẽ không tránh khỏi bị đánh bại. Vua Tống Thần Tông đã chỉ ra những trận thế không thực dụng của một số người gọi là chuyên viên:
Hiện nay, các lý thuyết gia quân sự thường mượn những hình ảnh về trận đồ trong Âm Phù Kinh của Lý Thuyên để hù dọa người khác. Nó vô dụng. Dựa trên những lý thuyết này thì dường như khi hai đoàn quân thù địch gặp nhau trên chiến trường, họ phải gửi sứ giả tới để thỏa thuận về ngày giờ và địa điểm sẽ đụng độ, rồi sau đó sai người đến chặt bụi cây dọn sạch cỏ, san đất lấp hố để có một khu đất trống rộng rãi ngõ hầu có thể lập trận. Ta chắc chắn rằng điều đó không thể nào hữu hiệu. 
Quả thực những nghiên cứu về trận đồ sau đời Tần đã đi quá xa hoàn toàn vượt ra khỏi thực tế. Nếu những nghiên cứu đó chỉ giới hạn trong mức độ chiến thuật thì có lẽ cũng không bị chỉ trích đến thế. Vấn đề là một số người tự xưng là chuyên môn thường cố đưa ra những trận pháp dùng đến cả chục vạn quân. Chẳng hạn như Phi Trận của Hứa Đồng đã sắp xếp cho một đạo quân 100,000 người. Nếu như thế lời phê phán của vua Thần Tông quả thực viễn kiến. 
B.   Việc chú trọng đến phát triển kỹ thuật
  Hầu hết các binh thư trước đời Tần đều đưa ra nguyên tắc mà không đi sâu vào những điểm nhỏ nhặt. Hiện tượng đó đã bắt đầu thay đổi ngay từ cuối đời Chiến Quốc. Lục Thao và Tôn Tẫn Binh Pháp mới khai quật được chứng tỏ khuynh hướng đó. Mao Anh Bạch (Mao Yingbai) tác giả cuốn Giới thiệu sơ lược về binh pháp Tôn Tử và Tôn Tẫn (Tôn Tử binh pháp dữ Tôn Tẫn binh pháp giản giới, Hương Cảng, Anh Hoa 1979) đã viết là vì chưng Tôn Tử đã đưa ra một số lý thuyết không ai sánh kịp coi như hoàn chỉnh, những người đi sau Tôn Tử dường như không thêm được mấy. Cho nên, họ phải viết các chi tiết kỹ thuật. Khuynh hướng đó trở nên rất phổ biến trong các tác giả sau đời Hán và đời Đường. Thí dụ trong Vệ Công binh pháp tập, Lý Tịnh đã thảo luận về nhiều đề mục kỹ thuật, về sau được Lý Thuyên (Li Quan) dùng lại trong tác phẩm Thái Bạch Âm Kinh (Taibaiyinjing) của ông. Những sách đó mô tả chi tiết các kỹ thuật xây tường, đắp lũy, đào hầm, đào hào, phóng nỏ liên châu và các khí cụ khác cũng như các dụng cụ qua sông, hỏa công, sắp xếp yến tiệc ... Trong Hổ Kiềm Kinh, Hứa Đồng đời nhà Nguyên bàn về cách dùng cờ xí, trống và cứu thương ngoài mặt trận ... Trong Bạch Chiến Kinh Vương Minh Hạc (Wang Minghe) để nhiều trang bàn về huấn luyện. Ông không những vẽ hình các trận đồ và đóng trại mà còn họa cả hình chỉ những cách lên xuống ngựa. 
Việc phát triển này cũng có những chỗ sở dụng. Binh lính và các đội trưởng trẻ chưa có kinh nghiệm trận mạc có thể dùng các tài liệu này làm cẩm nang để huấn luyện và giải quyết các vấn đề hàng ngày.
Logged

Không có bạn bè vĩnh viễn và kẻ thù vĩnh viễn. Tất cả chỉ vì sự tồn tại của mình.
Khi hai bàn tay nắm chặt và buông lơi một đất nước vĩ đại sẽ hình thành hoặc bị diệt vong.
dungrommel
Thành viên
*
Bài viết: 237


WWW
« Trả lời #18 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2009, 12:33:30 am »

C.   Họa kiểu vũ khí
Nhiều tác phẩm quân sự đời Minh và Thanh bàn về các kiểu vũ khí. Một số vẽ vũ khí trong sách, dạy cách sử dụng và cả cách chế tạo. Vương Minh Hạc mô tả về các súng điểu thương và hỏa mai, công thức của thuốc đạn và cách làm. Một tác giả vô danh khác, dùng bút hiệu là Huệ Lộc Sái Dân (Huilu Jiumin) viết một cuốn sách nhan đề Bình phích bách kim phương (Binhpi Baijin phang). Ông mô tả nhiều loại vũ khí và chiến cụ phòng thủ cũng như đi vào chi tiết nhiều trận đồ. Ông không những làm những gì Vương Minh Hạc đã làm trong việc mô tả các phương thức chế tạo vũ khí mới như súng hỏa mai, thần công và thuốc súng mà còn vẽ hình các loại thương, đao, cung. Ông còn cho các trị số đo đạc tường và vọng gác.
  Việc thảo luận về hệ thống vũ khí trong các sách vở về quân sự thời Minh và Thanh có những căn bản lịch sử đáng kể. Kể từ giữa triều Minh, việc thông thương giữa Trung Hoa và Âu Châu đã bành trướng mãnh liệt. Khí giới Tây phương được nhập cảng vào Trung Hoa trong thời kỳ này. Theo Hà Lương Thần, tác giả cuốn Trận Kỷ (Zhanji), súng trường do môt số người man di ở phương nam đưa vào, có lẽ từ Âu Châu qua Đông Dương vào Trung Hoa. Ông so sánh khả năng súng của Tây Phương với súng của Nhật và các loại hỏa tiển cổ truyền của Tàu. 
Mặc dầu hỏa khí thỉnh thoảng vẫn được dùng trong quân đội Trung Hoa thời nhà Minh và nhiều binh thư cũng thảo luận chi tiết về khả năng các loại võ khí mới nhưng không chiến lược gia nào phân tích về vai trò của các loại vũ khí này trên mặt chiến lược và chiến thuật. Thật ra, thảo luận về các trận đồ đã đến một mức thiếu thực dụng, và đã ngự trị tư tưởng của các chiến lược gia Trung Hoa suốt mấy thế kỷ cho đến cuối thế kỷ 19, sau khi nước Tàu liên tiếp bị liệt cường phương Tây đánh bại. Những người chỉ huy quân sự Trung Hoa như Tăng Quốc Phiên hay Lý Hồng Chương đã nhận thấy huấn luyện quân sự như kiểu Vạn Thắng Quân của Gordon có khác kiểu Tàu và bắt đầu phần nào thay đổi tổ chức quân sự và chiến thuật khi súng trường và súng điểu thương được dùng trong binh đội Trung Hoa. Dù thế chăng nữa, họ vẫn theo sát quan niệm về trận pháp cổ điển. Trong một lá thư gửi cho các tướng lãnh, Tăng Quốc Phiên đề cao trận thế trong Ác Kỳ Kinh (Woqijing) do Lý Thuyên soạn. Tuy nhiên Tăng vẫn linh động không đích thân kiểm soát hành vi của các tướng. Ông nói với một tì tướng là ”một đại đội thì đội hình Uyên Ương hay Tam Tài rất quan trọng, một tiểu đoàn thì đội hình nào cũng phải giữ nguyên tắc một chính binh, hai kỳ binh, một đơn vị trừ bị và một đơn vị mai phục”. Ngoài ra, ông để các tướng tự chọn lấy đội hình của mình. 
Thật ra người Trung Hoa chưa bao giờ hiểu hoàn toàn vai trò của vũ khí mới trên chiến lược quân sự và chiến thuật dùng trong thời kỳ ấy và do đó không tái tổ chức quân đội theo những quan niệm mới về chiến lược chiến thuật. Mãi đến thập niên cuối cùng của thế kỷ 19, dưới sự lãnh đạo của Viên Thế Khải (Yuan Shikai), Trung Hoa mới du nhập hoàn toàn lối tổ chức và phương pháp huấn luyện của Âu Tây. Tuy nhiên, sự thay đổi về chiến lược và chiến thuật thì lại càng chậm hơn. Đến thời nội chiến và chiến tranh kháng Nhật 1930 -40 Trung Hoa mới thực sự áp dụng vì phải động viên toàn lực cả vật chất lẫn tinh thần. Một vài lãnh tụ Trung Hoa bắt đầu khai triển chiến lược và chiến thuật riêng cho phù hợp với tình trạng họ phải đối phó và dùng được những phương tiện có trong tay. 
D.   Âm Dương và Mê tín
Thật dễ hiểu các nhà lãnh đạo cổ thời dựa một phần lớn vào mê tín để trị dân. Thế nhưng các binh gia Trung Hoa thời xưa lại không áp dụng. Không một tác phẩm nào đời Tiên Tần lại dựa vào mê tín một cách quá đáng. Tôn Tử và Ngô Tử không đề cập đến Âm Dương hay các việc mê tín khác còn Úy Liễu Tử hoàn toàn phủ nhận công dụng của Âm Dương. Thật vậy, ông trả lời Lương Huệ Vương:
“Hoàng Đế trừng phạt kẻ vô đạo bằng binh lực và cai trị xã tắc bằng đức độ. Ông ta không xem trăng sao, Âm Dương, bói toán để quyết định bao giờ”. 
Thái Công là binh gia duy nhất áp dụng một vài thuyết mê tín vào việc quân sự. Ông có lẽ là người đầu tiên muốn thành lập một cách thức tiên tri kết quả trận đánh bằng cách xem thiên văn tại trận tiền. Tướng Từ Bội Căn giải thích thuyết của Thái Công bằng khoa thiên văn hiện đại như hướng gió, chiều bụi bay, khói bay nhưng có lẽ đó không phải là chủ ý của Thái Công nên quan điểm của Từ không có sức thuyết phục lắm.
Các tác phẩm viết sau đời Tần, đời Hán bàn nhiều về Âm Dương, Ngũ Hành, thiên văn, bói toán, tinh tượng trong việc hành quân. Tư tưởng Đạo gia và Âm Dương được nói tới đầu tiên trong Âm Phù Kinh (Yinfujing), do Lý Thuyên đời Đường thác danh là Hoàng Đế viết. Thay vì bàn về chiến sự, suốt 30 đề mục ông chỉ nói về trời, đất, vũ trụ, thiên nhiên, lý, cơ và âm dương, đầy những từ huyền học. Vì thế các binh gia vẫn cho rằng lý thuyết quân sự cổ thời bị ảnh hưởng của Đạo Giáo. Trong nhiều sách khác cùng thời kỳ này cũng có hiện tượng ấy. Rõ rệt nhất là Hứa Đồng tác giả Hổ Kiềm Kinh (Huqian jing) bao gồm 120 tập, 450 trang. Ông dùng gần một nửa quyển sách để bàn về thiên văn, bói toán, điếu tang và các trò mê tín khác. Nguyên 7 tập toàn bàn về các thiên văn và bói toán và các tập khác cũng viết những điều liên quan đến vấn đề này. 
Thuyết âm dương, ngũ hành và bói toán có thể tìm thấy từ thời Hoàng Đế, Phục Hi và nhiều người khác nhưng chỉ trở nên một trường phái triết học chính yếu trong thời Xuân Thu và Chiến Quốc. Dần dần nó phổ cập vào mọi phương diện xã hội. Thực vậy, khi Hán Vũ Đế quyết định bãi bõ tất cả các trường phái triết học chỉ giữ lại Khổng Giáo trong ý thức trên toàn quốc thì quan niệm Âm Dương, Ngũ Hành vẫn tồn tại nơi quần chúng và ngay trong các cận thần của vua. 
Theo nhiều học giả thì các chiến lược gia cổ thời như Tôn Tử chẳng hạn bị ảnh hưởng bởi Đạo giáo và học thuyết Âm Dương, Ngũ Hành rất nhiều. Mặc dầu rất khó chứng minh các tin tưởng này đúng hay sai, nhưng có lẽ đúng nếu nói rằng Tôn Tử và những người khác đã phát triển lý thuyết của họ trước đời Tần thì ít bị ảnh hưởng bởi Đạo giáo, Âm Dương, Ngũ Hành như những người ở thời Hán và thời Đường. Lý do đó quá rõ ràng. Các tư tưởng gia quân sự đại diện một phần của văn hóa quốc gia và bắt nguồn từ đó nên sự phát triển các lý thuyết quân sự không thể tách rời khỏi ảnh hưởng của dòng văn hóa đất nước.
E.   Kết luận 
Bốn điểm vừa đưa ra để phân tích là những đặc điểm chính của sự phát triển lý thuyết quân sự Trung Hoa sau đời Tần nhưng không phải là những điểm duy nhất. Có nhiều tác phẩm giá trị chưa được nhắc tới. Có ba lý do căn bản cho việc bỏ sót này:
 Trước hết, một số tác phẩm có thể hay nhưng lại không có ý nghĩa đặc biệt nào về quân sự. Tố Thư (Sushu) của Hoàng Thạch Công (Huang Shigong) chẳng hạn được viết để dạy các nhà lãnh đạo làm sao sống hòa với quần thần và làm sao cai trị đất nước. Không có gì liên quan đến quân sự cả. Còn Tam Lược (Sanlue) cũng của Hoàng Thạch Công mặc dầu vẫn được coi là binh thư từ lâu nhưng chỉ đề cập sơ qua đến quân sự. Đại Tướng Ngụy Nhữ Lâm (Wei Rulin), tác giả cuốn Hoàng Thạch Công Tam Lược Kim Chú Kim Dịch (Huang Shigong Sanlue Jinzhu Jinyi) đã nói rằng cuốn sách chỉ chú trọng đến nguyên tắc cai trị và bình định quốc gia. Ngoài ra, việc chân ngụy của tác phẩm và người tác giả huyền sử, Hoàng Thạch Công còn là một câu hỏi. Cuốn sách có lẽ sáng tác của người ở một thời đại sau rất lâu. 
Thứ đến, một lý do nữa tại sao có nhiều sách bị bỏ qua không bàn tới là vì nó có rất ít ý kiến mới mẻ mà chỉ phiên dịch lại những tác phẩm xưa. Đối thoại của Đường Thái Tông và Lý Vệ Công là một thí dụ điển hình. Nội dung chủ yếu nằm trong Tôn Tử binh pháp, tập trung vào các đề tài Kỳ -Chính, Hư -Thực như đã đề cập trước đây trong chương này. Ngoài ra, một số tác giả còn theo hình thức của Tôn Tử hay chỉ muốn chú giải lịch sử chiến tranh mà thôi. Sau cùng, chúng tôi bỏ qua một số sách khác vì một vài vấn đề, đạo làm tướng chẳng hạn, vốn dĩ rất quan trọng trong hầu hết các cổ thư thì nay không còn đặc sắc lắm. Các binh gia thời xưa nhấn mạnh vấn đề này vì trước đây thiếu các chương trình huấn luyện chính thức cho các võ quan khiến các tướng lãnh khó khăn trong việc chọn tì tướng. Hệ thống tuyển mộ và chương trình huấn luyện chính thức hiện nay đã giải quyết phần lớn các vấn đề này. Không ai trong thời hiện kim lại có thể được giao một chức vụ chỉ huy quan trọng mà không được huấn luyện chu đáo và đầy đủ kinh nghiệm. Sự kiện đó không những cải thiện đức tính của thành phần sĩ quan mà còn giải quyết phần nào khó khăn của các viên chức cao cấp trong tiến trình tuyển mộ. Cho nên, thời buổi này vấn đề đó không còn quan trọng như thời xưa.
Logged

Không có bạn bè vĩnh viễn và kẻ thù vĩnh viễn. Tất cả chỉ vì sự tồn tại của mình.
Khi hai bàn tay nắm chặt và buông lơi một đất nước vĩ đại sẽ hình thành hoặc bị diệt vong.
dungrommel
Thành viên
*
Bài viết: 237


WWW
« Trả lời #19 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2009, 12:34:07 am »

 Chương 3: Cuộc chiến tranh nha phiến và sự chuyển hóa của hệ thống quân sự Trung Hoa
1.   HỆ THỐNG QUÂN SỰ TRUNG HOA TRƯỚC NHA PHIẾN CHIẾN TRANH
 Trên quan điểm phát triển, các học giả nghiên cứu về canh tân hóa đồng ý rằng thay đổi là một hiện tượng hằng cửu hiện hữu trong mọi xã hội, trong mọi thời gian. Thực ra, quan niệm về thay đổi không phải là một quan điểm mới mẻ mà ít nhất đã có trong lịch sử 2500 năm trước tại Tây phương. Tại Trung Hoa, từ đời Chu quan niệm về biến dịch đã được chấp nhận như luật của trời đất. Tuy nhiên, nhiều học giả chuyên nghiên cứu về Trung Hoa (sinologist) cho rằng lịch sử nước Tàu từ đời Tần trở đi trở nên bất động và không có gì thay đổi mạnh mẽ cho tới thời kỳ hiện đại. Chẳng hạn như Lôi Bá Luân (Lei Bailun), dưới nhan đề ” Một nền văn hóa không binh lính” đã viết là lịch sử Trung Hoa trước đời Tần rất năng động luôn luôn có những thay đổi về xã hội -chính trị nhưng từ đó về sau trở nên trì trệ. Có những chu kỳ trật tự, rối loạn và chuyển động mãnh liệt nhưng không có những thay đổi thực sự. Cho nên, trong những điều kiện xã hội cố định, những chu kỳ chính trị tương tự luân chuyển thay đổi nhau. Cũng có thể nói rằng lịch sử chính trị Trung Hoa từ đời Hán về sau chỉ là những triều Hán được lập đi lập lại. Theo họ Lôi, về phương diện quân sự, đặc tính văn hóa Trung Hoa từ đời Hán cũng không có những quân nhân đúng nghĩa. Nói như thế ông ngụ ý rằng không có con người và cũng không có sinh hoạt chính trị. Nói một cách giản dị, ông cho rằng hiện tượng đó là một nền văn hóa không có binh lính.
 Việc Trung Hoa được thống nhất dưới một chính quyền trung ương có thể chính là nguyên nhân gây ra sự mất mát về năng động chính trị. Tuy nhiên, thay đổi là một định luật thiên nhiên. Một chính quyền không điều hướng được thay đổi xã hội một cách hiệu quả và bình ổn trong trường kỳ không thể tránh khỏi một cuộc cách mạng đột xuất. Sự lập đi lập lại trong lịch sử chính trị Trung Hoa thực ra là những cuộc cách mạng liên tục để đem lại những cải cách xã hội. Quyền lực gây ra hủ bại và quyền lực tuyệt đối gây ra hủ bại tuyệt đối. Một chính quyền càng nắm quyền lâu thì càng trở nên thối nát. Vương triều trung ương của Trung Hoa cũng giống như các hệ thống quân chủ khác không thoát ra khỏi qui luật chính trị này. Việc mất tính năng động trong hệ thống quân chủ chuyên chế không những nói lên sự thất bại của nó trong việc mang lại những thay đổi xã hội cần thiết mà còn biểu hiện sự bất lực trong việc duy trì môt hệ thống quân sự hữu hiệu.
 Cho nên không sai nếu nói rằng hệ thống quân sự Trung Hoa thời phong kiến là nạn nhân của sự hủ bại chính trị. Họ Lôi cũng cho rằng lực lượng quân sự nhiều khi không khác gì bọn giặc cướp được trang bị vũ khí. Tuy nhiên xét vấn đề dưới quan niệm văn hóa cũng cưa đúng hẳn khi nhìn vào những thất bại của Trung Hoa trong việc chống xâm lăng từ bên ngoài theo hiện tượng ”văn hóa không binh lính” như họ Lôi đã nhận định. Nếu các yếu tố văn hóa của một thời này hay thời khác có gây nên sự suy thoái của hệ thống quân sự thì đó cũng không phải là hiện tượng độc nhất chỉ có tại Trung Hoa. Thật ra trước thời hiện đại, không quốc gia nào đã phát triển được một hệ thống dân chủ bảo đảm quyền công dân và quyền chính trị. Giáo sư Vương Nhĩ Mẫn (Wang Ermin), một sử gia quân sự hiện đại đã phê bình kết luận của Lôi Bá Luân là một phát biểu nặng cảm tính ảnh hưởng bởi nỗi xúc động vì nỗi Trung Hoa không có khả năng tự vệ trong thời cận kim. 
Theo giáo sư Vương thì sự thất bại của hệ thống quân sự trong thời kỳ này chẳng qua chỉ là môt phần của sự phá sản toàn bộ của hệ thống chính trị dưới thời nhà Thanh. Phiền trách lực lượng quân sự của Trung Hoa bị đánh bại trong chiến tranh mà không đề cập tới ảnh hưởng của sự suy bại về tình trạng xã hội -kinh tế và chính trị như một bối cảnh chung sẽ chưa hoàn toàn đầy đủ. Cho nên, xét qua về tình trạng xã hội -kinh tế và chính trị của Trung Hoa trước khi xẩy ra cuộc Nha Phiến Chiến Tranh có thể giúp chúng ta nhìn thấy một hình ảnh rõ ràng về điều kiện của hệ thống quân sự nước Tàu thời đó và từ đó dọn đường cho việc phân tích các đề nghị cải cách sau này.   
A.   Các vấn đề Xã hội -Kinh tế 
Vào đầu thế kỷ 19, nhiều quốc gia Âu Châu đã hoàn thành cuộc cách mạng kinh tế, chính trị và ngay cả tôn giáo của họ. Được trang bị bằng niềm tin vào tinh thần quốc gia, Cơ Đốc giáo và chủ nghĩa tư bản, lại được hậu thuẫn bằng lực lượng quân sự hiện đại với vũ khí tối tân nhất, người Tây Phương bắt đầu bành trướng ra khỏi châu Âu. Trong khi đó, Trung Hoa dưới sự cai trị của người Mãn Châu đang đi vào thời kỳ suy thoái sau một giai đoạn tương đối huy hoàng và thịnh vượng. 
Là một quốc gia nông nghiệp, Trung Hoa luôn luôn bị tình trạng thiếu đất canh tác. Chính quyền nào giải quyết được vấn đề đất đai thì họ sẽ xây dựng được một thời kỳ thanh bình và no ấm mà không có những rắc rối trầm trọng. Trong giai đoạn đầu của lịch sử Trung Hoa, nhà nước có thể phát đất cho từng người đến tuổi thành niên. Sau đó, khi dân số tăng lên quá đông chính quyền không còn có thể bản đảm mỗi người có đất riêng để canh tác nữa. Việc thiếu đất nghiêm trọng và kinh tế khó khăn đã không tránh khỏi đưa đến nông dân nổi dậy và dần dần lật đổ được chính quyền. Triều đại Mãn Thanh vào đầu thế kỷ 19 chính là vừa đến thời điểm đó. 
Theo Hồ Thằng (Hu Sheng), tổng số đất khả canh của Trung Hoa vào năm 1820 vào khoảng 808 triệu mẫu, ít hơn đất canh tác hồi nhà Minh (1393) 40 triệu mẫu. Tuy nhiên dân số đã gấp mấy lần hồi 1393. Vào năm 1835, trước vụ Chiến Tranh Nha Phiến, dân số Trung Hoa là 400 triệu người, gấp ba dân số thế kỷ 17 và gấn đôi dân số hồi thập niên 1740 khi vua Càn Long vừa lên ngôi. 
Người ta bảo rằng trung bình mỗi người có 2 mẫu đất hồi 1835 nhưng thực tế thì kém xa vì đất tập trung trong tay một số người. Theo Mưu An Thế (Mu Anshi), trong thời Càn Long vừa lên ngôi, 50 đến 60% đất khả canh thuộc về địa chủ. Ngoài ra, hoàng gia và cái gọi là Bát Kỳ tông tộc cũng làm sở hữu một số lớn đất đai. Thành thử, nông dân, chiếm hơn 90% dân số lại chỉ chiếm được 40% tổng số đất. Khi thuê mướn ruộng, tá điền phải trả 50% hoa màu thu hoạch cho địa chủ. Họ chẳng còn mấy tí để nuôi gia đình. 
Trong tình trạng đó, nông dân Trung Hoa bị khó khăn kinh tế đè nặng. Cả xã hội giống như một hỏa diệm sơn sắp sửa nổ tung, nông dân nổi dậy là điều hiển nhiên. Chỉ cần một mồi lửa châm ngòi. Khi Chiến Tranh Nha Phiến xảy ra, chỉ vài năm sau là loạn lạc khắp nơi. 
B.   Sự hủ bại về chính trị
  Nhà Thanh bắt đầu cai trị năm 1644 nhưng mãi đến năm 1683 mới dẹp xong các cuộc nổi dậy, sáp nhập Đài Loan vào lãnh thổ và thống nhất Trung Hoa dưới một chính quyền trung ương. Sau đó, dưới các đời vua Khang Hi, Ung Chính và Càn Long, triều đại nhà Thanh hưởng được 100 năm huy hoàng và thịnh trị, chinh phạt mở rộng biên cương. Tuy nhiên, suy thoái chính trị cũng bắt đầu xuất hiện và trở nên nghiêm trọng vào cuối đời Càn Long khiến cho quốc gia kiệt quệ về kinh tế -xã hội trong đầu thế kỷ 19 và vương triều không bao giờ có thể hồi phục khi bị đánh bại trong cuộc Nha Phiến Chiến Tranh 40 năm sau. Chính trị hủ nát vốn dĩ làm nông dân khổ cực bấy lâu nay khiến cho quốc gia bước đến bờ vực thẳm. Hai thí dụ sau đây giúp chúng ta hình dung tham nhũng lan tràn tới mức nào. 
Cũng như ông nội là vua Khang Hi, vua Càn Long thích đi du hành khắp nước. Trong thời gian trị vì, ông tuần thú phương nam tới Giang Tô và Triết Giang sáu lần, di về phương đông tới tỉnh Sơn Đông năm lần, về phương đông bắc tới Thịnh Kinh của Mãn Châu ba lần, đi về phương tây tới Ngũ Đài Sơn 6 lần và tới Hà Nam một lần. Ông thường nghỉ hè tại Nhiệt Hà, đi săn hàng năm ở Mộc Lan vào tháng tám âm lịch và đi chơi các vùng lân cận Thiên Tân, thăm các lăng tẩm ở phía đông nhiều đến nỗi không sách vở nào chép hết. Tháp tùng Hoàng Đế luôn luôn có Hoàng Thái Hậu, Hoàng Hậu, hàng ngàn kẻ hầu người hạ và cận vệ. Mỗi chuyến đi kéo dài ít nhất vài tháng. Hơn nữa, mỗi lần nghỉ hè ở Nhiệt Hà kéo dài cũng trên hai tháng. Các quan chức địa phương lại cố gắng tột cùng để chiều lòng Kim Thượng, tiêu pha rất xa xỉ. Các chi phí đó lẽ dĩ nhiên đổ lên đầu dân chúng khiến cho họ càng thêm khổ cực. 
Theo Vương Đồng Linh (Wang Tongling) trong Trung quốc toàn sử, nhiều quan lại đã cố gắng khuyên vua ngưng các chuyến tuần du tốn kém đó vì gánh nặng tài chánh đổ trên đầu dân địa phương nhưng Càn Long nổi giận và trừng phạt họ một cách không nể nang. Về sau chẳng ai còn dám hé răng can ngăn nữa. 
Khi vua viễn du khỏi kinh thành, ông giao lại quyền bính cho viên quan thân tín, Hòa Khôn (He Shen), một kẻ nổi tiếng là tham lam khiến càng thêm hủ bại. Dưới quyền Hòa Khôn, hối lộ trở nên thông dụng trong đám quan lại, không ai còn trọng đạo đức, các chức vụ trong quan trường đều có thể bỏ tiền mua. Kẻ nào biết luồn cúi, nịnh bợ chiều lòng Hòa Khôn thì muốn làm gì thì làm và có thể ăn hối lộ giàu có trong một sớm một chiều.
 Chuyện thứ hai là việc ngăn ngừa lũ lụt luôn luôn là một công tác quan trọng tại Trung Hoa mà chính quyền nào cũng phải thực hiện. Nhà Thanh cũng giống như các triều đại khác. Dưới thời Càn Long, chức quan hộ đê lại trở thành một chức béo bở cho những người theo Hòa Khôn hay những người muốn kiếm tiền trên hoạn lộ. 
Chính vì thế, dù quốc gia có tiêu bao nhiêu tiền vào việc đê điều và ngăn ngừa lụt lội thì cũng chẳng đi đến đâu mà chỉ làm giàu cho những kẻ có chức quyền. Về sau lụt lội trở nên thường xuyên hơn, gây thiệt hại về nhân mạng và tài sản. Theo con số của Vương Đồng Linh, thời vua Càn Long trị vì, trong 45 năm sông Hoàng Hà vỡ đê 20 lần tại Hà Nam và Giang Tô, đổ đồng hai năm là một năm lụt. Sau khi vua Càn Long băng hà, trong 22 năm có 17 lần lụt lội tại các sông khác. Triều đình phải bỏ ra nhiều triệu lượng bạc để tu bổ đê đập khiến cho các quan lại có dịp phát tài. Nông dân vùng lụt một cổ hai tròng, trong khi nhà tan người mất lại còn phải gánh vác việc hộ đê. 
Logged

Không có bạn bè vĩnh viễn và kẻ thù vĩnh viễn. Tất cả chỉ vì sự tồn tại của mình.
Khi hai bàn tay nắm chặt và buông lơi một đất nước vĩ đại sẽ hình thành hoặc bị diệt vong.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM