Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 09:30:42 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lý thuyết quân sự Trung Hoa  (Đọc 61296 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
dungrommel
Thành viên
*
Bài viết: 237


WWW
« Trả lời #30 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2009, 12:42:18 am »

C.   Tư Tưởng Quân Sự của Tả Tông Đường
  Tả Tông Đường người tỉnh Hồ Nam đỗ Cử Nhân. Ông từng làm cố vấn quân sự 8 năm cho viên Tuần Phủ tỉnh ông trước khi gia nhập với Tăng Quốc Phiên vào năm 1860. Với kinh nghiệm và tiếng tăm sẵn có, Tả Tông Đường được giao ngay trông coi một cánh quân, gọi là Sở Quân (Chujun) gửi ra đánh giặc Thái Bình tại tỉnh Giang Tây. Sau khi thắng nhiều trận liền, ông được cử chỉ huy lực lượng quân sự và sau này phong làm Tuần Phủ tỉnh Triết Giang năm 1862. Dần dần ông được thăng lên làm Tổng Đốc Mân Triết (Phúc Kiến và Triết Giang) năm 1864. 
Sau chiến thắng quyết định của chiến dịch chống giặc Thái Bình năm 1864, ông đề ra kế hoạch phòng vệ bờ biển và chương trình kỷ nghệ quân sự. Tuy nhiên trước khi hoàn thành các công tác này, ông được thăng Tổng Đốc Thiểm Cam (Thiểm Tây và Cam Túc) năm 1865 và giao cho việc tiễu trừ giặc Hồi Hồi (Moslem) ở đó. Tả Tông Đường không những đánh bại được giặc, tái lập trật tự mà còn chiếm được Tân Cương năm 1877 và sáp nhập vào thành một tỉnh của Trung Hoa. 
Sự nghiệp quân sự của ông tại Tây Bắc Trung Hoa khiến ông suy nghĩ khác hẳn Lý Hồng Chương. Ông cũng thúc đẩy phòng vệ hải phận nhưng lại phản đối Lý Hồng Chương và những ai đề nghị bỏ Tân Cương để củng cố mặt biển. Tả Tông Đường đòi hỏi một chính sách quân bằng hơn trong lãnh vực quốc phòng và đưa ra một chiến lược hung hăng hơn trong việc đối phó với Nga-la-tư và Anh-cát-lợi xâm lăng Tân Cương. Thái độ quật cường và chuẩn bị chu đáo của ông đã khiến cho nhà vua ủng hộ và chiếm lại được khu vực chiến lược Y Lê (Yili) vùng Tân Cương từ tay người Nga mà hai nước không phải giao binh.
 a/ Phòng vệ hải phận và xây dựng Kỹ Nghệ Đóng Tàu hiện đại :
 Năm 1866 trước khi từ chức Tổng Đốc Mân Triết sang nhận chức Tổng Đốc Thiểm Cam, ông dâng một bản điều trần về việc đóng tàu. Mặc dầu ông nhấn mạnh vào mục tiêu kinh tế và tài chánh nhưng thực ra là một kế hoạch kỹ nghệ quân sự. Ông tâu vua rằng " nếu muốn tránh các bất lợi mà thu hoạch các lợi ích của biển cả thì đường lối duy nhất là tăng cường thủy quân, mà muốn xây dựng thủy quân thì chúng ta phải xây một bãi đóng tàu để chế tạo tàu chạy máy hơi nước ". 
Khi biết được người Nhật sẽ có tàu chạy hơi nước trong vòng vài năm, ông bắt đầu lo ngại. Nếu Trung Hoa không sớm đuổi kịp thì một ngày nào đó họ sẽ phải đụng độ với Nhật Bản trên mặt biển, ” khi họ có phương tiện, chúng ta chẳng có gì cả. Cũng chẳng khác gì qua sông người khác chèo thuyền thì chúng ta đi bè, cưỡi lừa chạy đua với người cưỡi ngựa".
 Với sự trợ giúp của hai sĩ quan Pháp, d'Aiguebelle và Giquel, bãi tàu Phúc Châu được xây dựng dưới sự giám đốc của Trầm Bảo Trinh (Shen Baozhen), một người tâm phúc của Tả Tông Đường. Đến năm 1874, ngoài bến bãi, sân và công xưởng dùng cho việc đóng tàu, xưởng này còn thêm một đơn vị chế tạo vũ khí và đạn dược, đúc thép để sản xuất sắt dát mỏng, một ban phiên dịch và một trường dạy tiếng Pháp, tiếng Anh, toán, vẽ và hải trình học. Xưởng mướn hai ngàn người Tàu và 50 người ngoại quốc. Nó trở nên một trong bốn xưởng quân cụ lớn nhất Trung Hoa. Nhờ sự thành công của cơ xưởng Phúc Châu, lực lượng hải quân Trung Hoa nhất là vùng Phúc Kiến được trang bị bằng các sản phẩm của xưởng này. Tuy nhiên, dự phóng chiến lược quốc phòng của Tả Tông Đường không chỉ giới hạn trong các thành tựu đó và cũng không chỉ nằm trong các kế hoạch phòng thủ bờ biển. Việc tham gia chiến dịch tiễu trừ giặc Hồi Hồi ở Tân Cương cho ông một nhãn quan mới mẻ về các nỗi nguy cơ của Trung Hoa và ông nhanh chóng chuyển mối quan tâm của ông sang phòng ngự đất liền.
 b/ Loạn Hồi Hồi và ảnh hưởng trên tư tưởng quân sự của Tả Tông Đường :
Nhiều vua chúa Trung Hoa ở nhiều triều đại đã đi chinh phạt vùng Tân Cương. Một số thành công nhưng bị thiệt hại nặng nề, một số khác bị thảm bại. Chiến dịch này tự nó đã rất khó khăn ngay cả khi đất nước cường thịnh. Một chế độ thối nát suy bại như Thanh triều sau khi bị đánh bại liên tiếp bởi các nước Âu Tây và lung lay vì loạn Thái Bình và giặc Niệm xét ra không có khả năng chinh phạt vùng ấy. Vì thế Lý Hồng Chương đã đề nghị từ bỏ viễn chinh. Đầu năm 1875, Chiến dịch dẹp loạn Hồi Hồi ở Cam Túc và Thiểm Tây kết thúc thành công. Nhà Thanh chuẩn bị cho quân đi lấy lại đất Tân Cương đang ở trong tay người Nga vốn dĩ yểm trợ cho người Hồi. Khi ấy, cuộc tranh luận trong triều đình về ưu tiên củng cố hải phận hay thu hồi lãnh thổ Tây Bắc vẫn đang tiếp tục. Lý Hồng Chương đứng đầu phe cương quyết đòi rút quân ra khỏi phía tây Ngọc Môn Quan và giữ một vị thế phòng thủ đằng sau để giảm bớt chi phí tài chánh và củng cố các đồn lũy vùng biển. 
Khi nhà vua hỏi ý về việc này, Tả Tông Đường cực lực phản đối quan điểm của Lý Hổng Chương và xin vua giữ vững quan điểm tái chiếm Tân Cương. Ông biện luận rằng các nước Tây phương chỉ chú trọng đến thương mại. Ngày nào Trung Hoa còn cho họ buôn bán, ngày ấy họ vẫn chưa gây rắc rối gì. Tuy vậy, người Nga và cả người Anh ở Ấn Độ đang cố chiếm đất của Trung Hoa ở Tân Cương. Hơn nữa, sau khi xây dựng thành công Bãi Đóng Tàu Phúc Châu, ngân sách hiện tại đủ để duy trì sản xuất tăng cường phòng vệ mặt biển. Không cần phải thêm tiền gia tăng các căn cứ đồn trú, cũng không gấp gáp phải ngừng và rút lực lượng viễn chinh ở Tân Cương để chuyển ngân khoản sang phòng thủ mặt biển. Điểm quan trọng nhất là nếu Trung Hoa từ bỏ Chiến dịch Thu hồi Tân Cương thì sẽ mất hết các điểm chiến lược quan yếu trong việc quốc phòng. Ông viết:
 Nếu chúng ta chỉ phòng vệ đằng sau Ngọc Môn Quan và không cố gằng tái chiếm Ô Viên (Wuyuan) thì sẽ không còn điểm chiến lược nào để phòng thủ đất nước được nữa ... Nếu không, chẳng những vùng Lũng Hữu (Longyou) sẽ bị đe dọa, ngay cả bắc Thiên Sơn (Tianshan) như Khoa Bố Đa (Kebuduo) và Ô Lý Nhã Tô Đài (Wuliyasutai) ... cũng sẽ rơi vào tay địch. Cho nên thần ngại rằng chưa biết củng cố hải phòng đã lợi gì chưa mà đưa quân viễn chinh từ phương tây về, phòng thủ biên cương sẽ bị nguy cơ rất lớn. 
Nhà vua nghe lời và cử ông làm Khâm Sai, Tiết Chế thống lĩnh quân thu hồi Tân Cương ngay trong tháng đó. 
c/ Vấn đề tiếp liệu của quân viễn chinh và giải pháp của Tả Tông Đường :
Trong thời kỳ giặc Thái Bình và giặc Niệm, các chiến dịch thường đánh tại vùng dông nam và trung bộ nước Tàu là những nơi trù mật nhất của Trung Hoa. Vì thế cấp chỉ huy có thể, nếu không nói là dễ dàng, kiếm thực phẩm cho binh sĩ tại địa phương. Tuy nhiên, ở xa như vùng tây bắc Trung Hoa, không những là nơi chiến tranh tàn phá mà còn là vùng rất nghèo. Sản xuất nông nghiệp không đủ cung ứng tối thiểu cho dân địa phương huống chi là quân của Tả Tông Đường có đến vài chục vạn người. 
Một câu ngạn ngữ của Trung Hoa có nói : Đồ ăn và cỏ khô đến trước, binh mã đến sau. Tả Tông Đường biết ông không thể trông đợi kiếm đủ thực phẩm cho binh sĩ tại vùng đổ nát này và ông phải giữ một nguồn tiếp liệu dài gần 10,000 km mà không có xa lộ hay đường xe lửa để bảo đảm cung cấp cho đều đặn. Thực tế đã ảnh hưởng to lớn đến chiến lược của ông trong kỳ chinh phạt này. 
Năm 1866, Tả Tông Đường bắt đầu thiết lập một hệ thống tiếp vận. Trước hết, ông xây 5 trung tâm hậu trạm tại Trung Hoa chia đều từ đông nam đến tây bắc (gồm ở Thượng Hải tại tỉnh Giang Tô, Thiên Tân trong tỉnh Hà Bắc, Phần Châu ở Sơn Tây, Bao Ninh và Thuận Tân ở Tứ Xuyên) và từ đó lương thực, vũ khí và các loại khí cụ khác được mua để chở tới mặt trận. Các trạm cung ứng dịch vụ quân đội ở gần hay tại mặt trận như ở Tây An vùng Thiểm Tây, Thiên Thủy vùng Cam Túc được thành lập để nhận vật liệu chở từ hậu trạm tới và cung cấp cho lực lượng ở trận tiền bằng cáng, xe hay lạch đà xuyên qua hàng ngàn cây số sa mạc. Giữa các trạm dịch vụ chính và hậu trạm có môt hay nhiều trạm trung gian để nhận và giao vật dụng. Hán Khẩu chẳng hạn dùng làm hậu trạm phân phối thóc gạo cho mặt trận Thiểm Cam, từ đó tiếp liệu được chở tới Tây An thoe nhiều đường khác nhau. Với hệ thống cung cấp như thế, Tả Tông Đường có thể giữ cho tiếp vận không bị gián đoạn.
 Cho quân đồn trú khai phá đất hoang : Ngoài việc thiết lập đường tiếp liệu từ các khu vực duyên hải, Tả Tông Đường còn theo đuổi một chiến lược cổ điển để giải quyết các vấn đề lương thực. Ông ra lệnh cho quân sĩ khai phá các đất hoang trong khu vực doanh trại để sản xuất thóc gạo cho riêng họ. Chiến lược này vốn dĩ dùng từ thời nhà Hán trong thế kỷ thứ nhất và thứ hai cho đến cuối thế kỷ 18 khi nhà Thanh đóng quân ở Tân Cương. 
Khai phá đất hoang tại các vùng biên giới chủ yếu là một chiến lược giải quyết các vấn đề tiếp liệu nhưng cũng có những ảnh hưởng xã hội -kinh tế đáng kể. Thay vì đóng quân để khai hoang, có khi triều dình cho hạt giống, nông cụ, gia súc và chia đất cho nông dân rồi để họ cày cấy. Sau mùa gặt, nhà nước mua hoa màu thặng dư để nuôi quân. Chính sách đó gọi là Dân Đồn (Mintun) nghĩa là để cho dân làm ruộng. Việc đó giúp cho chính quyền sở tại bình định được nông dân và tái lập trật tự. 
Quân sĩ đồn trú khai phá đất trong thời chiến, giống như trường hợp Tân Cương trong chiến dịch này, là một chiến lược đặc biệt ảnh hưởng đến khả năng chiến đấu và có thể gây tổn thất khi hành quân. Vì thế, khi nào có thể được, các quan chức cao không ngại ngùng gì mà không giao lại ruộng đã khai khẩn cho dân địa phương mà không đòi chi phí gì cả.
 Ngoài ra, Tả Tông Đường cũng ra lệnh cho quân sĩ của ông tu sửa các hệ thống thủy lợi, dắp đường và trồng cây. Trong suốt chiến dịch này, quân của ông đã khai phá được hơn 19,000 mẫu, trồng 568,000 cây, làm được 96 cái cầu, đắp 800 dặm đường và sửa 13 hệ thống dẫn nước và sông rạch. Những công trình đó không những khiến cho cuộc Chinh phạt thành công mà còn giúp cho phục hồi được trật tự chính trị và xã hội -kinh tế thời hậu chiến. Chiến lược đó đã có ảnh hưởng đáng kể trên hệ thống quân sự hiện đại.
 Tiến chậm nhưng hành động nhanh : Để cho phù hợp với sự khó khăn của tiếp liệu, Tả Tông Đường phải chọn một chiến lược đặc biệt. Chiến lược đó gọi là Hoãn Tiến Tốc Chiến (Huan Gin Su Zhan) nghĩa là " di chuyển chậm nhưng quyết định nhanh trong chiến đấu ". Nói một cách khác, chiến lược của ông là dùng nhiều thời gian để chuẩn bị cho các hành động quân sự. Ông chỉ dùng lực lượng sau khi tiếp liệu đã đầy đủ. Khi mọi sự sẵn sàng, ông tấn công nhanh vào những vị trí đã chọn và tiêu diệt địch càng nhanh càng tốt. Cho nên, về phương diện chiến lược là một cuộc chiến kéo dài nhưng trên phương diện chiến thuật là một chuỗi các cuộc tấn công nhanh và chắc chắn vào kẻ thù. 
Để bảo đảm rằng quân sĩ sẽ nhận được tiếp liệu đầy đủ và được bảo vệ trong khi di chuyển, ông tiến quân từng bước cho phù hợp với việc chuẩn bị quân dụng. Ông viết: 
Trước khi nhóm thứ nhất bắt đầu di chuyển từ Tô Châu tới Ngọc Môn, thực phẩm và cỏ khô phải được chở từ Cam Tuyền và Lương Châu tới Ngọc Môn trước. Khi nhóm thứ nhất đến Ngọc Môn, họ sẽ chất các vật dụng cần thiết lên lạc đà và xe đi xa hơn tới An Tây ... Các nhóm khác sẽ tiến lên theo cùng một cách như thế. Các nhón quân sẽ nghỉ ở An Tây rồi tiến lên Cáp Mật mang theo thực phẩm riêng cho mình. Cả đoàn quân sẽ tiến như thế, từng toán một, từng bước một để giữ sức cho người và cho vật và để cho tinh thần luôn luôn cao. Có như thế mới tránh được những tai họa.
 Trước khi đại bác được dùng rộng rãi trong chiến tranh, chiến thuật cốt yếu của Trung Hoa muốn chiếm một vị trí hiểm yếu là bao vây rồi cắt đường lương thực nhiều tháng hay năm cho địch chết đói và làm cho họ phải ra ngoài đánh. Chiến lược bao vây kéo dài này được dùng nhiều trong các chiến dịch đánh giặc Thái Bình của Tăng Quốc Phiên. Chẳng hạn như khi đánh Nam Kinh, thủ phủ của giặc Thái Bình, Tăng Quốc Thuyên đã dùng khoảng 50,000 quân bao vây thành trì kiên cố này hơn 2 năm trước khi hạ được thành năm 1864 khi quân Thái Bình phải phá vòng vây. 
Nếu Tả Tông Đường dùng chiến thuật tương tự như thế trong chiến dịch chinh phạt ông sẽ gặp khó khăn rất nhiều về việc tiếp vận. Vì thế ông phải chọn chiến thuật đánh nhanh. Chiến thuật phối hợp hành động của nhiều đơn vị trong chiến đấu là một phương pháp xuất sắc để thực hiện việc đánh nhanh trong cả chiến dịch. Tả Tông Đường thường tập trung đại pháo và kỵ binh vào những mặt trận chính phối hợp với bộ binh. Đánh ban đêm và đánh bất ngờ là những chiến thuật tiêu biểu dùng trong những trận quyết định.
Pháo binh cũng đã được nhóm Vạn Thắng Quân dùng nhiều trong chiến tranh ở Trung Hoa thời đó để chống giặc Thái Bình. Tương Quân cũng theo cách đó. Tuy nhiên không một lực lượng nào của Trung Hoa đã dùng nhiều trong chiến đấu để sau này thành một chiến thuật mới đáng kể như về sau này. Chiến thuật tiêu biểu của quân đội Tả Tông Đường để chiếm các vị trí kiên cố là đem đại pháo ra trước lúc trời tối cho thật gần rồi bắn phá trước khi trời sáng.
Sau khi oanh kích sẽ tấn công bất thình lình bằng bộ binh. Thường thì họ chiếm được chiếc đồn đổ nát ấy mà không mấy thiệt hại.
 Việc phối hợp hành động trong hành quân và việc dùng nhiều đại pháo để tấn công đã giảm được nhiều thời gian chiến đấu và cả chiến dịch chinh phạt. Theo Lư Phụng Các (Lu Fungge), Tả Tông Đường dùng khoảng 6 năm để chuẩn bị cho việc tây chinh nhưng ông chỉ mất một năm rưỡi là hoàn thành việc thu hồi cả Tân Cương ngoại trừ Y Lê vẫn do Nga chiếm đóng và chỉ trả lại cho Trung Hoa sau khi thương thuyết một thời gian dài. 
Là một trong những cấp chỉ huy quân sự xuất sắc của thời kỳ Phục hưng Đồng Trị, những đóng góp của Tả Tông Đường cho việc hiện đại hóa quân sự có thể sánh ngang với Lý Hồng Chương. Chẳng hạn như ông xây dựng các bãi đóng tàu và xưởng đúc khí giới ở Phúc Châu và Lan Châu. Chiến lược quân sự và chiến thuật của ông trong kỳ chinh phạt huy hoàng hơn bất cứ cấp chỉ huy nào đồng thời với ông. Theo Lư Phụng Các, hệ thống tiếp liệu của ông và tổ chức quân đội ngoài mặt trận gần giống như hệ thống của người Đức dung trong chiến tranh Áo -Phổ (Prussian -Austrian) năm 1866. Tuy nhiên theo Lư, Tả Tông Đường không học của người Đức mà tự ông nghĩ ra. 
Ngoài ra, chương trình khai khẩn đất hoang bằng quân đội và dân sự cũng như các kế hoạch khác trong việc vãn hồi trật tự xã hội -kinh tế địa phương đã vượt ra khỏi chiến lược quân sự trong việc giải quyết vấn đề tiếp liệu. Những kế hoạch đó có ảnh hưởng trường kỳ trên vấn đề kinh tế khu vực và phát triển chính trị.
Logged

Không có bạn bè vĩnh viễn và kẻ thù vĩnh viễn. Tất cả chỉ vì sự tồn tại của mình.
Khi hai bàn tay nắm chặt và buông lơi một đất nước vĩ đại sẽ hình thành hoặc bị diệt vong.
dungrommel
Thành viên
*
Bài viết: 237


WWW
« Trả lời #31 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2009, 12:42:58 am »

4.   VIÊN THẾ KHẢI VÀ HỆ THỐNG QUÂN SỰ MỚI CỦA TRUNG HOA
  Sau khi chấm dứt chiến dịch tiễu trừ giặc Niệm vào giữa thập niên 1860, Lý Hồng Chương và Hoài Quân ngự trị khung cảnh quân sự Trung Hoa trong vòng 30 năm đến khi bị thảm bại và hầu như hoàn toàn bị tiêu diệt trong trận chiến Trung Nhật năm 1894. Sau khi bị đánh bại, cả chính quyền lẫn quần chúng đều hiểu rằng Trung Hoa phải hoàn toàn từ bỏ hệ thống quân sự cũ và xây dựng một hệ thống mới dựa trên phương pháp của Tây Phương. Được dân chúng tán đồng, Viên Thế Khải cũng như nhiều người khác đệ trình lên triều đình một bản đề nghị xây dựng hệ thống quân sự mới. 
Khác với Tăng Quốc Phiên, Lý Hồng Chương hay Tả Tông Đường, Viên Thế Khải không đậu một bằng cấp nào và vì thế không phải là một quan lại nho sĩ. Thế nhưng ông ta cũng không phải là người thất học. Nhờ ông chú quen biết, ông ta được gia nhập Hoài Quân năm 1880 và sau đó được đưa sang Triều Tiên theo quân đội Trung Hoa. Khi viên chỉ huy bị triệu hồi hai năm sau, Viên Thế Khải lên kế nhiệm và trở thành thủ lãnh của Thanh binh tại Triều Tiên. Ông ta nổi tiếng là người có khả năng. Có lẽ vì liên hệ với Hoài Quân, ông được Lý Hồng Chương hết sức nâng đỡ. Sau khi được Tống Lục (Rong Lu), một viên quan thần thế trong Ủy Ban Quân Sự (Quân Cơ Xứ, Junji Chu), hỏi chuyện, ông được cử trông coi việc huấn luyện đội tân binh ở Tiểu Trạm (Xiaozhan) gần Thiên Tân trong tỉnh Hà Bắc. Trong tờ trình đầu tiên của ông lên Đốc Biện (Duban) của đội tân binh, ông viết : 
Mặc dầu lý do chúng ta bị đánh bại có thể phần nào do lỗi lầm chỉ huy, nhưng chính yếu là vì sự yếu kém của hệ thống quân sự. Nếu chúng ta không thay đổi toàn bộ và du nhập phương pháp Âu Tây trong huần luyện quân đội, tôi e rằng kinh nghiệm trước đây về việc bại trận sẽ lại xảy ra trong tương lai. 
Trong đề nghị của ông, Viên Thế Khải cho rằng nếu Trung Hoa quyết định dùng phương pháp huấn luyện Âu Tây thì cũng phải chấp nhận tổ chức quân sự theo kiểu Tây Phương nếu không sẽ không hiệu quả trong thời chiến. Theo sự hiểu biết của Viên, sư đoàn là đơn vị lớn nhất trong hệ thống Âu Tây, gồm khoảng 12,000 binh sĩ và các đơn vị pháo binh, kỵ binh và công binh. 
Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu, vì quốc gia đang gặp khó khăn về tài chánh nên chỉ tổ chức mỗi đơn vị 7000 người, trong đó bao gồm 5 tiểu đoàn bộ binh, một tiểu đoàn pháo binh, một tiểu đoàn kỵ binh và một tiểu đoàn công binh. Mỗi tiểu đoàn bộ binh và pháo binh có 1000 quân trong khi kỵ binh và công binh chỉ có 500. Vào giai đoạn tiên khởi này, đơn vị mới thành lập sẽ mở rộng thành 5 đơn vị trong vòng 3 năm và được đặt tên là Võ Vệ Quân (Wuwei Giun). Mỗi đơn vị có khoảng 10,000 người. Viên Thế Khải được chỉ định chỉ huy Hữu Quân (Yujun). Trong số ngũ quân, chỉ có Hữu Quân của Viên Thế Khải là tuyển lựa kỹ càng và huấn luyện kỹ lưỡng, các đơn vị khác phần thì chuyển từ các đơn vị cũ sang hay tuyển từ nhiều thành phần mà không huấn luyện cho chu đáo.
 Khi Võ Vệ Quân bị Liên Quân tiêu diệt năm 1900 sau khi có loạn Quyền Phỉ (Boxer Rebellion), chỉ có Hữu Quân của Viên Thế Khải thoát được vì được dùng trấn thủ Sơn Đông nên xa nơi biến động. 
Khi Lý Hồng Chương chết và Viên Thế Khải chỉ huy đạo quân mạnh nhất nước Tàu đã đưa ông ta lên chức vụ quyền thế nhất là Tổng Đốc Trực Lệ (Hà Bắc) và Bộ Trưởng Bắc Dương. Quân của ông ta được đưa về Tiểu Trạm. Sau khi ký hòa ước Tân Sửu (1901), ông ta tái thành lập lại Tân Quân. Viên Thế Khải không những có đủ quyền hành muốn làm gì thì làm mà ông ta cũng có những ý kiến sáng suốt về một hệ thống quân sự mới. Cho nên, hệ thống quân sự mới mà ông ta thành lập vào thập niêm đầu tiên của thế kỷ 20 tương đối gần giống như hệ thống của Tây Phương ngày nay. 
Năm 1895, Viên Thế Khải quyết định theo hệ thống tổ chức của Đức và mướn một số huấn luyện viên người Đức để giúp ông ta huấn luyện binh sĩ. Năm 1901, ông lại đổi qua hệ thống người Anh và tái tổ chức quân đội với những đặc tính như sau :
A.   Lực lượng hiện dịch và lực lượng trừ bị
 Lực lượng hiện dịch là lực lượng hiện hữu trong tổ chức thường trực trên căn bản thời bình cũng như thời chiến. Lực lượng trừ bị có nghĩa là những quân nhân đó không tại ngũ nhưng có thể bị động viên. 
Vào thời xưa, dưới hệ thống Binh Nông Hợp Nhất hay Ngụ Binh Ư Nông, quân đội kết hợp với nông dân. Mỗi nông dân đều bị tự động đưa vào danh sách trừ bị trừ khi đang tại ngũ, thiếu sức khỏe hay già cả. 
Tuy nhiên, hệ thống này đã bãi bỏ từ lâu. Đời nhà Thanh không có quân trừ bị, mọi lực lượng trong Kỳ Binh đều là hiện dịch như đã đề cập trước đây. Chấp nhận hệ thống quân sự hiện đại của Tây Phương, Viên Thế Khải quyết định thành lập cả quân trừ bị lẫn quân hiện dịch. Dẫu rằng thời gian đó, quân trừ bị chưa thành lập nhưng ý tưởng đó vẫn có giá trị trong việc phát triển của công cuộc hiện đại hóa quân sự Trung Hoa.
a/ Quân đội hiện dịch :
Trong hệ thống quân đội mới của Viên Thế Khải, đơn vị cao nhất trong quân đội là cấp Quân gồm hai Trấn (Zhen). Mỗi trấn gồm hai Hiệp (Xie) bộ binh, một Tiêu (Biao) kỵ binh, một tiêu pháo binh, một doanh (Ying) công binh và một doanh hậu cần. Mỗi hiệp có hai tiêu, mỗi tiêu có ba doanh, mỗi doanh có bốn Liên (Lian), mỗi liên có ba Bài (Pai) và mỗi bài có ba Bằng (Peng).Tiêu kỵ binh tương đương với bộ binh chỉ khác là mỗi bài chỉ có hai bằng.1
1Đây là các đơn vị tương đương với hệ thống Việt Nam hiện đại. -Bằng : tiểu đội (squad) Bài : trung đội (platoon) -Liên : đại đội (company) -Doanh : tiểu đoàn (battalion) -Tiêu : trung đoàn (regiment) -Hiệp : lữ đoàn (brigade) -Trấn : sư đoàn (division) -Quân : quân đoàn (army) 
 Mỗi tiêu pháo binh gồm có ba doanh, mỗi doanh có ba liên, mỗi liên có ba bài, mỗi bài có ba bằng.
 Mỗi doanh công binh có ba liên, mỗi liên có ba bài, mỗi bài có ba bằng. 
Mỗi doanh hậu cần có bốn liên, mỗi liên có hai bài, mỗi bài có ba bằng. 
Trong mọi đơn vị, mỗi bằng gồm có 14 người kể cả 4 binh nhất, 8 binh nhì, một bằng trưởng và một bằng phó. Có tổng cộng 12,512 binh sĩ trong mỗi trấn, gồm có 748 sĩ quan và thư ký, 10,436 binh sĩ chiến dấu và 1328 công nhân không chiến đấu.
Hệ thống này sau được hầu hết các tỉnh theo khi họ muốn tổ chức quân đội mới. Có thay đổi đôi chút trong mỗi vùng cho thích hợp với từng tình trạng. Tuy nhiên, hệ thống vẫb giữ được những liên hệ chung trong vài thập niên mãi tới thập niên 1930, khi Trung Hoa phải chuẩn bị kháng Nhật. Thế nhưng cũng chỉ thay đổi nhỏ.
b/ Lực lượng trừ bị (Xubeijun) : Trong hệ thống quân sự mới của Viên Thế Khải, theo đúng nguyên tắc các binh sĩ trong quân hiên dịch sẽ được giải ngũ sau ba năm phục vụ. Khi trở về đời sống dân sự, họ sẽ vẫn còn được trả lương một phần và đăng ký là một thành viên của Lực Lượng Trừ Bị, và khi có chiến tranh vẫn bị động viên trở lại. Chính quyền sẽ cử một sĩ quan trông coi lực lượng trừ bị trong vùng nếu con số lên tới một trăm hay hơn. Mỗi năm một lần, họ phải đi huấn luyện quân sự một tháng. Thành phần này gọi là lực lượng trừ bị hạng nhất hay Tục bị quân (Xubeijun). 
Sau ba năm trong Tục bị quân, người lính được xếp qua Lực lượng Trừ bị hạng hai tức Hậu bị quân (Houbeijun). Những người này được trả 50% lương của lực lượng trừ bị hạng nhất và được gọi huấn luyện hai năm một lần, mỗi lần một tháng. Sau bốn năm trong hạng hai, họ được giải ngũ lần thứ hai và không còn bị gọi đi huấn luyện nữa. Tuy nhiên, họ vẫn có thể bị động viên trong thời chiến cho đến khi đáo hạn 45 tuổi, lúc đó mới vĩnh viễn không còn nghĩa vụ quân sự nào nữa.
 Hệ thống quân sự hiện đại của Âu Tây dựa trên quan niệm cưỡng bách tòng quân trong đó những nam công dân đủ điều kiện đều bắt buộc phải phục vụ trong quân đội trong một thời gian nào đó. Sau thời kỳ hiện dịch, họ được giải ngũ và tự động nằm trong danh sách trừ bị. Tuy nhiên, tại Trung Hoa đời nhà Thanh không có luật cưỡng bách tòng quân. Tâu Quân Đội của Viên Thế Khải vẫn còn đặt trên hệ thống tự nguyện. Binh sĩ không cần phải giải ngũ sau ba năm hiện dịch. Thế nhưng hồi đó không có hệ thống trừ bị. 
Logged

Không có bạn bè vĩnh viễn và kẻ thù vĩnh viễn. Tất cả chỉ vì sự tồn tại của mình.
Khi hai bàn tay nắm chặt và buông lơi một đất nước vĩ đại sẽ hình thành hoặc bị diệt vong.
dungrommel
Thành viên
*
Bài viết: 237


WWW
« Trả lời #32 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2009, 12:43:31 am »

B.   Cấp Sĩ Quan và Huấn Luyện Sĩ Quan
  Tiếp theo những thay đổi trong tổ chức quân đội, hệ thống quân giai cũng thay đổi theo. Trước cuộc biến cách năm 1901, hệ thống quân giai không được minh định rõ rệt. Trong tân quân đội, Viên Thế Khải tái sắp xếp các sĩ quan vào ba hạng, mỗi hạng lại chia làm ba cấp. Tổng cộng sĩ quan có 9 cấp. Hạng cao cấp nhất tương đương với cấp tướng ngày nay, gồm có đại tướng, trung tướng và thiếu tướng. Hạng thứ hai tương đương với cấp tá gồm có đại tá, trung tá và thiếu tá. Hạng ba tương đương với cấp úy gồm có đại úy, trung úy và thiếu úy. 
Kể từ 1880, Tả Tông Đường, Lý Hồng Chương và nhiều nhà lãnh đạo khác đã bắt đầu tổ chức quân sự học hiệu trong phạm vi quản hạt của họ. Vì các trường này luôn luôn gắn liền với một đơn vị nào đó nên các sinh viên sau khi tốt nghiệp thường được bổ vào phục vụ ngay tại đơn vị này. Tuy nhiên, vì các viên chức cao cấp không mấy cộng tác, và những người này lại không biết gì về vũ khí và phương pháp huấn luyện mới của Tây Phương, nên các sinh viên tốt nghiệp ra thường chẳng được giữ chức vụ chỉ huy mà chỉ được giao cho những việc không thích đáng. Trong khi hành quân, vẫn những sĩ quan già chỉ huy. Vì thế, những sĩ quan mới tốt nghiệp chẳng có thể nào thay đổi lực lượng quân sự Trung Hoa cho phù hợp với hệ thống Tây Phương mà họ học trong trường. 
Khi Viên Thế Khải giữ chức Tổng Đốc Trực Lệ và bắt đầu huấn luyện theo phương pháp Âu Tây. ông ta thành lập một quân sự học hiệu ở Bảo Định (Baoding) thuộc tỉnh Hà Bắc, bao gồm ba cấp : thấp, trung và cao cấp. Mỗi chương trình học 4 năm. Bảo Định Quân Sự Học Hiệu được tổ chức chu đáo và trở thành môt khuôn mẫu cho hệ thống huấn luyện quân sự của Trung Hoa. Chính tại nơi đây, thế hệ sĩ quan thứ nhất của hệ thống quân sự mới của Trung Hoa được đào tạo và họ trở thành những người chủ chốt trên diễn đàn quân sự và chính trị ở các thập niên kế tiếp. 
C.   Tổ chức Tham Mưu
 Ngày xưa ở Trung Hoa, các viên chức chỉ huy luôn luôn có một bộ tham mưu để cố vấn cho họ. Tuy nhiên không có tổ chức chính thức hay được qui định rõ rệt nào về những vai trò của thành phần tham mưu này. Khi Viên Thế Khải được cử huấn luyện Tân Quân ở Tiểu Trạm năm 1895, ông bắt đầu thành lập nhiều hệ thống tham mưu khác nhau với những nhiệm vụ được minh định rõ ràng. Đến năm 1901, hệ thống này được phát triển thêm khi ông giữ chức Tổng Đốc Trực Lệ và Bộ Trưởng Bắc Dương.
 Tham mưu trong Bộ Chỉ Huy Trung Tâm Huấn Luyện Quân Sự -hay Luyện Binh Xứ (Lian Bing Chu) được gọi là Văn Phòng Quân Vụ -hay Quân Vụ Xứ (Junwuchu). Bộ tham mưu này chia thành ba Nha : Nha Tham Mưu, Nha Giáo Dục và Nha Quân Trang. Nha Tham Mưu đảm trách nhiệm vụ kế hoạch hành quân, Nha Giáo Dục trông coi huấn luyện còn Nha Quân Trang coi về vũ khí, trang bị và tiếp liệu. Hai năm sau, tổ chức tham mưu thay đổi và được đặt tên là Quân Lĩnh (Chỉ huy quân sự), Quân Học (Giáo dục quân sự), Quân Chính (Hành chánh quân sự). Từ đó trở đi được coi như hệ thống tiêu chuẩn và được chính quyền trung ương và các địa phương thừa nhận.
 Theo tiêu chuẩn hiện đại, tổ chức tham mưu của Viên Thế Khải chưa hoàn chỉnh, thế nhưng đó có lẽ là tổ chức đầu tiên về loại này trong lịch sử quân sự Trung Hoa.
D.   Lực lượng Quân Cảnh
Kể từ khi ký điều ước Tân Sửu 1901 với lực lượng Liên Quân, Trung Hoa không được trú đóng binh đội tại Thiên Tân. Để đáp ứng nhu cầu và bảo vệ trị an, Viên Thế Khải chuyển một phần quân đội sang lực lượng cảnh sát để họ có thể ở lại Thiên Tân mà không vi phạm điều ước. Điều đó trở thành một ý kiến hay. Nhiều tỉnh theo chân Viên Thế Khải và tổ chức lực lượng cảnh sát. Chương trình này sau được triều đình chấp nhận và một Thượng Thư được đặt ra để trông coi ngành cảnh sát vào năm 1905. 
Tuy nhiên, cảnh sát quân đội được thành lập sau cảnh sát dân sự. Có lẽ vào khoảng 1908 dựa trên Điều Lệ Thí Nghiệm về Lực Lượng Quân Cảnh đo Thượng Thư Bộ Binh ban hành. Mặc dầu không có chứng cớ gì để nói là Viên Thế Khải đề xuất nhưng cũng gần giống như ý niệm về cảnh sát dân sự. 
E.   Ấn hành Tài Liệu Huấn Luyện Quân Đội
 Mặc dầu đóng góp cơ bản của Viên Thế Khải vào việc canh tân hóa quân sự là việc du nhập hệ thồng quân sự Âu Tây vào Trung Hoa nhưng không phải chỉ có thế. Là người chịu trách nhiệm huấn luyện Tân Quân, ông cũng chủ biên các tài liệu huấn luyện, luật lệ và qui tắc. Một bộ sáu cuốn nhan đề Tổng Kết Chương Trình Huấn Luyện Quân Sự của Tân Quân (Tân Kiến Lục Quân Binh Lược Lục Tồn-Xinjian Lujun Binglue Lucun) và một bộ 12 cuốn nhan đề Ký lục và Đồ họa Tài Liệu Huấn Luyện (Huấn Luyện Thao Pháp Tường Tích Đồ Thuyết -Xunlian Caofa Xiangxi Tushuo) được lần lượt ấn hành năm 1898 và 1899. 
Cả hai tác phẩm này đều có những luật lệ tổng quát, các điều cấm kỵ, các huấn lệnh, và qui định về thực tập quân sự. Bộ sau còn trình bày các phương pháp truy kích hành quân, thủ và công trong các địa thế khác nhau, việc dùng các đơn vị pháo binh, kỵ binh và công binh trong khi hành quân. 
Nói chung, những sách này đã thu góp tinh hoa của các tài liệu huấn luyện Âu Tây nói chung và tài liệu của Đức nói riêng. dĩ nhiên, các ấn bản này còn trình bày quan niệm quân sự riêng của Viên Thế Khải nữa. Trong bộ Ký lục và Đồ họa Tài Liệu Huấn Luyện, ông đưa ra hai triết lý hướng đạo quan trọng có ảnh hưởng đến thái độ chính trị của lực lượng ông ta sau này. Thứ nhất, ông nhấn mạnh vào huấn luyện chính trị. Binh sĩ được dạy phải trung thành và thẳng thắn với Hoàng đế. Ông viết trong Huấn Luyện Bị Yếu như sau: 
Ông cha các ngươi đã được hưởng ân sủng của đất nước, không gì không phải là của triều đình. Dù không phải là lính chăng nữa, các ngươi cũng phải đền đáp ân tình của Thánh Thượng. Còn là quân nhân các ngươi được lương cao bổng hậu, nếu không trung với vua thì còn mặt mũi nào nhìn lại tổ tiên ? 
Vì trung thành và ngay thẳng là để đáp lại ơn vua chứ không phải cho tổ quốc, họ dễ dàng bị chuyển qua trung với cá nhân Viên Thế Khải trong lực lượng địa phương trong đó đòi hỏi người lính chỉ nhận lệnh từ cấp chỉ huy trực tiếp là người đã tuyển mộ họ. Khuynh hướng này càng được củng cố với truyền thống cha con, chủ tớ được áp dụng vào tương quan giữa sĩ quan và binh lính dưới quyền. 
Triết lý hướng đạo thứ hai trong tài liệu huấn luyện của ông ta là chủ trương vị lợi. Ông khuyến khích binh sĩ làm việc tích tực để được thăng chức và hưởng lương cao. Ông viết trong cùng bài ấy:
 Không có ngăn trở nào khiến các ngươi không được thăng cấp và hưởng lương cao theo từng nấc một, những thứ đó có thể làm được dễ dàng... Từ cố chí kim nhiều tướng lãnh và tể tướng vốn xuất thân từ lính trơn mà lên... Nếu các ngươi may mắn trong chiến đấu mà bình an trở về, các ngươi sẽ tự động được thăng cấp.
Từ các câu nói trên, người ta thấy hai chủ thuyết hướng đạo thường không phù hợp với nhau. Trong khi khuyến khích binh sĩ trọng lợi để đi theo những đòi hỏi cá nhân, họ sẽ bỏ qua tinh thần trung thành và chính trực trở thành những lãnh chúa hay kẻ cướp. Đó có thể cũng là một trong những lý do tại sao chiến tranh và rối loạn kéo dài sau khi Thanh triều bị lật đổ. 
Viên Thế Khải là một con người có nhiều điểm đáng bàn trong lịch sử cận đại. Người ta trách ông đã phản bội nền Cộng Hòa và toan tái lập đế chế tại Trung Hoa cũng như gây ra nạn quân phiệt tương tranh làm tan nát đất nước sau khi ông qua đời. Mặc dù Viên Thế Khải khong có nhiều kinh nghiệm chiến đấu và không để lại chiến thuật hay chiến lược nào vĩ đại, nhưng rõ ràng ông là người có óc tổ chức, đã đi một bước xa hơn những người đi trước như Tăng, Lý, Tả trong việc hiện đại hóa tổ chức và phương pháp huấn luyện quân sự Trung Hoa. 
Logged

Không có bạn bè vĩnh viễn và kẻ thù vĩnh viễn. Tất cả chỉ vì sự tồn tại của mình.
Khi hai bàn tay nắm chặt và buông lơi một đất nước vĩ đại sẽ hình thành hoặc bị diệt vong.
dungrommel
Thành viên
*
Bài viết: 237


WWW
« Trả lời #33 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2009, 12:43:56 am »

5.   Kết luận
 Người Trung Hoa đã dùng hơn nửa thế kỷ để canh tân các lực lượng võ trang của họ nhưng mãi tới đầu thế kỷ 20 mới bước sang việc hiện đại hóa khí giới và tổ chức. Sự chậm trễ đó một phần có thể do hệ thống chính trị mục nát của nhà Thanh và các thế lực bảo thủ trong xã hội, một phần do các nhà lãnh đạo quá nhấn mạnh về hệ thống vũ khí và cải tiến kỹ thuật mà không để tâm tới việc thay đổi hệ thống và các cải cách xã hội -chính trị khác. Viên Thế Khải là người đầu tiên trong thời cận đại đề ra một chương trình cải cách có hệ thống về tổ chức quân sự và những tài liệu huấn luyện. Mặc dầu phần lớn sao chép của các nước Tây phương, nhất là của hệ thống nước Đức nhưng cũng mỡ ra một kỷ nguyên mới về hệ thống quân sự. Con đường cải cách nay đã rõ ràng. Không ai còn muốn trở về thời đại cũ, cũng không ai muốn ngăn trở việc du nhập thêm hình thức của Tây Phương. Những bước đi kế tiếp của việc hiện đại hóa là làm cách nào phát triển một loạt các chiến thuật chiến lược mới thích đáng hơn và thích hợp với thực tế của người Trung Hoa mà không bị gián đoạn.
Mặc dầu các lãnh tụ Trung Hoa bị trách cứ là quá chú trọng đến việc hiện đại hóa kỹ thuật và vũ khí mà không chú trọng nhiều đến các cải cách xã hội -chính trị và tổ chức, việc họ đầu tư rất tốn kém vào kỹ nghệ quân sự là điều không thể phủ nhận được. Nếu họ không làm như thế, việc kỹ nghệ hóa của Trung Hoa có thể bị chậm trễ vài chục năm vì không một nhà doanh nghiệp nào có thể huy động đủ vốn và tài năng để khởi công xây dựng kỹ nghệ mới và nhất là kỹ nghệ quốc phòng. Vì lý do đó, Bác Sĩ Tôn Dật Tiên, lãnh tụ của cuộc cách mạng và là người dựng nên nền Cộng Hòa của Trung Hoa, vẫn tán thành các đầu tư công cộng và sự lãnh đạo của chính quyền trong các ngành kỹ nghệ then chốt, phần vì những ngành đó quá tốn phí không tư nhân nào kham nổi hoặc quá quan trọng khiến quần chúng phải quan ngại nếu để cho tư nhân đảm trách. 
Các kỹ nghệ then chốt là sở hữu của quốc gia hay công chúng đầu tư sau này chế độ Quốc Dân Đảng tiếp tục chủ trương sau khi Trung Hoa được thống nhất vào thập niên 1930. Chính quyền vẫn tiếp tục kiểm soát sự phát triển của các quân xưởng. Từ thập niên 1950, dưới chế độ Cộng Sản, quốc doanh là hệ thống duy nhất cho mọi xí nghiệp. Mặc dầu chính sách mở cửa gần đây cho phép tư nhân điều hành môt số xí nghiệp nhỏ, chưa thấy dấu hiệu nào chứng tỏ chính quyền sẽ cho phép tư nhân quản trị các kỹ nghệ quốc phòng. Thực ra, trong 40 năm qua, dù nhiều khủng hoảng chính trị đã xảy ra và sự phát triển kinh tế có bị gián đoạn nhưng kỹ nghệ quốc phòng vẫn bị Đảng và chính quyền kiểm soát hết sức chặt chẽ, không để cho chính trị ảnh hưởng tới. Sự thành tựu trong lãnh vực vũ khí mới và kỹ thuật cao sẽ không to lớn như thế nếu chính quyền không đóng vai trò chỉ đạo trong lãnh vực này. Có lẽ những thành quả đó phần nào có sự đóng góp của những nỗ lực đầu tiên của thời Dương vụ vận động.
Logged

Không có bạn bè vĩnh viễn và kẻ thù vĩnh viễn. Tất cả chỉ vì sự tồn tại của mình.
Khi hai bàn tay nắm chặt và buông lơi một đất nước vĩ đại sẽ hình thành hoặc bị diệt vong.
dungrommel
Thành viên
*
Bài viết: 237


WWW
« Trả lời #34 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2009, 12:44:28 am »

Chương 4: Sự phát triển của tư tưởng quân sự trong thời kỳ đầu của nền cộng hòa
1.   TÌNH TRẠNG QUÂN PHIỆT VÀ SỰ THOÁI BỘ CỦA HIỆN ĐẠI HÓA QUÂN SỰ 
Công cuộc hiện đại hóa quân sự đã gặp phải những thoái bộ nhất thời sau cuộc Cách Mạng Tân Hợi 1911. 
Trong giai đoạn cuối của thời kỳ Từ Hi cai trị, Viên Thế Khải đã quá quyền uy khiến ông ta bị một số người trong hoàng tộc và quan lại cao cấp nghi ngờ thù ghét. Dẫu rằng Viên Thế Khải đã tự nguyện giao lại một phần quyền hành cho hoàng gia nhưng ông ta vẫn bị cách hết chức tước ngay khi Thái Hậu Từ Hi vừa tạ thế. 
Vua Quang Tự (Guangxu) và Thái Hậu Từ Hi (Ci-xi) chỉ chết cách nhau hai ngày vào giữa tháng 11 năm 1908. Cháu của vua Quang Tự mới ba tuổi lên nối ngôi lấy niên hiệu là Tuyên Thống (Xuantong). Cha của Tuyên Thống là hoàng tử Tải Phong (Zaifeng) nhiếp chính, giữ hết mọi quyền bính. Nhiếp chính vương giận Viên Thế Khải đã phản anh mình (tức vua Quang Tự) trong việc tranh chấp quyền hành giữa Từ Hi và Quang Tự và cái gọi là cuộc Duy Tân Trăm Ngày (Bách Nhật Tân Chính) năm 1898 nên định giết Viên Thế Khải. Nhờ có các đại thần can ngăn mà họ Viên mới khỏi chết. Viên Thế Khải bị đuổi về quê nhưng vẫn ngầm liên lạc với các sĩ quan trước đây dưới quyền. Khi ông ta quay trở lại chính trường, triều đình Mãn Châu phải bắt buộc giao quyền lại cho Viên Thế Khải và loạn sứ quân bắt đầu.
A.   Nguồn gốc của cuộc Cách Mạng Trung Hoa hiện đại
 Kể từ khi Trung Hoa bị đánh bại trong trận chiến tranh nha phiến, chế độ Mãn Châu bị liên tiếp loạn lạc do nông dân nổi dậy, và càng nhiều trong những năm cuối của triều đại này. Hưng Trung Hội (Xingzhonghui), tiều thân của Quốc Dân Đảng (Guomindang) thành lập năm 1894 sau chiến bại nhục nhã của Trung Hoa trong trận chiến Trung -Nhật và thực hiện cuộc khởi nghĩa đầu tiên năm 1895. Trong vô số những phong trào hồi đó, Hưng Trung Hội không phải là đoàn thể mạnh nhất lúc ban đầu nhưng lại là tổ chức cách mạng về sau thành công nhất và dần dần lật đổ được nhà Thanh. 
Hưng Trung Hội đầu tiên do các thành phần sĩ phu cấp tiến của Trung Hoa tổ chức, và thoạt kỳ tủy thành lập bẹn ngoài nước Tàu. Việc đó không những khiến cho họ được các Hoa kiều hải ngoại và người Tây Phương ủng hộ, mà còn khỏi bị nhà Thanh đàn áp chính tri khi còn quá yếu không chống nổi với kẻ thù.
 Vì thành phần sáng lập đều là sĩ phu nên họ dễ dàng đưa ra được một chương trình lôi kéo được sự ủng hộ của quần chúng Trung Hoa. Những vụ nông dân nổi dậy mà không có trí thức lãnh đạo thường bị khuyết điểm là không đưa ra được một mục tiêu đường dài và tổ chức không thích đáng. Họ thường nổi dậy vì đói kém hoặc kinh tế khó khăn nên hay ngả về các mục tiêu kinh tế. Khi tình trạng sinh sống đã cải thiện, sự ủng hộ các phong trào này nhạt dần. Các chương trình chính trị mạnh mẽ chỉ có thể có khi các phong trào này được lãnh đạo hay có sự tham gia của trí thức là những người có khả năng chính trị. 
Hơn nữa, hầu hết các lãnh tụ Hưng Trung Hội đều không phải gốc quân nhân mà là những người tổ chức và xách động giỏi. Điều đó khiến họ có thể chỉ đạo nổi dậy và chiến đấu mà không cần phải đích thân tham dự, giảm thiểu mức hi sinh các nhân vật đầu não và vẫn có thể tiếp tục đấu tranh sau nhiều lần bị đánh bại. Các lãnh tụ nông dân trái lại là chiến sĩ thường trực tiếp tham dự trận mạc. Cuộc nổi dậy thường dứt ngang khi cấp chỉ huy bị giết tại trận tiền. Trước khi thành công vào tháng 10 năm 1911, Hưng Trung Hội đã 10 lần thất bại nhưng tổ chức cách mạng không bị tiêu diệt. 
Vì tính chất tổ chức như thế, Hưng Trung Hội và sau này là Đồng Minh Hội (Tongmonhui) đã chứng tỏ được hai tính chất độc đáo trong các chiến dịch cách mạng chống lại Thanh triều. Trước hết, họ có liên hệ chặt chẽ với những người Trung Hoa trong các bang hội bí mật chống người Mãn Châu trong giai đoạn đầu mới nổi dậy. Từ khi người Mãn Châu chinh phục trung nguyên hồi thế kỷ 17, nhiều thần tử của nhà Minh trước đây đã lui vào tổ chức các hội kín lẫn với nông dân và thợ thuyền. Đến cuối thế kỷ 19, mặc dầu hầu hết đã mất các sinh mệnh chính trị, nhưng vẫn sống ngoài vòng kiềm tỏa của nhà Thanh, nhất là những người định cư ở Hongkong hay trong các cộng đồng Hoa kiều hải ngoại. 
Khi Đồng Minh Hội bắt đầu các hoạt động bài Mãn, họ vận động được sự ủng hộ của những nhóm này một cách dễ dàng. Người ta bảo rằng trong cuộc khởi nghĩa lần đầu tiên của Hưng Trung Hội năm 1895, có đến 3000 người gốc là hội viên của Tam Hợp Hội (Sanhehui) ở Hongkong. Khi chuẩn bị khởi nghĩa lần thứ hai, Hưng Trung Hội hợp nhất với Tam Hợp Hội và Ca Lão Hội (Gelaohui) thành Hưng Hán Hội (Xinghanhui). Chủ tịch là Bác Sĩ Tôn Dật Tiên hồi năm 1899. Những hội kín có thể có tinh thần yêu nước nhưng vốn dĩ phi chính trị. Vì thế sau khi nhà Thanh bị lật đổ, họ biến mất ngay khỏi chính trường và không bao giờ đóng một vai trò gì đáng kể trong thời kỳ hậu cách mạng. 
Thứ hai, trong giai đoạn sau của cách mạng, Dồng Minh Hội, hậu thân của Hưng Trung Hội, chủ yếu dựa vào sự ủng hộ của binh sĩ và các sĩ quan trẻ của quân đội Thanh triều trong các cuộc khởi nghĩa võ trang. Như đã viết trong chương trước, sau khi Viên Thế Khải được chỉ định huấn luyện tân quân ở Tiểu Trạm, triều đình cũng ra lệnh cho mỗi tỉnh phải tổ chức một hoặc hai trấn hoặc tái tổ chức những đơn vị cũ theo hình thức quân đội mới. Mặc dần các đơn vị tân quân phát triển mạnh nhưng cũng vẫn còn nhiều đơn vị cũ trong thời kỳ tiền cách mạng. Hai hệ thống song song khiến tình trạng thêm phức tạp và tạo những xung đột trầm trọng trong quân đội Thanh triều. Nhưng cũng nhờ thế mà các đảng cách mạng có một cơ hội bằng vàng để tuyển thêm người ngay trong các binh đội nhất là những sĩ quan và binh sĩ trẻ có tinh thần yêu nước. Sự phát triển đó đóng góp rất nhiều cho lực lượng cách mạng trong những lần khởi nghĩa sau cùng. Dù Đồng Minh Hội không hoàn toàn ủng hộ họ vẫn tự mình thực hiện một số cuộc binh biến. Ngay cả cuộc nổi dậy sau cùng ngày 10 tháng 10 năm 1911 ở Vũ Xương (Wuchang) cũng toàn là do các sĩ quan Thanh quân lãnh đạo. Mãi sau các lãnh tụ cách mạng mới tiếp nhiệm quyền chỉ huy.
 Trong khi các bang hội bí mật rút ngay ra khỏi các hoạt động chính trị sau năm 1911, các lực lượng quân sự thân cách mạng lại không đủ lớn mạnh chống lại với Bắc Dương Quân của Viên Thế Khải. Hơn nữa, một số các sĩ quan tinh thần cách mạng chưa đủ cao nên khi triều đại nhà Thanh vừa dứt, dưới sự thao túng của viên, nhiều người nhảy vào tham gia các trận chiến giữa các quân phiệt để mưu đồ riêng. Tình thế đó khiến cho Quốc Dân Đảng không biết dựa vào đâu để củng cố quyền lực và thống nhất đất nước sau khi cách mạng và cũng khiến cho tình hình chính trị của Trung Hoa thêm phân hóa, kéo dài thời kỳ sứ quân.
Logged

Không có bạn bè vĩnh viễn và kẻ thù vĩnh viễn. Tất cả chỉ vì sự tồn tại của mình.
Khi hai bàn tay nắm chặt và buông lơi một đất nước vĩ đại sẽ hình thành hoặc bị diệt vong.
dungrommel
Thành viên
*
Bài viết: 237


WWW
« Trả lời #35 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2009, 12:44:58 am »

B.   Bối cảnh Lịch Sử của thời kỳ Quân Phiệt tại Trung Hoa
 Trong chương 2, chúng tôi đã trích từ sách của Lôi Bá Luân là Trung Hoa là một quốc gia không có quân nhân. Ông thường so sánh người binh sĩ Trung hoa với kẻ cướp. Theo ông, từ khi hệ thống dân quân sụp đổ dưới đời Hán, nước Tàu không còn những binh sĩ đúng nghĩa. Quân lính thường tuyển trong đám vô lại, ăn cướp, du thủ du thực và chỉ trung thành với viên tướng nào trị nổi họ. Quân đội không còn là của quốc gia mà là một lực lượng thuộc về cá nhân. Khi đất nước thanh bình và nhà vua có thể trả lương hậu hĩ thì binh lính còn trung thành. Nếu không được như thế, hay khi quốc gia rối loạn, một vài viên tướng nhiều tham vọng sẽ thừa cơ chiếm lấy ngai vàng lập ra triều đại riêng cho mình. Các tướng khác thành kẻ cướp. Đất nước chỉ hết loạn khi một trong những tướng lãnh đang tranh giành quyền bính thống nhất được giang sơn. Tiến trình đó nhiều khi kéo dài cả mấy chục năm. Những thời như thế thì xã hội tan nát, các sinh hoạt kinh tế và văn hóa bị ngưng lại. Nhiều khi, loạn lạc không những chăn đứng phát triển xã hội mà còn phá hủy cả những công trình có sẵn gây ra tình trạng thoái hóa. Tình trạng nước Tàu vào thập niên 1920 là một thời kỳ điển hình những gì Lôi Bá Luân mô tả. Quân phiệt tương tranh không chỉ nhất thời làm hỏng cách mạng và đất nước mà còn tổn hại cả công cuộc hiện đại hóa quân sự vốn dĩ là ưu tiên số một của quốc gia trong hơn nửa thế kỷ qua. 
Dưới thời nhà Thanh, khi Tăng Quốc Phiên bắt đầu tổ chức Tương Quân thì các Kỳ Binh vẫn còn do trung ương nắm giữ. Không theo truyền thống Mãn Châu là tập trung lực lượng quân sự, ông thành lập một lực lượng địa phương dựa trên nguyên tắc cá nhân kiểm soát. Lý Hồng Chương và Viên Thế Khải cũng đi theo phương thức này khi họ huấn luyện quân đội riêng của họ. Các học giả gọi các lực lượng này là quân địa phương để phân biệt với quân lực quốc gia do trung ương kiểm soát. 
Khi Viên Thế Khải được giao cho nhiệm vụ huấn luyện tân quân ở Trực Lệ, Trương Chi Động (Zhang Zhidong), Tổng Đốc Hồ-Quảng, cũng bắt đầu huấn luyện quân đội riêng ở Hồ Bắc, thường được gọi bằng ba tên : Tự Cường Quân (Ziqiangjun), Nam Dương Quân (Nanyangjun) và An Quân (Anjun). Là những đơn vị thiện chiến nhất Nam Trung Hoa, Tự Cường Quân nổi tiếng chẳng kém gì Bắc Dương Quân trên miền Bắc. Hài lòng với những thành quả xây dựng quân đội đó, triều Thanh vội vã quyết định mở rộng tân quân ra tới 36 Trấn (sư đoàn). Để sớm thành tựu, năm 1901, triều đình ra lệnh chính thức là các quan lại tỉnh thị phải thành lập các đội quân riêng theo mẫu Bắc Dương Quân hay Tự Cường Quân. Đến năm 1906, triều đình lại ra đạo dụ bắt buộc ngân sách dành cho quân sự mỗi tỉnh phải tối thiểu là 20% tổng số. Mặc dầu mục tiêu 36 trấn không đạt được nhưng quân lực của địa phương cũng bành trướng lớn. Việc gia tăng khả năng quân sự cho các viên chức địa phương đã đặt nền móng cho chiến tranh quân phiệt sau này và chứng minh rằng thuyết triều nọ thay triều kia của Lôi Bá Luân là đúng. 
C.   Loạn Quân Phiệt và sự Thoái Bộ của Hiện đại hóa Quân sự Trung Hoa
 Sau khi quân cách mạng chiếm Vũ Xương vào ngày 10 tháng 10 năm 1911, Thanh triều lập tức sai Phùng Quốc Chương (Pheng Guozhang) và Đoàn Kỳ Thụy (Duan Kirui) đem quân tới dẹp loạn. Cả Phùng lẫn Đoàn đều là bộ tướng của Viên Thế Khải trước đây và vẫn có liên lạc chặt chẽ với chủ cũ. Theo lời xui của Viên Thế Khải, hai tướng này cố tình trì hoãn việc tiến binh. Thành ra, Thanh triều bắt buộc phải xuống chiếu mời Viên ra chỉ huy việc đem quân đánh giặc. 
Nếu cố tình Viên Thế Khải có thể dẹp tan cuộc cách mạng Vũ Xương không mấy khó khăn. Thế nhưng Viên hận triều đình bãi chức ông ta hai năm trước nên lòng không còn muốn giúp nhà Thanh và muốn lật đổ chế độ để tự mình lên làm vua. Sau mấy tuần thương lượng, Viên Thế Khải đạt được thỏa hiệp của phe cách mạng cùng nhau phế bỏ triều đại Mãn Thanh. Ông ta được cử làm Tổng Thống Lâm Thời của Cộng Hòa Trung Hoa vào tháng 2 năm 1912 và hứa sẽ ủng hộ chế độ cộng hòa. 
Việc nhận lời làm tổng thống chỉ là bước đầu trong tham vọng chính trị của Viên Thế Khải. Ông ta không ưa gì nền Cộng Hòa mà cũng không thích chức hư vị hình thức làm việc dưới quyền một hệ thống nghị viện do những nhà cách mạng đưa ra ở Nam Kinh ngày 11 tháng 3 năm 1912. Viên Thế Khải không muốn bị quốc hội hay nội các hạn chế quyền hành của mình. Vì thế, ngay từ giờ phút đầu tiên giữa Viên và chính phủ cách mạng đã có những bất đồng không thể hàn gắn được. 
Vào đầu năm 1913, đảng Quốc Dân Trung Hoa mới thành lập bằng cách sáp nhập một số đoàn thể chính trị vào Đồng Minh Hội, đạt được đa số ghế trong một kỳ bầu cử thượng viện. Tống Giáo Nhân (Song Jiaoren), một người hăng say ủng hộ chế độ nghị viện và hiện là lãnh tụ của Đảng, có thể sẽ được chọn làm Thủ Tướng. Tuy nhiên Tống Giáo Nhân bị ám sát tại Thượng Hải khi ông sắp đi Bắc Kinh ngày 20 tháng 3 năm 1913. Khi bị khám phá ra chính là người chủ mưu vụ ám sát, Viên Thế Khải không còn cách nào hơn là dùng lực lượng để đàn áp cách mạng. Quốc Dân Đảng phải bắt buộc chống lại vào thánh 7 năm 1913. Người ta gọi đây là Cuộc Cách Mạng lần thứ hai.
 Sau khi Bắc Dương Quân đánh bại được các lực lượng võ trang ủng hộ Quốc Dân Đảng, Viên Thế Khải loại trừ tất cả các cấp chỉ huy thân cách mạng ra khỏi các chính quyền trung ương cũng như địa phương, giải tán Nghị Hội và đặt Quốc Dân Đảng ra ngoài vòng pháp luật để dọn đường cho ông ta lên ngôi hoàng đế. Từ 1914 đến cuối năm 1915, Viên dùng đủ mọi cách để vận động quần chúng và thúc đẩy việc đòi hỏi tái lập đế chế. Dưới sự đe dọa, Quốc Hội bỏ phiếu hoàn toàn tán thành việc ủng hộ ông ta lên ngôi Trung Hoa Đế Quốc (Zhonghua Diguo) vào cuối tháng 11 năm 1915. Viên Thế Khải dự định sẽ đăng quang lên ngôi cửu ngũ vào đầu năm 1916.
 Thế nhưng ông ta đã đánh giá sai quần chúng, không biết rằng toàn thể nhân dân Trung Hoa đã được cách mạng vận đông để hủy bỏ chế độ quân chủ. Ngày 25 tháng 12 năm 1915, Sái Ngạc (Cai E)(tức Sái Tùng Pha), một hội viên của Đồng Minh Hội và cũng là một tướng lãnh lỗi lạc, tuyên bố tỉnh Vân Nam độc lập và tổ chức một lực lượng chinh phạt họ Viên. Hành động ly khai đó sau này gọi là Hộ Quốc Chiến Tranh (Huguo Zhanzeng). Mặc dầu lực lượng của Sái Ngạc không đủ sức lật đổ Viên Thế Khải nhưng hành động quả cảm đó được nhiều cấp chỉ huy các tỉnh khác hưởng ứng, trong đó có cả một số tay chân thân tín của Viên. Sau cùng Viên Thế Khải phải bắt buộc bãi bỏ hệ thống quân chủ ngày 22 tháng 3 năm 1916. Sự thất bại bất ngờ đó khiến cho ông ta suy nhược cả tinh thần lẫn thể xác nên 3 tháng sau thì chết. 
Như đã đề cập trước đây, Viên Thế Khải coi Bắc Dương Quân như một quân đội riêng và huấn luyện họ chỉ trung thành với ông ta mà thôi. Sau khi ông ta từ trần, không ai có thể chỉ huy đoàn quân này như ông ta được nữa. Những lãnh tụ hạng nhì như Phùng Quốc Chương hay Đoàn Kỳ Thụy bắt đầu tự xây dựng một quân đội riêng cho mình. Phùng lãnh đạo phe Trực Lệ, Đoàn lãnh đạo phe An Phúc (Anfu). Theo chân hai người, các cấp chỉ huy quân sự cấp nhỏ hơn tại địa phương hoặc cùng phe, hoặc khác phe Bắc Dương cũng bành trướng lực lượng thành lập những quân đội riêng.
 Nhiều cấp chỉ huy quân sự trong các tỉnh tây nam, hoặc trước đây có chân trong Đồng Minh Hội, hoặc có tham gia khởi nghĩa năm 1911, nay cũng mất hết tinh thần cách mạng. Họ không những đi theo các quân phiệt để tìm danh lợi mà còn có khi quay súng chống lại đảng cách mạng và các lãnh tụ nữa. Những người như Sầm Xuân Huyên (Ken Chunxuan), Đường Kế Nghiêu (Tang Jiyao), Lục Vinh Đình (Lu Rongting), Mạc Sùng Tân (Mo Rongxin) và Trần Quýnh Minh (Chen Jiongming) phản Tôn Dật Tiên, lúc ấy là Tổng Tư Lệnh quân đội bảo vệ Hiến pháp lâm thời 1918, cùng nhau thỏa ước đình chiến với Bắc Dương quân khiến cho Tôn Văn không biết nương tựa vào đâu. Trần Quýnh Minh lại còn đảo chính chống lại Tôn Văn ở Quảng Châu, ném bom vào tư thất của ông khiến Tôn Văn phải chạy ra một chiếc chiến thuyền để lánh nạn. 
Từ năm 1916 là khi Viên Thế Khải chết đến năm 1922 là năm Tôn Văn phải từ bỏ chiến dịch Bắc Phạt, không biết bao nhiêu trận đánh đã xảy ra giữa các quân phiệt. Họ chia nước Tàu thành nhiều khu độc lập theo chính sách cai trị bằng súng đạn. Trung Hoa rơi vào một tình trạng hết sức hỗn loạn và đen tối và càng ngày càng xuống dốc cho đến khi Tưởng Giới Thạch hành quân Bắc Phạt đánh bại các sứ quân và thống nhất nước Tàu trên danh nghĩa vào năm 1930. 
Quân lính và súng đạn trong thời kỳ chiến tranh dai dẳng này nhiều hơn triều đại nhà Thanh nhưng theo nghĩa hiện đại hóa quân sự thì không tư tưởng mới mẻ nào được khai triển ngoại trừ việc kêu gọi tiết giảm quyền hành của các quân phiệt và giải giới quân đội. Hầu hết các quân sự gia đều bận chinh chiến và tranh giành quyền lực và trở nên hủ nát. Họ không ngần ngại giết những ai không theo họ nhưng chính họ thì lại chẳng trung thành với ai. Lường gạt và phản trắc là chuyện thường tình trong đám này. Mặc dầu luôn luôn đánh lẫn nhau nhưng không sứ quân nào quan tâm đến vấn đề huấn luyện quân đội, học hỏi chiến thuật chiến lược. Thực ra không có lực lượng quân sự mà chỉ có những băng đảng võ trang. Khi Quốc Dân Đảng thống lãnh được các lực lượng này đưa ra chiến trường chống với du kích Cộng Sản và quân Nhật mà không huấn luyện thích đáng, nhiều đơn vị bị đánh bại dễ dàng. 
Logged

Không có bạn bè vĩnh viễn và kẻ thù vĩnh viễn. Tất cả chỉ vì sự tồn tại của mình.
Khi hai bàn tay nắm chặt và buông lơi một đất nước vĩ đại sẽ hình thành hoặc bị diệt vong.
dungrommel
Thành viên
*
Bài viết: 237


WWW
« Trả lời #36 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2009, 12:45:27 am »

2.   CÁC ĐÒI HỎI CẢI CÁCH QUÂN SỰ TRONG THỜI KỲ ĐẦU CỦA NỀN CỘNG HÒA
  Trong thời quân phiệt, một số lãnh tụ kêu gọi tài giảm của các lực lượng địa phương và tiến hành cải cách quân sự. Cũng có người bàn về việc chuẩn bị chiến đấu vì tình hình sẽ không sao tránh khỏi việc đụng độ với quân Nhật. Vào cuối thập niêm 1930, khi cuộc Nội Chiến giữa Quốc Dân Đảng và Cộng Sản xảy ra, các tư tưởng quân sự của Mao Trạch Đông và Tưởng Giới Thạch bắt đầu hình thành. Cả Mao lẫn Tưởng đều thống lãnh quân đội hiện đại của Trung Hoa và chính đàn trong suốt nửa thế kỷ. Các lý thuyết quân sự của họ đã được những cấp dưới tôn sùng và là những dòng tư tưởng chính nên sẽ được phân tích riêng trong những chương sau. Trong chương này chúng tôi chỉ bàn về ý kiến của Lê Nguyên Hồng (Li Yuanhong), Sái Ngạc (Cai E), Hoàng Hưng (Huang Xing), Bác Sĩ Tôn Dật Tiên và Tưởng Bách Lý (Jiang Baili) là những người đóng góp ít nhiều và sự hình thành của tư tưởng quân sự Trung Hoa hiện đại.
A.   Đề Nghị Tước Giảm Binh Quyền của Lê Nguyên Hồng
  Lê Nguyên Hồng là lữ đoàn trưởng (hiệp trưởng) của quân nhà Thanh đóng ở Vũ Xương, tỉnh Hồ Nam trong thời kỳ tiền cách mạng 1911. Ông được một số sĩ quan trẻ vốn đã gia nhập Đồng Minh Hội tôn lên làm Đô Đốc để chỉ huy cuộc khởi nghĩa. Mặc dầu ông không phải là đảng viên cách mạng hay cảm tình viên nhưng ông là một cấp chỉ huy được nhiều người kính trọng trong vùng. Vì thế khi loạn quân cần một nhân vật uy tín làm thủ lãnh, ông là người duy nhất có thể chọn. 
Vì vai trò lãnh đạo trong thời kỳ đầu cách mạng Tân Hợi, về sau ông được chọn làm Phó Tổng Thống Lâm Thời đầu tiên của Cộng hòa Trung Hoa (Bác Sĩ Tôn Dật Tiên là Tổng Thống Lâm Thời đầu tiên) và trở nên một khuôn mặt chính trị sáng giá trong thập niên sau đó. Ông sau lại được bầu làm Phó Tổng Thống trong thời kỳ Viên Thế Khải làm Tổng Thống và kế nhiệm Tổng Thống hai lần trong thời hậu Viên khi có loạn sứ quân. 
Sự liên hệ của ông với Viên Thế Khải những năm sau đã làm hỏng tình giao hảo của ông với các đoàn thể cách mạng. Tuy nhiên vì ông từ chối không ủng hộ Viên phục hồi đế chế nên cũng giữ lại được phần nào thanh danh là một lãnh tụ đã đóng một vai trò quan trọng trong việc thành lập nền Cộng Hòa.
 a/ Sự tách rời quân sự và dân sự :
Mặc dầu nhiều sử gai cận kim đồng hóa ông với quân phiệt nhưng Lê Nguyên Hồng khác hẳn các sứ quân khác vì ông tích cực đưa ra một chính sách tước bớt quyền của các võ quan địa phương và nhất định đòi tách rời quân sự với dân chính. Ông đưa ra chủ trương đó từ đầu của nền cộng hòa cho đến khi ông rút lui khỏi chính trường năm 1923. Các điểm chính được giải thích cặn kẽ trong điện văn dài nổi tiếng của ông gửi Viên Thế Khải ngày 10 tháng 4 năm 1912. Những điểm đó Viên Thế Khải tón tắt thành” mười điều hại” và ”ba điều không”. Mười điều hại nói về những tác hại cho xã hội và quốc gia nếu để quyền hành quân sự lẫn dân sự cho một người, Đô Đốc (Dudu) hay Đốc Quân (Dujun), còn ba điều không nói về các ảnh hưởng tiêu cực nếu để tất cả các quyền đó trong tay viên chỉ huy quân sự tỉnh.
Mười điều hại có thể tóm tắt thành 4 điểm:
•Thứ nhất, cả quân sự lẫn hành chánh đều đòi hỏi chuyên môn. Khó có thể kiếm người thông thạo cả hai mặt và hành chánh địa phương do đó sẽ bị hư hỏng.
•Thứ hai, nếu đặt quốc gia dưới quyền quản trị của quân đội, thiết quân luật sẽ được dùng đến và dân chúng sẽ bị nguy hiểm về nạn các chỉ huy quân sự lạm dụng quyền hành.
 •Thứ ba, cuộc tranh giành quyền lực giữa các sứ quân địa phương sẽ đưa đến giao chiến gây thêm khổ cho dân.
•Thứ tư, các lãnh tụ địa phương bành trướng quyền lực sẽ khiến họ không chịu tuân lệnh trung ương để thêm độc lập và kết quả là đất nước sẽ bị chia thành nhiều mảnh bởi các sứ quân như đời Chu và đời Đường. 
Còn ba điều không, hay ba ảnh hưởng tiêu cực của nạn sứ quân cát cứ có quân đội xuống cấp. thể tóm tắt như sau:
•Trước hết, các sứ quân sẽ gây ra nạn tham nhũng trong quân đội và làm thương tổn đến tinh thần binh sĩ.
•Thứ hai, quân nhân sẽ coi thường kỷ luật và luật pháp sẽ làm cho cơ chế
•Thứ ba, binh sĩ sẽ không còn tinh thần trách nhiệm và lơ là trong nhiệm vụ. 
Ông cũng cho rằng đời sống sa đọa của binh lính đã làm họ không màng đến chuyện luyện tập, không biết gì về chiến thuật chiến lược. Nếu có chiến tranh, họ không đủ sức bảo vệ tổ quốc và nhân dân.
 Vì các lý do đó, Lê Nguyên Hồng đề nghị rằng các Đô Đốc hay Đốc Quân phải bị hạn chế quyền hành, để các việc không thuộc lãnh vực quân sự cho các cấp chỉ huy dân chính. Có như thế, các cấp chỉ huy quân đội mới tập trung vào nhiệm vụ quân sự. Để chứng tỏ sự thành tâm, ông đích thân từ nhiệm các chức vụ dân sự và yêu cầu hội đồng tỉnh chọn một tỉnh trưởng dân sự cho tỉnh Hồ Bắc.
b/ Cưỡng bách tòng quân và Mỗi người dân là một người lính :
 Ngoài ra, Lê Nguyên Hồng còn đề nghị một quy chế cưỡng bách nhập ngũ thay thế cho qui chế tự nguyện đương thời. Ông gọi là chính sách " mỗi người dân là một người lính ". Chính quyền quốc gia sẽ cử sĩ quan tới các tỉnh để huấn luyện binh sĩ trưng tập ngay tại địa phương. Mọi người sau khi huấn luyện xong đều được giải ngũ và trả về nhà. 
Để giải quyết các vấn đề trong quân đội lúc đó, ông còn dám đưa ra chính sách là ”bãi bỏ các chức Tổng Đốc và giảm bớt binh lính” (Phế Đốc Tài Quân -Feidu Caijun). Mặc dầu ý kiến đó được nhiều người tán thành và được hậu thuẫn của nhiều lãnh tụ sáng giá trong đó có cả Bác Sĩ Tôn Dật Tiên, nhưng các quân phiệt không chịu vì chỉ họ là những người thiệt thòi. Lê Nguyên Hồng từ chức Tổng Thống năm 1923 và rút lui khỏi chính trường Trung Hoa mà không bao giờ thi hành được các chính sách của ông. Tuy nhiên, ảnh hưởng của các đề nghị cải cách đó trên hệ thống quân sự không thể hoàn toàn bỏ qua vì các đề mục đó lại xuất hiện khi quốc gia thống nhất vào thập niên 1930.
B.   Tư tưởng quân sự của Hoàng Hưng
Hoàng Hưng (Huang Xing) là một trong những lãnh tụ cách mạng lỗi lạc của Trung Hoa trong thời cận kim. Ông sinh năm 1874 tại Trường Sa, Hồ Nam và là người thành lập đảng cách mạng Hoa Hưng Hội năm 1903. Ông định khởi nghĩa tại thành phố Trường Sa năm 1904 nhưng bị nhà đương cục Mãn Thanh phát giác và phải chạy qua tị nạn bên Nhật Bản. Tại đây, ông gặp Bác Sĩ Tôn Dật Tiên và gia nhập vào tổ chức của Tôn Văn năm 1905. Ông sát cánh với Tôn Dật Tiên tới khi ông mất. 
Trong suốt thời kỳ hoạt động cách mạng trước năm 1911, Hoàng Hưng thường phải đóng vai lãnh tụ của Đồng Minh Hội vì Tôn Văn bị trục xuất khỏi Hongkong, Nhật Bản và các quốc gia Á Châu khác. Đích thân Hoàng Hưng chỉ huy nhiều cuộc nổi dậy hơn ai hết nên được coi là cấp chỉ huy quân sự lỗi lạc nhất của Đảng trong những năm đầu. Khi Cách mạng xảy ra ở Vũ Xương, ông lập tức từ Hongkong đến mặt trận và trở thành Tổng Tư Lệnh lực lượng cách mạng. Ông ở tại đó 24 ngày để chống lại quân Thanh, đủ thời gian cho quân nổi dậy vận động được các tỉnh khác hưởng ứng đứng lên đòi hủy bỏ chế độ quân chủ và thành lập một nước cộng hòa.
 Sau khi nền cộng hòa được thành lập, ông được chính phủ lâm thời cử làm Bộ Trưởng Bộ Quân Lực và Tham Mưu Trưởng các Lực Lượng năm 1912. Khi Viên Thế Khải thay thế Bác Sĩ Tôn Dật Tiên làm Tổng Thống lâm thời và chuyển kinh đô lên Bắc Kinh, ông ta yêu cầu Hoàng Hưng ở lại Nam Kinh để thanh toán một số công việc chưa hoàn tất. Ông liền từ chức và không còn tham chánh trở lại. 
Trong thời gian dài đấu tranh cách mạng, Hoàng Hưng được coi như một thực hành gia còn Tôn Dật Tiên thì được coi như một lý thuyết gia. Hoàng Hưng không để lại nhiều di cảo, những gì chúng ta biết về tư tưởng quân sự của ông rút từ một số điện tín và diễn văn của ông. Tuy nhiên, trong vai trò lãnh tụ tối cao của quân cách mạng, ảnh hưởng của ông đối với sự phát triển tư tưởng quân sự trong thời kỳ đầu của cộng hòa vẫn rất đáng kể. Vì thế, dù ít tài liệu, chúng ta cũng nên tóm tắt một số quan điểm của ông.
 a/ Giáo dục Phổ thông về Quân sự cho các học sinh :
 Có lẽ ông là lãnh tụ đầu tiên trong lịch sử cận đại đề nghị một chương trình giáo dục phổ thông về quân sự cho mọi học sinh. Năm 1916, khi nói với các Nghị Viên Nghị hội các tỉnh miền Nam, ông cho rằng vì thiếu giáo dục quân sự chung nên tình trạng quân sự mới tệ hại như thế. Nhắc đến việc các quốc gia Âu Châu động viên những quân đội khổng lồ, ông tin rằng chỉ có quân sự hóa giáo dục Trung Hoa thì thời chiến mới có được một quân số to lớn. Ông viết:
 Trung Hoa phải nhấn mạnh vào việc quân sự hóa giáo dục quốc gia. Nếu chúng ta thêm một vài môn quân sự vào chương trình học của học sinh tại mọi cấp -từ trung học đến đại học -thì chúng ta sẽ huấn luyện được nhiều người hơn. Nếu có chiến tranh, lệnh đông viên buổi sáng thì chúng ta có ngay 10 triệu quân buổi chiều. Đây là cuộc cải tổ quân sự tôi nghĩ trong đầu đã từ lâu, nhưng chưa bao giờ nói trước công chúng. 
Rõ ràng khi Hoàng Hưng nói về một chương trình giáo dục quân sự phổ quát cho mọi trẻ em Trung Hoa, ông đã có một kế hoạch cưỡng bách tòng quân trong đầu. Mặc dầu không kiếm ra được gì thêm về vấn đề ông nói, tư tưởng của ông cũng đã rõ ràng, nếu không không thể nào hình dung được quân số 10 triệu sẵn sàng trong vòng 12 tiếng đồng hồ. 
b/ Giảm bớt vai trò Quân đội trong các vấn đề Dân Chính :
 Cũng như Lê Nguyên Hồng, người đã đề nghị chính sách tài giảm các nhiệm vụ dân sự của các cấp chỉ huy quân sự cấp tỉnh và cấp địa phương, Hoàng Hưng cũng có những đề nghị tương tự khi ông làm Bộ Trưởng Bộ Quân Lực và Tham Mưu Trưởng Quân Đội trong chính phủ lâm thời của Quốc Dân Đảng năm 1912.
 Ngay từ tháng hai năm 1912, chỉ hơn một tháng sau ngày Cộng Hòa thành lập, ông bắt đầu gửi điện tín đến các Đô đốc và Đốc quân các tỉnh yêu cầu họ giải tán các chính quyền quân sự địa phương ngoại trừ những nơi có chiến tranh, để cho các viên chức dân sự giữ việc hành chánh bản xứ. 
Hoàng Hưng biết được nguy cơ quân phiệt. Sau Cách mạng Tân Hợi, các lãnh tụ cách mạng nóng lòng muốn giảm bớt quyền hành của các cấp chỉ huy quân sự vì họ chỉ mong rối loạn để chiếm thêm quyền hành. Chỉ có những người mà Hoàng Hưng, Lê Nguyên Hồng, Sái Ngạc có ảnh hưởng trực tiếp mới chịu từ bỏ quyền hành dân sự. 
c/ Các cải tổ quân sự khác : Sau khi tuyên bố giải tán các hệ thống quân sự địa phương, Hoàng Hưng cũng bắt đầu giải ngũ các đơn vị quân sự dưới quyền ông. 
Như trước đây đã đề cập, Hoàng Hưng được cử đứng đầu chính phủ ở Nam Kinh vào tháng 4 năm 1912 khi Viên Thế Khải dời chính phủ lên Bắc Kinh. Lý do bổ nhiệm có lẽ vì Viên Thế Khải muốn dùng uy tín của Hoàng Hưng để kiểm soát các lực lượng ở miền nam Trung Hoa mà thành phần này Viên Thế Khải không quản lý được. 
Từ mồng 6 tháng 4 đến cuối tháng 5, Hoàng Hưng tái tổ chức các lực lượng dưới quyền. Hơn 20,000 binh sĩ bị giải ngũ cho về nhà, nhiều lữ đoàn (hiệp), sư đoàn (trấn) và cả quân đoàn (quân) trưởng đồng ý giải thể đơn vị, trong khi những người khác đồng ý giải ngũ một phần. Ngày 13 tháng 5, Hoàng Hưng báo cáo là nhiệm vụ ông đã hoàn tất và xin từ chức. 
Việc giải tán quân đội là một nhiệm vụ khó khăn và phức tạp. Sau Cách Mạng 1911, Trung Hoa vẫn còn trong tình trạng rối loạn và không thống nhất về bất cứ phương diện gì. Giải binh muốn thành công cần những ngân khoản đáng kể, thời ấy Trung Hoa không cáng đáng nổi. Các lính bị phục viên chỉ được tiền lộ phí. Không ai sắp xếp để họ có việc gì làm thay vào. Thành thử, một số lớn ở lại thành phố, cũng gây ra nhiều vấn đề xã hội. Một số gia nhập binh đoàn khác và một số thành ăn cướp. Hoàng Hưng ra lệnh cho các cấp chỉ huy địa phương trấn áp các thành phần này. 
Công cuộc cải cách quân sự của Hoàng Hưng ở Nam Kinh không được các sứ quân Bắc Dương noi theo. Đã thế họ lại tiếp tục bành trướng quân đội. Một số tướng lãnh của Hoàng Hưng lén lút không tuân lệnh và tiếp tục gia tăng lực lượng. Rõ ràng những gì Hoàng Hưng đề xuất không được hưởng ứng rộng rãi. Đơn phương giải giới, ông đã tự mình làm mình thua trận trong cuộc Đệ Nhị Cách Mạng chống lại Viên Thế Khải sau khi Tống Giáo Nhân bị ám sát. Tuy nhiên, hành động dứt khoát của ông đã hình thành một khuôn mẫu cho tương lai. Vào thập niêm 1950, Trung Hoa đã nỗ lực canh tân quân đội trong đó có giải ngũ một phần quân số khổng lồ của họ.
Logged

Không có bạn bè vĩnh viễn và kẻ thù vĩnh viễn. Tất cả chỉ vì sự tồn tại của mình.
Khi hai bàn tay nắm chặt và buông lơi một đất nước vĩ đại sẽ hình thành hoặc bị diệt vong.
dungrommel
Thành viên
*
Bài viết: 237


WWW
« Trả lời #37 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2009, 12:46:05 am »

3.   SÁI NGẠC VÀ QUÂN SỰ HÓA TRUNG HOA
 Sái Ngạc (Cai E) có lẽ là quân sự gia lỗi lạc nhất trong những năm đầu của Dân Quốc. Ông được mọi người kính trọng vì hành dộng anh hùng bảo vệ nền cộng hòa vào năm 1916.
 Sái Ngạc sinh tại Thiệu Dương, Hồ Nam năm 1882. Ông là học trò của Lương Khải Siêu (Liang Qichao), một nho sĩ lỗi lạc ủng hộ chính thể quân chủ lập hiến vào đầu thế kỷ 20. Nhờ Lương giúp đỡ, Sái Ngạc được gửi sang Nhật Bản vào học Trường Võ Bị Nhật năm 1903. Sau khi trở về Trung Hoa, ông làm huấn luyện viên và quản đốc cho các quân sự học hiệu ở Quảng Tây và Vân Nam trong nhiều năm. Nhờ thế ông nổi tiếng trong giới quân nhân nhất là ở nam Trung Hoa và được bổ nhiệm lữ đoàn trưởng ở Vân Nam năm 1911. Cùng với các sĩ quan trẻ ủng hộ, ông tuyên bố tham gia cách mạng chỉ ít ngày sau cuộc khởi nghĩa Vũ Xương ngày 10 tháng 10 năm 1911 và được chọn làm Đô Đốc (Dudu) của tỉnh Vân Nam. 
Vì ủng hộ chính thể Dân Quốc nên Sái Ngạc bị Viên Thế Khải bãi chức Tổng Đốc Vân Nam và triệu về Bắc Kinh năm 1913 vì y định tái lập chế độ quân chủ. Cuối năm 1915, Sái Ngạc trốn được về Vân Nam và tuyên bố chống lại Viên Thế Khải vì ông ta đã phản bội nền Cộng Hòa. Viên Thế Khải bị hạ bệ năm 1916. Tuy nhiên, chỉ vài tháng sau khi chiến tranh chấm dứt, Sái Ngạc từ trần vì bệnh ung thư tại Nhật Bản. Ông để lại một số tác phẩm quân sự. Tư tưởng của ông có thể tóm tắt vào những điểm sau:
A.   Phục hồi Tinh Thần Võ đạo quốc gia
Năm 1900, khi mới 19 tuổi, Sái Ngạc viết một tiểu luận nhan đề Bàn Về Chính sách quân sự quốc gia (Quân Quốc Dân Thiên -Giun Guomin Pian) đăng trên một tờ báo ở Nhật. Sái Ngạc xoáy mạnh vào một điểm là người Trung Hoa đã mất tinh thần võ đạo và trở nên một dân tộc hèn yếu. Cách duy nhất để khỏi bị chinh phục và xâu xé bởi các cường quốc là phục hồi tinh thần thượng võ.
Có nhiều lý do khiến cho người Trung Hoa mất tinh thần thượng võ nhưng yếu tố chính là hệ thồng giáo dục giết chết óc sáng tạo của trẻ con vì chỉ dạy cho chúng theo những đức tính tôn chỉ của Nho giáo như nhân, nghĩa, trí và tam cương ngũ thường. Hệ thống giáo dục đó hoàn toàn bỏ quên thể dục rất quan trọng cho việc phát triển của trẻ em. 
Ngoài thể dục, ông nhấn mạnh vào việc giáo dục tinh thần quốc gia, lịch sử đất nước và các mẫu anh hùng, thánh nhân để khơi dậy tự hào dân tộc. 
B.   Việc đề cao các đức tính trong quân đội
 Như đề cập trước đây, việc hủ nát của quân đội trong thời kỳ đầu của Dân Quốc hết sức nghiêm trọng khiến cho không sao phân biệt được đâu là quân đâu là cướp. Sái Ngạc cho rằng nếu tính hạnh vô kỷ luật của binh sĩ không thay đổi, tinh thần võ sĩ càng cao thì chiến tranh càng tàn khốc và dân chúng càng khổ sở. Dựa trên nhận định đó, Sái Ngạc thu thập soạn ra một tờ truyền đơn nhan đề Danh ngôn của Tăng (Quốc Phiên) và Hồ (Lâm Dực) về Hành chánh Quân đội năm 1911 phát cho sĩ quan để làm tăng tinh thần đạo đức và chỉ huy. 
Theo ông, dường như đạo đức quân đội bắt nguồn từ lòng trung thành, chính trực, can đảm và hướng thượng. ” Những ai có các đức tính căn bản sẽ đương nhiên có những đức khác và tài chỉ huy. Trái lại, nếu không có những đức tính căn bản thì khó mà có tài có đức khác được ”.
 Theo đó, Sái Ngạc giản dị hóa các đức tính quân sự của Trung Hoa từ xưa là khôn ngoan, trung thành, nhân từ, chính trực, can đảm và nghiêm khắc. Những điều này ngày nay được coi như huấn lệnh chung trong các quân kỷ và sổ tay của Trung Hoa. Ông cũng đề nghị một cấp chỉ huy luôn luôn phải theo lương tâm, can đảm và ngay thẳng. Các đức tính đó quan trọng hơn cả. 
C.   Kế Hoạch quốc phòng và Cưỡng Bách tòng quân
 Nếu bài Quân Quốc Dân Thiên kê ra những bệnh trạng của người Trung Hoa thì bài viết về ”Kế Hoạch Quân sự” là thuốc chữa các căn bệnh đó. 
Trong tác phẩm lớn sau cùng của ông, Sái Ngạc hoạch định một kế hoạch quốc phòng cho Trung Hoa. Nhằm các mục tiêu xây dựng quân đội và hệ thống giáo dục binh sĩ, ông phân tích tương quan giữa sức mạnh quốc gia, sức mạnh quân sự, các lực lượng võ trang, hệ thống tiếp liệu, hệ thống vũ khí và tổ chức quân đội. Tuy các đề tài đó quen thuộc với các cấp chỉ huy quân đội Âu Tây nhưng với Trung Hoa thì còn mới mẻ. Cho nên, việc phân tích một cách có hệ thống của ông có một ảnh hưởng to lớn đối với tổ chức quân sự hiện đại của Trung Hoa và nhất là hệ thống cưỡng bách tòng quân và giáo dục quân sự. 
Theo Sái Ngạc, quốc gia nào cũng có nét đặc thù riêng để kế thừa và sống còn. Ông gọi đó là Quốc Bản (nền tảng của quốc gia), bắt nguồn từ nhựng đặc tính của lịch sử và điều kiện địa lý. Dựa trên nền tảng đó, một nước mới đề ra các chính sách sao cho phù hợp với những tình trạng khác nhau và bảo vệ an ninh. Một chiến lược quốc gia phát sinh từ đó. Mâu thuẫn chiến lược giữa các nước sẽ gây ra chiến tranh và vì vậy phải có quân đội, là khí cụ chính để thực hiện các chiến lược và chính sách. Không quốc gia nào sao nhãng vấn đề quân sự lâu mà không ảnh hưởng đến an ninh và quyền lợi.
 Khi còn quan tâm đến việc xây dựng lực lượng, các cường quốc đưa ra chế độ cưỡng bách tòng quân ít ra trong thời chiến. Thế nhưng mãi đến thập niên 1930, Trung Hoa vẫn dựa trên căn bản tự nguyện. Mặc dầu Viên Thế Khải có đề nghị môt hệ thống cưỡng chế trong tấu chương gửi Thanh triều hồi thập niên 1890 nhưng không bao giờ đem ra thi hành. 
Một hệ thống quân sự căn bản phải cung cấp đủ cho lực lượng võ trang những chiến sĩ quả cảm nhất. Theo Sái Ngạc thì chỉ có việc phổ thông hóa quân sự mới có thể hoàn thành được mục tiêu này.  ”Nếu quốc gia muốn có một lực lượng tinh nhuệ bằng một ngân sách giới hạn thì phải theo đuổi một hệ thống cưỡng bách tòng quân, vì chỉ có hệ thống này mới có đủ lính, không làm giảm khả năng trong một ngân sách hạn chế. Chính sách ấy khiến cho quốc gia có thể chỉ giữ lực lượng hiện dịch ở mức tối thiểu trong thời bình nhưng tiếp tục huấn luyện quân trừ bị càng nhiều càng tốt. Miễn là quân trừ bị được tiếp tục tái huấn luyện thường xuyên, họ sẽ chiến đấu có hiệu quả trong thời chiến” 
Cưỡng bách tòng quân chỉ có thể thực hiện khi có đủ năm điều kiện
 -Trước hết, báo cáo đúng thời hạn về tình trạng tân binh
-Thứ hai, họ phải được huấn luyện chu đáo
-Thứ ba, lính giải ngũ khi về nhà đời sống được bảo đảm
-Thứ tư, họ phải trình diện ngay khi có lệnh gọi
-Thứ năm, khi tập trung được thì họ phải chiến đấu có hiệu năng 
Theo Sái Ngạc, những điều kiện tiên khởi này chỉ có thể đạt được khi chính quyền và quân đội được tổ chức chặt chẽ. 
D.   Phổ thông hóa huấn luyện và Quân sự hóa
 Với kinh nghiệm về huấn luyện và giám sát, Sái Ngạc khẳng định giáo dục quân sự là cần thiết. Mục tiêu chính yếu của giáo dục quân sự là đạt được tinh thần hòa hợp, thống nhất quân đội. Tuy nhiên, những điều đó không phải từ trường ra mà ở trong các đơn vị chiến đấu. Theo Sái Ngạc, bằng chế độ cưỡng bách, chính quân đội là các học hiệu quân sự cho công dân trong thời bình. Ông viết :
 Binh sĩ là những công dân ưu tú của quốc gia. Việc huấn luyện quân đội cho thành tựu và thích đáng sẽ ảnh hưởng đến đạo đức xã hội. Nếu công dân nào cũng mạnh khỏe, lương thiện thì quốc gia sẽ hùng cường ... Huấn luyện một binh sĩ cho tốt chính là huấn luyện công dân.
Quan điểm của Sái Ngạc về quân sự hóa quốc gia thực ra là một kế hoạch vĩ đại để quân sự hóa công dân ngõ hầu thay đổi sự suy nhược của dân tộc Trung Hoa như đã đề cập ở trên.  Để đạt được mục tiêu căn bản về giáo dục quân sự -hòa hợp và thống nhất -Sái Ngạc đưa ra 4 điều kiện : khéo léo, hợp tác, kỷ luật và yêu nước. 
Một hệ thống huấn luyện quân sự phải dạy cho người lính thành thạo các loại vũ khí và cộng tác với đồng đội. Muốn thế, phải huấn luyện họ theo một tiến trình từ hình thức đến tinh thần nghĩa là người lính nào cũng phải đồng nhất bên ngoài và thống nhất bên trong. Người lính phải mặc đồng phục, đi đều bước và thao diễn đồng loạt.
 Một hệ thống huấn luyện quân sự cũng còn phải gia tăng kỷ luật trong quân ngũ. Theo Sái Ngạc, kỷ luật là máu huyết của quân đội, dựa trên tinh thần tin tưởng chung. Người lính tin tưởng vào cấp chỉ huy và tuân lệnh không nghi ngại, họ tin rằng cấp chỉ huy và các bạn đồng đội không bỏ họ. Chính sự tin tưởng lẫn nhau gắn bó quân đội và khiến họ hợp tác chân thành để quyết tâm chiến thắng kẻ thù.
 Sau cùng, một hệ thống huấn luyện quân sự còn phải tạo cho quân sĩ tràn đầy tinh thần yêu nước, đó là động lực cơ bản khiến cho người lính chiến đấu cho quê hương đến hơi thở cuối cùng. Theo Sái Ngạc, hệ thống huấn luyện phải dạy cho người lính hãnh diện phục vụ quốc kỳ, quốc ca, học lịch sử, địa dư để gia tăng lòng ái quốc. Ông đề nghị phát triển bản sắc chính trị trong quân đội khiến cho mọi người lính đề thuộc về một chính quyền trung ương ngõ hầu chấm dứt nạn sứ quân ở Trung Hoa trong thời đầu Dân Quốc.
E.   Chiến lược và Chiến thuật
  Như đã bàn đến trong chương trước, Tăng Quốc Phiên thường hay nhắc đến guyên lý Chủ và Khách trong chiến lược, chiến thuật. Ông thích chọn vai chủ trên chiến trường bằng cách ở trong tư thế phòng thủ. Trên bình diện tổng quát, Sái Ngạc đồng ý với quan điểm bảo thủ của Tăng Quốc Phiên. Ông viết: “ ... trong việc thảo luận về chiến lược, Tăng (Quốc Phiên) và Hồ (Lâm Dực) đều chuộng thuyết Chủ Khách. Chủ là phòng thủ, Khách là tấn công ... Lý thuyết đó phù hợp với quan điểm của các chiến lược gia Tây Phương trước cuộc chiến tranh Pháp -Phổ ...” Những lý thuyết của họ (Tăng và Hồ) đều đã được thực nghiệm trong chiến tranh và trui rèn bằng kinh nghiệm, phù hợp với các lý thuyết của các chiến lược gia tân thời trên thế giới. Khi suy ngẫm về lời của các vị này, tôi không khỏi không thán phục.
 Thế nhưng Sái Ngạc không nhắm mắt theo lời Tăng Quốc Phiên một cách mù quáng. Ông biết rằng sau cuộc chiến Pháp -Phổ và Nga -Nhật, các chiến lược gia đã bàn về ưu điểm của thế công. Không ai còn muốn giữ thế thủ trừ khi lực lượng mình quá yếu, hay vì tình trạng đặc biệt thế thủ lợi hơn thế công.
 Thế nhưng ông cũng không đi theo lý thuyết tấn công của thời ông một cách vô điều kiện. Ông tin rằng ”trong việc chọn chiến lược và chiến thuật, người ta phải chú ý đến tình trạng thực tế chứ không nên tùy thuộc vào một lý thuyết nào. Nếu không hiểu các nguyên tắc căn bản của lý thuyết mà chỉ áp dụng một cách mù quáng, thì thể nào cũng thất bại chẳng khác gì người què mà muốn chạy cho nhanh”.
 Sau khi so sánh lực lượng của Trung Hoa với các nước địch theo các tiêu chuẩn huấn luyện, vũ khí, tiếp liệu và thông tin liên lạc, Sái Ngạc phi bác các lợi điểm chiến thuật tấn công và đưa ra ý kiến riêng mà theo các chiến lược gia Trung Hoa thì là để áp dụng theo tình trạng riêng của đất nước. Sái Ngạc viết : 
Nếu Trung Hoa có chiến tranh với một quốc gia khác trong một tương lai gần, thì tốt hơ nên theo chiến thuật Boer hơn là hi sinh hết mọi thứ để đánh liều theo môt chiến lược khác. Trước hết, Trung Hoa phải trì hoãn đụng trận và rút lui theo chiến lược phòng ngự để bảo tồn lực lượng, dụ địch vào sâu. Khi địch kiệt sức và không đủ quân để hỗ trợ lẫn nhau, Trung Hoa chỉ cần đánh một trận là quét sạch. Kinh nghiệm của người Nga trong việc đánh bại quân đội Napoléon Trung Hoa có thể học nếu phải đối phó với ngoại xâm.
 Sái Ngạc là cấp chỉ huy quân sự lỗi lạc nhất của thời ông. Không những ông kiến thức rất rộng mà tư cách cũng rất đáng trọng. Ông không bao giờ chiếm công vi tư, trái lại ông chọn thái độ rút lui để đất nước sớm thống nhất. Tư cách của ông càng làm cho các tư tưởng quân sự cũng như chính trị được ưa chuộng hơn nhiều người khác và tăng thêm ảnh hưởng trong việc hình thành các quan điểm quân sự hiện đại. Thực thế, Danh Ngôn của Tăng và Hồ về Hành chánh quân đội đã được tái bản với lời giới thiệu của Tổng Tài Tưởng Giới Thạch và phát cho các sĩ quan và sinh viên tại Học Hiệu Quân Sự Hoàng Phố (Huangpu) khi ông Tưởng chỉ huy trường này.
Logged

Không có bạn bè vĩnh viễn và kẻ thù vĩnh viễn. Tất cả chỉ vì sự tồn tại của mình.
Khi hai bàn tay nắm chặt và buông lơi một đất nước vĩ đại sẽ hình thành hoặc bị diệt vong.
dungrommel
Thành viên
*
Bài viết: 237


WWW
« Trả lời #38 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2009, 12:47:24 am »

4.   BÁC SĨ TÔN DẬT TIÊN VÀ QUÂN ĐỘI CÁCH MẠNG
A.   Tôn Văn và cuộc Cách Mạng Tân Hợi  
Bác Sĩ Tôn Dật Tiên (Sun Yatsen) sinh năm 1866 tại Hương Sơn (Xiangshan), Quảng Đông hai năm sau khi quân Thanh chiếm lại Nam Kinh và hoàn toàn tiêu diệt giặc Thái Bình.
 Thời còn nhỏ, Tôn Văn được nghe không biết bao nhiêu chuyện về giặc Thái Bình. Cảm tình của ông đối với họ khiến cho ông thâm thù Mãn Châu và càng ngày càng mạnh khi thấy tình trạng chính trị -xã hội của Trung Hoa ngày cành tệ hại. Năm 1879, ông đi Hawaii để theo đuổi giáo dục Tây phương. Năm 1886, ông vào học trường Y Khoa Trung Hoa tại Hongkong và mở một bệnh viện ở Macau sau khi tốt nghiệp năm 1892, nhưng chỉ được vài tháng thì phải đóng cửa vì các bác sĩ Âu Châu cạnh tranh. Ông phải dọn về Quảng Châu.
 Theo hồi ký của ông về biến cố Luân Đôn, ông gia nhập Hưng Trung Hội (Xingzhonghui) năm 1892 và bắt đầu dấy động chính trị ở Macau.
 Sau khi Hưng Trung Hội thành lập ở Hawaii năm 1894, Tôn Dật Tiên trở thành lãnh tụ tối cao và đích thân ông chỉ huy cuộc khởi nghĩa võ trang đầu tiên ở Quảng Châu năm 1895. Sau đó ông bôn ba nhiều nước khắp thế giới để kêu gọi các Hoa kiều hải ngoại ủng hộ cách mạng.
 Như đề cập trong chương trước, sau những cuộc khởi nghĩa bạo động, Tôn Văn bị trục xuất ra khỏi nhiều quốc gia tại Á Châu. Thành ra ông không còn có thể trực tiếp lãnh đạo hoạt động cách mạng và khởi nghĩa. Lực lượng cách mạng càng được tăng cường khi Hưng Trung Hội và Hoa Hưng Hội sáp nhập để thành Đồng Minh Hội năm 1905. Tôn Văn lúc ấy có thể để cho người khác, như Hoàng Hưng và Tống Giáo Nhân, lãnh đạo việc thường ngày để dành thời giờ vào công việc xây dựng lý thuyết. Ngoài ra, ông vốn dĩ du hành nhiều nước Âu Tây, lại giỏi Anh ngữ nên vì thế đưa được nhiều quan điểm chính trị Tây phương vào trong suy nghĩ của ông. Cho nên ông là lãnh tụ ý thức của Đồng Minh Hội.
 Trong cuộc đời, ông xuầt bản nhiều tác phẩm hơn các lãnh tụ khác của Đảng. Những tác phẩm danh tiếng của ông gồm có Tam Dân Chủ Nghĩa, Học Thuyết Tôn Văn, Dự Án Phát Triển Quốc Tế của Trung Hoa. Mặc dầu các tác phẩm này được xuất bản hồi thập niên 1920 nhưng mãi về sau này các tư tưởng căn bản trong đó vẫn còn được nhiều người nói đến
 • Tam Dân Chủ Nghĩa là sự kết hợp của tư tưởng quốc gia Tây Phương, chủ nghĩa dân chủ và chủ nghĩa xã hội cùng với lời giải thích riêng của Tôn Văn về các tư tưởng chính trị -xã hội cổ truyền của Trung Hoa, được sử dụng như hướng dẫn tổng quát cho Cách Mạng. Nó cũng còn được dùng để định chế hóa hệ thống xã hội -chính trị của Trung Hoa Dân Quốc. Hai tác phẩm kia phác họa việc xây dựng nền tảng tinh thần cũng như vật chất của Cộng Hòa Trung Hoa và tư tưởng quân sự của ông phần nào phản ảnh các căn bản này.
• Dự Án Phát Triển Quốc Tế của Trung Hoa (Quốc Tế Khai Phát Kế Hoạch) được đưa ra cho một số cường quốc Âu Tây năm 1921 để thuyết phục các lãnh tụ chính trị đầu tư các năng lực nhân sự, trang bị và kỹ nghệ đang giải thể của họ vào Trung Hoa để Trung Hoa xây dựng các kế hoạch giao thông và một nền kỹ nghệ hiện đại. Trên quan điểm quân sự, Trung Hoa sẽ trở nên hùng mạnh nếu các kế hoạch của Tôn Văn được thực hiện.
• Tôn Văn Học Thuyết (Sun Wen Xue Shuo) viết để thuyết phục dân Trung Hoa đi theo kế hoạch xây dựng Trung Hoa hiện đại của ông. Trong cuốn sách này, Tôn Văn nhấn mạnh vào một nguyên tắc duy nhất : biết làm cách nào khó hơn thực hiện một công việc (tri nan hành dị). Dựa trên tiền đề đó, ông khuyến khích các Đảng viên và thường dân Trung Hoa thực hiện công tác cách mạng sao cho phù hợp với lý thuyết cách mạng. Nếu Dự Án Phát Triển Quốc Tế của Trung Hoa là một sơ đồ kiến thiết vật chất của nước Cộng Hòa sơ sinh thì Tôn Văn Học Thuyết nhắm vào củng cố quyết tâm đạt tới những mục tiêu của Cách Mạng. Lấy chính kinh nghiệm của mình để làm gương, Tôn Văn lập đi lập lại với dân Trung Hoa, nhất là với đảng viên và quân sĩ, nhấn mạnh về yếu tố tinh thần trong công cuộc đấu tranh cách mạng.
 Tôn Văn được bầu làm Tổng Thống Lâm Thời đầu tiên của Trung Hoa Dân Quốc năm 1912 nhưng ông từ chức nhường cho Viên Thế Khải để đánh đổi lấy sự ủng hộ của ông ta với nền Cộng Hòa. Tuy nhiên, việc Viên phản bội, mưu toan tái lập đế chế và cái chết của ông ta sau khi các tướng lãnh nổi dậy chống lại đã gây ra một thời kỳ nội chiến và quân phiệt dài trong lịch sử.  
Trong khi cách mạng Trung Hoa chịu hết nạn này tới nạn khác thì cuộc Cách Mạng Cộng sản tại Nga thành công. Việc đó đã ảnh hưởng đến thái độ chính trị của Tôn Văn. Với sự cố vấn của các chuyên gia Liên Xô trong Cộng Sản Quốc Tế, ông tái tổ chức Quốc Dân Đảng theo khuôn mẫu của đảng Cộng Sản. Ông cũng quyết định thành lập một quân đội cách mạng hay lực lượng võ trang của đảng theo kiểu Liên Xô. Ông gửi Tướng Tưởng Giới Thạch làm đặc sứ của ông sang Liên xô để học về hệ thống quân sự và chính trị của họ. Khi trở về, Tưởng Giới Thạch được cử làm hiệu trưởng trường võ bị Hoàng Phố (Hoàng Phố quân quan học hiệu) để dùng những sở học vào việc xây dựng một quân đội cách mạng. Chính tại nơi đây mà hệ thống chính ủy được đề ra. Hệ thống đó trở nên một phần bộ thường trực và thiết yếu của quân đội Trung Hoa trong cả Quốc Dân Đảng lẫn Cộng Sản.
 Là lãnh tụ cách mạng và trên hết một lý thuyết gia, các tác phẩm chính trị của Tôn Văn phong phú và có hệ thống hơn các tác phẩm quân sự của ông nhiều. Tuy nhiên, tư tưởng của ông ảnh hưởng sâu đậm trên hệ thống quân sự tân thời hơn nhiều lãnh tụ quân sự khác và vì thế đáng cho chúng ta nghiên cứu kỹ càng.
B.   Kế Hoạch Quốc Phòng và Phát Triển Kinh Tế  
Trong một lá thư viết cho Liêu Trọng Khải (Leo Zhongkai) năm 1921, Bác Sĩ Tôn Dật Tiên đã cho hay ông dự định viết một quyển sách về vấn đề quốc phòng của Trung Hoa. Ông tính lấy tên là Kế Hoạch Mười Năm về Quốc Phòng và ông liệt ra 62 vấn đề ông sẽ bàn đến. Không có chứng cớ nào là ông đã viết cuốn sách đó nên chúng ta không thể tìm hiểu lý thuyết của ông về quốc phòng một cách có hệ thống. Dẫu sao, một số chi tiết trong danh sách ông kê ra cũng có thể tìm thấy trong các diễn văn hay các bài viết khác của ông. 62 điểm đó bao gồm một khu vực to lớn, có thể tóm tắt trong 10 đề mục sau đây:  
1/ các nguyên tắc, phương hướng và chính sách quốc phòng  
2/ quốc phòng và vấn đề đối ngoại  
3/ quốc phòng với hệ thống chính trị quốc gia kể cả hiến pháp, chính quyền trung ương và địa phương.  4/ kinh tế và quốc phòng : thảo luận về các kế hoạch liên quan đến kỹ nghệ quân sự, nông nghiệp, hầm mỏ, thương mại, giao thông vận tải và giáo dục. Cũng bao gồm cả tương quan giữa quốc phòng và sự phát triển kỹ nghệ quốc gia.
 5/ các kế hoạch xây dựng quân sự và hệ thống quân đội bao gồm lục quân, không quân và hải quân.  
6/ giáo dục quân sự và trao đổi các quan điểm quân sự với nước ngoài.  
7/ quốc phòng và nhân văn, kể cả các ý kiến tái định cư nhân dân các vùng nhân mãn ra vùng biên giới.  
8/ hệ thống võ khí -tiêu chuẩn hóa võ khí.  
9/ kế hoạch hành quân và thao luyện.  
10/ so sánh giữa giáo dục quân sự về tinh thần và thể chất.
  Những tài liệu liên quan đến một nửa các đề tài này có thể tìm thấy trong các văn kiện và diễn văn của ông. Tương quan giữa quốc phòng và kinh tế quốc gia chẳng hạn có thể tìm thấy trong Dự Án Phát Triển Quốc Tế của Trung Ho. Các ý niệm về giáo dục quân sự và nguyên tắc chiến lược, chiến thuật có thể tìm trong diễn văn của ông trước các lực lượng.
Có người cho rằng kế hoạch phát triển kỹ nghệ của Tôn Văn chính là kế hoạch quốc phòng được cắt giảm cho phù hợp với nhu cầu của Trung Hoa. Theo ông, việc phát triển kỹ nghệ là một vấn đề thiết yếu quan hệ trực tiếp đến vận mệnh của Trung Hoa.
Các phương án mà Tôn Văn đưa ra nhắm trọng tâm vào việc giải quyết các vấn đề vận tải -ông để 4 trong 6 phần trong cuốn sách thảo luận về đề mục này. Chỉ có cải tiến giao thông thì quyền hành của Trung Hoa tại các vùng biên cảnh mới có thể duy trì và mới thể di dân tới các nơi đó cũng như mới có thể tiếp tế được cho những nơi gặp khó khăn. Ngoài ra, chỉ có cách cải thiện giao thông thì Trung Hoa mới tiếp nhận được kỹ thuật, hàng hóa, tài nguyên từ các nước Âu Tây để duy trì và kích tích phát triển kỹ nghệ. Kế hoạch của Tôn Văn gọi là phát triển kỹ nghệ xe hơn và hầm mỏ.
Những kế hoạch về phát triển giao thông vận tải ông đề ra giới hạn vào việc cải tiến hải cảng, đường hỏa xa, hệ thống sông ngòi và đường sá.
Trước hết, Tôn Văn dự tính kiến tạo 3 hải cảng bậc nhất dọc theo bờ biển Trung Hoa được gọi là Đại Bắc Cảng Trực Lệ ở Hà Bắc, Đại Đông Cảng Hàng Châu ở Triết Giang hay Thượng Hải và Đại Nam Cảng ở Quảng Châu. Ngoài ra, vài chục hải cảng hạng nhì, hạng ba cũng được xây cất hoặc dọc theo bờ biển hoặc trong các sông chính tại nội địa.
Tôn Văn cũng nhấn mạnh vào sự quan trọng của việc cải tiến giang hành trên sông Dương Tử và Vận Hà (Grand Canal) để nối liền các vùng trù phú trong đất liền với Đại Đông Cảng. Việc xây cất các hải cảng hạng nhì, hạng ba dọc theo sông ngòi là biện pháp ông đưa ra.  
Để nối liền các hải cảng đề ra trong kế hoạch với các vùng kinh tế và chiến lược trong toàn quốc, ông phác họa 7 hệ thống thiết lộ chính.
 Hệ thống thiết lộ Tây Bắc đi từ Đại Bắc Cảng chạy ngang qua Mông Cổ, Tân Cương đến biên giới Nga Hoa. Các đường nhánh sẽ nối các thị trấn biên giới và khu vực chiến lược như Mông Cổ, Cam Túc, Tân Cương với đường chính. Tôn Văn sẽ thiết kế một kế hoạch di cư để đưa dân từ các vùng đông đúc trong nội địa đến các vùng biên cảnh vì cả lý do kinh tế lẫn quân sự. Kế hoạch của thiết lộ này dự trù khoảng 7000 km.
 Ngoài ra ông dự tính thiết lập hai đường thiết lộ nối Đại Đông Cảng với các thành phố bên trong đất liền và các vùng biên giới. Các đường này gọi là hệ thống Thiết Lộ Trung Ương và hệ thống Thiết Lộ Đông Nam. Đường Trung Ương chạy dọc theo sông Dương Tử đến các tỉnh phía Tây của Tây An trong tỉnh Thiểm Tây, tới Trùng Khánh ở Tứ Xuyên rồi ngoặt lên Bắc Mông Cổ và Tân Cương nối liền với hệ thống Thiết Lộ Tây Bắc. Đường Đông Nam chạy về miền nam qua các tỉnh Giang Tây, Giang Tô, An Huy, Hồ Bắc và Hồ Nam xuống Đại Nam Cảng ở Quảng Châu. Hai đường này dự trù dài 16,600 km và 9,000 km.
 Một thiết lộ thứ tư Tôn Văn dự trù sẽ dùng để biến Đại Nam Cảng thành một cửa biển hạng nhất. Ông đề nghị đường thứ tư này chạy từ Nam Cảng qua Hồ Nam, Quí Châu, Quảng Tây, Vân Nam đến giên giới Hoa -Miến và Hoa -Việt. Ngoài 4 đường chính nên trên, Tôn Văn cũng đề ra 3 hệ thống khác. Một đường tên là hệ thống Thiết Lộ Cao Nguyên chạy qua Tây Tạng, Thanh Hải, một phần Tân Cương, Tứ Xuyên, Vân Nam và Quí Châu. Hệ thống này giúp Trung Hoa ngăn chặn được các cuộc tấn công từ Ấn Độ và Đông Dương. Đường thứ hai tên là Thiết Lộ Đông Bắc hay Mãn Châu, nối liền Mãn Châu với Đại Bắc Cảng và các vùng khác của tỉnh Hà Bắc. Con đường này nhằm củng cố lực lượng phòng vệ Nga hay Nhật xâm lăng Mãn Châu. Con đường thứ ba gọi là hệ thống Thiết Lộ Tây Bắc kéo dài. Khi hoàn tất, con đường này sẽ đi tới mọi thị trấn chiến lược ở biên giới tại Tân Cương và Mông Cổ nhằm ngăn chặn Nga Sô khỏi đánh qua biên giới.
 Sau hết, Tôn Văn đưa ra kế hoạch xây dựng 1,000,000 km xa lộ để gia tăng hệ thống giao thông vận tải.  Các mục tiêu khác của Tôn Văn là kế hoạch phát triển kỹ nghệ xe hơi và hầm mỏ. Ông đặc biệt nhấn mạnh về sự quan trọng của khai thác sắt thép, than đá, dầu hỏa và đồng cũng như sự phát triển các nhà máy chế tạo máy móc.  
Trong các dự án đưa ra, Tôn Văn nhấn mạnh vào lợi ích có thể có nếu các cường quốc giúp Trung Hoa phát triển kỹ nghệ. Điều ông không nói ra nhưng cũng đã rõ ràng là kết quả của những kế hoạch này sẽ làm cho Trung Hoa gia tăng sức mạnh quân sự và chấm dứt sự xâm lấn của nước ngoài.
Logged

Không có bạn bè vĩnh viễn và kẻ thù vĩnh viễn. Tất cả chỉ vì sự tồn tại của mình.
Khi hai bàn tay nắm chặt và buông lơi một đất nước vĩ đại sẽ hình thành hoặc bị diệt vong.
dungrommel
Thành viên
*
Bài viết: 237


WWW
« Trả lời #39 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2009, 12:47:46 am »

C.   Sự thành lập các Lực Lượng Cách Mạng 
Mặc dầu Đồng Minh Hội đã có lần mở một trường võ bị tại Tokyo năm 1902 để huấn luyện cán bộ cách mạng và cũng giúp các sinh viên Trung Hoa xin vào học các quân sự học hiệu của Nhật Bản nhưng Tôn Văn và Quốc Dân Đảng mãi đến 1924 mới xây dựng lực lượng cách mạng, khi Quân quan Học hiệu Hoàng Phố thành lập. 
Tôn Văn không định nghĩa rõ ràng thế nào là ”lực lượng cách mạng” nhưng ông có cố gắng phân biệt giữa một quân đội cách mạng với lực lượng quân sự khác dựa trên tinh thần, chiến thuật và sự trung thành với các nguyên tắc cách mạng. Từ những thảo luận sau đây chúng ta có thể hình dung được quan điểm về lực lượng cách mạng. 
Trong việc phân biệt lực lượng võ trang cách mạng với lực lượng quân sự khác, Tôn Văn nói là ”mỗi chiến sĩ cách mạng có thể đánh lại 100 hay ít nhất cũng 10 kẻ thù. Khi hai chữ cách mạng được áp dụng cho một binh đội, một nghìn chiến sĩ quân đội cách mạng có thể đánh bại 10 hay ngay cả 100 nghìn kẻ thù. Có thể đánh bại một địch thủ quân số đông đảo gấp bội như thế chính là tiêu chuẩn đo lường Quân đội Cách Mạng”. 
Một đánh một là nguyên tắc thông thường của đối trận. Chỉ có những trường hợp đặc biệt một chiến sĩ mới có thể đánh được nhiều hơn một người. Cho nên tiêu chuẩn của Tôn Văn cho quân đội Cách Mạng quả thực không bình thường. Theo ông, cách mạng là một công tác đặc biệt và vì thế chỉ có một lực lượng cách mạng đặc biệt mới thực hiện nổi. Cách duy nhất để thành lập một lực lượng cách mạng là học hỏi các đảng viên cách mạng. Cần phải học tinh thần đấu tranh và lòng can đảm để một có thể chống 100. Chính là như thế vì Tôn Văn có nói : ”Nếu một lực lượng chiến đấu không khác gì một đảng viên cách mạng thì mới được gọi là Quân đội Cách Mạng”. Từ đó, người ta biết rằng quân đội cách mạng là một lực lượng đặc biệt nhấn mạnh vào yếu tố tinh thần. Với tinh thần chiến đấu đặc biệt đó, môt lực lượng cách mạng có thể đánh bại một lực lượng đông đảo hơn. 
Trước khi thành lập quân đội cách mạng, Tôn Văn và Quốc Dân Đảng phải chủ yếu dựa vào sự ủng hộ của các lực lượng địa phương ở các tỉnh miền Nam. Ông thường nghĩ đến việc chuyển họ sang thành lực lượng cách mạng. Ông nói : ”Nếu chúng ta muốn dựa vào các lực lượng hiện hữu để hoàn thành công cuộc cách mạng, nhiệm vụ chính yếu của các đảng viên là phải làm sao chuyển hóa các binh sĩ thành đảng viên, có thế họ mới sẵn sàng hi sinh thân mình cho Tam Dân Chủ Nghĩa”. 
Nhưng rõ ràng Tôn Văn không thành công trong việc biến các đơn vị địa phương thành một lực lượng cách mạng lý tưởng. Vì thế ông phải thành lập trường võ bị Hoàng Phố để đào tạo lực lượng cách mạng riêng. Tôn Văn thán phục cách mạng Nga và dự tính huấn luyện lực lượng của ông theo khuôn mẫu nước Nga. Đã có lần ông viết cho Tướng Tưởng Giới Thạch năm 1924 là ”cuộc cách mạng của chúng ta sẽ không bao giờ thành công nếu chúng ta không học hỏi người Nga”. Học cái gì đây ? Tôn Văn viết : ”Để hoàn thành công cuộc cách mạng, chúng ta phải học phương pháp, tổ chức và huấn luyện theo kiểu Nga”. Hậu quả là ông tái tổ chức Quốc Dân Đảng và thành lập một lực lượng cách mạng.
D.   Các Chiến Thuật Cách Mạng của Tôn Văn
 Nếu Bác Sĩ Tôn Dật Tiên đã từng khai triển một chiến lược quân sự cho quân đội cách mạng thì nguyên lý của nó phải là _lấy ít thắng nhiều._ Ông nhắc đi nhắc lại nguyên tắc đó trong nhiều bài diễn văn và bài viết. Một lần, ông viết cho Tưởng Giới Thạch về một quân đội lý tưởng như sau ”Nếu quân đội được tổ chức và huấn luyện theo ý của tôi và do tôi chỉ huy, tôi dám chắc sẽ đánh bại được một lực lượng đông gấp mười hay gấp trăm. Chiến lược này chưa từng chiến lược gia nào đề cập đến trong binh thư cả”.
Thế nhưng nếu nói nghiên tắc này của ông là không đúng. Đánh bại một quân lực đông hơn đã có từ lâu. Các quân sự gia đời xưa đã bàn về nguyên tắc này. Trong khi các binh gia đời xưa đã phát triển một số lý thuyết để thực hiện chiến lược lấy ít chống nhiều, Tôn Văn không để lại một phương pháp nào đáng tin về việc thực hiện chiến lược đó, ngoại trừ việc nhấn mạnh về tinh thần cách mạng và chiến thuật du kích.
 Lấy thí dụ về đội cận vệ của ông trong biến cố Quan Âm Sơn (Guanyin shan) năm 1922, ông nói rằng 30 người trang bị bằng súng lục đã giữ vững vị trí hơn mười tiếng đồng hồ chống lại được vài nghìn loạn quân đến khi họ hết đạn. Tôn Văn nói ”Chỉ có các cận vệ chiến đấu tại Quan Âm Sơn mới xứng đáng là mẫu người lính lý tưởng của quân đội cách mạng : một người chống lại một trăm”. Theo Tôn Văn, các quân nhân đó có thể chiến đấu như thế vì họ không sợ chết và sẵn lòng hi sinh cho cách mạng.
 Ngoài yếu tố tinh thần, một phương pháp duy nhất Tôn Văn cho rằng quân đội cách mạng có thể đánh lại một quân địch đông hơn là dùng chiến thuật du kích hay Du Dũng (You Yong).
 Dường như Tôn Văn lấy ý kiến về chiến thuật du kích từ chiến tranh Boer, trong đó người Boer chống lại quân Anh ở Nam Phi bằng chiến thuật phục kích. Người Việt Nam cũng dùng chiến thuật tương tự để chống Pháp và có lẽ điều đó đã ảnh hưởng đến Tôn Văn. Cho nên, ông đề nghị dùng chiến thuật du kích chống lại quân xâm lăng ngoại quốc và quân phiệt Bắc Dương. 
Nói chung, các bàn cãi của Tôn Văn về chiến tranh du kích chỉ giới hạn trong các vấn đề kỹ thuật. Theo ông, có 5 loại kỹ xảo trong chiến thuật Du Dũng cần phải học : bắn mục tiêu, phục kích, chịu đựng gian khổ, đi bộ và ăn uống đạm bạc. Khi thảo luận về tác xạ mục tiêu, Tôn Văn có dề cập đến nguyên tắc lấy tiếp liệu của địch tróng chiến tranh du kích. Tôn Văn viết ”việc tiếp liệu đạn dược có thể từ hậu cần hay ngay tại mặt trận. Tuy nhiên, lực lượng du kích không thể nào có tiếp tế nên phải lấy của địch để dùng. Thành thử, tiếp liệu của họ không phải từ sau mà từ trước.” Về vấn đề "chịu đựng gian khổ, đi bộ và ăn uống kham khổ" đó không phải là kỹ năng mà là huấn luyện thể xác giúp cho quân du kích vượt qua được những khiếm khuyết hay yếu kém về vũ khí và trang bị. Sau cùng, từ ngữ ”phục kích” có thể dùng trên tầm vóc kỹ thuật hay chiến thuật. Nếu nói về kỹ thuật là nhấn mạnh về an toàn cá nhân bằng cách dùng các điều kiện thiên nhiên như địa thế để ẩn náu hầu tránh khỏi hỏa lực của địch. Nếu nói về chiến thuật là nhấn mạnh vào việc tấn công địch bất ngờ. Thảo luận của Tôn Văn nhắm vào kỹ thuật nhiều hơn. 
E.   Yếu tố quyết định của chiến tranh -Con Người
 Tôn Văn không đưa ra một chiến lược hay chiến thuật đặc biệt nào để khiến cho một có thể chống mười, chống trăm. Chiến lược duy nhất ông nhắc đi nhắc lại là sự ưu việt của tinh thần đấu tranh cách mạng. Như đã đề cập trong phần trước, ông nhấn mạnh vào bản chất phi thường của chiến tranh cách mạng và do đó tin rằng cần có những tinh thần đấu tranh phi thường.
Thực vậy, Tôn Văn nói ”phải tự hỏi có tinh thần cách mạng hay không, nếu có thì thành công của cách mạng mới bảo đảm”.  Tinh thần là gì? Ông định nghĩa rất giản dị : ”những gì không phải là vật chất là tinh thần”.
Tinh thần và vật chất hỗ tương không thể tách rời. Tuy nhiên theo Tôn Văn, tinh thần là yếu tố chính, vật chất là yếu tố phụ. Vũ khí thuộc về vật chất nên chỉ được sử dụng thích đáng bởi những con người có tinh thần. Cho nên, yếu tố quyết định trong chiến tranh chủ yếu là tinh thần con người mà Tôn Văn cho rằng quan trọng gấp chín lần vật chất. Câu sau đây hình dung sự quan trọng mà Tôn Văn nói về tinh thần trong chiến tranh:
 Nếu người ta có vũ khí dồi dào nhưng tinh thần yếu kém thì họ chỉ muốn bỏ vũ khí lại cho địch lấy khi phải ra trận. Quân đội như thế chẳng khác gì toán tiếp vận trang bị cho địch quân. Cho nên, khi hai lực lượng thù nghịch muốn hủy diệt khả năng chiến đấu của nhau, thì chỉ cần phá hủy tinh thần chiến đấu của nhau.
 Hầu hết mọi người đều đồng ý là tinh thần là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến kết quả chiến tranh nhưng nhiều người cho rằng Tôn Văn hơi đánh giá vai trò tinh thần quá cao trong chiến đấu. 
Nói chung, tình hình thực tế thường không cho các lãnh tụ nhiều chọn lựa nên họ thường đề cao vai trò tinh thần. Thực tế, các đơn vị cách mạng thường kém trang bị và không được tiếp liệu đều đặn. Nếu lãnh tụ cách mạng khăng khăng là vũ khí quan trọng hơn ý chí con người thì khác nào tự mình đánh bại mình. Trong hầu hết mọi trường hợp, người Trung Hoa phải chiến đấu bằng những vũ khí cũ kỹ chống lại kẻ thù trang bị tối tân hơn nhiều. Cho nên, họ phải tự nhủ là tinh thần ưu thắng. Chẳng hạn như Mao Trạch Đông gọi bom nguyên tử là con cọp giấy vì tuy nhìn thì kinh khủng nhưng thực tế thì không. Lý do thực sự sau lời phát biểu đó là lúc đó Trung Hoa chưa có vũ khí hạch tâm. Ông ta không muốn Quân đội Giải Phóng Nhân Dân phải chùn bước khi nghĩ đến có thể phải đụng độ với một kẻ thù có bom nguyên tử.
Tuy nhiên, chúng ta phải biết rằng việc nhấn mạnh vào tinh thần coi đó là yếu tố quyết định đã trở thành một tính chất quan yếu trong tư tưởng quân sự của Trung Hoa. Chỉ có điều mỗi lãnh tụ quân sự lại nhìn theo một mức độ khác. 
F.   Vai trò của Tuyên Truyền Chính Trị trong Chiến Tranh
  Chiến lược của Tôn Văn là dùng một lực lượng nhỏ để đánh bại một lực lượng lớn hơn nên đòi hỏi tinh thần phải rất cao. Nâng cao tinh thần chiến đấu của quân ta trong khi hủy hoại tinh thần quân địch trở thành chìa khóa chiến thắng của lực lượng cách mạng. Theo Tôn Văn, đường lối hay nhất là dùng tuyên truyền. Ông nói : ”Sau khi tái tổ chức Quốc Dân Đảng, chúng ta phải nhấn mạnh vào tuyên truyền vận động chứ không phải phương tiện quân sự”.
  Tuyên truyền có thể biến địch thành bạn. Chẳng hạn như trong cuộc Cách Mạng Tân Hợi, tại Vũ Xương sở dĩ thành công là vì chính quân Thanh cũng nổi dậy. Họ nổi dậy chính là nhờ cách mạng tuyên truyền. Ông viết : ”Nhờ tuyên truyền vận động, chúng ta đã làm cho họ hiểu được Tam Dân Chủ Nghĩa khiến họ sẵn sàng chiến đấu cho cách mạng. Cho nên, sự thành công của cách mạng là nhờ vào sự thành công của tuyên truyền”.
 Ngoài ra theo ông nếu không có tuyên truyền thì một lực lượng cách mạng cũng không thắng trận được vì "nếu chúng ta không vận động tuyên truyền binh sĩ của ta, thì họ chẳng biết vì sao mà họ phải chiến đấu cho cách mạng". Vì thế, Tôn Văn nói là ”phương pháp nhanh nhất để tiến hành cách mạng là 90% dựa vào tuyên truyền, chỉ 10% dựa vào lực lượng”.
 Việc nhấn mạnh vào tuyên truyền trong chiến tranh không những là một phần bộ quan trọng của chiến lược cách mạng Tôn Văn mà còn là nền tảng cho hệ thống chính ủy trong quân đội Trung Hoa hiện đại. Có thể tin rằng khi Mao Trạch Đông cương quyết chống lại quan điểm quân sự thuần túy của Hồng quân trong thời còn ở Tỉnh cương sơn (Jinggangshan) có thể phần nào bắt nguồn từ triết lý của Tôn Văn. 
G.   Ngưng chiến và Giải Ngũ quân đội
  Khi bàn về bản chất chiến tranh, Tôn Văn tin rằng chiến tranh chẳng qua chỉ là sự thể hiện tính bản ác của con người. Ông cũng tin rằng con người càng tiến bộ thì càng ít cơ hội cho cái tính ác ấy biến thành chiến tranh. tuy nhiên, một nguyên tắc chung cho thế giới hiện đại là ai chiến đấu được sẽ sống còn, ai không chiến đấu được sẽ khổ sở. Cho nên ”người ta phải chiến đấu chính là vì muốn ngưng chiến”. Đó chính là một phần của triết học quân sự cổ điển của Trung Hoa và hiện vẫn còn chi phối tâm hồn của những quân sự gia tân thời. 
Giải ngũ lực lượng đã trở thành một vấn đề chính yếu sau cách mạng 1911. Tiếng nói của Tôn Văn về vấn đề này không những đáng kể mà còn có tính thuyết phục hơn những người khác vì ông đưa ra một khung hình trong đó lính giải ngũ có việc làm trong khu vực kỹ nghệ. Ông nói rằng ”giải ngũ binh sĩ không phải là bỏ cho họ thất nghiệp lang thang mà phải biến họ thành công nhân để hoàn thành chính sách gia tăng kiến tạo kỹ nghệ bằng lực lượng quân sự”. Chính sách đó gần đây cả Cộng Sản lẫn Quốc gia đều đã thực hiện tại Hoa lục và ở Đài Loan sau năm 1949. 
Logged

Không có bạn bè vĩnh viễn và kẻ thù vĩnh viễn. Tất cả chỉ vì sự tồn tại của mình.
Khi hai bàn tay nắm chặt và buông lơi một đất nước vĩ đại sẽ hình thành hoặc bị diệt vong.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM