Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 08:19:28 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lý thuyết quân sự Trung Hoa  (Đọc 61218 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
dungrommel
Thành viên
*
Bài viết: 237


WWW
« Trả lời #60 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2009, 01:03:00 am »

C.   Từ Nhân Dân mà ra, vì Nhân Dân mà Chiến Đấu
  Khi phân tích các phương thức đối phó của chính quyền Quốc Dân Đảng trong Trung Nhật chiến tranh, Mao phân biệt hai chiến tuyến giữa Cộng quân và Quốc quân. Ông tuyên bố rằng có một ”lộ tuyến nhân dân” mà đảng Cộng Sản Trung Hoa phải tìm được để đoàn kết tất cả những công dân yêu nước trong ”một cuộc chiến toàn dân để đi tới chiến thắng”. 
Mặc dầu Mao không định nghĩa từ ngữ ”lộ tuyến nhân dân” nhưng chúng ta có thể hiểu được, tuy nhiên nó cũng tương tự như quan niệm về lộ tuyến quần chúng trong đó có nghĩa là một đảng chính trị hay một chính quyền phải đưa ra những chính sách phù hợp với nguyện vọng hay lợi ích tối đa cho quần chúng và phải dựa vào họ để thi hành các chính sách đó. Người Cộng Sản gọi lực lượng võ trang của họ là quân đội nhân dân, chiến đấu cho nguyện vọng của đại chúng và toàn quốc. Mao viết ”Nhiệm vụ then chốt của quân đội là sát cánh với nhân dân Trung Hoa, đem hết tâm nguyện ra phục vụ họ”. 
Trong bản Báo cáo về Điều Tra phong trào Nông Dân tại Hồ Nam, Mao khẳng định là đảng cách mạng phải hiểu được sức mạnh của phong trào nông dân và phải thay đổi thái độ đối với họ. Chỉ có thế thì tương lai cách mạng mới bảo đảm. Về sau, ông cũng đi xa hơn mà nói rằng ”nguồn sức mạnh phong phú nhất để chi viện cho chiến tranh là quần chúng”, ”tập hợp quần chúng trên một bình diện rộng lớn là phương thức duy nhất bảo đảm nguồn năng lượng vô tận đáp ứng mội đòi hỏi của chiến tranh”. Khi Hồng quân tự đặt mình vào trong quần chúng và được nhân dân coi là quân đội của họ thì sẽ trở thành vô địch. 
Dựa trên các nhận định đó, Mao dồn nỗ lực xây dựng quân đội vào việc động viên quần chúng và võ trang họ. Dần dần phát triển thành hệ thống quân sự ba cấp. Trong hệ thống này, khi nào ba lực lượng còn phối hợp được với nhau trong chiến đấu, nó sẽ còn là ”một cuộc chiến tranh nhân dân thực sự. Chỉ có chiến tranh nhân dân mới có thể đánh bại một kẻ quốc thù”. 
Logged

Không có bạn bè vĩnh viễn và kẻ thù vĩnh viễn. Tất cả chỉ vì sự tồn tại của mình.
Khi hai bàn tay nắm chặt và buông lơi một đất nước vĩ đại sẽ hình thành hoặc bị diệt vong.
dungrommel
Thành viên
*
Bài viết: 237


WWW
« Trả lời #61 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2009, 01:03:54 am »

4.   CÁC CHIẾN LƯỢC VÀ CHIẾN THUẬT CỦA CHIẾN TRANH NHÂN DÂN
  Chúng ta đã bàn đến các quan điểm căn bản của Mao về chiến tranh nhân dân và các nguyên tắc tổng quát trong việc tiến hành một cuộc chiến cách mạng, các chiến lược và chiến thuật đặc biệt phản ảnh các tính chất của nhân dân võ trang chưa bàn tới.
 Như đề cập từ trước, theo Mao, mỗi cuộc chiến có những đặc tính riêng mà luật lệ của cuộc chiến này không thể áp dụng y nguyên vào cuộc chiến khác, vì mỗi cuộc chiến có những luật lệ riêng bắt nguồn từ tình trạng riêng rẽ như bản chất, thời gian, địa điểm. Về vấn đề thời điểm thì ”cả chiến tranh và luật lệ của nó được hình thành, mỗi giai đoạn lịch sử có những đặc tính riêng của nó. Cho nên, các nguyên lý của chiến tranh mỗi thời đại có những đặc tính riêng, không thể chỉ áp dụng một cách máy móc vào một thời kỳ khác”. 
Thay vì đi sâu vào chi tiết các chiến thuật, chiến lược của Mao Trạch Đông, trong phần này chúng tôi sẽ phân tích về những yếu tố đặc thù ảnh hưởng đến phương cách chọn chiến lược, chiến thuật và thay đổi thao từng thời kỳ để đáp úng với các khó khăn mới như thế nào. Cho nên, các phân tích sẽ cố đưa ra những câu trả lời cho những câu hỏi như:
• Mao hình thành các quan điểm chiến lược, chiến thuật và chiến dịch như thế nào? • Các tương quan của nó ra sao?
• Các giả thuyết căn bản Mao dựa vào để phác họa các chiến lược, chiến thuật trong cuộc chiến tranh cách mạng Trung Hoa? • Mao dùng chiến thuật để thay đổi những bất lợi trong chiến lược như thế nào?
• Mao hướng dẫn các thay đổi chiến lược, chiến thuật tùy theo sự phát triển của chiến tranh như thế nào?
•   Mao đã viết một loạt nguyên tắc quân sự dựa trên các kinh nghiệm riêng của ông trong việc chỉ đạo chiến tranh cách mạng Trung Hoa. Đến mức độ nào thì những nguyên tắc đó có thể coi là những nguyên lý chung về chiến tranh, có giá trị trường cửu hay chỉ giới hạn? 
A.   Quan điểm Chiến Lược, Chiến Thuật và Chiến Dịch của Mao Trạch Đông
 Trong một văn kiện quân sự quan trọng, Mao phân tích kỹ càng về chiến lược nhưng lại không đưa ra một định nghĩa chính xác. Ông chỉ nói một các đơn giản là ”đối tượng của khoa học chiến lược là học hỏi các luật lệ chỉ đạo chiến tranh chi phối tình trạng chiến đấu một cách toàn cục”. 
Trong định nghĩa giản dị này, có ba từ ngữ mang tính quan niệm: đó là khoa học, luật lệ chỉ đạo chiến tranh và tình trạng chiến đấu toàn cục. 
Khi bàn về nhận thức của Mao về chiến tranh trong phần hai của chương này, chúng tôi đã nói là thái độ của ông đối với vấn đề chiến tranh có tính khoa học hơn là tính nghệ thuật. Luật lệ chiến tranh là ”sự phản ảnh của những đối tượng thực sự trong đầu chúng ta”. Theo Mao, mọi việc ở bên ngoài đầu óc là đối tượng thực tế, theo từ ngữ chiến tranh, kể cả mọi tình huống của địch và của chính ta.
Người ta phải ”làm quen chính mình với mọi tình cảnh để tìm ra luật lệ điều khiển hoạt động của cả hai bên và làm dùng các luật đó vào việc điều binh của chính mình”. ”Cách thức duy nhất dùng để học hỏi luật lệ chỉ đạo chiến tranh một cách toàn cục là phải động não (suy nghĩ thấu đáo)... chứ không còn cách nào khác”. 
Từ những phát biểu đó, chúng ta thấy rõ ràng là Mao coi chiến lược là một khoa học, việc học hỏi các luật lệ chiến tranh ”chi phối toàn cục tình hình” chứ không thể học từng phần. Các luật lệ chiến tranh chi phối một phần được coi là khoa học chỉ đạo chiến dịch hay chiến thuật. 
Tình trạng toàn cục chính là điểm then chốt của khoa học chiến lược mà Mao đã tốn nhiều công sức để phân tích. Ông viết:
 Ở đâu có chiến tranh thì ở đó có tình trạng chiến tranh toàn cục. Tình trạng chiến tranh toàn cục có thể bao trùm toàn thế giới, có thể bao trùm một quốc gia hay chỉ bao trùm một vùng du kích cá biệt hoặc chỉ một mặt trận quan trọng. Mọi tình trạng chiến tranh đòi hỏi một sự hiểu biết thấu đáo về mọi phương diện, mọi mức độ tạo ra một tình trạng toàn cục.
Trong khi tình trạng toàn cục có thể áp dụng vào nhiều mức độ từ toàn cầu đến một quốc gia, một khu vực du kích hay một mặt trận quan trọng, quan điểm về chiến lược cũng có thể chia ra thành những mức độ tương tự và do đó gần giống như cách xếp loại của Tưởng Giới Thạch về chiến lược như đại chiến lược, chiến lược quốc gia, chiến lược quân sự, chiến lược trận tiền... 
Thế nào thì có thể coi là một tình trạng toàn cục? Theo Mao, các vấn đề tập hợp đơn vị và đội hình, tương quan giữa các chiến dịch, tương quan giữa các cấp độ hành quân khác nhau và tương quan giữa các hoạt động của ta nói chung và các hoạt động của địch nói chung, đều là những đề mục cần phải đề cập. Ngoài ra, ông còn liệt kê không dưới 15 đề mục mà các cấp chỉ huy phải đưa ra như những vấn đề trên cấp độ chiến lược. Nói chung, các vấn đề quan yếu của chiến lược tập trung vào những dữ kiện có ảnh hưởng nghiêm trọng đối với toàn cục cuộc chiến dù thắng hay bại. 
Khi có cuộc chiến trong tình trạng toàn cục thì phải có chiến tranh trong tình trạng phần bộ, được chỉ đạo bởi các luật lệ về chiến tranh mà khoa học, chiến dịch hay chiến thuật đã được Mao định nghĩa sẵn. 
Tuy Mao hết sức chú trọng đến chiến tranh toàn cục nhưng ông cũng không bỏ qua các vai trò của chiến tranh phần bộ là những vấn đề thuộc về chiến dịch và chiến thuật. Trái lại, ông nói là tình trạng toàn cục ”không thể tách rời khỏi các phần bộ để trở thành độc lập với các phần tử đó, vì nó là tổng thể của mọi phần bộ”. Tuy nhiên, ông không coi mọi phần bộ đều như nhau vì những hậu quả của mỗi phần bộ không giống nhau. 
Một số thất bại hay chiến bại trong hành quân chiến thuật hay chiến dịch không dẫn tới sự suy thoái của chiến tranh toàn cục vì nó không to lớn hay có tính quyết định. Thế nhưng nếu thua trong các chiến dịch tạo nên chiến tranh toàn cục, hay một hai chiến dịch có tính quyết định thì sẽ lập tức thay đổi cục diện.
Logged

Không có bạn bè vĩnh viễn và kẻ thù vĩnh viễn. Tất cả chỉ vì sự tồn tại của mình.
Khi hai bàn tay nắm chặt và buông lơi một đất nước vĩ đại sẽ hình thành hoặc bị diệt vong.
dungrommel
Thành viên
*
Bài viết: 237


WWW
« Trả lời #62 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2009, 01:04:25 am »

B.   Các yếu tố dùng để quyết định chiến lược 
Trong khi bàn đến các đặc tính của chiến tranh cách mạng Trung Hoa để khám phá các luật chiến tranh chi phối hoạt động của cả đôi bên, Mao dùng 5 yếu tố để đưa ra tiến trình phân tích trong việc chọn lựa các chiến lược trong cuộc Trung Nhật chiến tranh, bao gồm tình trạng địch, tình trạng ta, địa hình, thời điểm và bản chất cuộc chiến. Mọi yếu tố đó -ngoài yếu tố sau cùng -là những yếu tố tiêu biểu mà các cấp chỉ huy phải sử dụng đến trong chiến dịch. 
a/ Tình trạng địch
  Tình trạng địch không chỉ đề cập đến lợi điểm của địch mà cả những bất lợi của họ. Chẳng hạn như Nhật Bản là một đế quốc mạnh trong cuộc chiến với Trung Hoa vì họ có một lực lượng quân sự, kinh tế, chính trị, tổ chức mạnh nhưng bất lợi về số lượng. Nhật Bản ”là một quốc gia tương đối nhỏ, hạn chế về nhân sự, quân sự, tiền bạc và tài nguyên nên không thể theo đuổi một cuộc chiến trường kỳ”. 
b/ Tình trạng ta
 Trong cuộc chiến tranh kháng Nhật, Trung Hoa là một quốc gia bán thuộc địa, bán phong kiến. Trung Hoa cũng còn là một quốc gia yếu kém và ở thế hạ phong so với địch về quân sự, kinh tế, chính trị và tổ chức. Mao viết là ”ở đây chúng ta thấy chiến tranh không thể tránh được và Trung Hoa cũng không thể nào thắng nhanh được”.
 c/ Địa hình
  Trong khi Nhật Bản là một quốc gia nhỏ, thiếu tài nguyên, Trung Hoa là một nước lớn, đất rộng, tài nguyên dồi dào, dân đông không thiếu nguồn nhân lực chiến đấu và có khả năng theo đuổi chiến tranh lâu dài. 
d/ Thời điểm
Theo Mao, trong thời gian cuối thập niên 1930, Trung Hoa vẫn yếu nhưng trong thời gian một thế kỷ qua đã tích tụ được nhiều phát triển và phong trào giải phóng không còn giống như trước đây. Dù các lực lượng trong và ngoài nước đẩy lùi tiến bộ nhưng cũng đồng thời khích động quần chúng Trung Hoa. Cho nên, trong thời kỳ tiền chiến tranh Trung Nhật, Trung Hoa đã tiến bộ hơn bất cứ giai đoạn nào trong lịch sử. Dựa trên lập thuyết đó, Mao tin rằng chiến tranh giải phóng của Trung Hoa sẽ kéo dài nhưng cuối cùng sẽ đi đến thành công.
 e/ Bản chất cuộc chiến
 Ngoài những điều kiện vật chất, Mao tin rằng có một yếu tố tinh thần cần phải tính đến. Vì cuộc chiến Trung Nhật là một cuộc chiến đế quốc xâm lược do Nhật khởi xướng nên bản chất phản động và dã man không thể không khơi dậy tính căm thù của nhân dân Trung Hoa và các dân tộc khác. Mao viết ”Chiến tranh không công chính chỉ được hỗ trở rất ít ỏi là một qui luật và đó là bản chất đích thực của chiến tranh Nhật Bản”. Trái lại ”Trung Hoa được sự ủng hộ của thế giới vì bản chất tiến bộ và công chính của cuộc chiến mà chúng ta đang tiến hành”. Đó chính là lợi điểm to lớn của Trung Hoa.
 Dựa trên phân tích đó, Mao đi đến kết luận là bản chất mâu thuẫn của hai đối tượng trong cuộc chiến Trung Nhật đã quyết định mọi chính sách và chiến lược quân sự cũng như chiến thuật của cả hai bên và đi đến sự khẳng định là ”tính chất trường kỳ và các hệ luận của nó đã đưa tới chiến thắng tối hậu cho nhân dân Trung Hoa chứ không phải Nhật Bản” 
Phân tích này và kết luận của nó không chỉ làm nền tảng cho chiến lược ”trường kỳ kháng chiến” chống Nhật mà còn quyết định cả chiến lược du kích trong Trung Nhật chiến tranh. Theo Mao, chiến tranh du kích trong một nước nhỏ chỉ có thể hỗ trợ cho chiến dịch và quân chính qui trong một thời gian ngắn hay nói khác đi chỉ có thể yểm trợ chiến thuật chứ không chiến lược. Mặt khác, nếu một quốc gia mạnh thì quân xâm lăng bị đánh đuổi nhanh chóng hay chỉ chiếm được một vùng nhỏ. Tuy nhiên khi một quốc gia lớn nhưng yếu như Trung Hoa bị một quốc gia nhỏ nhưng mạnh như Nhật Bản tấn công, kẻ thù có thể chiếm một khu vực rộng của quốc gia lớn nhưng không đủ quân để kiểm soát chặt chẽ và tạo nên nhiều kẽ hở trong khu vực bị chiếm đóng. Cho nên chiến tranh du kích kháng Nhật không chỉ giới hạn vào các chiến dịch nội tuyến yểm trợ quân chính qui mà còn phải thực hiện các chiến dịch độc lập thuộc phạm vi ngoại tuyến. nói một cách khác, chiến tranh du kích có thể đóng cả vai trò chiến lược trong đấu tranh.
 Phân tích này đã trở thành một lý thuyết nền tảng cho Cộng Sản Trung Hoa để phát triển chiến tranh du kích trong các vùng bị chiếm đóng chuyển vai trò các lực lượng du kích từ chiến thuật sang vai trò chiến lược.
 Tuy nhiên trong cuộc chiến tranh Việt Nam đã chứng tỏ là tầm vóc một quốc gia không còn quan trọng mấy trong việc quyết định vai trò chiến lược hay chiến thuật của lực lượng du kích vì quân du kích Việt Nam cũng không giới hạn nhiệm vụ của họ trong chiến thuật dù lãnh thổ của họ so với Trung Hoa nhỏ hơn nhiều. 
C.   Thay đổi Biện Chứng trong Tương quan Lực Lượng
 Như đã đề cập trước đây, duy vật biện chứng là phương pháp phân tích đã ảnh hưởng đến Mao một cách đáng kể. Ông thường nói là phải nhìn sự vật trên hai mặt ”nhận diện và đấu tranh giải quyết... Trong những điều kiện nào đó, hai mặt mâu thuẫn của một vấn đề chuyển qua thành mặt bên kia”.
 Dường như rút ra từ lý thuyết tương quan mâu thuẫn này mà Mao khai triển lý luận biện chứng về tương quan giữa thủ và công, tiến và thoái, thắng và bại, chiến thuật và chiến lược. Trên một mức độ nào đó, ông nối kết quan điểm triết học cổ điển Âm Dương với luật mâu thuẫn và cải biến tương quan mâu thuẫn này thành lý thuyết đắp đổi hỗ tương. Như thế, ông có thể biến đổi tương quan lực lượng từ những bất lợi thành lợi điểm. 
Một quân đội chiến đấu trong nội tuyến chiến lược phải chịu rất nhiều bất lợi... Thế nhưng trong các chiến dịch và trận đánh chúng ta có thể và tuyệt đối có thể thay đổi tình trạng này. Chúng ta có thể biến một chiến dịch bao vây, càn quét to lớn do địch phát động thành những chiến dịch riêng biệt nhỏ của chúng ta bao vây và càn quét địch... Chúng ta có thể chuyển đổi ưu thế chiến lược của địch thành ưu thế của chúng ta trên bình diện chiến dịch và chiến trận. Chúng ta có thể tạo cho một kẻ địch vốn dĩ mạnh về chiến lược thành một kẻ địch yếu về chiến dịch và chiến trận. Cái đó gọi là ngoại tuyến bên trong nội tuyến, bao vây càn quét bên trong bao vây càn quét, phong tỏa bên trong phong tỏa, thế công trong thế thủ, tìm ưu trong liệt, tìm mạnh trong yếu, tìm lợi trong bất lợi, chủ động trong bị động. Sự thắng lợi trong tự vệ chiến lược tùy thuộc chủ yếu vào sự tính toán này -tập trung lực lượng.
 Không có gì mới mẻ trong nguyên tắc tập trung lực lượng, vấn đề là làm sao áp dụng một cách hiệu quả vào việc điều quân. Các nhà lãnh đạo quân sự Trung Hoa đã bàn về chiến thuật cách mạng trong nhiều thập niên bằng cách ”lấy một chống mười, lấy mười chống trăm” và ngay cả ”lấy một chống trăm, chống ngàn”, nhưng không ai nhìn vấn đề một cách nghiêm chỉnh và biến đổi sao để có thể đem ra thực hành. Thành thử, vẫn chỉ là một khẩu hiệu, nói thì hay nhưng không ích lợi gì trong chiến đấu. Tuy nhiên, dưới sự vận dụng của Mao Trạch Đông, nó đã trở thành một chiến thuật thực tiễn. Ông nói:
 Chiến lược của chúng ta là ”lấy một chống mười” nhưng chiến thuật của chúng ta là ”lấy mười chống một”. Đó là một trong những nguyên tắc căn bản để khống chế kẻ thù. 
Đây là một tỉ dụ điểm hình về việc Mao dùng một phương pháp chiến thuật phá vỡ sự ưu thắng chiến lược của địch quân. 
Mao nhắc đi nhắc lại nguyên tắc này nhiều lần trong các binh pháp do ông soạn. Ông thường nói ”tập trung lực lượng ưu thế diệt địch từng đơn vị một” ”Hậu quả của phương pháp chiến đấu này là, trước hết, tiêu diệt toàn bộ và thứ hai, quyết định nhanh chóng”. 
Những gì ông nói ra có thể không mới mẻ đối với các cấp chỉ huy nhiều kinh nghiệm, nhưng sự kết hợp các nguyên tắc này áp dụng vào những hạn chế đưa lại những kết quả hết sức vẻ vang.
 Khi bàn về tập trung lực lượng để chiếm ưu thế, ông thường nói là ”quân ta phải tập trung để đạt ưu thế tuyệt đối -gấp sáu, năm, bốn hay ít nhất gấp ba quân địch -rồi chọn một thời điểm thích đáng bao vây tiêu diệt một trung đoàn (hay tiểu đoàn) trước.” Khi nói về tiêu diệt địch, ông khẳng quyết là ”làm bị thương mười ngón tay không bằng chặt đứt một lóng, cầm chân mười sư đoàn chẳng bằng diệt một sư đoàn” 
Việc áp dụng thành công các chiến lược và chiến thuật này đã trở thành các yếu tố quyết định giúp cho Cộng Sản thắng trong cuộc nội chiến năm 1949.
Logged

Không có bạn bè vĩnh viễn và kẻ thù vĩnh viễn. Tất cả chỉ vì sự tồn tại của mình.
Khi hai bàn tay nắm chặt và buông lơi một đất nước vĩ đại sẽ hình thành hoặc bị diệt vong.
dungrommel
Thành viên
*
Bài viết: 237


WWW
« Trả lời #63 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2009, 01:06:47 am »

D.   Các Nguyên Tắc điều binh của Mao
 Từ khi Cộng Sản Trung Hoa bắt đầu võ trang nổi dậy ngày mồng 1 tháng 8 năm 1928 ở Nam Xương (Nanchang), tỉnh Giang Tây (Jiangxi), đích thân Mao chỉ huy cuộc chiến đấu quân sự chống cả nội địch lẫn ngoại thù trong suốt 20 năm. Vào năm 1947, hai năm sau khi cuộc chiến với Quốc Dân Đảng bắt đầu, Mao tổng kết các kinh nghiệm quân sự trong cuộc chiến tranh cách mạng Trung Hoa, nhất là hai năm sau cùng, và các nguyên tắc nổi tiếng trong điều binh dẫn đến thắng lợi sau cùng trong cuộc chiến Quốc -Cộng. Nếu các nguyên tắc đề cập trong các phần trước có thể coi như áp dụng các nguyên tắc quân sự tổng quát của Mao vào tình trạng đặc biệt của nước Tàu, các nguyên tắc điều binh sau đây mới thực sự đại biểu các nguyên tắc rút ra từ kinh nghiệm của Trung Hoa trong cuộc chiến tranh nhân dân và có thể áp dụng vào những nước có hoàn cảnh tương tự. 
Bản chính các nguyên tắc này do Mao đưa ra vào ngày mồng 1 tháng 9 năm 1947 như những điều hướng chiến lược của Ủy Ban Trung Ương Đảng Cộng Sản cho quân đội trong năm thứ hai của cuộc chiến. Các nguyên tắc đó được cải tiến và báo cáo lên Trung Ương Đảng bốn tháng sau. Các nguyên tắc đó như sau:
1. Tấn công chia cắt, cô lập lực lượng địch trước, tấn công các lực lượng mạnh, tập trung sau.
 2. Chiếm các thành phố cỡ nhỏ, cỡ trung và các nông thôn bao quát trước, các thành phố lớn sau.
 3. Mục tiêu chính là quét sạch các lực lượng tinh nhuệ của địch chứ đừng coi việc chiếm giữ một địa điểm hay một thành phố là chính. Tiêu diệt được các lực lượng tinh nhuệ của định thì tất nhiên sẽ chiếm được thành thị hay địa điểm và một vị trí chỉ có thể giữ được khi chuyển qua chuyển lại nhiều lần.
4. Trong mọi trận đánh, tập trung một lực lượng ưu thế tuyệt đối (gấp hai, ba, bốn hay đôi khi sáu bảy lực lượng địch), bao vây hoàn toàn, cố tiêu diệt hoàn toàn không để một tên nào thoát lưới. Trong những điều kiện đặc biệt, dùng phương pháp đánh chí mạng, nghĩa là tập trung hết lực lượng đánh mặt trước và một hoặc hai bên sườn, nhằm mục đích quét sạch một phần, truy kích một phần để quân ta có thể nhanh chóng đưa quân đến đập tan các lực lượng khác. Cố tránh các trận đánh tiêu hao vì như thế ta thua nhiều hơn được hay hòa. Theo cách đó, dù tổng số lực lượng ta có ít hơn (trên số lượng) , chúng ta vẫn ưu thắng trên mọi tình huống, mọi chiến dịch, bảo đảm thắng lợi trên mặt trận. Dần dà, chúng ta sẽ có ưu thế tổng thể và từ từ quét sạch mọi lực lượng địch.
5. Không bao giờ đánh mà không chuẩn bị, không bao giờ đánh mà không chắc thắng, cố gắng tối đa để chuẩn bị cho mỗi trận đánh, cố gắng tối đa để bảo đảm cho thắng lợi trong những điều kiện có được của địch và ta.
 6. Thể hiện toàn bộ phương cách chiến đấu của chúng ta -can đảm trong chiến trận, không sợ hi sinh, không sợ mệt mỏi, chiến đấu liên tục (có nghĩa là đánh thắng liên tiếp trong một thời gian ngắn không nghỉ ngơi).
7. Cố gắng quét sạch địch bằng chiến tranh lưu động. Cùng một lúc, chú trọng vào chiến thuật tấn công vị trí và chiếm giữ các vị trí hiểm yếu và thành phố của địch.
8. Khi tấn công các thành phố, cố gắng chiếm giữ các vị trí quan yếu và các thành phố kém phòng bị. Nắm lấy các cơ hội khi địch phòng thủ yếu và cho ta hoàn cảnh thuận tiện. Nếu các vị trí và thành thị phòng bị chặt chẽ, chờ thời cơ chín mùi hãy chiếm.
 9. Bổ xung lực lượng bằng vũ khí và nhân sự chiếm được của địch. Tài nguyên chính yếu của quân đội ta về nhân sự và vật liệu lấy từ mặt trận.
10.Lợi dụng tối đa thời gian giữa hai trận đánh để dưỡng sức, huấn luyện và củng cố hàng ngũ. Thời kỳ nghỉ ngơi, huấn luyện và củng cố nói chung không nên dài để quân địch không có thì giờ lại sức. 
Như đã nêu ra từ trước, các nguyên tắc hành quân của Mao có những đặc tính khác với nguyên tắc quân sự thông thường, có thể tóm lược như sau: 
Thứ nhất, hầu như một nửa các nguyên tắc là chiến lược tránh né các cường điểm, tấn công các nhược điểm của địch. Đó cũng là chủ thuyết sáng giá nhất trong Tôn Tử binh pháp. Mao đã áp dụng vào tình trạng cố định của chiến tranh cách mạng Trung Hoa. 
Thứ hai, ông ta nhấn mạnh vào sự cần thiết của bồi dưỡng lực lượng ta bằng tiếp liệu của địch nơi mặt trận. Theo Tôn Tử, một quân đội có thể dựa vào lương thực của địch nhưng quân cụ phải mang từ nhà đi. Theo Mao, không những lương thực mà cả khí giới, nhân sự cũng có thể lấy từ phía địch. Nói chung trong chiến tranh hiện đại, dựa vào địch để cướp đoạt tiếp liệu trang bị cho mình là điều hết sức khó khăn. Tuy nhiên, đối với một lực lượng cách mạng, trong giai đoạn đầu thường không có nguồn tiếp vận đáng kể thì cũng có thể tự trang bị bằng những gì cướp được từ tay địch nơi chiến trường.
 Thứ ba, Mao không đề cập đến chiến lược nổi tiếng của ông là lấy nông thôn bao vây thành thị trong các nguyên tắc hành quân. Thay vào đó, ông khuyên quân của ông nên chiếm các vùng nông thôn rộng rãi và các thành thị nhỏ và vừa trước. Tuy nhiên, ông cũng minh xác trong các tác phẩm khác là, dù khó khăn khi dựa vào nông thôn chống lại thành thị, người ta vẫn có thể từ nông thôn đánh bại địch bằng cách bao vây và cô lập các thành phố. 
Lý thuyết dùng nông thôn để bao vây và chống lại thành thị trở nên một chiến lược nổi danh toàn thế giới từ khi Thống Chế Lâm Bưu ấn hành bài báo nhan đề ”Chiến Tranh Nhân Dân Vạn Tuế” vào giữa thập niên 1960. Lâm còn đi xa hơn diễn giải chủ thuyết này trên một nghĩa quốc tế. Ông ta coi Hoa Kỳ cùng các quốc gia kỹ nghệ phát triển ở Tây Âu và Nhật Bản là các thành phố của thế giới trong khi vô số các quốc gia đang phát triển ở Á Châu, Phi Châu và Châu Mỹ Latin là khu vực nông thôn rộng lớn của thế giới. Nhân dân cách mạng của vùng nông thôn này sẽ đánh bại Hoa Kỳ và các cường quốc trong thành phố của thế giới bằng cách chiếm lĩnh các địa bàn nông thôn. 
Sau cùng, khi Mao khuyên quân đội của ông nên tập trung gấp bốn, năm hay sáu bảy lực lượng địch để quét sạch từng đơn vị một, độc giả thường có khuynh hướng cho rằng ông lạm dụng lực lượng trên chiến địa. Nói chung, hai đến ba lầm lực lượng địch cũng đủ để khống chế chiến trường và quét sạch địch. Tuy nhiên, có hai điểm đáng đề cập. Thứ nhất, các lực lượng du kích hai quân cách mạng thường không được trang bị đầy đủ như kẻ địch nên cần phải gấp hai, gấp ba tiêu chuẩn thông thường thì mới bảo đảm được chiến thắng. Thứ hai, nguyên tắc này liên quan chặt chẽ với lý thuyết cọp giấy của Mao. Theo Mao, ”chúng ta phải coi thường địch trên chiến lược và hết sức coi trọng địch trên chiến thuật”. Khi ông nói coi thường địch trên chiến lược là ông nói tới địch như toàn khối giai cấp cai trị mà Mao coi là một giai cấp phản động và chỉ là con cọp giấy. Tuy nhiên, khi đụng trận trên chiến trường thì con cọp giấy trở thành con cọp thật, nên phải đối phó hết sức thận trọng. Cho nên, phải tập trung toàn bộ lực lượng để có ưu thế tuyệt đối chống địch từng đơn vị một.
Logged

Không có bạn bè vĩnh viễn và kẻ thù vĩnh viễn. Tất cả chỉ vì sự tồn tại của mình.
Khi hai bàn tay nắm chặt và buông lơi một đất nước vĩ đại sẽ hình thành hoặc bị diệt vong.
dungrommel
Thành viên
*
Bài viết: 237


WWW
« Trả lời #64 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2009, 01:07:17 am »

E.   Sự phát triển về Chiến Lược và Chiến Thuật 
Như đề cập trong phần trước, một đặc tính của lý thuyết quân sự của Mao là nhận thức rằng những định luật chiến tranh thay đổi luôn luôn tùy theo sự phát triển của tình trạng. Vấn đề này được ông phân tích cặn kẽ trong ”Chiến Lược Chiến Tranh Cách Mạng của Trung Hoa”. Ông tin rằng mỗi giai đoạn lịch sử có những đặc tính riêng cho nên định luật chiến tranh mỗi thời một dị biệt không thể áp dụng một cách máy móc vào một giai đoạn khác. Dựa trên ý thức đó, Mao tỏ ra uyển chuyển trong việc chọn chiến lược và chiến thuật và giữ cho phát triển đều đặn theo sự thay dổi của tình trạng phải đối phó.
 a/ Biến đổi của Lực Lượng Du Kích và Chiến Tranh Du Kích
 Mặc dầu Mao không coi chiến tranh nhân dân và chiến tranh du kích là một nhưng rất quan trọng khi nhận định rằng chiến tranh du kích gần như là chiến lược duy nhất mà một lực lượng cách mạng phải dùng đến khi bắt buộc phải chiến đấu chống một kẻ thù mạnh mẽ và trang bị đầy đủ hơn nhiều. Khi xét về vai trò quan trọng của chiến tranh du kích trong tiến trình cách mạng, Lâm Bưu viết:
Chiến tranh du kích là phương thức duy nhất để động viên và áp dụng toàn bộ sức mạnh nhân dân chống lại kẻ địch, phương thức duy nhất bành trướng lực lượng ta trong tiến trình chiến đấu, làm suy yếu và tan rã hàng ngũ địch để dần dần thay đổi sự quân bằng lực lượng giữa địch và ta.
Từ các kinh nghiệm của chiến tranh cách mạng Trung Hoa, không còn nghi ngờ gì lực lượng du kích luôn luôn là lực lượng tiên phong của một quân đội cách mạng để gây nội chiến. Tuy nhiên, khi chiến tranh cách mạng tiến đến một mức độ cao hơn thì chiến tranh qui ước hình thành và các lực lượng du kích biến thành lực lượng chính qui trên tầm vóc cũng như trên tổ chức. Nếu không khó có thể đáp ứng đòi hỏi của chiến tranh. Chính đó là chỗ Mao khẳng định là ”các đơn vị du kích và chiến tranh du kích sẽ không tồn tại như cũ mà sẽ phát triển lên một cấp độ cao hơn dần dần tiến hóa thành những đơn vị chính qui và chiến tranh qui ước”.
 Sự phát triển và biến hóa của các lực lượng và chiến tranh du kích đã khiến cho lý thuyết của Mao đặc sắc hơn lý thuyết của Marx và Lenin. Theo Marx, các đơn vị du kích ”là phương tiện duy nhất để một nước nhỏ có hi vọng chống lại một kẻ địch có ưu thế hơn về số lượng cũng như trang bị. Đó là cách một lực lượng yếu thắng một kẻ địch mạnh và tổ chức qui củ hơn”. Lenin cho rằng chiến tranh du kích là hình thức đấu tranh không thể không dùng tới khi vận động quần chúng đã trưởng thành đến thời kỳ nổi dậy và khoảng cách giữa các trận đánh lớn trong cuộc nội chiến ngắn dần đi. Cả Marx lẫn Lenin đều không nói rõ là các lực lượng du kích có thể chuyển thành lực lượng chính qui để đảm trách một vai trò tích cực hơn trong chiến tranh hay không. 
Trong những giai đoạn đầu trong đấu tranh võ trang của Cộng Sản Trung Hoa, chiến tranh du kích được chủ yếu dùng trong mức độ chiến thuật, được nêu rõ trong chiến thuật căn bản của Mao về chiến tranh du kích như sau:  Địch tiến, ta lui. Địch đóng trại, ta quấy phá. Địch mệt mỏi, ta tấn công. Địch rút lui, ta truy kích. 
Chẳng bao lâu, Mao bắt đầu chuyển hóa các lực lượng du kích. Vì mục tiêu này, ông kịch liệt chống lại ý thức duy trì các lực lượng loạn quân di động mà nhất định đói thành lập căn cứ và bành trướng Hồng quân. 
Mao mô tả sự biến đổi từ chiến tranh du kích sang chiến tranh qui ước ở giai đoạn đầu chiến tranh là ”theo kiểu Trung Hoa, chính qui chỉ trong việc tập trung lực lượng cho chiến tranh lưu động và đến một mức độ tập trung và hoạch định nào đó trong chỉ huy và tổ chức. Trên các phương diện khác vẫn mang tính chất du kích”. Nói khác đi, việc nâng cấp quân đội và chiến tranh du kích vẫn phải theo từng bước tùy theo tình trạng thực tế.
 b/ Ba giai đoạn phát triển chiến lược trong chiến tranh trường kỳ  Chiến lược của chiến tranh trường kỳ có ở Trung Hoa đã lâu trước thời chiến tranh Trung Nhật. Tuy nhiên, viễn tượng và xu thế phát triển còn mơ hồ cho tới khi Mao đưa ra ”Trường Kỳ Kháng Chiến” năm 1938. Mao cho rằng chiến tranh trường kỳ phải trải qua ba thời kỳ phát triển và chuyển biến tương quan lực lượng và chấm dứt bằng chiến thắng của Trung Hoa. 
Việc Nhật Bản đột ngột đầu hàng sau khi người Mỹ thả hai trái bom nguyên tử lên Nagasaki và Hiroshima khiến cho ba giai đoạn chuyển hóa chiến lược của Mao không hoàn tất. Tuy nhiên, sau này nó được hình thành trên một mức độ đáng kể trong cuộc chiến chống lại Quốc Dân Đảng. 
Theo Mao, giai đoạn đầu nằm trong thời kỳ địch sử dụng chiến lược tấn công và Trung Hoa trong chiến lược phòng thủ. Vì là phía yếu, Trung Hoa phải trước hết theo sát chiến tranh lưu động, hỗ trợ bằng di kích và chiến tranh vị trí. Vì sự kháng cự mãnh liệt của người Trung Hoa và sự kiệt quệ về tài chánh và kinh tế của người Nhật, động lực tấn công của địch bị khựng lại vào giữa giai đoạn này và chuyển ngay vào giai đoạn cuối.
 Giai đoạn thứ hai có thể coi là chiến lược bế tắc. Vào cuối giai đoạn thứ nhất ”quân địch bị bắt buộc phải sửa chữa một số cứ điểm của chiến lược phản công vì thiếu quân và sự phản công mãnh liệt của ta và tới giai đoạn này họ phải chấm dứt giai đoạn phản công để bước vào giai đoạn bố phòng các vùng đã chiếm được”. 
Vì sự trải rộng quá đáng và không đủ quân, quân địch chỉ có thể kiểm soát một số điểm chiến lược và trục lộ giao thông, bỏ trống vùng nông thôn. Việc đó khiến cho quân đội Trung Hoa có cơ hội xâm nhập và thực hiện chiến tranh du kích. Cho nên, tại thời kỳ này, ”đội hình chiến đấu của Trung Hoa chủ yếu là chiến tranh du kích, hỗ trợ bằng chiến tranh lưu động”. Chiến tranh du kích trong giai đoạn này do chủ lực quân đảm trách, khác với chiến tranh du kích khi còn ở Giang Tây-Hồ Nam đầu thập niên 1930.
Việc gia tăng hoạt động du kích trong vùng địch chiếm, theo Mao không còn nằm trong phạm vi chiến thuật mà đã trở thành hoạt động chiến lược. Quân đội tiến vào hậu cứ của địch để thành lập những căn cứ du kích, lưu động và nông dân võ trang, để bắt đầu tranh giành lãnh thổ với kẻ địch. Thời kỳ này dái hay ngắn tùy theo mức độ thay đổi trong tương quan lực lượng giữa hai bên và sự thay đổi trong tình hình quốc tế. Theo Mao nó ”sẽ trở thành giai đoạn chuyển tiếp của toàn cuộc chiến... Trung Hoa sẽ từ giai đoạn đó chiếm được quyền lực để chuyển từ yếu sang mạnh”. 
Giai đoạn thứ ba là giai đoạn phản công để tái chiếm các vùng đất bị mất. Khi Trung Hoa chuyển chiến tranh sang phản công chiến lược và ngoại tuyến ”đội hình chiến đấu chính yếu sẽ là chiến tranh lưu động nhưng chiến tranh vị trí sẽ tiến lên trở thành quan trọng...”. Chiến tranh du kích sẽ một lần nữa yểm trợ chiến lược hỗ trợ bằng chiến tranh lưu động và chiến tranh vị trí nhưng không còn là mô hình chính yếu như các giai đoạn trước. 
Sự phát triển và chuyển hóa chiến lược, chiến thuật ở mỗi giai đoạn chiến tranh sẽ chủ yếu tùy thuộc vào sự thay đổi trong tương quan lực lượng của cả hai bên. Vai trò của các lực lượng du kích, dẫu vẫn là phũ thuộc trên bản chất, sẽ trở nên chiến lược hơn là chỉ đóng vai trò chiến thuật. Các căn cứ du kích và nông dân võ trang trong vùng địch xây dựng từ thời kỳ đầu sẽ đóng một vai trò quan trọng trong chiến đấu tổng phản công. Tuy nhiên, lý thuyết của Mao về chiến tranh du kích trên mức độ chiến lược tùy thuộc vào địa bàn rộng lớn của quốc gia. Như đã đề cập tới trước đây, nếu một nước nhỏ sẽ không đủ chỗ cho lực lượng du kích hoạt động trong vùng địch chiếm. 
c/ Sự thực thi Chiến Tranh Nhân Dân của Mao trong chiến tranh Quốc -Cộng
 Cuộc nội chiến giữa Quốc Dân Đảng và Cộng Sản xảy ra ngay sau Trung Nhật chiến tranh. Người Mỹ cố gắng thương lượng một giải pháp hòa bình nhưng việc đó chỉ diên trì chiến tranh được vài tháng. Khi chiến tranh không còn tránh được nữa, Mao áp dụng lý thuyết chiến tranh nhân dân của ông mặc dầu không hoàn toàn giống như Mao tiên đoán. 
Vào lúc đầu của cuộc chiến, tương quan lực lượng giữa Quốc Dân Đảng và Cộng Sản cách biệt rất xa. Cộng Sản ở vào thế phòng thủ chiến lược. Tuy nhiên, tình trạng khác hẳn cuộc nội chiến thứ nhất lẫn chiến tranh kháng Nhật vì Cộng Sản có trong tay khoảng một triệu quân chính qui và hai triệu rưỡi dân quân. Vì thế Mao có thể tiến hành một cuộc chiến tranh lưu động ngay từ thời đầu của cuộc nội chiến như ông hình dung giai đoạn đầu chiến tranh kháng Nhật. Chiến tranh du kích trở nên kém quan trọng trong kế hoạch chiến lược của ông. 
Trong cuộc nội chiến hiện nay, vì tình hình đã đổi khác nên phương pháp chiến đấu cũng phải đổi theo. Việc tập trung lực lượng dùng trong chiến tranh lưu động phải ưu tiên đầu, sự phân tán lực lượng chiến đấu du kích chỉ còn là phụ thuộc. 
Trong giai đoạn đầu của cuộc nội chiến, Hồng quân có thể ngăn chặn chiến lược tấn công của Quốc Dân Đảng tại một số vùng trong vòng một năm và đến tháng 2 năm 1947, Mao có thể phản công tại một số mặt trận. Tình trạng sớm hơn dự liệu đó khiến Mao có thể đưa chiến tranh vào vùng Quốc Dân Đảng làm chủ từ giữa năm 1947 và thiết lập các căn cứ du kích ngay giữa Trung Hoa. Giai đoạn chiến lược cam go chỉ kéo dài một giai đoạn ngắn trước khi Mao tung ra công cuộc tổng phản công tối hậu. 
Từ tháng 9 năm 1947 đến tháng 10 năm 1948, quân đội Quốc Dân Đảng chịu nhiều tổn thất nặng nề trên một số mặt trận và vì thế phải bắt buộc lui về phòng thủ chiến lược. Hồng quân chặn đánh quân Quốc Dân Đảng trong một số chiến dịch then chốt tại Mãn Châu, Từ Châu (Xuzhou) và Bắc Kinh từ cuối năm 1948 đến đầu năm 1949 và hầu như tiêu diệt toàn bộ. Vì thế, khi chiến tranh bước vào năm thứ tư, chế độ Quốc Dân Đảng bắt đầu sụp đổ và bắt buộc phải rút lui trên khắp các nơi và sau cùng hoàn toàn ra khỏi lục địa đầu năm 1950. Cuộc nội chiến gần như chấm dứt ngoại trừ Đài Loan và một số đảo ngoài khơi còn do quân đội Quốc Dân đảng kiểm soát mãi tới ngày nay.   
Logged

Không có bạn bè vĩnh viễn và kẻ thù vĩnh viễn. Tất cả chỉ vì sự tồn tại của mình.
Khi hai bàn tay nắm chặt và buông lơi một đất nước vĩ đại sẽ hình thành hoặc bị diệt vong.
dungrommel
Thành viên
*
Bài viết: 237


WWW
« Trả lời #65 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2009, 01:07:58 am »

5.   HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VIÊN VÀ CHÍNH TRỊ NẮM QUYỀN
 Ai ai cũng công nhận rằng Hồng Quân là một lực lượng võ trang của đảng Cộng Sản đóng vai một đoàn cán bộ chính trị trong chiến tranh cách mạng Trung Hoa. Vì thế, khi gặp phải hệ thống chính ủy trong Hồng quân và quyền tối thượng của Đảng đối với quân đội người ta thường tự hỏi tại sao Trung Cộng lại phát triển hệ thống này? Hệ thống ấy hoạt động ra sao trong quân đội? Hồng quân làm việc như một đoàn cán bộ chính trị như thế nào? Và sau cùng, tương lai của hệ thống này ra sao? Nói một cách khác, tương quan giữa đảng Cộng Sản và Hồng quân sẽ thay dổi ra sao? Các phân tích dưới đây tập trung vào các câu hỏi đó.
A.   Bối cảnh lịch sử của Hệ Thống Chính Ủy
 Như đã đề cập trong phần hai của chương này, theo chủ nghĩa Marx, quyền tư hữu là nguyên nhân nẩy sinh ra đấu tranh giai cấp và từ đó sinh ra quốc gia. Cho nên, quốc gia là sản phẩm và là tuyên ngôn của việc không thể hòa giải giữa các giai cấp, là một bộ phận của giai cấp thống trị và là một công cụ để giai cấp này áp bức giai cấp khác.
 Muốn duy trì giai cấp cai trị một cách hiệu quả, bạo lực là phương tiện không thể thiếu được của tầng lớp thống trị được thể hiện bằng một cơ chế tổ chức là quân đội quốc gia.
Trong giai cấp đấu tranh giữa tầng lớp trưởng giả và vô sản, mục tiêu của Cộng Sản trong vai trò tiền phong của giai cấp vô sản, có nhiệm vụ đưa gai cấp này lên hàng thống trị và dùng quyền chính trị tối thượng của họ để tịch thu toàn bộ tài sản của giai cấp trưởng giả, tập trung tất cả các phương tiện sản xuất trong tay nhà nước.
Để đạt mục tiêu đó, giai cấp vô sản phải có lực lượng võ trang ngõ hầu lật đổ giai cấp tư sản. Vì thế Lenin khẳng định là người vô sản phải được trang bị ”cho mục tiêu chế ngự, tước đoạt và giải giới bọn tư sản... Chỉ sau khi giai cấp vô sản giải giới được bọn tư sản thì lúc ấy mới có thể... quăng hết khí giới vào thành một đống sắt vụn...” Sau cuộc cách Mạng tháng 10, 1917, Lenin lập tức thành lập một hệ thống chính ủy trên toàn bộ quân đội. Chính trị viên đại diện cho đảng nắm quyền kiểm soát chính trị các cấp chỉ huy quân sự. Làm như thế mới có thể biến các lực lượng võ trang Sa hoàng thành Hồng quân trong vòng vài ba năm. 
Sự thành tựu của Liên Xô có một ảnh hưởng hết sức to lớn đối với Quốc Dân Đảng Trung Hoa. Bác Sĩ Tôn Dật Tiên cử Tướng Tưởng Giới Thạch đi một vòng nghiên cứu hệ thống của Liên xô năm 1923 và sau này đưa ra một hệ thống đại diện Đảng trong trường Võ Bị Hoàng Phố năm 1924, sau mở rộng ra toàn bộ quân đội cách mạng như đã đề cập trong chương 5. 
Khi Quốc Dân Đảng thành lập trường võ bị Hoàng Phố, dưới thỏa hiệp hợp tác mới ký kết, nhiều cán bộ Cộng Sản như Chu Ân Lai hay Diệp Kiếm Anh (Ye Jiangying) được đưa vào làm việc tại Hoàng Phố và các đơn vị quân đội khác. Nhiều người được đề cử làm đại diện đảng hay chính trị viên trong quân đội Quốc Dân Đảng. Thành thử, hệ thống đảng trong quân đội Dân Quốc đã ảnh hưởng tới sự cấu trúc của quân đội Cộng Sản. 
Việc hợp tác Quốc Cộng sụp đổ và tổn thất nhân mạng lớn lao trong chính biến tháng Tư năm 1928 đã khiến các lãnh tụ Cộng Sản quyết định thành lập quân đội riêng do chính Đảng Cộng Sản kiểm soát. Trong tập ”Các vấn đề Chiến Tranh và Chiến Lược”, Mao đã viết là tại Trung Hoa hiện đại ”kẻ nào có quân đội thì kẻ đó có quyền hành”. Các chính đảng không có quân đội hay không muốn có quân đội riêng không thể chia chác các chức vụ trong chính quyền. Mao kết luận:
 Đảng nào có súng là có quyền, kẻ nào nhiều súng có nhiều quyền. Trong tình trạng như thế, đảng của giai cấp vô sản phải nhìn thấu đáo tâm điểm của vấn đề. 
Người Cộng Sản không chiến đấu để giành quyền lực cho cá nhân mà họ chiến đấu cho quyền lực quân sự của Đảng, cho quyền lực quân sự của nhân dân... Mỗi người Cộng Sản phải nhìn thẳng vào sự thực ”quyền lực chính trị phát xuất từ nòng súng”. 
Tương quan giữa khẩu súng và đảng ra sao? Đảng Cộng Sản có để cho các cấp chỉ huy quân sự ra lệnh không? Bản thân Mao không phải là một quân nhân. Hơn nữa, cuộc chiến bất tận giữa các quân phiệt đã làm hình ảnh người lính trở nên xấu xa. Không thể nào Cộng Sản lại giao tương lai đảng vào tay những quân phiệt. Vì thế, Mao khẳng định rằng ”nguyên tắc của chúng ta là Đảng chỉ huy khẩu súng, khẩu súng không bao giờ được phép chỉ huy Đảng. Có súng chúng ta có thể thực hiện tổ chức Đảng”
 Với quá trình lịch sử như thế, hệ thống chính trị viên được đưa vào Hồng quân ngay từ buổi ban đầu. Ngay bản thân Mao cũng đảm nhận vai trò chính trị viên hơn là vai trò chỉ huy quân sự thời còn ở Tỉnh Cương Sơn. Sau đó ông thành lập một khuôn mẫu cho hệ thống chính ủy và tương quan giữa Đảng và quân đội.
B.   Tổ chức Đảng và Nhiệm Vụ trong Quân Đội
 Với hệ thống chính ủy, Mao không những kiểm soát được chính trị mà còn biến quân dội thành một đoàn cán bộ chính trị thi hành các chương trình chính trị của Đảng trong thời chiến. Đó là khác biệt chính yếu giữa hệ thống chính ủy của Hồng quân và hệ thống của Quốc Dân Đảng.
 a/ Tổ chức Đảng trong Quân Đội
 Ngày nay ai ai cũng biết là trong quân đội, đảng Cộng Sản có một hệ thống chính trị viên tổ chức chu đáo. Đứng đầu là Ủy Ban Quân Sự (Quân Ủy Trung Ương) là nơi đưa ra các quyết định về chính sách luôn luôn do những lãnh tụ tối cao của đảng chủ tọa.
Dưới Quân Ủy là Tổng Bộ Chính Trị, chịu trách nhiệm về ý thức, kỷ luật, đạo đức và giáo dục chính trị cho quân đội. Tổ chức kéo dài từ bộ tổng tham mưu Hồng quân xuống đến cấp đại đội. Tại mỗi cấp, đứng đầu là một chính trị viên hoặc giám đốc, hoặc cả hai. Nói chung, thường có một chính ủy và một giám đốc chính trị tại những đơn vị cao cấp nhưng dưới cấp trung đoàn thì chỉ có một giám đốc chính trị mà thôi. Chính ủy là lãnh tụ đảng trong đơn vị, thay mặt đảng giám sát quân đội còn giám đốc chính trị chịu trách nhiệm các công tác chính trị hàng ngày. Trong trường hợp không có chính ủy thường trực thì giám đốc chính trị đảm nhiệm vai trò đó. Dưới cấp đại đội, Đảng viên thường tổ chức thành tiểu tổ do giám đốc chính trị và chi bộ Đảng đại đội chỉ huy. 
Trong những năm đầu của chiến tranh cách mạng, quyền lực của các chính trị viên trong nhiều trường hợp còn lớn hơn cấp chỉ huy trưởng, vì nhiều chỉ huy trưởng gốc là tù binh được thăng lên. thành ra, Mao đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò quan trọng của các đại diện đảng ở cấp đại đội. Ông nói: ”Nhiều dữ kiện đã cho thất đại diện đảng cấp đại đội càng giỏi, thì đại đội đó càng kiện khang vì nhiều đại đội trưởng không làm được vai trò chính trị quan trọng”. Những vai trò Mao muốn các đại diện Đảng làm tròn bao gồm giám sát huấn luyện chính trị binh sĩ, lãnh đạo các công tác vận động quần chúng và làm bí thư chi bộ đảng... Mao còn nói là thật sai lầm lớn nếu tin rằng các chỉ huy trưởng, nhất là những người tù hàng binh được thăng lên, lại có thể làm trò các nhiệm vụ đó mà không có các chính trị viên. 
b/ Huấn luyện Chính Trị trong quân đội  Vào thời kỳ đầu của cách mạng Trung Hoa, Hồng quân thường tổn thất nặng nề mỗi khi đụng độ ác liệt và do đó nhân sự trở nên thiếu thốn trầm trọng. Để bổ xung quân số, họ bắt buộc phải tuyển những người cùng đinh và các tù binh, số này sau lại nhiều hơn nông dân, công nhân và trở nên nguồn nhân sự chính yếu. Mao biết rằng nhiều thành phần này quá không được hay cho quân đội và cho đảng nhưng không có cách nào khác hơn. Giải quyết của Mao là tăng cường huấn luyện chính trị để cải hóa họ thành các binh sĩ trung kiên với cách mạng. Công tác đó tương tự như công tác mà bác sĩ Tôn Dật Tiên đã làm là cải hóa các lực lượng gốc quân phiệt nhưng không thành công. 
Huấn luyện chính trị bao gồm học tập lý thuyết hay tuyên truyền nhưng không phải chỉ có thế mà còn cả các sinh hoạt thường nhật và đời sống tinh thần của binh sĩ nữa. Chẳng hạn như trong tình trạng kinh tế ngặt nghèo, binh sĩ không được trả lương đều đặn, dân chủ trong quân ngũ và bãi bỏ nhục hình khiến họ cảm thấy vinh dự chưa bao giờ có và do đó sẵn lòng sát cánh chiến đấu cùng với đảng. có vẻ như phương pháp huấn luyện rất thành công. Mao từng viết: 
Sau khi được huấn luyện chính trị, Hồng quân trở nên có tính bén nhậy giai cấp cao, học được cách thức cần thiết để chia ruộng, xây dựng quyền lực chính trị, võ trang nông dân và công nhân... và họ biết họ đang chiến đấu cho chính họ, cho giai cấp công nhân, cho giai cấp nông dân. Thành ra họ chịu được gian khổ, chiến đấu cam go mà không phàn nàn.
c/ Kiểm soát chính trị và quyền tối thượng của Đảng
 Mục tiêu của huấn luyện chính trị gồm hai phần:
 1/ cải biến hay cải tiến phẩm chất của lực lượng võ trang
2/ ngăn ngừa đường lối bị lệch hướng 
Cả hai đều được hoạch định nhằm bảo đảm cho đảng quyền lãnh đạo tối thượng và quyền kiểm soát trên quân đội. Tuy nhiên, để ngăn ngừa quân đội có thể đi lệch với đường hướng của dảng, thỉnh thoảng đảng cũng cần dùng một số phương thức như kiểm thảo, dùng áp lực của ý kiến quần chúng, và cả đe dọa trừng phạt. Nghe nói rằng thời còn ở Giang Tây-Hồ Nam nhiều binh sĩ cho rằng quân sự và chính trị chống chõi nhau và không chịu nhìn nhận quân sự chỉ là một phương tiện để đạt những mục tiêu chính trị, một số còn đòi phải để các chính trị viên dưới quyền của chỉ huy trưởng. Vì thế Mao cho rằng ”nếu để cho phát triển, quan diểm này sẽ đưa đến nguy cơ rời xa quần chúng, quân đội kiểm soát chính quyền và tách khỏi quyền lãnh đạo của giai cấp vô sản -và sẽ đi theo con đường quân phiệt”. 
Để ngăn chặn việc nảy sinh chủ nghĩa quân phiệt và có thể tách khỏi sự lãnh đạo của đảng, Mao đưa ra phê kiểm trong và ngoài đảng để tiêu diệt quan điểm này và truy tầm sự phát triển của nó. Phương pháp sửa sai đó như sau:
1. nâng cấp chính trị trong đảng bằng cách giáo dục, hủy diệt các nền tảng lý lẽ của quan điểm thuần túy quân sự
 2. tăng cường huấn luyện chính trị sĩ quan và binh sĩ nhất là các tù binh cũ
 3. động viên chi bộ địa phương phê bình chi bộ đảng trong quân đội và dùng các cơ chế chính trị quần chúng phê bình Hồng quân để tạo ảnh hưởng cho chi bộ đảng, sĩ quan và binh sĩ Hồng quân
4. tích cực tham gia và thảo luận các công tác quân sự -mọi công tác phải thảo luận và do đảng quyết định trước khi các cấp có thể đem ra thi hành
5. đưa ra những luật lệ và nguyên tắc cho Hồng quân nêu rõ công tác, tương quan giữa quân đội và cán bộ chính trị
 Công tác huấn luyện chính trị dùng để sửa chữa các nguy cơ tiềm ẩn này trên căn bản tương tự như đã đề cập trước đây. Phê bình hay áp lực quần chúng đã được khai triển thành một phương pháp độc đáo tại Trung Hoa nói chung và tại Đảng, quân dội nói riêng. Mao cố gắng dựa vào lộ tuyến quần chúng để giải quyết hầu hết các vấn đề xã hội -chính trị và quân sự trong suốt cuộc đời ông. Dường như đó là ”thuốc trị bách bệnh” và trở thành một phần bộ của hệ thống xã hội mới dựng nên.
 Việc chi bộ đảng tham gia vào tiến trình quyết định đã giúp cho họ củng cố mạnh mẽ việc kiểm soát quân đội và bảo đảm luôn luôn đi theo lộ tuyến đảng. Phương pháp kiểm soát chính trị đó đã được chính tức hóa từ đó. 
Nếu các phương pháp này vẫn còn hiệu lực trong việc ngăn ngừa quân đội lệch hướng chỉ đạo của đảng, công tác thanh lý tiếp theo các vận động xã hội -chính trị lại cần thiết. Việc khai trừ Bành Đức Hoài (Peng Dehuai) và Lâm Bưu (Lin Biao) là những thí dụ điển hình gần đây. 
Logged

Không có bạn bè vĩnh viễn và kẻ thù vĩnh viễn. Tất cả chỉ vì sự tồn tại của mình.
Khi hai bàn tay nắm chặt và buông lơi một đất nước vĩ đại sẽ hình thành hoặc bị diệt vong.
dungrommel
Thành viên
*
Bài viết: 237


WWW
« Trả lời #66 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2009, 01:08:28 am »

C.   Vai trò chính trị của Hồng quân
 Mao không chỉ muốn các lực lượng võ trang dưới quyền kiểm soát của đảng mà còn muốn dùng quân đội như một phương tiện đáng tin cậy để thu hoạch những mục tiêu xã hội -chính trị. Không đi vào chi tiết, chúng tôi chỉ tóm tắt lại trên vài điểm như sau: 
a/ Giúp đỡ thành lập các Chi Bộ địa phương và các nhóm quyền lực chính trị 
Không ai còn đặt câu hỏi về một cơ cấu quyền lực võ trang độc lập như Cộng Sản vùng biên giới thập niên 1930 sẽ không thể tồn tại nếu không có một lực lượng võ trang hỗ trợ. Vấn đề cá biệt là quan điểm của Mao đòi hỏi Hồng quân chẳng những phải làm nhiện vụ hỗ trợ một cơ chế chính trị hiện hữu là đảng Cộng Sản mà còn phải tạo nên một cơ chế chính trị khác cho đảng. Mao còn đòi hỏi quân đội phải xây dựng một chi bộ đảng tại mỗi địa phương chiếm được nếu nơi đó chưa có cơ cấu của đảng. ”Hồng quân phải gánh vác những trách vụ quan trọng chẳng hạn như... giúp họ thành lập các cơ cấu chính trị và tổ chức đảng”.
 b/ Vừa cầm súng vừa làm công tác chính trị 
Một con người cách mạng có thể đồng thời là một chiến sĩ hay quân nhân nhưng một quân nhân chưa chắc dã là một người làm cách mạng. Tuy nhiên theo thuyết xây dựng quân đội của Mao Trạch Đông, người lính Hồng quân phải là một chiến sĩ, một tuyên truyền viên, một tổ chức viên chính trị và một người thu thập tin tức. Mao đã nặng lời phê bình những quân nhân nào cho rằng nhiệm vụ duy nhất của họ là chiến đấu và từ chối làm các công tác khác. Ông tuyên bố là ”Hồng quân Trung Hoa là một bộ phận võ trang đảm trách các công tác chính trị cho cách mạng... Nếu không có những công tác này, chiến đấu mất đi ý nghĩa và Hồng quân không còn lý do tồn tại”. 
Mao quyết liệt chống đối việc hạn chế vai trò quân đội trong nhiệm vụ chiến đấu nhất là thời kỳ đấu tranh ở Tỉnh Cương Sơn. Ông muốn họ phải làm công tác tuyên truyền quần chúng, tổ chức và trang bị họ vì vận động quần chúng là chìa khóa để dẫn đến chiến thắng.
 c/ Công tác vận động quần chúng
 Mao nói là ”nguồn năng lực phong phú nhất để đảm phụ chiến tranh là khối quần chúng... Quân đội với quần chúng phải là một để họ coi là đoàn quân của chính họ. Một quân đội như thế không thể nào đánh bại.” Công tác chính trị của quân đội giúp cho họ hoàn thành mục tiêu đó. 
Mao định nghĩa công tác chính trị của quân đội dưới ba tầm vóc: sự đoàn kết giữa sĩ quan và binh sĩ, sự đoàn kết giữa quân đội và nhân dân, và sự phân hóa của kẻ thù. Vấn đề đầu tiên là công tác nội bộ nên chúng ta có thể bỏ quan không bàn đến. Vấn đề thứ hai chủ yếu có thể đạt được do công tác vận động quần chúng, bao gồm cả tuyên truyền trong nhân dân, tổ chức và võ trang họ. 
Theo Mao vận động qui mô thừa sức giải quyết vấn đề cách biệt về trang bị và các điều kiện vật chất khác giữa quân cách mạng và đối thủ. Mao viết:
Vận động này hết sức quan thiết, là vấn đề quan trọng hàng đầu vì việc ta thua sút về võ khí và các vật dụng chỉ là thứ yếu. Vận động thường dân trên toàn lãnh thổ sẽ tạo nên một biển cả đánh đắm kẻ thù, tạo những điều kiện giải quyết việc ta thua sút về vũ khí và các thứ khác, tạo điều kiện tiên quyết cho lướt thắng mọi khó khăn của chiến tranh.
 Vai trò vận động quần chúng bao gồm hai mặt: một là khích động nhân dân bằng cách nói cho họ biết quốc gia đang lâm nguy và tương lai của chính họ sẽ bị hủy hoại nếu bị kẻ thù xâm lăng và vì thế khiến cho họ đứng dậy cho sự tồn vong của giang sơn và chính bản thân họ. Hai là tổ chức quần chúng. Số lượng nhân dân không lồ kia không thể nào biểu dương được sức mạnh nếu không tổ chức họ. Cho nên, đối với Mao, vận động quần chúng luôn luôn gắn liền với tổ chức. Trong bài viết ”Hãy tổ chức” Mao nói là ”để vận động và tổ chức quần chúng thành một đại quân lao động không chừa một thành phần có năng lực nào” ”Đây là con đường duy nhất để giải phóng dân tộc, con đường duy nhất đi từ nghèo đói đến thịnh vượng, con đường duy nhất đến thắng lợi”. 
Ý niệm một biển người do vận động quần chúng tạo nên đã đưa đến những phê phán gắt gao từ phía đối nghịch với Mao liên tưởng quan điểm đó với nguyên tắc tập trung để lấy ưu thế quân số tuyệt đối. Họ đả kích cho là thiếu nhân tính, tàn nhẫn và độc ác vì ép buộc binh sĩ tấn công các vị trí địch theo từng lớp sóng người không đếm xỉa gì đến tổn thất về nhân mạng. 
Dẫu rằng các lời phê phán đó không phải hoàn toàn sai khi nhìn về số tử vong trong chiến tranh nhưng cũng không xác đáng khi mô tả ý niệm của Mao về biển người. Khi Mao nói tới biển người, ông muốn nói là dưới sự che chở của vận động quần chúng, các toán du kích có thể di động an toàn và tự do như cá bơi trong nước. Bao giờ còn nước thì cá còn có thể sinh tồn. Kẻ thù, trái lại, sẽ chết chìm trong biển cả những người thù địch. 
D.   Xung đột giữa Hồng và Chuyên
 Trên lý thuyết, dưới sự lãnh đạo của đảng, các cấp chỉ huy quân đội và các chính trị viên phải cộng tác mật thiết và êm thắm. Thế nhưng, thực tế, tương quan không hoàn toàn tốt đẹp như mong đợi. Xung đột giữa hai nhóm trên nhiều mức độ khác nhau của cách mạng đã tạo nên những vấn đề chính trị nghiêm trọng. Các học giả Tây phương khi nghiên cứu về các vấn đề quân sự Trung Hoa đã gọi đây là xung đột giữa hồng và chuyên. 
Xung đột giữa hai nhóm bắt nguồn từ hồi thập niên 1920 khi Hồng quân vẫn còn trong thời kỳ non trẻ. Như đã đề cập trước đây, giải pháp của xung đột đầu tiên là đưa chính trị kiểm soát và phục hồi quyền lãnh đạo tối cao của đảng. Đấu tranh quân sự quyết liệt thời chiến tranh cách mạng thường bắt các cấp chỉ huy quân sự và chính trị viên hợp tác chặt chẽ để chiến thắng. Thế nhưng khi chiến tranh chấm dứt và Trung Hoa quyết định hiện đại hóa quân đội trong đầu thập niên 1950, rạn nứt giữa hai nhóm lại tái phát chi phối chính đàn Trung Hoa hơn một thập niên. 
Có một thỏa hiệp quốc gia về sự cần thiết canh tân quân sự trong thập niên 1950 sau chiến tranh Triều Tiên. Mọi người đều đồng ý rằng phải nỗ lực cải tiến kỹ thuật quân sự và trang bị, cần giành nhiều thời giờ và năng lực để huấn luyện quân đội để nâng cao mực độ chiến thuật và kỹ thuật. Tuy nhiên, vì ảnh hưởng lý thuyết quân sự Liên Xô, các sĩ quan Trung Hoa bắt đầu nhận thức sự quan trọng của vũ khí trong chiến tranh hiện đại và đồng ý rằng quân sự đứng hàng đầu chứ không phải chính trị trong việc quyết định thắng bại trong chiến tranh. Một số sĩ quan Trung Cộng công khai chấp nhận quan điểm này và một số đi xa hơn bài xích việc tôn sùng tư tưởng quân sự của Mao Trạch Đông vốn nhấn mạnh chính trị đứng trên quân sự là yếu tố then chốt dẫn đến chiến thắng. 
Quan điểm này rất phổ biến trong đám binh sĩ từ mặt trận Triều Tiên trở về và các sĩ quan trẻ. Ho cho rằng không những chi bộ đảng là một chướng ngại cho việc đơn vị hoạt động hữu hiệu mà còn nghĩ là họ không đủ khả năng cáng đáng các vấn đề quân sự. Họ bắt đầu tước bớt quyền hành và giới hạn hoạt động của các chi bộ trong công tác lãnh đạo và chính trị. Trước khi tái tổ chức hệ thống kiểm soát chính trị tháng 7 năm 1960, số lượng đảng viên tong các lực lượng võ trang cũng giảm dần, có khoảng 7000 đại đội không có chi bộ đảng, và nhiều nơi có nhưng cũng không hoạt động. 
Các chính trị viên và một số cấp chỉ huy quân sự lão thành cảm thấy bực bội và tìm cơ hội trả miếng. Có nhiều lý do để các chính ủy đối kháng nhưng lý do quan trọng nhất là sự thách đố quyền lãnh đạo tối cao của đảng. Khi chính trị nắm quyền thị mọi thứ đề phải đứng sau. Do giả thiết đó, cơ chế chính trị trong quân đội có quyền xen vào bất cứ chuyện gì trong đơn vị. Họ không thể để cho các sĩ quan trẻ quá hăng say trong công việc hiện đại hóa khiến vị trí của họ bị lung lay. Khi họ bắt đầu phản công, mục tiêu đầu tiên là Thống Chế Bành Đức Hoài, Bộ Trưởng Quốc Phòng và Hoàng Khắc Thành (Huang Kecheng), Tổng Tham Mưu Trưởng Hồng quân, cả hai mất chức hồi cuối năm 1959. Ngoài các tội trạng, họ còn bị kết án chống lại sự kiểm soát chính trị trong quân đội.
 Tháng 9 năm 1959, Lâm Bưu lên làm Bộ Trưởng Quốc Phòng thay Bành Đức Hoài. Ông ta đưa ra một loạt cải cách để củng cố quyền kiểm soát chính trị và ý thức hệ trong quân đội, các chi bộ đảng cấp đại đội được tái tổ chức và khoảng 2000 đảng viên bị khai trừ hồi năm 1961.
 Dưới quyền lãnh đạo của Lâm Bưu, công tác củng cố vai trò chính trị và quyền lãnh đạo tối cao của Đảng lên đến tuyệt đỉnh. Mục đích của ông ta là cách mạng hóa Hồng quân một lần nữa và dùng nó để ủng hộ Mao chống các địch thủ chính trị. Khi cuộc Cách Mạng Văn Hóa bắt đầu hồi năm 1966, Lâm đã có thể nhân danh Mao dùng Hồng quân để tiến hành các mục tiêu quyền lực chính trị. Quân đội được lệnh rời căn cứ chiếm đóng các công xưởng, cơ quan hành chánh, các trường đại học tuyên truyền cho tư tưởng Mao Trạch Đông và chủ nghĩa Mác -Lê nin. Theo các học giả Tây phương thì ít nhất trong thời kỳ này Hồng quân cũng được coi như một đội binh chính trị vì họ không còn khả năng đảm trách các công tác chiến đấu nữa. 
Nhận định này không phải vô căn cứ. Trong thời kỳ đụng độ tại biên giới Trung Hoa -Liên Xô năm 1969, nhu cầu quân sự khiến Hồng quân phải giảm thiểu các hoạt động chính trị. Sự biến Lâm Bưu năm 1971 đã khiến Hồng quân phải quay trở về nhiệm vụ quân sự truyền thống. Tuy nhiên, thay đổi đáng kể nhất là từ sau cuộc chiến Việt -Hoa năm 1979. Chính quyền Trung Hoa một lần nữa gia tăng tốc độ huấn luyện quân sự. Mặc dầu sự quan trọng của công tác chính trị và giáo dục ý thức vẫn còn được các nhà lãnh đạo dề cập, nhưng huấn luyện quân sự nay là ưu tiên cho đến khi thành phần cứng rắn thay thế thành phần cải cách nắm quyền trong đảng, dùng quân đội đàn áp các vận động dân chủ tại Bắc Kinh ngày mồng 4 tháng 6 năm 1989. Thay đổi mãnh liệt trong khung cảnh chính trị và sự sụp đổ đột ngột của các quốc gia Đông Âu, nhất là Roumania, khiến các nhà lãnh đạo hốt hoảng xiết chặt quyền kiểm soát quân đội. Từ đó tới nay, việc nhồi sọ lý thuyết và công tác chính trị trong quân đội lại một lần nữa, có thể chỉ tạm thời, nâng lên hàng ưu tiên một.
Logged

Không có bạn bè vĩnh viễn và kẻ thù vĩnh viễn. Tất cả chỉ vì sự tồn tại của mình.
Khi hai bàn tay nắm chặt và buông lơi một đất nước vĩ đại sẽ hình thành hoặc bị diệt vong.
dungrommel
Thành viên
*
Bài viết: 237


WWW
« Trả lời #67 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2009, 01:09:35 am »

6.   KẾT LUẬN 
Khi bàn về tư tưởng quân sự của Mao Trạch Đông, phân tích này chủ yếu nhấn mạnh vào ba điểm: các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của tư tưởng họ Mao, tiến trình phát triển của chiến tranh nhân dân, nội dung chính yếu của tư tưởng ông ta bao gồm quan điểm chiến tranh nhân dân, nhận thức luận về chiến tranh và sự phát triển trong chiến lược, chiến thuật. 
Trong khi phân tích, một số điểm đã khiến chúng tôi chú ý và dùng làm lời kết cho chương này.
A.   Tương quan giữa Lý Thuyết và Thực Tế
 Nói chung, cũng như nhiều lý thuyết vể khoa học xã hội khác, lý thuyết quân sự không phải lúc nào cũng có thể thử nghiệm trước khi đụng độ với địch trên chiến trường. Các chiến lược gia không rút ra các nhận thức từ các tưởng tượng hoang đường mà do quan sát kỹ lưỡng, nghiên cứu, đúc kết kinh nghiệm cá nhân để giảm thiểu thất bại trong chiến đấu. 
Trong lý thuyết quân sự của Mao Trạch Đông, ông không lẫn lộn giữa mộng tưởng và thực tế. Trái lại, lý thuyết căn bản của ông về chiến tranh nhân dân hoàn toàn dựa trên các chứng liệu rút ra từ kinh nghiệm. ”Phân tích về Giai cấp tại Trung Hoa” hay ”Báo Cáo về Nghiên Cứu cuộc Nông Dân khởi nghĩa tại Hồ Nam” là một phần căn bản lý thuyết cho đường lối chiến tranh nhân dân của ông.
Nếu ai tìm hiểu các tác phẩm quân sự chính yếu của Mao sẽ đều nhận thấy hầu hết dựa trên kinh nghiệm cá nhân của ông, ngoại trừ một phần nhận thức luận về chiến tranh, là thừa kế lý thuyết chính trị Mác xít. 
B.   Hậu quả của Quan Niệm Phát Triển của Lý Thuyết Mao Trạch Đông
 Dù bắt nguồn từ thuyết Mâu Thuẫn hay từ nguyên lý Âm Dương của Trung Hoa, Mao cũng áp dụng trọn vẹn được lý thuyết phát triển của ông trên mặt quân sự. 
Người ta có thể đồng ý hay không đồng ý với nhận thức về chiến tranh của ông vì ông theo quan điểm của Marx về quan hệ tư hữu, đấu tranh giai cấp, nhà nước và chiến tranh, nhưng khi nói đến cách ông dùng lực trong chiến đấu và phương thức áp dụng lý thuyết mâu thuẫn để thay đổi cán cân lực lượng trong các chiến dịch và trận đánh, người ta phải tin rằng ông thuần thục trong cách áp dụng duy vật biện chứng vào quân sự. Chiến lược ”lấy một chống mười chống trăm trong chiến lược nhưng lấy mười chống một trong chiến thuật” giúp ông thành công trong việc chuyển đổi cái hạ phong trong chiến lược thành thế thượng phong trong chiến thuật. 
Hơn nữa, khi áp dụng quan niệm liên tục di động, liên tục phát triển, ông có thể mở ra một con đường mới cho các lực lượng du kích bằng cách cải tiến tổ chức, trang bị và chiến lược chiến thuật một cách vững chắc phù hợp với sự phát triển của tình hình qua nhiều giai đoạn khác nhau. Việc đó khiến cho chiến tranh nhân dân trở nên mạnh mẽ hơn định nghĩa ban đầu rất nhiều.
C.   Hậu quả của việc Chính Trị nắm quyền chỉ huy 
Mặc dầu các lực lượng võ trang của Quốc Dân Đảng cũng có một hệ thống chính ủy, nhưng không bao giờ đạt được mục tiêu chính trị nắm quyền chỉ huy và Đảng có quyền tối thượng đối với quân đội như trường hợp Hồng quân. Tuy nhiên, vấn đề độc đáo của hệ thống chính trị của Cộng Sản là hệ thống này không chỉ giới hạn vào việc kiểm soát chính trị và quyền lực tuyệt đối của đảng mà nên nhìn vào vai trò chính trị do Hồng quân đảm trách trong xã hội Trung Hoa thời chiến. Công tác tuyên truyền, vận động quần chúng, tổ chức quần chúng thành công rực rỡ chưa từng có trong lịch sử võ trang chính trị và quân sự thế giới. Dù sao, cũng những vai trò đó Hồng quân thực hiện trong vận động xã hội -chính trị nhất là vào thời đấu tranh nội bộ trong đảng sau năm 1949 đem đến những yếu tố tiêu cực, không những gia tăng nguy cơ quân sự can thiệp vào chính trị mà còn phát triển tình trạng tham ô trong những năm về sau. Cuộc đảo chánh bất thành của Thống Chế Lâm Bưu chống Mao năm 1971 có thể coi như tiêu biểu cho vấn đề thứ nhất, các báo cáo về tranh chấp giữa các đơn vị Hồng quân và dân chúng địa phương ngày càng nhiều là những thí dụ của vấn đề thứ hai. 
Từ khi bọn Tứ Nhân Bang bị hạ bệ năm 1976, các nhà lãnh đạo Trung Hoa bắt đầu giảm bớt vai trò chính trị của quân đội, giữ cho họ bận rộn với việc huấn luyện và nhất là sau cuộc chiến Việt Hoa năm 1979 trong dó Trung Hoa phải trả một giá cao mà thắng bại cũng chỉ lửng lơ nhưng lại lộ rõ cái yếu kém về quân sự. Tuy nhiên, sau biến cố Thiên An Môn ngày 4 tháng 6 năm 1989, trong đó Hồng quân được lệnh nổ súng vào các sinh viên tranh đấu đòi dân chủ, ngọn gió thay đổi lại thổi trên mọi khung cảnh chính trị. Từ đó, đảng Cộng Sản không những tăng cường kiểm soát chính trị với quân đội mà còn đòi quân đội phải hoàn toàn đi theo lộ tuyến của đảng trong việc đấu tranh chống lại bất cứ đối lập chính trị nào dù trong hay ngoài đảng. Xu hướng đó có lẽ sẽ còn tiếp tục trong một thời gian cho đến khi phong vị chính trị lại thay đổi thêm một lần nữa. 
D.   Quần chúng võ trang -Dân Quân
 Hệ thống dân quân của Trung Hoa có một lịch sử lâu như chính nước Tàu vậy. Tuy nhiên, chưa có một chính quyền nào lại tổ chức được một hệ thống dân quân to lớn như chính quyền Trung hoa hiện nay. Từ Hồng Vệ Binh, đơn vị tự phòng, và dần dần đến vận động Mỗi Người Dân Là Một Người Lính trong thập niên 1950 liên hệ đến việc công xã hóa nông thôn, hệ thống dân quân chuyển cả một nước -làng xóm, thôn ấp cũng như thành thị -biến thành một đồn lũy quân sự và vô số doanh trại.
 Hệ thống dân quân tuy nay còn đấy nhưng không còn hoạt động như hồi thập niên 1960, ngoại trừ một vài khu vực nhạy cảm như cùng biên giới Việt Hoa nơi dân quân được điều động giữ an ninh trật tự và đề phòng đặc công phá hoại. Nói chung, khi quốc gia trong thời bình và đã hướng về phát triển kinh tế, hệ thống dân quân xuống cấp và ngay cả bỏ quên. Tuy nhiên, khi quốc gia trong thời chiến hay trong tình trạng vận động xã hội, hệ thống dân quân mới hoạt động. Đa số dân chúng Trung Hoa vẫn còn sống tại nông thôn nhưng không đủ cảnh sát giữ an ninh trật tự. Vì thế, dân quân thường đóng vai tuần cảnh trong làng xã, thôn xóm ngay cả trong thời bình.
 Các tác phẩm quân sự chính yếu của Mao chỉ bao gồm độ hơn chục bài. Hầu hết các bài đó chú trọng vào việc giải quyết các vấn đề chiến lược chứ không đề cập tới mọi vấn đề quân sự. Tuy nhiên, chỉ trong một số ít đó, vẫn thấy rõ ràng là Mao dã phân tích một cách có hệ thống nhiều đề mục quan trọng thể hiện một hệ thống chu đáo các tư tưởng quân sự mà người ta vẫn thường gọi là chiến tranh nhân dân. Mao đã dùng các tư tưởng đó để chỉ đạo Trung Hoa trong thời nội chiến và chiếm được quyền hành chính trị. Điều dó khiến cho những kẻ ngoại thù phải dè dặt khi định đánh với Trung Hoa trong một cuộc chiến qui ước ngay trên lục địa.
Logged

Không có bạn bè vĩnh viễn và kẻ thù vĩnh viễn. Tất cả chỉ vì sự tồn tại của mình.
Khi hai bàn tay nắm chặt và buông lơi một đất nước vĩ đại sẽ hình thành hoặc bị diệt vong.
dungrommel
Thành viên
*
Bài viết: 237


WWW
« Trả lời #68 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2009, 01:10:13 am »

Chương 7: Những đường hướng của tư tưởng quân sự Trung Hoa hiện nay 
1.   TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH QUÂN SỰ CỦA ĐẶNG TIỂU BÌNH
 Đặng Tiểu Bình là một trong những cán bộ cách mạng của thế hệ thứ nhất hiện còn tại thế. Ông đã từng làm Tổng Bí Thư Quân Ủy Trung Ương của đảng cộng sản Trung hoa một thời gian lâu trước thời Cách Mạng Văn Hóa bắt đầu vào năm 1966. Ông bị thất sủng và đưa về nông thôn tỉnh Giang Tây miền trung nước Tàu để cải tạo bằng công việc cơ xưởng khi cơn rối loạn lên đến cực điểm. 
Sau khi Lâm Bưu đảo chính hụt năm 1971, tình hình trở nên hết sức tồi tệ về chính trị xã hội cũng như kinh tế. Nhờ Chu Ân Lai, khi đó đang ốm nặng sắp lìa trần ủng hộ nên ông lại có cơ hội trở lại nắm quyền hồi 1975. Mặc dầu Đặng lại bị Mao và bọn Tứ Nhân Bang qui kết và cách chức một thời gian ngắn, ông được trở lại năm 1977 sau khi Mao chết và bọn bốn người bị Thống Chế Diệp Kiếm Anh cùng một số tướng lãnh lão thành lật đổ năm 1976. 
Là người đứng đầu Bộ Tổng Tham Mưu Hồng quân kiêm Phó Tổng Lý Quốc Vụ Viện (tức Phó Thủ Tướng), Đặng không gặp chống đối nào mãnh liệt trong việc kiểm soát các lực lượng võ trang và bộ máy chính trị của Trung Hoa sau khi ông trở lại nắm quyền. Ông từ từ hạ bệ Hoa Quốc Phong (Hua Kuofeng), người chính tay Mao chọn kế vị trong Đảng và chính quyền và những kẻ vươn lên trong thời kỳ Cách Mạng Văn Hóa. Mặc dầu ông không đích danh làm lãnh tụ tối cao của đảng và quốc gia, trên thực tế ông đã là người chí tôn của Trung Hoa. Lúc đó, ông mới bắt đầu kế hoạch cải cách chính trị và quân sự kéo dài hàng chục năm cho nước Tàu. Ông thay đổi bộ mặt của Trung Hoa và trước hết là lực lượng võ trang. 
A.   Sự suy nhược của Hồng quân sau thời Cách Mạng Văn Hóa
 Như đã đề cập trong chương 6, Hồng quân dưới quyền lãnh đạo của Lâm Bưu trong thời Cách Mạng Văn hóa đã nhấn mạnh một cách triệt để công tác chính trị và ý thức, tham gia sâu rộng vào các đấu tranh quyền lực trong đảng. Sự tham gia quá độ của Hồng quân vào các hoạt động chính trị không những gia tăng nguy cơ can thiệp của quân đội vào chính trị mà còn ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc huấn luyện quân đội và do đó tác động đến việc chuẩn bị chiến đấu của Hồng quân.
 Sau khi ông lên mắm quyền vào năm 1975, Đặng liên tục nêu lên những vấn đề nghiêm trọng bên trong Hồng quân và thúc đẩy cải tổ. Theo quan điểm cá nhân của Đặng, các nhược điểm chính yếu bên trong các lực lượng quân sự có thể tóm gọn trong 5 chữ: Thũng (bành trướng quá đáng), Tán (thiếu kỷ luật, thiếu tổ chức), Kiêu (kiêu ngạo), Xỉ (xa xỉ), Nọa (lười biếng). 
Về phần bành trướng quá mức, theo Đặng không chỉ giới hạn vào vấn đề quân đội gia tăng quá mức mà còn ở các cơ quan dư thừa nhân sự và lãnh đạo. Thiếu kỷ luật và thiếu tổ chức một phần ở việc quá lún sâu vào đấu tranh chính trị trong thời Cách Mạng Văn Hóa, một phần do quá dư thừa sĩ quan và nhất là các sĩ quan cao cấp.
Về kiêu căng, mặc dầu Đặng nói là một căn bệnh lâu năm của Hồng quân nhưng ông cũng đặc biệt nhấn mạnh vào tình trạng mới đây phát triển trong thời Cách Mạng Văn Hóa, khi đó Hồng quân nắm giữ quyền lực chính trị thay thế các viên chức lãnh đạo đảng dân sự khi Mao kêu gọi họ ủng hộ cánh tả của đảng đấu tranh chống lại giới lãnh đạo đảng và chính quyền. Sự gia tăng quyền lực chính trị đưa đến kết quả là mất đi truyền thống lộ tuyến quần chúng. Họ bị cô lập khỏi quần chúng và căng thẳng tăng lên giữa Hồng quân với nhân dân, giữa quân sự và chính quyền và ngay cả giữa các đơn vị Hồng quân với nhau. 
Mọi quyền lực đều đẫn tới tham ô và khi Hồng quân nắm quyền chính trị, nó cũng không thể không vấy bùn. Hai vấn đề sau cùng, xa xỉ và lười biếng, theo lời Đặng, chính là đặc thái hiển hiện của quân đội. Trong khi xa xỉ chủ yếu nói về việc đi theo hưởng thụ vật chất, lười biếng nói về sự thiếu chăm lo công việc và nhiệm vụ. Đó là hai hình thức có liên hệ chặt chẽ với nhau. 
Khi tất cả các vấn đề này hiện hữu trong một quân đội, thì khả năng chiến đấu tất nhiên phải suy giảm.
 Mặc dầu Đặng đưa ra những vấn đề này từ năm 1975 nhưng không được Mao quan tâm để tới 1978 khi ông lên nắm quyền mới tiến hành cải cách.
B.   Quan điểm cải tổ quân sự của Đặng Tiểu Bình
 Cải cách quân sự của Đặng Tiểu Bình bao gồm nhiều công việc liên hệ mật thiết với các vấn đề của Hồng quân đã đề cập tới ở trên. Tuy nhiên, theo chính lời Đặng, mục tiêu của các chương trình cải cách có thể tóm tắt vào hai từ ngữ: canh tân hóa (modernization) và qui tắc hóa (regularization)1. Để đạt các mục tiêu này, ông phác họa một chương trình nhiều giai đoạn, nhiều phương pháp.
1dịch theo từ Hán Việt người Trung Hoa dùng thì là hiện đại hóa và tổ chức hóa.
 a/ Các mục tiêu của cải cách
 Nói chung, quan điểm về cải tổ quân sự của Đặng Tiểu Bình chú trọng nhiều về canh tân vũ khí và qui tắc hóa tổ chức của Hồng quân mà không để mất truyền thống chính trị là một lực lượng võ trang của đảng. Ông vẫn nhấn mạnh về sự cần thiết phải dùng quân đội để củng cố chế độ chuyên chính dân chủ nhân dân, có nghĩa là quyền hành chính trị của đảng Cộng Sản. Ngoài những việc khác, ông cũng nhấn mạnh các quan điểm sau đây là cốt lõi của công cuộc canh tân hóa và qui tắc hóa quân đội.
 Thứ nhất, Hồng quân phải triệt để đi theo 4 nguyên tắc của đảng, tăng cường ý thức chính trị và tự tạo thành một khuôn mẫu đi theo đường lối, nguyên tắc và chính sách của đảng. Có như thế, họ mới bảo đảm được rằng họ là một lực lượng võ trang đáng tin cậy của đảng. Thứ hai, Hồng quân phải cải tiến vũ khí và trang bị để gia tốc hiện đại hóa quốc phòng cho phù hợp với việc phát triển liên tục của kinh tế quốc gia. 
Thứ ba, Hồng quân phải cải tiến liên hệ với chính quyền và quần chúng, gia tăng đoàn kết nội bộ, củng cố lực lượng dân quân, kế thừa và phát triển truyền thống vinh quang của một quân đội nhân dân.
Sau cùng, Hồng quân phải củng cố huấn luyện quân sự và chính trị để tăng tiến phẩm chất trên cả hai mặt, nỗ lực hơn để gia tăng khả năng phối hợp chiến đấu với các binh chủng khác trong quân đội.
 Khi bàn đến tỉ lệ huấn luyện chính trị và quân sự, Đặng Tiểu Bình nhấn mạnh về huấn luyện quân sự. Ông đòi hỏi các trường võ bị sắp xếp sao cho chương trình học theo tỉ lệ ba bảy nghĩa là các đề tài quân sự chiếm 70% toàn thời gian, 30% còn lại cho chính trị. Mặt khác, khi bàn đến chương trình tại các trường chính trị của Hồng quân, ông yêu cầu giành 60% đạy các đề tài chính trị, để 40% đạy các đề mục quân sự. Mặc dầu Đặng không còn theo đường lối cực đoan của Lâm Bưu, chỉ nhấn mạnh vào công tác chính trị và giáo dục ý thức hệ, ông vẫn tiếp tục dựa vào sự hỗ trợ của quân đội trong các vấn đề chính trị quốc nội và vì thế chú trọng vào giáo dục chính trị để củng cố việc kiểm soát các lực lượng võ trang. Khuynh hướng đó có thể nhận thấy sau biến cố Thiên An Môn 1989. 
b/ Các Giai đoạn của Cải Cách 
Khi bàn về công tác cải cách quân sự, Đặng thường gọi là ”tái tổ chức các lực lượng võ trang”. Để đạt mục tiêu này, hướng đi của ông bao gồm nhiều bước dựa trên ưu tiên ông đặt ra. Theo dự kiến của Đặng, việc tái tổ chức các cơ chế quân đội là ưu tiên một, cải thiện vũ khí trang bị là việc tiếp theo. Sau khi các vấn đề này được giải quyết, vấn đề chiến lược mới đặt ra. 
Tái tổ chức các Cơ Chế Quân sự: Khi nhận định về cơ chế Hồng quân, Đặng Tiểu Bình đặc biệt nhấn mạnh vào việc điều chỉnh và tái phân bố hệ thống chỉ huy để giảm thiểu việc quá dư thừa cấp lãnh đạo. Để giải quyết vấn đề quá đông nhân sự, ông không những cho giải ngũ số sĩ quan thặng dư và loại trừ dư đảng của Tứ Nhân Bang mà còn đi xa hơn, qui tắc hóa việc phục vụ của cả sĩ quan lẫn nhân viên dân sự trong quân đội, hệ thống hưu trí và hệ thống cấp bậc. Làm như thế ông nâng quân đội Trung Hoa lên một mức độ định chế cao hơn, mà trước đây tuy có dự trù nhưng chưa thực hiện được khi họ tiến hành công cuộc canh tân quân đội hồi thập niên 1950 sau kỳ chiến tranh Triều Tiên. Các qui tắc đó được lần lượt được ban hành trong giữa thập niên 1980. 
Cải thiện vũ khí và trang bị: Như đã đề cập trong chương 3 của cuốn sách này, ưu tiên số một của canh tân hóa quân đội là cải thiện vũ khí và trang bị, kế tiếp là cải thiện các hệ thống quân sự, sau cùng mới đến chiến lược, chiến thuật.
 Mặc dầu ưu tiên của Đặng về tái phối trí Hồng quân bắt đầu bằng việc tái tổ chức các cơ chế quân đội nhưng ông không bỏ qua sự quan trọng của trang bị và vũ khí dối với năng lực chiến đấu của một lực lượng võ trang. Ông hiểu rõ ràng rằng chiến đấu trong một cuộc chiến hiện đại, quân đội không thể chỉ dựa vào ”cơm hẩm và khẩu súng”, người lính cũng chẳng phải chỉ biết bóp cò, dùng lưỡi lê, ném lựu đạn là đủ. Trong thời đại mới, quân đội không những cần đến vũ khí mới, trang bị mới mà còn phải hiểu biết về khoa học và kỹ thuật.
 Người Trung Hoa bắt đầu sử dụng vũ khí Tây phương từ sau cuộc chiến tranh Nha Phiến, khoảng thập niên 1860. Dưới chế độ Cộng Sản, người Trung Hoa còn đi xa hơn nữa. Quan điểm của họ Đặng về cải thiện vũ khí và trang bị không chỉ giới hạn trong việc cải tiến kỹ thuật chế tạo vũ khí. Ông còn tìm hiển các yếu tố thiết yếu ảnh hưởng đến công cuộc canh tân quốc phòng và dĩ nhiên quyết định thắng bại. Theo Đặng Tiểu Bình, canh tân quân đội muốn thành công phải tùy thuộc vào sự thành công của canh tân kinh tế nói chung và phát triển khoa học kỹ thuật cao nói riêng.
 Chìa khóa để hoàn thành Tứ Hiện Đại Hóa là hiện đại hóa khoa học kỹ thuật. Không thể nào xây dựng được canh nông tiên tiến, kỹ nghệ tiên tiến, quốc phòng tiên tiến nếu không hiện đại hóa khoa học kỹ thuật. Không thể nào đẩy mạnh phát triển kinh tế quốc gia một cách nhanh chóng trừ khi khoa học kỹ thuật phát triển kịp với nhu cầu. 
Thay vì coi canh tân quốc phòng là ưu tiên một, ông đặc biệt chú ý đến sự phát triển kinh tế quốc gia và nghiên cứu khoa học. 
Muốn phát triển khoa học kỹ thuật nhanh chóng đòi hỏi một số lượng chuyên gia đáng kể dồn hết sức vào việc nghiên cứu. Dưới chế độ Cộng Sản, các nhà lãnh đạo đầu tư một số lớn tài nguyên vào công tác này và nóng lòng mong sớm có kết quả ngay nhưng lại không cho giới trí thức được tự do xã hội và chính trị ngõ hầu có thể đóng góp toàn bộ công sức và tài năng của mình. Trái lại, giới trí thức lại bị đối xử như giới cùng đinh và thường bị làm vật hi sinh trong những vận động chính trị. 
Sau khi Đặng Tiểu Bình lên nắm quyền năm 1975 và 1978, ông và một số người trong ban tham mưu biết rõ tầm vóc và vai trò quan trọng của giới trí thức đối với sự thành công của Tứ Hiện Đại Hóa. Vì thế giới lãnh đạo đã cải thiện vật chất cũng như cơ sở nghiên cứu để khuyến khích họ tập trung vào công tác đóng góp vào phát triển. Tuy nhiên ông cũng không hoàn toàn rời xa lý thuyết cải tạo trí thức để khắc phục những khuyết điểm mà Mao Trạch Đông đã đưa ra.
 Dười chính sách cởi mở của Đặng trong thập niên 1980, tình trạng của giới trí thức được cải thiện cả về chính trị lẫn vật chất. Tuy nhiên tình trạng kinh tế bết bát, giới chức hành chánh tham ô và đòi hỏi dân chủ tự do trong giới trí thức ngày càng gia tăng đã góp phần vào sự bùng nổ mà cao điểm là ngày mồng 4 tháng 6 năm 1989. Việc giới lãnh đạo từ chối đối thoại với sinh viên, trí thức để đáp ứng các đòi hỏi của họ được tự do hơn, dân chủ hơn là yếu tố chính gây ra các biến cố đẫm máu đó. 
Biến cố đó có thể làm chậm lại chiều hướng của Tứ Hiện Đại Hóa và do đó cả vấn đề canh tân quân sự. Tuy nhiên, ảnh hưởng quan trọng nhất có lẽ là việc thay đổi trong chiến lược của Trung Hoa ở thập niên 1990.
  Cải Tiến Huấn Luyện Quân Sự: Trong thời kỳ chiến tranh Quốc -Cộng, các cấp chỉ huy trong Hồng quân và binh sĩ hầu hết được huấn luyện tại chiến trường. Tuy nhiên trong thời bình quân đội được đào tạo hoặc tại các quân trường hoặc trong các đơn vị chiến đấu. Trong thời Cách Mạng Văn Hóa quốc gia rơi vào tình trạng đấu tranh của các thế lực chính trị. Nhiều học hiệu, cả dân sự lẫn quân sự, bị đóng cửa và ít ai chú ý tới dạy dỗ hay học tập ngay cả những trường còn hoạt động.
 Sau khi nắm quyền, Đặng cho rằng giải pháp cho các vấn đề giáo dục chủ yếu là một vấn đề chiến lược, nghĩa là ưu tiên và lượng giá theo nhu cầu phát triển của quốc gia.
 Về vấn đề huấn luyện quân sự, Đặng đẩy mạnh cả huấn luyện trong quân trường và trong quân ngũ. Không hoàn toàn loại trừ các hoạt động phi quân sự và không quên nhu cầu huấn luyện chính trị, ông đã đạt được nhiều tiến bộ đáng kể trong việc nâng cao phẩm chất các sĩ quan Hồng quân.
 Đối với việc huấn luyện trong quân ngũ, Đặng nhấn mạnh vào việc học hỏi chiến tranh hiện đại và hợp tác hành quân bao gồm nhiều loại lực lượng trong nghiên cứu vũng như huấn luyện thao tác.
Hồng quân trước đây thường dùng các binh sĩ tại ngũ để huấn luyện tân binh. Chương trình huấn luyện hỗn hợp này khiến cho các lực lượng chiến đấu phải lập đi lập lại các căn bản mà không nâng cao chất lượng huấn luyện. Tuy nhiên từ năm 1978, họ bắt đầu du nhập một số biện pháp để phân biệt quân tại ngũ và tân binh. Tân binh được huấn luyện một chương trình cao hơn trong các đơn vị chiến đấu sau khi thông qua các chương trình căn bản. Không quân và hải quân cũng áp dụng tương tự như thế. 
So với các đơn vị chiến đấu, các quân sự học hiệu của Trung Hoa sắp xếp các chương trình huấn luyện qui củ hơn. Có hơn 100 quân trường từ Đại Học Quốc Phòng xuống tới các trung tâm huấn luyện căn bản. Họ còn có cả chương trình Cao Học (master) và Tiến Sĩ (doctoral programs) để huấn luyện sinh viên đã tốt nghiệp trong khoa học quân sự. Có vào khoảng trên 100,000 tân khóa sinh ghi danh tại các quân sự học hiệu năm 1987. Các chương trình chính tại các trường võ bị này tập trung vào việc làm sao cho sinh viên thấm nhuần kiến thức về chiến tranh hiện đại và khả năng chỉ huy. Cũng như các đơn vị chiến đấu, trường quân sự luôn luôn chú ý đến hợp tác hành quân bao gồm nhiều binh chủng.
Logged

Không có bạn bè vĩnh viễn và kẻ thù vĩnh viễn. Tất cả chỉ vì sự tồn tại của mình.
Khi hai bàn tay nắm chặt và buông lơi một đất nước vĩ đại sẽ hình thành hoặc bị diệt vong.
dungrommel
Thành viên
*
Bài viết: 237


WWW
« Trả lời #69 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2009, 01:11:21 am »

C.   Chiến Lược của Đặng Tiển Bình trong thập niên 1970
 Từ đầu thập niên 1960 tới giữa thập niên 1970, tranh chấp giữa Trung Hoa và Liên Xô ngày càng căng thẳng tiến từ bất đồng ý thức hệ sang đụng độ quân sự dọc theo biên giới. Sau khi Hoa Kỳ rút khỏi Việt Nam, Liên Xô lập tức kéo Việt Nam về phía mình và mở một mặt trận mạn biên giới phía Nam Trung Hoa. Việc đó khiến Trung Hoa bị đe dọa tinh thần nghiêm trọng.
 Việc tái lập quan hệ Hoa -Mỹ do Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai chủ xướng đầu thập niên 1970 kế đến là tranh chấp Liên Xô -Trung Hoa gia tăng sau khi người Mỹ rút khỏi Việt Nam. Điều đó khiến Đặng Tiểu Bình phát triển một mặt trận liên minh với Mỹ để chống lại chiến lược của Liên Xô dọc theo biên giới.
 a/ Tranh thủ thì giờ để Hiện Đại Hóa quốc gia bằng cách Diên Trì Chiến Tranh toàn cầu
 Suốt thập niên 1960 và đến tân giữa thập niên 1970, dưới quyền lãnh đạo của Mao Trạch Đông, Trung Hoa luôn luôn khẳng định rằng một cuộc thế chiến không sao tránh khỏi và vì thế họ muốn chiến tranh thế giới xảy ra càng sớm càng tốt. vì thế chiến lược họ sửa soạn trong giai đoạn này là một cuộc chiến hạch tâm qui mô. Vào cuối thập niên 1970, khi Đặng nắm quyền, tình trạng kinh tế xã hội, chính trị đang trên bờ vực thẳm, Hồng quân không có khả năng chiến đấu trong một cuộc chiến toàn diện. Trong tình hình đó, Đặng và chính quyền Trung Hoa hết sức cần một thời gian yên ổn để dồn nỗ lực vào các cải cách nội bộ.
 Năn 1977, Đặng nhận định tình hình thế giới là Liên Xô chưa hoàn thành việc tổ chức chiến lược toàn cầu và do đó không sẵn sàng để gây chiến. Hoa Kỳ đang đi vào chiến lược phòng ngự quốc tế, mới rút khỏi Việt Nam nên không dại gì dính vào một cuộc tranh chấp thế giới mới. Dựa trên nhận định đó, Đặng Tiểu Bình cho rằng Trung Hoa phải khai thác cơ hội này để kéo dài thời kỳ trước khi một cuộc chiến tranh có thể xảy ra.
 Để tranh thủ thời gian hiện đại hóa quốc gia, chiến lược toàn cầu của Trung Hoa vẫn còn dựa trên nhận định của Mao Trạch Đông là phải kết hợp các nước trong thế giới thứ ba chống lại kẻ bá quyền -kẻ đó từ thập niên 1970 là Liên Xô chứ không còn là Mỹ. Khi Liên Xô tăng cường chiến lược của họ chống Trung Hoa năm 1979, tiếp theo là cuộc chiến Việt Hoa, đặng thấy rõ là việc Mao đề xướng tái lập quan hệ với Mỹ và Nhật là một tài sản vô giá cho Trung Hoa trong việc chống lại chủ nghĩa bá quyền.
 b/ Chiến Tranh Nhân Dân theo Đặng Tiểu Bình 
Mặc dù Đặng Tiểu Bình tin rằng một cuộc thế chiến có thể hoãn lại nhưng ông cũng không để Trung Hoa không chuẩn bị cho một cuộc tranh chấp không dự liệu và nhất là các chiến tranh khu vực. Nhận định về tình hình đó, Đặng cho rằng ”khi nào chúng ta còn dựa vào chiến tranh nhân dân chiến đấu với những gì chúng ta đang có, thì chúng ta vẫn có thể thắng dù xảy ra ở thời điểm nào chăng nữa”. Thế nhưng quan điểm về chiến tranh nhân dân của Đặng Tiểu Bình không hoàn toàn giống như của Mao. Đặng nhấn mạnh vào việc huấn luyện phối hợp chiến đấu giữa nhiều binh chủng và nói rõ là trong tương lai không còn có thể chiến đấu chỉ với ”cơm hẩm và súng”. Cuộc chiến sắp tới là cuộc chiến với thiết giáp, phi cơ và chiến hạm, chiến đấu trên cạn, dưới nước, trên không, ngầm dưới đất bằng hoạt động phối hợp của nhiều hình thức trang bị. 
Dựa trên nhận định đó, không những Đặng đẩy mạnh việc hiện đại hóa vũ khí và trang bị của Hồng quân để đạt được nhu cầu cho một cuộc chiến tân tiến mà còn đặc biệt chú ý tới việc xây dựng một hệ thống hậu cần hiện đại để bảo đảm tiếp liệu hữu hiệu cho quân đội khi có chiến tranh. Ông nói rõ là Hồng quân không chỉ dựa vào việc cướp khí giới, lương thực của địch tại trận tiền để trang bị cho mình. Đây là một quan niệm hoàn toàn khác với bản chất cuộc chiến Quốc -Cộng khi lý thuyết chiến tranh nhân dân của Mao được hình thành. Tuy nhiên, Đặng vẫn nói là dù có cải tiến về vũ khí và trang bị nhưng trong vòng 10 đến 20 năm nữa, Hồng quân vẫn chưa thoát khỏi tình trạng yếu kém so với các siêu cường. Thế nhưng dù có kém về vũ khí ông vẫn có thể đánh bại một kẻ thù mạnh hơn. Niềm tin đó theo Đặng dựa vào tin tưởng là họ theo đuổi một ”cuộc chiến công chính và của nhân dân”. 
Logged

Không có bạn bè vĩnh viễn và kẻ thù vĩnh viễn. Tất cả chỉ vì sự tồn tại của mình.
Khi hai bàn tay nắm chặt và buông lơi một đất nước vĩ đại sẽ hình thành hoặc bị diệt vong.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM