Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:11:08 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Điện Biên Phủ - 170 ngày đêm bị vây hãm  (Đọc 58731 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 505


« Trả lời #40 vào lúc: 22 Tháng Hai, 2008, 03:33:32 pm »

TRUNG ÚY BRUNEBROUCKE
30 tháng 3 năm 1954

Trung úy Brunebroucke dựng các bao cát, đắp một hầm vòm cho pháo 105 mm, mũ sắt úp chụp xuống tận lông mày, dáng vẻ chăm chủ nhìn trong bóng tối, ông vừa lao động vừa huýt sáo một khúc quân hành. Đã nửa đêm. Từ 21 giờ 30, điện đài từ Dominique 1 ngừng phát tín hiệu. Đại đội 4 thuộc tiểu đoàn dù Bảo an số 5 đã bị tiêu diệt. Brunebroucke hình dung tới cảnh đám lính còn sống sót bàng hoàng ngơ ngác, bị báng súng thúc vào lưng, đi về hướng Bắc.

Trên vòm trời cách cụm đồi Eliane 300 mét về phía Nam, chiếc Dakota vẫn lượn vòng, thả pháo sáng không hề mệt mỏi. Những tiếng động cơ lúc vang lúc mất, cắt đứt bầu không khí yên lặng vừa ập xuống Dominique như lưỡi dao của chiếc máy chém.

Những quả pháo sáng – được gọi là đom đóm – buộc dù từ máy bay rơi xuống, chiếu một luồng ánh sáng vàng nhạt vì phải lọt qua đám bụi và khói còn bao phủ những mỏm đồi Eliane.

Brunebroucke vẫn tiếp tục thổi sáo điệp khúc nghe rất khó chịu. Ông nhìn chăm chú vào bóng tối, nhưng không hiểu được tất cả chuyện gì đang xảy ra phía tay phải, ở vùng đất phía Nam cứ điểm. Ông chỉ biết, từ nay vị trí của ông đã nằm ở tuyến thứ nhất đúng trên trục đường 41 giữa hai cứ điểm Dominique. Nếu Việt Minh quyết định kết liễu số phận Điện Biên Phủ thì sẽ phải tiến quân theo hướng này. Brunebroucke đoán, bộ đội Việt Minh đang xuống núi, tự hào vì chỉ vài tiếng đồng hồ đã chiếm được hai cứ điểm quan trọng nhất mà không cần phải giao tranh ác liệt như ỏ Gabrielle và Beatrice, hẳn đang bàn tán về chiến thắng dễ dàng này.

Ông hình dung thấy các cán bộ Việt Minh đang tập hợp các tiểu đoàn, chấn chỉnh các trung đoàn, di tản binh lính chết và bị thương, thống kê chiến lợi phẩm. Ông thử đặt địa vị của mình vào đối phương để tính toán xem bao giờ thì những công việc kể trên kết thúc, và địch sẽ tiến đánh vào lúc nào. Brunebroucke tin chắc là địch sẽ tiến công, và đến khi trời sáng chỉ có dòng sông Nậm Rốm mới cản trở Việt Minh thu được toàn thắng. Thể thức sẽ diễn biến như vậy.

Tuy nhiên, trước khi đánh chiếm được cụm cứ điểm Eliane, Việt Minh phải vượt qua một vật cản nhỏ nhưng đáng gờm. Đó là Dominique 4 như một nút chai bịt chặt lối đi. Nút chai này có thể mang tên trung úy Brunebroucke.’

Brunebroucke là sĩ quan pháo binh. Ông chỉ huy một cụm bốn khẩu lựu pháo 105 mà trước đó, người tiền nhiệm là Vaillant đã « đẩy » ra tận bờ sông, để bảo vệ tuyến hành quân dọc theo đường 41. Chung quanh ông là lính Angiêri thuộc đại đội Filaudeau. Đây là những binh lính đã bị đánh bại, theo thuyết định mênh, vừa mới cách đây ít lâu đã nhìn thấy cảnh tán loạn khi đồng đội rút chạy xuống sườn đồi.

Brunebroucke nói với Filaudeau :

-   Tôi muốn bọn này không có mặt ở đây. Bởi vì sự hoảng loạn là một chứng bệnh truyền nhiễm. Nếu chúng bỏ chạy thì sẽ làm mất tinh thần bọn lính châu Phi khác của tôi.

Filaudeau nói :

-   Chúng sẽ giữ vững. Các trung đội trưởng đã có mặt ở vị trí. Anh không có gì lo ngại cả.

Quả thật, đại đội 12 hãy còn có quân số đầy đủ nhất tiểu đoàn. Một trường hợp đặc biệt. Bên cạnh đại đội trưởng, còn có cả đại đội phó là trung úy Alix và có cả một trung sĩ nhất, là Jean Claude Herviou.

Filaudeau nói tiếp :

-   Dù bất cứ trường hợp nào, phía sau lưng chúng ta vẫn có con sông. Binh lính bắt buộc phải đối mặt với địch, không thể rút chạy.

Buổi chiều, Filaudeau cử một đội lao công đi đào một chiến hào thẳng tắp chắn ngang cánh đồng, ngay trước mặt cứ điểm. Hạ sĩ Coulombel và hai binh nhì Mohamed Chouader và Larbi Seguini đặt trong chiến hào này những khối thuốc nổ “dẹt”. Nhìn từ xa có vẻ như đây là những nắp đậy các thùng giặt quần áo, nhưng bên trong là thuốc nổ. Hiệu quả sẽ rất ghê gớm.

Filaudeau nói thêm :

-   Dominique 4 đã bảo vệ tốt.

Ông đi về phía những chiến hào vặn vẹo chung quanh các nhà vòm đặt pháo. Điệp khúc hành quân của Brunebroucke vẫn không ngừng phát ra từ những tiếng thổi sáo qua kẽ răng làm cho Filaudeau càng bực tức.

Trung úy Alix đã theo kịp Brunebroucke :

-   Anh nghĩ bọn chúng có tiến đánh không ?

Brunebroucke lắc đầu và vẫn thổi sáo

-   Tình hình các vị trí khác thế nào ? – Alix hỏi tiếp.

Brunebroucke tạm ngừng thổi sáo.

-   Tôi nghĩ Eliane 1 sẽ bị chiếm. Eliane 2 sẽ không ổn. Nhưng điều đó không quan trọng. Chúng ta vẫn còn ở đây.

Ông tròn môi và lại thổi sáo.

-   Cậu không thay đĩa à ?

Brunebroucke liếc nhìn bạn và cười một cách mỉa mai cay độc :

-   Cậu có biết tớ thổi sáo bài gì không ? Một bài hát mà bố tớ đã dạy. Đó là bài mà bọn lính chạy thoát bên đường Đức Bà đã hát năm 1917. Lời ca có ghi trong cuốn Bàn tay bị chặt. Cậu muốn nghe không ?

Alix gật đầu.

Brunebroucke đọc lời bài hát :

“Tướng Marchand không buôn bán chúng ta
Nivelle đã san bằng tất cả
Chúng ta bị tướng Foch chém ngang
Rồi Pétain đem nhào thành bột
Để Mangin ăn thịt chúng ta ..”

Alix cố nhịn cười :

-   Tôi cá cược : anh đang hiện đại hóa bài hát
-   Đúng ! Nghe đây.

“ Tướng De Lattre tôn vinh chúng ta
Và Salan đem ta ướp muối
Tướng Navarre nuốt chửng chúng ta
Và Cogny lôi ta ra nện !

( Bài hát chế giễu đả kích những chỉ huy “nướng quân” trong chiến tranh thế giới thứ nhất và chiến tranh Việt Nam theo kiểu chơi chữ)


-   Thế anh có vấn đề gì với Castries không ?

Brunebroucke cười, không trả lời. Ông áp mặt vào sát mặt kính đồng hồ dạ quang. Đã 22 giờ 15 phút. Bóng tối dày đặc, có lẽ còn tối đen hơn trước sau khi tắt pháo sáng ở bên kia mỏm Eliane. Tại đây, dưới chân cụm đồi Dominique, Brunebroucke không còn phân biệt được gì, ngoài con đường 41 in hằn một vệt sáng nhạt hơn vùng đất chung quanh.

Alix nói :

-   Có cái gì chuyển động ở phía trước.

Brunebroucke nheo mắt, hướng mắt nhìn. Ông biết rằng nếu nhìn lâu vào một vật gì đó thì sẽ bị hoa mắt. Từ hướng nhìn do Alix chỉ, ông thấy có vài bóng người mờ ảo trên nền đêm.

Bên cạnh ông, Alix nên cò súng các-bin, vang lên một tiếng khô khốc. Brunebroucke giơ tay ngăn, nói thầm :

-   Chờ một tý đã. Nếu là Việt Minh, chúng sẽ không di chuyển như vậy. Và số quân cũng đông hơn.

Những bóng đen đã tới rất gần. Có lẽ tới một chục người.

Một lính gác của đại đội 12 quát to (bằng tiếng Ả rập) :

-   Chkoun enta  ? ( Ai đấy ?)
-   Krib ( quân bạn).

Thế là chiếc lò xo căng thẳng đã được giải tỏa . Theo chỉ dẫn của lính canh, những bóng người vừa phát hiện không lần mò đi thận trọng nữa mà chạy nhanh vượt qua vật cản của hàng rào kẽm gai, rồi nhảy xuống chiến hào. Trung úy Filaudeau dẫn đầu. Ông nói với Brunebroucke

-   Hầu hết là những binh lính bị thương. Có cả lính bộ binh Angiêri, lính dù người Việt và một hạ sĩ quan Pháp. Chính anh ta đã dẫn những người chạy thoát từ Dominique tới đây.

Brunebroucke cúi nhìn người trung sĩ Pháp và kêu lên một tiếng kinh ngạc. Bộ mặt anh ta như bao bọc bởi một lớp bột đen, có thể đoán ngay là máu đã khô.

Filaudeau giải thích :

-   Nó bị một quả lựu đạn làm vỡ mặt.

Trung sĩ gật đầu. Rồi anh lục tìm trong túi, lấy ra một cuốn sổ nhỏ, cố mò mẫm đọc vài chữ. Brunebroucke cúi xuống bấm đèn pin nhìn đọc :

-   Trung sĩ Bellencontre, đại đội 4, tiểu đoàn dù Bảo an số 5.
-   Tốt, Bellencontre này. Tôi không thể giữ anh ở lại đây được. Việt Minh sắp tiến công. Anh có thể dẫn số lính này đến trạm quân y được không ?

Một tiếng thều thào phát ra từ đống máu đông đặc trên gương mặt Bellecontre. Trung sĩ giơ tay chào rồi quay về chiến hào, tập hợp những người vừa chạy thoát khỏi Dominique 1.

Brunebroucke tiếp tục đứng trực bên cạnh khẩu pháo 105 của mình.

Chợt một loạt đạn vang lên trong tai ông, và lập tức diễn ra hỏa ngục. Việt Minh từ đường 41 đã thâm nhập vào trận tuyến và xung phong tiến đánh cứ điểm cuối cùng chặn đường tiến quân vào cánh đồng. Quân địch tiến công ngay trên bãi trống lộ thiên, không cần pháo bắn chuẩn bị. Trên thực tế, lúc này pháo Việt Minh chưa bố trí ở cự ly có thể bắn tới đây. Việt Minh chỉ có chủ bài là quân số đông, đêm tối và hy vọng vào sự mất tinh thần của đối phương. Nhưng họ đã lầm.

Bởi vì khẩu pháo 105 của Brunebroucke đã bắn ở số không, nghĩa là nếu có thể nhìn qua nòng pháo thì mới thấy địch. Lần đầu tiên kể từ khi chiến dịch mở màn, bộ đội Việt Minh phơi ngực trước họng pháo 105, bắn không cần bảng ngắm.

Hai trung đoàn thuộc sư đoàn 312 Việt minh, say sưa trước chiến thắng mới đây trên dãy đồi Dominique, sát cánh xung phong. Brunebroucke và đám lính pháo Angiêri ra sức bắn. Một khẩu đội trưởng can :

-   Nòng pháo quá nóng rồi !

Trung úy hét to át tiếng động chung quanh.

-   Không sao cả . Đái vào nòng !

Việt Minh đã chững lại. Rồi ngay lập tức, họ còn bị những khẩu trọng liên bốn nòng mà Langlais bố trí ở trục đường, từ bên kia sông Nậm Rốm, bắn tạt sườn. Đây là bốn khẩu 12,7 bắn với tốc độ tối đa, lia những làn đạn tạt ngang vào quân Việt Minh đàng túm tụm trước những bờ dốc ở Dominique 4.

Bị hỏa lực quét, các đơn vị trung đội, đại đội Việt tan tác, xé lẻ, toan rút lui trong đêm tối. Nhưng Brunebroucke với các khẩu pháo và Jourdonneau với các khẩu trọng liên không cho họ có cơ hội đó. Việt Minh chỉ còn có một giải pháp là nhảy xuống đoạn chiến hào chạy thẳng trước mặt vị trí Pháp để tránh đạn, chen chúc, chất đống trong đó, với số quân khoảng 200.

Khi anh lính Angiêri Mohamed Chonader quan sát thấy tất cả đã chui hết vào trong chiến hào, lúc đó mới bấm nút pin kích động những khối thuốc nổ dẹt.

Không nghe thấy tiếng nổ. Chỉ thấy như có làn sóng chấn động của động đất dưới chân những người lính Angiêri. Đó là những sóng chấn động phát đi từ chất nổ dẻo, mềm, đặt sẵn dưới chiến hào.
Logged
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 505


« Trả lời #41 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2008, 03:21:53 pm »

ĐÊM ELIANE
Từ 30 đến 31 tháng 3 năm 1954

Trung sĩ Bellecontre bước thật nhanh trên con đường hẻm vây quanh dãy đồi ở phía Tây. Trong suốt trận đánh cản địch ở Dominique 4, Bellecontre nấp kín một chỗ, vì cảm thấy vô ích, thụ động, không có vũ khó trong tay. Anh hiểu rõ không thể lội qua sông dưới làn đạn liên hồi của các pháo thủ Việt Minh, hy vọng ngăn cản quân tăng viện cho Eliane mà sư đoàn 316 đang tiến đánh.

Bellecontre không còn khái niệm về thời gian nữa. Vết thương còn chưa lành, nỗi đau lan tỏa, ý nghĩ mơ hồ. Anh chỉ còn một ý định duy nhất là quyết trở về tiểu đoàn của mình, tức là tiểu đoàn dù số 5 hồi nãy còn đóng giữ Eliane 4. Anh nghĩ là “hồi nãy” nhưng lại tưởng tượng là “trước kia”. Dường như có một khoảng thời gian vô tận đã kéo dài từ trận đánh buổi tối đến lúc này là giữa đêm. Biết bao sự việc đã dồn dập xảy đến trong khoảng thời gian này, nhiều như có thể tràn ngập cả một đời người. Bellecontre không nhận thức được nữa. Anh bước đi như một cơ thể còn sống trong khi đã chết một nửa.

Cách đây mười phút, một giờ, một thế kỷ, không còn nhớ nữa, một trung úy to lớn đã khuyên Bellecontre phải tiến về trạm quân y. Anh không còn đủ can đảm và sức lực nữa. Điều anh mong mỏi, điều anh ước muốn là kịp về được trạm xá tiểu đoàn, ngã vào cánh tay của Roualt, người thầy thuốc có cử chỉ dịu dàng, được mọi người cói như một lính “Bảo an”, một người thân thuộc trong gia đình tiểu đoàn dù số 5.

Eliane không còn xa nữa. Trên bản đồ, vị trí quần thể các điểm tựa nom như một cái bánh hình lưỡi liềm, sừng phía Nam chính là Eliane 4. Hiện nay, Bellecontre và những thương binh đang rên rỉ bước theo anh mới chỉ vừa qua đầu sừng phía Bắc. Họ bước vào một bãi đất phẳng thuôn dài giữa dãy đồi, giống như một đấu trường cổ, có những bậc thang.

Bellecontre đang đi trong bóng tối bỗng nhiên thấy bừng sáng. Đó là những quả pháo sáng quét màn đêm, quầng sáng màu vàng khiến cho cảnh vật có những đường nét kỳ lạ, viền một màu nâu ánh vàng. Bụi thường xuyên hầu như không ta bởi vì tiếng nổ của đạn pháo khi rơi xuống đất liên tục bốc bụi lên cao. Cho tới lúc này, Bellecontre vẫn chỉ nghe thấy những tiếng động mơ hồ. Anh có cảm giác như vừa mới đẩy một cánh cửa để lọt vào trung tâm đấu trường, vào địa ngục.

Không còn vấn đề gặp lại tiểu đoàn nữa, mặc dù đơn vị cũ chỉ cách đó có 200 mét, trên quả đồi trước mặt. Quá tầm vì không còn đủ sức leo lên.

Bellecontre đi dọc theo đường mòn, ngắm nhìn một vòm hàm ếch đào ở thành đất rồi ngã luôn vào đó. Số lính bị thương vẫn bám sát theo gót.

Lúc này, Bellecontre mới nhận thấy đã có tới một chục người khác ở trong hầm. Phần lớn là lính dù. Bellecontre không quen biết một ai vì đám lính này thuộc tiểu đoàn 6 do Bigeard chỉ huy. Một trung úy cao gầy đang gọi điện :

-   Alô ! Bruno đâu ? Herve đây. Rõ !

( Bruno là mật danh khi gọi điện của Bigeard. Herve là mật danh của trung úy Trapp, chỉ huy đại đội 2. Pierre là mật danh của Langlais)

Bellecontre nằm bệt ở một góc hầm. Anh cảm thấy lạc lõng giữa những người đang sẵn sàng chiến đấu. Một bàn tay nhẹ nhàng đặt trên vai Bellecontre. Ánh đèn bấm làm anh chói mắt. Một tiếng nói như rít lên :

-   Trời ơi, câu biến dạng nhiều quá.

Bị chói mắt, Bellecontre không trả lời. Tiếng nói tiếp tục :

-   Tôi là hạ sĩ trưởng Lecoq, y tá đại đội. Tình hình xấu lắm, anh biết rồi đấy. Tụi lính Maroc đã bỏ chạy khỏi Eliane 1 ở ngay trên đầu chúng ta, và hiện nay vị trí của lính Bảo an đang nhô ra phía trước. Không thể đưa anh về phía sau trước sáng mai được. Nếu ngày mai bao giờ cũng đến.

Vừa nói, Lecoq vừa vén tay áo vấy bẩn lên. Anh rửa cánh tay cho Bellecontre, thắt dây nịt cho mạch máu đen nổi lên :

-   Tôi tiêm cho anh một ống morphine để dịu cơn đau vừa mới tái phát. Rồi tiêm thêm một ống thuốc chống uốn ván nữa. Anh đừng lo ..

Bellecontre để yên cho người y tá làm việc. Đạn pháo vẫn nổ, mảnh đạn bay ào ào ngay trên đầu. Thỉnh thoảng, vách đất lại lở rơi xuống những người trong hầm vòm. Đôi lúc nghe thấy cả tiếng kêu thét, tiếng súng trường, tiếng lựu đạn. Và xa hơn nữa về phía Tây là tiếng súng của những khẩu pháo bắn trả từ phân khu Trung tâm. Bellecontre đã dịu cơn đau. Anh có cảm giác kỳ lạ, toàn thân chỉ còn như một chiếc nút chai nổi bồng bềnh trong bão lũ. Anh đã làm tất cả những gì cần phải làm. Anh có thể nghỉ ngơi.

Bên tai Bellecontre, các điện đài vẫn hoạt động. Những tiếng gọi, tiếng nói chen lẫn nhau, cắt ngang nhau.

-   Brunô đâu ? Pierre đây ! Việt Minh đã chiếm đỉnh đồi Eliane 2. Tôi đã gọi pháo bắn vào đó. Anh có thể tổ chức một cuộc phản kích được không ?

Những tiếng nói từ từ lọt vào tiềm thức của Bellecontre. Nếu Việt Minh chiếm được đỉnh đồi Eliane 2, có nghĩa là Điện Biên Phủ đã đi đứt ...

Trước mặt Bellecontre hiện ra một gương mặt quen thuộc. Đó là trung úy Bergot đã từng là chỉ huy của Bellecontre trong tiểu đoàn xung kích số 11. Bergot đang nói trong điện đài qua máy 694 nối liền với kênh pháo binh.

-   Zoulou Kilo 50. Rõ. Sẽ bắn một loạt đạn vào điểm Saxo 411.

Từ máy nói của Bergot, một tiếng kêu vọt ra :

-   Đừng bắn ! Đừng bắn ! Chúng tôi vẫn còn giữ được Eliane 2 ...

Trong hầm chỉ huy của  mình, trung tá Langlais không bắt được sóng điện đài pháo binh. Chỉ vài giây nữa, thảm họa sẽ diễn ra : quân Pháp bắn vào quân Pháp. Trung úy Trapp vội sử dụng luôn hệ thống điện đài của chính đơn vị mình :

-   Bruno đâu ? Herve đây ! Tôi vừa nghe đài « bạn » xác nhận vẫn còn giữ được Eliane 2.
-   « Bạn » nào ?
-   Trung úy Luciani thuộc tiểu đoàn lê dương số 1 đây.

Tiếng nói lanh lảnh cất lên rất rõ, không có vẻ gì đang trong tình trạng căng thẳng như mọi người đoán :

-   Yêu cầu bắn yểm hộ mặt Đông Nam ở bãi Champs Elysees.

Hệ thống thông tin đã được thiết lập qua đài 694 của Trapp. Có tiếng Bigeard rồi đột nhiên tiếng Langlais nói :

-   Pierre đây. Tôi muốn liên lạc với trung úy Luciani. Tôi đã hiểu rõ các anh. Bây giờ tôi sẽ đáp ứng yêu cầu của các anh. Cần gì cứ đề nghị. Anh được ưu tiên. Mật danh của anh là 100, của chúng tôi là « quân bạn ».

Trung sĩ Bellecontre không nghe được đoạn tiếp theo. Trong giọng nói của Langlais có thoáng qua một thứ lạc quan, một niềm hy vọng điên rồ. Bellecontre sau khi hiểu rằng Điện Biên Phủ chưa bị mất, đã lăn vào một góc hầm, chìm trong giấc ngủ dưới đôi cánh của liều thuốc morphine an thần.

Đã nửa đêm. Trên cứ điểm Eliane 2, lính lê dương và lính Maroc vẫn chiến đấu không ngừng. Họ đã chiến đấu suốt 7 tiếng đồng hồ.

Tại Eliane 2, tất cả mọi việc đã bắt đầu như trên mọi quả đòi khác bị các sư đoàn của tướng Giáp tiến công đồng loạt. Từ 5 giờ chiều pháo địch đang dội xuống Dominque cũng bắt đầy bắn phá các cứ điểm Eliane và các vị trí pháo, cối nặng, khu vực chỉ huy, các điểm ở bên ngoài trạm xá quân y. Từ giờ phút đó, từng vị trí , từng điểm tựa, từng lô cốt đều bị cô lập, phơi mình đơn độc trước làn pháo kéo dài của địch. Không còn vấn đề yêu cầu một sự giúp đỡ nào, một sự yểm trợ nào, dù nhỏ nhất. Mọi người đều phải tự xử, làm mồi cho sự sợ hãi, sự kích động và làm mồi cho thần chết.

Giờ phút khủng khiếp bắt đầu từ một sự hoang mang, một chút thiếu kiên định bởi vì mọi người đều nghĩ, cơn bão lửa sẽ ập xuống ngay đầu mình. Ngay từ quả pháo đầu tiên, mọi vật đã đen sẫm. Có những người nhắm nghiền mắt, có những người bịt chặt tai. Còn những người khác thì há hốc mồm, chờ đợi quả đạn nổ sẽ chấm dứt nỗi khắc khoải của họ và quét sạch mọi thứ. Thể xác trở nên nặng nề như đá tảng. Riêng cái bụng lại mềm nhũn, sôi ùng ục, thở phập phồng. Không phải đó là do sức bật của sự hưng phấn say sưa, mà trái lại, như có một cục gì đó đông đặc chèn lên phía trên dạ dày, dính chặt lấy cổ họng, bóp chặt hai thái dương. Mặt mũi tái mét, cặp mắt đờ đẫn, đám lính này bám vào vách đất rồi lại tự để rơi tuột xuống, đôi cẳng chân không giữ nổi thân hình nữa. Họ nhìn vào bàn tay, đôi tay trở nên nặng trĩu, sưng phồng, nhợt nhạt, nhẫy nhụa dính mồ hôi. Cái sợ dâng lên tận cổ như có một vật nóng, dính và mặn trong cuống họng.

Với những người đã trải qua thử thách này thì một trận pháo nện trên đầu là cả một cơn hấp hối dài. Không bao giờ người ta có thể quên được cảnh tượng này. Thử thách sau lại tồi tệ hơn thử thách trước, cứ y như một cảnh đầy đọa không ngừng. Cái chết giễu cợt, cười đùa, hành hạ cong người đang ngồi thụp dưới đất. Cái chết lướt nhẹ qua từng người sau mỗi tiếng nổ, như trả lời câu hỏi « Bao giờ đến lượt tôi ? ».

Cái chết đã quay ngoắt đi và cười. Tiếng pháo xa dần để rồi lại đến gần. Cái chết cũng quay trở lại cùng với đạn pháo. Nó len lỏi trong chiến hào, xé rách một ít quần áo, phả hơi thở và hất bụi đất vào mặt người. Thỉnh thoảng nó lại xé xác một người ngồi gần, vặt chân, vặt tay, moi ruột .. một cách rất ghê tởm.

Người nào dù thoát chết cũng vẫn không yên tâm. Không ai có thể an ủi được người khác vì không thể đảm bảo chút nào là cái chết không sờ đến họ. Và nếu hôm nay không chết, thì chỉ đơn giản có nghĩa là ngày mai, mọi việc lại tái diễn cho đến khi ... Bởi vì, cái chết của người khác là báo hiệu cái chết của chính mình.

Đại đội 1 lính dù lê dương tới Eliane 2 khi pháo địch bắt đầu bắn chuẩn bị. Tại đây, tình hình cũng diễn biến như đã xảy ra trên cứ điểm Dominique 1, binh lính đang rời bỏ vị trí vì nghĩ là thay quân. Nhưng nếu tại Dominique 1, Martinais chỉ có lính Bảo an và nếu lính Angiêri đã cản trở hoạt động của cánh quân tới thay thế, thì tại đây Luciani chỉ huy đơn vị lính dù lê dương đã chặn đứng được bọn lính Maroc yếu kém định tháo chạy.


Logged
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 505


« Trả lời #42 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2008, 03:24:05 pm »

Luciani biết rõ địa hình ở đây. Lần lượt các đơn vị lính dù thay phiên nhau bố trí những « cái chuông » ( Tức những tổ canh gác từ xa, gồm khoảng vài người, khi phát hiện Việt Minh tiến đến sẽ báo động) trên núi Hói, bên kia thung lũng rậm rạp dưới chân Champs Elysees, tạo thành một bãi phẳng kéo dài từ Elian 2 về phía Đông – Nam. Trước tiên, Luciani cẩn thận chiếm lĩnh lô cốt, khống chế bãi Champs Elysees, và giao lô cốt này cho Schmidt, một hạ sĩ chỉ có thể có trong binh đoàn lê dương, tức là rất kỷ luật tới mức kỳ cục.

-   Schdmit, giữ lô cốt này, không một lính Việt nào được tới gần.

Để có thể nghe được trong khi pháo bắn, Schdmit phải đứng thẳng người , hét rất to. Năm binh lính dưới quyền chỉ huy của Schdmit cũng không thể làm gì hơn là cùng đứng và nghe.

Được đảm bảo có những công sự kiên cố ở mặt sau, Luciani đã bố trí bốn trung đội chiếm lĩnh các điểm trọng yếu ngay dưới làn đạn pháo địch. Trung đội của Rolin đóng ở điểm cao chế ngự thung lũng, đối mặt với núi Hói. Lemahieu đóng quân dọc chiến hào phía trước lô cốt. Falsetti ở mặt Nam Champs Elysees. Lính lê dương cúi gập mình nhảy đi chiếm lĩnh các vị trí dưới pháo đạn, di chuyển dưới giao thông hào, đặt súng máy tại các ngã tư, ngăn không cho lính Maroc tháo chạy, từ khi chúng băng mình trên khoảng trống. Nhưng ai dám làm như vậy khi pháo đang bắn.

Ngồi trong những hố quá chật hẹp, mông chạm gót, đầu rụt xuống vai, mũ sắt úp chụp tận lông mày, lính bộ binh Maroc chỉ còn một cách là : ở lại đó !

Cũng như trận Dominique, tại đây Việt Minh tiến quân dưới làn đạn pháo cho tới cự ly xung phong và khi pháo ngừng bắn lập tức xông lên tiến công từ những chiến hào ở núi Hói, ngoằn ngoèo giữa đồng ruộng cho tới tận những lớp rào dây kẽm gai ở chân bãi Champs Elysees.

Thoạt đầu lính Maroc cũng định rút nhưng không được vì lính lê dương đã bịt các ngả đường, do đó, họ đành phải chiến đấu cùng với sự động viên của vài người lính lê dương bên cạnh, vì không còn cách nào khác.

Luciani chạy từ vị trí này sang vị trí khác. Ông đến mọi nơi. Ông nhìn mọi chỗ. Ông đặt vị trí chỉ huy tại hầm dinh thự của viên quan cai trị cũ, xây dựng như một hầm cố thủ bê-tông, là một kiểu nhà độc đáo ở Điện Biên Phủ, có cửa sắt chống lại được đạn pháo 105. Ông đã cải tạo nơi đây thành một pháo đài ngầm rất lợi hại. Chính trung đội dự bị cuối cùng do Dumont chỉ huy, một thiếu úy mới ra trận, đã liên tục tổ chức phản kích, xuất phát từ hầm ngầm cố thủ này.

Việt Minh tung một trung đoàn đầy đủ để đánh Eliane 2. Đó là trung đoàn 98. Để xông lên đỉnh đồi, ba ngàn bộ đội Việt Minh bắt buộc phải chen lấn nhau vì trận địa rất hẹp, chưa đầy 800 mét vuông. Bộ đội Việt Minh lúc nhúc xông lên, tiến công từ khắp các phía. Nhưng, phía tay phải vấp phải trung đội Rondin, nấp trong đống hoang tàn của pháo đài cũ đã đổ nát hoặc trong những mẩu chiến hào. Lính lê dương kêu ca vì không được ẩn nấp đầy đủ. Họ lấy những xác chết để đắp thành bờ lũy che chở.

Ở phía trái, dọc theo con đường mòn chạy dài như một vết bút vẽ lên tới đỉnh Eliane 2, Việt Minh vấp phải trung đội Falseti. Falsetti không phải là kẻ mới vào nghề. Vừa chỉ huy trung đội, ông vừa chỉnh đốn hỏa lực cho các khẩu cối 81 và 120 « bắn sát ria mép », như ông thường nói.

Và thế là Việt Minh phải rút lui. Bộ đội Việt Minh tập trung tại thung lũng giữa Eliane và núi Hói.

Đến 11 giờ đêm, trung đoàn 98 lại tiến công. Có lẽ, trung đoàn trưởng đơn vị này đã biết tin tất cả các mục tiêu khác đều đã đánh chiếm được, trừ mục tiêu dành cho trung đoàn 98. Ông ta muốn chứng minh tất cả quyết tâm, dũng cảm, ý chí của mình. Những đợt xung phong lại tiếp tục sau đợt pháo bắn mãnh liết. Từ núi Hói và núi Giả ở phía Bắc, những khẩu pháo không giật và khẩu cối của Việt Minh nã đạn vào đỉnh đồi Eliane 2. Chính cách đánh này đã tiêu diệt các ổ kháng cự của Beatrice và Gabrielle khi các vị trí chỉ huy trong cụm cứ điểm đã bị vô hiệu hóa.

Chung quanh Luciani đạn pháo rơi như mưa. Nhiều người gục ngã. Trước tiên là trung úy Nicod và một số lính bộ binh. Rồi đến Falsetti. Cuối cùng là Luciani. Ông bị trúng một mảnh đạn vào đầu. Rất nhanh chíng, chính xác, Wagenfuhr là y tá của đại đội 2 đã băng bó cho ông, quấn một cuộn băng qua trán khiến cho ông có vẻ như một tên cướp biển.

Giữa những tiếng lựu đạn nổ và tiếng súng máy, có cả những tiếng hô, tiếng thét rất gần. Bộ đội Việt Minh đã thâm nhập vào khoảng cách giữa các trung đội và đã tới vị trí của trung đội Falsetti. Nhảy từ hố này sang hố khác, tiến như cua bò, lính Việt Minh tuần tự quét sạch các ổ kháng cự và tiến dần lên tới các lô cốt trên đỉnh Eliane 2 ở cự ly có thể nghe thấy tiếng nói.

Chính trong lúc đó Luciani bắt được sóng điện yêu cầu pháo ở khu trung tâm bắn vào vị trí của ông.

Luciani rất bực tức. Chẳng lẽ Langlais lại thoáng có một giây nghĩ rằng đại đội 1 thuộc tiểu đoàn 1 lính dù lê dương lại rút khỏi vị trí chiến đấu hay sao ? Đây là một vấn đề thuộc lĩnh vực cá nhân, hay sự xúc phạm, một sự thách thức cần phải thanh toán. Trước mặt Luciani, vẫn là bóng hình của Schdmit đang nhảy từ ụ súng này sang ụ súng khác, trợ lực cho ổ kháng cự, tập hợp vài ba người lính để cố đánh bật địch ra khỏi vị trí. Ở phía tay phải Luciani, Lemahieu đã chậm chạp nhưng chắc chắn, đẩy lùi được Việt Minh ra khỏi vị trí của mình. Luciani ghi nhận tất cả, ghi nhớ từng tình huống một như đang diễu hành chậm rãi trước mắt. Đó là một sự nhìn nhận trong cơn ác mộng, trong ánh sáng vàng vọt của pháo sáng. Trên những sườn đồi, hàng trăm bộ đội Việt Minh vẫn đang xô dần lên như những đợt sóng. Ngay phía dưới, tại một nơi ô uế nhưng lại đặt tên là Champs Elysees có thể hình dung thấy cuộc chiến đấu giáp lá cà giữa lính lê dương với bộ đội Việt mInh, họ nã súng thẳng vào nhau ở cự ly gần, đâm chém nhau bằng dao găm, lưỡi lê, mắng chửi nhau ..

Đã hai lần, những đơn vị đi đầu của trung đoàn 98 tiến được tới đỉnh Eliane 2, cả hai lần đều bị đơn vị của Lemahieu đánh bật xuống khe núi. Thời gian lặng lẽ trôi. Luciani và binh lính của mình đã chiến đấu được năm giờ.

Thỉnh thoảng lại có một người lính bị thương dìu một người lính khác cũng bị thương đi qua. Tất cả bọn họ đều có bộ mặt dính đầy đất và máu, cử chỉ mơ hồ, cái nhìn ngây dại. Cũng thỉnh thoảng, từ cánh đồng dưới chân đồi lại xuất hiện những bóng người khác, còng lưng dưới sức nặng của các thùng đạn. Luciani khẽ mỉm cười. Đó là những viên phi hành của đại úy Charnod. Từ ngày những chiếc máy bay của họ bị phá hủy trên sân bay Điện Biên Phủ, những người này không còn việc gì để làm nữa. Và thế là, các phi công, hoa tiêu, thợ máy , lính bắn pháo sáng, nhân viên khí tượng đều lập tức hợp thành một đại đội phu khuân vác.

Charnod nói :

-   Khi có những người chiến đấu có hiệu quả như lính lê dương thì ít nhất họ cũng có quyền được có đạn.

Số người khuân vác này hoạt động trong hoàn cảnh ít được ẩn náu. Dưới làn đạn súng trường, súng máy và đạn pháo, họ phơi mình ở những khoảng trống trải, trên các lối đi ở Điện Biên Phủ. Họ vượt sông Nậm Rốm, đi dọc theo con đường mòn đất trắng lên đến tận đỉnh Eliane, nặng trĩu các hòm đạn vác trên vai hoặc treo ở đầu gậy. Họ cũng rách rưới bẩn thỉu như những lính dù, thường chỉ mặc một chiếc quần cộc và một chiếc áo sơ-mi rách tả tơi. Một số người bị thương, cẳng chân bê bết bùn và máu.

Dĩ nhiên, không gì bắt buộc họ hoàn thành những công việc này. Trong mọi trường hợp, cũng không ai ngăn cản được họ.

Đã hai giờ sáng, Việt Minh vẫn tiến công. Ý chí quyết thắng giúp họ vượt qua tất cả mọi sự suy yếu. Họ phải chiếm bằng được Eliane 2, điểm tựa quái lạ, nhỏ nhất, bé nhất, trước khi trời sáng. Phải cố chiếm. Họ đã hứa với cấp trên như vậy. Và thế là, liên tục không ngừng, như một guồng nước không gì ngăn cản được, họ trèo lên, trèo lên nữa, kiên quyết, vượt qua mọi trở ngại, đi vòng, tiến thẳng, chiếm lĩnh một mét, hai mét đất. Có những người ngã xuống. Những người khác vượt lên, nhặt khẩu súng đồng đội bỏ lại, giương súng tiểu liên, ném quả lựu đạn, gặm nhấm dần các vị trí của đại đội 1, đánh bật những gì còn lại của đám lính Maroc đang bám vào vị trí, bị kích động bởi các mệnh lệnh của Nicolas là người chỉ huy vẫn đang giữ vững vị trí liên tục thúc đẩy họ chiến đấu.

Nhưng, còn có thể làm gì được để chống lại sự  năng nổ, quyết tâm của Việt Minh ? Không có một pháo đài nào có thể gọi là bất khả xâm phạm khi họ quyết tâm đánh chiếm bằng mọi giá. Có thể trước khi trời sáng trung đoàn 98  Việt Minh sẽ phải hy sinh, nhưng họ vẫn sẽ chiếm được Eliane 2.

Cả Nicolas lẫn Luciani đều hiểu điều đó. Hai người tức giận đầy ruột, quyết không lùi bước. Họ ở lại vị trí chiến đấu với một quyết tâm ít nhất cũng ngang kẻ địch. Ở thế cân bằng này, cả hai bên đều bị thương vong ghê gớm. Lính Maroc, lính lê dương gục ngã ngay trên xác địch. Những viên đạn vẫn còn liên tiếp bắn vào những xác chết của cả hai bên, rất điên cuống, phát ra tiếng nổ hút hồn. Máu tuôn trào từ những vết thương mới. Không khí đắc sệt mùi thuốc đạn và xác chết.

Đột nhiên, tình hình lắng dịu. Sức ép của địch có vẻ giảm. Luciani nói :

-   Việt Minh đã đụng vào một vật rắn như xương.

Nhưng không phải là « một khúc xương ». Mười phút trước, hai đại đội lính dù đã tới trận địa. Ở mặt Bắc là đại đội Le Boudec của tiểu đoàn dù xung kích số 6 do Bigeard chỉ huy. Ở mặt Nam, là hai đại đội thuộc tiểu đoàn dù lê dương của Loulou Martin. Lính dù thuộc địa và lính dù lê dương thi nhau trổ tài gan góc. Họ không nghĩ đến chuyện dùng mưu kế. Họ chống chọi với những đợt tiến công đầu tiên của địch theo kiểu chơi bóng. Cuộc đụng độ thật kinh khủng. Các sườn đồi, các chiến hào, một lần nữa tràn ngập các chiến binh vật lộn với nhau.

Mọi thứ đối với họ đều tốt và một khi không còn vũ khí nữa họ đánh nhau bằng tay trần. Mọi người nhìn thấy rõ một lính Việt Minh xông lên, giơ hai bàn tay về phía trước, sẵn sàng bóp cổ đối phương. Nhưng anh ta đã vấp phải một lính Pháp biết võ Judo. Cũng nhìn thấy rõ một "bộ đội"  một tay cầm súng cắm lưỡi lê, tay kia giơ quả lựu đạn ngăn cản đối thủ bỏ chạy.

Không phải sự hằn thù đã đẩy những người này bắn giết nhau. Sự hằn thù là một thứ tình cảm đã trôi qua, không còn ở lại Eliane 2, và lúc này chỉ còn lại một hình thức tôn trọng danh dự nào đó. Bởi vì nếu là hằn thù thì trong hằn thù thường xuất hiện cả sự sợ hãi đối thủ, mà sự sợ hãi thì từ lâu đã không tồn tại trong những chiến binh. Tính mạng của họ lúc này quá đơn giản để có thể biểu lộ một chút tình cảm tâm hồn.

Và sau đó, chỉ sau đó mới rõ ...
Logged
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 505


« Trả lời #43 vào lúc: 26 Tháng Hai, 2008, 11:29:13 am »

HUGUETTE 7
Từ 30 đến 31 tháng 3 năm 1954


-   Hugette bị tiến đánh. Đề nghị cứu viện ngay lập tức.

Trong loa phóng thanh, tiếng nói của thiếu tá Clémenson cố làm ra vẻ bình tĩnh, nhưng Bertin Dubois là người có trách nhiệm ghi và truyền điện, vẫn nhận thấy sự lo ngại. Huguette 7 là điểm tựa xa nhất ở phía Tây Nam, nằm đúng ở đầu trục đường đối diện với Eliane 2. Từ 19 giờ ngày 30 tháng 3, cùng một lúc với hai sư đoàn 312 và 316, sư đoàn 308 cũng xuất phát tiến đánh « điểm tựa hình ngôi sao » do đại đội 1 lính dù Bảo an vừa mới tới đóng giữ được mười lăm ngày.

Huguette 7 bị mất, có nghĩa là đường băng sân bay sẽ bị trực tiếp đe dọa, ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc thả dù.

Berin Dubois đã truyền đi bức điện với dạng tuyệt mật nhằm gây sự chú ý của sĩ quan phụ trách điện đài trong cơ quan chỉ huy của Langlais đang duy trì liên lạc thường trực với Luciani ở Elian 2. Từng phút một , điện đài báo cáo diễn biến tình hình. Trước đó ít phút, tình hình rất nghiêm trọng. Hiện nay, tình hình đang ổn định.

Langlais có gương mặt căng thẳng, cằm vênh lên như một hòn đá, mắt sáng quắc, môi trề xuống lộ vẻ mệt mỏi. Ông sống ở đây cùng với lính dù. Mọi người nhận thấy rõ ông sốt ruột, tiếc nuối không được cùng với đám lính tiền tiêu mũi nhọn chiến đấu với những bộ đội Việt Minh đang liều mạng tiến lên dốc núi.

Ông bất chợt nhận được tín hiệu của Dubois, do sĩ quan tùy tùng nhắc lại. Ông giơ tay ra lệnh cho mọi người im lặng để nghe điện.

-   Báo cáo trung tá, đây là điện của thiếu tá Clémenson báo cáo tin Huguette 7 đang bị uy hiếp mạnh, đề nghị cứu viện khẩn cấp.

Langlais thoáng bộc lộ một nhét nóng nảy. Sao lại đòi cứu viện trong lúc này, khi mặt Đông cũng đang bị tiến công mạnh. Ông cầm lấy hệ thống thu phát, nói bằng một giọng nói khó chịu như không muốn tranh luận :

-   Pierre đây ! Không có chuyện tăng viện cho các anh. Tự giải quyết lấy. Hết !

Clémeson đành chấp nhận. Ông không nói một câu nào phản kháng. Ông cũng đã nghe tin tình hình chiến sự ác liệt các nơi qua điện đài và biết rõ những gì đã xảy ra trên đồi Eliane 2. Đây là vị trí được ưu tiên, không thể bỏ rơi.

-   Alô ! Huguette 7 đâu ?

Đại úy Bizard lại treo ống nói vào hệ thống điện đài. Cả ông nữa, cũng không bàn thêm một lời nào. Ông mới tới thay trung úy Rondeaux chỉ huy đại đội 1 lính Bảo an được ba ngày tại cứ điểm nổi tiếng mang tên « điểm tựa hình ngôi sao ». Cách đây một tháng ông hãy còn ở Pháp làm sĩ quan tùy tùng cho tướng Ely. Ông đến Đông Dương công tác lần này là nhiệm kỳ thứ ba. Khi nghe tin Điện Biên Phủ bị tiến công, ông đề nghị được lên đó chỉ huy một đơn vị lính dù và được trả lời :

-   Nhưng mà anh không có bằng tốt nghiệp nhảy dù !

Bizard mỉm cười. Khi ông mỉm cười tức là ông đã hạ quyết tâm. Ông nói :

-   Nhưng mà tôi là một kỵ binh. Mà đối với người lính cưỡi ngựa thì có thể xông xáo mọi chỗ.

Chỉ vài ngày, Bizard đã học xong phần lý thuyết sơ bộ. Chưa đầy một tuần, ông thực hiện sáu lần nhảy thực hành. Lần nhảy thứ bảy, vào ngày 28 tháng 3, là lần nhảy xuống Điện Biên Phủ.

Bắt đầu từ ngày hôm đó, Bizard chỉ huy cứ điểm Huguette 7.

Xẩm tối bắt đầu bùng nổ cuộc tiến công đầu tiên của Việt Minh.

Lợi thế duy nhất của điểm tựa là Việt Minh chưa hoàn toàn biết rõ tình hình thực địa nên đã tập trung nỗ lực vào việc đánh chiếm lô cốt nằm ở mặt Đông Bắc. Đó là nơi Bizard bố trí trung đội thiện chiến nhất, do thiếu úy Thélot chỉ huy.

Một quả đạn súng không giật 75mm bắn thẳng xuyên lô cốt đã giết chết người sĩ quan tre tuổi này ngay từ đầu cuộc chiến. Trung sĩ Cloitre là trung đội phó cũng bị chết. Suốt 8 giờ sau đó trung đội lính Bảo an đặt dưới ự chỉ huy của Tournayre, người nhỏ bé nhưng lại là một hạ sĩ quan lớn. Qua điện đài, Bizard chỉ thụ cho Tournayre :

-   Nếu không giữ được thì rút về lô cốt trung tâm. Sáng mai sẽ có phản kích.

Tournayre đáp :

-   Không thành vấn đề ! Nếu chúng tôi rút, Việt Minh sẽ chia cắt chúng ta. Địch đang ở ngay trên bờ các chiến hào.

Sau đó, Tournayre bám chặt lấy mảnh đất nhỏ của mình. Và Việt Minh cũng quyết tâm đánh chiếm lô cốt. Nhưng đến sáng, địch bắt buộc phải rút do pháo từ phân khu Trung tâm bắn chặn quyết liệt ngay sát hầm cố thủ của Tournayre.

Suốt ngày 31 tháng 3 đến lượt pháo Việt Minh bắn giã giò lô cố do Tournayre chỉ huy. Đến đêm xuất hiện bóng hình những « bộ đội » tại các chiến hào lân cận, chuẩn bị xung phong.

Tiếng nói của đại úy Bizard lại vang lên trong máy :

-   Không thể chống lại cách đánh này của Việt Minh lần thứ hai đâu. Bây giờ là mệnh lệnh. Nghe đây. Anh phải rút. Nhưng mà rút im lặng, bình tĩnh.

Như đã dự kiến, các trung đội xung phong của đại đoàn 308 tràn vào các chiến hào lúc 21 giờ sau khi pháo nặng của Việt Minh đã bắn phá suốt hai giờ từng thước đất của vị trí đã rút bỏ.

Và đúng lúc đó xảy ra một điều kỳ diệu. Việt Minh ngỡ rằng sẽ vấp phải một sức kháng cự mãnh liệt ngăn chặn như đêm trước. Nhưng cuộc tiến công của họ lần này đã rơi vào một khoảng trống rỗng. Bộ đội Việt Minh sau khi chiếm được lô cốt đã bỏ thõng tay lững thững đi quanh vị trí như đi dạo.

Đúng thời điểm đó. Bizard mỉm cười, bật đèn xanh cho pháo 105 và cối 120 của phân khu Trung tâm bắn dồn dập vào pháo đài mặt Đông Bắc của Huguette 7. Trung úy pháo binh Lépinay trả lời :

-   Ông đừng lo ngại. Chúng tôi sẽ bắn đúng qui cách và rất trúng mục tiêu.

Trong hầm chỉ huy lúc này, các điện đài của Bizard cùng bắt được các làn sóng điện của địch : Bizard lại mỉm cười khi nhận được những thông tin cho biết Việt Minh không có phản ứng chống cự và càng bất ngờ khi đạn pháo rơi xuống đầu.

Đến rạng sáng, Bizard sau khi lặng lẽ tập hợp binh lực đã ra lệnh phản kích. Toàn đại đội chỉ còn lại có 90 người, chống lại 800 quân trong những lớp rào dây thép gai, dưới làn đạn pháo 155 của trung úy Constantin.

Được tin này, trung tá Langlais rất ngạc nhiên. Ông đã gạch tiên Huguette 7 trên bản đồ vì không tin vào đám lính Bảo an cũng như người chỉ huy trẻ mới có 27 tuổi cách đây chưa tròn một tháng còn chưa có kinh nghiệm gì về nhảy dù. Ông nghĩ :

- Anh chàng chỉ huy này xứng đáng được nghỉ ngơi. Và phải điều động anh ta về binh đoàn lê dương.

Logged
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 505


« Trả lời #44 vào lúc: 28 Tháng Hai, 2008, 10:56:37 am »

QUẢ ĐỒI THỨ 5
Từ 31 tháng 3 đến 4 tháng 4 năm 1954

Trời còn sáng không ? Hay đã đến đêm rồi ? Mọi người hình thù đều giống nhay. Ánh sáng ban mai vàng úa hiện ra dưới vòm trời nặng trĩu mưa và nặng trĩu những mối đe dọa. Khói và bụi càng làm cho ánh sáng ban ngày mờ nhạt hơn nữa. Ánh sáng vàng vọt của những quả pháo sáng treo lơ lửng đầu dây dù đã quét sạch bóng đêm. Về thực chất, đêm hay ngày cũng có gì khác nhau đâu ? Những người trên đồi Eliane 2 đã chiến đấu liên tục suốt 30 giờ rồi.

Từ rạng đông ngày 31 tháng 3 Langlais và Bigeard đã thử chiếm lại các vị trí Dominique 2 và Eliane 1 trong khi cố giữ Eliane 2.

Tiểu đoàn dù xung kích số 8 dẫn đầu cánh quân phản kích buổi trưa đã tới được đỉnh núi màu nâu của Dominique 2. Pichelin chỉ huy đại đội 2 vấp phải một tiểu đoàn Việt Minh đang chiếm lĩnh những lô cốt cũ của lính Angiêri và đã đánh lui được địch. Nhưng pháo Việt Minh lập tức trả đũa ; toàn bộ đại đội 2 của Pichelin chìm ngập trong đám khói màu đỏ của những tiếng nổ. Những binh lính còn sống sót bàng hoàng khiếp sợ chỉ còn biết kéo thân hình đẫm máu của đại úy Pichelin ra khỏi đống hoang tàn. Vài phút sau, thiếu úy Pastor lên thay đại úy Pichelin cũng tử trận.

Tại Eliane 1, đại đội Trapp thuộc tiểu đoàn dù thuộc địa số 6 nhờ pháo binh và máy bay Bearcat yểm trợ đắc lực đã chiếm được đỉnh đồi. Nhưng tại đây địch vẫn chống lại quyết liệt : Bigeard liên tục nhận được những điện báo lo ngại :

-   Chúng tôi đã chiếm lại được cao điểm. Nhưng nếu không có quân tăng viện thì không thể nào giữ được.

Tại Dominique 2 và Eliane 1 số thương vong rất lớn. Hai đại đội cố bám giữ trong khi số quân cứ hao hụt dần. Bigeard hỏi Langlais. Langlais quay lại gọi điện cho Castries và được trả lời :

-   Hà Nội đã hứa trong ngày mai sẽ tăng viện thêm tiểu đoàn 2 thuộc trung đoàn dù thuộc địa số 1. Cố gắng giữ cho tới khi đơn vị dù của Bréchignac tới.

Nhưng thời gian cứ trôi qua mà tiểu đoàn 2 thuộc trung đoàn dù thuộc địa số 1 vẫn không nhảy xuống. Một chiếc Dakota liều mạng vừa thò mũi hướng về phía đường băng đã bị trúng đạn cao xạ, phải khó nhọc lắm mới bay về được sân bay Bạch Mai.

Đến 2 giờ chiều, Langlais gọi cho Bigeard :

-   Bréchignac không tới đâu. Tiểu đoàn dù số 2 bị giữ lại ở Hà Nội.

Số phận những trận phản kích thế là đã định đoạt. Hồi 15 giờ, Bigeard ngán ngẩm truyền lệnh cho tiểu đoàn dù xung kích số 8 và tiểu đoàn dù thuộc địa số 6 rút lui. Đồng thời còn phải tiến hành một hoạt động biệt kích để giải vây cho Dominique 5, một vị trí nhỏ nằm giữa Dominique 2 và Eliane 1. Cứ điểm này do lính Thái đóng giữ, dưới sự chỉ huy của thiếu tá La Malène đã một mình cầm cự từ đêm hôm trước đến tối hôm sau như một đảo nhỏ giữa cơn lũ tan băng.

Chỉ còn lại có Eliane 2 vẫn chiến đấu không nghỉ. Tới mức này, một cuộc giao tranh quyết liệt có thể tan biến không còn ý nghĩa. Đây là một trận địa hẹp nhất – chưa đầy 2 hecta- nhỏ nhất – chỉ cao hơn mặt ruộng 40 mét – ít quan trọng  nhất đối với sự sống còn của Điện Biên Phủ vì quả đồi này chỉ án ngữ một phần mặt phía Nam. Vật thì tại sao cứ cố giữ ?

Có lẽ, bởi vì Bigeard muốn Eliane 2 là một biểu tượng của tinh thần kháng cự. Đơn giản, ở đây chỉ có một đám người gồm lính dù lê dương, lính chiến Maroc, lính bộ lê dương của bán lữ đoàn 13 đã chống lại được quân địch đông gấp năm, gấp mười lần.

Khi Langlais tuyên bố cho Bigeard toàn quyền quyết định việc rút hay không rút khỏi điểm tựa cuối cùng này, Bigeard đã đáp lại bằng một giọng kiên quyết :

-   Thưa trung tá, chừng nào chúng tôi còn một người sống sót, chúng tôi sẽ không rời bỏ Eliane 2.

Phải chăng tuyên bố công khai mà không dùng mật ãm qua hệ thống truyền tin, Bigeard muốn thông báo cho Việt Minh biết quyết tâm của mình ? Có thể như vậy. Tất cả những chiến binh phòng ngự trong đó có Luciani tới lúc này vẫn là linh hồn của sức kháng cự, từ chối rút lui, khi bắt được làn sóng điện có lời nói này đều khẽ mỉm cười. Họ biết, có ai đó đã thấu hiểu hành động của họ.

Bộ đội Việt Minh reo hò đắc thắng khi lại chiếm được Dominique 2 và Eliane 1. Họ vừa hò hét vừa xông lên đồi Eliane 2. Từ 18 giờ ngày 30 tháng 3, các tiểu đoàn Việt Minh vẫn nối tiếp nhau theo một kịch bản không thay đổi. Họ tiến theo các giao thông hào, đi ngược lên đỉnh đồi trong khi đồng đội từ trên cao rút xuống. Họ vượt qua bờ lũy lởm chởm lớp rào dây thép gai đã bị pháo bắn đứt đoạn, tiến đến bãi Champs Elysees. Họ dẫm chân tới mắt cá lớp bùn đất đen sạm, nổi bọt, lúc nhúc đàn nhặng xanh. Họ cố chạy vọt qua những chiến hào bờ đất đã sụt lở chẳng còn tác dụng bảo vệ cho ai được nữa. Rồi họ cũng tới được những bức tường đá bao bọ vành ngoài dinh thự cũ. Đối với Việt Minh, Eliane 2 là « quả đồi thứ 5 » và ba phần tư đã thuộc về họ.

Nhưng mỗi lần như vậy, đám lính phòng ngự quần áo rách nát tả tơi lại rú lên như đàn chó sói, đứng lên phản công Việt Minh, đẩy họ xuống khe núi.

Từ khu trung tâm, Langlais đã huy động tất cả lực lượng dữ trữ. Không có nhiều. Hai trong số các tiểu đoàn cơ động đang phản kích tại các quả đồi khác. Chỉ còn lại tiểu đoàn dù lê dương và một tiểu đoàn thuộc bán lữ đoàn 13. Hai đơn vị này đang đóng quân trên một mảnh đất vuông, mỗi cạnh chỉ vào khoảng một trăm mét hiện đang bị uy hiếp mạnh.

Dĩ nhiên, qua các thông báo thì cuộc chiến vẫn có vẻ kết hợp chặt chẽ với nhau, các mệnh lệnh đều rõ ràng. Sau này, những nhà chiến lược, chiến thuật có thể căn cứ vào đó để dựng lại quá trình diễn biến. Nhưng trên thực tế, mọi chuyện đều khác. Eliane 3 là một cái nồi nẩu xà phòng, trong đó các đơn vị tan rã rồi lại tập hợp. Binh lính chiến đấu không có lệnh, đôi khi không có cả chỉ huy, để giành lại một bờ tường, một cái hố đạn pháo đã đầy xác chết. Mọi thứ đều được tận dụng để ẩn nấp, để bắn, để đứng lên cầm vũ khí trong tay cố ngăn chặn Việt Minh đang liên tục xông lên như những đợt sóng không ngừng.

Những lính Pháp chỉ nhận ra nhau qua tiếng nói. Họ gọi nhau, cổ vũ nhau, cho nhau những lời khuyên. Họ báo động cho nhau, chỉ cho nhau biết rõ những mục tiêu, bảo nhau chú ý tới những nguy hiểm đang lướt tới.

Những người chiến đấu đơn độc kêu gọi viện binh. Những người khác cống hiến sự giúp đỡ.

-   Tớ còn một trọng liên đây !
-   Lại đây !

Đại úy Russeil được lệnh chỉ huy lữ đoàn lê dương số 13 tiến lên Eliane 2. Ông ngồi trong hầm ngầm bê tông trên đỉnh đồi. Loáng một cái, ông đã mất hút các đại đội của mình. Những đơn vị này đang chìm ngập trong cuộc chiến hỗn loạn, mỗi đại đội chiến đấu ở một nơi, như lính cứu hỏa phải cùng một lúc đương đầu với một loạt đám cháy ở nhiều nơi.

Bên cạnh Russeil là Giovani Guezi phụ trách liên lạc với trung tâm và với các đơn vị trực thuộc. Đến 8 giờ tối, Russeil muốn đi kiểm tra các vị trí. Ông vừa mới thò mũi ra ngoài đã nghe thấy một tiếng quát :

-   Achtung mortiers ! ( Tiếng Đức, có nghĩa là : Chú ý, súng cối bắn đấy )

Các tuyến phòng ngự của Pháp bị xóa mờ trong dòng thác bùn đất và khói lửa. Những quả đạn cối rơi như mưa, tung ra những mảnh đạn chết người trong luồng ánh sáng màu da cam.

Guenzi đã nghe thấy tiếng réo quen thuộc của quả đạn. Anh vẫn không rời vị trí, nhưng nhào xuống tìm một chỗ ẩn nấp ở bất cứ chỗ nào. Tiếng nổ đinh tai nhức óc hất tung Guenzi, người phủ đầy gạch vụn có dính một chất nhầy nhụa và ấm. Anh nghĩ “Mình bị thương mất rồi !”.

Anh sờ lên người xem có lỗ thủng nào trên bộ đồ ra trận không, nhưng chỉ thấy vài chỗ rách không đáng báo động. Rồi anh chợt hiểu ra. Tất cả chất màu đó là của đại úy chỉ huy đang tan xác, nằm bên cạnh. Chợt Guenzi cảm thấy không có gì quan trọng. Anh đã vượt qua nỗi sợ. Bản thân anh lúc này cũng không đáng kể. Trong đầu óc anh chỉ vang lên một câu “ Trong binh đoàn lê dương, bao giờ cũng phải mang xác chỉ huy về”.

Đó là một câu châm ngôn mà các hạ sĩ quan huấn luyện viên đã nhồi nhét cho anh học thuộc lòng tại trường Cao đẳng quân sự ở Saida. Câu ngắn gọn này quay cuồng liên tục không ngừng trong đầu Guenzi, chỉ cho anh biết điều lệ, đọc cho anh rõ thái độ cư xử. Anh vụt đứng dậy, và vẫn đứng thẳng người khi nhìn thấy bộ đội Việt Minh ngay trước mặt đang nã súng máy vào mảnh tường bê tông bên cạnh. Anh cúi xuống, cởi chiếc áo trận đã rách và nhuốm máu, gói xác đại úy Russeil trong đó, vác xác lên vai rồi nặng nề bước về tuyến sau.

Dọc đường, Guenzi gặp những lính dù đang tiến ngược lên phía đỉnh núi. Những lính bị thương từ phía sau, người nọ dìu người kia cũng đã vượt qua Guenzi, đi về phía đường cái. Cảnh tượng kẻ lên người xuống, lượn vòng vèo như một vũ khúc ba lê dưới ánh sáng vàng nhạt của pháo sáng.

Guenzi đã tới chân đồi Eliane 2. Anh chui vào một hầm hàm ếch trống rỗng, đặt gói nặng trên vai xuống, phủ lên một mảnh vải bạt. Rồi anh do dự, lúng túng. Không có chỉ huy, điện đài cũng chẳng dùng làm gì được.

Có một bóng người tiến lại gần. Đó là một lính dù Bảo an, nói bằng một thứ tiếng Pháp ngô nghê, sai văn phạm :

-   Sếp ! Sếp đấy à ? Có cách đi cùng tôi ? Tôi tìm thấy, đã có một cối 60. Có thể bắn. Nhưng tôi không biết bắn tốt.

Guenzi đã leo lên đỉnh Eliane. Sau đó, không còn biết gì nữa. Có quá nhiều tiếng nổ, quá nhiều xác chết và thời gian cũng đã trôi đi quá nhiều. Đang còn đêm hay đã ban ngày, điều đó không quan trọng. Anh ngồi trong một cái hố, bất giác nạp đạn vào nòng cối như một cái máy. Người lính Bảo an đưa ông lên đây đã chết, mà cũng chẳng biết chết vào lúc nào. Một người lính Maroc tới thay thế. Rồi một lính Thái.

Một lát sau, có một người nào đó đặt tay lên vai Guenzi :

-   Thôi, đừng bắn nữa. Việt Minh rút rồi !

Câu nói đó làm Guenzi bừng tỉnh. Anh đứng dậy, đến lúc đó mới sực nhớ xác đại úy chỉ huy vẫn còn để lại trong hàm ếch bên kia cao điểm. Anh đi thẳng về tận sở chỉ huy tiểu đoàn ở tít phía xa, bên kia sông Nậm Rốm.

Cho mãi tới lúc đó Guenzi mới đi tới trạm xá quân y với 12 vết thương trong người.

Giữa nửa đêm, trung sĩ Preignon được lệnh đưa trung đội vũ khí nặng của tiểu đoàn dù xung kích số 8 lên Eliane. Đại úy Tourret ngồi trong hầm ngầm lập tức đặt Preignon dưới sự chỉ huy của trung úy Luciani :

-   Đi về phía trái ! Anh có nhiệm vụ bắn chặn, phong tỏa thung lũng giữa “núi Hói” và bãi “Champs Elysees”.

Preignon ra đi. Ông bò sát mặt đất, kéo theo một khẩu 57 và một lính lê dương làm nhiệm vụ tiếp đạn đã bị thương.

Trong bóng tối của giao thông hào, Preignon vấp phải một tiểu đội lính Bảo an thuộc tiểu đoàn 6, nói bằng một thứ tiếng Pháp pha trộn tiếng Việt :

-   Sếp ơi! Việt Minh nhiều lắm. Bọn ở đây chết cả rồi. Nhưng chúng mình chưa có cách chết.

Theo phản xạ thần kinh, Preignon phá ra cười. Hình như chưa bao giờ ông nghe thấy một câu nói ngộ nghĩnh như thế này.

Những tiếng kêu, những tiếng nổ, những tiếng đạn vẫn luôn luôn không ngớt. Ánh sáng giả tạo của pháo sáng cũng luôn luôn chiếu, khiến cho gương mặt người sống biến thành người đã chết. Gạch vụn và những mẩu thịt rơi như mưa. Những mảnh đạn rơi xuống đất cùng với những sỏi trên mặt cát. Tất cả hòa trộn với nhau. Tất cả xô đẩy, chen lấn nhau. Đất rùng mình vì những cơn co giật. Khi pháo sáng tắt, đỉnh đồi Eliane hình như nhô cao hơn.

Trong một đầu hào, Preignon vấp phải một thân hình nằm thẳng cẳng. Đó là một trung sĩ dù. Anh ta bị thương vào đùi, chỉ còn lại hai mẩu cụt, máu tuôn ra như suối.

-   Tôi sẽ gọi ý tá. Cáng thương đâu ! Phải đưa cậu về phía sau.
-   Để tôi yên. Tôi cóc cần !

Preignon bước đi, súng cầm tay. Ông chạy chúi đầu về phía trước. Phía bên trái có những bóng người hò hét. Một luồng đạn trọng liên kéo dài vang bên tai ông. Có tiếng gọi :

-   Lại đây ! Trời ơi ! Nó bắn ..

Preignon chạy ngoằn ngoèo. Chạy đi đâu ? Núp ở đâu ? Đây là quân bạn ? Hay là quân thù ? Tất cả cứ hòa trộn vào nhau. Tiếng kêu gọi xung phong của Việt Minh chen lẫn tiếng hò hét của lính lê dương và tiếng lựu đạn nổ.

-   Thế nào Preignon ? Loạn xà ngầu, hả ?
-   Có lẽ , đúng
-   Đừng lo, tớ đi tìm xe tăng đến cứu viện.


Logged
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 505


« Trả lời #45 vào lúc: 28 Tháng Hai, 2008, 10:58:02 am »

Người vừa nói lại cắm đầu chạy. Nhưng Preignon đã kịp nhận ra đó là trung sĩ Zurell thuộc đại đội 4 tiểu đoàn dù lê dương. Zurell leo qua các bờ đường băng, phóng ra tận đường cái rồi vừa gọi to, vừa ra hiệu bằng tay để các xe tăng Shaffee từ khu trung tâm Điện Biên Phủ tới tham gia cuộc chiến đấu.

Trung sĩ Willer nổ máy chiếc xe tăng Smolensk, tiến theo tiếng gọi. Trung sĩ nói to, hỏi Zurell :

-   Đi về hướng nào ?
-   Phía đỉnh núi !

Zurell giơ tay chỉ mỏm đồi Eliane 2, như một chóp nón đen sẫm trên nền đỏ trang trí.

Chiếc xe tăng thứ ba cũng đã tới. Đứng trong tháp pháo, nắp thép bật về phía sau, thượng sĩ nhất từ chiếc Bazeilles hỏi to :

-   Đang đánh nhau ở đâu ?

Zurell chỉ nghe loáng thoáng được mấy âm tiết của chữ « u », chữ « ai ». Nhưng bây giờ không phải lúc học cách tập đọc. Ông trả lời :

-   Theo tôi !

Rồi Zurell chạy trước, như đang bị các khối khổng lồ của chiếc xe tăng Shaffee đẩy ở phía sau, leo lên sườn phía Tây Eliane 2, con đường mòn đã tới đoạn cuối. Phía bên kia là khe núi có đoạn tường bằng đá, Carrette nhô người lên, hỏi :

-   Thế Việt Minh đâu ? Không nhìn thấy gì cả !

Zurell phá lên cười. Không nhìn thấy Việt Minh quả là chuyện khôi hài vì bộ đội Việt Minh đang chen chúc.

-   Chúc nòng pháo xuống thật thấp, bắn vào đám đông..

Carrette vẫn do dự. Ở góc độ nào cũng bị khói đen che phủ, tầm nhìn của Carrette không vượt quá đầu nòng pháo 75 trên xe tăng.

Zurell nhảy lên xe tăng, cúi xuống Carrettte, giơ tay chỉ về phía dưới thấp. Cách đó khoảng mười lăm nét, những tia lửa chứng minh có một khẩu súng trọng liên. Liền theo đó, những mảnh đạn đập vào vỏ thép xe tăng với những tiếng kêu liên tiếp. Carrette reo to một tiếng, rồi thụt vào trong xe tăng, đậy nắp lại.

Trung sĩ nhất Novak xuất hiện phía sau chiếc xe Bazeilles, thích thú nhìn thấy Zurell đang múa tay trên chiếc xe tăng. Zurell nhún vai, nắm lấy hai tay cầm của khẩu trọng iên 12,7 đang không có người điều khiển ở bên cạnh tháp pháo. Ông dùng khuỷu tay hất cằm điều khiển, xoay nòng pháo về phía khe núi rồi gọi Novak :

-   Lại giúp mình một tay.

Novak trèo lên xe, giương súng cacbin tỳ vào vai bắn liên tiếp từng băng đạn một , trong khi Zurell lia những làn đạn trọng liên kéo dài nhằm thanh toàn khẩu súng máy của địch. Vừa bắn, Novak vừa hướng dẫn Zurell :

-   Thấp nữa. Sang trái – Thế ! Tốt !

Khẩu 12,7 khạc đạn năm phát một, luồng lửa đỏ kéo dài giúp Zurell điểu chỉnh hỏa lực. Thỉnh thoảng lại có những viên bật lên trời như pháo hoa. Việt Minh đã hiểu rõ nguy cơ từ hai người đứng trên xe tăng in rõ hình bóng trên nền trời ảm đạm, bắn lại mãnh liệt nhưng đạn của họ chỉ bập vào vỏ xe tăng, phát ra những tiếng động.

Zurell văng ra một câu chửi. Novak tiếp theo. Chợt khẩu súng Việt Minh bị trúng đạn. Lính bắn súng bị chết. Nòng súng từ từ vươn lên trời.

Zurell định reo một tiếng « hua-ra » đắc thắng. Ông mở to mồm, nhưng không nói, mà cũng không khép miệng lại. Chỉ cách mặt Zurell có vài centime, một luồng đỏ, to như bàn tay, vừa mới lướt qua, réo lên trong không khí bị dồn ép. Zurell có cảm giác như được nhìn thấy một ngôi sao chổi bay gần, nóng bỏng. Ông chưa kịp định thần thì một quả đạn thứ hai lại bay tới, lần này thấp hơn, chỉ ngang tầm đầu gối. Đến lúc này thì Zurell không cần giải thích nữa. Ông nhảy xuống đất, kéo theo Novak và nói to :

-   Nằm xuống ! Chúng nó bắn bazooka.

Zurell hét như điên. Ông không kịp báo động cho chiếc Bazeilles. Tất cả lính xe tăng trong chiếc Bazeilles đều ngồi kín bên trong, bắn pháo 75, bắn trọng liên , bắn súng 7,6 không biết gì. Bazeilles là một hầm cố thủ lưu động. Nhưng nó cũng là một con voi mù, và vỏ thép nặng nề của nó có thể bị bazooka phá hủy.

Quả đạn thứ ba đập trúng xe tăng, ngang tầm với chỗ đặt máy nổ. Cú va chạm làm bật lên một lưỡi lửa khổng lồ, theo sau là một chùm tia lửa do những mảnh kim loại bị nóng chảy bắn tóe ra. Chỉ hai giây sau, chiếc xe tăng hoàn toàn bốc cháy.

Sững sờ trước cảnh nổ cháy, cả Zurell lẫn Novak đều không thể biết được phần tiếp theo của chiếc xe tăng. Khi hai người chạy đi lùng tổ chống tăng của địch, họ không nói với nhau một lời. Tất cả đều rất buồn vì cho rằng chính họ đã gây ra tai họa cho tổ lái xe tăng.

Mặt trời đã mọc từ từ. Ở sườn phía Đông Eliane 2, trung sĩ Preignon vẫn tiếp tục chiến đấu. Ông đã vứt bỏ khẩu 57 hết đạn, trở thành vật vô ích từ lâu. Chẳng những trung sĩ không còn một quả đạn nào mà người lính tiếp đạn bị thương cũng đã chết trước lúc bình mình. Nhưng súng trường không thiếu, cả súng Pháp lẫn súng do Trung Quốc chế tạo. Vấn đề là chọn đạn thích hợp với từng loại. Hơn nữa Preignon còn có một số súng dự trữ. Ông đã nhặt được một khẩu AK-47 của một bộ đội bị thương, đang hấp hối.

Bên cạnh ông, những người lính chiếm giữ chân tường đối diện với núi Hói cũng làm như vây. Preignon không quen biết số lính này. Có những người lính Maroc, lính Bảo an người Việt, lính lê dươmg nhiều quốc tịch, cả lính Campuchia có giọng nói đặc biệt.

Dưới thấp nữa, ngồi trong một cái hố chung quanh đắp xác chết như một ghế « lô » trên bao lơn nhà hát , một hạ sĩ quan tiểu đoàn dù lê dương là trung sĩ trưởng Romanzin, đại đội phó đại đội 4. Đêm nay Romanzin leo lên đỉnh Eliane 2 với một túi vải chất đầy lựu đạn phòng ngự, tổ chức rất kỹ hầm chiến đấu, bố trí cả bẫy chung quanh.

Khi tất cả mọi việc đã xong xuôi theo ý thích của mình, Romanzin rút trong túi áo ngực ra một điếu xì gà to xù, cắn vào hai hàm răng. Sau đó ông châm điếu thuốc như một kẻ sành điệu, bặm môi hút vài hơi rồi mới bắt tay vào việc.

Kéo hai xác chết về gần hố, Romanzin gài ở phía dưới hai quả lựu đạn đã tháo kíp an toàn. Trong trường hợp cần thiết, giữa ông với Việt Minh đã có một vành đai thép lửa.

Romanzin bị trúng đạn lúc  nào ? Preignon không rõ. Ông đã không biết gì cả. Chỉ đến lúc mặt trời mọc khi đi lên mỏm Eliane, ông thấy Romanzin đã không cử động. Romanzin hơi ngả người về phía trước, điếu xì gà mới hút được một nửa còn cắm trên môi. Túi vải trống rỗng. Từ trong bụng bị vỡ toan, máu tuôn trào cho đến cạn.

Zurell và Novak phát hiện thấy xác Romanzin lúc 8 giờ sáng. Họ đã thử mang vác 115 kilô xác người bạn của họ  nhưng không nổi. Họ đành phải vùi xác Romanzin xuống một chiến hào, nhẹ nhàng phủ đất lên trên bằng cử chỉ dịu dàng.

Ngày 1 tháng 4 những chiếc máy aby Dakota mới bắt đầu thả tiểu đoàn 2, trung đoàn dù thuộc địa số 1 do Bréchignac chỉ huy, nhảy dù xuống Điện Biên Phủ.

Trong ngày, một sự cố vừa kỳ cục buồn cười, vừa là một bi kịch, đã xảy ra tại Eliane 2 giữa lúc cuộc chiến đang lắng dịu. Tại một lô cốt đối diện với Eliane 4 có lính dù Bảo an đóng giữa, gần đồn binh cũ, một trung sĩ trưởng Maroc đã phát điên, cầm súng máy bắn vào hầm chỉ huy của Botella.

Tưởng rằng Việt Minh đã chiếm được mục tiêu, Botella ra lệnh bắn lại. Các vọng quan sát của Việt Minh thấy vậy liền báo cho pháo bắn.

Từ bãi Champs Elysees phía dưới, các tiểu đoàn Việt Minh lập tức xung phong tiến lên.

Cuộc giao tranh kéo dài nhiều giờ, cho tới khi những người lính sống sót của tiểu đoàn dù lê dương và bán lữ đoàn bộ binh lê dương tổ chức được một trận phản kích đánh bật Việt Minh ra khỏi lớp hàng rào dây thép gai.

Thiếu úy Boisbouvier, lúc này là đại đội trưởng đại đội 4 gọi điện báo cáo :

-   Chúng tôi đã đến được Champs Elysees.

Bigeard trả lời :

-   Các anh điên à ? Đứng ở đấy thì pháo Việt Minh từ núi Hói bắn chết hết. Rút ngay ! Tôi đã quyết định bỏ hẳn cái mẩu đất này. Ngay đến Việt Minh cũng không đóng quân ở đó.

Tối ngày 1 tháng 4, trung đoàn 174 của sư đoàn 316 Việt Minh lại tiến đánh Eliane 2 nhưng đến sáng đã phải rút lui.

Trận đánh giành lại mỏm đồi thứ năm còn tiếp tục kéo dài thêm ba ngày nữa, cũng với một cường độ ác liệt như trước, trên một trận địa mơ hồ, tan hoang, nhuộm đầy máu và xác chết.

Một buổi sáng, linh mục Heinrich đi lang thang giữa các chiến binh, phát bánh thánh cho  những con chiên cầu phước, quỳ gối xuống bùn. Và những lính Pháp tại đây, chiến đấu không ngừng, chết và giết, chỉ có Đức cha là nguồn trông cậy. Thỉnh thoảng họ vẫn hỏi chuyện linh mục Heinrich. Nhưng họ không cầu khẩn cho hòa bình, cầu kinh của lính dù, bản kinh của bão táp và đụng độ, của lo lắng và nỗ lực. Điều họ chắp tay cầu khẩn đó là vận mệnh được trọn vẹn, như họ đang gắng chấp nhận.

Trong biên niên lịch sử sẽ không có một trận đánh nào như trận đánh này. Ngay cả trong những giờ phút khó khăn nhất của cuộc Đại chiến, cũng không bao giờ có người lính bộ binh chiến đấu lâu dài, dai dẳng như thế này. Hiển nhiên, cũng chưa bao giờ tình đoàn kết chiến đấu được hiện rõ như trận này. Nhất định là trong các báo cáo chiến sự, người ta nói đến những đợt tăng viện cho Eliane 2. Người ta kể tên các đơn vị, phân tích các tiểu đoàn. Nhưng ở sát mặt đất, lại là chuyện khác. Bởi vì, giữa những đợt giao chiến này thì những người lính thái, chỉ có vài chục, làm gì ? Những người lính Maroc tôi luyện trong chống cự đã chiến đấu không ngừng từ ngày 30 tháng 3 đã làm gì ? Và còn những ai nữa trong những tiểu đội đã hàng chục lần phản kích trong đêm ? Rồi những người lính lê dương lẻ loi, những bạn thân, những anh em đã chiến đấu không đếm thời gian, suốt tám giờ, mười giờ. Rồi họ phải rút. Nhưng họ không đĩ xa. Chỉ lùi vài trăm mét. Họ ngủ vài giờ. Rồi lại phục hồi sức khỏe. Và họ lại ra trận mà không cần ai yêu cầu. Họ chỉ biết cần phải giữ vững vì danh dự.

Tất nhiên, thi thoảng vẫn có người bị thương. Nhưng họ không xin hàng. Họ dựa vào người bên cạnh để di tản. Và nếu không có ai, họ lặng lẽ rút về phía sau, bằng cách bò lê trên mặt đất. Tất cả đều biết, dù vết thương nặng tới đâu, họ cũng không được chữa trị tại bệnh viện tối tân, những phòng bệnh có điều hòa không khí, mà ngược lại họ phải chìm nghỉm trong bóng tối, trong bùn đất, trong cảnh nghèo nàn của trạm phẫu thuật quân y dã chiến.

Ngày 4 tháng 4, lúc 5 giờ sáng, một sự im lặng lạ lùng ập xuống Eliane 2. Dù không bị phản kích, Việt Minh vẫn bí mật rút khỏi bãi Champs Elysees, ra khỏi lớp hàng rào dây thép gai và đi mất hút trong những giao thông hào.

Lính dù, linh bộ binh, lính lê dương, lính Thái, lính Maroc sững sờ nhìn nhau. Cuộc chiến giành giật « mỏm đồi thứ 5 » đã kết thúc. Cuộc giao tranh đã kéo dài một trăm linh bảy tiếng đồng hồ.
Logged
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 505


« Trả lời #46 vào lúc: 29 Tháng Hai, 2008, 10:12:05 am »

HUGUETTE 6 HẤP HỐI
Từ 1 đến 7 tháng 4 năm 1954

Như vậy là sư đoàn 316 Việt Minh đã rút khỏi Eliane 2. Tuy nhiên cuộc chiến tại Điện Biên Phủ vẫn chưa ngừng. Ở bên kia thung lũng, phía Tây Bắc đường băng hạ cánh, sư đoàn 308 cuối cùng đã chiếm lĩnh Huguette 7.

Bộ đội Việt Minh đã tiêu diệt những người lính lê dương vẫn còn bám giữ lô cốt cuối cùng của « cứ điểm hình ngôi sao » nổi tiếng.

Đó là sáng ngày 3 tháng 4. Đến tối, sư đoàn 308 đã rút khỏi trận địa ô uế và đẫm máu để bổ sung quân số, vũ khí.

Sư đoàn 312 được lệnh tới thay thế. Sư đoàn trưởng là tướng Lê Trọng Tấn được coi là một trong những sĩ quan chiến đấu ưu tú của Quân đội nhân dân. Lê Trọng Tấn và sư đoàn 312 của ông đều chuyên hoạt động ở vùng thượng du ( Erwan Bergot nhầm : Sư đoàn 312 không chuyên hoạt động ở vùng thượng dù mà là sư đoàn 316 – ND). Chính sư đoàn này trong vòng bốn ngày đã nhanh chóng, dễ dàng đánh chiếm những cao điểm quan trọng nhất của Pháp là Dominique 1 và Dominique 2. Các đơn vị của sư đoàn ít bị thiệt hại, trừ trung đoàn 165 trong đêm 30 rạng ngày 31 tháng 3 bị đụng đầu với các khẩu pháo của Brunebroucke.

Tướng Giáp đã ra lệnh đánh chiếm các điểm tựa che chở cho đường băng ở phía Tây và khu trung tâm ở phía Tây Bắc. Vị trí tiền tiêu là Huguette 6 như một dấu chấm trên đầu chữ « i », ở đầu đường băng hạ cánh.

Tối ngày 3 tháng 4, sư đoàn 312 xuất trận. Trong lúc trên đồi Eliane 2, lính lê dương, lính thuộc địa và lính dù bám giữ các chiến hào hôi thối đến ói mửa thì lính ở Huguette 6 nhìn thấy trước mặt mình những chiếc mũ nan của các trung đội Việt Minh xuất hiện tại những chiến hào xuất phát tiến công.

Đến đêm, thiếu tá Clémenson chỉ huy toàn bộ cụm Huguette gửi một thông điệp ngắn gọn dứt khoát cho Huguette 6 :

-   Giữ đến cùng, Không có hy vọng được cứu viện đâu.

Từ đêm hôm trước, 90 lính lê dương theo lệnh của trung úy Rastouil đã chiếm lĩnh vị trí tại Huguette 6. Đây không phải là một đại đội đầy đủ quân số, mà phần lớn là những binh lính sống sót từ tiểu đoàn 3, bán lữ đoàn lê dương 13 chạy thoát về đây. Đó là những người đã sống sót trong cái đêm khủng khiếp ở Beatrice. Bên cạnh họ là vài học sinh lớp hạ sĩ quan trong trung đội của trung úy Philippe. Số còn lại được bổ sung bằng những người tình nguyện của tiểu đoàn 1, trung đoàn 2 bộ binh lê dương, được rút từ tất cả các đại đội trong quần thể cụm Huguette để đưa về đây, tăng cường cho Huguette 6. Trong các tình huống khác, người ta có thể nhận xét đây là một đơn vị chắp vá. Nhưng ở đây, có một chi tiết khác thường. Đó là, dù chắp vá, nhưng vẫn toàn là lính lê dương mà chỉ có binh chủng lê dương mới có thể chấp nhận mạo hiểm chỉ trong vòng vài giờ kết hợp được nhiều người như thế này, đến từ các đơn vị khác nhau.

Tuy nhiên, từ ngày 2 tháng 4, đồn binh này đã phải chịu một trận thác lũ thường xuyên của đạn pháo mọi cỡ, nhất là pháo 75 đặt ở đỉnh đồi Dominique 2, chỉ cách Huguette 6 có 800 mét, trực tiếp bắn thẳng từ trên cao xuống.

Huguette 6 không phải là một cứ điểm được nghiên cứu kỹ như vị trí láng giềng Huguette 7. Từ máy bay nhìn xuống nó giống như một con trùng amíp có hình t hù không tròn đều, vây quanh bởi một chiến hào vành ngoài không thẳng, có những đường nhô lên thụt xuống và đứt đoạn. Những hào giao thông từ trung tâm tỏa ra, đào vội vã để tạo điều kiện liên lạc giữa các trung đội với hầm chỉ huy. Hệ thống rào kẽm gai vây quanh Huguette 6 đã bị pháo và súng cối địch bắn giã giò, tạo ra những cửa mở. Một cửa mở đáng lo ngại nhất nằm ở ngay trước mặt địch.

Vào lúc chập tối, Rastouil hét to trong điện đài để át những tiếng đạn pháo nổ, báo cáo ngắn gọn về sở chỉ huy :

-   Lần này sẽ đến lượt chúng tôi. Chúng tôi sẽ cố giữ thật lâu chừng nào còn giữ được.

Rastouil có một giọng nói đượm chút âm điệu miền Nam hạn chế bớt sự cường điệu trong lời nói. Khi nghe, Clémenson hiểu rằng Rastouil đã cố giữ không thốt ra tiếng hô quen thuộc «  Vĩnh biệt ! Lê dương muôn năm ! ».

Ít nhất, Rastouil cũng chưa quyết định sẽ chết.

Súng nổ vào lúc 19 giờ. Dưới ánh sáng của những quả pháo sáng máy bay Dakota thả dày đặc trên vị trí, lính lê dương đóng giữ lô cốt mặt Bắc nhìn thấy bóng những chiếc mũ nan chen lấn nhau ở những chiến hào ngoài cùng, phía trước mặt. Lính lê dương đóng ở đây là những người sống sót đã chạy thoát từ Beatrice. Suốt 15 ngày liên tục, họ liên tiếp bị sư đoàn 308 tiến công tại cứ điểm Huguette 7.

Chiều hôm nay, cùng với trung sĩ Katzianer, họ đến trận tuyến địch để mang về những binh lính bị thương mà Việt Minh chấp thuận trao trả. Nhưng khi tới nơi, họ chỉ thấy những xác chết rất khó nhận diện. Họ không thể làm gì được. Họ mệt. Họ đói. Họ rét dưới cơn mưa lạnh không ngừng rơi. Họ cũng khát nữa vì thùng chứa nước của điểm tựa đã bị pháo đạn bắn vỡ. Đối với họ, cơn ác mộng kéo dài từ ngày 13 tháng 3. Thần kinh quá căng thẳng, trong cơn điên dại họ đã chọn con đường tuyệt vọng. Họ vọt lên khỏi lớp bùn, bò sát trên mặt đất trơn như mỡ, tới được hàng rào dây kẽm gai, nhổ cọc, xé rào, vén to chỗ thủng rồi chạy sang phía địch.

Khi trung úy Rastouil được tin có 12 người lính lê dương đào ngũ thì bộ đội Việt Minh đã bắt đầu phát triển cuộc tiến công. Thời gian rất gấp. Rastouil lập tức huy động trung đội dự bị, gồm khoảng 30 người, dưới sự chỉ huy của trung úy Francois và trung sĩ trưởng Bleyer xông ra chặn địch. Blayer là người sống sót từ trận Beatrice, anh nhìn thấy nhiều người khác cũng từ Beatrice chạy về đây nhưng mặc sắc phục khác. Riêng anh, vẫn như cũ, không gì thay đổi. Trung sĩ có bộ mặt méo mó, đầt vết sẹo, như những người Đức đánh thuê. Vóc dáng to đùng của anh tạo được niềm tin cho những người nhảy dù xuống Điện Biên Phủ cùng với anh những đêm trước trong lực lượng tăng viện.

Còn Francois là một sĩ quan trẻ đã tốt nghiệp trường Cao đẳng quân sự Saint Cyr, người lúc nào cũng như bốc lửa. Tuy nhiên, ông rất sáng suốt, chiến đấu có suy nghĩ tính toán, không dựa vào một chút may mắn nào. Phải giữ đến cùng.

Ông đã tới kịp thời để chặn đợt tiến công thứ nhất.

Đến 22 giờ, Rastouil, Francois, Balyer và những binh lính lê dương vẫn còn chiến đấu ở Huguette 6 đã bị tàn phá. Việt Minh đã tràn vào, những chiến hào vành ngoài, đang tản ra dọc theo lớp hàng rào kẽm gai. Tuyến phòng ngự đã bị chọc thủng vài chỗ, địch đã lọt vào những bờ dốc nhưng đã vấp phải đám lính cứng rắn ném lựu đạn và bắn đạn vỗ mặt để ngăn chặn. Francois đã phải lùi vài mét nhưng vẫn chiến đấu cùng với một nhóm lính tại ngách hào giao thông dẫn tới vị trí chỉ huy của Rastouil.

Tại trung tâm, đại tá Castries vẫn theo dõi tình hình các đơn vị, gọi điện cho Langlais :

-   Cho một đại đội cứu viên Huguette 6 !

Tourret gọi Desmons đến :

-   Anh có hai xe tăng yểm hộ. Mục tiêu là gỡ nguy cho Rastouil !

Trong tất cả các đại đội trưởng thuộc tiểu đoàn dù xung kích số 8, Michell Desmons là một sĩ quan khiêm tốn nhất, lịch sự nhất, và cũng kỷ luật nhất. Chính vì lẽ đó Tourrert đã chọn Desmons. Nếu còn lực lượng dự bị, nhất định Desmons sẽ được giao cho sử dụng. Mọi người vẫn cho rằng một cuộc phản kích đêm, với một tiểu đoàn và mười xe tăng tiến theo lộ trình quen thuộc cũng không thể nào tiến hành được. Thế mà bây giờ, đột nhiên lại có lệnh đưa một đại đội thiếu quân số và chỉ có hai xe tăng đi phản kích giữa ban đêm. Nhưng Desmons không nói câu gì. Ông lẳng lặng đi đến đại đội của mình đang ngồi chen chúc trong những chiến hào tại một cứ điểm khác mang tên Epevier, đặt ở vị trí cũ của Dominique 4. Đây là một cứ điểm đặt ở một bãi đất gồ cao hơn điểm tựa trung tâm một chút để trong những tình huống khẩn cấp có thể giải vây cho trung tâm và giữ bãi đất trống trải giữa đường băng và sông Nậm Rốm.

Epevier giống như cái sân của những sự thần kỳ, lổn nhổn những hố hào và gò đống nối với nhau bằng những hào giao thông đào vội vã. Nóc hầm lợp bằng những mảnh kim loại lát đường băng nay không còn sử dụng cho máy bay được nữa.

Đó cũng là một « chung cư ổ chuột » gồm binh lính thuộc mọi binh chủng, lính Angiêri tình nguyện làm phu cáng thương, lính Thái chấp thuận đi nhặt và phân phối những chiếc dù rơi vãi, lính phòng không của trung úy Jourdonneau án ngữ con đường đi qua dãy Dominique với các khẩu trọng liên bốn nòng 12,7. Cũng có cả lính công binh đêm nào cũng chôn mìn, sửa lại hầm, nối lại những hàng rào kẽm gai bị đứt ; những phi công chuyển thành thợ máy, những lính quân cảnh chuyển thành y tá. Có cả những gái điếm của trung đoàn bộ binh lê dương số 2, đưa từ Hà Nội lên, mắc kẹt không trở về được, nay trở thành hộ lý giúp việc cứu chữa thương binh. Những cô gái này đem lại đôi chút vui tươi và màu sắc trong thế giới chiến binh hoàn toàn hướng vào cuộc chiến đấu và mong sống sót.

Trong tất cả các điểm tựa, Epervier là một cứ điểm phơi mình rõ nhất trước làn đạn bắn thẳng của súng không giật do Việt Minh bố trí tại những lô cốt đã chiếm được giữa hai cạnh sườn Dominique 1 và Dominique 2, với khoảng cách một ngàn mét, trên khu đất nhô lên như những bậc lên xuống của khán đài trường đấu võ thời trung cổ.

Ban ngày, không ai dám lộ mặt. Mọi người lặng lẽ di chuyển trong những hào giao thông hôi thối lộn mửa, lợp bằng vỏ thùng đạn, các mảnh ván, các mảnh kim loại lát đường băng. Cuộc sống chỉ thật sự bắt đầu khi trời tối. Đến lúc đó Epervier mới hoạt động. Các đội tuần tra , đội lao công được cử ra ngoài. Mọi người đi, chạy, bò, thì thầm gọi nhau, hỏi và đáp khẽ các khẩu lệnh.

Đến sáng, tất cả lại trở về trong trật tự cũ. Mỗi người một hố, chờ đợi đêm sau.

Desmons vượt nhanh quãng đường vài trăm mét giữa đại đội mình với hầm chỉ huy tiểu đoàn dù xung kích số 8. Ông nhìn thấy lính dù hăng hái đã tập hợp từng trung đội, súng đạn đầy đủ, lựu đạn sẵn sàng. Desmons phân công nhanh gọn :

-   Tiến thẳng , theo mương thoát nước. Đầu mương là địch. Rõ chưa ?

Gọi là mương, nhưng thật ra đây là một đường hào nhằm thoát nước tràn vào sân bay, chạy dọc theo suốt chiều dài đường băng hạ cánh rồi mất hút về phía xa, theo hướng Đông Nam, trút nước vào lòng sông Nậm Rốm. Mương sâu một mét rưỡi, rộng tương tự. Chẳng to rộng gì nhưng đối với đại đội Desmons hành quân gấp thì quả là một đại lộ.

Chưa đến nửa đêm, những trinh sát mũi nhọn dẫn đầu đơn vị đã tới được đầu mương. Từ đây họ nhìn thấy ánh lửa đạn của cuộc chiến đấu trên cứ điểm Huguette 6, chỉ cách chưa đầy 150 mét về phía tay trái, ngay bên kia đường băng.

Xe tăng dừng lại phía sau bộ binh, trong tầm bắn. Desmons đi ngược hàng quân, suy nghĩ nhanh ;

-   Nếu mình đã tiến được tới đây, có nghĩa là Việt Minh không ngờ có phản kích. Phải đánh tạt sườn.

Ông đã tính đúng.

Đột nhiên, cường độ tiến công tại Huguette 6 sụt giảm. Bộ đội Việt Minh không thấy tiến nữa. Tất cả xảy ra đột ngột như đột nhiên có ai đó cắt đứt luôn nguồn tiếp tế quân lực. Desmons và đám lính dù đã tiến vào chiến hào là đường tiến quân của Việt Minh, đang sẵn sàng quét địch từng thước đất một, thì bộ đội Việt Minh rút lui.

Ở đầu bên kia, Rastouil phát hiện thấy sự giảm sút trong nhịp độ tiến công của Việt Minh, đã chớp thời cơ, chuyển sang tiến công giành lại vị trí. Một bất ngờ nữa lại đến. Do sự nhầm lẫn của trung đội súng cối yểm trợ Desmons ở cự ly gần, đạn cối đã rơi vào, có lẽ trúng hầm chỉ huy của trung đoàn 209 Việt Minh cách đó khoảng 400 mét, đang chuẩn bị bước vào đợt hai của cuộc tiến công.

Việt Minh bắt đầu rút. Thoạt đầu, rút từ từ, sau đó rút thật nhanh. Nhưng trời tối quá Desmons không truy kích được. Vả lại , máy bay cũng ngừng thả pháo sáng. Desmons do dự, báo cáo cấp trên.

Tourret trả lời ngắn gọn :

-   Không đuổi theo được đâu !

Desmons quá tin tưởng vào cấp trên tới mức không yêu cầu giải thích thêm. Hơn nữa, cũng chẳng ai giải thích công khai qua điện đài. Cũng trong lúc này, một đợt máy bay Dakota đang thả tiểu đoàn dù thuộc địa số 2 nhảy dù thẳng xuống khu trung tâm.

Chính Langlais vừa rồi đã có sáng kiến này mặc dù có nhiều rủi ro. Vì không thể sử dụng bãi thả dù trên đường băng sát Huguette 6 đang có giao tranh, ông đã lệnh cho chiếc Dakota chỉ huy thả tiểu đội dù đầu tiên xuống thẳng khu trung tâ lổn nhổn các hầm hố, chiến hào, dây kẽm gai. Thật là một chuyện liều lĩnh khó tin, nhất là lại nhảy dù ban đêm, xuống một nơi mà ngay nhảy dù ban ngày cũng có nhiều nguy hiểm.

Chuyện cá cược này đã thành công. Tiểu đoàn 2 thuộc trung đoàn dù thuộc địa sô 1 rơi loạn xạ xuống bất cứ nơi nào trong khu trung tâm. Một số lính dù bị móc vào những lớp rào dây thép gai khi rơi xuống nắp hầm. Những chuyện bất ngờ, những chuyện xúc động. Nhưng sau khi đã thống kê số thương vong thì chỉ thấy có một người bị bong gân.
Logged
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 505


« Trả lời #47 vào lúc: 29 Tháng Hai, 2008, 05:20:37 pm »

MƯƠNG THOÁT NƯỚC
Tháng 4 năm 1954

« Hỡi các bạn đang sống dưới hầm
Hãy nghe câu chuyện « Bí mật thành Paris » ...

Trung sĩ Le Brenn cười nhạo « Hỡi các bạn đang sống dưới hầm ... ». Đái phát thanh CON NHẠN của cơ quan tâm lý chiến ở Hà Nội đang phát đi buổi đọc chuyện ban đêm, thực tế là một truyện khôi hài vô duyên đối với những người lính chiến đấu ở Điện Biên Phủ. Buổi tối nào, đài này cũng phát cuốn truyện dài được thực hiện từ Paris do một nhóm diễn viên trên nền nhạc kích động, cố gieo rắc sự sợ hãi cho những người đang ngồi trong cảnh êm ấm ở gia đình tại Pháp.

Còn ở đây, tại Điện Biên Phủ, trong lô cốt cố thủ ở Epervier, công thức này lại diễn biến theo chiều hướng khác. Qua đài C9 không rõ nguồn gốc từ đâu, lính dù nghe lén thì buổi đọc truyện này chỉ phản ánh mờ nhạt một thế giới xa lạ đối với họ. Họ thích cười vui hơn là xúc động.

Cũng như những buổi tối không phải đi chiến đấu, họ lại tụ tập từng tiểu đội hoặc trung đội ngồi chật ních trong hầm hố, mang theo vũ khí sẵn sàng ra trận. Súng đã nạp đạn, những băng đạn gài ở túi ngực hoặc ở thắt lưng, lựu đạn gài ở dây đeo các trang bị. Xẻng ở sau lưng, dao găm bên phải, bi đông nước bên trái. Trên đầu là chiếc mũ sắt có lưỡi ngụy trang, quai mũ là một dây chun có buộc băng cứu thương cá nhân.

Họ chờ lệnh.

Sư đoàn 316 đã rút khỏi Champs Elysees từ sáng sớm, dưới trời mưa nặng hạt. Elaine 2 chỉ còn là một nghĩa địa đầy ruồi nhặng.

Vừa rồi, Huguette 6 lại bị tấn công.

Điện đài từ các đại đội chỉ phát đi những chỉ thị chiến thuật. Binh lính chiến đấu ở bất cứ nơi nào. Họ yêu cầu cứu viện. Họ chết. Mặc cho điện đài phát đi những tín hiệu bị nhiễu, Line Remaid vẫn hát :

«  Con chó trong tủ kính giá bao nhiêu .. »

Đài C9 đã hoàn thành nhiệm vụ truyền tin, lại chuyển sang bắt sóng đài Con nhạn từ Hà Nội. Bên cạnh là đài PRC10 truyền đi các con số mật mã, trong khi vang lên tiếng nói chỉ dẫn tọa độ bắn pháo :

-   Nhích sang phải. Năm mươi. Bắn mãnh liệt !

Gần hơn là giọng nói cáu kỉnh của Langlais :

-   Im đi ! Ưu tiên cho pháo sáng !

Trung úy Bailly đẩy vai những người trong hầm, chiếm lấy một chỗ và nói qua điện thoại :

-   Huguette 6 đề nghị cứu viện. Đang ..

Lính dù vọt ra khỏi các hầm hố, lội bì bõm trong bùn trong khi chờ đợi tập trung từng trung đội để tiến về phía mương thoát nước. Từ chân trời phía Bắc những đốm lửa màu vàng của cuộc giao tranh chứng tỏ Việt Minh đang tiến công dữ dội điểm tựa của lính lê dương.

Hugon vừa vác vai một hòm lựu đạn vừa cằn nhằn :

-   Cũng chẳng làm gì hơn đại đội Desmons đâu.

Bailly liếc nhìn anh lính với một thoáng nghi ngờ. Ông không hoài nghi việc ganh đua giữa các đơn vị. Ông sẽ giải thích cho binh sĩ rõ tình hình khác nhau. Nhưng Bailly lại thay đổi ý kiến. Nói với binh lính rằng Việt Minh đã quyết định tối nay quyết đánh chiếm cứ điểm liệu có ích gì ? Ban nãy, một đại đội xung kích của tiểu đoàn 1, bán lữ đoàn lê dương 13 dưới sự chỉ huy của trung úy Viard đã đi cứu đơn vị lê dương của Rastouil.

Quân cứu viện tiến theo đường Pavie ở phía Tây đường băng hạ cánh. Giữa Huguette 1 và Huguette 6 , họ đụng độ dữ dội với một tiểu đoàn quân Việt bố trí tại một nút chai đối diện với phía Nam cứ điểm. Viard đã vượt qua được nhưng tiểu đoàn địch lại khép lại ở phía sau chặn đường rút lui. Đơn vị của Viard coi như bị bao vây vì trước mặt Huguette 6 đã bị bao vây mà Viard là một tù binh trong vòng vây kép.

Bailly không có ý định ngồi lỳ trong chiến hào. Ông là người của những khoảng không gian rộng lớn. Thế là Bailly xuất kích, dẫn đầu đơn vị, chung quanh là toàn ban chỉ huy đại đội. Dọc đường, ông gặp Hugon và hai lính dù Bảo an là Hợi và Công, mỗi người vác trên vai một hòm lựu đạn. Bailly mỉm cười, nói :

-   Đừng sát gần đơn vị. Nếu các cậu làm nổ hòm lựu đạn thì mọi người chết hết !

Hugon cũng cười hưởng ứng. Đó là một anh chàng người Việt lại Âu, quê ở Đà Nẵng, miền trung Việt Nam. Năm 1946, anh đã bị Việt Minh bắt, và đã trốn thoát trước hôm bị xử tội. Từ ngày đó, tóc Hugon điểm nhiều sợi bạc, anh ta nung nấu kiên trì một sự rửa thù không thể nào nguôi, và đã không ngừng tham gia chiến đấu suốt tám năm nay.

Hugon nói với cấp trên :

-   Không lo, thưa đại úy. Chúng ta sẽ đánh vòng trở lại.

Hợi cũng nói bằng thứ tiếng tây « bồi », giọng châm biếm :

-   Không làm nổ tung người Pháp đâu. Chỉ là phương tiện cho Việt Minh nẩy tung lên thôi.

Toàn đại đội đã dàn hàng suốt dọc mương thoát nước. Hai bên chiến hào, hai chiếc xe tăng Shaffee của trung đội xe bọc thép đứng túc trực như hai con chó trung thành. Sĩ quan chỉ huy vừa mới nhảy dù xuống tới hôm trước, thay thượng sĩ trưởng Carrette vừa bị thương trên đồi Eliane 2. Đó là thiếu úy Menglle thuộc ngạch dự bị. Ông đứng trên tháp pháo xe tăng Ettingen. Bên trái ông là đội trưởng Willer, ngồi trong xe tăng Contai. Lính dù coi họ như những người đem lại phước lành. Bao giờ có hai chiếc xe này yểm trợ cũng mang lại thắng lợi.

Đã một giờ sáng Bailly thúc quân tiến lên. Ông biết rõ Việt Minh nhất định rút bài học kinh nghiệm thất bại đêm trước và lần này đã tính đến chuyện bố trí một nút chặn ngay phía đầu mương. Đặt vào địa vị mình Bailly cũng làm như vậy.

-   Đại úy đâu ?

Bailly chạy đi tìm cấp trên, chân lõm bõm trong lớp bùn nhầy nhụa phủ đầy đáy mương.

-   Báo cáo đại úy ! Trung đội đầu đã chạm địch !
-   Đã gặp địch rồi à ?

Bailly nhăn mặt. Tình hình tồi tệ hơn dự kiến. Ông trù tính sẽ gặp những khó khăn ở phía Bắc mương thoát nước, đầu đường băng, chỗ gần cứ điểm Huguette nhất. Nhưng Việt Minh đã đưa một tiểu đoàn tới cách 400 mét về phía Nam. Như vậy, lính dù sẽ không thể vận động đánh bọc sườn được. Ở phía tay trái lính dù đã là đường băng rồi, nếu tiến theo đó thì sẽ bị nguy hiểm vì trọng liên và pháo địch bắn mạnh.

Hơn nữa đã quá muộn. Trung đội 1 tiến quá sâu vào vị trí địch, đang bị đánh mạnh. Chỉ còn một cách giải quyết như Bailly ra lệnh :

-   Tiếp tục thọc sâu, Đánh mạnh để vượt qua.

Bailly ra lệnh cho hai chiếc xe tăng ở hai bên đường băng, bắn mạnh hai phía đường băng tay phải và tay trái yểm hộ cho các trung đội xông lên tiến công địch..

Trung sĩ trưởng Marty và đám lính Campuchia đi đầu gặp khó khăn lớn. Trung đội này chỉ có hai chục người, phải chống chọi với kẻ địch ít nhất cũng đông gấp mười lần. Cuộc đụng đầu rất mãnh liệt tới mức họ không có thời giờ để lắp đạn vào súng, cũng không kịp ném lựu đạn. Thế là phải dùng dao găm.

Lúc này, chiếc xe tăng Conti đã tiến đến những tuyến đầu. Hạ sĩ trưởng Hugon, cho hạ nòng pháo xuống thật thấp, nạp đạn bắn không ngừng, vừa tiến theo nhịp vừa ném lựu đạn sang hai bên, trong khi những vỏ đạn từ trên tháp pháo rơi liên tục xuống chiếc mũ sắt ông đội trên đầu.

Những binh lính bị thương không còn chiến đấu được nữa, lê lết trên đường băng ngay sát xe tăng. Một số người bị trúng đạn pháo có lân tinh, khắp người như bị những con sâu đêm bám chi chít, kêu rống trước khi chết.

Trung đội Marty tiếp tục chiến đấu. Bailly đẩy thêm trung đội thứ hai do trung sĩ Le Brenn, cựu võ sĩ quyền Anh lên tăng viện cho trung đội đi đầu. Nhưng cả trung đội này nữa cũng không chọc thủng được trận tuyến địch. Pháo Việt Minh tiếp tục bắn, Tất cả đã được tính toán từ trước. Vì vậy, đùng một cái, tất cả các loại pháo 105, cối 120, cối 81 của địch đều đồng loạt rơi xuống máng thoát nước và hai bên bờ mương.

Le Brenn có cảm giác như đang tỳ khuỷu tay lên một mảng nhọn và nóng bỏng. Anh nhấc tay lên và lúc đó mới nhìn thấy cánh tay đã bị cụt tới khuỷu. Phía trên cẳng tay chỉ còn là một khối thịt nhão, biến dạng, bất động, lủng lẳng vài thớ thịt trắng nhợt. Nếu là một người khác, có thể anh ta sẽ ngừng cuộc chiến, đòi cáng thương đưa về phía sau. Nhưng Le Brenn chỉ gọi y tá đến băng bó, nẹp chặt cánh tay bị gãy vào chiếc áo trận rồi tiếp tục ra lệnh cho binh lính tìm chỗ nấp để tìm cách thoát khỏi hỏa ngục.

Bailly đã theo kịp Brenn, hét to :

-   Lui !
-   Tại sao ?
-   Vì cậu không còn làm gì được nữa.
-   Có đấy ! Tôi vẫn chiến đấu tốt.

Bailly nổi cáu :

-   Đây là mệnh lệnh. Nếu cậu muốn tỏ ra vẫn còn có ích thì hãy dìu một thương binh cùng rút.

Le Brenn hãy còn khỏe. Anh quyết định quên vết thương, dùng cánh tay còn lành lặn, túm lấy áo một người lính bị thương, xốc lên vai, bắt đầu quay trở về. Bỗng nhiên, anh bị ngụp trong đám lửa khổng lồ màu da cam. Một tiếng nổ đinh tai nhức óc, tung anh lên, hất anh về phía trước. Le Brenn quay lông lốc ròi lăn tới bờ hào, thầm nghĩ “ Mình chết đến nơi rồi “.

Le Brenn ngạc nhiên vì hãy còn suy nghĩ được . Anh ngạc nhiên nhất là cái chết lại dễ dàng và ầm ĩ như vậy. Anh cảm thấy như đang trôi nổi trong đám sương mù dày đặc những tiếng kêu, những tiếng nổ, những đám lửa màu vàng nhưng lại vụt giảm bớt như tất cả đều vấp phải khó khăn khi đến gần anh. Và rồi Le Brenn thận trọng nhận thấy mình vẫn còn sống. Thế là anh đứng nhỏm dậy, đi tìm người lính bị thương đang vác trên vai. Anh đã gặp người này, bị cắt làm đôi, thân hình tan nát vì một quả đạn bazooka bắn vào chiếc xe tăng Conti. Chính người lính này đã làm tấm bình phong đỡ đạn cho Le Brenn, cứu anh khỏi cái chết. Anh nói :

-   Cám ơn, anh bạn !

Cách Le Brenn hai bước chân, hạ sĩ trưởng Hugon đã ném hết hai thùng lựu đạn, đang trong tình trạng như điên dại khi thấy mình tiến hành một cuộc chiến đấu tuyệt vọng vì tấy cả binh lính chung quanh đều đã chết hoặc bị thương. Một người lính tên Pascalino, bị cháy bỏng vì đạn bazooka, van nài những người chung quanh cho mình được chóng chết. Nhìn thấy Bailly, anh ta nói :

-   Đại úy ơi ! Hãy làm ơn giết tôi đi !

Bailly nghiến răng, cố làm như không nghe thấy gì hết. Là một chỉ huy, nhưng ông đã chiến đấu như một người lính xung kích đi đấu. Bám chặt lấy thành hào, ông đã bắn liên tục, hết nhẵn những băng đạn súng cacbin và đã bị trúng hai viên đạn vào đùi.

Qua điện đài, tiểu đoàn trưởng Tourret nhận được những báo cáo tuyệt vọng của đại đội trưởng Bailly. Bằng một giọng căng thẳng, ông báo với trung tá Langlais chỉ huy lực lượng phản kích :

-   Không còn một người nào để cứu viện cho binh lính của tôi.

Langlais do dự. Bản thân của ông cũng không có một đơn vị nào để tăng viện. Các đơn vị ứng cứu đã kiệt sức vì những cuộc chiến đấu giành giật Eliena và ở mặt Tây sức ép của địch với Huguette vẫn không giảm. Bailly đành phải bị bỏ mặc. Chừng nào .. Chợt Langlais nghĩ ra :

-   Bréchignac đâu ? Anh có thể cho một đại đội lên Huguette 6 được không ? Đại đội Bailly thuộc tiểu đoàn xung kích số 8 đang mắc kẹt ở mương thoát nước.

Bréchignac vừa mới nhảy dù xuống. Ông đang cáu vì rơi đúng vào lớp rào kẽm gai, quần áo rách bươm và cứ thế bước vào trình diện tại sở chỉ huy trung tâm. Ông trả lời trung tá Langlais :

-   Chỉ có một đại đội duy nhất của Clédic là vừa mới nhảy xuống trọn vẹn, đủ quân số. Chỉ có thể chỉ định đại đội này đi ứng cứu.

Clédic tập hợp đơn vị mình tại Eliane “thấp” tức là một vị trí mơ hồ vừa mới được thiết lập ở mảnh đất hẹp giữa cánh đồng , dãy đồi và bờ sông. Ông cũng mới chỉ nhảy dù xuống tối hôm trước, đang làm quen với địa hình. Đây là một người dân xứ Bretagne miền Bắc nước Pháp có bộ ngực mạnh mẽ, với những cánh tay như người bổ củi và những bàn tay như người chặt thịt, một cái đầu vuông vắn, tóc và lông đen, cứng. Ông như một con bò rừng dũng mãnh.

Nhận được lệnh cấp trên, Clédic trả lời đơn giản :

-   Tôi đi ngay tới đó.

Binh lính xếp hàng theo sau ông vượt sông Nậm Rốm tới Epervier, được Desmons thông báo những tin tức mới nhất về tình hình đại đội Bailly. Sau đó Clédic lại tiếp tục dẫn quân đi dọc theo mương nước. Rất nhanh chóng, ông bắt đầu liên lạc được với Bailly và đại đội 4 đang bị đóng đinh trên mặt đất vì vướng phải cái “nút chai” ngăn chặn của Việt Minh, có pháo yểm trợ. Lúc này, chiếc xe tăng Conti đã bị trúng đạn bazooka không nhúc nhích được nữa, nhưng lính bên trong đã biến chiếc xe thành một pháo đài cố thủ, nã trọng liên dữ dội vào địch.

Clédic hỏi :

-   Huguette 6 ở đâu ?
-   Ở phía trái, cách đầu đường băng 300 mét.

Clédic do dự đôi chút. Các đường tiến quân đều đã bị chặn. Chỉ còn có đường băng, nhưng cũng đang bị súng máy bắn dữ dội :

-   Từng trung đội, chuẩn bị vượt 400 mét bằng tất cả tính mạng của mình ! Chạy thật nhanh ! Nhảy một cái thôi ! Không đứa nào được chậm. Không được nằm xuống đất khi địch bắn. Đôi cẳng chân là con chủ bài tốt nhất.

Clédic chờ vài giây đồng hồ để mọi người thấm nhuần mà tuân lệnh. Rồi ông giơ cao tay, hét to :

-   Tiến !

Liền sau đó, Clédic vượt khỏi chiến hào bắt đầu chạy dưới làn đạn.

Lúc đó là 4 giờ 10 phút. Năm phút sau, đại đội Clédic đã chạy vòng tới phía sau bộ đội Việt Minh đang tuần tự quét sạch dần những ổ đề kháng cuối cùng của Huguette 6, đinh ninh sẽ không hề bị quấy rầy bởi bất cứ cuộc phản kích nào của Pháp.

Vậy mà lúc này đối phương lại bất ngờ tiến công, đánh bật bộ đội Việt Minh bị bất ngờ ra khỏi những lớp rào kẽm gai. Clédic không cần chọn lựa vị trí chiến đấu, chỉ thực hiện một chiến thuật đơn giản :

-   Trung đội một bên phải, trung đội hai bên trái ! Quét sạch chiến hào vành ngoài.

Đối phương có thể đã nhận thấy kế hoạch tiến công không phát triển theo dự kiến. Từ trước rạng đông, sư đoàn 316 Việt Minh đã đưa vào trận một tiểu đoàn thuộc trung đoàn 141. Nhưng việc xuất hiện của đơn vị Clédic đã nâng tinh thần cho đám lính ở Huguette 6 chỉ còn lại khoảng ba chục lính lê dương xen kẽ lính dù. Địch tiến công rất mạnh, nhưng lính dù vẫn giữ vững. Vả lại, cũng sắp sáng. Hơn nữa, cách đây 15 phút lại có thêm một đại đội nữa bắt liên lạc được với đại đội Bailly ở máng thoát nước. Đó là đại đội 1 thuộc tiểu đoàn dù thuộc địa số 6 của Bigeard do trung úy Le Page làm đại đội trưởng. Đại đội này đã chọc thủng được chốt ngăn chặn và cùng với số lính còn sống sót của Bailly vạch được đường tiến đến tận các hào giao thông của địch.

Trong vòm trời xanh hơn mọi ngày, những máy bay Bearcat và Corsair đã tới từng đán. Bộ đội Việt Minh bị bất ngờ giữa những lớp rào dây thép gai của Huguette 6, bị bom ném, bị pháo bắn, bắt đầu rút lui.

 Clédic hài lòng vì trong trận chiến đấu đầu tiên , đơn vị của Bréchignac đã buộc đối thủ ganh đua là tiểu đoàn của Bigeard phải khâm phục.

Đến sáng, Clédic được Minaud, cũng vừa mới nhảy dù xuống, tới thay quân.

Khi quay trở lại khu trung tâm, Clédic không biết và cũng chẳng ai biết, đây là trận tiến công cuối cùng của Việt Minh vào Huguette 6.

Đến ngày 5 tháng 4, quân đội Pháp đóng tại đây thắng được hai trận.
Logged
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 505


« Trả lời #48 vào lúc: 03 Tháng Ba, 2008, 03:42:49 pm »

NGÀY LẠI NGÀY
Tháng 4 năm 1954

Thời tiết xấu. Cánh đồng Mường Thanh bị pháo bắn tơi bời hình như trỗi dậy khó khăn trong cơn ngái ngủ. Thường xuyên có một lớp sương mù màu vàng nhạt tạo thành bởi hơi ẩm, bụi và thuốc nổ, nồng nặc mùi thuốc súng và những xác chết thối rữa. Từ tháng 4 các binh lính chết trận không còn được chôn cất nữa vì Việt Minh đã tới sát chung quanh các điểm tựa, những binh lính phòng ngự bị bỏ rơi trong các chiến hào, làm mồi cho pháo 105 và súng cối bắn phá.

Điện Biên Phủ thức giấc muộn. Từ lúc bình minh, khi bộ đội Việt Minh quay trở về nơi trú quân, các lính bộ, lính dù, lính lê dương, lính thuộc địa cũng chui xuống các hố hào ngủ thiếp đi như những con vật. Ở bên ngoài, những người yểm trợ cho họ, pháo binh, thông tin, gỡ mìn, cáng thương cũng nằm vật xuống những chiếc chiếu trải trong các lô cốt.

Cuộc sống ngừng lại. Trừ những phi công và những người hướng dẫn ở mặt đất, tất cả những người khác đều chỉ quan tâm đến chuyện nghỉ ngơi để có sức tiếp tục chiến đấu, tối nay và ngày mai.

Nhịp độ thời gian đã bị vò xé bởi sự cần thiết kéo dài cuộc sống.

Sự thảnh thơi hồi tháng trước đã lùi xa rồi. Những giờ phút thư giãn tắm truồng bì bõm trong lòng sông Nậm Rốm cũng đã bị lãng quên hết. Con sông hiện nay chỉ là một dòng nước nhơ nhớp, bẩn thỉu, chết chóc. Mặt sông nổi lều bều những váng dầu cặn, những mảnh rẻ rách; có thể đoán được phía trước lúc nhúc hàng ngàn dòi bọ ăn xác chết.

Những buổi sáng chỉ là một quãng thời gian tạm nghỉ, một chặng dừng chân ngắn trên con đường đo tới cây thánh giá. Thời gian trôi đi rất nhanh, bởi vì phải chuẩn bị cho tình hình đêm tối. Đó là những giờ phút thống kê, bổ sung đạn dược, quân số, lương thực tiếp tế. Từ đầu tháng tại các đồn tiền tiêu binh lính chỉ được ăn nguội, chung quanh đầy ruồi.

-   Thực đơn có những gì ?

Thiếu úy Lombart biết rõ câu trả lời. Ngay những lính lê dương trong trung đội cối nặng có “xoay sở” như truyền thống cũng không kiếm được những thức ăn khác vì rất khan hiếm. Những ngày gọi là được ăn ngon cũng phải chia một hộp cá xác-đin cho 4 người, hộp đậu cho 10 người. Chủ yếu chỉ là gạo trắng đựng trong bao tải, vứt từ máy bay xuống không cần buộc dù.

-   Sếp ! Tôi rất vui đã tìm thấy thịt bò.

Lombart hoan hỉ trước tin này. Một hộp thịt bò, dù sản xuất từ Madagascar với nước “xốt” béo ngậy là chuyện đánh lạc mục tiêu thú vị.

Vưu Viết Vũ, cần vụ của Lombart đặt chiếc ga-men đã đun nóng bốc khói lên trên bàn bừa bộn giấy tờ. Vũ là một người dân xứ Bắc Kỳ có tuổi, tóc đã hoa râm, mặc một áo “vét” bạc màu, đóng dấu chữ PIM, nghĩa là “tù binh tạm thời”, mỗi khi giặt áo xong lai phải tô đen cho rõ chữ. Cho tới ngày 31 tháng 3, Vũ đã ký giao kèo tình nguyện phục vụ lính lê dương. Đến ngày 1 tháng 4, sau khi lĩnh bộ quân phục, Vũ đến trình  diện tại hầm chỉ huy của thiếu úy Lombart, nói :

-   Tôi chỉ là một dân thường. Nhưng vui lòng được làm công vụ cho thiếu úy. Đối với tôi, dù sao cũng vẫn là PIM.

Chiến tranh, chiến tranh thật sự lại bắt đầu từ 17 giờ với nhịp độ phá hoại. Những loạt đạn pháo của địch, thông thường chỉ là một trận bắn tiêu hao liên tục, nhưng cũng có lúc bắn tập trung vào những mục tiêu quen thuộc, như những hầm pháo 105, hầm cối, hào giao thông và các hầm chỉ huy. Quanh những điểm tựa vành ngoài, như các cứ điểm Huguette hoặc cứ điểm Eliane cuối cùng, bộ binh địch chuẩn bị giúp đỡ dân công đào hào, bóp nghẹt cứ điểm.

Và thế là, suốt đêm, lính Pháp và bộ đội Việt Minh bắn nhau, ném lựu đạn vào nhau, vọt lên khỏi chiến hào để đánh giáp lá cà, vật lộn lẫn nhau. Trong bóng đêm đen tối, hai bên bắn nhau, đâm nhau, vác xẻng nện vào đầu nhau. Một loại hình giao tranh cho tới khi có người bị thương hoặc chết. Đây không phải là những cuộc đụng đầu khủng khiếp giữa hai đội quân đâm bổ vào nhau trong những tiếng ầm ầm của đạn súng trường và đạn pháo, với con số thương vong hàng trăm, hàng ngàn. Đây là một chuyện gặm nhấm từ từ, một kiểu giải quyết thầm lặng giữa vài người với nhau.

Thỉnh thoảng, chỉ huy điểm tựa là Rastouil ở Huguette 6, Charles hoặc Minaud ở Eliane 2, Trapp hoặc Le Page ở Eliane 4 lại yêu cầu pháo bắn yểm trợ. Nhưng lời yêu cầu vừa được truyền đi thì pháo Việt Minh đã bắn trước vào những khẩu pháo được chỉ định.

Đến ngày 6 tháng 4, Allioux là chỉ huy trưởng cụm hỏa lực mới phát hiện thấy điện đài Việt Minh thường xuyên theo dõi các làn sóng điện của pháo binh Pháp. Allioux đã phải cho thay đổi mật mã nhưng cũng chỉ đánh lừa được một lần vì Việt Minh còn có những vọng gác quan sát tốt.

Dù sao, mọi mưu mẹo đều ứng dụng có hiệu quả. Nếu một số sĩ quan dùng tiếng Anh trao đổi với nhau, nếu các điện đài truyền đi bằng tiếng Ả rập hoặc tiếng Tây Ban Nha, thì một số khác lại dùng tiếng Breton, một thổ ngữ miền Bắc nước Pháp. Vì vậy, cả hai sĩ quan quê ở Bretagne đều dùng ngôn ngữ địa phương nói chuyện với nhau khi trao đổi việc thay quân, làm cho chính đài Hà Nội của Pháp lại báo cáo là “Việt Minh đã sử dụng một thổ ngữ châu Á không ai biết”.

Đêm nào máy bay cũng thả quân tăng viện. Tiểu đoàn dù của Bréchignac vừa tập hợp đầy đủ quân số tại những chiến hào Eliane 3, đã bắt đầu thả tiếp tiểu đoàn dù lê dương số 2, mỗi đêm một đại đội.

Trong hầm chỉ huy, Langlais tỏ vẻ vui mừng. Điều kỳ diệu đang kéo dài. Không cần thử nghiệm, những “thầy bói” ở Hà Nội dám khẳng định, mặc dù đêm tối, vẫn có thể nhảy dù xuống một bãi đất nhỏ 800 x 400 mét mà không gặp một trở ngại, một ụ đất , một chỗ trũng nào.

Do cần có quân tăng viện, Langlais phải phó mặc rủi ro. Ông buộc máy bay Dakota phải thả quân xuống ngay khu trung tâm. Đêm này qua đêm khác, lính dù rơi xuống lớp rào kẽm gai, chiến hào , sông, lô cốt, tuy nhiên số thiệt hại cũng không cao hơn buổi thao diễn thông thường mấy tí.

Langlais đã có một thắng lợi đáng kể, muốn đẩy cuộc biểu diễn này tới cùng, đã thuyết phục ban tham mưu ở Hà Nội tiếp tục thả thêm lực lượng tăng viện dù là lính dù hay không phải lính dù, để bù đắp những chỗ trống vắng tại các đơn vị hiện hành ở Điện Biên Phủ.

Từ ngày 5 tháng 4, doanh trại Điện Biên Phủ được đón thêm các thứ lính pháo binh, kỵ binh, lái xe, Maroc, Angiêri, Bảo an. Họ đều tình nguyện lên đây và đã nhảy dù chỉ sau một bài giảng nhanh chóng về kỹ thuật.

Và những tin tức nhận được ở hậu phương cũng không làm cho họ nản lòng.  Ngày 7 tháng 4 Langlais nhận được một bức điện “ Tiểu đoàn tôi, không phải là lính dù, tình nguyện nhảy toàn bộ xuống Điện Biên Phủ. Ký tên : Cabaribere, chỉ huy tiểu đoàn 2 trung đoàn bộ binh lê dương số 5”.

Ở Điện Biên Phủ, mọi người đều biết tiếng trung đoàn bộ binh này, nhất là các đơn vị lính lê dương. Từ năm 1930, trung đoàn bộ binh lê dương số 5 đã phục vụ tại Viễn Đông liên tục không nghỉ. Mọi người cũng biết Cabaribere, một người dân miền Nam nhỏ nhắn, có nghị lực, được nhiều người khâm phục. Một gương mặt khác thường với những chiến công đã trở thành huyền thoại. Cách đây mấy tháng ông bị bắt làm tù binh ở Lào. Ông đã chỉ huy đoàn tù binh giết chết những lính áp giải trên đường từ Lào về Bắc Kỳ rồi trốn thoát. Sau đó Cabaribere lang thang suốt ba tuần trong rừng đến khi kiệt sức mới tìm được tới một đồn binh Pháp. Bất cứ sĩ quan nào trong tình huống như vậy cũng sẵn sàng chấp nhận được hồi hương. Riêng Cabaribere thì không. Chỉ mười ngày sau khi sức khỏe hồi phục, ông đã trở lại nắm chức vụ chỉ huy tiểu đoàn cũ.

-   Chờ một tý ! Tôi đến ngay.

Tiếng nói vang lên như sấm, át cả những tiếng đạn pháo đêm nào cũng rơi xuống đầu những lính dù làm nhiệm vụ thay quân. Tiếng nói ngân vang trên đỉnh Epervier, như từ những đám mây thấp từ lúc chiều tối đang đọng lại trong thung lũng, rồi vọng tới bờ sông Nậm Rốm. Một tiếng nói lạ nhưng lại thân tình với giọng miền Nam thường kéo dài ở những âm tiết cuối.

Trung sĩ Preignon nhảy vọt lên bờ chiến hào, chỉ năm giây sau anh đã nhận ra giọng nói, kiểu nói và reo to :

-   Các cậu ơi , Bordas đấy !

Một tháng trước đây trung sĩ Bordas đã tổ chức một chầu rượu chia tay với đồng đội không được như anh có một cuộc sống “đẹp” ở Hà Nội và ở Pháp.

-   Này ! Bordas ! Nhanh lên, lại đây !

Vẫn giọng nói vang như sấm, Bordas trả lời :

-   Tớ đến ngay đây !

Một tiếng vang của kim loại, tiếp đó là một câu chửi. Bordas vừa ngã vào một bó dây thép gai trên bờ sông. Anh kêu to

-   Cái bẫy kiểu quái gì thế này ! Nào, những thằng vô tích sự ! Đừng bỏ tao ở đây ! Lại đây nhanh lên. Tao có thứ này cho chúng mày đây !

Trung sĩ Preignon chạy thật nhanh về phía tiếng nói. Theo gót anh là trung sĩ Carre, người bạn thân không bao giờ xa rời, kéo theo sau tất cả trung đội vũ khí nặng của trung sĩ trưởng Dubessay và lính Campuchia. Những người lính Campuchia reo to :

-   A ! Ông trung sĩ !

Bordas lại kêu to như rống lên :

-   Tao không phải là trung sĩ nữa. Ở Hà Nội, không ai cho tao trở lại binh đoàn dù. Thế là tao tình nguyện xuống làm hạ sĩ trưởng, chỉ huy lính thuộc địa.

Tất cả mọi người xúm lại gỡ Bordas ra khỏi đám dây thép gai mà anh đã ngã xuống đó như rơi vào một đống bụi gai. Bordas thúc giục :

-   Nhanh lên !

Preignon hỏi :

-   Tại sao cậu không về Pháp ? Nhiệm kỳ phục vụ của cậu kết thúc rồi cơ mà ?
-   Im đi ! Cậu không thể hình dung được, trong khi các bạn thân đang vỡ mặt ở đây thì thằng nào còn tâm địa ngồi uống một cốc rượu trong quán rượu yên tĩnh được. Thế thì có khác gì một thằng hèn yếu ? Tớ không thích như vậy.
-   Cậu đã làm một chuyện xuẩn ngốc. Ở địa vị cậu chúng tớ sẽ ..

Bordas nổi cáu :

-   Hãy lôi tao ra khỏi đây nhanh lên, hơn là cứ lải nhải nói bậy. Vào địa vị tao, mày cũng làm như tao.

Không chỉ có thư trong túi sách của Bordas mà còn có cả hai chai rượu Cognac. Sáng hôm sau, với cặp mắt lờ đờ nhưng tâm trí vẫn sáng suốt, Bordas bình luận :

- Cuộc sống thật là nhộn : một chầu rượu tiễn đưa, lại một chầu rượu trở về. Cuối cùng mình vẫn không phải rời bỏ tiểu đoàn
Logged
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 505


« Trả lời #49 vào lúc: 03 Tháng Ba, 2008, 05:27:58 pm »

GIÀNH LẠI ELIANE 1
Từ 10 đến 11 tháng 4 năm 1954

-   Phải giành lại Eliane 1 ! – Cặp mắt nghiêm nghị, quai hàm khít lại, Bigeard quyết định như vậy. – Pháo địch đã rơi xuống đầu mình nhiều quá rồi !

Hôm trước, khi thiếu tá Bigeard và trung úy Bourgois quan sát bằng ống nhòm trên đỉnh đồi, hai người đã bị lính bắn tỉa Việt Minh nấp trong những chiến hào vây quanh đồi nhằm bắn. Bourgois bị trúng một viên đạn vào trán, giữa hai con mắt. Còn pháo địch thì bắn xuống hầm chỉ huy của “Bruno” từ một tuần nay rồi. Thỉnh thoảng cối 120 của địch lại nổ ngay sát hầm hào. Tất cả cứ như là Việt Minh đã biết rõ vị trí nên đã quyết định tiêu diệt viên chỉ huy đã thách thức mình từ nhiều năm nay và là người đang cổ vũ tinh thần chiến đấu của binh lính tại Điện Biên Phủ.

Cũng phải thừa nhận rằng, từ khi có mặt tại đây ngày 16 tháng 3, Bigeard đã củng cố tinh thần chống cự và những thắng lợi đạt được đều có bàn tay của ông.

Suốt đêm qua, Bigeard đã cùng với thư ký riêng của mình là Martial Chevailer ấn định những chi tiết cụ thể cho cuộc hành quân dự định. Đến sáng, Bigeard triệu tập các đại đội trưởng Le Page, Trapp và Perret tới hầm chỉ huy phổ biến nhiệm vụ :

-   Tôi đã tính toán kỹ mọi yểm trợ bằng pháo binh và không quân. Allaire đã tập trung tất cả cối 81 của các tiểu đoàn dù và sẽ phát huy hỏa lực. Bây giờ tôi cần một lực lượng linh hoạt, nhanh nhẹn, quyết tâm, có tinh thần quyết thắng. Không cần nhiều. Mục tiêu nằm ở đỉnh đồi. Việt thiết yếu là xộc tới đó. Rõ chưa ?

Các đại đội trưởng đưa mắt nhìn nhau. Họ đã hiểu. Bigeard mời mọi người ăn chung một đồ hộp khẩu phần không lấy làm gì ngon, có vẻ như mùn cưa. Sau đó là một điếu thuốc là, một ca cà phê.

-   Sau đó , chỉ cần báo cáo “ Tôi đã sử dụng hai đại đội để chiếm lại Eliane 1”. Tôi biết, hiện nay các đại đội của các anh đang trong tình trạng như thế nào. Nhưng tôi tin chắc là lính dù các anh có thể chiến thắng.

Le Page nói :

-   Tôi chỉ còn có 82 người trong quân số đại đội.

Trapp nói theo :

-   Đại đội tôi cũng gần như vậy. Dưới một trăm, kể cả một số người đang bị thương nhẹ.

Bigeard kết thúc :

-   Ngày mai, 10 tháng 4, sẵn sàng tại vị trí xuất phát tiến công lúc mặt trời mọc. Tôi sẽ cho đào một giao thông hào tiếp cận để các anh có thể dẫn quân tới sát cự ly xung phong.

Le Page và Trapp lại nhìn nhau. Không cần mất nhiều thời gian để Bigeard phát hiện thấy chiến thuật của địch và tính cách đối phó.

Trapp nhếch đôi môi mỏng và phì cười :

-   Được. Tôi sẽ dẫn « sư đoàn » của tôi tiến công địch.

Trong cuộc hội ý cuối cùng, trung úy quyết định đẩy mũi trinh sát lên tận cùng giới hạn pháo bắn chuẩn bị để khi pháo ngừng bắn có thể úp chụp ngay lấy các mục tiêu tiến công.

6 giờ sáng. Một loạt súng nổ rền, lan rộng, ngày càng rõ. Chính xác như một cái đồng hồ, các cỡ pháo, cối ở khu trung tâm Điện Biên Phủ và ở phân khu Nam Isablle, khạc đạn với nhịp độ cao nhất. Sau đó là cối 81 của Allaire dội vào các chiến hào ngoại vi Elliane 1, một cơn mưa lũ quả đạn.

Với giọng nói bình tĩnh truyền qua điện đài, Le Page và Trapp báo cáo các trung đội của mình đã bố trí cách chiến hào ngoại vi Eliane 1 khoảng 50 mét.

Pháo chuẩn bị cho tiến công vẫn tiếp tục bắn phá hoại. Lúc này là 6 giờ 10 phút. Rồi đột nhiên một sự im lặng lạ lùng ập đến như là vừa mới kết thúc một cuộc hòa tấu có kèn đồng và trống. Trong tai vẫn còn dư âm của những tiếng nổ, chưa thể xác định ngay tình hình bên ngoài, Le Page nắm lấy máy nói :

-   Theo tôi !

Thượng sĩ Herraud giơ tay. Anh vừa được vinh dự đi đầu. Bên tay phải anh, trung đội Samalens thuộc đại đội 2 cũng không muốn rớt lại sau. Để tiến công Eliane 1 thì dù đại đội 1 hay đại đội 2 cũng vẫn là lính dù Bảo an, chiến đấu với một quyết tâm ngang nhau. Họ tên là Thuyết, Giá, Hoàng, Thọ .. đã đi lên nhằm chiếm lại một vị trí cũng do người Bắc kỳ đang đóng giữ, và tình cờ hai bên trở thành địch thủ của nhau.

Họ leo lên những thước đất cuối cùng của sườn đồi. Trước mặt họ, đạn pháo đã sới tung những chiến hào địch. Nhưng, họ còn phải chiến đấu với bộ đội Việt Minh. Toán lính dù xung kích trinh sát của tiểu đoàn Bigeard này thường được gọi là những con « cào cào châu chấu » đang muốn tỏ rõ mình cũng chiến đấu không kém tụi lính lê dương châu Âu. Phía sau họ, lính châu Âu do trung úy Corbineau và trung úy Leroy chỉ huy, cổ vũ bởi đám lính phía trước, đang cố tiến kịp họ. Cuộc giao tranh diễn ra trên bờ dốc, cạnh lô cốt, trong chiến hào, giao thông hào.

Tất cả hai bên đều lao vào nhau, với cảm tưởng kỳ lạ đang bị tách ra làm đôi, một nửa hoạt động chiến đấu, một nửa đang suy nghĩ, đắn đo, phán xét và đến khi sực tỉnh nhớ ra thì vội lùi về phía sau cùng với hành trang của mình. Đã có những người ngã xuống, chẳng biết là ai, ngay cả khi đó là đồng đội thân nhất của mình. Chỉ thoáng phân biệt được qua quân phục ngụy trang hoặc qua khẩu súng quen thuộc.

Trên đỉnh đồi Eliane 1, chỉ có màu đen và đỏ, tro và máu. Trong lớp sương mù dày đặc nồng nặc mùi ô nhiễm, cuộc chiến đấu diễn ra với những qui mô khác nhau. Tính chất dữ dội lên tới cực điểm. Mãi sau này, những người sống sót chỉ còn nhớ được một kỷ niệm lờ mờ, tương tự như một tai nạn xe ô tô với những hình ảnh không rõ nét, riêng mùi vị thì vẫn đọng lại mãi. Đó là mùi dầu lửa, mùi thuốc nổ, mùi thịt người cháy đen.

Lính dù gặm dần vị trí của Việt Minh. Khi tới đỉnh đồi thứ hai ở phía Đông, từ đó có thể nhìn thấy sườn đồi Eliane 1, Trapp cúi xem đồng hồ. Đã 12 giờ trưa. Ông khó tưởng tượng được rằng 6 tiếng đồng hồ đã trôi nhanh trong tiếng nổ, trong lửa đạn và trong sự phẫn nộ.

Le Page ở bên trái, Trapp ở bên phải, cả hai bên đều vội vã tổ chức phòng ngự. Việt Minh nhất định sẽ phản ứng, không chịu để mất một vị trí quan trọng như thế này.

Chỉ vài phút sau đã hoàn thành công việc bằng mọi thứ sẵn có. Lính dù chất xác lên làm bờ lũy sửa chữa lại mái hầm, lấy mũ sắt đào hầm ếch dùng làm chỗ nấp.

Bộ đội Việt Minh phản kích ngay lập tức bằng một cuộc tiến công vừa bực tức vừa giận dữ.

Trên đỉnh đồi, hai đại đội dù cố bám giữ. Bigeard đã nói “ Không được chốt chặn các vị trí”. Các đại đội trưởng hiểu là chừng nào còn chiến đấu giáp lá cà thì không thể có cứu viện. Phải nhanh chóng đánh bật Việt Minh xuống khe rãnh, ngăn địch trở lại bằng cách đề nghị pháo 105, cối 120, cối 81 bắn chặn. Đây là lúc thương vong cao nhất, Le Page nhận xét :

-   Xung phong tiến công là nhiệm vụ ưu tiên. Phòng ngự là bị tiêu hao binh lực.

Đúng vậy. Tất cả các trung đội trưởng đều đã bị chết hoặc bị thương. Trung sĩ trưởng Marc bị cụt tay, đang nằm hấp hối, trong một cái hố. Các trung úy Leroy, Samalens, Corbineau đều bị trúng đạn hoặc mảnh lựu đạn. Hiện giờ chỉ huy các trung đội đều là những trung sĩ bình thường. Dẫn đầu là Sentenac. Một viên đạn đã xuyên qua bắp chân nhưng anh không chịu lui về sau.

Đại đội 3 kéo đến trợ lực cũng gặp nhiều khó khăn. Đại đội trưởng Fromont, một sĩ quan trẻ, tốt nghiệp trường Cao đẳng quân sự Saint Cyr, bị trúng nhiều mảnh đạn vẫn giữ một đầu hào cùng với một dúm lính lành lặn.

Bên phải, trung đội 1 của đại đội Trapp hoàn toàn bị loại khỏi vòng chiến. Trung đội trưởng là trung sĩ Balliste là một trong những người đầu tiên tử trận. Toàn trung đội chỉ còn lại hai người sống sót là hạ sĩ Cazeneuve và Pingwarski. Họ đang tìm cách đưa xác chỉ huy về tuyến sau.

Đến đêm, trên đồi Eliane 1 vẫn tiếp diễn trận giao tranh. Hai đại đội « mới toanh » được chỉ định tới thay quân cho Le Page và Trapp. Đó là đại đội 1, đại đội 2, thuộc tiểu đoàn 2, trung đoàn dù thuộc địa số 1 của Bréchignac, do đại úy Charles và đại úy Minaud chỉ huy. Đó là những đơn vị cơ động còn lại của tập đoàn cứ điểm. Khi Trapp về tới cửa hầm chỉ huy của Bigeard, ông lập tức thống kê số thương vong : toàn đại đội có 80 người tham gia chiến đấu thì 15 người bị chết, 20 người bị thương. Tất cả trung đội trưởng đều bị chết hoặc bị thương.

Charles và Minaud vừa đi vừa chạy để kịp tới thay quân cho các đơn vị bạn. Lính dù của trung đoàn dù thuộc địa vừa tới nơi, chưa kịp nhận rõ các vị trí đã bị gần như toàn bộ pháo binh địch bắn phá khủng khiếp. Đến 7 giờ tối, bộ đội Việt Minh từ lớp đất và bụi xông tới, thét to :

-   Tiến lên ! Tiến lên ! Xung phong !

Mũi xung kích chủ yếu thọc vào trung đội Ruyter. Lính trong trung đội này mới tới đây ngày hôm kia, chưa ai có một ý niệm gì về chiến đấu giáp lá cà. Rất nhiều người trong số họ chưa bao giờ nhìn thấy Việt Minh đông như vậy và gần như vậy. Lập tức, họ chiến đấu ngay. Phía sau họ , các trung đội khác lần lượt tham gia chiến đấu, thành từng nhóm nhỏ hoặc lẻ tẻ từng người. Khi bị thương, họ đành nằm xuống đất ngay tại chỗ, không hy vọng được cứu chữa hoặc đưa về phía sau.

Trong vòng 3 giờ chiến đấu hai đại đội lính dù thuộc địa đã bị mất tới một nửa số quân. Điện đài liên tục kêu cứu viện. Các trung đội không còn khả năng chống cự được nữa. Vả lại, từ 21 giờ lính dù đã không còn chỉ huy, Charles và Minaud lần lượt bị thương.

Thế là, lần đầu tiên kể từ khi bùng nổ chiến dịch, Bigeard kêu gọi tất cả các tiểu đoàn ở Điện Biên Phủ giúp ông bám giữ Eliane 1. Đây không phải là mệnh lệnh mà là lời yêu cầu. Và cũng không còn một lực lượng nào gọi là « mới mẻ » vì phần lớn các đơn vị đều thiệt hại ít nhiều sau những ngày chiến đấu liên tục vừa qua. Hơn nữa, các tiểu đoàn chiến đấu đều bị xé lẻ, từng đại đội đều đã đi tăng cường cho vị trí này, vị trí khác, hoặc đang tham gia chiến đấu giữ một điểm tựa nào đó.

Đơn vị đầu tiên lên tiếng trả lời là tiểu đoàn dù lê dương số 1. Đại đội của Martin ở gần Eliane 1 nhất, chạy thật nhanh ngang qua khu trung tâm để tới ứng cứu. Đơn vị vượt qua sông Nậm Rốm băng tới con đường đã từng qua lại hàng chục lần trong tuần khi cần ứng cứu Eliane 2. Ra tới đường 41, mọi người vòng qua Eliane 4 đang bị pháo Việt Minh bắn phá không ngừng. Họ vội tản ra trên cánh đồng.

Rồi trong lúc chuẩn bị leo lên sườn đồi mặt Tây Eliane 1, lính lê dương bỗng cất tiếng hát. Đây là lần đầu tiên xảy ra hiện tượng này. Cho đến nay, vẫn chưa ai biết người nào đã có sáng kiến trên. Hình như tất cả đều có ý định đó. Đó là phản ứng bột phát của mấy chục lính mũ nồi xanh muốn thách thức số phận.

Tiếng hát bốc cao, nhịp theo bước chân, buộc những người lính lê dương phải ngẩng đầu, phưỡn ngực. Họ không đi diễu binh mà chỉ là những người lính giữ các vị trí không thể nào giữ được. Họ cũng không cần phải che đậy sự thật là cái chết đang đợi ở đầu đường bên kia.

Những người lính lê dương của Loulou Martin cất tiếng hát. Những người bạn chiến đấu của họ ở đơn vị khác cũng hát theo. Đó là lính dù thuộc một đại đội của tiểu đoàn dù lê dương số 2 vừa nhảy xuống đêm hôm trước và đêm nay là trận thử lửa đầu tiên.

Tiếng hát của họ vẫn không giảm khi họ tới đỉnh đồi, không chấm dứt khi họ bắt liên lạc được với số lính dù thuộc địa đẫm máu vì trải qua cuộc chiến đấu chống lại kẻ địch đông hơn gấp bội. Tiếng hát vẫn tiếp tục khi lính dù lê dương bước vào các vị trí chiến đấu nóng bỏng như lò lửa.

Họ chỉ có chưa đầy 200 người, nhưng tiếng hát của họ bốc lên cao vượt cả tiếng đạn nổ. Tiếng hát vang cả đến tai bộ đội Việt Minh đang không thể hình dung nổi tại sao bọn « lính đánh thuê cho đế quốc » lại dám khinh nhờn cái chết đến như vậy.

Đằng sau lính dù lê dương là hai đại đội lính dù Bảo an vừa mới vội vã tập hợp dưới sự chỉ huy của Botella. Đây là những người còn sống sót sau những trận chiến đấu ở Dominique và Eliane. Đại đội 3 đặt dưới sự chỉ huy của đại úy Guilleminot đang muốn phục thù rửa hận. Cách đây ba tuần Guilleminot chỉ huy bọn lính Thái đóng ở Anne Marie bỏ chạy hết, chỉ còn lại một mình Guilleminot. Ông đã đề nghị thay thế trung úy Gaven sau khi trung úy chết trận.

Đại đội 2 đặt dưới sự chỉ huy của trung úy Phạm Văn Phú ( Trong chiến dịch Điện Biên Phú, Phạm Văn Phú bị ta bắt làm tù bình, sau đó được phóng thích nhưng tiếp tục làm tay sai cho Mỹ- Thiệu, leo lên cấp trung tướng chỉ huy vùng chiến  thuật 2. Tháng 3 năm 1975, Tây Nguyên bị tiến công, Phú bỏ chạy về Sài Gòn rồi uống thuốc độc tự sát – ND), một trong những sĩ quan dù người Việt có mặt tại đây.

Guilleminot và Phú đều nghe thấy tiếng lính dù lê dương hát. Hai người không có phản ứng gì. Vả lại họ cũng không thể ra lệnh cho lính Bảo an hát được. Bọn này chỉ biết các bài hát của lũ trẻ chăn trâu hoặc những bản tình ca.

Và rồi cũng không biết ai là người đầu tiên trong bọn họ hát. Mà là hát bài La Marseillaise, quốc ca Pháp. Bọn lính Bảo an chỉ biết độc một ca khúc này. Hẳn đó cũng là điều khẳng định sự trung thành của họ đối với những binh lính Pháp đang chiến đấu bên cạnh.

Đến 2 giờ sáng, những người lính Việt Minh cuối cùng rút khỏi hầm hố của họ. Ít phút sau, họ bắt đầu tụt xuống sườn phía Đông Eliane 1. Những lính lê dương đầu tiên đặt chân tới đây chỉ thấy những vị trí đã rút bỏ.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM