TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh

Bài viết: 505
|
 |
« Trả lời #50 vào lúc: 04 Tháng Ba, 2008, 11:16:43 am » |
|
NHỮNG NGÔI SAO CẤP TƯỚNG Từ 10 đến 15 tháng 4 năm 1954
Linh mục tuyên úy Trinquand quỳ trong bùn, khẽ đọc bản kinh dành cho những người hấp hối. Trung úy Brunebroucke nằm trên chiếc cáng làm tạm bợ chỉ còn sống được vài giây đồng hồ nữa thôi. Ngực ông bị thủng vì nhiều mảnh đạn, mắt ông nhìn vòm trời đang bị xé rách bởi tiếng rít của những quả đạn pháo rơi chung quanh chiến hào gần trạm phẫu thuật. Những lính pháo thuộc địa châu Phi đứng chung quanh, chìm đắm trong sự buồn rầu, bàn tay buông thõng, không kìm được tiếng khóc. Họ đã mang xác trung úy đi qua cứ điểm Epervier về đây, với hy vọng có thể cứu sống ông.
Chấm dứt câu kinh, đức cha Trinquand phác họa trên đầu trung úy một cay thánh giá. Đôi môi Brunebroucke khẽ mấp máy rồi dừng lại ở nụ cười thanh thản. Mắt ông mờ đi. Lúc đó là 10 giờ sáng 13 tháng 4 năm 1954.
Những người lính châu Phi cầm lấy tay đòn của chiếc cáng. Họ đi xa dần, bước đi nhẹ nhàng, mang theo xác người chỉ huy. Họ đã quyết định chôn ông ngay sát vị trí của mình, không muốn để ông nằm lại một mình.
Cha Trinquand vẫn đứng yên lặng tại chỗ. Linh mục buồn rầu nghĩ đến tất cả những chàng trai trẻ đã chết, ngày nào cũng có người chết, chết một cách bình thản, không nuối tiếc, vì ý nghĩ đã đi tới cùng nhiệm vụ của mình. Họ đã từng sống lẻ loi, không biết gì về một mẫu quốc quên lãng hoặc ghẻ lạnh, ít được hiểu về một bộ chỉ huy đã không biết hoặc không thể giải thích những lý do chiến đấu cho họ, cho những người ở Điện Biên Phủ hiểu rằng họ chỉ có thể trông chờ ở chính bản thân. Đây không phải là những kẻ nhất quyết hy sinh tất cả, kể cả cái cao quý nhất là mạng sống, để đương đầu với một thách thức của lịch sử, mà chỉ là những nhân chứng chiến đấu, đau khổ và chết trận vì danh dự quân chủng, vì màu cờ.
Cuối cùng, cha Trinquand cũng đã đến lượt ra đi, đôi vai nặng trĩu nỗi bối rối. Là người của đức Chúa Trời, có mặt tại Điện Biên phủ để mang đến cho những người lính tình yêu và hòa bình, linh mục chỉ có thể giúp họ chịu đựng đau khổ và chết. Liệu cha có thể cho họ thêm một niềm hy vọng nữa chăng, trong khi, thường thường chính họ nêu gương về hy vọng.
Sau khi phía Pháp giành lại được Eliane 1, cuộc chiến càng thêm phần dữ dội. Việt Minh quyết dứt điểm. Tối nào họ cũng tiến công, đánh chiếm một mỏm đồi đã bị tàn phá.
Sư đoàn 316 chiến đấu dai dẳng chống lính dù và lính lê dương cố bám giữ vị trí không chịu rời bỏ.
Ở bên kia thung lũng, sư đoàn 308 vây cụm Huguette 6, nay chỉ còn một đống gò nổi và hố bùn có khoảng một trăm tám mươi lính lê dương và lính dù Bảo an chiến đấu phòng ngự đã hai tuần. Chỉ huy họ là Bizard, con người không biết mệt mỏi cùng với hai phó là Rastouil và Francois. Bây giờ, họ hoàn toàn bị cách biệt với phần còn lại của Điện Biên Phủ bởi một mạng lưới chiến hào vây quanh cứ điểm kéo dài đến tận đầu đường băng sân bay, không tài nào lấp được. Lính trong cứ điểm bị vây hãm, bị cứt đứt mọi thứ. Để giúp đỡ họ, để tiếp tế cho họ, mỗi buổi tối lại phải tổ chức những cuộc hành quân tiến công huy động nhiều đại đội tham gia. Việc trước tiên là phải chọc thủng chiến tuyến của địch trước khi tính đến chuyện hộ tống, bảo vệ đám phu khuân vác đưa hàng tiếp tế đến cho cứ điểm.
Tất cả mọi thứ đều phải đưa từ ngoài vào, kể cả nước là thứ cần thiết nhất để tồn tại. Ngày hôm qua Bizard đã cho đào một cái giếng, nhưng chỉ thu được vài lít nước lẫn bùn nhầy nhụa và hôi thối.
Nhận thấy tíến công Huguette 6 gặp nhiều thương vong. Việt Minh quay sang bóp nghẹt cứ điểm. Bộ đội Việt Minh tạo được những điểm tựa thật sự, với những lô cốt kiên cố, đắp bằng những bao cát hoặc những ghi sắt lấy được từ đường băng sân bay. Súng trọng liên và pháo không giật của Việt Minh nhằm bắn vào cánh đồng đối diện với Huguette 6 ở phía Nam. Những chân rết từ hào giao thông của địch đã từ từ tiến dần đến hàng rào dây thép gai bị đổ nát. Một ngày nào đó, một đêm nào đó, những vật chướng ngại cuối cùng sẽ bị sụp đổ như đê vỡ, bộ đội Việt Minh sẽ tràn vào thẳng cứ điểm.
Nhằm làm chậm tốc độ đào hào của địch, ngày nào Bizard cũng tiến đánh các công trình đào lấn. Nhưng chỉ là công cốc, vừa lấp xong địch đã lại đào, không mệt mỏi.
Từ đầu tháng 4, sống trong cứ điểm Huguette 6 có nghĩa là ăn, ngủ, chiến đấu trong một khu vực lầy lội đến tởm lợm, xung quanh là xác chết, chuột và ruồi nhặng. Vậy mà binh lính ở đây vẫn giữ được vị trí. Thái độ của họ thật khó giải thích. Bởi vì, họ chẳng có được gì để động viên tinh thần, không hy vọng được cứu viện, không hy vọng được sống sót. Càng không chắc chắn được điều trị nếu bị thương. Ngược lại, một vết xước nhỏ cũng có thể dẫn đến hoại thư trong vòng 6 tiếng đồng hồ.
Họ cũng hầu như không còn chút gì để ăn, uống, mỗi ngày chỉ có một ca nước trong khi phải là hai lít nước uống mới đủ. Giấc ngủ của họ luôn bị ngắt quãng bởi pháo bắn, bởi phải đi tuần tra và đổi gác. Phần lớn binh lính đều không biết nhau vì trong cứ điểm toàn là những người đến từ các đại đội khác nhau như : tiểu đoàn 1 thuộc trung đoàn 2 bộ binh lê dương, tiểu đoàn 3 thuộc bán lữ đoàn 13, tiểu đoàn dù số 5, hoặc những đơn vị nhảy dù tăng viện. Tất cả quân số chỉ có 180 binh sĩ bị cô lập, chung quanh toàn là địch.
Ngày 14 tháng 4 một quả đạn pháo không giật bắn thẳng vào hầm các sĩ quan giữa lúc đang giao ban, trung úy Rastouil bị chết, Bizard và Meric bị thương. Ngay tối hôm đó, đại tá De Castries quyết đinh rút bỏ Huguette 6. Ông nói :
- Việc phòng ngự, giải vây, tiếp tế cho Huguette 5 đã khiến cho chúng ta phải trả giá đắt hơn những trận chiến đấu trên các dãy đồi Eliane.
Langlais trả lời :
- Tôi biết. Nhưng nếu rút khỏi cứ điểm này, diện tích tập đoàn cứ điểm của chúng ta sẽ bị giảm 20% và một phần ba đường băng sân bay sẽ rơi vào tay Việt Minh.
Nhưng trên thực tế, Huguette 6 không còn kiểm soát được gì nữa. Cứ điểm này như một dấu chấm trên đầu chữ « i » ở tận cùng phía Bắc đường băng, đến bây giờ lại như một cái mụn chín mé trên đầu ngón tay đang hoại thư. Sau một hồi suy nghĩ, Langlais đành chấp thuận và nói :
- Bigeard sẽ tổ chức một cuộc hành quân giải tỏa để Huguette 6 rút.
Langlais vừa được thăng cấp đại tá, nhưng không có cấp hiệu có năm vạch vàng. De Castries nhận được điện báo thăng cấp thiếu tướng đã nhường cho Langlais cấp hiệu đang đeo. Nhưng cấp hiệu của Castries nền đỏ, Langlais phải dùng mực tàu bôi đen cho phù hợp với binh chủng của mình. Về phần Castries, ông đành hài lòng với những ngôi sao cắt từ mảnh vỏ đồ hộp bằng sắt tây.
Từ Hà Nôi, tư lện Cogny đã báo tin thả dù cấp hiệu tướng cho Castries nhưng không thấy gì. Các sĩ quan trong ban tham mưu nghĩ rằng những ngôi sao cấp tướng này đã rơi sang trận địa Việt Minh cùng với những huân chương Bắc Đẩu và huy chương Chữ thập chiến tranh.
Vài giờ sau, những tin tức nghe lén từ đài địch cho biết, Việt Minh tịch thu được một loạt huân chương khen thưởng. Đối với nhiều nhà sử học sau này, những ngôi sao cấp tướng của De Castries cũng nằm trong lô hàng này và một số người đã vui thích dựng thành chuyện châm biếm.
Trên thực tế, chúng là gói hàng có những ngôi sao cấp tướng dành cho những người được thăng cấp đã bị rơi lạc. Trong kiện hàng này còn có hai tút thuốc lá Mỹ Lucky Strike và hai chai rượu cô- nhắc Remy Martin.
Trung sĩ Zurell tiếc rẻ :
- Thế là chẳng ai được uống những chai rượu này …
Chiều hôm đó, một đội tuần tiễu của tiểu đoàn dù lê dương số 1 từ cứ điểm Huguette 5 ở phía Tây quan sát thấy cách hàng rào dây thép gai khoảng 100 mét, có một gói nhỏ bọc vải đay, nằm chơ chọi khác lạ giữa đống kiện hàng to tướng rơi rải rác. Lính lê dương vốn có cặp mắt rất tinh đã suy diễn nhanh. Novak nói :
- Hẳn đây là một gói quà bánh gì đó ..
Nhiều ngày nằm trong hố hào chỉ được tiếp tế mỗi ngày một lần thức ăn bằng đồ hộp và nước uống, đám lính dù đội mũ bê-rê màu xanh thường mơ ước được nhấm nháp một mẩu bánh mì với một ca rượu vang. Cái gói nhỏ này đang mê hoặc họ :
- Có lẽ trong đó có rượu sâm-banh. Hoặc rượu A-nít cũng nên.
Muốn ra nhặt kiện hàng dưới đạn pháo, phải có những người xung phong tình nguyện, ít nhất cũng phải vài chục người. Nhưng trung úy Boisbouvier chỉ chọn có hai, trong khi nhiều người khác phản kháng vì không được chọn.
Khi hai “con sâu rượu” này quay trở lại, mọi người nhao nhao hỏi ;
- Thế nào ? - Nhìn đây ! Có đề chữ “ Quà dành riêng cho thiếu tướng De Castries”.
Chính do đó mà đại đội 4 tiểu đoàn dù lê dương biết tin chỉ huy trưởng được thăng cấp. Nhưng, liệu có nên hy sinh một toàn lính tuần tiễu để mang quà đến hầm chỉ huy của tướng De Castries không ? Đã có nhiều người tình nguyện. Nhưng Zurell lấy tan nắn kiện hàng, thấy có tiếng thủy tinh lạo xạo, vội nói ;
- Những chai rượu vỡ hết rồi ! - Cóc cần ! De Castries nhất định nghĩ rằng chúng mình đã uống cạn rồi cho mảnh chai vỡ vụn vào trong túi, khâu lại. Thôi, kệ ông ấy ! Nhìn xem còn gì nữa không ?
Lính dù lê dương moi hết thuốc lá dành cho tướng Castries ra hút hết rồi hỏi nhau :
- Thế chúng mình làm gì với những ngôi sao này ?
Boisbouvier quả quyết đã chôn kỹ dưới đất để khỏi rơi vào tay Việt Minh.
Mãi 25 năm sau, theo lời Zurell kể lại, những lính dù lê dương thuộc đại đội 4 tiểu đoàn dù số 1 còn kể lại với nhau chuyện này trong buổi họp mặt. Và họ đã cười vui với nhau.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh

Bài viết: 505
|
 |
« Trả lời #51 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2008, 11:43:20 am » |
|
CỤM HUGUETTE NGHẸT THỞ Từ 15 đến 23 tháng 4 năm 1954
- Bizard đấy à ? Clémenson đây ! Cuộc hành quân giải vây Huguette 6 không đến được tận chỗ anh đâu. Chúng tôi đã thỏa thuận với ban chỉ huy để các anh tự quyết định.
Đã đến đâm. Tính đến lúc này, Bigeard và các đơn vị cứu viện gồm hai đại đội thuộc tiểu đoàn dù xung kích số 8, hai đại đội thuộc tiểu đoàn dù lê dương tiến đánh từng bước một, các đơn vị bộ đội Việt Minh đóng chốt tại một điểm gọi là “nút chai” ở phía Nam Huguette 6 đã kéo dài suốt 12 giờ. Bên cạnh những khó khăn về địa hình, lính tiến công còn bị Việt minh trong lô cốt dùng súng máy và súng không giật bắn sát mặt đất, cộng với những khẩu cối 120 và 81 bố trí trên sườn dốc của cứ điểm Anne Marie cũ, bắn trợ lực.
Vừa mới đây, ở khoảng cách giữa hai đại đội của hai tiểu đoàn, một loạt đạn pháo đã rơi xuống chỗ hai sĩ quan là Bonelli, ở cuối đại đội 4, tiểu đoàn 8 và Luciani ở đầu đại đội 1 lính dù lê dương. Tuy nhiên, những quả đạn này đã không phát nổ. Hai trung úy đã vui mừng bắt tay nhau theo phản xạ đột nhiên.
Trong vòng 20 phút, bộ đội Việt Minh đã kịp thời bố trí một khẩu trọng liên trong mũi chiếc máy bay Curtiss – Commando bị phá hủy từ ngày 13 tháng 3 bỏ lại giữa đường băng. Zurell dẫn tiểu đội của mình đến sát cự ly xung phong, nhưng rồi Zurell phát hiện thấy chỉ còn lại một mình ông với vài người nữa. Những người khác đã không tiến lên được. Gần như bị bao vây, Zurell nhanh trí gọi to các “đại đội ma” để uy hiếp địch :
- Đại đội 3, tiến sang phải ! Đại đội 2 xông thẳng lên phía trước !
Việt Minh hoảng sợ hoặc làm ra vẻ hoảng sợ đã ngồi yên trong hầm hố, bắn súng và ném lựu đạn về phía nghi ngờ có quân Pháp tiến đánh.
Đã 5 giờ sáng. Bigeard nhận xét thấy sẽ phải trả giá đắt nếu cứ cố bắt liên lạc với Huguette 6 chỉ còn cách đó hơn 500 mét. Với 500 mét này cũng không thể nào tới được trước lúc rạng đông. Ông không muốn giết hại thêm số ít lính dù còn lại trên trận địa và đã được Langlais đồng ý thông báo cho Bizard chỉ huy cứ điểm Huguette 6 biết, lính lê dương và lính dù trong cứ điểm phải tự giải quyết.
Để tránh địch nghe lén, Clémenson dùng tiếng Anh truyền đạt chỉ thị này tới Bizard, một đại úy 29 tuổi, vừa mới được tặng thưởng huân chương Bắc đẩu ngoại hạng.
Bizard bình tĩnh trả lời :
- Rõ ! Các ông để tôi tự giải quyết.
Sự lựa chọn của Bizard rất đơn giản. Có 3 cách giải quyết. Một là, chiến đấu tới người cuối cùng, không hy vọng được tăng viện hoặc cứu viện. Một cuộc chiến đấu vô ích, bởi vì trường hợp nào thì số phận của Huguette 6 cũng đã được định đoạt rồi. Hai là : đầu hàng. Như vậy sẽ tiết kiệm được sinh mạng, giảm bớt được tình trạng khốn khổ của binh lính trong đồn đang bị vây chặt,, coi như đã bị bắt làm tù binh. Ba là : cố chạy thoát, tự lực tiến hành một cuộc di tản không có yểm trợ, cố rút về những tuyến phòng ngự của các đơn vị bạn.
Đó là một giải pháp tuyệt vọng. Bizard đã nhận thức rõ như vậy. Nhưng đây là giải pháp duy nhất trong khuôn khổ tinh thần trách nhiệm. Ông nghĩ, những người lính lê dương và lính Bảo an đã chiến đấu suốt ba tuần nay trong cái vũng nước ô uế gọi là Huguette 6 này xứng đáng được hưởng một cái gì đó tốt hơn là chết vô ích hoặc đầu hàng trong tủi nhục. Chiến đấu một lần cuối cùng sẽ có thể chết, nhưng phải làm thế nào để còn có quyền chiến đấu nữa.
Ông nói với Francois vừa được thăng cấp đại úy :
- Chúng ta không tìm kiếm giải pháp dễ dàng.
Ông chỉ thị cho mọi người đeo một cái túi cát ở ngực để ngăn đạn và mảnh lựu đạn, rồi tập hợp toàn đơn vị trên bờ các chiến hào, nói :
- Khi nghe thấy tôi phát lệnh, tất cả phải nhảy vọt ra chiến hào, chạy thật nhanh, hướng về chỗ xác chiếc máy bay Curtiss-Commando.
Khoảng 120 binh sĩ còn sống sót đưa mắt nhìn nhau. Họ sẽ phải vượt hơn 300 mét trên bờ dốc không có gì che chở, phơi mình trước họng súng trọng liên của Việt Minh đặt trong hầm hố.
Bizard nói tiếp :
- Hy vọng duy nhất của chúng ta là, hiện nay địch đang bố trí hướng về phía Nam. Chúng ta chạy ở phía sau lưng chúng. Cầu trời, chúng đừng quay mặt lại.
Mười phút sau, Bizard hạ lệnh phá hủy hết tất cả các thiết bị không thể mang theo như điện đài, vũ khí nặng, trọng liên, súng cối. Từng trung đội báo cáo đã sẵn sàng.
- Tốt ! Bò sát đất tới cách chiến hào Việt Minh khoảng 30 mét. Nghe phát lệnh là vùng lên chạy !
Lúc này là 10 giờ 22 phút ngày 18 tháng 4. Đó là một ngày Chủ nhật. Trời đẹp. Lại đúng là ngày Lễ Phục sinh. Trong hầm sở chỉ huy trung tâm, đức cha Heinrich đang đọc kinh.
Bizard chống khuỷu tay nhổm người lên. Ông co chân dưới bụng, dùng hai cánh tay tạo đà, hai bàn tay bám chặt lấy bờ hào :
- Chạy !
Mọi người nhảy lên khỏi hào, ra sức chạy. Phía sau họ có tiếng súng máy. Đó là Ganzer vừa mới bị thương lúc sẩm tối. Ông không rút mà bắn những viên đạn cuối cùng về phía địch.
Lính dù lê dương và lính Bảo an đã tới những chiến tuyến đầu tiên của địch. Bên phải, trung sĩ Franz và anh lính lê dương Preis thuộc tiểu đoàn 1, trung đoàn lê dương số 2 nhảy bổ vào một lô cốt. Lính Việt Minh quay người lại hét to ;
- Bỏ súng xuống ! Đầu hàng đi !
Franz bắn một loạt đạn, nhảy qua đầu “bộ đội” và lao về phía trước, kéo theo các bạn ở phía sau.
300 mét cần phải vượt, chỉ là một chuyện vặt đối với một vận động viên thể thao và chẳng nghĩa lý gì đối với một người lính. Nhưng đã 3 tuần nay các binh sĩ trong cứ điểm Huguette 6 bị thiếu thốn đủ thứ, thiếu ăn, thiếu ngủ, thiếu nước sạch. Họ như bị tê liệt trong lớp bùn chiến hào. Họ chịu đựng mọi vất vả. Họ thở dốc như hết hơi. Đôi khi lại có một người gục ngã vì vấp phải mìn cạm bẫy hoặc trúng một viên đạn giữa lúc di chuyển.
Đến 10 giờ 40 phút, những lính dù đi đầu tới những chiến hào của Pháp ở vành đai ngoài điểm tựa Opera, nửa đoạn đường từ mặt Đông Huguette 6 tới đường băng sân bay.
Cuối cùng là Bizard đi sau đơn vị cũng đã tới. Ông kiểm điểm quân số. Thiếu 60 người. Đó là những người đã bị chết, bị thương nằm lại, hoặc bị bắt. Trong đó có đại úy Francois và trung úy Legros.
Trong tổng số quân gần 300 lính lê dương và lính dù đã đóng giữ Huguette 6, có tới 106 người bị chết, 49 người bị thương, 79 người mất tích.
Khi Vadot chỉ huy phân khu Trung tâm nhin thấy Bizard và những người sống sót trở về, ông không cần nghe tường trình giải thích dài dòng cũng hiểu rõ những người này đang kiệt sức, cạn hết chất dinh dưỡng. Ngoài ra, thiếu tá quân y Grauwin còn cho biết, có những người vừa về tới nơi đã gục ngã, không nói một lời. Họ không bị thương, không bị gì hết. Nhưng đã chết.
Người ta cho rằng họ đã tắt như một ngọn nến sau khi đã sử dụng hết năng lượng.
Trước mắt Vadot là những con người vừa thoát khỏi địa ngục trở về. Ông nghĩ đến những người lính thuộc tiểu đoàn 1, trung đoàn bộ binh lê dương số 2 đóng tại điểm tựa Huguette 1 đang chiến đấu trong những hầm hố đổ nát để chống lại sự bao vây, xiết chặt cứ điểm. Từ sáng hôm nay, một đường hào của Việt Minh đã quây tròn chỗ có xác chiếc máy bay Curtiss Commando và vỏ chiếc máy bay này đang được tận dùng làm ụ súng, trở thành một vị trí không tách rời khỏi hệ thống phòng thủ của họ.
Vadot dễ dàng mường tượng tới tình huống tiếp theo. Những chuyến tiếp tế cho Huguette 1 sẽ ngày càng trả giá đắt hơn. Cơn hấp hối kéo dài của cứ điểm suốt 16 ngày và 16 đêm bị pháo bắn, phải chiến đầu đơn độc, đang dẫn đến cái chết. Những đội tuần tra đang bị đánh. Những vọng gác báo động bị bắt cóc. Vừa mới đây anh lính lê dương Preis đã bị bắt ở cách hàng rào dây thép gai có vài bước mà không tài nào giải thoát được.
Vadot giải thích cho Coutant, chỉ huy những người còn lại của tiểu đoàn 1, bán lữ đoàn 13 :
- Chỉ còn một giải pháp duy nhất là đưa một đại đội sung sức tới Huguette 1 thay quân cho trung úy Spozio đóng tại đó.
Coutant vừa mới nhảy dù xuống Điện Biên Phủ cùng với thiếu tá Lemeuvier ngày 23 tháng 3 để thay thế thiếu tá Brinon chuyển sang nhiệm vụ khác. Ông là một thiếu tá có bộ mặt tròn, hồng hào, tóc màu hung cắt ngắn, dựng ngược lên trước trán. Là một thiếu tá nhưng nom như một thiếu úy trẻ. Ông trả lời Vadot.
- Báo cáo trung tá, rất đơn giản. Tôi đang có một đại đội thường trực, hiện đóng tại Eliane 2. Hôm nay là đại đội 3 do Capeyron chỉ huy. Còn đại đội 1 của Viard là đơn vị dự bị Philippe đang tập hợp những binh sĩ còn lại của đại đội 2 sau khi đại úy Chounet chết trận để thành lập một trung đội các học viên hạ sĩ quan. Trung đội này hiện nằm ở Opera. Chỉ còn đại đội 4 đang rảnh rang. Tôi sẽ chỉ định đại đội trưởng Chevalier làm nhiệm vụ này.
Trước đêm hôm đó, Chevalier đã có mặt tại hầm chỉ huy của bán lữ đoàn lê dương số 13. Ông giơ tay chào các cấp trên rồi nói hcuyện với trung úy Veyes. Trung úy là người thân, là bạn, là em vợ Chevalier. Thiếu tá Coutant căn dặn kỹ :
- Nhớ mang theo nhiều can đựng nước. Có thể, nhiều ngày nữa chúng tôi vẫn không tiếp tế được cho các anh.
Chevalier gật đầu, không nói gì. Cũng như số đông lính lê dương, ông hiểu rõ sự tra tấn kéo dài mà Huguette 6 phải chịu đựng. Ông biết chắc chắn số phận tương tự đang chờ đón đại đội 4 của mình. Đến 8 giờ tối, đứng sau lớp rào kẽm gai của Huguette 3 gần bãi đỗ máy bay, Chevalier tuyên bố đã sẵn sàng xuất phát làm nhiệm vụ.
Đến 9 giờ, đại đội 4 vượt qau khoảng trống giữa Huguette 3 với Huguette 2. Trước mặt Chevalier là một bãi hoang vắng lặng, Việt Minh có thể đang nấp trong bóng tối.
- Xuất phát !
Đơn vị đã vượt được 100 mét trong im lặng. Chợt đơn vị đi đầu báo cáo :
- Đã gặp địch !
Chevalier tập trung toàn đại đội, hướng vào điểm được coi là dễ bị đánh nhất trong vị trí của địch. Sau một khẩu lệnh, lính lê dương ùa lên tiến ông. Vô ích. Họ vấp phải một công trình phòng ngự thật sự, với những đường hào song hành nối liền với nhau bằng nhiều nhánh, có nhiều ụ súng máy. Hai đợt tiến công của đại đội 4 đều bị đẩy lui.
Đã nửa đêm, Chevalier cố giữ vững chiến hào, đối địch với bộ đội Việt Minh đang liên tiếp tiến công hòng đánh bật thật xa lực lượng cứu viện cho Huguette 1 mà họ đã đến sát. Lính lê dương phải chia thành từng tiểu đội tiến đánh từng điểm, phá hủy một bờ hào, tiêu diệt một ổ súng máy bằng lựu đạn.
Đến rạng sáng, những khẩu pháo 105 và số cối 120 còn lại của khu Trung tâm mới có thể dồn đạn bắn vào các chiến hào của địch như Allioux đã hứa với Chevalier. Cùng với nhịp độ tiến quân, Chevalier yêu cầu kéo dài thêm tầm bắn. Chỉ còn 200 mét nữa là tới được Huguette 1 đang bị bao vây. Nhưng phải mất gần ba tiếng đồng hồ Chevalier mới vượt được quãng đường này. Cuộc tiến quân giữa đám bộ đội Việt Minh dang bám chặt lấy từng vị trí mãi sau này vẫn còn ám ảnh những người lính lê dương như một cơn ác mộng.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh

Bài viết: 505
|
 |
« Trả lời #52 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2008, 11:44:32 am » |
|
Để chiến đấu chống lại đại đội của , Việt Minh có tới một tiểu đoàn rưỡi, toàn là những người quyết thắng không lùi. Đến 10 giờ sáng, khi Chevalier tiến được tới hàng rào ngoại vị Huguette 1, ông đã bị mất một phần ba quân số, đại đội 4 lúc này chỉ còn 80 binh sĩ.
Lúc thay quân, Spozio là sĩ quan chỉ huy Huguette 1 nói với Chevalier dẫn quân tới thay thế :
- Anh phải chú ý : Việt Minh đang đào những đường hầm dưới lớp hàng rào dây thép gai. Một ngày nào đó, kẻ địch bất thình lình có thể từ đường hầm xuất hiện giữa cứ điểm. Tôi đã phải bố trí lính canh, theo dõi những tiếng đào hầm vang vọng từ dưới mặt đất của những con chuột chũi này.
Chevalier trả lời :
- Nếu tôi hiểu rõ, thì công việc của chúng tôi là phải lấy những ngón tay bịt những lỗ rò ở một ống nước đang rạn nứt ?
Đại đội Spozio rời vị trí, và cũng đã phải dũng cảm lắm mới thoát ra khỏi Huguette 1. Phía sau Chevalier vừa tiếp quản cứ điểm, vòng vây của địch lại khép chặt.
Phải mất 2 tiếng đồng hồ, những người sống sót của tiểu đoàn 1, trung đoàn 2 bộ binh lê dương mới về được tới Huguette 3. Cũng như những lính dù và lính lê dương của đại úy Bizard trước đây, cuộc lui quân này là tất cả một chuỗi rủi ro mạo hiểm đối với từng người. Mãi tới nửa đêm, đơn vị cuối cùng mới tới được Huguette 3. Vậy mà vẫn còn một số rớt lại phía sau, mãi đến hôm sau hoặc nhiều ngày nữa mới lần về đựoc vị trí, trong đó có những người phải dìu về như trung sĩ trưởng Weber bị thương ở đầu nằm lại trận địa đã được một người phu trong đoàn tiếp tế mang về trạm phẫu thuật. Weber bị hôn mê nhiều ngày tới mức không nói được mình là ai. Mãi đến ba tuần sau khi được đưa về Hà Nội, ông mới phục hồi dần trí nhớ.
Tại Huguette 1, Chevalier bố trí binh lực để có thể cầm cự được càng lâu càng tốt, không hi vọng được cứu viện hoặc tăng viện. Ông cũng khong có ảo tưởng nào về việc rút chạy. Đại đội 4 sẽ không bao giờ rời khỏi điểm tựa của mình. Mỗi giờ trôi qua lại mang đến một lời động viên bám giữ.
Suốt bốn ngày liền, Huguette 1 bị tiến đánh liên tục. Ban ngày cứ điểm bị xóa mờ dưới lớp khói của dòng thác lũ đủ mọi cỡ đạn pháo. Súng không giật của địch đặt tại Dominique 2 cách Huguette 1 600 mét lại bố trí ở điểm cao hơn, bắn thẳng vào bất cứ một bóng người nào xuất hiện trên bãi trống. Những hệ thống rào dây thép gai vừa được vá víu đêm hôm trước, đến sáng đã bị pháo bắn rách tung. Mỗi khi rạng đông, Chevalier lại tính toán, báo cáo : - Ngày 20 tháng 4 chúng tôi đã ném hết ba nghìn lựu đạn, tức là hơn một nửa số hiện có. Tôi chỉ còn giữ được một đêm, hai đêm nữa là cùng.
Từ khu trung tâm, ban chỉ huy cố động viên binh lính giữ Huguette 1 nhưng không hứa hẹn một điều gì cả. Tất cả mọi người, mà Chevalier là người đầu tiên, đều hiểu rằng cuộc chiến đấu ở cứ điểm này không còn có một nguồn hy vọng nào.
Vậy mà, ngày 22 tháng 4, đại đội 4 vẫn giữ được Huguette 1. Để củng cố phòng ngự, đại úy Chevalier đã tập trung tất cả 60 lính lê dương vào trung tâm cứ điểm và những đường hào dẫn đến hầm chỉ huy. Bố trí thế trận hình vuông là truyền thống lâu đời của lính lê dương. Họ tin rằng kiểu đánh này rồi sẽ vang lên hiệu kèn chiến thắng. Quả nhiên, tối 22 tháng 4 bộ đội Việt Minh từ các đường hầm xông lên tràn vào các hố hào cứ điểm.
Chevalier yêu cầu cối 120 bắn ngay vào cứ điểm của mình. Ngày 23 tháng 4, Việt Minh lại tiến công . Lính lê dương trong cứ điểm thực hiện một chiến thuật đơn giản. Họ bắn chết người bộ đội đâu tiên, đặt mìn bẫy dưới xác chết để Việt Minh tới nhặt xác thì mìn sẽ nổ tung. Nhưng Việt Minh đã xông lên từ tất cả các đường hầm. Lần này Huguette 1 tràn ngập Việt Minh như nước tràn vào vị trí . ( Erwan Bergot viết sai. Theo cuốn sử của Trung đoàn 36, đại đoàn 308 là đơn vị trực tiếp đánh trận này thì lính Pháp trong cứ điểm hoàn toàn sửng sốt bất ngờ khi thấy Việt Minh chọc thủng các đường hầm, từ dưới đất vọt lên, kết thúc trận đánh ngay trong đêm 22 rạng ngày 23 tháng 4 năm 1954. Nhiều nhân chứng người Pháp cũng xác nhận như vậy – ND). Đến 23 giờ điện đài của Chevalier ngừng bặt. Không có thức ăn, nước uống, hầu như không còn đạn, đại đội 4 đã giữ được suốt một tuần đương đầu với một tiểu đoàn địch.
Suốt đêm hôm đó, Vadot và Lemeunier ngồi cạnh điện đài trong hầm chỉ huy của binh đoàn 9, hi vọng một sự kỳ diệu nào đó sẽ đến với Huguette 1. Nhưng điều đó đã không xảy ra. Sáng sớm hôm sau tin tức về Huguettte 1 bị mất được khẳng định. Chỉ có một người điên dại vì khiếp sợ, gần chết vì bị đánh, ngất ngư vì bị đói, kiệt sức vì mỏi mệt, chạy được về khu Trung tâm. Đó là Josef Unterleschner. Anh ta nói lắp bắp, pha lẫn tiếng Pháp với tiếng Đức. Tướng De Castries trực tiếp hỏi chuyện người lính lê dương. Qua những lời báo cáo, ông hiểu Huguette 1 không thất thủ vì một cuộc tiến công chính diện mà sụp đổ khắp mọi nơi như một tàu chiến bị đắm, khi lớp đất cát bồi phía trên ập xuống cùng một lúc. Hình ảnh cuối cùng mà Unterleschner ghi nhớ mãi trong cuộc đời còn lại của mình là đại úy Chevalier một mình đứng trên nóc hầm từ từ bị sụt dần xuống giữa đám người mặc quân phục màu đen như bị chìm trong nước biển ( Bergot lại viết sai. Quân đội nhân dân Việt Nam không mặc quân phục đen – ND).
Trong buổi hội ý 10 giờ sáng, tướng Castries quyết định :
- Phải chiếm lại Huguette 1.
Khách quan mà nhận xét, tướng De Castries có lý. Để tồn tại, tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ cần phải được tiếp tế lương thực, đạn dược, quân tăng viện. Huguette 1 bị mất đã dâng cho địch hơn hai phần ba đường băng hạ cánh của máy bay và một nửa trận địa hữu ích. Chiếm lại Huguette 1 không chỉ là bắt buộc về chiến thuật mà trước hết, còn là một sự cần thiết để sống.
Tuy nhiên, cả Langlais lẫn Bigeard đều nhăn mặt. Trước khi điểm lại số tấn hàng tiếp tế, số quân lính tăng viện, hai người tính ngay xem còn bao nhiêu người có thể sử dụng vào trận phản kích. Và cả hai người đều biết rõ, một cuộc phản kích tiến hành trên bãi đất trống trải sẽ cực kỳ tốn kém.
- Chúng ta không có được nhiều lựa chọn. Phần lớn lực lượng lê dương và lính dù để đã sử dụng : tiểu đoàn dù xung kích số 8 đang đóng ở Epervier, tiểu đoàn dù thuộc địa đang giữ Eliane 6, tiểu đoàn 1, bán lữ đoàn lê dương 13 ở Eliane 2, tiểu đoàn dù số 1 lê dương ở Huguette 4 và 5 ..
Langlais nói tiếp :
- Chúng ta chỉ còn có tiểu đoàn dù lê dương số 2 nhưng lại đang sử dụng để tiến hành những cuộc phản kích thường xuyên trên dãy đồi phía đông.
Với đại tá Langlais, nếu tiểu đoàn dù lê dương số 2 chiếm lại được Huguette 1 thì đơn vị này sẽ coi như một vật đem đi cẩm cố, và như vậy sẽ không còn một lực lượng ứng cứu nào nữa. Muốn tổ chức lại phải rút từng trung đội, đại đội của các tiểu đoàn đang bám giữ các cứ điểm.
Tuy nhiên, tướng Castries vẫn giữ nguyên quyết định của mình. Ông biết những điều không nói ra của Bộ tư lệnh tướng Cogny đặt tại Hà Nội về việc thả dù quân tăng viện xuống một chu vi hạn hẹp chỉ còn lại khu trung tâm và một nửa đường băng. Nhưng, những khó khăn sẽ còn tăng thêm nếu khu vực thả dù này cứ hẹp lại.
Đại tá Langlais đi về phía hầm chỉ huy, để phó của mình là trung tá Bigeard phụ trách tổ chức cuộc tiến công. Đã 11 giờ sáng. Bigeard cho gọi Liesenfelt, chỉ huy tiểu đoàn dù lê dương số 2 và bốn chỉ huy đại đội là Bire, Petre, Boulinguiez và Lecour Grandmaison. Vẫn theo thói quen sẵn có, Bigeard vắn tắt phân công nhanh gọn : hai đại đội của Bire và Boulinguiez xuất phát từ Huguette 2, tiến thẳng theo hướng Bắc, để tận dụng sự yểm trợ của pháo và cối từ khu trung tâm bắn tới. Cùng trong lúc đó, Petre và Lecour Grandmaison xuất phát từ Opera, tiến theo hướng Đông để đánh bọc sườn Huguette 1. Đó là chiến thuật gọng kìm có thể giành được kết quả, với điều kiện là phải nhanh, mạnh, phối hợp tốt.
Bigeard kết luận :
- Pháo bắt đầu bắn chuẩn bị vào giữa trưa.
Ông cũng đã điện báo với Hà Nội, với các phi đội máy bay Bearcat, Hellcat, Corsair thuộc hải quân và không quân đang bay tới Điện Biên Phủ.
Đã 11 giờ 25 phút. Các đại đội thuộc tiểu đoàn dù lê dương số 2 đã tiếp nhận các mệnh lệnh chiến đấu. Những đơn vị này sẽ xuất phát từ Eliane 3, làm nhiệm vụ dự bị, sẵn sàng vượt sông Nậm Rốm. Binh lính bắt đầu tiến vào những chiến hào có mái che mà họ gọi là đường « xe điện ngầm », chọn Huguette 2 và Opera làm căn cứ xuất phát tiến công. Tiểu đoàn trưởng Liesenfelt và bốn đại đội trưởng lần lượt rời hầm chỉ huy, chạy theo các đơn vị.
Suốt đêm hôm trước Bigeard ngồi bên điện đài theo dõi cơn hấp hối của Huguette 1 do Chevalier chỉ huy. Hiện ông rất mệt. Ông nói với các lính lê dương :
- Các anh đã quá quen thuộc với nhiệm vụ này rồi. Không cần có tôi nữa.
Và ông nằm ngủ.
Cuộc phản kích tiến hành thuận lợi. Pháo và cối đã phá hủy những hầm hào mà địch vừa chiếm được trước lúc rạng đông, tiêu diệt cả một số đơn vị bố trí ở vành ngoài cứ điểm.
Vậy mà sau đó trận phản kích lại hoàn toàn gặp thất bại, khiến cho sau đó Bigeard đã đối xử rất nghiêm khắc với Lisesenfeld. Thật bất công.
Theo ý kiến của chính những đại đội trưởng tham gia trận đánh thì thất bại là do một số chi tiết vụn vặt cộng lại, dẫn đến thảm họa.
Trước hết, thời gian hạn định để chiếm lĩnh vị trí xuất phát tiến công kéo dài vì không thông thạo lộ trình tiến quân, khiến cho hai đại đội từ Huguette 2 không thể phối hợp đồng loạt tiến công đúng giờ quy định. Và chỉ vài phút chậm trễ cũng đủ thời gian cho Việt Minh lấy lại bình tĩnh. Vì vậy, khi De Bire vừa nhảy lên khỏi chiến hào vào lúc 15 giờ 25 phút, đơn vị của ông đã vấp phải một hàng rào đạn trọng liên làm xáo trộn hàng ngũ, bị nhiều thiệt hại. Ngay bản thân ông cũng bị trúng đạn cả hai chân gần như cùng một lúc và ngay lập tức.
Trước mặt, về phía bên kia đường băng sân bay, khi Petre và Lecour Grandmaison từ những chiến hào đầu tiên của Opera xông lên, cả đơn vị đã bị một khẩu trọng liên đặt trong mũi chiếc máy bay Curtiss Commando bắn dữ dội, phải nằm rạp trên mặt đất. Trong khi đó, khẩu trọng liên này do không bị phát hiện nên vẫn không bị phá hủy. Từ vị trí cao hơn, có tầm quan sát không bị cản trở, khẩu súng này nã những loạt đạn bắn thẳng vào đám lính lê dương chỉ có những hố đạn pháo là nơi ẩn nấp.
Thêm một điều không may nữa, là điện đài của thiếu tá Liesenfelt bị nhiễu dữ dội vì những đống kim loại trên sân bay đã không tài nào bắt được những tín hiệu của các trung úy đại đội trưởng. Không nhận được lệnh nào của cấp trên, các đơn vị này chỉ có một cách là tự phân tán thành mảng nhỏ ngay trên trận địa để tránh đạn mà không thể nào lui quân được.
Trong khi đó, từ hầm chỉ huy , tướng De Castries vẫn theo dõi diễn biến tình hình trận đánh. Đến 15 giờ 45 phút, không nhận được tin gì từ mặt trận, ông tỏ vẻ lo ngại, cho người đánh thức Bigeard dậy, nói với Bigeard L
- Tôi có cảm giác cuộc tiến công thiếu sức bật. Anh đi ngay xem tình hình tại chỗ ra sao ..
Bigeard tỏ vẻ khó chịu. Nhưng ông vẫn phục tùng rất nhanh và chạy ngay đến Huguette 2, thấy Liesenfelt không nắm được tin tức gì về tình hình diễn biến. Thực tế là tình hình đang tuyệt vọng. Bigeard vốn là một người không ham đánh khi không chắc thắng, đã ra lệnh rút lui.
Tiến công trước họng súng trọng liên đã là lao đầu vào cái chết. Rút lui trước những họng súng này càng có nghĩa là tự sát. Nhưng biết làm thế nào để cứu vớt những gì còn có thể cứu được ? Thế là, các đại đội, từng đơn vị một, lần lượt thoát ly cuộc chiến trong khi các máy bay và pháo từ khu trung tâm bắn phá mạnh các mục tiêu đã định và Bigeard chỉ thị tung hỏa mù để che giấu những đài quan sát đặt tại những sườn đồi phía Bắc cụm cứ điểm Anne Marie cũ.
Đến mãi 5 giờ chiều, các tiểu đoàn thuộc đại đội của Boulinguiez và của De Bire mới về được tới Huguette 2. Còn hai đại đội của Petre và Lecour Grandmaison gặp nhiều rủi ro hơn. Những đơn vị này phải rút quân suốt chiều dọc đường băng sân bay đang bị hỏa lực địch đặt tại các vị trí đã chiếm lĩnh được từ Dominique, Huguette 1, Huguette 6 bắn thẳng tới. Có tới 80% quân số của hai đại đội này bị thương vong. Petre đã bị thương, còn phó của Petre là trung úy Garin bị đứt cả hai cẳng chân, phải nằm lại ngay trên trận địa. Không muốn để binh lính bị thương vong thêm khi cáng mình về phía sau, Garin đã rút súng ngắn, tự bắn một phát vào đầu. Nhưng, một sĩ quan trẻ là trung úy Yzquierdo, vẫn cứ cố đưa xác đồng cấp về Huguette 2. Khi kiểm điểm quân số, đại đội chỉ còn lại chưa đầy một trung đội nhỏ.
Đến tối, số thương vong được xác định là 154 binh sĩ lê dương bị chết và bị thương. Tiểu đoàn dù lê dương số 2 phải giải tán. Số quân còn lại sáp nhập với tiểu đoàn dù lê dương số 1, mang tên mới là « tiểu đoàn cơ động lính dù lê dương ».
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh

Bài viết: 505
|
 |
« Trả lời #53 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2008, 10:23:58 am » |
|
TÌNH NGUYỆN NHẢY DÙ Tháng 4 năm 1954
Bị luồng gió mùa từ trên núi cao như ngoạm chặt tạo thành một bức tường vô hinnhf, chiếc máy bay Dakota chao đảo lướt trên những mỏm Ba Vì phía Tây Hà Nội. Lúc này là 10 giờ đêm. Hai mươi hai người ngồi trên ghế bằng vải bạt trong khoang máy bay sờ soạng trong bóng đen. Từ lúc cất cánh rời khỏi sân bay Bạch Mai họ vẫn như ngây dại, trái tim đặt trên môi, không nói với nhau một lời. Thấp thoáng dưới vòm mũ sắt tròn, những bộ mặt mờ ảo hốc hác hoặc phẳng lì thỉnh thoảng lại hiện ra dưới những luồng ánh sáng xanh nhạt phát đi từ buồng máy. Mọi người không ai động đậy. Có lẽ họ khong thể vận động được thì đúng hơn, bởi vì để tránh mọi sự cố có thể xảy ra khi nhảy dù, các huấn luyện viên đã trang bị, nai nịt cho họ chặt chẽ trước khi họ lên máy bay.
Viên sĩ quan phụ trách thả dù chợt nói to :
- Thế nào ? Hát lên chứ !
Nhưng hát bài gi ? Những người ngồi trong khoang máy bay không có quan hệ chung. Họ không quen biết nhau. Thậm chí, ba tiếng đồng hồ trước, họ còn chưa biết mặt nhau. Họ đến từ tất cả các đơn vị quân đội ở Đông Dương. Có đủ mọi sắc lính : lính lê dương, lính thuộc địa, lính pháo binh, lính lái xe, và cả những binh sĩ vừa ra khỏi các viện quân y. Từ các bản đồng ca của các trung đoàn riêng biệt, không có gì để tạo thành một dàn hợp xướng.
Vả lại, dù cho họ có biết một điệp khúc phổ biến thì khi mở miệng cũng không thốt được ra lời. Trừ hai lính dù đang ngáy vì say rượu ngay gần cửa máy bay, những người khác đều cảm thấy cổ họng tắc nghẽn, dạ dày nôn nao và dưới lòng bàn tay hình như máu đang chảy ngược. Cuộc nhảy dù sắp diễn ra ở phía chân trời đêm nay làm cho họ không có phản ứng nào.
Chỉ có một mình viên sĩ quan phụ trách thả dù cất tiếng hát lẻ loi trên nền tiếng động ầm ĩ của những động cơ máy bay. Tiếng hát đột nhiên ngưng bặt vì không được ai hưởng ứng.
Trên thực tế, không có một lính dù chuyên nghiệp nào trong chiếc máy bay này, và đây là lần nhảy dù đầu tiên của họ xuống Điện Biên Phủ giữa lúc đang xảy ra chiến sự. Họ không hối tiếc vì sáng nay đã phấn khởi bước lên phía trước một bước, khi viên hạ sĩ quan trực ban hỏi : ai là người xung phong tình nguyện nhảy dù ? Họ không có thời gian suy nghĩ đắn đo. Họ bị cuốn theo cơn lốc. Và thế là họ kéo nhau đi làm thủ tục hành chính, ký giấy cam kết tự nguyện, lĩnh hành trang nhảy dù chiến đấu và từ trước nửa đêm đã bước lên xe tải đi đến sân bay Bạch Mai.
Đến khi tập hợp trong nhà để máy bay, họ mới nhìn thấy những người tình nguyện khác cũng đang ngơ ngác như họ. Một số người bộc lộ vẻ trâng tráo phớt đời. Số khác bộc lộ vẻ giả tạo. Phần lớn đưa mắt nhìn nhau như muốn dò hỏi, muốn tìm thấy một sự đồng tình mơ hồ của người đứng bên cạnh.
- Tên tôi là Lamarque. Trung sĩ. Vừa quay lại Đông Dương. Còn anh tên là gì ? - Tôi là Manke, trung sĩ thuộc cơ quan tiểu đoàn 1, bán lữ đoàn lê dương số 13. - Tình nguyện à ?
Manke nhún vai, mỉm cười :
- Nếu muốn. Tôi vốn là lính pháo binh. Đã ở Nga ( Manke là lính Đức, đã tiến đánh Liên Xô năm 1941). Họ hỏi : có muốn bắn pháo 105 không thì lên Điện Biên Phủ. Thế còn anh ?
Lamarque cười gượng gạo :
- Anh là lính pháo à ? Kỳ cục thât, tôi cũng là lính pháo. Nhưng tôi không đi đánh Nga. Tôi bị gọi đi làm lính quân dịch. Cách đây một tháng, tôi còn ở Pháp. Người ta động viên những người tình nguyện đi Đông Dương, thay chân những quân nhân làm việc tại văn phòng để những người này bổ sung vào quân số chiến đấu. Tôi chỉ là lính bàn giấy ....
Manke nghiêm trang gật đầu, rồi hỏi vẻ khâm phục :
- Thế nghĩa là, anh là lính mới toang. Chưa nhảy dù, chưa ra trận ... - Anh bảo : thế nào là chiến tranh ?
Manke do dự một lát rồi trả lời :
- Chiến tranh ấy à ? Chưa có ai định nghĩa rõ cả. Khó lắm. Mỗi người giải thích một cách. Đó là trò đánh xổ số, chơi lô tô, mà tất cả mọi thứ chơi xổ số kiểu lô tô đều có những chuyện bất công, vô lý, tôi đã biết rõ. Chiến tranh đặt ra nhiều câu hỏi lắm. Rốt cuộc là : tại sao người này sợ, người khác không sợ ? Tại sao nó bị thương mà tôi không bị thương ? Tại sao tôi còn sống trong khi , một trăm … - Tôi đang tự hỏi, không biết tôi có sợ không ? - Sợ à ? Được ! Tớ có thể trấn an cho cậu. Nhưng vấn đề thật sự không phải cái đó. Cậu nên tự hỏi mình sẽ đối phó với cái sợ ấy như thế nào. Và hãy tự trả lừi, cái sợ chẳng qua cũng chỉ là cuộc sống của mình.
Lamarque không trả lời. Anh cố hình dung và chỉ thấy những lời giải không tốt lành. Anh nhớ đến những kỷ niệm thời thơ ấu, sợ cả bóng tối, sợ cả ma quỷ. Trong khi đó, đứng bên cạnh Lamarque, Manke vẫn cao giọng giải thích :
- Cần chế ngự cái sợ. Tất cả nằm ở chỗ đó. Không dễ dàng đâu. Nếu cậu bị một trận pháo dội xuống đầu, hoặc đối mặt với những chiến xa đang ập đến mà chỉ có bộ ngực của cậu phơi ra đón đỡ và nếu có kẻ nào đó lải nhải nói cậu phải hành động vì chủ nghĩa yêu nước, vì danh dự của tinh thần trách nhiệm, thì hãy chửi vào mặt nó. Dưới đạn pháo, không có chỗ cho tinh thần hưng phấn. Chỉ có một cuộc giao chiến giữa bản thân cậu với con bạch tuộc một ngàn vòi gọi tên là “Cái sợ”. Cái sợ, cũng như cái chết, chỉ là vấn đề thuộc lĩnh vực cá nhân.
“Người chiến sĩ là một cá nhân chỉ được nhào nặn trong cái sợ “.
Manke gât đầu mạnh làm chiếc mũ sắt rơi xuống. Anh giơ tay, nắm lấy tay bạn, bắt tay bạn bằng một cử chỉ thân mật và nói :
- Cậu không biết. Cậu không thể biết được rằng .. - Thế nhưng, tại sao cậu lại biết ? Tại sao cậu lại quay trở lại Đông Dương dấn thân vào miệng hùm ?
Manke cười to. Cười to. Có lẽ là quá to :
- Đó là điều tớ đang tự hỏi đấy, bạn thân ạ! Nhưng tớ chưa tìm được câu trả lời. Tại sao tớ trở lại ? Điên, hoàn toàn điên ? Tớ muốn tin rằng, trước hết tớ mong gặp lại những người đồng đội, hoặc hơn nữa những người anh em còn đang chiến đấu ở đây. Bên nước Đức chúng tớ, người ta gọi họ là những tên lính đánh thuê. Những người lính thật sự. Gia đình tớ …
Câu chuyện đứt đoạn vì đã phải lên máy bay, và lúc này, có lẽ họ đang ngủ nên không tiếp tục câu chuyện. Trong mọi trường hợp, những người ngủ trên máy bay trước khi nhảy dù đều có những giấc mơ. Đúng hơn, đó là cơn ác mộng để lại trên môi hương vị của tro than như bị ghì chặt quá nhanh. Họ cảm thấy tay chân vụng về vì đeo ba lô dù nặng trĩu lưng, lại buộc chặt, thêm một túi rết căng phồng đè nặng lên đùi, các thứ túi áo túi quần chật ních quà cáp : thư từ, rượu mạnh, thuốc lá rời tặng các bạn.
- Đứng dậy ! Buộc dây móc !
Nếu như họ nghĩ rằng đến tận giờ phút này đã được thoát khỏi thực tế, nếu như họ muốn tự bỏ mặc, không nghĩ gì đến người khác, không đặt địa vị họ vào mình thì bây giờ họ đã phải đụng đậy, lảo đảo đứng lên khỏi chiếc ghế vải bạt, một tay bám vào sợi dây thép trên trần khoang máy bay, tay kia gài lại khẩu súng trường bên góc dù nhảy. Chỉ toàn là những động tác nhỏ nhẹ nhưng vẫn đòi hỏi họ gắng sức như một tên tử tù trong cuộc hành trình cuối cùng tiến về chỗ đặt máy chém. Họ bị lôi kéo, bị xô đẩy, và chiếc Dakota trong vòng lượn đã làm họ chao đảo mạnh. Đôi khi, họ có cảm giác nặng nề như hai cẳng chân thụt vào trong người và sườn máy bay nâng cao lên.
Một tay đặt vào bụng, tay khác giữ chặt khẩu súng, họ như những hành khách trên chiếc xe ôtô buýt phóng như điên, người nọ xô phải người kia, bị người đứng sau đập bụng vào lưng và đập bụng mình vào lưng người đứng trước. Hướng dẫn viên đi kiểm tra, soi đèn pin vào chỗ gài súng , chỗ buộc dù. Sau đó vỗ mạnh vào vai người đã được kiểm tra, nói to :
- Được !
Người phụ trách thả dù nắm chặt lấy thành cửa máy bay đã mở to, kiểm tra cả khoảng không tối đen. Phía trước là một hình chữ nhật, đen mượt như nhung, chưa xuất hiện một vật gì chuyển động.
Manke đi lướt nhẹ trên sàn máy bay, tiến về phía cửa, đúng như đã được dặn kỹ. Anh đứng khom người nắm chặt khung cửa máy bay, cố hình dung khoảng không gian trống rỗng trong tâm trí, tập trung vào động tác cuối cùng khi có hiệu lệnh, tức là phải hất chân mạnh về phía sau để văng thật xa ra ngoài, hai tay khoanh chéo trên ngực. Hướng dẫn viên nói :
- Sau đó, anh sẽ thấy, mọi việc diễn ra như là anh tự lực làm lấy vậy.
Manke muốn quay lại, nói một câu bông đùa với Lamarque đứng phía sau mà anh cảm thấy ba lô dù nặng trĩu đang đè lên anh. Nhưng rồi anh lại quyết định không nói gì cả. Anh sợ câu nói của mình sẽ “trật đường ray”. Anh cũng không biết rõ, nó có phải là câu bông phèng thích đáng không. Anh có quá nhiều kinh nghiệm để hiểu rằng, trong những lúc bấp bênh và chờ đợi như thế này có thể thốt ra được trọn vẹn một câu nói không, hơn nữa có mong muốn nói như vậy không.
Vì vậy, anh đứng im không nói, hai tay bám giữ những ống kim loại bên cửa máy bay, đôi chân đứng vững trên sàn, cặp mắt hướng về phía chân trời đen tối.
Người phụ trách nhảy dù hét to :
- Hai phút nữa !
Chiếc Dakota lượn lại một vòng hẹp và đã ổn định đường bay, hướng đúng trục thả dù. Trung tâm Điện Biên Phủ không còn xa nữa. Đã nhìn thấy những luồng ánh sáng màu vàng nhạt liên tiếp xuất hiện phía chân trời như những ánh chớp của cơn giông ở xa. Máy bay càng đến gần, ánh lửa càng rõ và đã chuyển thành những bó lửa ném lên máy bay cả phía trên, phía dưới chung quanh.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh

Bài viết: 505
|
 |
« Trả lời #54 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2008, 10:24:17 am » |
|
Chiếc Dakota chòng chành, chao đảo. Các động cơ máy bay chuyển tốc độ. Người phụ trách nói to :
- Cao xạ đấy !
Chỉ vài giây sau những mảnh cao xạ đã mỗi lúc một thêm gần, thêm dày. Các vết đạn nhìn thấy rất rõ ở tất cả mọi phía, bên phải, bên trái, phía trước, phía sau.
- Đừng chờ bật đèn xanh ! Những thằng phi công khốn khiếp này bay dài lắm và các anh sẽ rơi xuống trận địa địch. Chỉ có 10 giây thôi. Cứ nhìn thấy dấu chữ thập sáng đỏ ở phía dưới đất là nhảy luôn!
Manke thò đầu ra ngoài. Hai tai anh vang rền tiếng động cơ, má tóp lại vì gió mạnh . Khi nhìn thấy những vệt lửa pháo cao xạ không xa lắm, anh lại vội thụt đầu vào :
- Isabelle ! Còn hơn 60 giây nữa !
Manke không nắm chặt tay vịn ở thành cửa máy bay nữa. Ngược lại anh nới lỏng cơ bắp ở cánh tay để dồn sức cho chân tạo đà nhảy thật xa. Lúc này, người hướng dẫn hoàn toàn không nhìn phía cửa máy bay nữa mà chăm chú quan sát mặt đất, bàn tay sẵn sàng đập vào vai người nhảy đầu tiên.
Manke như bị mê đi trong đường lượn của những vết đạn, trong quầng sáng của những phát đạn vừa ra khỏi đầu nòng, trong ánh lửa của những viên đạn bắn tới mà không nghe thấy tiếng nổ vì bị tiếng động cơ máy bay át đi. Anh hoàn toàn bị hút hồn trong cảnh tượng này tới mức không nhìn thấy phía dưới bãi thả dù đã hiện ra như một tấm thảm có hình chữ thập sáng lấp lánh màu đỏ trong sương mù. Người hướng dẫn đập mạnh vào vai anh, kèm theo tiếng quát rất to: “Nhảy !” kéo anh về với thực tại và bật anh vào khoảng không.
Manke không biết đả nhảy ra khỏi máy bay như thế nào ? Có thể, anh đã nhắm nghiền mắt ? Anh cảm thấy đau nhức hai bả vai trong khi toàn thân như bị co kéo, chao đi chao lại khắp mọi phía, cố giữ thăng bằng. Lúc này chiếc máy bay chỉ còn lại một hình ảnh mơ hồ kêu ầm ĩ bay xa rất nhanh. Manke nhìn xuống phía dưới, có cảm giác như rơi xuống địa ngục.
Lúc này, tai Manke nghe rất rõ những tiếng nổ, nghe thấy cả tiếng đạn pháo vỡ ra thành từng mảnh. Rồi anh nghe thấy cả những loạt đạn súng trường, những quả lựu đạn nổ ở dưới mặt đất. Tất cả vây tròn lấy Make, ngay dưới chân anh là những quả đạn pháo đập mạnh vào mặt đất liên hồi như ngày tận thế.
Anh cố gắng tự an ủi :
- Nếu đang đánh lộn nhay thì có nghĩa là mình không rơi lạc sang trận địa Việt Minh.
Mặt đất đập mạnh vào hai gót chân Manke. Anh lăn người, vấp phải một vật gì đó vừa cứng, vừa sắc nhọn, có lẽ là cọc rào dây thép gai. Một lần nữa anh lại gỡ ra, đẩy ra và vụt mất hết khái niệm thời gian. Rồi anh bừng tỉnh. Anh đang nằm sõng soài trên mặt đất, chiếc dù phồng lên theo gío, bay mờ ảo trên cao, bị mắc vào một lớp rào.
Lúc nỳa, những tiếng nổ đã lùi xa, ở phía bên kia bờ đất nổi hằn lên trong ánh sáng của lửa đạn.
“Mình đang ở chỗ quái nào thế này ?”.
Một lần nữa, Manke lại hoang mang, nhưng nhanh chóng tiêu tan ngay cơn lo sợ.
Anh tháo móc gài vũ khí, gỡ ra một khẩu tiểu liên, dùng khuỷu tay lên đạn, quàng túi rết ngang vai và chờ đợi. Nhất định có người đã nhìn thấy Manke rơi xuống. Dù đó là địch hay là bạn. người đó cũng nhanh chóng tỏ rõ thái độ. Dĩ nhiên phải chờ, dù phải chờ đợi suốt một ngày.
Từ Hà Nội, hướng dẫn viên đã căn dặn, khi tiếp đất phải hô khẩu lệnh, nói lên tính chất của cuộc nhảy dù.
Manke cười, hô mật hiệu. Có tiếng đáp lại :
- A ! Quân tăng viện !
Giọng nói thân tình, hơi nhạo báng. Manke thở phào, nhẹ nhõm : đó là tiếng Pháp ! Anh nói :
- Lại đây ! - Anh tự đến đây ! Đừng đi lạc ! Cách đây hơn một trăm mét là Việt Minh đấy ..
Manke bò trên nền đất gồ ghề. Anh đến bờ một chiến hào, lập tức có người kéo vai lôi tụt xuống. Một lính dù cười, nói với Manke :
- Cậu rơi xuống chân Dominique 1 rồi. Đây là tiền đồn của Dominique 2. May mà chúng tới đang gác ở cái góc này.
Rồi đột nhiên người nói im bặt, chuyển giọng :
- Này, anh từ Hà Nội lên, có điếu thuốc lá nào không ?
Hai giờ sau, được một liên lạc viên dẫn đường từ đồn bốt này qua vị trí khác, Manke đã tới hầm chỉ huy. Anh nhìn thấy trung sĩ Lamarque cũng đã có mặt ở đó, ướt át, vấy bùn, bộ đồ ra trận rách bươm, nói :
- Tớ rơi xuống sông. Còn cậu ? - Tớ nhảy xuống ngay trước mặt một điểm tựa tên là Dominique 3. Có lẽ tớ gặp may. Những thằng khác đâu ? - Hai mươi thằng cùng ngồi trong máy bay, mới nhặt được có 17. Những đứa còn lại, coi như rơi xuống trận địa Việt Minh rồi.
Trong góc hầm, một lính thuộc địa vừa được thả xuống dang thụt cằm vào hai đầu gối, cặp mắt ngơ ngác, nhếch mép cười để lộ những chiếc răng khấp khểnh. Manke chỉ tay, hỏi :
- Nó làm sao thế ? - Một thằng đần. Nó rơi vào một cái hố, bên trong có một thứ nước quỷ quái gì đó đen xì, dưới thì đang đun lửa. Nó sợ quá, nghĩ rằng đã rơi xuống đúng địa ngục. Thế là nó cầm tiểu liên MAS-36 bắn « quỷ sứ ». Thật ra, nó nhảy trúng bếp ăn của sở chỉ huy. Cái mà nó tưởng là ma quỷ chính là thằng nấu bếp chuyên nghiệp của tướng De Castries. Thằng đầu bếp này đã được đưa đi trạm xá quân y cứu chữa.
Một trung tá bước vào hầm. Manke nhận ra đó là Vadot, phó của Lemeunier chỉ huy bán lữ đoàn lê dương số 13.
Manke đứng lên trình diện, nói :
- Tôi được cử lên đây bổ sung quân số cho pháo binh. - Chúng tôi hiện nay đang cần tiểu đội trưởng hơn là chỉ điểm pháo. Sáng mai, anh đến đại đội của Philippe đóng ở Huguette 4. Còn anh ? - Báo cáo, tôi là Lamarque, bắn pháo.
Vadot chăm chú nhìn Lamarque, hỏi :
- Đăng lính từ bao giờ ? - Báo cáo trung ta, chưa lâu : mới sáu tháng. - Tôi biết. Anh thuộc quân số bổ sung cho cơ quan hành chính. Là nhân viên bàn giấy, anh lên đây làm gì ? Có ai bắt buộc anh đâu ?
Lamarque đỏ bừng mặt :
- Báo cáo trung tá, tôi đã 20 tuổi. Tôi không biết gì hết. Tôi muốn đến Điện Biên Phủ từ trước ...
Rồi Lamarque ngừng lại, sợ nói một câu thất thố. Nhưng Vadot hỏi ngay :
- Trước cái gì ? Trước khi Điện Biên Phủ đi tong, hả ? - Dạ, nghĩa là .. vâng, thưa trung tá.
Vadot im lặng một lát rồi lại hỏi :
- Tôi biết . Thế, ở Hà Nội người ta nói gì về Điện Biên Phủ ? - Thưa trung tá, không phải chỉ ở Hà Nội. Xin trung tá đọc bài báo này.
Vadot cúi xuống, nhìn thấy hàng chữ đầu đề : « sai lầm kinh khủng về chiến thuật và chính trị ở Điện Biên Phủ ». Ông ngẩng đầu lên, hỏi tiếp :
- Cậu đã đọc bài báo này mà vẫn cứ lên đây ? - Báo cáo, tôi chỉ nghĩ rằng, nếu ở đây chúng ta có thêm quân đương đầu với thách thức, thì chưa chắc Điện Biên Phủ đã hoàn toàn là một sai lầm.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh

Bài viết: 505
|
 |
« Trả lời #55 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2008, 03:10:28 pm » |
|
LỄ CAMERONE Ở ĐIỆN BIÊN PHỦ 30 tháng 4 năm 1954
- Ai ?
Tiếng hô của lính canh vang xa tới tận thung lũng từ chân đồi Eliane 4 qua « khu trắng » giữa Eliane 1 và núi Giả. Tiếng hô xuyên qua làn mưa bụi nối tiếp trận mưa đã làm ngập thung lũng. Mặt đất đặc sệt hơi ẩm phả ra mùi của thối rữa và mùi mốc. Đã hai giờ sáng :
- Tôi đây, Ducloux. - Tiến lên phía trước. Thẳng trước mặt tôi. Và đừng có đùa ..
Trung sĩ Ducloux bước lên bờ đất, đi ngoắt ngoéo giữa mạng lưới hàng rào dây thép gai rồi tụt xuống một chiến hào bao quanh điểm tựa. Anh lau trán, chùi hai bàn tay vào đùi và nói, hai hàm răng rít lại :
- Mẹ kiếp ! Thời tiết thật bẩn thỉu !
Từ một tuần nay, tối nào trung sĩ Ducloux cũng đi trinh sát các phòng tuyến địch. Nhiệm vụ của anh là đặt ở vài điểm đã định sẵn, những chiếc máy ghi tự động thu tất cả mọi âm thanh trong bán kính 50 mét. Trong hầm chỉ huy của Botella đã bố trí sẵn một điện đài duy nhất, thu các tín hiệu truyền về. Những thiết bị này tạo điều kiện cho việc theo dõi các hoạt động của địch.
Từ ngày 23 tháng 4 Việt Minh bắt đầu đào một loạt giao thông hào tỏa đi từ chân núi Giả tiến về phía Nam Eliane 1 và Eliane 4. Được che chở bởi một góc chết, những hào giao thông này phát triển rất nhanh, tiến xa hơn tầm nhìnc ảu các vị trí Pháp. Chỉ có những máy đo chấn động mới ghi được điểm bắt đầu đào hào, đường tiến của hào và cả bước chân cũng như hướng đi của các đội tuần tra đêm của địch. Phần còn lại là công việc của pháo binh. Một khẩu 105 đã đặt thường xuyên tại vọng gác của phân khu.
Trung úy Armandi, sĩ quan thông tin của tiểu đoàn dù Bảo an số 5 hỏi :
- Có thu được tín hiệu gì không ?
Ý tưởng về việc gài những máy ghi chấn động này có phần đề xuất của ông và ông đã hài lòng về việc này. Từ một tuần nay, do một rủi ro rất nhỏ nhưng cũng khiến cho đơn vị Armandi hao hụt quân số. Trên đồi Eliane 4 tiểu đoàn dù Bảo an chỉ còn lại một đại đội thiếu hụt dưới sự chỉ huy của Phạm Văn Phú đã được thăng cấp đại úy ngày 15 tháng 4.
Trung sĩ Ducloux lắc đầu, lắc lắc cổ như một con chó rũ lông, nhưng cặp mắt anh lại thoáng vẻ vui thích :
- Báo cáo trung úy, không ! Chả ghi được gì . Cũng chẳng nhìn thấy bóng một tên « bộ đội » nào.
Lại bắt đầu mở máy nghe. Từ máy thu tín hiệu, năm loa phóng thanh hoạt động không ngừng, mỗi loa nối với một máy ghi chấn động đặt ở phòng tuyến địch phía trước mặt.
Armandin nhận xét :
- Có lẽ trời mưa đã khiến địch nản lòng.
Nhưng ông không lấy làm tiếc. Mỗi ngày trôi qua yên lành là thêm một ngày nuôi dưỡng hy vọng, tăng niềm tin là tập đoàn cứ điểm sẽ thoát hoặc được cứu thoát. Có thể, một cánh quân đường bộ sẽ ngược dòng sông Nậm Hu, từ Bắc Lào tới đây. Hoặc Hội nghị Geneve vài ngày nữa sẽ họp, một bên là các nước phương Tây, một bên là Nga, Trung Quốc, Việt Minh sẽ phải tìm cách chấm dứt cuộc chiến tranh Đông Dương và cần Điện Biên Phủ vượt qua được thời gian họp Hội nghị quốc tế ở Geneve.
Theo các số liệu được tính toán thì Điện Biên Phủ chỉ là một đột biến về chiến thuật. Tại Điện Biên Phủ chỉ có 4% tổng số lực lượng viễn chinh Pháp, trong khi đó Việt Minh tập trung ở đây tới 60% lực lượng chủ lực cơ động tác chiến, chiếm một phần năm toàn bộ các lực lượng vũ trang, kể cả dân quân du kích.
Mưa là một chủ bài không thể bỏ qua. Nếu, về phía Pháp các chiến hào đều biến thành những hố nước bẩn ngập tới đầu gối, có một số hầm hào bị sụp, trạm quân y ngập bùn đe dọa thương binh bị nhiễm trùng, thì cũng chẳng thấm vào đâu so với cảnh Việt Minh phải chịu đựng.
Sau khi chiếm được Huguette 1 tuần trước, hoạt động của bộ đội Việt Minh hầu như giảm tới mức số « không ». Chỉ có những đơn vị lẻ duy trì sức ép tại những cứ điểm đang bị bao vây, ngoài ra không có cuộc tiến công lùng sục hoặc đánh chiếm nào. Qua những tin tức điện thoại nghe lén, Armandi và các sĩ quan quân báo Pháp cho rằng, nếu mở cuộc tiến công lớn, Việt Minh sẽ không còn đủ khả năng tiếp tế hoặc tăng viện được như cũ. Để thay quân, một tiểu đoàn trung bình phải lội bì bõm trong bùn từ hai mươi đến ba mươi sáu giờ và phải vượt 6 kilômét cánh đồng ngập nước.
Đêm hôm trước, nhằm tránh cho những đoàn dân công mệt sức vô ích, Việt Minh đã mạo hiểm dùng những chiếc xe ô tô vận tải Molotova quý hiếm của mình để chở hàng tiếp tế đến tận cứ điểm Huguette 6 vừa đánh chiếm được. Pháo của Pháp lập tức bắn và ít nhất cũng phá hủy được một chiếc.
Đợt ngừng tiến công này của Việt Minh được các đơn vị Pháp đón nhận một cách thận trọng . Tại sở chỉ huy, các sĩ quan cấp cao cho rằng, đó là do sư đoàn 308 cần phải phục hồi sức lực sau đợt tiến công các cứ điểm Huguette 6 bảo vệ sân bay kéo dài gần một tháng đã làm cho bộ đội kiệt sức và căng thẳng tinh thần. Nhưng cũng có nghĩa là Việt Minh đang chuẩn bị tiến công lớn và, nhằm mục đích này, bộ đội Việt Minh đang phải chuẩn bị cả về mặt tinh thần – tư tưởng. Cách đây hai hôm, lính quan sát của Pháp trên mỏm đồi Eliane 1 đã nhìn thấy bộ đội Việt Minh tập trung đông trên mỏm đồi trọc của cứ điểm Beatrice cũ, mang theo cả cờ đỏ và những băng rôn, biểu ngữ.
Ở các đơn vị cấp dưới, đợt im ắng được vui mừng đón nhận từng ngày. Các sĩ quan không phải vạch trước những kế hoạch dài hạn, đã bắt đầu thưởng thức những giờ phút yên bình, có thể hút trọn vẹn một điếu thuốc lá, ban đêm không có báo động, những người may mắn có thể ra sông tắm, dù chỉ đôi lần.
Có tiếng động phát ra từ một loa phóng thanh. Trung sĩ Ducloux và trung úy Armandi cúi xuống, chăm chú nghe. Hình như, gần chỗ đặt máy ghi chấn động, Việt Minh đang hoạt động.
Rồi đột nhiên, một tiếng nói bất ngờ cất lên, giọng nói rè rè do chất lượng máy phát chứ không phải do người nói bằng thứ tiếng Pháp rành rọt.
- Này, các anh đừng cử trinh sát viên do thám chúng tôi nữa. Cho tới nay, chúng tôi vẫn để cho nó lọt vào các phòng tuyến của chúng tôi là để quan sát hình thù nó như thế nào.
Tuyệt không có một vẻ châm biếm hoặc hằn học nào trong giọng của người nói. Anh ta chọn câu rất kỹ, có vẻ như đã học thuộc lòng từ trước. Đột nhiên, tiếng nói ngưng bặt.
Armandi mỉm cười, nhận xét :
- Thế là Việt Minh đập tan các máy ghi chấn động của mình rồi. Tiếc quá.
Như một cái máy, Armandi gọi điện cho pháo, đề nghị bắn vào chỗ máy ghi chấn động.
Trung úy pháp binh Lepinay trả lời rất rõ :
- Không được ! Chúng tôi không còn nhiều đạn pháo để có thể phung phí vài quả đạn bắn vào vài tên địch.
Nếu Điện Biên Phủ trong tuần qua được hưởng một sự yên ắng tương đối, thì tình hình nhìn chung không phải là khả quan. Tại sở chỉ huy, đã thống kê trong trận đánh đẫm máu ở Huguette 1 hàng nghìn binh sĩ đã bị chết hoặc bị thương, số sẵn sàng có khả năng tác chiến hiện đã tụt xuống chỉ còn khoảng ba nghìn người.
Đại tá Langlais ( Trung tá Langlais được thăng cấp đại tá từ ngày 15-4-1954) nhận xét :
- Tuy nhiên, trong số gọi là « có khả năng chiến đấu » phải tính đến những người đã bị cụt một tay, chột một mắt, những người vết thương đã thành sẹo nhưng vẫn cần đưa trở lại bệnh xá của bác sĩ Grauwin khi cần kíp.
Cùng với De Castries và Bigeard, ông thống kê những đơn vị chiến đấu. Điện Biên Phủ không còn lại một lực lượng dự bị nào, dù nhỏ nhất, để có thể tổ chức phản kích.
- Tại Epervier, Tourret đang chỉ huy số còn lại của tiểu đoàn dù xung kích số 8 gồm 400 quân, vừa được bổ sung một đại đội lính dù Bảo an của Bigeard và hai trung đội lính Thái . Tổng cộng tất cả là 530 binh sĩ. - Những cứ điểm còn lại của Huguette hiện do Guiraud chỉ huy nay chỉ còn lại một tiểu đoàn thiếu với số quân còn sống sót của hai tiểu đoàn dù lê dương gộp lại, tất cả là 500 lính dù lê dương, cộng với một đại đội 140 lính Maroc do đại úy Nicod chỉ huy. Tổng cộng là 640 binh sĩ. - Phía Nam Huguette, tại hai cứ điểm đặt tên là cụm Lily dưới sự chỉ huy của Nicolas chỉ có 250 lính Maroc còn sống sót của tiểu đoàn 1, trung đoàn 4 lính thuộc địa người Maroc. - Bên bờ sông Nậm Rốm, cụm cứ điểm Junon có khoảng 150 lính Thái dưới sự chỉ huy của đại úy Duluat cộng thêm một « đại đội yểm trợ » của không quân gồm 20 phi công không có máy aby, do đại úy Charnod chỉ huy. - Tại bờ Đông sông Nậm Rốm là cụm cứ điểm Eliane 1, Eliane 2, Eliane 3, Eliane 4 do Bréchignac làm chỉ huy trưởng, Botella là phó. Tại đây chỉ còn có 400 lính dù thuộc trung đoàn thuộc địa, 150 lính dù Bảo an. Trên đồi Eliane 2 là tiểu đoàn 1, bán lữ đoàn lê dương 13 do thiếu tá Countant chỉ huy. Tiểu đoàn này chỉ còn hai đại đội luân phiên nhau mỗi đợt 48 giờ đóng giữ vị trí, tổng cộng chưa đầy 300 quân. - Tại Dominique 3 và Eliane 10 là hai cứ điểm tựa giữa dãy đồi phía Đông và sông Nậm Rốm, có 350 lính Thái còn lại của tiểu đoàn Thái số 2 do thiếu tá Chenel chỉ huy. Ngoài ra, còn có số lính sống sót của đại đội cuối cùng thuộc tiểu đoàn 3, trung đoàn bộ binh Angiêri số 3 của Filaudeau và số còn lại của tiểu đoàn dù xung kích số 6 do Thomas chỉ huy. Tổng số là 650 binh sĩ tất cả.
Bigeard là người ghi chép, nhanh chóng làm tính cộng và nói :
- Tổng cộng tất cả chưa đầy 3000 quân. Không biết, Việt Minh có bao nhiêu bộ binh có thể tiến công săp tới.
Tướng De Castries trả lời :
- Có thể, hiện nay Việt Minh chỉ có chưa đầy 20.000 quân nhưng đang được bổ sung. Có thể huy động được thêm 25.000 tân binh từ các trại huấn luyện ở Bắc Kạn, Thanh Hóa. Nếu muốn, tướng Giáp có thể tung ra 30 tiểu đoàn, tức 35.000 quân, không kể pháo binh và dân công trợ lực, gồm 60.000 người nữa.
Langlais kết luận :
- Như vậy ta phải lấy 1 chọi 10.
Ngày 30 tháng 4 năm 1954, lính lê dương tại Điện Biên Phủ tổ chưc kỷ niệm ngày chiến thắng Camerone, được coi như ngày hội truyền thống của binh chủng :
« Sáu chục binh lính dưới sự chỉ huy của đại tá Danjou đã giữ vững lời thề chiến đấu tới cùng. Trong vòng 11 tiếng đồng hồ họ đã đương đầu với 2000 quân địch, giết chết 300, làm bị thương một số lượng tương đương. Với tinh thần hy sinh chiến đấu, họ đã hoàn thành sứ mệnh được giao phó. Hoàng đế Napoléon đệ tam đã quyết định địa danh Camerone được ghi trên lá cờ của trung đoàn lê dương .. »
Trung sĩ Manke đứng nghiêm, nghe bài nói về chiến công Camerone được trung tá Lemeunier đọc và truyền đi qua đài 300. Trong số các sĩ quan lê dương hiện có mặt ở Điện Biên Phủ, Lemeunier là sĩ quan có thâm niên cao nhất.
Ông đọc xong. Manke tắt máy, nâng ca rượu, hô to :
- Lê dương muôn năm !
Đứng gần trung sĩ là một chục binh lính trong trung đội. Đó là tất cả số còn lại của đại đội 3, tiểu đoàn 1, trung đoàn bộ binh lê dương số 2. Đó cũng là những người còn sống sót sau một tháng sống trong địa ngục Huguette. Để chào mừng lễ kỷ niệm, họ đã cạo râu và những cặp má nhẵn càng bộc lộ vẻ mệt mỏi. Họ cố mỉm cười. Trong ca nước chỉ có vài giọt rượu vang khô pha thêm. Vì chiến thắng Camerone, cơ quan hậu cần rộng lượng đã phát cho họ rượu vang đông đặc, hai mươi người một hộp.
Manke nói :
- Thật là một lễ kỷ niệm Camerone buồn tẻ. Không có thuốc lá. Không có thịt nhồi.
Trên cao điểm Eliane 2 cảnh nghèo nàn còn lớn hơn Huguette. Ưu tiên tiếp vận vẫn là lựu đạn. Chỉ có thêm bốn chai rượu vang là quà tặng của tướng De Castries để ăn mừng ngày hội truyền thống của lính lê dương. Đây là rượu vang sản xuất từ Angiêri, là thứ rượu duy nhất chịu đựng được khí hậu Đông Dương, nhưng uống vào chỉ thêm nhớ nhà. Có tất cả bốn chai. Mỗi trung đội được một chai.
Vậy mà, khoảng 10 giờ sáng, một phi công đãng trí hoặc sơ xuất đã thả một thùng đầy rượu vang đặc ra ngoài lớp rào dây thép gai, rơi xuống bãi Champs Elysees trước mặt địch. Một lính gác đã lập tức báo cho toàn đại đội. Suốt ngày hôm đó lính lê dương bị hút hồn vì thùng rượi vang khô, lăm lăm súng đạn và lựu đạn ngăn không cho bộ đội Việt Minh đóng tại hai lô cốt gần đó ra nhặt chiến lợi phẩm.
Một đoàn đại biểu gồm toàn hạ sĩ quan lên tận Eliane 3 đề nghị thiếu tá Coutant cho phép đi nhặt hòm rượu quý. Coutant trả lời :
- Không ! Không được phí thêm mạng sống vì chuyện không đáng. - Nhưng, thưa thiếu tá, đây là ngày lễ Camerone. - Đúng rồi ! Nhưng các anh cần nhớ rằng, trong trận chiến đấu ở Camerone hồi đó, đội trưởng Dạnou và binh lính của mình đã không được uống gì suốt cả một ngày.
Trước khi đến đêm, thiếu ta Coutant quá mệt mỏi vì những lời van nài tổ chức một đội biệt kích giành lại thùng rượu vang, đã bước xuống hào, mỉm cười nói :
- Có thể hành động được rồi đấy !
Câu nói giản đơn đó được coi như là thỏa thuận. Chờ đến nửa đêm, khoảng một chục lính lê dương đi ra khỏi lớp bùn chiến hào. Đây là những người xung phong tình nguyện, đúng rồi, nhưng là những người được tuyển chọn trong số tình nguyện, vì toàn đại đội ai cũng muốn đi.
Họ nhảy tới mục tiêu rất nhanh tới mức địch không kịp phản ứng. Những người đầu tiên tới lô cốt địch lập tức ném lựu đạn qua lỗ châu mai vào bên trong. Những người khác đi tìm thùng rượu vang. Khi rút lui, họ đã dùng thuốc nổ kiếm được từ các xác chết đặt vào lô cốt, cho nổ tung.
Trong báo cáo về các hoạt động chiến sự ban đêm, Coutant kể chi tiết về vụ phá hoại các lô cốt địch. De Castries lập tức gửi điện về Hà Nội. Chiều hôm sau, tin này được đăng báo. Tại điện Bourbon bên Pháp, nhiều vị dân biểu xúc động nghẹn ngào vì tự hào, khi nghĩ đến tình cảm trung thành và tận tụy của những người lính lê dương người nước ngoài đối với nước Pháp, họ không biết rằng đám lính này liều mạng chỉ vì thùng rượu vang.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh

Bài viết: 505
|
 |
« Trả lời #56 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2008, 04:12:34 pm » |
|
ĐỢT TIẾN CÔNG THỨ BA 1 tháng 5 năm 1954
« Điện số 14/12 gửi riêng tướng Sauvagnac. Đêm nay, Huguette 5 bị tiến công rất mạnh, vẫn giữ được, nhưng 80 binh sĩ tiểu đoàn dù lê dương đã bị loại khỏi vòng chiến. Lính dù là những đơn vị duy nhất ở Điện Biên Phủ phải chiến đấu lẻ loi, không được tiếp tế đầy đủ. Ở Hà Nội, chỉ cần để lại vài người làm việc bàn giấy như : nhân viên tiếp tế đường không và một tham mưu, nghĩa là chỉ nên giữ lại bốn sĩ quan, năm hạ sĩ quan và hai mươi chuyên viên thông tin là đủ .. »
Bertin Dubois nhăn mặt, ngừng chuyển tiếp bức điện. Cuộc chiến tranh nhỏ giữa Langlais chỉ huy lực lượng cơ động ở Điện Biên Phủ và Sauvagnac, chỉ huy lực lượng đổ bộ đường không ở Hà Nội đã thực sự gay gắt. Một hố sâu ngăn cách giữa hai sĩ quan không thông cảm với nhau tới mức không chịu nói thẳng với nhau nữa. Đối với tướng Sauvagnac người đứng đầu lực lượng dù của Pháp, nhảy dù là một vấn đề tinh tế, phải có những qui tắc không thể vi phạm, được hoàn chỉnh năm này sang năm khác. Chính vì vậy ông đã tạm ngừng đưa tăng viện lên cho Điện Biên Phủ những lính dù gọi là tình nguyện chưa được tốt nghiệp khóa huấn luyện nhảy dù. Đối với ông, chuyện nhảy dù chỉ là một thứ tà giáo, ban phép thông công cho tín đồ chưa làm lễ rửa tội thích đángl. Trong cả hai trường hợp này, kinh nghiệm đã chứng minh, không thể căn cứ vào những công điện để thắng những chuyện cá cược không thể có được. Sự thật là, những lính dù tự nguyện nhảy xuống Điện Biên Phủ đã bị thương vong ngang với con số tương tự trên các bãi nhảy dù ở Pháp, mà những bãi tập nhảy dù ở Pháp lại không có vật chướng ngại.
Hơn nữa, cũng có thể tướng Savaugnac nhạy cảm với bầu không khí chiến bại ở Hà Nội, nơi mọi người đều cho rằng số phận Điện Biên Phủ đang tính từng giời , không nên giao nộp cho tướng Giáp thêm nhiều tù binh, hoặc nhiều xác chết bổ sung nữa.
Ngược lại, đối với đại tá Langlais là người chưa bị giảm sút tinh thần chiến đấu, thì phải ưu tiên giúp đỡ mọi thứ cho Điện Biên Phủ, phải duy trì cuộc chống cự. Và ngày hôm nay, 1 tháng 5 năm 1954, ông cũng chưa hề nghĩ rằng cuộc chiến có thể thất bại. Ông không phải là người duy nhất. Chung quanh ông còn có nhiều sĩ quan, hạ sĩ quan, lính dù, lính lê dương, lính thuộc địa nghĩ rằng còn có thể chiến thắng.
Mọi người cũng đã biết cuộc cãi vã nặng nề giữa chỉ huy của họ với ông tướng đứng đầu quân dù tại Hà Nội. Và tất cả đều đứng đằng sau Langlais, kể cả những người chưa lên Điện Biên Phủ, những người đang nóng lòng chờ đến lượt trở về với gia đình. Đặc biệt là tiểu đoàn dù thuộc địa số 1, đêm qua mới nhảy xuống được một nửa đại đội, nhảy theo cách nhỏ giọt, như tiếc rẻ.
Nếu Langlais nổi cáu, có nghĩa là ông cảm thấy cuộc tiến công của địch đang sắp tới. Ông muốn đương đầu với tư thế thích đáng. Với « tư thế thích đáng » này, ông cần phải có một tiểu đoàn sẵn sàng phản kích theo yêu cầu của bất cứ vị trí nào bị uy hiếp. Chính theo cách này, ông đã đủ sức chống chọi được với địch trong những trận chiến đấu ở Eliane hồi cuối tháng 3.
Bertin Dubois cúi xuống bản thảo bức điện, tiếp tục đọc. Vẫn một giọng giận giữ bốc lửa :
« Tổng tư lệnh vẫn thản nhiên khi ông núp sau lưng, như ông đã làm đối với việc thả dù những người chưa tốt nghiệp, đã từ chối mọi tăng viện cho chúng tôi. Với bất cứ sự nghiêm trọng, đây là lần cuối cùng tôi đề nghị ông đặt địa vị váo tất cả những người bạn của chúng tôi tại Hà Nội. Dù không có những người này, và mặc kệ ông, chúng tôi sẽ vẫn chiến thắng. Bức điện này tôi gửi cho ông là bức điện cuối cùng đã được sao chép gửi tất cả các chỉ huy cấp tiểu đoàn của tôi. Hết. »
Bertin Dubois đặt tay lên bàn phím, bàn tay trên nút bấm, chuẩn bị đánh đi bức điện dài bằng những tín hiệu dài và ngắn.
Một làn sóng chấn động chợt ập đến dưới chân. Trên giá gắn vào thành hầm, chiếc thìa trong ca nhôm kêu lanh canh. Đất rung chuyển như chưa bao giờ chuyển động mạnh đến như vậy. Lúc đó là đúng 17 giờ 30 phút.
Đợt tiến công thứ ba của tướng Giáp bắt đầu.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh

Bài viết: 505
|
 |
« Trả lời #57 vào lúc: 21 Tháng Ba, 2008, 09:26:16 am » |
|
ELIANE 1 CHẾT LẦN THỨ HAI Từ 1 đến 2 tháng 5 năm 1954
Đã 20 giờ 30 phút. Suốt 3 giờ liền, các khẩu pháo, cối, súng không giật của Việt Minh đặt trên núi Giả bắn phá các vị trí Pháp, một trận bắn pháo chuẩn bị kéo dài nhất kể từ ngày bắt đầu cuộc chiến. Khi pháo ngừng bắn, các chiến hào đã bị tàn phá tạm yên thì các sư đoàn địch lập tức tiến công. Sư đoàn 312 và 316 tiến đánh các dãy đồi phía Đông, sư đoàn 308 tiến đánh điểm tựa Huguette 5 lẻ loi giữa đường băng, ở phía Tây.
Tại Eliane 1 chỉ còn lại một đại đội nhỏ, đại đội 3, tiểu đoàn 1 lính dù thuộc địa. Quân số chỉ còn 80 người tất cả, do Leguerre chỉ huy. Đây là một sĩ quan trẻ vừa mới được nhận chiếc lon thứ hai ( Tức cấp trung úy, có hai vạch ở cấp hiệu đeo trên cầu vai). Tám mươi người quả là ít trước trung đoàn 165 đang leo lên các sườn đồi. Đúng là ít quân, nhưng không còn chỗ cho một số quân quan trọng hơn. Từ ngày 1 tháng 5, Eliane 1 không còn là một vị trí ra trò nữa. Bị tiến đánh và bị mất vào ngày 30 tháng 3, ngày 31 được giành lại nhưng rồi lại bị mất, đến ngày 10 tháng 4 mới chiếm lại và lại bị tiến công liên tục, trên đồi không còn một hầm nào ra hồn, tất cả chiến hào chỉ là những cái rãnh bị pháo bắn không ngừng. Đỉnh đồi chỉ còn là một đống bụi quyện thành bùn pha trộn những mảnh kim loại, phủ lên trên là một khối nhão xác chết hàng trăm lần bị xé thành từng mảnh và nghiền nát.
Liên tục suốt 20 ngày qua, cứ đến sẩm tối là hai đại đội luân phiên thay nhau đóng giữ đỉnh Eliane 1. Hai đại đội này là tất cả những gì còn lại của tiểu đoàn 2, trung đoàn dù thuộc địa số 1 do Bréchignac chỉ huy. Mỗi lần thay quân là cả một cuộc chạy đua để giành bất ngờ đối với Việt Minh đang bố trí cách đó dưới mười mét, chỉ ngăn cách cứ điểm bằng một lớp rào kẽm gai hoặc một công trình phòng ngự phụ. Mỗi sự sơ xuất để lộ là dẫn đến một cuộc chiến đấu giáp lá cà dữ dội. Suốt ba tuần liền những đội tuần tra đêm đều bị móc ruột.
Tuy nhiên, cũng đã có lần, giữa hai trận đánh quyết liệt, quân lính hai phía đối địch có những cử chỉ không thể nào giải thích nổi. Ngày 30 tháng 4 từ hố này sang hố khác họ đã nhìn nhau mà không bắn nhau. Rồi họ nói chuyện với nhau. Họ đã khám phá ra là họ không thù hằn gì nhau. Lính Việt Minh đã tung sang cho lính Pháp những chiếc bánh mì vừa thu được ở những chiếc dù rơi lạc. Để trao đổi, lính Pháp đã đưa sang cho họ một ít rượu trong những đồ hộp khẩu phần.
Câu chuyện này loang đi khắp mặt trận. Không ai cho đó là chuyện khó tin hay bịa đặt. Những giờ phút hạnh phúc này thật hiếm có, chỉ thoáng qua như ánh chớp, khó có thể đánh giá được thật hay hư. Chỉ biết, dưới vòm trời mây thấp, những chiến binh cần phải có niềm tin vào mặt trời, vào mùa xuân, vào tình hữu nghị.
Đối với những lính dù thuộc địa, leo lên đỉnh Eliane 1 là chuyện vượt ra ngoài cơn ác mộng. Vượt xa cả mệt mỏi, sợ hãi. Ở mức độ cùng kiệt này họ chỉ hành động theo phản xạ. Để đi thay quân, phải loại trừ hết mọi suy tư, mọi tỉnh táo. Nếu không, sẽ không thể nào leo lên đỉnh đồi được. Sẽ thoái lui mất.
Thường thường, đơn vị tới thay quân và đơn vị được thay quân không quen biết nhau. Những trung đội, tiểu đội chiến đấu toàn là những đơn vị chắp vá, có sao dùng vậy, luôn luôn bổ sung bằng những lính sống sót từ các cứ điểm chạy về. Mỗi binh lính là một con người lẻ loi, đơn độc. Bạn thân nhất của anh ta đã bị chết từ hôm qua, hôm kia hoặc trước nữa. Bây giờ anh sống chung với một người mới tới, một cái tên vô danh vừa đến đã lại mất ngay. Hoặc là họ không được bổ sung quân số. Họ cứ phải chiến đấu, cứ phải rút lui, đấu tranh để tồn tại hơn là do ý nghĩa của tinh thần hăng hái. Đối với họ, buông xuôi tay có nghĩa là thừa nhận đã chẳng làm gì cả, chịu đựng, khuất phục chẳng nghĩa lý gì cả.
Vào lúc 20 giờ 30 phút tối ngày 1 tháng 5, vẫn là tám chục con người này chống lại sức mạnh tiến công của một trung đoàn.
Trên những sườn đồi mặt phía Đông, Việt minh đã cắm những lá cờ nhỏ gọi là « lộ tiêu » ( Dùng để đánh dấu đường tiến trong đêm tối) tạo thành một hành lang rộng khoảng 15 mét đường tiến quân cho các tiểu đoàn. Những trung đội đi đầu đều đeo khẩu trang, vì vệ sinh phòng bệnh hơn là để dễ nhận ra nhau. Và thế là lính dù đột nhiên thấy xuất hiện hàng trăm người có đốm sáng ở mũi.
Pháo binh Pháp có thể tạo nên một cuộc tàn sát vì bộ đội Việt Minh tập trung rất đông trên diện tích vài chục mét. Nhưng không còn đủ pháo, cối và đạn pháo, đạn cối đương đầu với một cuộc tiến công dàn ra khắp nơi. Việt Minh đã leo lên Eliane 1. Việt Minh cũng có mặt ở chân Eliane 2. Việt Minh tiến đánh cả ở khoảng giữa con sông và các quả đồi, trung khu vực Dominique 3. Ở mặt phía Tây bên kia sông, Việt Minh cũng đã xông qua lớp rào kẽm gai, thọc vào Huguette 5 do lính dù lê dương đóng giữ.
Những quả đạn pháo bắn từng loạt hoặc lẻ tẻ rời rạc vài ba biên không đủ ngăn chặn cuộc tiến công.
Mới chỉ sau 15 phút chiến đấu, đại đội 3 thuộc tiểu đoàn 1, trung đoàn dù thuộc địa số 2 đã thực tế không còn tồn tại. Một trong những người bị thương đầu tiên là trung úy đại đội trưởng Leguerre. Ông nằm trong hố, bên cạnh điện đài, chỉ kịp nói mấy câu yêu cầu tăng viện. Gần bộ máy thu phát đã bị vỡ tan vì đạn cối, Steffen là y tá chỉ có thể quỳ gối lau vết thương kinh khủng đã phá vỡ hộp sọ, để lộ ra một mảng óc phập phồng. Leguerre không chết. Ông rên khe khẽ, mắt nhìn thẳng như vẫn còn tinh thần, nhưng thực tế đã hoàn toàn tê liệt. Sau đó, Leguerre được đưa về trạm phẫu thuật. Bác sĩ thiếu tá Grauwin cầm một cái thìa nhỏ đã khóe léo xúc ra những mảnh đạn vỡ vụn trên màng óc. Vài tuần sau ( Lúc này, chiến dịch Điện Biên Phủ đã kết thúc, Leguerre đã được đưa về Hà Nội), Leguerre được chữa khỏi một cách kỳ diệu, bắt đầu tập nói và tập cử động như một đứa bé.
Đã 9 giờ tối. Để trợ lực cho năm binh sĩ còn sống sót đang cố thủ trong cứ điểm, Bréchignac đưa tới Eliane 1 đại đội cuối cùng của mình do trung úy Periou chỉ huy. Đại đội trưởng Periou rất mỏi mệt, đôi má không còn hồng hào nữa. Cặp mắt thâm quầng, lỗ mũi xẹp xuống, ông cũng như một trăm lính dù đi theo là hình ảnh sinh động của sự kiệt sức. Hồi nãy, thiếu tá Bréchignac đã cảm thấy cổ họng se lại khi nhìn mớ tóc trên đầu Periou gần như trắng xóa.
21 giờ 10, Periou bước vào chảo lửa.
Sau đó, mọi người không rõ tình hình tiếp diễn như thế nòa. Suốt đêm, lính dù cố giữ từng tấc đất. Họ lần lượt chết dần mòn từng người một trong hố hoặc trong những đợt phản kích. Những người của tiểu đoàn 2, trung đoàn 1 lính dù thuộc địa không thua trận mà là chết trận.
Eliane 1 thất thủ lúc rạng đông. Mất vĩnh viễn. Trong số 180 lính dù đóng giữ cứ điểm, chỉ có 18 người , tức một phần mười quân số, lần mò về được phía sau. Tất cả đều bị thương.
Trong đêm 1 tháng 5, Eliane 1 không phải là vị trí duy nhất bị Việt Minh đánh chiếm. Ngay dưới chân Eliane 1, cứ điểm Dominique 3 cũng bị tràn ngập. Đóng giữ cứ điểm này chỉ có lính Thái dưới sự chỉ huy của thiếu tá Chenel và một đại đội lính Angiêri của đại úy Filaudeau. Từ khi rút bỏ Anne Marie mà không chiến đấu, rồi lại để mất Dominique trong vòng vài phút, không ai tin cậy đám lính Thái này nữa. Vậy mà không hiểu sao, số lính này vẫn được cử đến những vị trí tiền tiêu.
Ngay khi Việt Minh mới bắt đầu tiến công, Thomas chỉ huy tiểu đoàn dù thuộc địa số 6 đã đưa đại đội 3 tới ngăn chặn sự tan rã của số lính trên.
Tuy nhiên, không có chuyện tan rã. Nếu như trong những ngày đầu cuộc chiến, lính Angiêri và lính Thái bị mất tinh thần thì bây giờ họ đã ổn định lại. Giữa lúc tưởng chừng như bị mất tất cả, họ đã chiến đấu như chưa từng ai mong đợi. Sự kháng cự của họ là đáng nêu gương. Suốt sáu giờ, họ cố giữ vững, không được pháo yểm trợ, không hi vọng được thay quân hoặc được tăng viện. Lưng dựa vào bờ sông, họ cố bám giữ, không lùi một tấc.
Trong tất cả các chiến binh ở Điện Biên Phủ, lính Thái và lính Angiêri đã được sử sách ghi là những kẻ từ chối chiến đấu, bỏ ngũ, tìm nơi ẩn náu tại các hầm hố bờ sông, và được gọi là “những con chuột ở Nậm Rốm”.
Đúng là đã có “những con chuột ở Nậm Rốm”. Nhưng chắc chắn ít hơn người ta nói, không quan trọng như người ta nghĩ và nếu lập sổ thống kê sẽ gây bất ngờ, bối rối cho những ai đã tưởng tượng. Có thể vì lẽ đó nên trong đêm chiến sự khủng khiếp này lính Thái và lính Angiêri không chùn bước. Họ muốn cứu vớt danh dự.
Đến 3 giờ sáng, trung úy Perret chỉ huy đại đội 3, tiểu đoàn 6 lính dù thuộc địa, gửi điện báo cáo :
“Bị tiến đánh bởi kẻ địch đông và quyết tâm. Địch đã dùng lựu đạn phá lô cốt. Hiện đang giao tranh trong chiến hào dẫn đến hầm chỉ huy của tôi. Tôi sẽ tự lực tổ chức phản kích ngay trong vị trí”.
Thomas ghi điện rồi chuyển tới Bigeard. Cả hai người đều không thể làm gì cứu giúp Perret ngoài sự thương cảm . Không còn lại một đơn vị dự bị nào. Cũng không còn khả năng nào để tiếp tế đạn dược. Perret bắt đầu phản kích. Chung quanh ông là một nửa trung đội do trung sĩ trưởng Flamen chỉ huy và hai tiểu đội, một tiểu đội lính Angiêri râu ria xồm xoàm, một tiểu đội lính thái quần áo tả tơi bạc phếch.
Mỗi khẩu súng trường của họ chỉ còn bốn viên đạn, mỗi khẩu tiểu liên hai mươi viên đạn. Không ai còn một quả lựu đạn nào.
Dominique 3 vẫn không chịu đầu hàng. Cứ điểm sụp đổ như một trái cây chín rụng vào lúc 4 giờ sáng. Điện đài của thiếu tá Chenel phát đi báo cáo cuối cùng “ Không ai còn khả năng chiến đấu. Đạn đã hết. Tôi cho phá hủy vũ khí ! Bây giờ, tôi phá nốt điện đài”.
Ở mặt trận phía Tây, mới đầu sư đoàn 308 tiến hành hai cuộc tiến công nghi binh nhằm đánh lạc hướng phán đoán. Trận tiến công thứ nhất đánh vào Lily, một cứ điểm vội vã xây dựng hồi cuối tháng 4 sau khi Huguette 1 bị mất, nhằm bảo vệ sườn phân khu Trung tâm bị hở. Đóng giữ Lily là hai đại đội thuộc tiểu đoàn 1, trung đoàn bộ binh Maroc số 4, dưới sự chỉ huy của thiếu tá Nicolas. Tại vị trí này, lính Maroc đã chiến đấu tốt. Đến nửa đêm, quân địch rút khỏi các lớp hàng rào. Đòn tiến công thứ hai nhằm vào Huguette 4 ở ngay phía trên Lily. Vị trí này có một phần lớn tiểu đoàn xung kích lê dương do thiếu tá Guiraud chỉ huy. Việt Minh đã bám chân được vào hệ thống phòng ngự. Luciani dẫn đại đội tiến hành phản kích. Đến nửa đêm, địch không gây sức ép nữa.
Tình hình lại yên tĩnh. Nhưng đến hai giờ sáng, Việt Minh lại tiến đánh Huguette 5 là mục tiêu chủ yếu mà không cần bắn pháo chuẩn bị.
Nhìn toàn bộ tập đoàn cứ điểm hiện nay thì Huguette 5 là một vị trí nằm nhô ra khỏi vành đai phòng ngự, như một bán đảo, nối với Huguette 1 trước khi thất thủ bằng những hào giao thông.
Tại Huguette 5 chỉ còn lại một mình đại đội lính dù lê dương. Đó là đại đội 4, của Cabiro và Domigo, đặt dưới sự chỉ huy của trung úy Stabenrath vừa mới nhảy dù xuống tăng viện được 15 ngày, đã bị thương trong trận phản kích ngày 17 tháng 4 tại Huguette 1. Stabenrath đã 29 tuổi nhưng nom như mới 20. Sự mệt mỏi làm đôi má Stabenrath tóp lại, nhưng lại làm cho bộ mặt có vẻ trẻ hơn.
Dưới sự chỉ huy của Stabenrath là 29 binh sĩ. Đúng 29 người. Trong đó có một sĩ quan là thiếu úy Boisbouvier, hai trung sĩ là Zurell và Novak, một hạ sĩ là Grana và 25 lính dù lê dương.
Boisbouvier đã bị thương ba lần trong vòng 15 ngày. Đáng lẽ phải nằm ở trạm xá quân y nhưng ông đã trốn về đơn vị, trên đùi hãy còn băng bó. Zurell cũng trong tình trạng như vậy nhưng không ai nhận ra vì ông để râu từ một tuần nay, và thay đổi cả tên gọi.
Trong ký ức của ông nổi lên gương mặt một thượng sĩ nổi tiếng trong trung đoàn 2 lê dương đóng tại Đà Nẵng và hiện nay đang ở Madagascar, tên là Calish. Zurell đã chọn tên này đặt cho mình.
Ba trung đội trưởng Alain De Stabenrath, Boisbouvier , Zurell Calish mỗi người chỉ huy một đơn vị có khoảng mươi lính.
Trước mặt họ là trung đoàn thuộc sư đoàn 308 ở mặt Bắc cứ điểm, trung đoàn 102 cũng thuộc sư đoàn 308, ở mặt phía Tây. Đơn vị dự bị là trung đoàn 88, còn gọi là “trung đoàn Thủ đô” ( Tác giả nhầm. Trung đoàn 102 mới là trung đoàn Thủ đô – ND) vì là đơn vị cuối cùng rút khỏi Hà Nội sau cuộc Tổng khởi nghĩa năm 1947. ( Tác giả lại nhầm. Đây là cuộc rút quân sau khi kháng chiến toàn quốc năm 1946. Tổng khởi nghĩa đã hoàn thành thắng lợi từ năm 1945 – ND) .
Để tiến công, sư đoàn 308 đã đưa xuống cánh đồng, ngay phía chân cứ điểm Anne Marie cũ, một khẩu đội 8 lựu pháo 105, ngoài ra còn có hai đại đội cối nặng 120.
3 giờ sáng, khi pháo địch ngừng bắn, Stabenrath mà đồng đội và binh lính thân mật gọi là Stab, báo cáo Việt Minh đã tràn vào bên trong lớp rào dây thép gai, 3 giờ 30, Novak thay Stabenrath báo cáo :
- Trung úy đã bị thương ở chiến hào ngoại vi. Trong này chỉ có tôi và hai lính.
Thế là hết. Trung đoàn 102 cuối cùng đã vào được trung tâm điểm tựa. Việt Minh đã tiêu diệt được đám lính mũ nồi xanh. Không ai chịu để bắt làm tù binh ( Không đúng. Trong trận Eliane 1 mà ta gọi là cứ điểm C1 có hơn một chục tù binh lê dương bị bắt hoặc đầu hàng. Nhìn chung, trận nào cũng có tù, hàng binh – ND).
Đã 4 giờ sáng. Khoảng năm chục lính lê dương tiểu đoàn 1, trung đoàn 2 từ Huguette 2 tổ chức phản kích đánh sang Eliane 1. Nhưng họ đã bị pháo Việt Minh chặn lại ngay trước những lớp hàng rào ngoại vi, phải nằm rạp như đóng đinh trên mặt đất.
Đến rạng đông, thiếu tá Guiraud chuẩn bị xóa tên đại đội 4 trên biểu đồ quân số trung tâm chỉ huy. Bỗng ông nhìn thấy ba người lính đầy bùn và máu, vác theo người thứ tư, hai chân bị gãy, nét mặt nhợt nhạt. Đó là Stabenrath.
Zurell Calish giải thích :
- Hạ sĩ Grana đã đi mang ông ấy về từ trận tuyến Việt Minh.
Grana từ chiến hào đã bò lên mặt đất. Anh bò sát người dưới những hàng rào dây kẽm gai, nhích lên từng thước đất một và cứ nhoài lên mãi cho tới khi tới một cái hố ngập bùn và nước tới một nửa. Alain De Stabenrath nằm trong đó. Grana tụt xuống gần trung úy. Anh léo Stab lên rồi cứ thế bò dần trở về.
- Thế còn Boisbouvier ?
Những nhân chứng, mỗi người nói lên một cách trái ngược nhau. Có người đã nhìn thấy thiếu úy bị bộ đội Việt Minh bắt làm tù binh, lôi về phía sân bay. Có người lại nói đã nhìn thấy ông tự mình rời vị trí, ẩn náu ở một hố bom, chỉ mang theo một súng Cacbin, hai băng đạn, sáu quả lựu đạn.
Từ đó, không bao giờ và không thấy ai nói gì về Boisbouvier nữa.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh

Bài viết: 505
|
 |
« Trả lời #58 vào lúc: 21 Tháng Ba, 2008, 10:31:28 am » |
|
SỐ PHẬN TIỂU ĐOÀN 1 Từ 3 đến 6 tháng 5 năm 1954
Cuối cùng, mặt trời đã mọc tại Điện Biên Phủ. Đó là ngày thứ Hai. Sau đó, trời lại mưa. Tại hầm chỉ huy, Langlais và Bigeard kiểm điểm những trận chiến đấu mấy đêm qua. Thật là kinh khủng. Sáu vị trí bị tiến công thì ba vị trí Eliane 1, Dominique 3, Huguette 5 đã bị chiếm không sao gỡ lại được. Vết thương lại càng không thể chữa trị vì số thương vong lên tới tròn một tiểu đoàn. Thế mà đêm nay chỉ nhảy xuống được một đại đội. Đó là đại đội 2 của trung úy Edme thuộc tiểu đoàn 1, lính dù thuộc địa.
Langlais lập tức đưa đại đội này lên Eliane 2 là cứ điểm một lần nữa lại bị tiến công. Ở trên đó lính lê dương dưới sự chỉ huy của thiếu tá Coutant đang chống chọi với sức ép mãnh liệt của địch. Quả đồi thứ năm này quả đã gây cho bộ đội Việt Minh một sự mê hoặc. Cứ điểm này thật sự có tiếng vang trong lực lượng chủ lực tác chiến của Việt Minh. Từ ngày 30 tháng 4, Việt Minh đã tiến đánh Eliane 2.
Vậy mà, so với các điểm tựa khác thì đây lại là một cứ điểm có lẽ ít có những điều kiện phòng thủ nhất. Quả đồi đã bị vây ba mặt, phơi mình trước họng súng bắn thẳng của vũ khí nặng đặt trên hai mỏm đồi lân cận là mỏm núi Giả và mỏm núi Hói. Suốt 33 ngày vây hãm và sau một loạt những đợt tiến công không đếm xuể, những trung đội mũi nhọn vẫn tiến theo con đường từ bãi đất mang tên Champs Elysees và con đường này không dẫn đến một nơi nào khác ngoài chân một cái hầm bê tông mà lần lượt các đơn vị của Pháp luân phiên nhau đến thay thế.
Ngày lại ngày, bãi đất mà Pháp đặt tên là Champs Elysees trở thành một trường bắn công cộng, một bãi đất bị cày xới, ngập nước và máu. Các xác chết chất đống ở đó rồi thối rữa hòa trộn xương thịt vào bùn đất. Ban ngày, chỉ nhận ra những hình người qua đám ruồi nhặng bám xung quanh.
Pháo binh Pháp đã nhằm sẵn vào Champs Elysees với tọa độ mật danh là Saxo 411. Những pháo thủ đã thuộc lòng điểm bắn, các sĩ quan không còn phải chỉ dẫn. Mỗi trận bắn pháo chỉ cần nêu mật danh tọa độ là các quả đạn liền rơi tập trung vào đó. Sau khi kết thúc chiến dịch, Việt Minh đã xây dựng một đài tưởng niệm ở Eliane 2 mà họ gọi là đồi A1.
Từ ngày 3 tháng 4, tiểu đoàn 1 bán lữ đoàn lê dương số 13 lĩnh trách nhiệm đóng giữ Eliane 2. Lính lê dương đã không bỏ một thước đất. Hai đại đội thường xuyên có mặt tại đây, cứ 48 giờ lại luân phiên thay thế một nửa số quân. Ba đại đội gộp lại chỉ có chưa đầy 80 binh sĩ.
Khi trung úy Edme đưa 120 lính dù tới, thiếu tá Coutant giải thích :
- Hai đêm nay, Việt Minh đào một đường hầm từ núi Hói xuyên tới chân đồi của chúng ta.
Edme gật đầu, không trả lời. Cũng như toàn thể binh lính trong đơn vị của mình, Edme có một vẻ đặc biệt, khác với lính bộ binh lê dương của Coutant. Lính dù lê dương của Edme có một bộ mặt của những con người bình thường,vẻ mỏi mệt không làm biến đổi những nét dân dã của họ. Họ giữ gìn quân phục mới, dù vấy bẩn khi tiến trong hào giao thông để tới Eliane 1. Họ cứ tưởng sẽ đến một vị trí đang mất tinh thần, binh lính khao khát được nghỉ ngưoi. Chỉ chờ mong có chút ít tăng viện. Nhưng chính số lính đang bị bao vây lại nêu gương cho số lính dù mới đến khi không ai hoài nghi dao động. Không ai phàn nàn. Nếu có hỏi chuyện bên ngoài thì mọi người thường nói như hồi còn chiến tranh ở Pháp “
- Anh nghĩ rằng hậu phương vẫn vững vàng chứ ?
Không ai nghĩ rằng Điện Biên Phủ có thể bị tiêu diệt ( Tác giả quá cường điệu. Theo lời khai của nhiều tù bình và cả lời kể sau này của nhiều nhân chứng viết sách, sau khi sân bay bị phá hủy hoàn toàn, hầu hết đều cho rằng Điện Biên Phủ không tồn tại được - ND). Ngược lại , họ còn nói rằng :
- Tình hình không thể xấu được. Sẽ có một cái gì đó …
“Cái gì đó”, trước hết là Hội nghị Geneve vài giờ nữa sẽ họp ( Theo Jean Pouhet, lính ở Điện Biên Phủ không biết gì về hội nghị này – ND). Sau đó là binh đoàn cứu viện đến từ Lào đã tới Sốp Nạo chỉ cách Điện Biên Phủ 50 kilômét về phía Tây Nam. Chỉ huy cánh quân này tên là Crevecoeur, một cái tên gợi nhớ đến thời kỳ Thập tự chinh. Lúc này, những người ở Điện Biên Phủ chưa biết Crèvecoier chỉ là một trung tá có góp phần tổ chức ra cánh quân rồi dừng lại ở đây. Họ cũng không biết là người cầm quân thật sự là trung tá Godard, và lúc này Godard đã nhận được lệnh hành quân quay trở lại.
Có được niềm tin chiến thắng là bởi vì toàn thể những người ở Điện Biên P hủ đều không biết gì về các sĩ quan trong ban tham mưu thuộc Bộ tư lệnh ở Hà Nôi, không biết gì về các nhà chính trị ở bên Pháp, về các nhà lãnh đạo các nước đồng minh. Những người này đều coi như cuộc chiến ở Điện Biên Phủ đã cầm chắc thất bại. Nếu họ có nhắc đến cái tên Điện Biên Phủ thì cũng chỉ gợi nhớ đến chuyện đã qua. Còn những lính dù lê dương, dù có ai biết chuyện này cũng không dám tiết lộ với các bạn.
Countant tiếp tục nói với Edme :
- Tôi lo ngại về cái đường hầm này. Tôi không muốn nằm yên chơi cái trò thụ động. Nhưng chúng ta chẳng thể làm gì ngoài sự chờ đợi.
Edme đã hiểu, hồi nãy, ông đã nghe thấy phản ứng của một trung sĩ :
- Chúng ta đành chờ đến sáng mai trong lúc Việt Minh tiếp tục đào.
Khi tiếng cuốc ngừng đào, có nghĩa là công việc đào đường hầm đã hoàn thành và khối thuốc nổ TNT sẽ nổ tung.
Ngày 3 tháng 5, tướng De Castries tới thăm binh sĩ bị thương nằm chất đống ở trong hầm trạm xá quân y. Không có giấy khen và huân chương ông đành phát cho mỗi người một mảnh giấy chứng nhận chẳng có giá trị gì tại nơi ô uế nhơ bẩn này. Đó là tất cả những gì tưởng De Castries có thể ban cho. Cũng như mọi người ở đây, tướng De Castries rất nghèo khổ.
Người duy nhất được trao tặng huân chương Bắc đẩu thật sự , đó là Genevìeve De Gallard, cô tiếp viên hàng không kẹt lại không về Hà nội được, đang trở thành nữ hộ lý. Một trung úy bị thương đã trao lại cho cô tấm huân chương của anh.
Đến sẩm tổi, điều kiện thời tiết tốt đã cho phép thả dù tiếp tế lương thực, đạn dược. Những bao gạo được vứt xuống cùng với bộ phận thứ hai của tiểu đoàn dù số 1, tức đại đội 3 dưới sự chỉ huy của đại úy Jean Pouget.
Đối với những người lính dù ở Điện Biên Phủ, việc Pouget là sĩ quan tùy tùng của tướng Navarre lên đây, đó là một biểu trưng, tượng trưng cho sự có mặt của tổng tư lệnh bên cạnh binh lính. Mọi người đều đánh giá cao việc đại úy Jean Pougét đã rời bỏ vị trí tiện nghi, yên lành, để lên đây sống cùng với họ trong vũng bùn và những tiếng nổ của chiến trânj.
De Castries hỏi Pouget :
- Hội nghị Geneve thế nào ?
Pouget trả lời nước đôi, có vẻ muốn thoái thác. Ông định giải thích, hội nghi nào cũng luôn luôn phải chuẩn bị lâu. Ông không dám nói, theo phân tích của các nhà chính trị thì tướng Giáp quyết định dành chiến thắng trước khi bắt đầu thảo luận các vấn đề nghiêm chỉnh. Quan điẻm này được Nga và Trung Quốc ủng hộ. Vì không muốn tiết lộ điều này nên Pouget nói dối. Một chuyện bịa đặt không đánh lừa được ai :
- Paris tỏ vẻ lạc quan về hội nghị. - Chúng tôi cố giữ chừng nào còn phải giữ.
Vừa nói xong, tướng Castries lại chữa lại bằng cách nói thêm :
- Nhưng mà, bọn họ ở Gneneve phải nhúc nhích lên.
Có tiếng điện đài kêu rè rè, một tiếng người khô khan báo cáo :
- Chúng tôi bị tiến đánh khắp mọi phía. Trung úy đã tổ chức phản kích nhưng không có tin tức gì cả ..
Vài giây sau, tiếng nói lại phát ra :
- Đại úy Luciani đã bị thương. Chỉ còn khoảng một chục người chung quanh hầm chỉ huy .. Việt Minh lại tiến công. Chúng đã xông vào chiến hào của chúng tôi. Ôi ! Chúng nó đây rồi ! A !.
Đó là tiếng kêu trước lúc chết của viên sĩ quan bên cạnh điện đài vừa báo cáo tình hình trong hầm. Tướng De Castríe, mặt tái xanh, quay lại phía Pouget, nói bằng một giọng ủ rũ buồn phiền :
- Cậu xem đấy. Lại một điểm tựa nữa vừa bị mất. Không còn làm gì được. Miếng da lừa cứ tep tóp lại.
Điểm tựa đó là Huguette 4.
3 giờ sáng ngày 4 tháng 5, trung đoàn 36 Việt Minh, có thêm hai tiểu đoàn của hai trung đoàn 88 và 102 thuộc sư đoàn 308 tiến đánh tám chục quân của đại úy Luciani, gồm các lính lê dương, lính dù, lính thuộc địa Maroc xáo trộn với nhau.
Quá nửa đêm, thiếu tá Guiraud đưa một đơn vị tới phản kích. Ông không làm được gì hơn ngoài việc thu nhặt vài người lính bị thương đang nằm trong những lớp hàng rào dây thép gai.
Khoảng rạng sáng, đại úy Pouget dẫn quân lên Eliane 2.
Pouget gặp Countant đang tổ chức việc thay quân.
Countant nói với Pouget :
- Tôi ở lại đây với anh.
Lúc này, Eliane 2 mới có hai đại đội dù đầy đủ quân số. Từ ngày 4 tháng 4, trại lính vững chắc này chưa bao giờ tập trung quân trên điểm tựa. Edme và binh lính của ông trấn giữ mặt phía Đông, đối diện với núi Hói. Pouget và binh lính của ông trấn giữ mặt phía Nam, đối diện với Champs Elysees.
Ở phía dưới là Eliane 3, một cứ điểm thành lập vội có những binh sĩ còn lại của tiểu đoàn 1 bán lữ đoàn lê dương số 13 được dựng làm lực lượng dự bị để phản kích. Lính lê dương đóng gần các trung độ vũ khí nặng của tiểu đoàn dù xung kích sô 6, trạm quân y của binh chủng nhảy dù có những binh sĩ bị thương nhẹ sẵn sàng trở về đơn vị khi cần. Họ nói với thiếu tá bác sĩ quân y Grauwin :
- Nếu những đồng đội của chúng tôi vẫn còn phải ở lại vị trí, thì chúng tôi cũng muốn được ở bên cạnh họ.
Và thế là những người chột một mắt, cụt một tay, còn một chân đã lê lết trong những hào giao thông, vượt qua sông Nậm Rốm chiếm lĩnh vị trí dưới chân Eliane 2. Họ không đòi hỏi quá đáng. Họ chỉ làm nhiệm vụ tùy sức. Tức là tham gia vận chuyển vũ khí, tiếp đạn súng máy, lắp đạn súng cối. Đối với họ, chỉ có một điều duy nhất tính đến là tình bạn chiến đấu.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh

Bài viết: 505
|
 |
« Trả lời #59 vào lúc: 21 Tháng Ba, 2008, 02:10:28 pm » |
|
ĐƯỜNG HẦM ELIANE 2 Từ 3 đến 6 tháng 5 năm 1954
Hai ngày, hai đêm qua Việt Minh hầu như giậm chân tại chỗ. Dù cho tướng Giáp có quyết định phải giành thắng lợi trước khi họp Hội nghị Geneve ( Tác giả suy diễn. Không có chỉ thị, văn bản nào về chuyện này – ND), ông cũng thấy không nên hy sinh nhiều binh sĩ. Vì vậy, ông đã hạ lệnh làm lại hệ thống chiến hào đánh lấn, củng cố, sửa sang các vị trí đã chiếm được.
Tuy nhiên, đối với kẻ địch đang lao động ngoài trời, trên những bãi trống, hoặc trong những lớp rào dây thép gai ở phía Tây Huguette 5, phía Đông Eliane 1 , pháo binh Pháp đã tỏ ra bất lực vì thiếu đạn.
Sáng ngày 6 tháng 5, chỉ còn chưa đầy một nghìn quả đạn trong hầm pháo 105, một nghìn hai trăm trong hầm cối 120. Số đạn này chỉ bắn liên tục trong hai giờ là hết nhẵn.
Tập đoàn cứ điểm đang tới lúc nghẹt thở. Vậy mà lại một lần nữa, đại đội thứ ba của tiểu đoàn dù số 1 nhảy được xuống khu trung tâm cùng với toàn ban chỉ huy tiểu đoàn. Chỉ có một người bị thương duy nhất. Đó là đại úy tiểu đoàn trưởng Bazins. Vừa chạm đất ông đã bị một quả đạn phạt gẫy đùi. Pouget lên thay.
Đối với phía Pháp, ngày 6 tháng 5 được dùng để củng cố các công trình phòng ngự còn lại. Tại Eliane 4, những binh sĩ còn sống sót của tiểu đoàn 1, trung đoàn dù thuộc địa số 2 và tiểu đoàn Bảo an số 5 tập trung lại hướng vào việc phòng ngự mặt phía Đông. Đại đội thuộc tiểu đoàn dù xung kích số 1 do đại úy Trehiou chỉ huy giữ mặt Đông Nam.
Eliane nằm trong tay hai đại đội của Jean Pouget và Marcel Edme.
Ở phía dưới, giữa các quả đồi và sông Nậm Rốm là Eliane 3, trở thành vị trí tiền tiêu sau khi Dominique 3 bị mất, hiện do hai trung đội tăng cường của tiểu đoàn dù xung kích số 6 trấn giữ. Đó là những binh sĩ còn lại của hai đại đội. Đại đội 1 của Le Page bám giữ bờ sông Nậm Rốm. Đại đội 2 của Trapp đóng dọc đường 41, dưới chân một điểm tựa không tên nối liền với Elinae 1 về phía cánh đồng.
Ở phía Nam, Eliane 3 dưới chân Eliane 4 và Eliane 2 là hai quả đồi lính dù vẫn giữ được, hiện đã sửa sang công sự như một « con nhím » độc lập, xuất phát từ sự cần thiết, sự ứng phó và cũng cả sự tình cờ. Ở trung tâm, trạm phẫu thuật phụ là khu vực có tới gần 300 lính bị thương đến từ các đơn vị lính dù và lính bộ lê dương. Chung quanh là đơn vị cối 81 của các tiểu đoàn dù, đặt dưới sự chỉ huy của trung úy Allaire. Bao bọc vành ngoài là các hầm hố, ụ súng, hào giao thông trong đó lúc nhúc những lính lê dương bán lữ đoàn 13, tuy đã bị thương nhưng vẫn còn đi được, rồi cả lính Thái, lính Angiêri ...
Ở bên kia sông là hai cứ điểm bảo vệ mặt Bắc khu trung tâm. Bên phải đường băng sân bay là cứ điểm Epervier do lính dù Bảo an của đại úy Bizard được tăng cường thêm một số bán trung đội của tiểu đoàn dù xung kích số 8. Bên trái là hai cứ điểm Huguette 2 và Huguette 3. Ngay đến thiếu tá Guiraud chỉ huy cụm cứ điểm này cũng không biết chính xác hai cứ điểm này do những đơn vị nào đóng giữ. Ở đây, hình như có khoảng hai chục lính dù lê dương, khoảng dưới năm chục lính Maroc, số còn lại là những lính bộ lê dương thuộc tiểu đoàn 1, trung đoàn 2.
Ở phần phía Nam khu trung tâm là điểm tựa Junon đặt giữa hầm chỉ huy của tướng De Castries và bờ sông Nậm Rốm do hai đại đội lính Thái dưới sự chỉ huy của đại úy Duluat đóng giữ, được yểm trợ bởi những khẩu trọng liên bốn nòng của trung úy Redon. Những khẩu trọng liên này giữ một vai trò quan trọng trong các trận chiến đấu trên đồi Eliane, bảo vệ sườn Champs Elysees. Đây là những khẩu súng đã phát huy hỏa lực mãnh liệt, chung quanh còn để lại những đống vỏ đạn cao tới một mét.
Những lính Thái ở đây gây ngạc nhiên cho những người có trách nhiệm chỉ huy phòng ngự. Họ cứ nghĩ chúng sẽ bỏ chạy như ở Anne Marie hồi đầu trận đánh vì cho rằng cuộc chiến tranh này không liên quan gì đến mình. Nhưng, trái lại, họ đã ở lại vị trí, chờ đợi tình hình diễn biến và giữ vững tinh thần. Cho đến ngày 4 tháng 5 những người vợ số lính Thái này cùng sống trong khuôn viên vị trí vẫn đi chợ bình thường tại các bản trong rừng. Trong suốt trận đánh, Junon là điểm tựa duy nhất được tiếp tế rau xanh do vợ lính Thái mua ở chợ về.
Ngày 5 tháng 5, trung sĩ Paygnard chỉ huy một trong những đại đội lính Thái đã lệnh cho binh lính để cho vợ di tản. Đám đàn bà mới đầu còn chần chừ để chồng nói mãi, cuối cùng đã thấy sự cần thiết phải lánh đi một nơi ẩn náu. Họ ra đi vào ban đêm, tản ra trên cánh đồng. Paygnard quan sát kỹ trận địa, không thấy Việt Minh có phản ứng gì.
Sáng ngày 6 tháng 5, Điện Biên Phủ chuẩn bị bước vào trận chiến đấu cuối cùng. Lúc này, mọi ảo tưởng đã tan biến, mọi người đều rõ vài giờ tới sẽ là những trận quyết định. Tại hầm chỉ huy của tướng De Castries, các tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn dù chuẩn bị phá vỡ vòng vây rút sang Lào gặp cánh quân của Crèvecoeur. Mọi người đã được phân công nhiệm vụ. Tướng De Castries tình nguyện ở lại làm con tin để bảo vệ những binh sĩ bị thương.
Đằng sau lính dù, tất cả những người có khả năng đi theo đều chuẩn bị rút. Vốn là một người thực tế, không bao giờ che giấu tình cảm của mình. Bigeard nói thẳng và thật :
- Tên gọi cuộc hành quân này là « con đường máu ».
Không ai bình luận thêm.
Trong các đơn vị, triển vọng cuộc rút quân chỉ củng cố thêm tinh thần chiến đáu tới cùng, cuộc chiến sẽ không kết thúc bằng một thất bại hoặc một sự đầu hàng. Chỉ còn phải chống giữ một đêm nữa thôi, chống giữ lâu nhất theo khả năng này. Và sáng hôm sau sẽ rút đi như những người lính, như những chiến binh.
Vào khoảng 17 giờ, trận mưa đã ngưng suốt cả ngày, nay lại bắt đầu rơi xuống ngập chìm thung lũng. Mưa ngập cả chiến hào, quyện làn nước trắng bên trên với lớp bùn đen phía trước.
Đúng lúc đó, vang lên tiếng nổ của quả đạn đầu tiên báo hiệu pháo bắn chuẩn bị.
Hai giờ sau là đợt tổng tiến công của Việt Minh.
Bộ đội Việt Minh tiến đánh khắp mọi nơi : Eliane 10 ở mặt Bắc, Eliane 4 và Champs Elysees ở mặt Đông, Epervier và Huguette 3 ở mặt Tây. Lại xung phong. Thêm một đợt xung phong nữa. Nhưng không còn là trận chiến đấu tương sức nữa. Tỷ lệ thật kinh khủng. Có lẽ, quân Pháp phải chiến đấu một chọi với một trăm. Họ cố chống giữ, lưng dựa vào thành hào đã sụt lở, hoặc nấp vào trong những ụ súng, bị bao vây, bị ném lựu đạn, bị pháo bắn. Họ không chịu lùi một tấc đất nào. Chỉ đến khi đã chết mới ngừng chiến đấu ( Tác giả viết sai : đêm 6 – 5 -1954 chủ yếu chỉ bắn pháo, tiến công lẻ tẻ. Đầu giờ chiều 7-5 mới phát lệnh tổng tiến công. Lúc này địch đã hoang mang rệu rã, liên tục rời trận địa mang theo cờ trắng ra hàng – ND).
Bỗng một tiếng hú vang lên chấn động bầu không khí. Đó là tiếng hú, tiếng rít, rất chói tai, như xé màng nhĩ, sởn da gà. Những tiếng xé không khí này dội xuống thung lũng, lan rộng, biến cánh đồng thành một hỏa ngục. Cuối cùng là những vệt lửa như pháo hoa, nổ khắp mọi nơi, tung ra những bó lửa đỏ rực. Hình như vòm trời cũng đổ sụp vì đám lửa.
Chỉ có những người lính già trong binh chủng lê dương đã từng sống sót sau trận tiến công khủng khiếp của Nga mùa xuân năm 1945 mới biết đặt tên cho vũ khí khủng khiếp vừa mới xuất hiện tại Điện Biên Phủ. Đó là « dàn nhạc của Staline » gồm nhiều ống tuýp phóng rocket, mỗi khẩu súng có tới 12 ống phóng đạn ( Thực tế chỉ có 6 nòng – ND) có thể phóng đồng loạt cùng một lúc.
Hiệu quả thật tai hại đối với những hầm hố đã bị hư hại bởi đạn pháo 105 và những trận mưa rào. Sức phá hoại lại càng ghê gớm hơn đối với những con người không có gì che chở trong những chiến hào đã sụt lở nhiều đoạn – không một thước đất nào thoát khỏi hơi nổ và những mảnh đạn của loại đạn này. Đất như trồi lên, người bị ngã xuống, bị xé xác trong những tiếng kêu thét. Không khí ngột ngạt không sao thở được, dày đặc khói và mùi thuốc súng. Đúng là Ngày tận thế. Điện Biên Phủ chìm ngập trong đạn và lửa. Đêm hầu như vô tận ...
Trên cứ điểm Eliane 10 chỉ còn lại vài nhóm nhỏ cố bám giữ, chiến đấu lẻ tẻ, phân tán, bị những đợt sóng tiến công tách rời với các đơn vị bạn. Corbineau và Samalens là hai sĩ quan còn lại của đại đội 2 do Trapp chỉ huy lần lượt bị chết trong một khoảng thời gian ngắn. Bản thân Trapp cũng bị thương cả hai chân vì lựu đạn, đang nằm trong hố, nửa người phủ đất và bùn.
Cách 50 mét Le Page cũng ở trong tình trạng tuyệt vọng. Phía sau lưng đã là bờ sông rồi, đơn vị ông chỉ còn lại có một nhóm nhỏ gồm 5 hoặc 6 lính dù.
Và đúng lúc đó, xảy ra một chuyện phi thường. Khi nghe tin những đơn vị cuối cùng của Bigeard sắp bị tiêu diệt, tất cả những binh sĩ bị thương của tiểu đoàn 6 đang nằm trên giường trạm xá quân y Eliane 3 vội nhỏm dậy. Họ cầm lấy những vũ khí bỏ lại trên chiến trường, nhặt mũ sắt và lựu đạn từ những xác chết xồng ra trận. Trong các chiến hào, trên những bờ dốc, những người cụt tay chạy như phi, những người mù bò lết trên mặt đất, những người què tập tễnh bước chân. Họ không còn cách nào khác là đánh thắng hoặc chết trận. Phải chết trong tư thế tay nắm vũ khí, chứ không phải như những con chuột trong những hầm trạm xá quân y tối như nấm mồ.
Trong cử chỉ của họ không có vẻ gì là kiêu ngạo thách thức mà chỉ thể hiện tình đoàn kết chiến đấu. Dù bi thương, họ vẫn tự khẳng định là những người lính, những người lính chuyên nghiệp. Vì vậy họ không cần phải có sự căm thù để tiến lên. Họ là những người lính tình nguyện. Vì vậy, họ không cần phải có những lời lẽ đao to búa lớn để thúc đẩy người khác.
Trên cứ điểm Eliane 2, Pouget và Edme vẫn chống lại được sức tiến công của địch. Một lần nữa, bộ đội Việt Minh lại tiến theo những hàng cọc lô tiểu giữa mép thung lũng với bãi Champs Elysees. Đợt thứ nhất bị chặn lại, đợt thứ hai lại tiếp diễn.
Đến hai giờ sáng ( Không đúng. Thuốc nổ vào lúc 20 giờ 30 phút – ND), Edme truyền đi bản báo cáo ngắn gọn :
- Địch không đào đường hầm nữa.
Bức điện vừa mới đánh đi mọi người đã nghe thấy một tiếng gì đó như sấm dưới chân , làm rung chuyển đất ở trong lòng đỉnh đồi. Tiếng sấm rền lan rộng. Đất rung chuyển. Mặt đất trồi lên đột ngột như nắp vung chiếc nồi hơi. Một thứ hơi nóng loang ra, kêu rít, làm bốc thẳng lên cao những tảng đất nặng hàng tấn, quyện trong những dòng thác lũ lửa và khói. Việt Minh đã cho nổ tung đường hầm khối thuốc hai tấn TNT ( Không đúng. Khối thuốc này chỉ nặng hơn 900 kilô – ND).
Đỉnh đồi Eliane 2 vụt biến như bị núi lửa phá. Những tảng đất, những mảnh xác người, những mảnh kim loại, đá sỏi, bê tông rơi xuống tới tấp nhưng Edme không nghe thấy gì cả. Hai tai ông đã bị vỡ do làn sóng xung động khủng khiếp gây ra bởi sức nổ. Người Edme bị văng xa vài mét, vấp phải một bờ đất. Trong hố đen ngòm mở ra dưới chân mình, toàn bộ đại đội của ông không còn gì hết.
Cách Edme 15 mét, Pouget cũng bị tác động bởi tiếng nổ dưới đường hầm. Nhưng ông định thần rất nhanh và hiểu ngay Eliane 2 không thể nào chống giữ được nữa. Nếu Việt Minh tiến công mặt phía Đông điểm tựa, không còn ai để ngăn chặn nữa.
Tuy nhiên, có điều khó hiểu là bộ đội Việt Minh lúc này vẫn cố chọc thủng đường tiến quân như mọi lần trước ở đoạn đi qua Champs Elysees. Có lẽ, họ chưa biết một cửa mở khác đang đâng cho họ. Hoặc là những đơn vị phụ trách phá cửa mở chưa hoàn thành nhiệm vụ.
Vì vậy, Pouget vụt nảy ra một tia hi vọng. Ông gọi điện về sở chỉ huy :
- Cho tôi ngay lập tức một đại đội tăng viện : tôi có thể chiếm lại toàn bộ vị trí.
Vadot chỉ huy phân khu Nam trả lời :
- Được ! Tôi sẽ đề nghị Lecour Grandmaison đưa quân lên Eliane 2.
Đã 4 giờ sáng. Pouget vẫn còn hi vọng. Những lính dù của ông vẫn đang chiến đấu chống lại những kẻ địch dũng mãnh như những con sư tử, cố ngăn chặn làn sóng tiến công không ngừng của bộ đội Việt Minh đang cố bám chân trên bờ dốc. Đến lúc trời sáng rõ, nhất định Việt Minh sẽ rút lui như vẫn thường làm từ ngày 1 tháng 4.
Giữa quân Pháp và rạng đông, hai bên đang chạy đua về thời gian. Nếu đơn vị của Lecour Grandmaison đến kịp, sẽ chiếm lại được toàn bộ Eliane 2.
Nhưng đó chỉ là đòi hỏi không thực hiện được. Pouget bất chợt bắt được điện của bạn mình là Lecour Grandmaison :
- Tôi đang bị chặn lại ở cái « nút chai » tại Eliane 3. Tôi sẽ đến Eliane 4 chậm.
Pouget gọi điện cho Vadot. Chỉ huy phân khu Nam thừa nhận, vào phút chót, do nhận được điện cấp cứu của Bréchignac nên Lecour Grandmaison không đến Eliane 2 được mà phải cứu viện cho Eliane 4.
Pouget cãi lại :
- Nếu không được tăng viện ngay, tôi không thể giữ được vị trí .. - Chúng tôi không còn gì trong tay nữa. - Nếu vậy, cho phép tôi rút sang Eliane 3 để tăng cường cho cứ điểm đó. Nếu vị trí này bị mất, chúng tôi sẽ hoàn toàn bị bao vây và sẽ không làm được gì cả.
Vadot kêu to :
- Ồ ! Không ! Các anh phải giữ nguyên vị trí. Trước hết, các anh là quân dù, các anh phải chiến đấu cho tới chết .. Ít nhất cũng cố chiến đấu một ngày nữa. - Rõ ! Tôi không nói gì với ông nữa. Nếu ông không có điều gì nói thêm, tôi sẽ phá hủy điện đài. - Tôi cũng không còn gì để nói nữa
Chợt một tiếng nói xa lạ vang trong máy, bằng một giọng mũi :
- Ấy ! Đừng phá hủy máy vội ! Hãy nghe một bản nhạc đã !
Pouget nghe một bài hát của Việt Minh cho tới điệp khúc thì quyết định phá máy.
Ông nã ba viên đạn vào điện đài.
Vài phút sau, một quả lựu đạn lăn vào hầm của Pouget.
Khi ông tỉnh dậy, trời đã sáng rõ. Ông bị bắt làm tù binh.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|