Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:59:45 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đất núi Mường Khương  (Đọc 62425 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #30 vào lúc: 02 Tháng Hai, 2008, 10:14:23 pm »

Mặt Phà tím tái đi như rêu đá. Giọng của Phà như thều thào.

-Thưa anh. Tôi xin chịu hoàn toàn tội lỗi gây ra, anh thương cho.  Anh đã nói sẽ tạo điều kiện cho tôi lập công chuộc tội.

-Tôi biết nói thế nào với anh nhỉ. Bởi tôi không ngờ chuyện nó lại đến như thế-Trần Thường nhìn nét mặt thảm hại của Phà rồi anh nhìn ra phía rừng biên giới. Xa xa trước mặt anh bản Xín Hồ, bản Ngải Phản, Ngải Chồ, bản Xín Chéng… Những bản H'mông những bản Nùng, bản Dao đáng ra được sống yên vui và đầm ấm. Nhưng không khí chiến tranh đã trùm lên mọi sinh hoạt hàng ngày của họ. Mà sự yên tĩnh lại có vẻ nguy hiểm như vẫn giấu giếm một cái gì đó đang rình rập còn đáng sợ hơn cả một trận pháo kích của bọn giặc bên kia bắn tới. Những xóm bản đó lúc này đang phải chịu đựng những cơn gió lạnh hun hút từ phía Bắc thổi sang luồn theo các hẻm núi đưa theo mây và giá buốt. Trong cái giá buốt độc hại của thiên nhiên đó còn có sự độc hại ghê gớm đáng nguyền rủa như chuyện này đây. Nó cũng từ phía Bắc đến. Nó cũng theo các lũng núi len lỏi tới. Và Phà đang ngồi trước mặt anh đây là nạn nhân là vật hy sinh của sự phản bội. Giờ đây giết một con người có tội lỗi thì dễ nhưng làm cho họ trở lại thành một con người có ích biết giúp sức cho mình là khó. Nhưng người cầm súng phải kiễn nhẫn, phải chọn và phải ngắm đúng mục tiêu. Vì viên đạn bay đi sẽ không quay về được nữa. Trần Thường nhìn thẳng vào đôi mắt bạc phếch hết sinh khí của Phà, anh suy nghĩ rồi nói chậm rãi:

-Anh nói đi. Anh nghĩ gì về những tội ấy.

-Thưa anh. Tôi mù quáng và ngu xuẩn quá rồi. Người H'mông thường nói: nước mát nên nhiều người chết vì nước, lửa nóng nên ít người chết vì lửa. Tôi đã chết vì nước. Tôi muốn được sống. Sống một cách bình thường như những người H'mông khác-Chu Phà gục xuống khóc rống lên. Phà đau đớn thực sự:

-Thực ra đây là vùng mặt trận, vùng hàng ngày giáp mặt với kẻ thù. Tội của anh đã vượt quá tội xử bắn. Nhưng anh biết điều và tỏ ra khôn ngoan thì anh vẫn được sống…

Chu Phà ngước mắt nhìn Trần Thường. Mồm Phà há ra như chờ đợi nuốt từng lời, Thường nói:

-… Một cuộc sống bình thường như hiện nay. Và chúng tôi vẫn để anh làm xã đội trưởng Tà Chải này. Nghĩa là mọi chức vụ anh vẫn giữ như hiện nay, anh vẫn làm mọi việc như hiện nay…

-À, à…-Chu Phà ngạc nhiên tròn mắt…

Bất giác Trần Thường quay lại nhìn Chu Phà.

Anh đã bắt được thần sắc thật của Phà. Đôi mắt nhỏ, sắc loé lên nét giảo hoạt, cái mặt choắt và cái cằm hơi lẹm của Phà làm cho Trần Thường nghĩ tới phải đề phòng sự tráo trở, phản phúc nấp sau bộ mặt ấy. Trần Thường gõ ngòi bút chì xuống bàn: “Mình sẽ chơi trò này không chút úp mở. Nhưng như thế có quá táo bạo và mạo hiểm không nhỉ? Trách nhiệm và công việc cụ thể này có cho phép mình như đánh một ván cờ, một là mất hết hai là được trọn vẹn không? Không bao giờ như thế. Kinh nghiệm hơn mười năm đã chỉ huy nhiều trận đấu mưu trí, đấu sức lực và lòng dũng cảm với kẻ thù ở vùng biên giới xung yếu này đã dạy cho mình bài học: “Đôi khi một sự ngờ vực quá mức nếu không muốn nói là cảnh giác lại thấy ít nguy hiểm hơn là một sự thành thực có thừa. Nếu không muốn nói là quá thật thà đến mức ngốc nghếch”.

-Thế đấy. Anh phải làm việc. Làm bằng cách nào, anh chưa cần biết vội. Nhưng dưới sự kiểm soát chặt chẽ của chúng tôi. Anh phải thực sự làm để chuộc lại tội lỗi của mình. Sự làm việc thật thà và hết mình đó sẽ đổi cho cái chết vì những tội lỗi nặng nề của anh đã gây ra. Và như thế bọn bên kia gb cũng không có cớ gì để đòi món nợ của anh.

-Vâng. Tôi xin hứa. Anh thương cho…

-Anh vẫn làm xã đội trưởng, vẫn chỉ huy dân quân nhưng anh làm việc gì, làm như thế nào la theo sự xếp đặt của chúng tôi. Có điều rằng nhất thiết anh không được nói gì cho Hoàng Dìn, cho Xuân Kiều biết về những việc này. Anh phải chịu trách nhiệm hoàn toàn. Anh hiểu chưa. Tôi nhắc anh rằng, anh đừng để mình là vật hy sinh rẻ tiền của sự dối trá và phản phúc.

-Vâng!

-Anh vẫn tiếp những người bên ấy sang gặp, hàng bên ấy chuyển cho anh bằng con đường đi làm trên nương, chúng tôi cho phép vợ anh lên nhận bình thường. Việc anh gặp gỡ với người bên kia sang, chúng tôi có cách kiểm tra và anh phải báo cáo đúng. Nghĩa là anh không được làm gì để cho bên kia nghi ngờ, anh không được tỏ thái độ gì để cho những người xung quanh biết anh đang àm việc có sự giàn xếp và kiểm tra của chúng tôi. Anh thấy thế nào?

-Vâng. Tôi sẽ làm được-Phà ngồi hai tay buông xuôi thẳng.

-Những điều đó là cái giá để đổi mạng sống cho anh và cho cuộc sống bình thường của gia đình anh.. Chu Phà ngồi cúi đầu. Mặt Phà xám ngoét. Phà cảm thấy một sự ngao ngán, một vị đắng cay, chua chát đã thấm thía, khác nào vị đắng cay của cây ngải cứu ở vùng nđất núi Hoàng Liên này đã tràn ngập trong lòng Phà và cả xung quanh Phà nữa…
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #31 vào lúc: 17 Tháng Hai, 2008, 08:08:41 am »

Trừng Phạt


Con dao và cây ngón

Ông Xín đi từ rừng về bản Củi Pao Pin. Một bản H'mông có cái tên đẹp: bản Hương Quế. Ông đeo con dao bên hông. Cái vỏ con dao làm bằng hai mảnh gỗ thông ghép lại đập cành cạch vào bắp đùi như đếm từng bước ông đi. Các cây quế to ở bìa rừng, ở quanh bản không còn nữa. Nó đã bị bật gốc đổ nghiêng rồi, nó đã cháy cành rồi. Lửa của đạn pháo lớn, của đạn tên lửa H12 đã táp đen lớp vỏ rồi. Ông Xín chép miệng cay đắng: “Rồi không biết bao nhiêu năm nữa dân bản H'mông này mới lại nhìn hướng mặt trời để chọn mảnh vỏ quế thơm về làm hương thắp tết, làm men rượu, làm thuốc đau xương cho người già…”. Con chim lẩu chinh (chim cu núi) hiền lành, mắt khuyên vàng, đeo vòng cườm quanh cổ, có tiếng hót ngọt như búp măng giang đầu mùa cũng đã quyến nhau lảng đến miền núi cao nào rồi. Bản Hương Quế của ông giờ đây khét lẹt mùi tro than, mùi ngô lúa bị đốt cháy, mùi thịt lợn, thịt ngựa, thịt ngỗng chết xông nồng hoà trong mùi ngai ngái của rừng chiều.


Ông Xín đưa mắt nhìn về phía núi xa xanh có những hang đá lớn, có những đám mây trắng bảng lảng vướng vít trên ngọn thông sa mu. Nơi đó bà con bản Hương Quế tránh bọn giặc tràn sang. “Bao trăm năm rồi… người H'mông ta lại phải tránh bọn người Hán ác độc đến cướp bản, đến phá nhà…” Lời ông bà ta nói đúng thật: Gần chó thì bị cắn, gần người Hán ác độc thì bị cú đấm là thế. Ông chép miệng. Bỗng lúc này, ông nhớ đến Dín, đứa con trai của ông đang ở trên ấy. Nó đang ở với anh Sơn. Anh Sơn dạy nó bắn súng, dạy nó làm những việc lành, việc tốt để giữ đất núi này, để đánh lại bọn giặc Bắc Kinh tàn ác. Anh Sơn chỉ huy bộ đội biên phòng, ông Xín biết rõ anh như biết rõ trong lòng cây mai non thì có ngụm nước ngọt. Ngay từ ngày đầu anh Sơn lên đây, người H'mông nhìn những việc có lợi anh làm, nghe những lời phải anh trái anh nói, ai cũng đã hiểu anh, nhận anh là người tốt của bản H'mông này, như bầy chim của đất núi Hồng Lếch nhận con chim lông xanh, mỏ đỏ hai mắt khuyên vàng nhập vào bầy mà không cần phải dò lời, thử tiếng.


Ông Xín và bà con bản H'mông biết quê anh ở bản Kinh tận “Mường Sơn”, “Hương Sơn” gì xa lắm. Anh phải đi hết năm tuần trăng trong, bảy tuần trăng khuyết mới tới nơi. Anh nói với bà con rằng quê anh cũng có lũng thấp, đồi cao thế này. Người đi thăm nhau cũng phải lấy núi đồi làm thang bắc lên xóm bản. Ở đó cũng có khóm trúc vàng, khóm tre xanh biết hát như ở bản H'mông Hương Quế này. Bà con biết quê anh ở nơi ấy, nơi “Mường Sơn” đó được gần với quê Bác Hồ. Anh Sơn hẹn với ông Xín rằng, ngày nào ông và bà con được vào thăm quê Bác như mọi người từng ước mong, anh sẽ mời ông đến thăm nhà anh. Anh Sơn xem ông Xín, xem người H'mông ở đây như bố mẹ như người ruột thị của mình. Anh ăn ở với mọi người lòng đầy như bát rượu chua, ba bát rượu mặn mà người H'mông quí nhau mời nhau trong ngày hội Gầu Táo (hội đầu năm). Người H'mông trong bản nói với anh Sơn rằng ai cũng xem anh là người anh, vì anh ở dưới ấy thì nhìn thấy mặt trời mọc trước người H'mông. Anh là người của bản H'mông! Nhưng anh Sơn thì không bằng lòng nói thế. Anh nói: Ai tuổi nhiều là anh, ai làm ít mùa lúa là em. Anh Sơn là con là em của bản H'mông Hương Quế. Anh học tiếng H'mông. Anh ăn mì mén (bột ngô) thức ăn của người H'mông  thay bữa cơm. Anh hát câu hát của người H'mông vui với đám con trai, con gái trong ngày hội Xây Xán (hội chơi núi mới). Gốc quế ở trong lòng, hương toả thơm đất núi. Hỡi cây lê hoa trắng, hỡi cây đào hoa hồng. Bởi đất nay thấm máu ông bà ta. Bởi núi này thấm mồ hôi bố mẹ ta. Ngày ngắn ta giữ ngắn, ngày dài ta giữ dài. Giữ từng cánh hoa, từng hạt đất…” Anh Sơn dạy đám trẻ bản H'mông hát thuộc bài hát về quê anh, bằng tiếng Kinh: “Đi mô cũng nhớ về Hà Tĩnh… nhớ biển rộng bao la, nhớ cánh đồng muối trắng… tình sâu nghĩa nặng…”. Bản H'mông trên đỉnh núi Hoàng Liên vốn rất hiếm muối nên đám trẻ kể cả thằng Dín con trai ông cũng muốn được đến quê anh, nơi ấy tình nghĩa con người đối với nhau sâu nặng để nhìn đồng muối trắng.

Giờ đây, thằng Dín đang ở với anh trên phía núi xa xanh ấy…

Ông Xín đứng lại, ông nhìn cái đống đất mới ở bên đường. Cái đống đất mà dân bản H'mông đã đắp lên để vùi đi cái xác thối rữa của tên lính Trung Quốc. Chính tên lính đó đã vào đốt phá cướp của, giết người ở bản H'mông này. Hắn đã chết gục bên đường. Không biết hắn trúng phát đạn của anh chiến sĩ biên phòng, trúng phát súng kíp của anh dân quân hay là trúng mũi tên tẩm thuốc độc của người H'mông. Xác hắn chương phềnh như con bò thui bên dốc núi. Rồi mùa sấm mới gọi cơn mưa về, gọi ròi bọ về. Trong mồm, trong hốc mắt hắn ròi bọc lúc nhúc. Cái bụng hắn to bằng năm cái lù cở (giỏ đeo sau lưng) của người H'mông. Dưới nắng trưa cái bụng ấy nổ bục một tiếng. Mùi thối loang ra cả bản H'mông, loang ra cả rừng H'mông. Dân làng vội đốt sáp ong, vội thắp hương làm bằng vỏ quế cho đỡ thối. Rồi dân bản kéo nhau ra xúc đất lấp xác tên giặc đi. Dân bản H'mông lấp đi cho đỡ thối và đắp cho hắn một nấm mồ. Nay một điều bất ngờ xảy đến. Trên đống đất vùi xác tên giặc đó mọc lên một cây ngón đen. Cây ngón ấy mới lên đã bò, đã vươn dài như con rắn đốt măng. Cái ngọn nó nhọn hoắt rung rinh như nọc con rắn sắp vồ mồi. Ông Xín đi đến. Ông cúi xuống nhìn cây ngón. Ông thầm nghĩ: “Tên giặc lúc sống cướp của giết người. Hắn bị chết rồi sự độc ác trong xác hắn trong nắm xương tàn của hắn còn mọc lên cái cây độc hại để gieo sự chết chóc lâu dài trên đất ta”. Tay ông Xín cầm chắc chuôi dao. Ông rút con dai ra khỏi vỏ. Lưỡi dao loáng ánh mặt trời. Đúng rồi, cây ngón đen độc hại lắm. Con trâu mộng chỉ ăn năm lá, con trâu chết. Con ngựa khỏe chỉ ăn bốn lá, con ngựa chết, con người ăn phải đứt ruột, nát gan, da tím đen như lá mục. Ông Xín bỗng nhớ lại chuyện tổ tiên ngươi H'mông đã lưu truyền. Cây ngón vốn nó không mọc ở đất núi, ở bản H'mông, không mọc ở đất nước ta. Nó là loại dây leo. Nó đã bò qua núi, qua đồi như con rắn độc bò, như con trăn đất trườn. Nhiều năm trôi qua nó bò, nhiều đời trôi qua rồi nó trườn, nó bò, nó trườn từ phương Bắc xuống. Nó bò tờ vùng núi lạnh lẽo, mù sương đầy tuyết xuống. Nó bò dần xuống phía Nam, phía đất nước ta, một vùng đất tốt tươi, ấm ấp có mặt trời đến sớm, có ngọn gió mát lành. Nó bò mãi, bò mãi. Nó len lỏi trong ngách đá, trong bụi rậm, trong những nơi tối tăm sang. Nó đưa cái độc ác, cái chết chóc sang. Từ đó đất núi vùng H'mông mới có giống cây ngón. Còn đất H'mông ta từ xa xưa chỉ mọc lên những cây quế thơm, chỉ mọc lên cây sến vàng, cây lim đỏ mà thôi. Cây ngón đó có khác nào những mưu đen ác độc, có khác nào lòng tham lam lấn mở bờ cõi của con người bên xứ đó bao đời nay. Ông Xín bặm môi. Ông vung mạnh con dao. Lưỡi dao ánh lên lớp thép xanh. Con dao ông đã tự tay rèn lấy. Ông đã năm lần tôi, bảy lần nung nó trong than củi gỗ cây giẻ, gỗ cây và của rừng H'mông. Con dao ông khi chặt cây lỡ tay chém vào đá ong đá toé lửa như sao bay đá mẻ lưỡi dao vẫn còn nguyên. Con dao ông đã dùng để dựng nhà cho con cái, đã xẻ gỗ làm thùng, làm súng, làm nỏ, làm bàn chông. Con dao của ông đã thay cưa, thay bào, thay đục, con dao đã cạo tóc, cạo râu… Con dao đó ngày tết, ngày giỗ tổ tiên, ông Xín đã đặt lên bàn thờ bên cây súng kíp để tượng trưng cho sức mạnh của người H'mông. Ông Xín đã đeo con dao ấy bên người gần hai mươi năm nay. Chuôi con dao ấy bóng loáng mồ hôi và cả máu của ông. Ông Xín cũng đã dùng nó chém con rắn độc, chặt con trăn gió, cắt bỏ cái gốc cây cỏ độc… Ông đã vung nó đuổi con hổ vằn, hổ hoa về bản, đuổi con sói đói trên nương. Ông đã từng nói như người H'mông: “Con dao người H'mông đã thấm mồ hôi và máu người H'mông thì lưỡi nó phải đẫm máu kẻ nào muốn hại người H'mông”. Giờ đây, ông Xín vung con dao chặt đứt ngang cây ngón đen. Ông băm nát gốc nó ta. Ông nói một mình: “Đất núi H'mông này con người ở với nhau như nắm xôi nhuyễn chặt. Một vóc với nhau là tình, lưng thồ với nhau là nghĩa. Đất núi H'mông này ơn đền ơn, trả nghĩa. Đất này không dung cái độc hại này…”
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #32 vào lúc: 17 Tháng Hai, 2008, 08:10:15 am »

Ma cà rồng hiện hình

Ông Xín vẫn ngồi điềm nhiên trước cửa. Ông đeo chiếc lù cở. Tay ông cầm cái nan trúc đã chuốt nhẵn gài vào nhau. Những cạnh nan sắc cọ vào các ngón tay, cọ vào bàn tay sần sùi chai dạn như lớp vỏ cây thông samu già của ông bật lên tiếng kêu sột soạt.


Những tên lính Trung Quốc xâm lược vẫn tiếp tục cái công việc hôm qua, hôm kia của chúng: chúng sục sạo các nhà trong bản và các ngõ ngách, các hẻm núi quanh bản. Một toán lính mang AK báng gấp đi vào nhà ông. Mặt đứa nào cũng lầm lầm, hum húp. Trông chúng như những hòn đá lấm bụi bẩn lát đường đi ở dốc núi vào bản. Một tên trong bọn đứng trước mặt ông. Hắn dùng chân đá vào cái lù cở ông đang đan dở:

-Lão H'mông, chào Quân giải phóng của đại quốc đi chứ!

Ông Xín vẫn điềm nhiên gài lóng mốt đan trúc. Tên giặc chột dạ. Hắn cúi xuống cầm con dao sắc của ông thường vót nan, để cạnh ông. Hắn lùi ra một bước. Hắn nói tiếp:

-Lão già H'mông đứng dậy chào Quân giải phóng của đại quốc đi. Co trai các bản đã về nộp súng. Con gái các bản đã xếp hành đón Quân giải phóng của đại quốc rồi. Sao lão cứ ngồi im như đá!

Ông Xín ngước mắt nhìn cả bọn. Đôi mắt già nua của ông hai bên khoé mép đầy nếp gấp như tàu cọ non bỗng dãn ra. Bọn giặc đứng vây lấy ông vội lùi lại.

-Tao già rồi. Tao như cây quế to nhất đầu bản này. Dân bản này bao lần vào rừng bóc vỏ quế thì tao bấy nhiêu tuổi. Tao không biết chào những đứa tuổi như con dê non trong sừng còn máu-giọng ông Xín thách thức. Bọn giặc nhìn nhau. Ông Xín nói tiếp. Những ngày Quân giải phóng sang làm đường, Mã đoàn trưởng còn phải gọi tao bằng bố, Mã đoàn trưởng phải rót rượu hai tay nâng lên mời tao…


Cả lũ giặc nhìn nhau. Chúng sững sỡ, bởi cái giọng thách thức của ông Xín nhắc đến tên Mã đoàn trưởng là người chỉ huy của chúng. Chúng đứng câm lặng. Bỗng một tên lính trẻ, đầu trọc lóc từ ngoài cửa xồng xộc bước vào. Hắn xấn xổ đến trước mặt ông Xín. Hắn quát:

-Đây là Quân giải phóng của nước Trung Hoa vĩ đại sang trừng trị bọn Việt Nam phản bội, dạy cho Việt Nam một bài học. Lão già đứng dậy-mồm hắn vãn nhấm nháp miếng vỏ quế. Hắn chửi tục một câu và toan đá cái nan trúc ông Xín đang cầm. Tên lính già tuổi hơn đưa mắt lườm hắn, kéo hắn lại.


Ông Xín đứng dậy. Ông chống hai bàn tay vào hông. Ông quắc mắt. Mắt ông sáng như chớp trời đầu mùa sấm mới, nhìn cả lũ.

-Có phải Mã đoàn trưởng dạy chúng mày như vậy không? Chúng mà có phải lính Mã đoàn trưởng không? Mã đoàn trưởng chỉ huy đội quân làm đường “Hữu Nghị” qua bản này đã ngồi uống rượu với tao. Nay tao biết Mã đoàn trưởng lại chỉ huy quân sang, tao sẽ gặp Mã đoàn trưởng.


Ông Xín nhắc đến cái tên tiểu đoàn trưởng công binh Trung Quốc Mã Diu Nần sang làm đường. Tên giặc ấy đã từng sục hết các làng bản, khe suối, hẻm núi vùng này. Chính hắn đã nói với ông ở hang Leng có ma cà rồng dân H'mông đừng lui tới. Ông Xín đã từng đưa quà, đưa thịt, rượu cho của bản H'mông xuống uý lạo chúng. Hắn đã bắt tay ông, ngồi uống rượu với ông. Nay hắn là trung đoàn trưởng của một trung đoàn trong quân đoàn 50. Hắn đang dẫn lính đáng sang vùng này. Xe tăng, lính bộ, lừa ngựa của hắn đã tiến theo con đường hắn mở năm trước. Bọn lính Trung Quốc nhìn nhau ra vẻ chột dạ. Bởi chúng thấy ông già người H'mông này nhắc đến cái tên người chỉ huy và quen biết đến nỗi cùng ngồi uống rượu với người chỉ huy của mình. Chắc là ông già này có quan hệ mật thiết với người chỉ huy trung đoàn của mình! Tên lớn tuổi hơn trong bọn trở giọng đấu dịu:

-Thưa ông, chúng tôi là Quân giải phóng Trung Quốc. Chúng tôi xin chào ông-Hắn trả con dao ban nãy hắn cầm cho ông-Quân giải phóng làm theo lời dạy của Mao Chủ tịch giữ kỷ luật với dân.

-Ừ! Ông Xín nhìn hắn. Ông trả lời bằng giọng mũi. Hắn vội bóc bao thuốc lá “Hoa Hồng” rút một điếu mời ông Xín. Ông lắc đầu:

-Tao quen hút thuốc H'mông của tao!

-Thưa ông! Chúng tôi được biết ông tên là Xín.

-Ừ! Tao là Xín, Ma Quang Xín. Tao già nhất bản này. Cây quế trên núi H'mông Củi Pao Pun có bao nhiêu vòng trong ruột, dân lấy bao mùa vỏ lá tao bấy nhiêu tuổi.

-Thưa ông Xín, Quân giải phóng xin hỏi ông: bản H'mông nmày! Việt Nam đã cấp bao nhiêu khẩu súng và những người H'mông nào giữ súng! Ông Xín ạ chúng tôi theo lệnh của Đặng đồng chí tiến sang quật Việt Nam một đòn để giữ vững biên cương. Quân giải phóng sang trừng trị tập đoàn phản động và thu súng của Trung Quốc đã chuyển sang giúp Việt Nam thời đánh Mỹ. Nay Việt Nam đang dùng súng đó đánh lại Trung Quốc. Ông hãy giúp Quân giải phóng, giúp Mã đoàn trưởng chúng tôi. Ông gọi người H'mông về nộp hết súng đi, gọi người H'mông về hợp sức với Quân giải phóng. Chúng tôi sẽ báo cáo với Mã thủ trưởng là có ông đã từng quen biết Mã thủ trưởng này lại đang giúp Quân giải phóng.

Ông Xín ngồi xuống, ông lại điềm nhiên gài nan trúc. Ông cười.

-Ừ! Tao chỉ biết bản H'mông này nhà nào cũng có súng. Súng của huyện, súng của bộ đội biên phòng cấp, súng kíp người H'mông tự khoan nòng năm ngày, bảy ngày mới được. Bởi vùng rừng có lắm hổ vằn, hổ hoa, có lắm rắn đốt măng nhọn lưỡi, ong đốm có dài nọc. Không có súng người H'mông không sống nổi đâu. Giờ chúng nó chạy lên rừng hết rồi. Tao già như con ốc rờ rậm bò đi, không biết đường bò lại-Ông cười thản nhiên-tao lại có phải con chim lẩu chinh (chim cu núi) trong rừng quế biết hót để vang xa đâu mà gọi chúng về được…
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #33 vào lúc: 17 Tháng Hai, 2008, 08:11:21 am »

Một tên lính lấy que găm xong tờ khẩu hiệu đỏ loét ở vách đất nhà ông Xín. Hắn đọc to lên để ông Xín nghe: “Quân giải phóng Trung Quốc sang bảo vệ người Hoa; bạn chí thiết với người H'mông, người Dao, người Dáy; đoàn kết với người Nùng; đánh người Tày, diệt Kinh”.

Ông là người H'mông, là bạn chí thiết rồi. Ông là bạn cũ của Mã đoàn trưởng nữa. Ông hãy cộng tác với Quân giải phóng đi. Ông là người già nhất bản. Ông nói dân bản sẽ nghe. Ông gọi dân bản về nộp súng đi, ông Xín.

Ông Xín vẫn ngồi điềm nhiên gài nan trúc.

-Ừ!-Ông trả lời hắn.

-Thưa ông Xín! Quân giải phóng biết chắc rằng ông có một người con trai giữ một khẩu súng CKC của Trung Quốc giúp Việt Nam. Nay Quân giải phóng yêu cầu ông gọi con trai về nộp súng.

Ông Xín ngồi im. Ông không tỏ ra ngạc nhiên. Ông biết bọn người Hoa ở đây chạy về đã nói với chúng, đã đưa cả danh sách người H'mông giữ súng cho chúng rồi.

-Nó vào rừng rồi-Ông nói thủng thẳng.

-Ông gọi anh Mã Quang Dìn về đi, mang súng về nữa. Quân giải phóng không bắt. Ông gọi dân bản về làm nương, nếu không sang năm sẽ đói (!). Ai về đây, Quân giải phóng sẽ cấp gạo, vải, dầu, đá lửa… và trao quà từ Bắc Kinh gửi cho. Ông nói với dân rằng: Quân giải phóng đánh tập đoàn phản động, không đánh bộ đội cụ Hồ, không đánh dân cụ Hồ (!). Và ai không về nạp súng, Quân giải phóng sẽ đốt nhà, giết vợ con. Quân giải phóng sẽ lấy mỡ người H'mông rán người H'mông nào chống lại nước Trung Hoa.


Ông Xín ngồi im nghe tên lính Trung Quốc nói lải nhải. Ở khắp bản Củi Pao Pin tiếng gà kêu nháo nhác, tiếng lợn hét, tiếng lính gọi nhau í ới đi sục sạo. Chúng đi qua cửa nhà ông, đứa thì xách một xâu thịt ướp muối, ướp hạt thảo quả của dân treo ở gác bếp; đứa thì xách lọ rượu ngâm tắc kè, ngâm tam thất; đứa thì vơ một ôm vải lanh con gái H'mông đang lấy sáp ong vẽ hoa dở… Chúng cười nói nhí nhố. Bọn lính ban nãy đứng quanh ông đã tản đi sục sạo các nhà. Chỉ còn lại một tên. Hắn ngồi với ông. Hắn nói những điều kỷ luật của Mao dạy Quân giải phóng để ông yên lòng, ông đừng lo sợ bọn chúng. Bỗng hắn nhìn thấy đôi ngỗng Bắc Kinh béo núng nính của ông bị bọn lính đuổi bắt chạy kêu quang quác qua nhà. Mắt tên lính sáng lên. Mồm hắn tắc lẻm, nuốt nước bọt. Hắn ầm ừ rồi ngỏ ý xin mua của ông làm bữa rượu. Ông Xín hỏi hắn sẽ trả ông bằng gì. Hắn nói, hắn sẽ viết giấy biên nhận chịu nợ cho ông. Và bao giờ chính quyền mới của người H'mông, của khu tự trị được lập thì ông cầm giấy ra nhận tiền H'mông. Ông Xín cười nhạt. Ông thầm nghĩ: “Thế thì bảo tao vào rừng tìm con gấu ngựa mà đổi mật ong còn dễ nghe hơn!”.


Ông Xín ngừng tay đan. Ông nói với tên lính Trung Quốc rằng, ông phải gặp cho được Mã đoàn trưởng. Ông mới tin lời hắn nói, mới làm những việc hắn yêu cầu ông làm. Ông Xín nói với hắn là Mã đoàn trưởng đã quen biết ông, đã từng uống rượu ngâm con bìm bịp với ông năm xưa…


Mã Diu Nần ngồi ngẫm nghĩ việc tên lính ở bản Củi Pao Pin về tâu trình. Có một ông già người H'mông muốn gặp hắn. Ông ta từng ngồi uống rượu ngâm con bìm bịp với hắn. Hắn nhớ lại, mười hai năm trước là một tiểu đoàn trưởng công binh Mã đã dẫn lính sang làm đường “Hữu Nghị” này. Con đường rải đá, tráng nhựa chạy đến thị xã Lào Cai, về tận thị xã Yên Bái. Ngày đó biết bao đoàn cán bộ, nhân dân Việt Nam hàng tuần, hàng tháng đến thăm hỏi liên han với đơn vị hắn. Mùa lê dân cho hắn lê, mùa mận, mùa dưa dân cho dưa, cho mận. Ngày lễ của Việt Nam, đơn vị hắn có thịt lợn, thịt bò ăn. Ngày tết của Việt Nam, binh lính hắn được ăn bánh chưng, chè kho là những món truyền thống của người Việt Nam. Rồi lại các ngày lễ, ngày tết của Trung Quốc, lính hắn cũng lại được ăn uống đầy đủ không thiếu một thứ gì, đủ hơn bên nước. Quả là dân Việt Nam, người dân tộc nào cũng tốt, cũng ân tình. Và đúng, đúng rồi, hắn đã nhớ ra có một ông già người H'mông, ông ta người thấp nhỏ, cái trán hói cao. Đôi mắt sáng. Ông đã mời hắn uống, rồi ông tặng hắn một lọ đưa về nước. Có lần, ông già người H'mông ấy đã nói về thứ rượu ngâm con bìm bịp của ông. Ông nói đó là món thuốc gia truyền hay lắm. Ông kể cho Mã nghe, ông tổ dòng họ H'mông của ông đã truyền lại cho ông món thuốc đó. Ông tổ đã có lần phải ra nằm ngoài núi gần tổ con chim bìm bịp. Rồi ông bẻ gãy chân con chim mới nở đi để rình xem con chim mẹ lấy lá cây gì về làm thuốc chữa cho con chim con được lành chân. Ông còn rình xem con bìm bịp hay ăn lá cây gì, hay ăn quả cây gì mà nước bọt nó tốt vậy. Rồi ông bắt nó về ngâm rượu thuốc chưa đau xương, nhức gối cho người H'mông. Môn thuốc đó trở thành món thuốc quí gia truyền của ông. Ông tặng hắn. Hắn uống, hắn thấy chứng nhức xương, mỏi tay đều khỏi. Mã mê môn thuốc đó lắm. Có lẽ là ông già đó! Còn vùng rừng này, các khe suối nơi này, các hang đá lớn nhỏ ở đây có nơi nào lại không in dấu chân Mã. Mã biết hết. Mã biết cả từng vùng núi có cây gì, từng hang đá thuộc lại đá gì, đá vôi, hay đá thạch anh. Trong từng hang đá có độ ẩm cao thấp? Quả đồi cao bao nhiêu, đứng trên ngọn nhìn thấy tận đâu Mã đã khảo sát thông tỏ. Mã cười nửa miệng, Mã đã nhớ ra chính mồm Mã đã nói với người H'mông, người Dao ở vùng này là hang Leng có ma cà rồng, đừng ai lui tới. Thế mà dân cũng tin… Người Việt Nam đâu có biết đến những việc đó. Việc ngoài dự tính của mọi người Việt Nam! Mã thầm khen, thầm phục Mao Chủ tịch anh minh người cầm lái vĩ đại và các vị trong Trung Nam Hải ngày đó đã nhìn xa trông rộng, đã lường được, đã tính đến những con đường như những lưỡi dao nhọn thọc vào các đất Việt Nam: và đã nghĩ ra việc bí mật để lại các kho súng, các kho lương ngầm cho lính của Mã ngày nay. Bây giờ Mã đã là trung đoàn trưởng. Mã đang sử dụng những điều hiểu biết về đất nước Việt Nam ở vùng này. Những hang Leng, Mã bịt cửa; những ta-luy đường, Mã trám miệng; những mả thật mả giả của lính đã chôn những gì trong đó… Mã đều nhớ. Mã khẳng định có lẽ chỉ là ông già đó thôi. Mã cười găn, ở trên đất này có những người thật thà đến ngở ngẩn họ đâu có biết hết việc của Mã làm, cái gì Mã đã để lại trong đất Việt Nam này, cái ấy còn quí hơn nhiều lần con đường chạy bên sườn núi mắt ai cũng nhìn thấy… Mã Diu Nần điệu về đồn biên phòng Xín Tiển báo cáo việc có một ông già người H'mông ở bản Củi Pao Pin xin gặp đích danh hắn, vì ông đã biết hắn từ ngày hắn sang làm đường. Cấp trên trực tiếp của Mã là người chỉ đóng vai đồn trưởng, tên là Vương Thiệu Khuân. Thực ra hắn là cấp trên của mã. Nhưng Vương từ Bắc Kinh mới đến đây để chỉ huy lưới tình báo ở vùng biên giới này. Vương chỉ huy việc cài cắm người sang đất Việt Nam và chuẩn bị khung của vùng “H'mông tự trị”, để đưa một “ngọn cờ” về. Còn thực tế về vùng đất Việt Nam thì Vương không biết bằng Mã. Vườn trả lời mã “ông già H'mông đó, ở bản đó, tôi chưa nắm được. Chưa ai báo cáo với tôi về ông ta. Nhưng người H'mông thì ta có thể tin dùng được. Tôi đồng ý Mã đồng chí gặp, nhưng phải thận trọng. Phải tìm nơi được bảo vệ chu đáo và thăm dò lão ta để đặt thêm nhân mối lâu dài”.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #34 vào lúc: 17 Tháng Hai, 2008, 08:12:29 am »

Mã Diu Nần sai lính bí mật vây đoạn khe cạn ở cuối bản Củi Pao Pin. Rồi hắn gặp tên lính đã đưa con ngỗng béo quay vàng rộm cho hắn hôm trước và bảo tên lính mời ông Xín ra đó.

Ông Xín đi ra đến dốc núi. Ông quay lại nhìn bản H'mông Hương Quế của ông. Bản H'mông đã từng có con khướu về hót mùa xuân, con chào mào về kêu rối rít mùa hè, con chích choè rúc rích ăn quả chín đầu mùa thu và con chim xanh từng rủ nhau đến làm tổ trên cành cây quế thơm mùa đông. Ông Xín nắm chắc chuôi con dao. Ông đi nhanh xuống núi. Mã cười giòn giã. Mã nói lúng búng như ngậm gì đầy mồm “hảo hảo’. Mã giơ hai tay đón ông Xín. Ông Xín nhìn Mã. Ông đã nhớ ngay ra. Đúng cái thằng cha mặt choắt có đôi lông mày chổi xể đặt trên hai con mắt him như hai vết lưỡi dao chém chếch. Trông Mã hãm tài bẩn tướng như thằng nghiện. Chính Mã đã ngồi uống ba bát rượu chua, ba bát rượu mặn với ông trong dịp tết Mậu Thân 1968 để chúc mừng chiến thắng của ta ở miền Nam. Ông Xín nhớ chính cái thằng mặt choắt này trông như thằng trộm trâu, cướp ngựa đã chỉ vào rừng H'mông đen ngòm, rừng Dao u mờ lạnh lẽ nói với dân bản Củi Pao Pin, dân bản Tả Lùng Thán, Ma nói với người H'mông, với người Dao rằng chính mắt Mã đã nhìn thấy những đoàn ma cà rồng dắt díu nhau đi vào hang Leng, đi xung quanh chỗ chôn bọn lính làm đường ốm hoặc sập đá vì mìn nổ chết. Mã khuyên người H'mông đừng ai bén mảng đến những vùng đó. Vì ở đó, lính Trung Quốc đang yểm ma cà rồng. Bà con người H'mông vốn đã kinh tởm loài ma đó. Loài ma mừ từ xa xưa ông bà đã lưu truyền lại là ác độc nhất. Loài ma hai mắt xanh lè như mắt mèo, rằng nhọn hoắt, lưỡi đỏ hỏn dài đến rốn… Chúng thường tìm đến những người sinh đẻ để hút, để ăn những thứ dơ bẩn, hay tìm về bẻ cổ, rút ruột những trẻ em trong các bản vắng. Loài ma đó phải trừ yểm kỹ lắm. Người H'mông đã từng phải đẽo bảy con dao găm bằng gỗ thông treo ở cửa ra vào để trừ nó. Nay Mã đoàn trưởng nói với dân, hang Leng có ma, chỗ chôn lính chết có ma, dọc đường Hữu nghị, đoạn có những hang đá to có ma. Có lần Mã đoàn trưởng đã gọi dân bản H'mông tới nhìn tận mắt những tên lính và cả chó của chúng bị ma cà rồng bóp cổ chết. Đó là ba xác lính và xác một con chó đen tuyền chúng vừa đưa trong hang đá về. Ba xác lính làm đường đứa nào da mặt, da tay cũng xám ngoét, mắt trợn ngược bạc trắng đồng tử dãn rộng, cổ vươn dài ra, mồm há rộng. Có đứa mồm mũi ộc máu tươi. Mã nói với dân khi bọn lính đến cửa hang thì trông thấy đứa ma làm khuỵu chân xuống, tựa vào vách đá; đứa thì ma bắt nằm phủ phục hai tay ôm lấy ngực. Còn con chó đen tuyền thi ma cà rồng vật bằng cách mắt trợn ngược lên, mồm há rộng ra. Ma cà rồng còn có phù phép thả ra mùi hắc, vị chua, người thở không được, đốt lửa không cháy. Dân bản H'mông  sợ hãi. Họ nhìn nhau lắc đầu, run rẩy. Họ có biết đâu ở miền núi trong những thung lũng sâu và hẹp, sự đối lưu của khí quyển không bình thường. Và khi bọn lính đi dò dẫm vào các hang đá để tìm chỗ giấu súng bị chết vì khí cacbonic thì chúng lại lợi dụng việc đó để lừa bịp dân H'mông.


Từ đó người H'mông không ai còn dám đến, không ai còn dám đi qua vùng hang đá Leng nữa. Nếu phải qua đó, thì họ tìm đường luồn núi đi vòng để tránh. Vả lại xung quanh vùng đó bọn lính làm đường đã canh phòng cẩn mật lắm. Chúng chặn hai đầu. Chúng chặn cả đường tắt. Chúng lập những chòi canh cao để nhìn ra bốn phía. Một hôm ông Xín đi săn đuổi con nai nhung chạy gần tới hang Leng thì hai tên lính xông ra ngăn ông lại. Ông Xín định cú đuổi theo đến nơi để xem thử có thấy ma cà rồng không. Nếu ma cà rồng bóp cổ con nai chạy trước chết thì ông lui ra. Vả chăng gần bảy mươi năm sống ở đất H'mông rồi ông Xín đã đi qua mười rộc núi, chín đèo dài, ông đã đi những con đường qua ba mùa trăng tròn, bảy mùa trăng khuyết, ông đã đi tám con đường rừng cao, bảy con đường suối cuốn. Ông đã ăn mấy chục mùa rau chần, rau ngải, mấy chục mùa măng sớm, ngô muộn ở đất từng H'mông này rồi. Tai ông chỉ nghe nói có ma chứ mắt ông chưa hề nhìn thấy con ma. Nay Mã đoàn trưởng nói với dân ma từng bầy dắt díu nhau đi. Ông cũng muốn tận mắt nhìn thấy cho biết. Nếu có chết ông cũng già rồi. Nhưng hai tên lính ngắn ông lại. Ông trở ra. Ông nấp trong bụi ngải rậm nhìn về phía hang Leng. Ông thấy cửa vào hang đã mở to. Xe ôtô chạy vào nhiều. Lính khiêng hòm xiểng nặng vào. Lính chở đá, chở cửa sắt vào. Ông Xín cũng chỉ nghĩ rằng lính đang yểm ma cà rồng để giúp dân như lời Mã nói. Đến lúc tối sầm, sấm ran ran chớp nhoáng nhoàng, ông trở về bản. Giờ đây ra gặp mặt Mã, ông Xín đoán tên Mã Diu Nần trăm phần không nhận ra ông. Nhưng thoạt nhìn ông, thằng mắt him đã nhận ra ông rồi. Mã bắt tay ông:

-Chào ông bạn H'mông. Tôi nhớ ông rồi. Nhờ chén rượu bìm bịp của ông mà tôi thôi chứng đau xương.

-Ôi, Mã đoàn trưởng còn nhớ tôi.

-Có bao giờ lại quên dân được-hắn kéo ông Xín ngồi xuống. Hắn hỏi ông. Hắn thăm dò mọi chuyện trong xóm bản. Ông Xín cầm tay hắn. Ông nói:

-Ôi, Mã đoàn trưởng lại sang ở bản H'mông chúng tôi. Mã đoàn trưởng đã mở đường cho dân đi, đã trừ ma cà rồng cho dân yên. Tôi già như cây thông sa mu ngoài vỏ xù xì gai nhọn, nhưng trong lòng gỗ vẫn đỏ thơm, Mã đoàn trưởng ạ. Tôi có bao giờ quên điều đó. Mã đoàn trưởng ơi, tình ta như rượu ngấu nung trong vò mà.

-Hảo, hảo, hảo-mã cầm tay ông Xín.

-Tôi tìm đến Mã đoàn trưởng, tôi thay dân bản H'mông, xin lỗi Mã đoàn trưởng một câu. Mã đoàn trưởng sang gặp nấm dữ không gặp nấm lành. Tôi có thằng con trai vào từng, cả dân bản vào rừng nay gọi nó về nó có được sống yên không?
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #35 vào lúc: 17 Tháng Hai, 2008, 08:13:10 am »

Mã Diu Nần cười. Tay hắn phác một cử chỉ ra điệu hào hiệp. Hắn nói với ông Xín nào là chính sách nhân đạo của quân Giải phóng Trung Quốc: nào là những điều kỷ luật của Mao đã răn dạy: nào là người về sẽ được phát vải, phát dầu… Nếu cộng tác với Quân giải phóng thì những người H'mông còn được trọng vọng, sung sướng, lại còn được làm cấp cao. Vùng H'mông rồi sẽ có chính quyền của người H'mông không thuộc vào chính quyền của tập đoàn phản động cai quản. Vùng H'mông sẽ có tiền riêng, có cờ riêng của người H'mông. Ông Xín ngồi nghe. Ông nhìn tên Mã Diu Nần với ánh mắt: “Ôi ông còn lạ gì nữa. Ông đã hiểu tất cả về hắn rồi, hiểu hết về những con người từ bên ấy rồi”. Con người mà ông đã từng kể cho con ông, kể cho dân bản nghe câu chuyện của tổ tiên người H'mông lưu truyền lại. Người H'mông xưa cũng có một vùng đất nước riêng. Vùng đất nước đó ở giáp với đất của người Hán. Người Hán ranh ma quỉ quyệt và tham lam. Chúng làm mốc biên giới của chúng bằng những tảng đá to. Miệng chúng lại luôn “hảo, hảo” với người H'mông. Còn người H'mông thì thật thà chỉ chăm lo làm nương, làm rẫy. Người H'mông ở với nhau một vốc cũng tình, lưng thồ cũng nghĩa nê người H'mông chỉ làm mốc biên giới của mình bằng những con bù nhìn bện rơm, bện cỏ đứng canh. Thế rồi người Hán tìm kế lấn dần đất. Mỗi ngày chúng xích con bù nhìn bện cỏ về phía đất của người H'mông một ít. Xích đến đâu, người Hán lại xếp đá tăng lên làm mốc của họ tới đó. Họ lấn dần, lấn dần, lấn đến đám đất màu mỡ nhất của người H'mông thì lòng tham lam của họ làm cho họ mờ mắt đi. Họ đốt cháy hết bù nhìn canh biên giới của người H'mông, rồi chiếm hết mảnh đất đó. Người H'mông mất đất nước. Những người Hán tham lam ác độc bắt người H'mông ở lại làm kiếp ngựa thồ hàng, ở lại làm kiếp trâu cày ruộng, làm kiếp chó giữ nhà. Người H'mông không chịu. Người H'mông kéo nhau chạy về phía Nam. Phía đó có đất lành có cây nuôi sống người. Gốc cây có củ to, thân có nhiều bắp nhiều hạt. Ngọn trổ bông lúa bông kê, hạt xèo. Trên trời xanh có chim ăn ngon. Dưới đáy suối có cá thơm thịt. Và ở phía Nam đó có những con người ân tình ở với nhau như năm xôi nhuyễn chặt. Họ đùm bọc người H'mông. Họ giúp người H'mông lúc hoạn nạn. Ơn họ lớn tựa rừng. Nghĩa họ cao tựa núi. Người H'mông lập xóm bản và coi đó là đất của tổ quốc mình. Người H'mông có bao giờ quên sự độc địa quỷ quyệt của người Hán. Giờ đây, con sói có lúc kêu “giác, giác” giống tiếng con nai nhung trong mùa măng sớm. Nhưng con sói vẫn là con sói dài nanh nhọn vuốt. Nên dù cái ống tre khô vác nước có nảy lộc, lên mầm, người H'mông càng không quên, cũng không nguôi.


Tên Mã Diu Nần mày rậm mắt him, mặt choắt như lưỡi cày người H'mông xới đất ba mùa nương, miệng nhăn nhở đó có khác gì những tên đã đốt bù nhìn của người H'mông xưa. Mã Diu Nần ngọt lạt nói với ông Xín. Mã bảo ông Xín gọi con về, gọi người trong bản về nộp súng. Mã sẽ cấp cho một cái giấy để yên ổn làm ăn và đi lại tự do trong cả vùng này. Cuối cùng Mã cười nhăn nhở. Mã nói với ông Xín: “Vùng đất núi này ông có biết không, vùng Lao Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn này máu của người Trung Quốc, của Quân giải phóng Trung Quốc còn thấm đậm. Người Trung Quốc đã sang giải phóng cho Việt Nam từ thời chống Pháp, rồi giúp Việt Nam, rồi làm đường cho Việt Nam rồi chuyển súng cho Việt Nam chống Mỹ. Giờ Việt Nam vô ơn bội nghĩa. Quân Trung Quốc tràn sang Việt Nam là để tự vệ, là để quật lại Việt Nam để giữ vùng biên cương, và để thu súng về lập cho người H'mông một vùng tự trị riêng. Một tấc đất của Việt Nam, Trung Quốc không cần. Một tỷ dân Trung Quốc không có một người lính đóng ở nước ngoài… Ông cứ gọi con về. Ông cứ gọi dân bản về ông Xín ạ”-Hắn cầm tay ông lắc mạnh rồi lại nói tiếp-Tôi chờ ông. Tôi chờ con ông về. Chúng ta cùng nắm tay nhau đi trên những con đường “Hữu nghị” Trung Quốc đã mở trên đất Việt Nam.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #36 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2008, 09:14:08 pm »

Ông Xín đi vào núi Pao Pin. Sơn, chỉ huy trưởng biên phòng ngồi trong cái lán nhỏ ở cửa hang đá. Tháng hai, hương quế đầu mùa thoảng thơm. Những cánh hoa trắng tinh khiết bay trong gió, rơi trên mái lán, rắc trước của hang. Sơn cầm bi đống rót bát nước chè xanh mời ông Xín, Sơn lên sống với bản H'mông Hương Quế đã mấy năm rồi nhưng anh vẫn giữ nguyên vẹn cái nề nếp quê nhà. Anh rất thích uống nước chè xanh đặc chát và thường mời khách, và mời bạn bát nước chè xanh lúc mở đầu câu chuyện. Những lúc đó anh còn nói vui: “Nếu ở quê nhà thì còn mờ cả kẹo Cuđơ nữa đấy” (kẹo lạc kẹp giữa hai lớp bánh đa). Hàng ngày vào những buổi sáng sớm, dù bận bịu, anh vẫn tranh thủ ra rừng hái lá chè sương đem còn đậu trắng, ở những cây chè tuyết cao như cây cổ thụ đem về hãm vào bi-đông. Theo anh thì chè còn sương ướt đẫm như thế là nước ngon lắm. Cái thói quen đó có trong anh từ ngày anh còn là một chiến sĩ biên phòng. Năm ấy, năm anh trong mười bảy tuổi, anh nhập ngũ rồi cùng đơn vị ngược dòng Ngàn Phố lên Nước Sốt, lên cầu Treo, lên bờ suối Nậm Tuồng, lên đỉnh núi Bà Mụ… trấn giữ một vùng đất biên cương miền tây Nghệ Tĩnh. Những năm tháng đó, tuổi trẻ các anh đã được nếp sống của một chiến sĩ trinh sát biên phòng rèn luyện. Anh từng ăn sắn sục, rau dún, củ mài, măng lồ-ô chát đắng… thay cơm trong những chuyến tuần tra, truy tìm biệt kích. Cuộc đời chiến sĩ biên phòng của anh, những kỷ niệm khắc nghiệt về “ruồi vàng, bọ chó, gió Cầu Treo”, về “Nắng Na Pê, mưa Nậm Tuồng” đã dày dạn trong những cơn sốt rừng phải buộc người vào thành giường mà run. Phải nằm ngửa đếm rui nhà mong qua cơn rét. Anh đã từng gan góc bắt sống trăn đất ở rừng ẩm Rào Qua, từng đuổi voi ngà ăn cây chuối rào rào hai bên đường số Tám, từng quần nhau với gấu rừng và trói con gấu ngựa hung dữ say mật, từng bắn con hổ vằn, hổ hoa thọt chân ở Kim Cương để cứu dân.


Những đêm trăng sáng trên núi biên phòng năm ấy, anh nhìn theo ngọn gió rừng đưa đám mây trắng bay về xuôi mà thích thú đọc vần thơ nhớ vùng đất Hương Sơn nuôi hươu sao, nhớ dòng Ngàn Phố ngan ngát màu xanh quê anh… Giờ đây trên một vùng biên giới xa xôi phía Bắc, trên đất Hoàng Liên này, Sơn đã trở thành người chỉ huy một đơn vị biên phòng, cùng với bà con người H'mông giữ từng tấc đất của Tổ quốc. Cuộc sống chiến đấu chống giắc bành trướng có gian khổ, có thiếu thốn, có hy sinh mất mát, nhưng Sơn vẫn giữ được nét trẻ trung như những kỷ niệm đẹp đẽ của một chiến sĩ biên phòng. Những lúc uống bát nước chè xanh, những đêm trăng sáng trên rừng trúc, rừng quế của đất núi Hoàng Liên thế này, anh lại nhìn về phía quê hương và đọc câu thơ như đã ngấm vào da thịt của anh từ cái thời nồng nàn trai trẻ.

“Nhớ chiều lộng gió trăng lên
Con hươu sao nhỏ và tên một người”

Ông Xín uống bát nước chè rồi thong thả kể cho anh nghe mọi điều xảy ra trong bản. Giọng ông rành rọt. Nghe xong, Sơn ngồi yên lặng, trán anh hằn lên những nếp nhìn suy nghĩ. Đôi mắt anh sáng rực nét thông minh và từng trải. Anh ghé vài tai ông Xín nói nhỏ. Hai người bàn kỹ với nhau. Ông Xín gật đầu. Ông nhìn về phía Dín, đứa con trai của ông ngồi lau khẩu súng CKC dưới gốc quế… Lúc sau, ông dẫn Ma Quang Dín về bản.


Dín mang cả khẩu súng CKC mất báng về nữa. Về theo anh Dín, còn có một người con trai dân tộc Dao tên anh là Vần. Anh ta cũng mang khẩu súng kíp về theo. Ông Xín dẫn đứa con trai và cả anh người Dao, xuống núi. Ba người xuống gặp Mã Diu Nần. Ông Xín đi trước. Đi qua khu rừng ngải thơm, qua bãi cỏ phao, cỏ xẹ ở cuối bản. Bỗng ông Xín đứng lại. Ông bải hai người đi sau đứng lại. Ông lắng tai nghe. Có tiếng gì kêu gừ gừ đều đều trong bụi cỏ xẽ. Tiếng kêu giống tiếng ngáy của con hổ vằn no mồi ngủ say. Lại giống tiếng gừ của con gấu đang ăn tổ ong khoái ở gốc cây. Ông Xín ngồi xuống. Ông lắng tai nghe. Tiếng gừ gừ tắt. Rồi tiếng gừ gừ lại nổi lên. Lại to hơn. Có lúc kéo dài ra như tiếng người rên. Ông Xín rút con dao đeo bên hông. Ông leo lén bò vào. Ông nhẹ nhàng vạch cây lá để nhin. Mắt ông Xín tròn ra. Một tên lính Trung Quốc nằm rên. Hắn nhắm cả hai mắt. Ở chân hắn máu đầm đìa. Ông gọi Vần, gọi Dìn vào. Thằng giặc mở đôi mắt đã dại ra nhìn lơ mơ. Hắn thấy hai người có súng. Hắn vội nhắm mắt lại. Da mặt hắn bạc phếch. Vành môi hắn khô rốp nứt nẻ. Cái mũ vải của hắn vứt ra bên cạnh. Cả cái mũ gài sao có chữ “Bát nhất” đến vấy máu đen bầm. Hắn quờ quạng rồi chắp tay lại lạy ba người. Xong hắn chỉ tay vào miệng ra hiệu xin uống nước. Vần cúi xuống nhìn ở chân hắn. Kìa, có cả bàn chông bằng gỗ thông, xuyên qua bàn chân hắn. Hắn không thể nào rút ra được. Hắn lê vào đây nằm. Và cái chân hắn đã sưng to lên. Sưng đến nối nứt đế chiếc dày vải cũ ra. Và đã có mùi thối. Ông Xín cúi xuống nhìn cái bàn chông. Hai mắt ông sáng lên. Miệng ông mấp máy như muốn nói ra điều gì. À, phải rồi. Ông Xín đã nhận ra cái bàn chông ấy là của ông làm. Đấy, nhát đẽo trên cái bàn gỗ thông, mảnh gỗ ông làm bằng báng súng kíp còn thừa, và những mũi chông ấy chính là chính tay ông rèn lấy. Cái ngạnh dài và sắc ấy, ông phải rèn đi rèn lại đến mấy lần mới được. Ông không ngờ cái bàn chông làm hôm ấy, ông đặt ở ngã ba đường cuối bản lại đâm thủng chân thằng giặc này. Hôm giặc vào sục sạo đuổi gà, bắt trâu, cướp thóc của hợp tác xã đông như bầy ong có đốm. Ông ra nhìn cái hố chông ông đặt thì chỉ thấy máu thấm đất. Ông cứ tưởng rằng, chúng nó tháo chạy đã mang theo tên giặc bị sụt hố này đi rồi. Ông không ngờ chúng nó chạy bỏ tên lính này lại đây. Nếu hắn chết thì đống đất đó lại mọc thành cây lá han như trong chuyện ông bà truyền lại con yêu tinh bị người H'mông giết biến thành cái cây có nhiều mũi kim nhọn phủ khắp mặt lá để đâm vào da thịt người đau nhức nhối như sự độc ác của hắn. Ông Xín cầm chặt chuôi dao. Vần liền khoát tay ra hiệu để ông tra dao vào vỏ. Vần nói nhỏ với ông Dín điều gì, rồi hai người đều gật gật. Ông Dín ờ, ờ vài tiếng. Ông suy nghĩ. Vần cúi xuống nói to với tên giặc.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #37 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2008, 09:14:49 pm »

-Chúng tôi là người H'mông, người Dao chúng tôi là bạn chí thiết với Quân giải phóng của tổ quốc sang. Chúng tôi sẽ cứu anh. Anh đừng lo. Tên lính Trung Quốc mở mắt ra. Trong ánh mắt đờ dại của hắn loé lên tia vui mừng. Hắn ậm ừ vài tiếng trong cổ họng. Hắn gật đầu. Rồi hắn lại chắp tay lạy ba người. Hắn lại chỉ vào cái mồm có làn môi khô nứt nẻ.

-Chúng tôi sẽ đưa anh đến chỗ Quân giải phóng ở chỗ đoàn trưởng Mã Diu Nần ở.

Tên giặc mở to mắt ra. Sự vui sướng hiện rõ trên nét mặt hắn. Hắn gật đầu. Vần xé ngay cái thân áo chàm anh đang mặc. Anh quấn bàn chân, quấn cả chiếc giày. Anh buột chặt cả bàn chông vào cẳng chân hắn, anh xốc hắn lên vai. Anh cõng hắn đi. Dín đi sau đỡ bàn chông, đỡ cái chân sưng to của hắn. Ông Xín mang súng cho hai người.


Vần đặt tên lính trước mặt Mã. Ông Xín kể lại mọi việc cho Mã nghe. Mã trố mắt nhìn Vần, nhìn Dín. Mã bắt tay Vần, bắt tay Dín. Mã cúi xuống hỏi thằng lính vài điều rồi hắn quay lại nói chuyện với hai anh. Hắn ôm chặt hai người: “Người anh em chí thiết, người anh em chí thiết đã cứu được một người con của Tổ quốc”. Mã rút thuốc mời hai anh hút. Sự thân tình đã có ngay trong buổi đầu giáp mặt. Rồi Mã hỏi ông Xín về Vần. Ông Xín nói với Mã: “Người Dao này tên là Tẩn Quang Vần, ở bản Dao lên mua thuốc phiện gặp ngày buồn tháng dữ phải chạy theo người H'mông vào rừng. Nay hắn ngeh lời tôi cũng mang súng về. Hắn về với Mã đoàn trưởng đó. Người H'mông nói thật. Mã đoàn trưởng cứ tin. Người H'mông không biết nói năm phân không thật, nói năm sải không thẳng đâu mà. Một mình hắn cõng người lính bị thương này đó.

Mã nhìn người con trai dân tộc Dao. Nhưng trong đôi mắt him của hắn vẫn còn loé lên những tia ngờ vực. Miệng Mã cười nhăn nhở:

-Họ Tẩn tiếng Việt Nam goi là Đặng có phải không? Ờ đúng rồi, cùng họ với Đặng đồng chí đó mà, tốt lắm. Người H'mông, người Dao, người Hán… cùng chung một tổ quốc Trung Hoa cả mà,-Mã Diu Nần hỏi Tẩn Quang Vần về làng bản, về gia đình. Hắn hỏi nhẹ nhàng, giọng ngọt ngào, nhưng thực ra là một cuộc tra hỏi chu đáo, cặn kẽ. Mã hỏi nhát gừng, hỏi lộn xộn về các vấn đề. Mã hỏi từ việc này, bắt qua việc khác. Lời mã hỏi thật nhiều nút, buộc nhiều đoạn. Mã muốn tìm sự mâu thuẫn lúng túng trong những câu trả lời của Vần. Và nếu Vần có giấu giếm điều gì cũng phải lộ ra. Vần trả lời xuôi chảy, từ tốn. Mã hỏi Vần những câu cuối cùng, những câu mà Vần đoán thế nào nó cũng hỏi để khẳng định xem Vần có phải là người Dao hay không.

-Tết của người Dao (chả là vừa ăn tết xong thì nó đánh sang mà) có  khác nhiều với tết của người H'mông không?

Vần cười:

-Người Dao ăn tết ngày nào là đón ông cha đi đánh giặc về ngày đó. Ngày đó, giờ đó người Dao sẽ truyền lại mặt cho con cháu hàng trăm năm sau sẽ ăn tết đúng giờ đó. Mổ lợn đúng giờ đó đẻ lấy tiết chào đón ông cha về.

Mã Diu Nần gật đầu cười:

-Thế anh Vần có biết ăn thịt chó không?

-Ôi, Mã đoàn trưởng ạ, cả ba ngành người Dao chúng tôi không biết ăn thịt chó đâu mà. Mã đoàn trưởng đã sang đất Việt Nam ở lâu, có nghe câu chuyện cũ của người Dao không. Thế này nhá! Xưa dân tộc Dao chũng tôi bị một tên vua độc ác đàn áp. Một lần, có một ông già trong bản nói: ai lấy được đầu tên vua đó để trừ hoạ cho dân thì ông gả người con gái xinh đẹp cho. Có một chàng trai tên gọi là Pan Hau (tiếng Dao là con chó dữ) tình nguyện đi. Anh này trừ được tên vua ác. Ông già giữ lời hứa gả cô con gái cho Pan Hau. Vợ chồng sinh được ba đứa con trai đặt tên con cả là Kim Yến (người Dao đội khăn đỏ ấy mà) ở vùng núi cao. Con thứ hai là Hải Yến giữ vùng giữa, (tức là người Dao tuyển chúng tôi ngày nay ấy mà) mặc quần áo đen, phụ nữ có hai tua đẹp treo hai bên khăn. Con thứ ba là Hoàng Yến (là người Dao quần trắng ấy mà). Họ ở vùng thấp ngăn giữ bờ cõi không cho giặc xâm phạm vùng đất, núi của tổ tiên. Mã đoàn trưởng ạ vì thế mà cả ba ngành Dao chúng tôi không ăn thịt chó là vậy đó. Tôi là người Dao tuyển mà. Tôi đã nghe lời ông Xín. Tôi sẽ giúp Mã đoàn trưởng.


Mã Diu Nần bắt tay Vần. Rồi mã rút bút viết cho ba người ba mảnh giấy: “Đã nộp súng cho Quân giải phóng Trung Quốc… được đi lại, ra vào tự do trong vùng đại quân đóng giữ”. Mã Diu Nần báo cáo về cho Vương Thiệu Khuân biết cuộc gặp gỡ bố con ông già người H'mông và anh con trai người Dao diễn ra rất tốt đẹp. Mã yêu cầu Khuân khuyên một vòng đỏ trên bản đồ ở bản Hương Quế đánh dấu nơi sẽ đặt một cơ sở mới.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #38 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2008, 09:16:50 pm »

Ong trong tay áo, cáo trong nhà

Châu Xéo Mìn được ngồi trên xe tăng “Bát nhất” của giặc. Hai tên lính đội mũ đeo sao “Bát nhất” cầm súng AK đứng hai bên. Châu Xéo Mìn cầm loa pin. Hắn trương cổ, bạnh cằm gào to: “Quân giải phóng của tổ quốc Trung Hoa đại thắng rồi. Cán bộ, công an về hàng nộp trả súng, đại quân sẽ không giết, sẽ được tự do làm ăn. Nước Trung Hoa vĩ đại là Tổ quốc của người H'mông, người Dao…” Châu Xéo Mìn đọc vanh vách tên những dân quân các bản giữ súng, kiểu súng gì, có bao nhiêu viên đạn. Châu Xéo Mìn goi tên chủ tịch, gọi tên bí thư đảng uỷ, gọi tên các cán bộ trong xã, trong hợp tác xã, hắn gọi cả những nơi họ đang ở, nơi hậu cứ sơ tán. Mìn dọa dẫm, Mìn gọi họ về hàng. Mìn dẫn giặc đến phá cửa hàng bách hóa, bắt trâu hợp tác xã về mổ đón giặc đến ăn. Mìn phá kho lương thực, phá nhà ngân hàng, phá trại chăn nuôi… Mìn được giặc cho tự do khuân của cải về nhà, tự do bắn giết. Hắn được quyền chọn các cô gái đẹp ởbản H'mông, các cô công nhân lâm trường, cơ quan sơ tá chưa kịp bắt về nhốt trong nhà rồi rước giặc về hãm hiếp.


Châu Xéo Mìn còn đeo mặt nạ hình mặt con hổ vằn, hình mặt con gấu ngựa đứng bên cầu, đứng ở ngã ba đường nhìn người qua lại ai là cán bộ, bộ đội dù đã cải trang thì Mìn cũng gật đầu làm hiệu cho giặc bắt. Giặc phá nhà cơ quan, trường học, phá cửa hàng, bệnh viện. Mìn gọi xe đến chở gạch ngói về xây nhà cho hắn. Và hắn cho xây lại nhà những người trong bản bị đạn giặc phá đổ. Nhà náo không xây kịp, thì Mìn cho để hai ngàn viên ngói trước cửa. Mìn noi: “Đấy, Quân giải phóng nhân đạo đền bù cho dân”. Châu Xéo Mìn được giặc cho làm chủ tịch lâm thời vùng H'mông. Ông Xín người già nhất bản H'mông Củi Pao Pin tìm đến nhà Châu Xéo Mìn. Ông nói nhỏ với Mìn:

Người H'mông đã từng chịu khổ, từng chịu lau nước mắt ra máu rồi. Con hổ vằn dù dai răng, sắc lưỡi nhưng nó cũng không ăn thịt con. Ta đừng làm mất lòng xóm bản sai bụng họ hàng, rồi mình đi đâu, mình có hải kiếp ve sầu đâu mà lột xác, Mìn ạ. Huống gì mày trước đã có thời làm cán bộ của dân.

Châu Xéo Mìn trừng mắt nhìn ông Xín. Mắt hắn vằn tia lên như mắt con chim củi cầu tưởng châm được đốm lửa đốt cháy rừng lau bãi sậy.

-Giết, giết. Chúng đã đối với tao như rắn độc. Giết, giết. Tao cắt tình với nó như cắt sợi dây rừng-Mìn nói mép sùi bọt như con gấu gầm gừ bạ con nào cũng vả-thù với chúng như máu đã thấm vào vạt, thấm vào áo không phai.

Ông Xín chép miệng:

-Thôi Mìn ạ, người ác đến đâu chặt cây cũng còn chừa đoạn giữa. Thổi lửa ai lại thổi hết đèn, tắt bếp cũng phải để hòn than đỏ chứ. Nếu không dân bản lại bảo mày là ong trong tay áo, là cáo ở trong nhà. Máu nào lại không thắm thịt ấy. Mìn cũng là người H'mông ta cả. Con ong có đốm ác vậy mà cũng chỉ đốt được một lần rồi mất nọc mà chết. Thôi Mìn ạ, mày nghĩ lại đi.

Mìn cười gằn.

-Tao chỉ có nửa dòng máu của người H'mông thôi. Bố tao là người Hán, người của tổ quốc Trung Hoa.


Cả bản H'mông đã hầu như quên điều ấy đi. Nay Mìn nhắc đến, ông Xín mới sực nhớ ra. Bố Mìn là người Hán, là lính Tưởng Giới Thạch chạy sang đây, lấy mẹ hắn ở bản H'mông rồi sinh hắn ra và ở lại đây. Mìn đã có thời làm chủ tịch bản H'mông, làm bí thư chi bộ Đảng ở bàn H'mông. Mìn đã nhiều lần rủ người về nhà đánh bạc. Bị thua lụn bại, Mìn trộm trâu, trộm ngựa của hợp tác xã sang bán bên công xã Seo Thầu năm bảy lần. Mìn bị chi bộ nhất trí đuổi ra khỏi đảng, bị dân bản truất chức cán bộ. Mìn trở thành tên buôn thuốc phiện và trộm cướp ở vùng H'mông. Bị dân quân đuổi bắt quả tang Mìn dùng súng kíp bắn lại, Mìn phải đi cải tạo hai năm. Trở về bản, Mìn trở thành một tên sống lầm lì cục cằn, đi một bước chửỉ một tiếng. Mắt nhìn ai cũng như lưỡi dao đam, lười dao cắt thịt người ta. Có lần, Mìn đã nói muốn đốt cháy hết cả bản H'mông. Muốn hổ vể ăn thịt hết người H'mông. Hắn thù ghét tất cả. Hắn hậm hực với tất cả. Mìn đã đào xương cốt bố hắn bỏ vào bao tải, rồi cho ngựa thồ về Seo Thầu. Nhưng sang đến đồn biên phòng Xín Tiển hắn ở lại. Hắn gặp Vương Thiệu Khuân. Hắn ăn ở với Khuân. Rồi không biết tên đồn trưởng này đã nói gì với hắn. Hắn lại chở xương cốt bố hắn quay về Việt Nam và chôn xuống đất bản H'mông. Từ đó trong những ngày tết vừa qua, Mìn thậm thụt mấy lần sang bên ấy. Hắn nói là đi thăm anh em họ hàng. Ta rộng lượng cho đi. Nhưng hắn đều đến ở với tên Vương Thiệu Khuân. Nay tự tay hắn viết tên cửa nhà hắn dòng chữ đỏ loét: “Mặt trời đã chiếu sáng. Chỉ có đại quân Trung Hoa mới đưa lại hạnh phúc cho người H'mông”. Mìn nghĩ đã có dịp trả thù. Nhà hắn mổ gà thiến, mổ lợn khoang, trâu tơ của hợp tác xã, nấu rượu xéo, nấu xôi nếp cẩm. Hắn đưa chăn hoa, chăn lanh, ô tia, dù xanh ra đầu bản rước giặc vào. Mìn chạy lăng xăng, hí hửng như con chó vẫy đuôi khi gặp chủ.


Nói với hắn không chuyển, ông Xín để Ma Quang Dín, con trai ông xuống bản hắn, đi với hắn. Dìn giúp việc cho hắn. Dìn được Mã Diu Nần cấp cho khẩu AK và những dấu hiệu mật: buộc tua len đỏ trên quai súng. Ống quần bỏ trong bít tất trắng. Cổ bít tất nhô cao. Dìn và cả Tẩn Quang Vần được đi lại trong vùng H'mông trong vùng quân giặc Trung Quốc ở. Châu Xéo Mìn chỉ tay vào ngôi nhà. Hắn bảo Dín:

-Đốt nhà thằng chủ tịch. Giết hết bọn Kinh.

Đó là những nữ công nhân lâm trường bị giặc bắt giam ở bản. Mìn trói chặt mỗi người vào một cột nhà. Mìn quát vào tai Dín.

-Đốt.

Vần và Dín chần chừ. Hai anh bàn với nhau: giết thế thì bản H'mông khét lắm, không ai sống nổi đâu. Mã đoàn trưởng ở gần đấy cũng không chịu nổi. Ông chủ tịch à. Ông để chúng tôi dắt chúng ra dốc núi bắn làm mồi cho hổ vằn, hổ hoa thôi.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #39 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2008, 09:18:29 pm »

Nghe nói Mã đoàn trưởng không chịu nổi. Mìn chột dạ. Hắn gật đầu. Dín và Vần đưa bốn cô công nhân ra dốc núi. Vần nhìn bốn người, anh rơm rớm nước mắt. Anh quay mặt đi. Anh không dám nhìn họ. Mới ngày nào đó đi qua lâm trường, chị em còn nói cười ríu rít như bầy chim giàng tông (chim khách báo Tây Nguyên vui). Chị em mời Vần và các chiến sĩ và nhà uống nước, mời ăn quả dứa chín thơm đầu mùa. Giờ đây chị em bị bọn giặc bắt dày vò nhìn ai cũng như ngọn lá héo. Bốn cô công nhân không ai nhận ra Vần vì anh mặc bộ quần áo người dân tộc Dao. Vì Vần lại ở trong hàng ngũ giặc. Cả bốn người chửi bới xỉ vả Vần, xỉ vả Dín. Hai anh cúi mặt xuống câm lặng, nhẫn nhục. Các anh đứa chị em đi. Ra đến dốc núi cuối bản, Dín bảo bốn chị em đứng lại. Dín cảnh giới phía trên Vần đi đến, anh cởi trói cho một người. Rồi anh bảo họ cởi trói cho nhau. Nhanh. những cô gái lâm trường ngạc nhiên. Họ nhìn Dín và Vần. Họ nhìn nhau dò hỏi.

-Các chị đi nhanh về phía bản Sen, ở đó có bộ đội ta.

Các cô gái nhìn nhau. Họ nhìn Vần “Thôi đừng nói gì, đừng hỏi vì sao, sau sẽ hiểu, đi nhanh”. Vần nói với họ. Những cô gái công nhân chạy xuống dốc núi. Vần bắn một loạt AK. Dín bắn một loạt AK vào rừng cây. Hai anh trở về. Tối ấy tên Mìn uống rượu rồi hắn châm lửa đốt nhà đồng chí chủ tịch bản. Trong ánh lửa chấp chới, Mìn nói với Dín, với Vần. Hắn nói như phun men rượu vào mặt hai người.

-Tao là thằng chủ tịch, thằng Pò Xiềng, thằng Xần Khái là phó chủ tịch. Thằng Xiềng là người Dáy. Ông Vương Thiệu Khuân nói phải làm như vậy mới đoàn kết được người H'mông, người Dao, người Dáy mà. Ta sẽ lập một khu tự trị ở vùng H'mông. Ta sẽ lập một đội hồng quân ở vùng H'mông. Ta sẽ giết hết bọn Kinh, bọn H'mông theo người Kinh. Ta sẽ đón ông Lù Văn Đức là người H'mông bên Mã Quan về làm chủ tịch cả vùng tự trị-Thấy Vần và Dín trố mắt nhìn, Mìn lên mặt nói tiếp-bọn bay không biết ông Lù Văn Đức à-Ông ấy nhà ở Suối Thàng, trước là phó tỉnh trưởng tỉnh Lao Cai. Ông ấy ở Mỹ mới về Mã Quan hồi cuối năm. Ông Khuân có nói với tao, ta đã có rất nhiều người trong vùng H'mông này và ở bên tổ quốc vĩ đại ủng hộ. Ta có cả những người lái xe cho bọn Kinh. Ta có cả những người giữ máy thông tin ở trong núi. Nghĩa là ta có sức lớn, có lực nhiều. Người H'mông, người Dáy, người Dao cùng nhau đứng lên đông như lá, nhiều như cỏ. Ông Vương Thiệu Khuân có nói với tao nhiều nữa. Súng đạn ta đã có nhiều kho giấu ở các nơi, ngay trong vùng H'mông ta. Lúc cần ta sẽ lấy được ngay. Tao sẽ còn cho chúng mày biết nhiều điều nữa…


Châu Xéo Mìn nói. Dáng bộ hắn hung hăng. Hắn chồm lên, cúi xuống trong ánh lửa chập chờn. Trông hắn như con nhọ mặt (con hổ) bị phát đạn bắn trượt.


Sáng sớm, Mã Diu Nần ngồi trên chiếc xe Bắc Kinh vải bạt còn mới tinh. Mã đón Mìn đi. Mìn bảo đón Dín và Vần cũng đi nữa. Mã ngồi cầm tấm bản đồ. Mã cúi gằm xuống nhìn. Tân lái xe bẻ tay lái. Chiếc xe rẽ quặt vào phía hang Leng. Hang đá trước có ma cà rồng, Mã phải cho quân trừ yểm! Ở nói đó một trận kịch chiến vừa chấm dứt hôm qua giữa bộ đội ta với quân của quân đoàn 50 và cả sư đoàn sơn cước của giặc Trung Quốc. Giặc đã cố sống cố chết dồn hết quân sự bị của quân đoàn đánh đến đây để đạt cho được mục đích: chiếc xe của Mã đoàn trưởng hôm nay đến được đây. Xe của Mã Diu Nần dừng lại một lúc, thì một xe tải chở đầy lính công binh mang những khối bộc phá và cuốc xẻng đến. Mã xuống xe. Hắn nhìn ngó bản đồ, nhìn ngó thực địa để xác định cửa hang. Đó là một vách đá mà đá tảng được xếp lân và xây chắc phủ lớp rêu xanh. Mười hai năm rồi cây dại và cây tế đã leo, đã trùm lên vách đá. Phía bên ngoài, cây dại mọc lên gốc đã to bằng bắp chân. Những nơi vách đá lọ ra thì rêu của rừng già xám xỉn đắp lên một lớp áo dày. Mã Diu Nần lách cây lá. Hắn cầm dùi sắt vạch dây leo và khơi lớp rêu núi, cặp lông mày chổi sể của Mã giương lên. Khuôn mặt lưỡi cày của hắn rạng ra. Hắn nhoẻn cười. Hắn quay ra phía đồng bọn nhả ra tiếng “đúng rồi”. Mã vẫy tay mừng rỡ. Bọn công binh xô vào. Mã đọc hàng chữ chỉ dẫn trong bản đồ rồi hạ lệnh cho bọn công binh đánh một khối lượng bộc phá có tính toán kỹ để đủ sức phá sập bức tường mà không rung chuyển hang đá. Tiếng nỏ dứt. Ánh sáng ùa vào. Phía trong cái hang lộ ra hai tấm cửa sắt đặt trên khung sắt chắc chắn. Mã đi vào mở khóa. Hang Leng rộng mở. Xung quanh hang được xây lót lớp xi xăng chu đáo. Trong hang biết cơ màn nào là hòm xiểng được xếp hàng cẩn thận như một cái kho. Hòm sắt, hòm gỗ, bọc giấy chống ẩm và có nhiều gói thuốc chống ẩm để xung quanh. Bọn lính công binh ùa vào khệ nệ khiêng ra. Châu Xéo Mìn tong tả vào khiêng. Rồi Dín và Vần cũng vào khiêng. Mã khu thử một hòm. Trong hòm là đạn, là súng còn nguyên lớp mỡ. Những hòm lương khô còn thơm phức. Mã cười. Hắn giơ tay ra trước mặt: “Mười hai năm vẫn như mới xuất xưởng”.


Những đơn vị vừa bị đánh đau lục tục đến nhận những thứ đó. Mã lại cúi gằm xuống bản đồ. Mã nói với những tên vừa đến: “Đến ngay K2 nhận. Ở cột số 9 đường Hữu Nghị. Ở đó là nghĩa địa của lính làm đường bên chân núi. Sư đoàn quân sơn cước đã chiếm giữ tối qua. Dưới mộ số 7 hàng thứ hai và số 11 hàng thứ ba phía trên mộ đề tên Lưu Châu, Hoà Ngọc thì đào lên mà lấy. Ở đó có đạn và lương khô”.


Mã Diu Nần trao tấm bản đồ cho tên lính đứng nghe hắn nói. Rồi hắn chỉ vào dòng chữ đánh dấu đen ven đường đó là nghĩa địa, là K3, Mã dặn tên lính: “Nhớ rằng phải cẩn thận, phải rất cẩn thận, dưới các tấm bia đều có hai quả mìn. Phải dò mìn trước. Nhớ là hai quả”.

Mã Diu Nần nói nhỏ với tên lái xe rồi ra hiệu cho hắn lái về phía đồn biên phòng Xín Tiển. Cả Châu Xéo Mìn, cả Dín và Vần cũng ở bên đó. Vần cũng về bên đó.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM