Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 07:32:46 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Cuộc chiến tranh Thái Bình Dương 1941-1945  (Đọc 190109 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
LuuHuongSoai
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1111



« Trả lời #130 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2009, 01:29:27 am »

Bộ tổng tham mưu lục quân ở Tokyo gửi đến Rabaul một lực lượng phản kích 6.000 quân, gồm lữ đoàn của tướng Kawaguchi 3.500 quân, lữ đoàn của đại tá Ichiki 2.000 quân và tiểu đoàn xung kích hải quân 500 người. Riêng tướng Kawaguchi không đánh giá giống như Bộ tổng tham mưu. Ông ta tin chắc rằng Mỹ đã bắt đầu phản công và đây là một cuộc hành quân có tính cách chiến lược của họ, nhằm chiếm đóng lâu dài. Và quân số đổ bộ trong suốt ngày hôm ấy ít nhất cũng hơn 10.000 người. Người Mỹ sợ máy bay Nhật tấn công tiêu diệt đoàn tàu của họ nên họ phải tranh thủ đổ bộ trong ngày cho xong. Nhưng ít ai nghe theo lời ông ta.
Đêm 18-8, lữ đoàn Ichiki được hải quân Nhật đổ lên mỏm Tassa Taronga, đợt đầu 915 quân với đại tá Ichiki và Bộ tham mưu của ông ta. Tiêu lệnh lập đầu cầu, bảo vệ đầu cầu, đợi lên đủ 6.000 quân, có ưu thế 3 chọi 1 rồi tấn công.
Ichiki đổ bộ lên một cách êm ái không thấy một bóng dáng quân Mỹ nào cả, không một tiếng súng. Ông ta sinh ra chủ quan định "thừa thắng xông lên", chỉ để lại 125 quân giữ đầu cầu, số còn lại theo ông băng rừng tiến về sân bay cũ, luồn sau lưng đánh Mỹ. Ông ta nghĩ rằng người Mỹ bố phòng phía mặt biển, chống đổ bộ, còn phía sau lưng là rừng già, mà chiến đấu trong rừng già thì Mỹ phải thua Nhật.
Tư lệnh thủy quân lục chiến Mỹ biết Nhật đã đổ bộ nhưng không biết ở đâu. ông ra lệnh cho trinh sát đi khắp 4 hướng. Vào ngày 20, tiểu đội trinh sát phát hiện và điện về cho biết lực lượng Nhật đã tiếp cận và hướng tấn công của họ.
Mỹ dàn quân bên bờ sông Ihu, đợi quân Nhật vượt sông là cho xe tăng tiêu diệt. Đây là một đòn bất ngờ. Quân Nhật chết gần hết, đại tá Ichiki cho đốt cờ lữ đoàn và chết cùng đơn vị của mình. Chỉ có 2 người sống sót băng rừng về báo tin cho đầu cầu biết.
Quân Mỹ mất 35 người chết và 75 người khác bị thương. Sở dĩ Mỹ không truy kích là vì nhiệm vụ của họ là tập trung quân cũng như cơ giới để làm xong sân bay trong vòng 48 giờ (việc mà Nhật dự định làm suốt hai tháng).(1)
Tin chiến bại bay đến Rabaul làm kinh ngạc mọi người. Mỹ đã đổ bộ được cả xe tăng lên đảo!
Đô đốc Yamamoto nhận thấy rằng Mỹ sẽ ở đây bằng mọi giá, nên họ sẽ không ngần ngại gửi hạm đội chở quân thêm nữa. Và đây là một cơ hội để bắt họ phải chấp nhận chiến đấu, không lẩn tránh được. Nhân dịp này, hải quân Nhật sẽ tiêu diệt lực lượng hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ. Do đó quân trên đảo mất tiếp tế sẽ đầu hàng.


(1) Nhật phải san bằng đường băng rồi rải nhựa gia cố bằng phương tiện thô sơ. Còn Mỹ cho xe cơ giới san bằng chỗ nào Nhật chưa làm xong. Đoạn lắp ráp vỉ sắt PSP (Peforated Steel Flate) không cần trải nhựa
Logged

Hiên ngang trước cửu trùng
Lạnh lùng nhìn trần thế
LuuHuongSoai
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1111



« Trả lời #131 vào lúc: 05 Tháng Mười Hai, 2009, 10:43:32 pm »

Yamamoto quyết định gửi đến vùng quần đảo Salomons những lực lượng lớn thuộc Hạm đội liên hợp của mình. Dẫn đầu là lực lượng chi viện cho Guadalcanal gồm 6 tuần dương hạm, 1 tàu chở thủy phi cơ và 6 tàu ngầm do phó đô đốc Nobutake Kondo chỉ huy, yểm trợ cho 4 hải vận hạm chở bộ phận còn lại của lữ đoàn Ichiki và tiểu đoàn xung kích của hải quân sẽ đổ bộ lên Guadalcanal. Tiếp theo đó là Lực lượng đột kích, vẫn do phó đô đốc Nagumo chỉ huy, gồm 2 tàu sân bay Zuikaku và Shokaku, 2 thiết giáp hạm và 3 tuần dương hạm nặng cùng với một đội tàu làm nhiệm vụ nghi binh gồm tàu sân bay nhẹ Ryujo, một tuần dương hạm nặng và 2 khu trục hạm.
Ngay trước khi nhận được tin hạm đội Nhật tiến về phía quần đảo Salomons, lực lượng đặc biệt 61 của hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ, gồm 3 tàu sân bay (Enterprise, Saratoga và Wasp), 7 tuần dương hạm và 18 khu trục hạm dưới quyền chuẩn đô đốc Fletcher, đã được lệnh trở lại đây để đề phòng nguy cơ đó.
Chiều 24-8, đội tàu nghi binh của Nhật đến gần Guadalcanal và tàu sân bay nhẹ Ryujo đã cho máy bay bay đến đánh phá sân bay Mỹ trên đảo. Được tin, Fletcher lập túc cho 30 oanh tạc cơ xuất phát từ tàu sân bay của mình đi tiêu diệt tàu sân bay địch. Chiếc Ryujo bị đánh chìm, nhung nó đã làm xong nhiệm vụ chim mồi. Nhờ đó, Nagumo đã phát hiện được vị trí các tàu sân bay Mỹ. Gần 100 máy bay ném bom và phóng ngư lôi Nhật từ các tàu sân bay Zuikaku và Shokaku đã ập đến tấn công hai chiến Saratoga và Enterprise trước khi trời tối. Nhờ có rađa và rút được kinh nghiệm từ nhũng trận đánh trước, người Mỹ đã bảo vệ chiến hạm của mình một cách khôn khéo chống lại tinh thần cảm tử của các phi công nhật. Khi màn đêm buông xuống thì trận hải chiến trên vùng biển phía Đông quần đảo Salomons kết thúc. Nagumo mất một tàu sân bay nhẹ và 70 máy bay. Fletcher mất 17 máy bay và chiếc tàu sân bay Enterprise bị thương nặng, phải sửa chữa khoảng 2 tháng.
Bị máy bay Mỹ săn đuổi và chặn đánh ráo riết, các lực lượng đổ bộ Nhật phải lánh vào một hòn đảo nhỏ ở phía Nam đảo Bougainville. Mãi đến đêm 31-8 lữ đoàn của tướng Kawaguchi, bị tổn thất một phần và sát nhập thêm bộ phận còn lại của lữ đoàn Ichiki, mới đổ bộ được lên Guadalcanal tại 2 địa điểm ở phía Đông và phía Tây sân bay Handerson (đó là tên người Mỹ đặt cho sân bay mà họ mới xây dụng xong trên đảo). Tập hợp lại lực lượng, Kawaguchi đã có trong tay 4.200 quân và một số phóng viên cùng đi chờ báo tin chiến thắng.
Logged

Hiên ngang trước cửu trùng
Lạnh lùng nhìn trần thế
LuuHuongSoai
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1111



« Trả lời #132 vào lúc: 05 Tháng Mười Hai, 2009, 10:44:15 pm »

Đêm 13-9, được sơn pháo của mình và hải pháo từ ngoài khơi bắn vào yểm trợ, lữ đoàn Kawaguchi tấn công sân bay Handerson giờ đã trở thành một căn cứ không quân vững mạnh. Sau một đêm huyết chiến với lực lượng quân Mỹ của tướng Vandegrift đông gấp 3 lần lại có chiến xa yểm trợ và phương tiện bố phòng dày đặc, Kawaguchi chỉ còn lại 800 quân có khả năng tiếp tục chiến đấu.
Ngày hôm sau, quân Nhật phải băng rừng quay lại điểm đầu cầu, gởi thương binh và phóng viên trở về Rabaul. Khi họ đến Rabaul, tướng Nasu trong bộ chỉ huy sư đoàn 2 sắp đi tăng viện cho chiến trường, chặn phóng viên tờ Mainichi lại để hỏi.
Phóng viên trả lời:
"Chỉ có 3 vấn đề thôi:
- Nếu muốn thắng phải đưa quân ào ạt đánh xả láng. Mỹ có hơn 10.000 quân, chứ không phải 2.000 quân như các ông nói.
- Tinh thần thì cần thiết nhưng phải gởi lương thực, thực phẩm. Quân Nhật phải ăn - trái sakê và củ rừng để sống, làm sao đủ súc tiến công?
Gởi đến nhiều quinine để phòng ngừa sốt rét".
Rút kinh nghiệm từ trận đánh trên, đô đốc Yamamoto và Bộ tư lệnh Tokyo quyết định gởi nguyên quân đoàn 17 của trung tướng Harukichi Hyakutake sang chiến trường. Hải đoàn vận tải số 2 đổ quân lên mỏm Tassafaronga thành công. Quân đoàn 17 đợi nhận thêm đại bác sẽ hành quân.
Trong lúc đó, phía Mỹ cũng tăng cường lực lượng, bằng cách cho đổ thêm sư đoàn bộ binh American xuống Guadalcanal, nâng tổng số quân Mỹ ở đây lên đến 25.000 người. Sân bay Handerson giờ đây là nơi trú đóng của hai phi đoàn chiến đấu cơ của thủy quân lục chiến và một phi đoàn oanh tạc cơ P.400 của lục quân.
Người Mỹ đủ lương thực, đạn dược cho 6 tháng. Với lực lượng như thế, người Mỹ trên đảo có thể tự mình đẩy lui quân địch, không cần chiến hạm tiếp cứu. Yamamoto chỉ còn biết trông cậy vào cuộc tấn công của quân đoàn 17.
Theo kế hoạch, quân đoàn 17 chia làm hai cánh tấn công sân bay Handerson vào đêm 21 tháng 10. Toàn bộ sư đoàn 2 dưới quyền tướng Masao Maruyama xuyên rừng, để từ trong núi đánh bọc ra. Đây là lực lượng chính. Còn sư đoàn Sumiyoshi thì đánh từ biển lên, làm lực lượng phối hợp và nghi binh. Nhưng, đoàn quân xuyên rừng gặp nhiều khó khăn trên đường hành quân nên không đến điểm xuất phát kịp. Tư lệnh quân đoàn cho dời thời điểm tấn công sang đêm 22, rồi lại đêm 23. Vì một sự trục trặc nào đó, Sumiyoshi không nhận được lệnh hoãn sau cùng. Do đó, lúc 8 giờ 30 đêm 22-10, ông hạ lệnh nổ súng. Sư đoàn Sumiyoshi một mình lãnh đủ sự phản công của Mỹ ở một vùng bãi biển mà họ dễ dàng sử dụng xe tăng.
Đến khi sư đoàn 2 tiến công, họ rơi vào một bãi mìn và bị chặn đánh tơi bời bằng súng lớn của sư đoàn American. Cả trung đoàn 29 thiện chiến nhất của sư đoàn 2 Nhật bị xóa sổ. Cờ trung đoàn và đại tá trung đoàn trưởng đều bị mất tích. Tướng Maruyama ngã bệnh đột ngột phải trao lại quyền chỉ huy cho tướng Nasu, tư lệnh phó sư đoàn. Tướng Nasu (1) quyết tâm đánh tới cùng. Sau 2 ngày 2 đêm liên tiếp tiến công, Nhật thiệt hại 3.000 quân. Riêng tướng Nasu trúng đạn ở ngực về đến Bộ tư lệnh là chết.
Thế là 3 lần tấn công, 3 lần thất bại.
Với quyết tâm tiêu diệt sân bay Henderson, Nhật gửi thêm sư đoàn 38 bộ binh của tướng Tadayoshi Sano tăng cường cho quân đoàn 17. Giờ đây, người Nhật mới thấy rằng "Muốn thắng, phải đánh xả láng" như phóng viên tờ Mainichi đã nói cách đó vài tháng.
Nhung từ Rabaul đến Guadalcanal đêm rạng ngày 13 – 11, hải đoàn chuyển vận của phó đô đốc Hiroaki Abe bị lực lượng đặc nhiệm 67 của chuẩn đô đốc Daniel Gallaghan phục kích tiến công. Đoàn tàu Mỹ bị tổn thất nặng với 2 chuẩn đô đốc là  Gauaghan và Scott cùng tử trận, nhưng quân viện Nhật không đến chiến trường được. Chỉ có 4.000 quân trong số 12.000 quân tăng viện và 5 tấn đạn dược, lương thực, lên đảo, trong lúc đó 10 000 tấn đạn dược,  lương thực, thuốc men bị chìm. Nhật thiệt mất một số tàu trọng tải là 77.000 tấn, gồm 2 thiết giáp hạm Hiei và Kirishima, 1 tuần dương hạm nặng, 3 khu trục hạm và 11 tàu chở quân.
Uớc mơ tấn công tiêu diệt của tướng Hyakutake tan theo mây khói.

(1) Người cầm đầu quân Nhật đổ bộ đầu tiên lên bán đảo Mã Lai, mở màn cuộc chiến tranh Thái Bình Dương vào tháng 12 năm 1941 .
Logged

Hiên ngang trước cửu trùng
Lạnh lùng nhìn trần thế
LuuHuongSoai
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1111



« Trả lời #133 vào lúc: 05 Tháng Mười Hai, 2009, 10:45:10 pm »

* Ai ra lệnh rút quân?

Gặp thất bại này và lại bị uy hiếp nặng nề ở đảo New Guinea, Bộ tư lệnh Nhật ở Tokyo thay đổi kế hoạch và nhân sự.
- Quân đoàn 17 chịu trách nhiệm chiến trường ở quần đảo Salomons.
- Quân đoàn 18 lo chiến trường ở New Guinea, phòng ngự trước sức phản công của quân Mỹ - Úc dưới quyền của tướng Mac Arthur.
Cả hai quân đoàn kết hợp thành Tập đoàn quân Quan Nam, dưới quyền chỉ huy của tướng Hitoshi Imamura.
Đến quan sát chiến trường, vị tướng này nêu ra yêu cầu: muốn chiến thắng ở Guadalcanal phải có đầy đủ 370.000 tấn vũ khí quân trang, lương thực, thuốc men (1).
Đây là lần đầu tiên vấn đề tiếp vận được đưa ra ưu tiên hàng đầu trong quân đội Nhật bởi một vị tư lệnh chiến trường. Yếu tố tinh thần trở thành thứ yếu.
Bộ tổng tham mưu Nhật bối rối. Làm sao chuyển vận khối hàng hóa này, nếu có đủ?
Thế là họ bàn ra, nhiều vị nói bóng gió: "Cần xem lại tầm mức quan trọng của Guadalcanal".
Ngày 25-12-1942, hải quân và lục quân họp duyệt xét tình hình. Vấn đề không còn ở chỗ "rút quân hay không?", mà là “ai ra lệnh rút quân?" vì hải quân không chịu nhận trách nhiệm lịch sử và lục quân cũng thế.
Ngày 31, trước mặt Thiên hoàng, Tổng tham mưu trưởng hải quân, đô đốc Nagano, và Tổng tham mưu trưởng lục quân, nguyên soái Sugiyama, trình bày diễn tiến hành quân ở Guadalcanal và đề nghị xin rút quân.

(1) Quân Nhật trên đảo này mỗi ngày chết trên dưới 100 người vì sốt rét rừng và đói
Logged

Hiên ngang trước cửu trùng
Lạnh lùng nhìn trần thế
LuuHuongSoai
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1111



« Trả lời #134 vào lúc: 05 Tháng Mười Hai, 2009, 10:45:39 pm »

Nhật hoàng hỏi:
- Có lẽ Hoa Kỳ có ưu thế hơn ta về không quân phải không?
Hỏi như vậy là đỡ mất mặt cho hai vị này, vì một là hải quân một là lục quân. Xem như là không quân thua chứ không phải họ thua.
Nhật hoàng hỏi tiếp:
- Tại sao Hoa Kỳ có khả năng lập xong sân bay trong hai ngày mà ta thì làm hai tháng chưa xong?
Hải quân trả lời:
- Tâu Hoàng thượng, họ làm bằng cơ giới còn ta làm bằng tay.
Nhật hoàng:
- Ta hãy học tập điều này, khi khác làm tốt hơn. Thôi, hải quân và lục quân cố gắng làm tốt trong việc rút quân, sau khi không quân đã bị thua trên đảo.(1)
Cái khó là làm sao rút quân ra khỏi đảo mà không bị địch phát hiện và phản công tiêu diệt, trong lúc đại bộ phận các lực lượng Nhật trên đảo đều tiếp cận với vòng đai phòng thủ của Hoa Kỳ.
Đại tá Imoto được gửi đến đảo, để góp ý kiến với Tư lệnh hành quân về vấn đề rút quân. Nhưng gặp các cấp chỉ huy ở đây, ông ta lại vấp phải khó khăn khác: không ai chịu rút quân hết. Không ai muốn mình là vị tướng "chạy thua" đầu tiên trong lịch sử chiến tranh Thái Bình Dương này.
Họ đã tưng ra lệnh: đào hố rải rác khắp nơi, ẩn núp trong đó đợi dịp đánh Mỹ. Nếu Mỹ đến, giết càng nhiều càng hay. Giờ đây, làm sao có thể thuyết phục họ rút lui được?
Cuối cùng sứ giả phải nói: "Đây là lệnh của Thiên hoàng".

(1) Thực ra, đây là câu nói rất chua cay. Vì lục quân cũng có không quân và hải quân cũng có không quân riêng của mình tham chiến. Còn Bộ tư lệnh không quân thì không có máy bay chiến đấu ở đây.
Logged

Hiên ngang trước cửu trùng
Lạnh lùng nhìn trần thế
LuuHuongSoai
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1111



« Trả lời #135 vào lúc: 05 Tháng Mười Hai, 2009, 10:46:47 pm »

Sự triệt thoái là một kiệt tác của nghệ thuật hành quân Nhật. Đêm 23-1-1943, những toán quân tiếp cận với hàng rào phòng thủ Mỹ rút lui, chỉ để lại nhũng thương bệnh binh đi không nổi, sắp chết. Họ được giao nhiệm vụ hy sinh cao độ, là bắn quấy phá, duy trì sự hiện diện của Nhật.
Đêm sau, tuyến thứ hai cũng rút y như thế.
Trong vòng một tuần lễ, những phần còn lại của sư đoàn 2, sư đoàn 38 đều rút về bãi biển.
Ba đêm liên tiếp, các khu trục hạm đến chở họ đi. Đêm cuối cùng là Bộ tư lệnh hành quân cuốn cờ.
Người Mỹ vẫn tưởng là Nhật đổ thêm quân chứ không phải là triệt thoái.
Thế là hải quân cứu được 13.000 người. Trong lúc đó 20.000 quân Nhật chết từ đầu chiến dịch cho đến lúc lui quân. Phía Mỹ 1.592 người chết và 3.000 bị thương.
Như ta đã thấy, tại Guadalcanal, bên cạnh cuộc chiến đấu của lục quân, còn có cuộc chiến đấu của hải quân nữa.
Đó là nhũng trận hải chiến liên tục xảy ra, đúng như ước muốn của Yamamoto. Vị tư lệnh hạm đội liên hợp muốn biến Guadalcanal trở thành cái mồi nhử hải quân Mỹ đến đây để ông tiêu diệt.
Ở đây Mỹ chấp nhận giao chiến. Mỹ mất hai đô đốc tài ba, 3 tàu sân bay bị hư nặng và nhiều chiến hạm các loại khác nhau.
Hạm đội Nhật thì thiệt hại ít hơn Mỹ nhưng số máy bay bị hạ lên đến 893 chiếc. Đó là cuộc chảy máu của con tim, vì kỹ nghệ và nền sản xuất của Nhật khó mà thay thế được những mất mát ấy.
Mỹ mất ít phi công hơn, và số mất mát đó sẽ được sẵn sàng thay thế bằng hàng loạt phi công từ các trường sắp ra. Còn Nhật thì mất 2.362 phi công tài ba, được tôi rèn trong các chiến thắng từ Trân Châu Cảng, Ấn Độ Dương. Và còn lâu Nhật mới tạo ra được những con người như vậy.
Như thế, về mọi mặt, với thảm bại Guadalcanal, gió đã xoay chiều. Sự thuận lợi không còn ở phía Nhật nữa. Mỹ đã bắt đầu phản công và thắng lợi. Bên kia trời Âu, Liên Xô đang phản công như vũ bão tại Stalingrad.
Logged

Hiên ngang trước cửu trùng
Lạnh lùng nhìn trần thế
LuuHuongSoai
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1111



« Trả lời #136 vào lúc: 05 Tháng Mười Hai, 2009, 10:47:25 pm »

NHẬT ĐI TÌM THẮNG LỢI VỀ CHÍNH TRỊ

* Tình hình đầu năm 1943

Với năm 1943, năm Quý Mùi ở Nhật, một luồng gió xấu thổi qua các nước thuộc phe trục.
Tướng Rommel thất bại ở chiến trường Bắc Phi. Hồng quân Liên Xô đánh bao vây và tiêu diệt tập đoàn quân số 6 của thống chế Von Paulus ở Stalingrad, đem lại niềm tin cho phe chống phát xít.
Cuộc họp thượng đỉnh ở Casablanca (Moraco) cho thấy quyết tâm của phe Anh - Mỹ chống lại Nhật – Đức cho đến chiến thắng cuối cùng.
Quan trọng nhất là vấn đề sản xuất. Giờ đây phe quân phiệt Nhật mới nhận thức đầy đủ về vấn đề này. Từ trước đến nay, người Nhật bị ru ngủ bởi nhũng câu như là: "Tinh thần võ sĩ đạo đưa ta đến chiến thắng" hay "Có quyết tâm, cái gì ta cũng làm được hay "Thiên mệnh muốn nước Nhật khai hóa vùng Đại Đông Á"...
Nay, với những trận hải chiến, Nhật thấy mình khó mà thay thế các tàu bị chìm. Đồng thời các nhà máy Nhật thiếu nhiên-nguyên liệu vì không đủ tàu hàng chở các thứ này từ các kho bãi ở các bến cảng Đông Nam Á. Nghiêm trọng nhất là qua cuộc chiến đấu ở Guadalcanal, giới quân sự Nhật thấy một điều: con người là một tổng thể, vừa tinh thần, vừa thể xác. Dù tinh thần cao đến tận mây xanh mà hằng ngày phải đào khoai, đào củ rừng để ăn thì cũng sớm chết mà thôi.
Về sản xuất, vào đầu năm 1943, ta thấy như sau:
Nếu con số tổng sản lượng năm 1941 là 100, thì đến nay người Nhật vượt lên 123, còn Hoa Kỳ thì vượt lên 136 và nền kỹ nghệ Hoa Kỳ phát triển đều khắp các mặt cho nhu cầu từ dân sự đến quân sự.
Đầu năm 1943, Hoa Kỳ tiến đánh hai tiền đồn của Nhật ở quần đảo Aleutian. Sự mất các đảo Kiska và Attu khiến cho giờ đây Nhật phải phòng ngự ở ngay quần đảo Kuriles, tiếp cận đất Nhật
Trong lúc ấy, tư lệnh hạm đội Thái Bình Dương của Hoa Kỳ ra nhật lệnh: "Tiến công nối tiếp tiến công".
Sau Guadalcanal, quân Mỹ tiến từ đảo này sang đảo khác trong quần đảo  Salomons, chiếm New Georgia và đe dọa đảo Bougainville, thủ đô của hải quân Nhật ở Nam Thái Bình Dương. Ngày 18-4, trong chuyến bay thị sát tình hình chiến sự ở đây, chiếc máy bay của đô đốc Yamamoto bị không quân Mỹ bắn rơi. Việc đô đốc Yamamoto tử trận làm chấn động toàn thể quân lực Hoàng gia Nhật.
Trong cuộc hội kiến ngày 30-6-1943, Nhật hoàng Hirohito nói với thủ tướng Tojo và Bộ tổng tham mưu quân lực: Các khanh cứ lặp đi, lặp lại là quân lực Thiên hoàng là một súc mạnh không thể chiến bại được. Nhưng mỗi khi địch quân đổ bộ lên đảo là các khanh thất trận. Các khanh có khả năng đẩy lui địch quân ở đâu không? Vậy các khanh nên thiết lập một giới tuyến phòng ngư, chứ nếu quân lục Hoàng gia lùi mãi, các nước trong cộng đồng Đại Đông Á sẽ hết tin ở Nhật Bản.
Trong tình hình đó, phong trào kháng chiến ở các nước tạm bị Nhật chiếm cũng bắt đầu lên cao
Logged

Hiên ngang trước cửu trùng
Lạnh lùng nhìn trần thế
LuuHuongSoai
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1111



« Trả lời #137 vào lúc: 05 Tháng Mười Hai, 2009, 10:47:59 pm »

 * Nêu cao chiêu bài Đại Đông Á

Nền tảng chính sách ngoại giao của Nhật ở châu á là mô hình "Khối thịnh vượng chung Đại Đông Á" được đề xướng từ năm 1940. Bởi thế, họ gọi cuộc chiến tranh hiện hành là "Chiến tranh Đại Đông Á". Thực ra, đó chỉ là một chiêu bài để che đậy sự xâm lược. Khi đang thắng thế, chính phủ Nhật ít nhắc đến tinh thần Đại Đông Á này. Nhưng trong tình thế khó khăn từ đầu năm 1943, họ lại phải nêu cao chiêu bài ấy. Thủ tướng Tojo nhận thấy rằng nếu Nhật đang thất bại trên chiến trường, phải tìm sự thành công trên chính trường. Điều này vừa có lợi cho Nhật vừa ổn định vị trí của cá nhân ông trong giới quân phiệt và trước mắt là Nhật hoàng.
Vào đầu tháng 7-1943, thủ tướng Tojo đến Singapore, không phải để duyệt xét tình hình quân sự mà là để gặp gỡ lãnh tụ các dân tộc Đông Nam Á tại thành Chiêu Nam này.
Người mà ông gặp đầu tiên là lãnh tụ Bamaw của Miến Điện. Tiến sĩ Bamaw, tốt nghiệp trường Cambridge (Anh quốc) vào năm 1940, làm thủ tướng chính phủ tự trị xứ Miến Điện. Một hôm ông ta nói trước Quốc hội Miến rằng: "Thời đệ nhất thế chiến, nước Anh kêu gọi các thuộc địa đóng góp của và người vào chiến tranh bảo vệ Anh quốc với nhũng lời hứa hẹn mĩ miều. Nhưng sau đó, chúng ta thấy gì? Bây giờ cũng vậy. Đang chiến đấu chống Đức, nước Anh cho rằng mình thực hiện nghĩa vụ cao cả là bảo vệ các tiểu quốc. Vậy nếu thắng Đức rồi, các tiểu quốc, như Miến Điện sẽ ra sao? Tôi đề nghị người da vàng chúng ta hãy để cho người da trắng nói chuyện với nhau bằng súng đạn. Ta chớ có nhảy vào, thiệt thân mà chẳng rút ra được điều lợi nào".
Thế là ông ta bị Anh bắt bỏ tù. Khi quân Nhật tiến vào Miến Điện, ông ta thoát khỏi tù và thành lập một khối kêu gọi độc lập cho Miến Điện. Tokyo đồng ý điều này. Một hiến pháp được soạn thảo ra, vừa dân chủ vừa độc tài. Dân chủ ở chỗ có bầu cử, có đại diện dân. Còn độc tài ở chỗ tổ chức Naingandew Adipadi lãnh đạo đất nước và châm ngôn của nước này là: Một huyết thống - Một tiếng nói - Một lãnh tụ.
Để làm quà cho quốc gia mới này, Tojo tuyên bố trao trả một phần lớn lãnh thổ Shan lại cho Miến Điện (1)

(1) Phần còn lại Nhật trả cho Thái Lan làm quà, vì Thái Lan có công làm đồng minh cho Nhật.
Logged

Hiên ngang trước cửu trùng
Lạnh lùng nhìn trần thế
LuuHuongSoai
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1111



« Trả lời #138 vào lúc: 05 Tháng Mười Hai, 2009, 10:48:52 pm »

Tojo còn gặp Subhas Chandra Bose, người học trò của Gandhi, người tổ chức của cuộc tổng đình công trong phong trào đấu tranh không bạo động chống Anh. Nhưng khác với Nehru và Gandhi, ông ta không tin rằng với những biện pháp không bạo động có thể thắng được nước Anh. Ông ta cho rằng độc lập là một cái gì cần phải đổ máu để giành lại Vì vậy, ông ta sớm ngả về phía Nhật, coi Nhật như một cơ hội, một phương tiện để Ấn Độ giành lại độc lập. Người Nhật cho phép ông ta đến Singapore, Mã Lai để tuyển mộ quân đội trong số những sĩ quan và binh sĩ Ấn trước kia phục vụ trong quân đội Anh nay bị bắt làm tù binh.
Trong một cuộc tập họp tù-hàng binh Ấn Độ ông ta diễn thuyết:
"Hỡi các bạn, khi bắt đầu chiến cuộc người Đức hô to: Tiến về Paris! Tiến về Pans! Còn người Nhật hô to khẩu hiệu: Tiến về Singapore, tiến về Singapore ! Hôm nay tôi đề nghị với các bạn, chúng ta hãy hô khẩu hiệu: Tiến về Dehli, giải phóng xứ sở của ta khỏi tay đế quốc Anh".
Tojo giúp cho Chandra Bose vũ khí, quân trang, quân dụng để xây dựng hai lữ đoàn Ấn Độ, tham dự cuộc Tây tiến ở biên thùy Miến Điện hướng về ấn Độ. Lục lượng này về sau được gọi là đạo quân I.N.A.
Ngày 1-8-1943, vào lúc 10 giờ sáng, tướng Masakasu Kawabé, tư lệnh quân Nhật tại chiến trường Miến Điện làm lễ hạ cờ, trao trả "độc lập" lại cho Bamaw, chủ tịch nhà nước Miến Điện. Ngay sau đó, Miến Điện tuyên cáo tình trạng chiến tranh chống Anh-Mỹ.
Đến ngày 14-10-1943, Nhật trả "độc lập" cho Philippines, với Jozé Laurel làm quốc trưởng. Trong bài diễn văn ra mắt quốc dân, ông ta nói: "Đức Chúa trời với sự sáng suốt hằng có, sẽ không bao giờ bỏ rơi nước Nhật, không bao giờ bỏ rơi các dân tộc Đại Đông Á. Đức Chúa trời sẽ xuống với chúng ta, khóc với chúng ta và ngợi khen lòng dũng cảm của nhân dân Philippines cũng như các dân tộc Đại Đông Á, truyền thêm súc mạnh cho chúng ta để chúng ta tự giải phóng, hầu đem lại hạnh phúc cho con cháu chúng ta. Họ sẽ sống trong hạnh phúc và sung túc".
Một tuần lễ sau, chính phủ lâm thời giải phóng Ấn Độ, với Chandra Bose cầm đầu, được hình thành ở Singapore.
Lẽ tất nhiên, nhũng chính phủ mới hình thành này đều là tay sai của quân phiệt Nhật nhưng nó cũng có phần nào tác dụng. Vì về mặt hình thức, đây là lần đầu tiên, hơn 100 triệu dân vùng Đại Đông Á, thấy rằng người trực tiếp cai trị mình không phải là người da trắng.
Riêng về Indonesia, Tojo cho rằng "Indonesia có quá nhiều tài nguyên mà Nhật cần đến" chưa trả độc lập ngay được. Chiếm đảo Java, tư lệnh hành quân Nhật, tướng Hitoshi Imamura thả Achmed Sukarno ra khỏi tù, mời ông ta đến Đại bản doanh (dinh Toàn quyền cũ) và nói: "Tôi biết ông không phải là hạng người sẵn sàng nghe lệnh của tôi. Vì vậy tôi không ra lệnh gì cho ông cả. Tôi cũng không khuyên ông phải làm cái gì. Tất cả những gì tôi có thể hứa với ông là tôi sẽ đem lại sự thịnh cượng đến cho nhân dân Indonesia, nhưng tôi không thể hứa hai chữ "Độc lập" được.
Sukarno thành lập một ủy ban Tư vấn, gồm 15 người bản xứ và 5 người Nhật, giai đoạn đầu là để nghe những kiến nghị của các địa phương. Việc làm của Imamura bị chỉ trích, cho là "quá mềm yếu”
Logged

Hiên ngang trước cửu trùng
Lạnh lùng nhìn trần thế
LuuHuongSoai
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1111



« Trả lời #139 vào lúc: 05 Tháng Mười Hai, 2009, 10:50:26 pm »

* Hội nghị Đại Đông á

Đầu tháng 11-1943, cuộc "Hội nghị Đại Đông Á" được triệu tập ở Tokyo. Tham dự có các nước Thái Lan, Miến Điện, Philippines, Mãn Châu Quốc và chính quyền tay sai của Nhật ở Trung Hoa. Ấn Độ tham dự với tư cách là quan sát viên.
Ngày 5-11, hội nghị được triệu tập ở tòa nhà Quốc hội Nhật. Bàn hội nghị xếp thành hình bán nguyệt trên bàn trải dạ xanh. Với tư cách là chủ nhà, phái đoàn Nhật do Tojo cầm đầu ngồi ở giữa. Bên phải ông ta là phái đoàn Miến Điện (Bamaw cầm đầu), rồi Mãn Châu quốc (do Chang Chung Hui, thủ tướng, cầm đầu), Trung Quốc (do Uông Tinh Vệ cầm đầu). Phía trái là Thái Lan (do Hoàng thân Wan Waitha Yakon) rồi Philippines (do Jozé Laurel) và Ấn Độ.
Mở đầu, thủ tướng Tojo, trưởng phái đoàn Nhật phát biểu: "Trên nhiều phương diện, các nước Đại Đông Á được ràng buộc với nhau bởi mối liên hệ hữu cơ. Tôi tin chắc rằng, các nước này có chung một nhiệm vụ là bảo vệ khối thịnh vượng chung để xây dựng một trật tự mới, tiền đề phát huy sự sung túc của nhân dân trong vùng".
Kế đó là Uông Tinh Vệ, thủ tướng chính phủ Nam Kinh thân Nhật nói: "Trong cuộc chiến tranh Đại Đông Á, chúng ta muốn sự thịnh vượng chung. Tất cả các nước trong khối Đại Đông Á đều yêu nước của mình, thương yêu và giúp đỡ lân bang và yêu khối đoàn kết Đại Đông Á. Châm ngôn của chúng tôi ở Trung Hoa là: Trung Quốc hồi sinh - góp phần bảo vệ Đại Đông Á"
Diễn văn của Hoàng thân Wan Waitha Yakon (Thái Lan) không có gì đặc sắc. Kế đó là diễn văn củ José Laurel (Phihppines): "Khối đoàn kết keo sơn của các nước Đại Đông Á là một sức mạnh to lớn, không một sức mạnh nào cản nổi sự tiến tới của chúng ta trên con đường độc lập và giải phóng một tỉ người châu á để họ có cơ hội xây dựng cuộc sống của họ theo ý muốn” .
Nhung diễn văn của Bamaw (Miến Điện) và Chandra Bose (Ấn Độ) mới gây ấn tượng sâu sắc. Bamaw phát biểu: "Trong nhiều năm qua, tôi có những dòng ước mơ của người châu á. Máu châu á trong huyết quản của tôi kêu gọi họp đoàn với các dòng máu châu á khác. Trong những giấc mơ của tôi, dù thức hay ngủ, tôi luôn luôn nghe được tiếng gọi của Mẹ châu á kêu gọi sự họp đoàn giữa các đứa con.
Hôm nay, tôi nghe tiếng Mẹ châu á gọi một lần nữa, nhưng không phải trong giấc ngủ say mà là trong sự tỉnh táo, tôi đã nghe tiếng gọi ấy. Trong niềm xúc cảm dâng tràn, tôi đã nghe tiếng gọi ấy, ngay trong hội trường này, giữa thủ đô Hoa Anh đào nở. Nhũng lời phát biểu vừa qua, tôi có cảm tưởng, đó là tiếng gọi kết đoàn châu á.
Để đáp ứng lời kêu gọi ấy, chúng ta không thể nào chỉ suy nghĩ bằng khối óc mà thôi. Phải suy nghĩ bằng tất cả những gì tiềm ẩn sâu xa nhất trong huyết quản chúng ta. Từ đó chúng ta mới thấy được tính chất chung của á châu.
Toàn cõi châu Á là một. Toàn cõi châu á là một dòng máu, một niềm đau khổ chung, một kẻ thù bóc lột chung, một hoài bão chung: Độc lập. Cách đây vài năm, các dân tộc châu á sống trong một thế giới khác Người ta tách biệt chúng ta với nhau và chúng ta không được biết gì về những người anh em bên kia thế giới thuộc dân tộc của một đế quốc khác và không ai dám nghĩ có ngày hôm nay. Hôm nay chúng ta đang xây dựng một thế giới mới, dựa trên công bằng, bình đẳng, sự giúp đỡ hỗ tương. Dựa trên nguyên lý chính yếu là sống và yêu thương người khác.
Trong nhiều thế hệ qua. Mẹ châu á đã đánh mất bầy con. May nhờ nước Đại Nhật Bản, người anh cả, chúng ta đã tiến lại được mẹ. Vậy, từ đây, chúng ta hây nắm tay nhau. Một ngàn triệu người châu á tiến về phía trước xây dựng một thế giới mới, thế giới của Tự Do, Hạnh Phúc và Sung Túc".
Logged

Hiên ngang trước cửu trùng
Lạnh lùng nhìn trần thế
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM