Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 12:44:12 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Cuộc chiến tranh Thái Bình Dương 1941-1945  (Đọc 190318 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
LuuHuongSoai
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1111



« Trả lời #160 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2009, 10:30:42 pm »

* Kính dâng Thiên hoàng lời tạ tội...

Sau ba ngày chiến đấu để giữ vững vị trí tại trung tâm Saipan và củng cố lại đội hình, tướng Holland Smith mở đợt tấn công mới để giành thắng lợi cuối cùng.
Ngày 22-6, 2 sư đoàn thủy quân lục chiến tấn công lên phía bắc, còn sư đoàn bộ binh 27 tiến về phía nam. Quân Nhật dựa vào núi rùng hiểm trở với nhiều hang động kín đáo để kháng cự quyết liệt. Bộ tư lệnh của tướng Saito cũng di chuyển từ hang này sang hang khác. Bộ binh Mĩ bị chặn lại ở một thung lũng vách cao, thẳng đúng, đầy rẫy hang động mà trung đoàn 136 Nhật chọn làm nơi tử thủ. Những trận ác chiến khốc hệt xảy ra ở nơi này, khiến cho mọi người gọi đây là "thung lũng tử thần". Quân Mĩ hành quân chậm chạp nhưng cuối cùng cũng tiến đến gần đỉnh Tapotchau, cứ điểm cuối cùng của Nhật.
Đêm 25 tháng 6, tướng Saito ra lệnh kiểm tra quân số còn lại. Quân Nhật tản mát khắp nơi ở miền Bắc đảo, nên các sĩ quan dưới quyền chỉ còn nắm được 1.200 quân và 3 xe tăng. Trước tình thế tuyệt vọng ấy, tướng Saito điện về Tokyo "xin kính dâng Thiên hoàng lời tạ tội sâu sắc vì chúng tôi không thể làm tốt hơn những gì mà chúng tôi đang làm. Trước khi xuất trận lần cuối cùng, toàn thể chúng tôi tâm hồn hướng về Hoàng cung và tung hô Vạn Tuế".
Ngày 30 tháng 6, bộ binh Mĩ đã lên đến đỉnh núi Tapotchau.
Ngày 5 tháng 7, thủy quân lục chiến Mĩ tiến đến bờ bắc Saipan.
Ngày 6-7, trong một hang lớn ở gần một vùng được gọi là « thung lũng Địa Ngục", tướng Saito và Bộ tham mưu họp bàn. Bên cạnh ông có thiếu tướng Igeta và đô đốc Nagumo. Ông ta ra lệnh: "Ngày mai, tập trung tất cả những ai còn chiến đấu được xuống núi để tấn công bọn Mĩ, đánh đến người cuối cùng".
Một sĩ quan tham mưu hỏi: "Trung tướng có tham gia với chúng tôi không?"
Đô dốc Nagumo trả lời thay: "Chúng tôi sẽ hara kiri (1), chúng tôi quyết định chết lúc 10 giờ sáng nay, các anh cho phép chúng tôi đi trước".
Thế là cả ba mổ bụng tự sát.

(1) Hara kiri (tiếng Nhật): tự sát bằng cách tự mổ bụng mình. Đó là cách bảo toàn danh dự của các võ sĩ đạo Nhật sau khi bị thua trận.
Logged

Hiên ngang trước cửu trùng
Lạnh lùng nhìn trần thế
LuuHuongSoai
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1111



« Trả lời #161 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2009, 10:31:11 pm »

Bốn giờ sáng ngày 7-7-1944, hơn 3 nghìn người Nhật, cả  binh lính và thường dân, với đủ loại vũ khí, từ súng trường, súng lục đến gươm và cả gậy tre vót nhọn xông đến bờ biển tiến công các hậu cứ quân Mĩ.
Họ tiến công vào vùng đóng quân của sư đoàn 27 bộ binh, tiến công tới tấp vào trung đoàn 105. Hết đợt này đến đợt khác họ lăn xả vào phòng tuyến Mĩ. Quân Mĩ chết 605 người, phía  Nhật bị giết gần hết, chỉ còn vài mươi người bị thương, ngất xỉu nên quân Mĩ đem về cứu sống.
Tại bệnh viện dã chiến trong hang động, khi quân Mỹ tiến 1 đến, đại úy bác sĩ  trưởng ra lệnh cho một nữ y tá ra đầu hàng. Còn ông ta và mọi người trong đó dùng lựu đạn tự sát. Vào lúc 16 giờ 15 ngày 9-7-1944, đô đốc Tumer điện báo về Bộ tư lệnh hải quân Hoa Kỳ là Saipan hoàn toàn nằm trong tay người Mĩ.

Chiến trường Saipan của Mĩ phải trả giá quá cao: 14.111 người chết, mất tích hoặc bị thương nặng. Phía Nhật, toàn thể quân trú phòng (hơn 30.000) chết hoặc tự sát. Khoảng 100 người bị bắt, số còn lại rút lui vào các hang động. Có người sống sót mãi cho đến hơn 15 năm sau khi chiến tranh chấm dứt.
Trong số gần 30.000 dân Nhật sống trên đảo, có khoảng 22.000 người tự sát tập thể bằng cách đúng từ trên các mỏm núi cao nhảy xuống biển (1).
Sau khi chiếm xong Saipan, quân Mĩ đánh chiếm các đảo Guam và Tinian. Trong vòng chưa đầy hai tuần lễ giao chiến (từ 20 đến 31-7) cả hai đảo đã thuộc về Hoa Kỳ
Chiếm được quần đảo Marianas, Hoa Kỳ đã giành được một thắng lợi chiến lược hết sức quan trọng. Saipan chỉ cách Tokyo 2.300 km. Thủ đô cũng như nhiều vùng lãnh thổ phía Nam Nhật Bản và các căn cứ Nhật ở Đài Loan, Philippines... đã nằm trong phạm vi oanh tạc của không lục Hoa Kỳ. Các sân bay ở Saipan, Tinain và Guam trở thành căn cứ của Tập đoàn không quân thứ 20 gồm toàn pháo đài bay hiện đại B.29 của Hoa Kỳ
Vài tháng sau ngày quân Mĩ chiếm Saipan, các pháo đài bay ấy sẽ bay đi ném bom nước Nhật.

(1) Bộ máy tuyên truyền của Tokyo đã làm cho dân Nhật tin rằng người Mỹ là bọn quỷ dữ, sẽ giết hết bất cứ người Nhật nào lọt vào tay chúng. Bởi thế, họ thà chết còn hơn để bị bắt. Hơn nữa, tự sát sau khi thất bại cũng là truyền thống võ sĩ đạo Nhật đã ăn sâu trong dân chúng. Đó cũng là cách bày tỏ lòng trung thành với Nhật Hoàng đến cùng.
Logged

Hiên ngang trước cửu trùng
Lạnh lùng nhìn trần thế
LuuHuongSoai
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1111



« Trả lời #162 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2009, 10:31:37 pm »

KHỦNG HOẢNG CHÍNH TRỊ Ở TOKYO

* Khó khăn chồng chất

Các chiến thắng giòn giã của Hoa Kỳ khiến cho Bộ tổng tham mưu quân lực Hoàng gia phải duyệt xét toàn bộ đường lối điều hành và khả năng sản xuất của guồng máy chiến tranh Nhật. Từ con số sản xuất 15.300 máy bay trong năm 1943, làm sao có thể sản xuất 45.000 máy bay trong năm 1944 mà riêng hải quân đã đòi hỏi cung ứng 26.000 chiếc? (1). Đó là chỉ riêng về máy bay mà thôi, còn thuốc men, quân trang, quân dụng ngày càng thiếu. Sản xuất không đủ, mà đến tận tay binh lính lại càng thiếu hơn vì cuộc chiến tranh tàu ngầm của Mĩ đánh chìm mọi tàu Nhật đi trên biển. Cuối cùng, số lượng tàu bè mà các cơ sở đóng tàu hạ thủy không thay thế được số bị chìm.
Chế độ "tuần lễ làm việc 7 ngày" được phát động. Trường học dồn lại, học sinh học ít giờ hơn. Số phụ nữ và trẻ em tham gia sản xuất nhiều hơn. Nhưng lương thục, thục phẩm, đồ dùng hàng ngày của nhân dân ngày càng khan hiếm. Báo chí hạn chế lại khổ báo và số trang. Mười ngàn điểm giải trí đóng cửa.
Sự thất bại của quân đội Nhật trên chiến trường đã ảnh hưởng trục tiếp đến đời sống của dân chúng.



(1) Số lượng máy bay thực sự sản xuất được của hai nước Nhật, Mỹ (đơn vị: chiếc)
               1942     1943       1944
Nhật       8.000    15.300    28.200
Mỹ         47.859  86.000    96.370
Logged

Hiên ngang trước cửu trùng
Lạnh lùng nhìn trần thế
LuuHuongSoai
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1111



« Trả lời #163 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2009, 10:32:09 pm »

* Thay ngựa giữa đường

Thủ tướng Tojo trở thành một đối trọng mà nhiều người đặt nghi vấn. Các chính khách và sĩ quan cao cấp cho rằng ông ta muốn trở thành một nhà độc tài. Nhất là sau ngày 21-2 khi ông ta buộc Tổng tham mưu trưởng lục quân, nguyên soái Gen Sugiyama từ chức và ông ta nắm luôn chức vụ này. Nhiều người cho rằng không thể kiêm nhiệm chức Thủ tướng (vai trò chính trị) với chúc Tổng tham mưu trưởng (vai trò quân sự). Thậm chí bạn thân của Tojo còn nói: "Thủ tướng không thấy sao? Đức thua là vì quốc trưởng Hitler giành quyền chỉ huy của các nhà quân sự”.
Tojo đáp: "Tôi rất kính nể quốc trưởng Hitler, nhung tôi không thấy có điểm gì giống nhau giữa ông ấy và tôi. Ông ấy là binh nhì còn tôi là tướng lãnh".
Một số nhà chính trị ở Nhật còn đi xa hơn nữa. Không những họ tố cáo sự bất tài của Tojo đưa nước Nhật vào thế kẹt, họ còn vận động mưu tìm hòa bình trước khi quá trễ. Nhiều lần phe quân nhân định mưu sát Tojo nhưng không thành công.
Sự thất thủ của đảo Saipan là thêm một vố nặng cho cuộc đời chính trị của Tojo. Cuối cùng Tojo tìm hoàng thân Kido, Chưởng ấn Hoàng gia, người đã đề nghị với Thiên hoàng đưa Tojo lên làm Thủ tướng năm 1941. Sau cuộc nói chuyện, Tojo thấy cần phải thay đổi nội các. Ngày 17-7 ông cách chức Bộ trưởng Hải quân của đô đốc Shimada, hi vọng làm vừa lòng nhũng kẻ chống đối với "vật tế thần" ấy.
Nhung đến khi mời đô đốc Yonai lên thay vào chức vụ đó, ông này từ chối. Tojo ý thúc được sự chống đối mãnh liệt đối với ông ta. Trong lúc ấy, Hội đồng Jushin (gồm những vị cựu thủ tướng Nhật) họp tại nhà Hoàng thân Konoye, cũng tỏ ra không tán thành việc cải tổ nửa vời.
Cuối cùng theo lời khuyên của bạn bè, ngày 18-7 Tojo bệ kiến Thiên hoàng xin từ chúc.
Xét vai trò quan trọng của Lục quân trong nước Nhật, Hội đồng Jushin đề nghị lên Thiên hoàng 3 nhân vật: Nguyên soái Terauchi (Tư lệnh chiến trường phương Nam), nguyên soái Hatta (Tư lệnh ở Trung Hoa) và đại tướng Kuniaki Koiso, Thống đốc Triều Tiên, thường được gọi là "con cọp xứ Triều Tiên".
Cuối cùng, Thiên hoàng chọn Koiso làm Thủ tướng.
Ở Bộ Tổng tham mưu quân lục Hoàng gia Tokyo, người ta chọn Tướng Yamashita, "con hùm xám Mã Lai" để chỉ huy chiến trường Philippines.
Logged

Hiên ngang trước cửu trùng
Lạnh lùng nhìn trần thế
LuuHuongSoai
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1111



« Trả lời #164 vào lúc: 07 Tháng Mười Hai, 2009, 12:20:08 am »

Chương VII
CHIẾN CUỘC GIÀNH QUẦN ĐẢO PHILIPPINES

CUỘC TẤN CÔNG BẮT ĐẦU

* Kế hoạch của đôi bên

Đối với đại tướng Mac Arthur, con đường đánh bại Nhật Bản dứt khoát phải đi qua Philippines và trận đánh ở đây có một vai trò then chốt. Do đó, sau khi chiếm xong New Guinea để làm bàn đạp, lại được chiến thắng Saipan của đô đốc Nimitz thôi thúc, Mac Arthur muốn tiến đánh ngay Philippines. Nhưng tại Washington ít có ai chia sẻ quan điểm của ông. Chẳng những giới lãnh đạo hải quân kiên quyết phản đối, mà Bộ Tổng tham mưu lục quân cũng không tán thành. Người ta cho rằng đổ bộ Đài Loan xong tiến đánh Okinawa là con đường ngắn nhất để tiến đến Nhật Bản.
Để bảo vệ quan điểm của mình, Mac Arthur đã điện về Washington: "Philippines là lãnh thổ thuộc Hoa Kỳ mà ở đó các lực lượng đơn độc của chúng ta đã bị đánh bại (năm 1942 - TG). Trên thực tế, chúng ta đã không đủ khả năng giữ lời cam kết đối với cộng đồng 17.000.000 người Philippines luôn trung thành với nước Mĩ rằng sẽ luôn luôn bảo vệ họ.
Nay, nếu chúng ta vẫn không tiến hành giải phóng họ khỏi tay kẻ thù trong thời gian sớm nhất có thể được, thì người Philippines sẽ tin rằng người Mĩ không khi nào chịu hi sinh xương máu cho họ. Đó sẽ là một thất bại quan trọng về tâm lí và chính trị đối với Hoa Kỳ trong nhiều năm sau (1). Dĩ nhiên, lập luận trên còn chứa đụng cả vấn đề danh dự cá nhân của Mac Arthur. Đã thua chạy khỏi Philippines hồi đầu năm 1942, giờ đây ông muốn rửa mối nhục đó trong vai trò người giải phóng Philippines bằng chiến thắng.

(1) John Toland. The Rising sun, Ran dom house, New York 1971: tr 599-600.
Logged

Hiên ngang trước cửu trùng
Lạnh lùng nhìn trần thế
LuuHuongSoai
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1111



« Trả lời #165 vào lúc: 07 Tháng Mười Hai, 2009, 12:20:42 am »

Nhưng đại tướng G.Marshall, Tổng tham mưu trưởng lục quân đã nhắc nhở Mac Arthur một cách dứt khoát rằng “không được để những xúc cảm cá nhân và những vấn đề chính trị ở Philippines" che lấp mục đích trên hết của chiến tranh là giành chiến thắng bằng con đường ngắn nhất. Ông cũng lí giải rằng "bỏ qua" không có nghĩa là “bỏ rơi" dân chúng Philippines. Cơ may đến với Mac Arthur khi ông được mời đến Hawaii hội đàm với đích thân Tổng thống và đô đốc Nimitz ngày 26-7.
Thục hiện nghị quyết của Đảng Dân chủ muốn "Tổng thống phát huy vai trò Tổng tư lệnh tối cao của lục quân và hải quân Hoa Kỳ", lần này F.D.Roosevelt trực tiếp làm việc với hai Tư lệnh chiến trường mà không đem theo các tướng Marshall, Arnold hay đô đốc King như thường lệ.
Chỉ tay vào đảo Minđanao (phía Nam Philippines) trên bản đồ, Tổng thống hỏi Mac Arthur. "Này Douglas! Từ đây rồi chúng ta sẽ tiến tới đâu?" Mac Arthur đáp: "Thưa Tổng thống, đến Leyte và tiếp đó là Luzon!". Rồi ông trình bày tỉ mỉ kế hoạch hành quân chiếm Philippines. Đô đốc Nimitz quyết hệt phản bác kế hoạch đó để chứng minh rằng đổ bộ Đài Loan là phương án tối ưu. Tổng thống Roosevelt cố làm cho quan điểm của đôi bên xích lại gần nhau. Sau cùng, chính Nimitz cũng đồng ý với Mac Arthur rằng danh dự quốc gia cũng như yêu cầu chiến lược đòi hỏi phải giải phóng Philippines trước khi đổ bộ Đài Loan. Kế hoạch tấn công Philippines coi như đã được Tổng thống phê chuẩn. Đại tướng Mac Arthur sẽ lãnh đạo toàn bộ việc thực hiện kế hoạch với sự phối hợp và yểm trợ của hải quân thuộc quyền đô đốc Nimitz .
Logged

Hiên ngang trước cửu trùng
Lạnh lùng nhìn trần thế
LuuHuongSoai
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1111



« Trả lời #166 vào lúc: 07 Tháng Mười Hai, 2009, 12:20:58 am »

Trong lúc người Mĩ còn đang lựa chọn phương án tấn công thì Bộ Tổng tham mưu lục quân cũng như hải quân Hoàng gia Nhật đã cho ra dời kế hoạch mang tên "Chiến dịch Sho-Go" (Chiến thắng). Đây thục chất là một kế hoạch phòng thủ từ xa đến gần. Đoán biết chính xác ý đồ chiến lược của người Mĩ, ngươi Nhật dự định đánh địch đổ bộ ở 4 khu vục: Philippines, Đài Loan - Okinawa, chính quốc Nhật Bản và quần đảo Kurile ở phía Bắc. Phần 1 của kế hoạch này (mang tên Sho-l) chính là chiến dịch phòng thủ Philippines được coi là trận đánh quyết định sẽ diễn ra trên cả mặt đất và trên biển.
Nhưng có nhiều ý kiến khác nhau về chiến thuật bố phòng ở Philippines. Bộ tham mưu đạo quân phương Nam có ý định đánh bại địch ở nơi đầu tiên mà chúng đổ bộ. Bộ Tổng tham mưu lục quân ở Tokyo bác bỏ quan điểm đó. Họ cho rằng khó có thể biết được chính xác nơi nào quân Mĩ sẽ đổ bộ đầu tiên.  Tốt nhất là nên tập trung tất cả các lực lượng còn đang trú đóng rải rác trên khắp các quần đảo về hòn đảo lớn nhất và quan trọng nhất là Luzon, nơi có điều kiện phòng thủ tốt nhất. Còn nguyên soái Terauchi, tổng tư lệnh chiến trường phương Nam thì đoán chắc với Tokyo rằng lực lượng không quân thuộc quyền ông đủ sức đánh chìm hầu hết các đoàn tàu địch di chuyển trên vùng biển quanh Philippines trước khi chúng kịp đến khu đổ bộ. Nhưng trung tướng Shigenon Kuroda, tư lệnh quân đội Nhật tại Philippines và tập đoàn quân 4 đồn trú tại địa phương phát triển từ quân đoàn 14 lại khẳng định rằng điều đó chỉ đúng trên lí thuyết. Khi so sánh trên thục tế với không quân Mĩ thì không quân Nhật ở đây không làm được điều đó thậm chí cũng không thể "đánh địch ngay tại bãi đổ bộ" như lý thuyết thường dạy. Quân Nhật chỉ có thể thắng khi giao chiến trên mặt đất.
Sau cùng, Bộ Tổng tư lệnh tối cao ở Tokyo chỉ thị cho nguyên soái Terauchi xây dựng kế hoạch đề kháng theo chiều sâu. Tướng Tomoyuki Yamashita, người hùng Mã Lai" trước đây, được điều về làm tư lệnh quân Nhật tại Philippines thay cho tướng Kuroda. Trung tướng Sosaku Suzuki được trao nhiệm vụ bảo vệ đảo Mindanao và chiến trường phía Nam Philippines bằng quân đoàn 35 tinh nhuệ của ông.
Logged

Hiên ngang trước cửu trùng
Lạnh lùng nhìn trần thế
LuuHuongSoai
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1111



« Trả lời #167 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2009, 12:45:25 am »

* Khúc dạo đầu

Để chuẩn bị cho cuộc tiến công lớn sắp diễn ra, tướng Mac Arthur phối hợp với đô đốc Nimitz tiến hành một loạt các trận đánh nhằm bảo đảm cho các cuộc hành quân sắp tới, bao vây và tiêu hao lực lượng đề kháng của địch ở Philippines và những khu vực lân cận.
Ngày 6-9, các máy bay của hải quân Mĩ oanh tạc dữ dội căn cứ Nhật ở Palau (cách đảo Mindanao 650 km về phía Đông). Ngày 15-9-1944, quân Mĩ đổ bộ đánh chiếm các nhóm đảo Palau và Morotai (cách 350 km về phía đông Nam Mindanao). Giao tranh ác hệt dài ngày đã diễn ra, nhưng cuối cùng các căn cứ quân sự Nhật ở cả hai nơi đều lọt vào tay người Mĩ.
Giữa tháng 9 sang đầu tháng 10, không quân Mĩ liên tục đánh phá các căn cứ không quân và hải quân Nhật ờ Philippines, tập trung vào vịnh Manila (gần thủ đô Philippines trên đảo Luzon) và 5 sân bay trên đảo Mindanao. Kết quả là hơn 700 máy bay và trên 200 hạm tàu các loại của Nhật (nghĩa là hầu hết lực lượng không quân và hải quân Nhật ở Philippines) đã bị hủy diệt.
Trong tháng 10, Hoa Kỳ bắt đầu tàn phá các căn cứ Nhật trong một vùng cách Philippines 1.000 dặm về phía Bắc. Nhiệm vụ này chủ yếu do Lực lượng đặc nhiệm 38 của phó đô đốc Marc Mitscher trực thuộc hạm đội thứ 3 của đô đốc William Halsey thực hiện (1). Ngày 10-10, các máy bay xuất phát từ các tàu sân bay của Mitscher đã đánh đắm 58 hạm tàu cỡ nhỏ và tiêu diệt 89 máy bay Nhật ở ngoài khơi đảo Okinawa thuộc quần đảo Ryukyu của Nhật. Ngày hôm sau, Mitscher lại xuôi  Nam để oanh tạc Luzon (Philippines).

(1) Từ tháng 31943  hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ cải tổ thành hạm đội thứ 5 (do đô đốc Spruance làm tư lệnh) và hạm đội thứ 3 (đô đốc Halsey làm tư lệnh). Đô đốc Nimitz trở thành tư lệnh chiến trường Thái Bình Dương, trong đó bao gồm cả hai hạm đội này. Bên cạnh đó, có thêm hạm đội thứ 7 mới thành lập do chuẩn đô đốc Kinkaid chỉ huy, thuộc quyền tướng Mac Arthur.
Logged

Hiên ngang trước cửu trùng
Lạnh lùng nhìn trần thế
LuuHuongSoai
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1111



« Trả lời #168 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2009, 12:46:17 am »

Ngày 12-10, Lực lượng đặc nhiệm 38 mở cuộc tiến công căn cứ không quân rất lớn của Nhật trên đảo Đài Loan. Phó đô đốc Shigeru Fukudome, tư lệnh căn cứ không quân thứ 6 của Nhật ở đây đã cho 230 chiến đấu cơ bay lên đánh chặn. Nhưng hết đợt này đến đọt khác máy bay Mĩ đến bỏ bom đồng thời bắn rơi phần lớn các chiến đấu cơ Zéro đã lỗi thời lại do các phi công Nhật mới ra trường điều khiển. Đợt đầu, Fukudome mất 1/3 số máy bay, đợt 2 mất hết. Ngày hôm san không còn máy bay Nhật đánh chặn, các phi công Mĩ đã tàn phá nặng nề căn cứ không quân này.
Nhung Fukudome quyết không chịu bó tay. Đêm hôm sau, ông cho hơn 30 chiếc máy bay ném bom tiến đến hạm đội Mĩ. Các phi công Nhật đã đánh bom trúng tàu sân bay Franklin của Mĩ và tuần dương hạm Canberra của Úc. Cả hai chiếc bị thương phải kẻo về quần đảo Carolines để sửa chữa. Đêm sau nữa máy bay của Fukudome lại đánh bị thương tuần dương hạm Houston của Hoa Kỳ.
Sau khi đã hủy diệt hầu hết lực lượng không quân Nhật ở Đài Loan, Lực lượng đặc nhiệm 38 thẳng tiến về phía Nam để thục hiện nhiệm vụ chủ yếu của mình trong chiến dịch này: yểm trợ cho cuộc đổ bộ vào Phihppines.
Mất gần 600 máy bay mà chỉ làm bị thương 3 chiến hạm Hoa Kỳ, đó là một thất bại nặng của Nhật Bản. Nhưng bộ máy tuyên truyền Nhật đã miêu tả cuộc giao tranh ở Đài Loan ấy như “một chiến thắng lớn nhất trong lịch sử hải quân Nhật”, trong đó hạm đội Mĩ đã bị đánh tan tác với 11 tàu sân bay, 2 thiết giáp hạm, 3 tuần dương hạm, 1 khu trục hạm và hơn 100 máy bay Mĩ bị hủy diệt. Ngày 16-10, khi một trận bão lớn tràn qua Philippmes thì tại Tokyo, Nhật Hoàng mở tiệc ăn mừng chiến thắng.
Điều tai hại là quân Nhật ở Philippines cũng tin chắc vào "thắng lợi" này. Bởi thế, khi một đoàn tàu Mĩ gồm 2 tuần dương hạm, 4 khu trục hạm, 8 hải vận - khu trục hạm và 3 tàu vớt mìn vượt sóng to gió lớn tiến vào vịnh Leyte sáng ngày 17, thì Tham mưu trưởng sư đoàn 16 bảo vệ Leyte khẳng định rằng: đó là những gì còn lại của Hạm đội Mĩ bị đánh tan ở Đài Loan bị bão thổi giạt vào đây. Nhưng trung tướng Shiro Makmo, tư lệnh sư đoàn vẫn điện báo lên thượng cấp đồng thời ra lệnh báo động chiến đấu. Tại Bộ tư lệnh quân đoàn 35 đóng ở Cebu, thành phố trên một đảo nhỏ nằm giữa quần đảo Philippines, tướng Sosaku Suzuki, tư lệnh chiến trường phía Nam vẫn không tin rằng quân Mĩ sắp tiến công. Tướng Yamashita ở Manila cũng vậy: sau "thất bại nặng nề" ở Đài Loan, quân Mĩ khó có thể tấn công ngay được.
Logged

Hiên ngang trước cửu trùng
Lạnh lùng nhìn trần thế
LuuHuongSoai
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1111



« Trả lời #169 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2009, 12:46:49 am »

Nhưng tại các Bộ tổng tư lệnh lục quân cũng như hải quân ở Tokyo thì lại khác. Vì hiểu rõ thực chất của "chiến thắng" trên, họ nhanh chóng nhận ra đoàn chiến hạm Mỹ tiến vào vịnh Leyte chính là lực lượng tiền tiêu thám sát và chuẩn bị cho một cuộc đổ bộ lớn sắp diễn ra. Trư ngày 18, kế hoạch "Sho-1" được đưa ra thực hiện. Từ Đài Loan, đô đốc Toyoda, tư lệnh hạm đội Liên hợp ra lệnh cho Lực lượng đột kích thứ nhất của phó đô đốc Takeo Kurita rời Singapore tiến về Philippines. Ông lại điều Hạm đội Cơ động của phó đô đốc Jisaburo Ozawa, đang đậu tại biển Nội Hải (Nhật Bản) để bổ sung lực lượng sau trận Saipan, ra chiến trường. Tiếp đó, ông bay về Nhật Bản để có mặt ở Bộ tư lệnh hạm đội Liên hợp khi "trận đánh quyết định" ở Philippines bắt đầu. Cùng lúc đó, Bộ Tổng tư lệnh lục quân Nhật ra lệnh cho các lực lượng ở Philippines sẵn sàng chiến đấu.
Nhận được lệnh trên, nhưng các cấp chỉ huy Nhật ở Philippines vẫn còn hồ nghi. Trong 2 ngày, tướng Makino không nhận thêm được tin tức gì về hoạt động của đoàn tàu dịch. Máy bay trinh sát của ông cũng không phát hiện được điều gì mới lạ. Makino liền điện về Cebu cho tướng Suzuki: đoàn tàu Mĩ vào vịnh Leyte rất có thể chỉ là để tránh bão. Suzuki là một tướng tài. Ngay từ đầu tháng 9, ông đã nhận định rằng quân Mĩ sắp tấn công Philippines, và mục tiêu chủ yếu của họ chính là đảo Leyte. Bởi thế, ông đã cho sư đoàn 30 của mình trú đóng ở phía Bắc Mindanao, gần nơi tiếp giáp với Leyte để sẵn sàng tiếp ứng cho đảo này. Nhưng ngày 10-9, được tin báo rằng quân Mĩ đổ bộ ở cảng Davao phía Nam Mindanao, ông liền điều sư đoàn 30 về phía đó. Nhung tin này té ra chỉ do một ảo giác quan trắc tạo ra. Giờ đây lại được tin đoàn tàu Mĩ vào vịnh Leyte, sau khi quân Nhật vừa giáng cho hải quân Mĩ một đòn chí tử, ông lại càng do dự. Tin vào nhận định của Makino, ông chưa vội động binh.
Thật ra, đoàn tàu Mĩ đã đổ một tiểu đoàn sơn chiến lên chiếm hai hòn đảo nhỏ Suluan và Homonhon án ngữ lối ra vào vịnh đồng thời cho các đội biệt kích người nhái" lẻn vào thám sát kĩ càng các bãi đổ bộ trên bờ đảo Leyte. Những hoạt động này không được báo cho tướng Makino, vì số quân Nhật đồn trú trên hai đảo đó đã bị giết gần hết và trận bão vừa qua đã cắt đứt mọi đường dây liên lạc từ các đơn vị đến sở chỉ huy Sư đoàn mà ông không biết.
Logged

Hiên ngang trước cửu trùng
Lạnh lùng nhìn trần thế
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM