trachvandung
Cựu chiến binh

Bài viết: 747
|
 |
« Trả lời #90 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2008, 01:59:50 pm » |
|
Triết lý cà-phê đen
Đó là một người đàn ông cao lớn, phương phi, đẹp lão, tóc bạc gần hết, nước da hồng hào, có cách nói chuyện cuốn hút và tiếng cười hào sảng, cái hào sảng chỉ có thể có được ở một tâm hồn yên tĩnh và siêu thoát. Nếu không có một vết thẹo thỉnh thoảng lại tấy đỏ, rò mủ ở bên má trái, dấu vết một lần bị tai nạn ô-tô cách đây đã nhiều năm, thì có thể nói ông là một mẫu mựïc khá hoàn chỉnh của tính cách, của phong độ đàn ông. Thật tiếc! Sáng sớm. Ông đang tập dưỡng sinh ở vườn hoa Hàng Đậu thì tôi đi đến. Vừa nhìn thấy cái dáng sừng sững của ông, tôi đã có ý tránh vì một lý do tế nhị đời thường nhưng rồi lại chính ông lên tiếng trước, tiếng nói ông mới sống động làm sao:
- Này, đi đâu đó? Tới đây tán dóc một tý đi!
Không còn cách nào khác, tôi đành tiến lại trước ông:
- Tưởng sau cái bài viết có động đến tên anh, anh phải cáu sườn ghê lắm, chứ đâu có tính anh lại vẫn gọi tôi vui vẻ thế nàỷ Một tiếng cười rất vang:
- Ông đánh giá bọn này xoàng quá đấy, ông nhà văn ạ! Cái gì nhỉ? Trong bài viết của ông có câu tôi vẫn còn nhớ: Gia đình ông tướng điều lệnh vẫn bán cà-phê, gia đình ông X đã cho thuê tháng một, hai triệu thì cũng nên cho thiên hạ có một vũng tối võng vãnh muỗi bay để tồn tại chứ - Đúng không? Vậy sao lại cáu sườn? Nói đúng đấy chứ. Và dù ông có nói không thật đúng một tý nhưng nó nêu bật được cái bản chất thì có gì đâu mà phải cáủ
Ông kéo tôi ngồi xuống chiếc ghế đá còn ướt sương đêm, nói tiếp:
- Dạo ấy mình lên mừng thọ anh Văn tám mươi tuổi. Vốn chỗ thân tình từ xưa, mình mới bỗ bã nói: "Hôm nay em đến chúc thọ với bốn tư cách. Một là, một quân nhân đến với một cựïu bộ trưởng, hai là, một thiếu tướng đến với một đại tướng, ba là, một đảng viên đến với một cựïu bí thư quân ủy, và bốn là, vơ. chồng em đến với anh". Tưởng nói thế là xong, ai dè anh ấy hỏi: "Thế cô ấy đâu mà chú đi một mình?". Lúng túng một lúc rồi mình đành trả lời thật: "Dạ! Cô ấy đang còn phải... bán cà-phê ạ?". Nghe vậy tưởng anh sẽ phiền trách, nhắc nhở nọ kia, nhưng không ngờ anh Văn lại vỗ vai mình cười: "Bán cà-phê thì sao nàỏ Có gì xấu hổ mà chú phải gượng gạo thế? Nói tôi chúc cô ấy bán chạy, làm ăn phát đạt". - Thế là ông tướng điều lệnh yên tâm đi sâu vào nghề? - Tôi hỏi. - Yên tâm quá đi chứ! Một danh tướng còn biết nói thế huống chi mình mới chỉ là một lễ tướng về hưu. Những năm tháng cuối đời, cố gắng giữ lại một chút cái lễ tướng đó chứ nhất định không rơi vào bẩn tướng, tham tướng hay quỳ tướng. Ông hiểu ý tôi nói không? Thôi, sáng trắng ra rồi, ông về tiệm cà-phê của tôi làm một ly đã, xem cà-phê tôi pha thế nào.
Đi dọc phố Nhà Binh, tôi ngắm nghía ông, khoan thai, mỗi bước đi vừa đúng bảy mươi nhăm phân như ngày nào ông hùng dũng trong bộ lễ phục cấp tướng đi như thế trên quảng trường Quốc Gia trong những ngày lễ trọng đại để làm một công tác báo cáo duyệt binh trước tướng Tổng tham mưu trưởng hay tướng tổng tư lệnh quân đội. Một chút tiểu sử tiếp tục trôi qua dáng đi của một thời lãng quên ấy: chiến tranh biên giới phía bắc bùng nổ, ông được điều về làm phó tư lệnh một quân khu trọng điểm. Xung đột hết, đáng lẽ đời làm tướng của ông sẽ còn thăng hoa nếu như không dính vào cái tai nạn giao thông quái ác ấy. Và ông về nghỉ mất sức. Vui vẻ nghỉ và thanh thản mở cái quán cà-phê này.
Đó là một cái quán nằm ở giữa phố, rộng chừng hai mươi mét vuông, kê vừa đủ bốn bộ bàn ghế mây xinh xắn. Bà chủ mang ra cho chúng tôi hai ly cà-phê đen bốc khói thơm lựïng, chưa cần uống đã có thể biết rằng đây là loại cà-phê thứ thiệt và được pha bằng bàn tay khéo léọ Đây là một người đàn bà chừng sáu mươi tuổi, người tầm thước, trên khuôn mặt nhẹ nhõm và trong giọng pha tạp một chút Huế, một chút Hà Nội, người ta vẫn còn nhận ra thấp thoáng cái vẻ xuân sắc một thời xưa kia. Cô y tá ho. Nguyễn hồi đó đã yêu và lấy anh trung đoàn trưởng cao lớn đẹp trai của chiến trường Bình Tri. Thiên và ăn ở với nhau cho đến tận bây giờ, khi anh đã vào tuổi 69 và cô đã ngấp nghé bước sang tuổi 60. - Tóm lại tôi là thằng ăn bám vợ suốt đời đấy ông ạ! - Nhìn theo bà vợ đi vào nhà trong, ông nói nhỏ. - Suốt những năm chung sống, dù ở nhà hay lang thang trận mạc, chả bao giờ bà ấy hỏi đến lương của tôi cả. Và bây giờ về hưu, bằng cái quán này, bà ấy lại nuôi tôi tiếp. Con cái lớn rồi, lấy chồng lấy vợ cả, không phải nuôi, còn mỗi thằng út cũng đang làm ở thủy sản, không phải lo nốt. Thế là sướng.
Tôi lại nhìn cái sướng của ông ở một khía cạnh khác. Hôm nay chủ nhật vơ. chồng con cái dường như có mặt đông đủ cả. Giống ông, những người con trai con gái bây giờ đều cao lớn đẹp đẽ, tạo nên cái vẻ hào hoa thanh lịch cổ xưa của Hà thành bên trong cái quán nhỏ nàỵ Ông hóm hỉnh pha trò, bà cười mủm mỉm. Con cái coi bố như bạn, nhưng sựï kính trọng lại toát ra từ cái nhìn, giọng nói. Tất cả đều ấm cúng, đều thuận hòa bên cạnh cái dòng đời cuộn chảy ngang ngửa và bạo liệt ở xung quanh.
Vãn khách, bà ngồi xuống góp chuyện với chúng tôi:
- Cái phòng này chúng tôi cũng cơi nới gần đâỵ Đã khối công ty, cơ sở đến xin thuê, tháng trả cũng bốn, năm trăm ngàn, nhưng ông ấy không nghẹ Ông bảo, nhà của mình mà toàn phải ra vào cổng sau, khách khứa cũng đi cổng sau. Cổng tập thể thì mất quyền quá, chưa nói đến chuyện người ta thuê rồi người ta làm đủ trò, đủ chuyện, mang tiếng. Thà ăn đói một chút mà nhà của mình, mình cứ thẳng lưng đi lại hơn. Tôi thấy có lý vì cả đời ông ấy, ông có đi cửa sau, có đi khom lưng bao giờ. Vậy tôi với thằng út quyết định mở quán. Buồn cười, quán mở rồi mà suốt mấy tháng đầu ông ấy có dám bước ra đây đâu, toàn ngồi lỳ ở trong. Ông ấy mặc cảm. Cũng tội, cả đời thét lác trước hàng quân, về già phải...
- Phải bưng bê, bà cứ nói thẳng rạ - Ông cắt lờị - Bắt đầu bưng cũng thấy ngọng tay lắm, mắt cứ phải nhìn tránh đi. Nay thấy thường. Tại sao nhi?? Tôi nghĩ, thiên hạ đã bưng bê cho mình bốn mươi năm nay rồi, bưng không công, nay mình bưng lại đã làm saỏ Sòng phẳng cõi nhân tình mà lại bưng có tiền nữa. Ly cà-phê đen 600 đồng, cà-phê nâu 1.000, được quá đi chứ. Nhưng nếu có ai vào đây mà kêu: "£! Ông thiếu tướng, cho xin một ly cà-phê" thì sao nàỏ Vẫn bưng nhưng sẽ lấy đắt gấp năm, bởi vì lúc ấy là thiếu tướng bê mất rồi.
Ông cất tiếng cười sảng khoái, cái cười đã đạt đến độ thiền của khả năng tựï biết, tựï giễu cợt mình.
- Khách khứa đến đây có phức tạp không? - Tôi hỏi.
- Quán nào mà không phức tạp ở thời buổi này. Nhưng đoạn đầu thôi, về sau cái loại vào đây đập phá, hỏi đèn xanh, đèn mờ thấy ông chủ quá nghiêm nên tản dần đi. Lúc này chỉ còn lại dân nghiện cà-phê và bạn bè tướng tá thường lui tới.
- Thế bây giờ anh có định mở rộng quy mô, bán nhiều loại khác để nâng thu nhập không?
- Không! - Ông trả lời thật gọn. - Đủ rồi, giàu làm gì. ở đời cốt ở chữ nhàn. Lộc vào ăn lăn tăn, mất đi lăn tăn là bền nhất. Đừng thái quá, hao tổn tâm lựïc mà có khi lại rước họa vào người. Cái luật bù trừ nó khắc nghiệt lắm ông ơi! Tôi lúc này sống thấy rất khỏe. Sáng trưa giúp bà ấy chút ít, chiều ra câu lạc bô. đánh vài séc quần vợt, tối đọc báo, có bạn thì làm vài ván tổ tôm, yên tĩnh, chẳng ham hố gì, thỉnh thoảng tham gia công tác "dân phố". Có thêm tiền thì khi thăm con, thăm cháu, thăm bạn bè ở tỉnh xa, vậy thôi. Thế cũng là một cuộc đời, phải không ông?
- Nghe nói vừa rồi anh lại vào viện?
- ờ, vẫn vết thương cũ. Này! - Miệng ông nở một cái cười thật hóm - Nằm cùng phòng mình cũng có hai ông tướng. Một ông thì khách ra vào thăm hỏi tíu tít. Một ông vắng tanh, tối ngày chỉ nằm chèo khoeo. Hai ông cùng cấp, lại đã cùng về hưu. Cớ sao vậỷ Để cho nhà văn tựï hiểu. Ciêng mình thì mình nghĩ: cái uy của người làm tướng chính là ở tâm đức, cách ăn ở với cuộc đời. Cái tâm đức của anh khi đương quyền thế nào thì khi nghỉ, khi hưu, anh sẽ gặt hái đúng như thế. - Thế còn anh? Khách tới thăm nhiều hay ít?
- Hỏi kinh chưa? - Ông cười - Vừa nhiều vừa ít.
Có nghĩa là mình luôn luôn có kẻ ghét người yêu. Vậy mới đúng là mình. Ghét cả, mình bằng không. Yêu cả, mình cũng bằng không. Đúng không?
- Dạo này ông tướng điều lệnh đâm ra hay triết lý - Tôi nói vui.
- Triết lý chứ. Nhưng ở tuổi này, mình chỉ biết triết lý chắt từ cuộc sống. Thôi uống đi! Nguội hết bây giờ. Ngon không? - Quá ngon. Anh chị pha kiểu gì thế? Chợt nhớ một ly cà-phê thời Pháp của ông Nhân.
- Kiểu gì à? Kiểu pha cho khách cũng như pha cho chính mình. Bởi lẽ chỉ có trân trọng con người thì con người mới trân trọng lại mình. Tôi sẽ chỉ bán cà-phê đen. Tay mình pha sạch, khách cà-phê đen cũng là khách sạch và - Giọng ông trầm lắng hẳn xuống và ông có để ý không? Trong các loại thức uống, có lẽ chỉ có thứ này là thanh sạch nhất.
Tinh chất, không pha tạp, nhìn thì đen, mới uống vào thì đắng nhưng ngọt mãi, thơm mãi về sau. Triết lý về cà-phê đen của tôi là như vậy. Tôi bắt tay ông đứng dậy ra về. Giờ này, đường sá đang gầm gào tiếng xe máy và dòng người hối hả xuôi ngược như một dòng bụi đỏ đục ngầu
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
trachvandung
Cựu chiến binh

Bài viết: 747
|
 |
« Trả lời #91 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2008, 02:01:20 pm » |
|
Lỗi không phải tại rượu
Cho đến bây giờ đã ba năm trôi qua rồi mà chị vẫn không giận, không trách gì người ấy. Chỉ thoáng buồn. Một nỗi buồn ngọt dịu như lần nào đó đi giữa đồng bưng đưa hạt lúa còn ngậm sữa lên cắn chắt cho cái hương vị làm đòng của nó cứ đọng lại mãi trong miệng. Nhưng chị nhớ. Nhớ như câu chuyện lạ lùng không thể hiểu được ấy mới chỉ xảy ra ngày hôm qua, hôm nay... Đó là một buổi tối chị phải tiếp một đoàn khách ở ngoài Bộ vừa mới vào. Ôi dào! Cái sự tiếp khách này có cái gì là mới đâu, năm nào chả tiếp, tháng nào chả tiếp, tiếp đến mòn chân, đến mệt mỏi, đến thành chiếu lệ, cố cười, cố nói cho qua đi để rồi lại trở về công việc quá sức bận rộn của mình. Khách không đến thì buồn, thì như cái anh bị bỏ rơi chả ai thèm ngó ngàng tới; khách đến nhiều quá đôi khi lại thành ra cái tội, cái nợ nhưng không thể không tiếp. Và đối với chị, khách nào cũng giống khách nào, hỏi han một chập, ghi ghi chép chép một chập, ăn ăn uống uống một chập nữa rồi chia tay, chả để tâm để ý làm gì. Nhưng đoàn này thì không. Vì có người ấy. Thoạt gặp, chị cũng chả có ấn tượng gì đặc biệt: cao lớn, ăn vận đúng mốt, trẻ trung, có lẽ phải trẻ hơn chị đến dăm tuổi, mặt mày sáng láng... thì cũng giống như mọi vị khách thuộc các cơ quan cấp trên khác, mặt mày ai chả sáng láng, có gì lạ đâu. Cái khiến chị thoáng có chút để ý là đôi mắt của anh ta. Đàn ông đàn ang gì mà mắt cứ ướt như mắt đàn bà, to, sâu chăm chắm, nhìn đó mà cũng như không nhìn gì cả. Một đôi mắt lãnh cảm và cả đa cảm. Lúc giá băng lúc lại như có lửa cháy nồng nàn. Nếu chỉ là nồng nàn hay nồng nhiệt không thôi thì chị cũng chưa lấy đó làm điều, vì bao năm qua cái sự nồng nàn của kẻ khác giới này chị đã phải hứng chịu quá dư thừa rồi. Chị biết hình như mình đẹp. Nói đúng ra chính những cái nhìn ngây ngây của đủ các loại khách thập phương tứ xứ kia đã giúp cho chị chợt nhận ra điều đó. Thậm chí có cả những câu tán dương nghe lần đầu thấy chếnh choáng nhưng nghe nhiều lại thành ra nhàm, đại để: “Nhân danh một kẻ đã đi khắp Bắc - Trung - Nam, xin mạo muội đưa ra một nhận xét: có lẽ chị là một nữ giám đốc thuộc loại đẹp và quyến rũ vào hàng bậc nhất quốc gia”. Hay: “Thưa bà, cánh chim đầu đàn về xuất nhập khẩu vùng sông nước, giữa nhan sắc và tài năng kinh doanh là một cặp đối lập, cái này sẽ tiêu huỷ cái kia, vậy mà ở bà lại có thể dung hoà được, không tiêu huỷ mà lại còn tôn nhau lên, xin bái phục!”. Bữa tiệc tối nay cũng vậy, cũng những câu nói, những lời chúc đầy vẻ ga lăng đến quá quắt như thế, và nữ chủ nhân cũng chỉ mỉm cười. Một nét cười mỉm mang đầy chất thường trực vừa độ. Nhưng riêng người ấy lại chẳng nói câu nào. Uống rất nhiều mà lại không nói, vậy thì cái men rượu kia nó lặn đi đâu? Không nói nhưng đôi mắt ấy đã nói nhiều hơn tất cả. Một chút khao khát, một chút buồn thương, một chút tiếc nuối, một chút giận hờn và cả một chút kiêu bạc. Cái cung cách là lạ trong cả một đám thực khách xô bồ, ăn to nói to ấy đã gợi lên trong chị một chút tò mò, cả một chút áy náy e rằng hay là mình đã có cái gì sơ suất trong chuyện tiếp khách chăng. Với tất cả vẻ ân cần, mềm mại của chủ nhà, chị đem một li rượu đến gần anh, nói khẽ: - Chúc sức khỏe tiến sĩ. Hy vọng sau chuyến đi này, tiến sĩ sẽ giúp cho tổng công ty tôi được nhiều ý kiến quý giá. Không đáp lời, anh ta chỉ nâng chiếc ly lên, chạm nhẹ rồi uống cạn. Khi đáy ly không còn một giọt thì cũng là lúc đôi mắt của anh ta hiện ra, chờm ngợp, thăm thẳm, sát gần... Thoáng rùng mình trước cái nhìn xuyên thấu ấy, chị bỏ đi về chỗ. Đôi mắt anh ta nhìn theo, nhìn theo cho đến khi chị ngồi xuống với một chút chếnh choáng không tránh khỏi do ly rượu thứ mấy rồi không biết nữa buộc phải uống theo phép tắc ngoại giao đem lại. Chính cái chếnh choáng đó đã khiến chút kiêu kỳ của người đàn bà trong chị sống dậy. Nhìn à? Thích nhìn lắm à? Vậy thì nhìn đi, anh bạn trẻ! Lần đầu tiên chị chiếu thẳng cái nhìn vào anh, rất thẳng thắn và chắc mẩm rằng, cùng lắm chỉ vài giây là đôi mắt khó chịu kia sẽ phải cụp xuống hoặc nhìn lảng đi như không ít kẻ đã từng phải lảng đi. Nhưng không, chị nhầm, người đàn bà từng trải và đáo để trong chị đã nhầm. Đôi mắt kia vẫn rọi tới, chai lì, trấn áp, xô đẩy và lạ hơn nữa là trong đám sương mù rối tinh đó có cả một chút thương cảm, ái ngại lấp loá. Và rồi chính chị lại không chịu nổi phải nhìn lảng đi. Sao thế nhỉ? Sao hắn ta lại tự cho phép mình có thể có cái kiểu nhìn hỗn hào ấy nhỉ? Thương cảm và ái ngại à? Hay là đâu đó đã rò rỉ cái gia cảnh chẳng mấy hay ho của mình? Cái gia cảnh có một anh chồng vô tích sự suốt ngày dựa vào tiền bạc, uy thế của vợ để tự dìm đời mình trong các bàn nhậu. Suy nghĩ ấy khiến đầu óc chị oải ra, trống trải và thấy cái buổi tối nay sao quá dài, nặng nề, vô duyên và tẻ nhạt đến nỗi nếu như không phải là chủ nhà thì chị đã dứt khoát tìm cớ bỏ đi từ lâu rồi. Cau mày, chị nhìn quật trở lại đôi mắt kia với một cái nhìn thô mạnh như một câu mắng. Thừa. Đôi mắt ấy vẫn không thay đổi góc độ, thậm chí còn hun hút hơn, chỉ khác lần này cái ánh mắt ái ngại, thương cảm mà chị tưởng tượng ra kia không còn nữa, thay vào đó là một đốm lửa cháy lom đom đang toả ra hơi ấm dìu dịu. Đến đây thì thực sự không chịu nổi cái đốm sáng ma trơi quái ác ấy, chị quyết định gạt bỏ anh ta qua một bên và quay sang trao đổi với vị trưởng đoàn có cái đầu hói bốc đến tận ót. Câu chuyện chỉ dừng ở đó thôi thì chưa có điều gì xảy ra nếu như sau đó, theo lệ thường, đoàn khách được mời đến một điểm cách xa nội thành để thưởng thức một chương trình đờn ca tài tử. Lại rượu, lại ánh đèn mờ ảo, chỉ thêm những làn điệu mê hồn của một dòng dân ca đậm chất folklore có khả năng làm đắm chìm cảm xúc khách vãng lai. Và điều bất ngờ ấy đã xảy ra. Xảy ra khi đoàn khách nhất định cứ nồng nhiệt đòi chị với tư cách là chủ nhân phải đứng lên hát tặng họ một bài vọng cổ sáu câu hay bảy câu gì đó. Tất nhiên là chị khéo léo chối từ với lí do mấy bữa nay trời chuyển lạnh, bị khô cổ nhưng thực chất là chị sợ, sợ phải hát phải hò trước cái nhìn không chịu nổi của đôi mắt kia. Nhưng họ đâu có nghe, bảo khan cổ cũng được, khan hát kiểu khan, miễn là một lần được nghe chính bà tổng giám đốc nổi tiếng hát. Thật sự bối rối chưa biết tính sao thì người ấy đã đứng dậy, lặng lẽ cầm micrô, mỉm cười: “Nếu quý vị cho phép thì tôi xin được hát thay”. Nhiều tiếng hoan hô nổi lên, song họ đề nghị anh phải ca tài tử chứ không được hát tân nhạc, tân nhạc nghe đã chán ngấy rồi, đến đây thì phải ca theo điệu ở đây, nếu không ca được thì phải trả lại micrô cho người ta. Một thoáng lo ngại hiện lên trong mắt chị. Kiểu này chắc không thể từ chối được nữa rồi. Con người trông hiện đại nghe nói toàn đi Tây học thế kia, lại là dân Bắc chính hiệu thì làm sao có thể ca, biết gì mà ca. Chính lúc đó thì anh cất lời. Tất cả bỗng ngớ ra. Mọi tiếng lao xao nói cười biến mất. Anh ta hát thật, hay ai hát thế nhỉ? Đúng là sáu câu, đúng là một làn điệu vọng cổ ngọt lịm không sai đến một cái luyến láy nhỏ nhất. Anh ta đang ca bản “Văn Thiên Tường” quen thuộc mà người dẫu xa lạ với bản nhạc này thế nào chăng nữa cũng không thể không có chút động lòng xao xuyến trước cái âm ba thăm thẳm buồn thương của nó. Trong đó có chị. Chị đâu có lạ gì bản nhạc này, thậm chí chả mấy để tâm đến nó, nhưng không hiểu sao đêm nay nghe người ấy ca chị lại bị chấn động đến thế? Do giọng ca trầm ấm hay lại do chính đôi mắt kia, đôi mắt vẫn hướng về chị chăm chắm, tha thiết và day dứt như một lời tâm sự, như chỉ để cho một mình chị nghe, chỉ một mình chị thôi. Đôi mắt và lời ca đã ngào vào nhau làm một, cùng lúc tạo thành những con sóng nhỏ vỗ khe khẽ vào lòng chị. Cạnh chị, vị trưởng đoàn không giấu được vẻ tự hào, quay sang nói vừa như khoe vừa như lý giải trường hợp hy hữu này: “Tay ấy hồi đi bảo vệ ở Đức đã có dịp sống chung với một tốp nghiên cứu sinh toàn người Nam đó”. Nhưng chị không nghe thấy gì hết. Đôi mắt và giọng ca vẫn bủa vây, phong toả chặt lấy đầu óc chị. Phong toả mạnh đến nỗi, khi anh dứt giọng, giữa những tràng vỗ tay rầm rĩ, chị bất giác đứng dậy tìm cớ thoái thác rằng có chút vìệc ở văn phòng cần trao đổi qua điện thoại một chút, xin tất cả cứ tự nhiên. Vài tiếng lao xao, than phiền kể cả ngăn cản nổi lên nhưng rồi cuối cùng chị vẫn đi ra được khỏi phòng với nụ cười nhã nhặn, bối rối của người có lỗi. Đêm đờn ca mới được nửa chừng, trăng thanh gió mát, giọng ca liêu trai của cô gái miền Tây tiếp theo kia lại dìu dặt cất lên như giọng hát ma mị của nàng mĩ nhân ngư đang quyến rũ những chàng thuỷ thủ nhào người xuống biển, nên cái sự thiếu vắng chủ nhân kia chỉ hơi hẫng một chút chứ không hề làm giảm đi nét hào hứng trong bàn tiệc. Hào hứng đến nỗi sự thiếu vắng ngay sau đó của anh cũng chẳng khiến cho ai để ý. Vui mà. Vui quá mà. Bay hai ngàn cây số vào đây được hưởng một cảnh sắc đồng quê yên ả thế này, được nếm đủ các thứ vật ngon của lạ thế này, cứ vui thả sức đi, cần chi đến chuyện ai còn ai khuyết. Cứ thoải mái! Anh không đi về phía chị vừa ra mà bước ngược lên một cửa ngách dẫn ra cái hành lang chạy vồng quanh căn nhà lợp lá. Hành lang hun hút gió. Hơi lạnh. Ngoài kia là dòng sông đang mơn man vỗ sóng. Anh bỗng đi chậm lại. Chị đang đứng đó, tựa nhẹ vào lan can, lặng lẽ, mờ nhoà, mỏng manh dưới một cái tán cây vú sữa toả rợp. Gió thổi mái tóc dài thiếu phụ bay khe khẽ về sau. Dừng lại một chút rồi anh nhẹ chân đi đến. Rất nhẹ. Nhận biết được điều đó hay đang mơ hồ chờ đợi điều đó không rõ nữa, chị khẽ rùng mình. Nhưng vẫn đứng im. Anh đã ở ngay bên cạnh, cao lớn, phải cao hơn chị một cái đầu, vẫn không nói không rằng. Từ thân thể trẻ trung, tráng kiện của anh, chị cảm thấy rõ một luồng hơi ấm nồng nàn ngai ngái rất lạ toả ra. Gió vẫn không ngừng thổi. Có con dế nào kêu thật ảo não dưới kia. Tiếng chị cố làm ra bình thản, thậm chí còn hơi lạnh lùng, bề trên nhưng vẫn không tránh được một độ rung nhè nhẹ: - Anh... anh không ngồi dự với mọi người nữa à?
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
trachvandung
Cựu chiến binh

Bài viết: 747
|
 |
« Trả lời #92 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2008, 02:01:56 pm » |
|
Một câu hỏi chả đâu vào đâu nhưng nếu anh trả lời ào ào trôi chảy, sáo mòn như hầu hết những người đàn ông khác thì chắc câu tiếp theo của chị sẽ là một sự lạnh lùng thật kiểu như anh vào đi, tôi đang bận, tôi hơi nhức đầu, tôi muốn ở một mình... nhưng không, chàng tiến sĩ vẫn chỉ im lặng, dõi cái nhìn ra xa phía mặt sông, làm như không hề có chị bên cạnh, không hề có chuyện anh ta cố tình theo chị ra đây. Quái quỷ, chị ngước mắt nhìn lên. Bất ngờ chạm phải đôi mắt anh đang nhìn xuống. Vẫn cái nhìn chờm ngợp, nồng nàn, thu hút. Như bị điện giật, dù cố cưỡng nhưng chị vẫn không tài nào đánh mắt thoát khỏi được cái nhìn đầy vẻ bao vây, phong toả và chân thành đến ai oán ấy. Trăng lu hơn, gió vẫn vỗ về, trời đêm vẫn se lạnh, tán vú sữa trên đầu sao dường như cũng đang sà xuống thấp thế, như đồng loã, như chở che, khẽ gọi... Bị chói, đôi mắt chị bất giác nhắm hờ lại, khuôn cằm hơi ngểnh lên. Và chỉ cần thế thôi, khuôn mặt rất đàn ông của chàng trai đã từ từ cúi xuống, cúi xuống gần hơn nữa và, đôi môi khô ráp của anh đã áp nhẹ lên bờ môi đang hé mở của chị từ lúc nào. Choáng người, chị vội đẩy anh ra, đẩy rất mạnh nhưng không kịp nữa rồi. Hai cánh tay đàn ông đã như hai gọng thép siết cứng chị lại. Ngạt thở, chị gần như lả đi... Đã lâu lắm rồi, phải kể từ cái ngày còn chưa lấy chồng, chị mới có được một nụ hôn say cuồng, đam mê, nóng rãy như thiêu đốt, như rút ruột rút gan như thế này. Đúng vào cái lúc toàn thân như tan chảy, như mụ mị không còn biết gì nữa, như sẵn sàng thả trôi cả hai mươi năm không tai tiếng, hai mươi năm nhịn miệng giữ gìn, hai mươi năm không có một ngày hạnh phúc cho nó muốn đi đâu thì đi thi một chút lí trí mỏng manh còn sót lại ở đâu đó khuất nẻo lắm trong tâm hồn đã khiến chị chợt tỉnh. Quằn mình ra khỏi vòng tay và đôi môi khô khát của anh, chị nói như nghẹn: - Trời!... Sao lại thế này?... Sao có thể thế này được?... Thay vì trả lời, tấm thân gần như trinh trắng của chị lại bị siết chặt trở lại và hơi thở nóng ran của chị lại bị một hơi thở khác nóng hơn phủ chụp lên. Chị lại quằn người ra, lần này thì nói như van như khóc: - Đừng... đừng? Tôi xin anh... Thôi, vào đi anh... Vào đi! Nhưng cánh tay của anh vẫn không nới rộng vòng ôm. Không nới rộng nhưng không siết ghì vào lòng nữa và bây giờ mới nói, một tiếng nói như vỡ ra tử một lồng ngực rớm máu: - Xin lỗi... ở chị có một cái gì đó khiến tôi không thể nào cưỡng lại được. Có thể tôi là một thằng rất tồi tệ, một thằng chả ra sao nhưng giây phút này tôi biết là tôi đang sống thực với lòng mình, rất thực, thực như cái điều tôi sắp nói ra đây: Tôi đã đi khắp mọi nơi trên Trái Đất này nhưng chỉ đến đây, trước chị, trước tất cả những gì có ở chị, tôi mới hiểu ra rằng, người đàn bà, cái mảnh thứ hai của cuộc đời tôi có lẽ giờ mới tìm được. Câu nói ấy một lần nữa lại khiến toàn thân chị muốn tan ra. Một câu nói không mới, hình như đã từng hơn một lần chị đã được nghe những từ đại loại như vậy rồi nhưng lần này nghe từ chính miệng anh sao lại khiến chị rung động mạnh đến thế. Như đưa như ru, như đưa lên rồi lại chìm xuống, chết lặng. Giây phút bồng bềnh, giằng xé và khổ đau ấy, chị biết người ấy đang nói thật. Nói sau khi đã được chị, có chị, dù chỉ là một nụ hôn khoảnh khắc và bất trắc thì không thể là một lời giả dối nhằm tìm đường tíếp cận khi chưa có gì. Và cả đôi mắt như đang cháy sáng lên kia nữa, tuyệt nhiên không thể là một đôi mắt giả nhân. Nước mắt chị bỗng chảy ra. Cả tuổi thiếu nữ lặn lội trong rừng chiến tranh, hoà bình đi học, học xong lấy chồng, rồi từ đó chỉ còn biết vùi đầu vào công vìệc và công vìệc, đã có khi nào tĩnh lặng được một chút để suy nghĩ mọi khía cạnh sâu xa về hạnh phúc, về thân phận, về cái lẽ cuối cùng của đời một người đàn bà đâu. Để rồi cùng với khối lượng công vìệc bộn bề, với triền miên thăng trầm lỗ lãi, với vinh quang và lòng tôn vinh đã được định vị mỗi lúc một chắc chắn trên thương trường, giữa lòng xã hội, cái phần mềm trái tim đàn bà trong chị cũng dần dà vô cảm, lạnh cứng theo cho đến tới nay, lúc này... - Tôi... tôi phải vào đây. Anh... anh cũng vào đi, kẻo người ta... Cũng đã lâu lắm rồi từ cái miệng chỉ quen với những âm vực quản lí, điều hành khô khan, chính xác của chị mới bật thốt ra những âm tiết đầy nữ tính e ấp như thế và rời nhanh ra khỏi anh, bước đi như chạy trốn. Anh vẫn đứng lại. Một mình châm thuốc hút, không ra vui cũng không ra buồn, lặng lẽ thay chị làm chiếc bóng tựa vào lan can. Sáng hôm sau, đoàn khách được mời đi thăm khu thuỷ sản nổi tiếng cả nước của chị trước khi có buổi làm vìệc chính thức để ngày sau đó đoàn còn phải lên xe chuyển đến một địa bàn khác theo kế hoạch. Chiếc canô màu trắng bay như đệm từ trường trên những con sóng xanh biếc. Nắng miền Tây mới chói chang làm sao. Nắng soi tỏ vào mọi ngóc ngách cảnh vật đêm hôm qua còn bí ẩn, mờ nhoà. Nắng rọi vào tận đáy mắt phủ phê sau một giấc ngủ đẫy của những vị khách sang trọng đến từ phố phường bụi bặm. Và nghiệt ngã thay, cái nắng quái ác ấy cũng làm hiện rõ trên khuôn mặt chị những nếp nhăn nho nhỏ, những dấu vết tàn phai, thoáng có chiều mệt mỏi không tránh khỏi của cái tuổi gần năm mươi. Những dấu vết mà tối qua dưới ánh đèn lung linh, trong cái lênh loang của men rượu không ai có thể nhận ra được, kể cả anh. Để giờ đây anh đang ngồi trước chị, chỉ cách nhau một cái đầu gối, đôi mắt vẫn mở to, hun hút, chỉ khác là đôi mắt ấy không đắm nhìn vào chị như tối qua nữa mà nó bối rối lảng đi phía khác, phía mặt sông rồi dừng hẳn ở đó như tối qua giữa hai người chưa hề có một chuyện gì xảy ra cả. Còn cái nhìn của chị, một cái nhìn ẩn sau đôi mắt trũng sâu cũng ngược hoàn toàn lại với với tối hôm qua, chốc chốc lại kín đáo săn tìm ánh mắt anh. Nhưng không một lần nào tìm được. Đủ cảm nhận ra điều ấy, đôi mắt chị hơi tối lại, trên đôi môi không thoa son thoáng một nét cười cay cay và nhẫn chịu. Nhưng chị vẫn không thể không nhìn vào khuôn mặt anh. Dưới ánh sáng trời, khuôn mặt ấy càng tôn rõ vẻ trẻ trung, sắc nét và đẹp đẽ hơn cả khi đêm. Một khuôn mặt giờ đây sao thật vô cảm, hững hờ. Chao ôi! Chị khẽ cúi xuống nhìn vào bàn tay có những ngón đã bắt đầu có chiều khô héo của mình. Bóng đêm giữ gìn tất cả nhưng bóng đêm cũng đã xé rách tất cả. Đôi mắt kia vẫn buông thả đi đâu. Biết là không thể săn tìm được nữa. Càng biết là cái nồng nàn, thiêu đốt trong đôi mắt kia đã hoàn toàn nguội lạnh, vẻ như không chịu đựng nổi cái ngột ngạt ấy, chị đứng dậy, bước ra đầu boong làm như cuộc hành trình sắp đến đích. Nhưng phía trước dòng sông vẫn trải dài xa ngái và theo lịch trình đã được thông báo, ít nhất cũng phải nửa tiếng nữa canô mới cập bến. Đến lúc ấy anh mới đuổi cái nhìn theo chị. Người đàn bà vẫn đứng đó, mỏng manh, dong dỏng, mái tóc dài vẫn bay về sau, vẫn lặng thầm mà sao vẻ quyến rũ ma mị đêm qua đã biến đi đâu tất cả! Một chút ân hận và xa xót nhen lên, anh cũng lặng lẽ đứng dậy đi đến cạnh chị trước những con mắt vô tâm không hề đoán nhận ra điều gì của các chuyên viên kinh tế cấp cao còn đang mải phóng cái nhìn háo hức ra hai bên bờ sông ràn rạt gió nắng. Giống như tối qua, cũng đã nhận ra anh, cũng đã biết cái thân hình trẻ trung tráng kiện kia đang ở ngay sát ngay cạnh mình nhưng ở chị không còn một cái rùng mình nào xuất hiện nữa. Và rồi chính anh lại là người buộc phải lên tiếng trước: - Xin... xin lỗi chị về chuyện hôm qua. Tôi... tôi chỉ... Không biết có nghe được những âm tiết khổ sở trái ngược hẳn với cách nói tự tin vốn có của anh hay không mà chị vẫn không hề quay lại, chỉ đưa tay chỉ về phía trước, nói to một câu như để cho tất cả mọi người cùng nghe: - Vâng, thành phố đã có dự án đến năm 2005 sẽ cải tạo toàn bộ khu vực hai bên sông này thành một khu tổng hợp du lịch và kinh tế, vốn sẽ vay ngắn hạn của ODA... Anh khẽ lặng người đi, chưng hửng và dù muốn cũng không thể nói thêm được điều gì nữa, đành trở lại vẻ im lặng nhọc nhằn. Chính lúc đó, tiếng chị lại vang lên bên tai anh, vừa đủ độ cho một người nghe: - Không sao đâu... Chỉ có điều hôm qua tôi đã... đã mất ngủ suốt đêm. Nói rồi, chị quay người bước trở lại khoang, vẫn cái cười lịch lãm với người này kẻ khác như câu nói vừa rồi chỉ là lời của gió vọng về chứ không phải là của chị. Chỉ còn người đàn ông cao lớn là đứng lại trên boong, bất giác thả cái nhìn xuống nước. Dưới đó, muôn ngàn hoa nắng vẫn không thôi nhảy nhót trên những lưng sóng nhấp nhô, miệt mài.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
trachvandung
Cựu chiến binh

Bài viết: 747
|
 |
« Trả lời #93 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2008, 02:04:05 pm » |
|
Tây Bắc tìm em khắp núi rừng Một sáng tác mới của Chu Lai với mô típ quen thuộc: cuộc gặp gỡ tình cờ và lãng mạn của chàng lính trẻ và cô gái miền sơn cước, sự đổi thay lạ lùng của những số phận ngỡ chẳng "duyên cớ" gì ám ảnh nhau. Nhưng, sức hấp dẫn của truyện ngắn này nằm ở ngòi bút phóng khoáng, tình cảm chân thật, sự nối kết ngọt ngào giữa quá khứ và hiện tại của một vùng đất lịch sử. Điện Biên năm một ngàn chín trăm sáu ba. Tức là cách đây đúng bốn mươi mốt năm. Khi đó tôi còn là một chú lính văn công 18 tuổi, chú lính trẻ nhất trong đoàn ca múa Tổng cục Chính trị. Nhưng cái sự mơ mộng và đa sầu đa cảm lại không còn trẻ nữa. Có lẽ chính vì thế mà tôi đã quyết chọn thể loại lính nghệ này để nhằm thỏa mãn cái sự được lãng du, được gặp nhiều người nhiều cảnh, được bồi hồi, được xúc cảm, được xốn xang của mình. Và tôi đã gặp một con người mà cho đến tận bây giờ vẫn không thể nào quên được. Đó là một cô gái Thái chừng mười sáu, mười bảy tuổi. Vâng, lúc ấy chỉ biết là Thái thôi chứ có phân biệt thế nào là Thái trắng với Thái đen. Đối với tôi tất cả các cô đều trắng hết, trắng như hoa ban, trắng đến chênh chao cả núi rừng và hồng tươi như táo chín. Đáng lẽ cái sự gặp này sẽ không xảy ra nếu như đêm đó chiếc xe tải chở phục trang của đoàn không bị Patine phải nằm lại giữa một đỉnh đèo chỉ còn cách cánh đồng Mường Thanh có hơn chục cây số. Thế mới đau. Hồi đó đường từ Hà Nội lên Điện Biên xấu lắm, đi nhanh cũng phải mất bốn ngày, đi rỉ rả có khi còn hơn. Cho nên cái chuyện Patine đã trở thành chuyện thường ngày xảy ra như cơm bữa. Chiều muộn, cảnh vật nhòa dần, căng mắt nhìn chỉ thấy những dãy núi phủ mây trắng dựng ngang trời. Và quạnh vắng. Và mênh mang. Tưởng như nơi tận cùng thế giới đang hiện diện nơi đây. Gió mỗi lúc mỗi mạnh. Gió đồng bằng lạnh êm êm, gió núi buốt như cắt da cắt thịt. Dường như trong cơn gió đại ngàn đó có cả những bông tuyết bảng lảng bay về. Hai chú cháu, tôi và ông thợ điện tuổi đã ngoài năm mươi sau khi làm một bụng cơm ăn với măng rừng nấu thịt hộp Trung Quốc, buồn và lạnh quá bèn bảo nhau người thức canh chừng người lên xe ngủ. Nghe nói vùng này ban đêm thường có biệt kích bò ra hoạt động nên cái sự canh chừng là không thể thiếu được. Cả một xe phục trang dùng cho hết chuyến lưu diễn dài ngày, cháy một cái là coi như phá sản. Tôi nói ông chú tuổi già lên ngủ trước, còn tôi, tôi lại muốn một mình độc chiếm cái cảm xúc trước núi rừng hoang mạc và vô cùng vô tận này bên đống lửa nhỏ được đốt lên để chân tay khỏi lạnh cóng. Chính lúc đó thì từ trong sương em hiện ra như một nữ thần rừng khiến trái tim trong ngực tôi nghẹn lại, thắt bóp. Trẻ trung, quá trẻ, tươi tắn, tròn căng, cổ cao, nuột nà mà ở dưới xuôi có bói cũng không bao giờ thấy được cái gùi đầy sắn đè nặng xuống lưng và vài vệt mồ hôi lấm tấm trên trán đã chứng tỏ em vừa đi rừng hay đi nương về. Nhìn thấy tôi em tròn mắt, liền đó là một cái giọng trong vắt như tiếng chim rơi ra: - A lúi! Cái bộ đội bị hỏng xe à? - Hỏng. Cô gái đi đâu về mà tối thế? - Tôi hỏi mà chưa hết ngỡ ngàng. - Sao bộ đội không đi vào bản nhờ dân bản ra đẩy cho? - Không đẩy nổi đâu mà biết bản ở chỗ nào mà vào. Đơn vị bảo sáng mai sẽ cho xe đến kéo. - Thế bộ đội ở đây có một mình thôi à? - Một mình. Không hiểu sao tôi lại buột ra cái câu dối giá đến ngớ ngẩn ấy để rồi phải khổ sở cho đến tận bây giờ. Cô gái im lặng nhìn tôi một lát, cái nhìn như của nai mẹ nhìn nai con. Rồi khẽ thở dài: - Ngồi một mình buồn lắm, rét lắm, cho em ngồi với bộ đội nhé! - Ấy muộn rồi, cô gái không phải đi về bản à? Không tin ở tai mình, lại bung một câu hỏi mà chỉ mong được nghe câu trả lời ngược chiều. Nhưng cô chưa vội trả lời, khẽ vén cạp váy ngồi xuống, mắt hướng đăm đăm vào ánh lửa. Lửa táp lên mặt cô một mầu hồng như nắng và đôi mắt kia mới đẹp mới buồn làm sao. Cũng giống như đôi mắt của một nai con lạc đàn. - Nhà của cô có xa đây không? - Không xa đâu, chỉ chừng hai con dao quăng thôi. - Là bao nhiêu? Cứ dao quăng, dao quăng có khi đi cả ngày vẫn chưa hết một con - Tôi bật cười. Cô gái cũng khẽ cười rồi hỏi: - Bộ đội ăn gì chưa? Để nướng sắn em với bộ đội cùng ăn nhé! Sắn mới ngon lắm! Tất nhiên là tôi gật đầu. Lúc ấy đến bảo ăn bả chuột tôi cũng ăn chứ đừng nói đến sắn. Chao ôi, giữa đỉnh đèo đêm biên cương lại được cùng ngồi ăn sắn bên lửa hồng với một cô gái xinh đẹp như mơ từ đâu đậu xuống thế này thì còn gì lãng mạn bằng. Nhìn đôi bàn tay cầm dao quắm của cô khéo léo tuốt bóc đi những lần vỏ sắn xù xì mà bỗng thoáng rùng mình nghĩ đến những câu chuyện liêu trai của ông Bồ Tùng Linh. Giữa đèo đêm, một chiếc xe hỏng máy bỗng một cô gái đẹp như tiên từ trong rừng hiện ra dụ chàng lính trẻ vào cuộc yêu đương để rồi... Phải, biết đâu đấy. Với cảnh sắc ma quái này cái gì chả có thể xảy ra. Và cái cảm giác bồng bềnh hư thực đó chỉ thực sự tan biến khi em đưa tôi một khúc sắn đúng là sắn có hình khối, có mùi vị đã nướng chín thơm lựng, còn em, trên hàm răng nhóng nhánh nước như những hạt bắp nếp của em cũng đã lấm chấm những vụn than đen lấp lánh như sao trời. Em cười. Tôi cũng cười. Chưa bao giờ tôi lại được ăn những khúc sắn ngon như khúc sâm thế này. Không phải sắn nữa mà tôi như đang ăn đang uống đang nuốt cả cái cười tinh khiết, cái nhìn trinh nguyên của em vào tận đáy lòng mình. Sơn nữ ơi... Đời em như cánh chim chiều phiêu bạt từ đây vi vút trời mây... Sơn nữ ơi... Lời ca da diết của ông nhạc sĩ tài hoa họ Trần nọ không hiểu tại sao lại nương theo gió lãng đãng hiện về trong đầu tôi, bay vào ánh lửa, cháy bùng lên thành muôn vàn vụn sáng rối rít vút lên cao. - Em tên là gì? - Tôi hỏi mà nghe giọng mình chẳng rối rít chút nào. - Tên em xấu lắm, không nói đâu. - Không nói nhỡ sau này muốn đi tìm em thì biết đâu mà tìm. Lại một câu nói ngớ ngẩn. Ấy vậy mà em lại nhìn lên là lạ: - Em biết bộ đội không tìm đâu. Bộ đội đi đây đi đó nhiều nhiều, gặp con gái đẹp nhiều nhiều, bộ đội không tìm em đâu. - Tìm thật mà. Sẽ không có ai đẹp bằng em hết. Sẽ không thể có cái gì đẹp hơn một cô gái vô tình gặp giữa đỉnh đèo mù sương thế này. Câu này thì tôi nói thật vì xúc cảm thật. Nhưng em lại cười, thả váy đứng dậy: - Thôi, em về đây không thì... - Đừng - Tôi nhìn xuống chiếc đồng hồ Ponjot đã rạn mặt đeo trên cổ tay - Gần mười hai giờ, muộn quá rồi, về nguy hiểm lắm, em cứ ngồi lại đây sáng mai tôi sẽ đưa em về. - A lúi! Không được đâu. Vậy, em bị đánh chết đấy. - Ai dám đánh em. Chả hiểu do câu hỏi ấy hay vì nét mặt bỗng trở nên quá đỗi chân thành của tôi mà cô gái ngần ngừ một chút rồi vâng lời, lại ngoan ngoãn ngồi xuống, đôi mắt như buồn hơn. Gió vẫn thổi u u từ dưới khe sâu lên như tiếng sói tru. Cây lá vẫn lao xao cái khúc nhạc rừng già muôn thuở. Những khúc sắn lại được bóc vỏ vùi vào than đỏ nhưng không ai ăn. Thời gian lặng lẽ trôi qua. Trong cái lặng lẽ mang sắc thái nguyên thủy đó, tôi đã được nghe chút tâm sự cũng nguyên thủy không kém từ em của các mối quan hệ trái ngang cuộc đời. Em bảo bố em chết rồi, chết trong một trận đánh trên chính cánh đồng Mường Thanh dưới kia, chết từ lúc em mới vừa bảy tuổi, tức là hy sinh mà cái vốn tiếng Kinh ít ỏi của em không thể gọi ra chính xác được. Mệ em lúc ấy còn trẻ lắm, dân bản bảo rất giống em bây giờ, rồi một ngày không đừng được phải đi lấy chồng khác. Ông bố dượng này đối xử với em chả ra làm sao, như tôi đòi con ở, ông bắt em suốt ngày quần quật lúc thì ngoài rẫy, lúc lại trên rừng, ngày nào cũng tối mịt mới về, như tối nay chẳng hạn. Có lần nửa đêm đang ngủ mê mệt, sặc sụa mùi rượu, ông còn mò xuống định giở trò với em, em kháng cự lại, thế là ông càng ghét, càng tìm nhiều nguyên cớ để hành hạ. Thương mệ, em cắn răng chịu, không nói ra nhưng đến khi ông ấy bắt em phải đi làm lẽ để gá bạc cho một người đàn ông có nhiều ruộng nhiều trâu ở Lai Châu nhưng nghiện oặt thì em không chịu được nữa. Thế là ông ta đánh em, động một tý là đánh, thậm chí còn đe dọa sẽ đuổi em đi nếu em không nghe lời. Trong khi đó mệ lại bị sốt rét ngã bệnh, em khổ quá, chả lẽ lại để mặc mệ bỏ nhà ra đi... Em nói hay gió nói. Câu chuyện buồn như mưa rừng. Buồn đến nỗi làm cho cái tính hiệp sĩ lãng tử trong tôi nó bỗng cựa quậy trỗi dậy. Tôi bèn nói không biết thì thôi, biết rồi tôi nhất định sẽ đưa em vùng thoát ra khỏi cảnh này. Tức là ngay ngày mai tôi sẽ thưa với chú đoàn trưởng về chuyện của em, chú ấy là một người tốt, chú ấy có thể sẽ nhận em vào đoàn. Em bảo em xấu xí thế này, chân tay chỉ quen đi nương đi rẫy cục kịch thế này, làm sao mà múa hát được. Tôi nói em cứ yên tâm, không múa được thì hát, không hát được thì múa, mà cái dáng múa của em đã có sẵn rồi đó, chỉ cần qua một lớp huấn luyện ngắn ngày chừng vài ba tháng thôi là có thể lên sân khấu ngon lành, đoàn đang thiếu những tay múa dân gian có xuất thân từ vùng núi rừng trên này. Em nhìn tôi thoạt đầu là nghi ngại rồi sau đó là hy vọng chứa chan. Và bất ngờ em để rơi ra một tiếng thở dài. Trong tiếng thở đa đoan lớn hơn tuổi nhiều ấy, em nói em sẽ biết ơn tôi suốt đời nếu phép mầu ấy được xảy ra, em sẽ làm bất kể điều gì, kể cả giặt giũ, vá víu, nấu cơm cho mấy chú mấy anh cũng được, miễn là được thoát khỏi cảnh phải làm vợ một người như thế... Chao ôi là tiếng thở dài của sơn nữ giữa đêm đông, nó có thể làm tan chảy bất cứ một vật thể dù sắt thép đến thế nào. Trong đầu tôi bỗng cháy lên một suy nghĩ táo bạo và không kém ngọt ngào: nếu cần tôi sẽ đưa em về Hà Nội, sẽ thưa chuyện với bố mẹ tôi để được nhận em làm con nuôi, em sẽ đi học, sẽ nhớn nhao, sẽ trở thành một cô gái Hà Nội xinh đẹp và biết đâu vài năm sau tôi và em sẽ... Bất giác, tôi cầm nhẹ lấy tay em. Bàn tay đi nương có những vết nám sần sùi nhưng đối với tôi lúc ấy, đó là bàn tay ấm nhất, đẹp nhất, mềm mịn nhất, bàn tay siêu thoát của một tiên nữ từ trời cao sa xuống ngồi cạnh tôi bên ngọn lửa cô đơn này. Em không rụt tay về, lại còn ngước lên tôi một cái nhìn tin cậy. Tin cậy vì nét mặt đang lộ vẻ quá đỗi chân cảm của tôi hay vì bộ quân phục với đôi quân hàm binh nhì đeo ngay ngắn trên ve áo, thú thực là tôi không rõ nữa. Chỉ biết rằng toàn thân tôi bỗng hực nóng rồi từ từ bay lên trộn hòa vào sương sa. Lửa hồng vẫn cháy nhưng đã có chiều nhỏ dần. Sợ lửa kia lụi tắt, lạnh em, tôi rùng mình thoát ra khỏi cơn mê mụ bồi hồi, đứng dậy nói em cứ ngồi đó, tôi đi kiếm thêm ít cành khô. Em ngoan ngoãn gật đầu. Đến lúc ấy tôi mới chợt nhớ ra ông già thợ điện còn đang ngồi trên xe. Tôi đã gác qua cái giờ phải gọi ông hai tiếng rồi. Thôi, kệ, đừng đánh thức, cứ để cho chú ấy ngủ, đêm nay là đêm của tôi, đêm huyền diệu, tôi sẽ độc quyền, sẽ không san sẻ cùng ai hết, kể cả chúa trời.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 21 Tháng Năm, 2008, 02:04:42 pm gửi bởi hoacuc »
|
Logged
|
|
|
|
trachvandung
Cựu chiến binh

Bài viết: 747
|
 |
« Trả lời #94 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2008, 02:05:57 pm » |
|
Khi tôi ôm bó củi trở về thì em đã gục xuống đầu gối ngủ tự lúc nào. Tấm lưng óng ả, cái cổ căng ra, hai cánh tay tròn trịa khoanh tròn... Trời đêm sâu thẳm, cái xe ở xa, ông già chắc vẫn đắp chăn ngủ... Trong tôi bỗng rộn lên một khao khát là lạ, thứ khao khát vừa nóng vừa lạnh rất không bình thường mà từ tấm bé đến giờ chưa hề trải qua. Nhẹ đặt bó củi xuống, nhìn xéo lên Ca bin xe một cái, tôi khẽ ngồi xuống cạnh em, run rẩy đỡ mái tóc em ngả vào vai mình. Em vẫn ngủ, thỉnh thoảng lại chép chép đôi môi chín mọng như đang mở, như đang thèm ăn một cái gì. Đôi môi ấy gần quá, nóng quá và chắc cũng sẽ ngọt quá. Không đừng được, giống như kẻ khát nước, tôi gượng nhẹ đặt đôi môi lạnh buốt, khô ráp của mình lên môi em. Đôi môi ấy không chuyển động. Chỉ có hơi thở nồng nàn xuyên thấu qua cơ thể tôi, cơ thể của một cậu trai mười tám mới chỉ biết sức nóng kinh người của một nụ hôn qua tiểu thuyết. Tôi hôn sâu hơn. Đôi mắt em vẫn nhắm nghiền. Và trong mơ hồ cảm nhận, hình như em cũng có hôn lại tôi thì phải hay với em, vẫn chỉ là một cõi mơ? Không biết gì nữa, không thể phân tích gì hơn được nữa, một con lũ đục ngầu từ đáy tâm can trào dâng, phủ chụp, gào thét, tôi lập bập ngả người em dần xuống cỏ ướt... Chỉ đến khi tôi luống cuống gục đầu vào khuôn ngực căng tròn, ấm nóng của em thì em mới hoàn toàn tỉnh hẳn. Không chống cự cũng không kêu la, điều mà tôi rất hãi sợ nhưng thà là thế còn hơn, em chỉ nhìn lên tôi một cái nhìn ẩm ướt và ai oán. Cái nhìn như con thú nhỏ bị thương. Chính cái nhìn đó đã khiến toàn thân tôi lạnh lại. Tôi đỡ em ngồi dậy, chỉ lắp bắp được mấy tiếng xin lỗi vô vị. Em không nói nhưng nhìn nét mặt tôi hiểu em đã tha thứ cho tôi, không có ý giận tôi. Rồi bất ngờ em bật khóc. Tiếng khóc nhè nhẹ mà xé nát cả bóng đêm. Tôi lại cầm lấy tay em, vỗ khe khẽ. Lần này thì là cái cầm tay của một người anh trước cô em gái đang có nhiều uẩn khúc thực sự chứ chẳng còn chút giới tính sôi sủi nào xen vào. Có lẽ hiểu lòng tôi, em nín khóc dần và rồi lại ngả khẽ mái đầu vào vai tôi, nhắm mắt lại. Lát sau hơi thở em đã trở nên đều đều. Em lại ngủ vô tư. Lửa lại sắp lụi nhưng tôi không muốn đứng dậy nữa. Đứng dậy lúc này, tôi sợ cái mái tóc kia, cái thân hình kia sẽ bay vù đi mất. Và tôi cứ ngồi hóa đá làm điểm tựa cho em như thế cho đến hết đêm, mặc cho thân thể mỏi nhừ, ê ẩm. Mùi lửa hay mùi tóc cháy nắng của em phả ra, bủa vây lấy tâm hồn tôi, ngái nồng...
Một tiếng gà gáy báo sáng từ dưới thung sâu vang lên. Em giật mình tỉnh dậy, ngơ ngác nhìn tôi giây lát rồi vội đứng lên, định cầm lấy dây gùi đeo vào lưng. Tôi giữ lại, bảo chờ cho sáng chút nữa tôi sẽ đưa em về hoặc chí ít cũng đưa đến đường cái cho an toàn như đã hứa. Em nói em tự đi được rồi. Về lúc này may có thể dượng em chưa dậy. Biết không cản được, tôi đành đeo hộ em cái gùi tiễn xuống chân dốc. Suốt đoạn đường ấy em chỉ im lặng. Tôi cũng không nói gì. Khi chia tay tôi nhắc lại lời đêm qua tôi đã hứa và hỏi em tên gì, xã nào, bản nào để còn biết. Em định nói song lại thôi, bảo tối nay nhất định em sẽ đến chỗ đoàn tôi biểu diễn. Nhất định. Rồi em nhìn tôi. Trong cái nhìn ấy ánh lên biết bao điều tin cậy, gửi gắm, hy vọng và hình như có cả một chút yêu thương mơ hồ nhen nhóm bên trong. Tôi đã lại định cầm lấy tay em nói lời tạm biệt nhưng, như một ánh chớp giật, em bỗng dướn người lên ôm chầm lấy tôi một cái thật nhanh rồi rời ra ngay. Tôi chưa kịp hiểu gì cả thì cái dáng thon thả kia đã mất hút ở khúc quanh dẫn ra đường cái quan rồi. Lặng đứng nhìn theo mà lòng dạ sao cứ se thắt như có cả một trời buồn nhân thế ập xuống. Cái gì đang chờ đợi em ở phía trước? Rồi ngày mai, ngày kia, ngày kia nữa... cái gì đang chờ đợi? Không! Không thể để như thế được. Không thể, dù bằng bất cứ giá nào, nếu tôi còn hiện diện trong cuộc đời này.
Với quyết tâm như thế, tôi đi trở lại xe. Đến đống lửa, ông già thợ điện đã ngồi sẵn ở đó từ lúc nào. Thấy tôi, ông cười, nhe hàm răng bị mất gần hết:
- Một đêm tiên bồng hả? Lạnh quá, cả đêm có ngủ được đâu. Chú định xuống thay cho mày nhưng thấy hai đứa nói chuyện say sưa quá, lại còn gục đầu vào vai nhau mà ngủ nữa nên mặc kệ. Càng khỏe. Sao? Tình hình đến đâu rồi?
Tôi bảo có gì mà đến đâu rồi nói lại câu chuyện của em đêm qua và nói cả ý định của mình. Rít xong điếu thuốc lào, chờ cho cơn say mờ mắt đi qua, chú mới gật gù:
- Tao thấy mày nghĩ cũng phải. Nếu cần để tao nói thêm với đồng chí trưởng đoàn một tiếng. Cũng tội. Chà! lên đến tận cái xứ sơn cùng thủy tận này rồi mà kiếp người vẫn còn lắm nỗi quá thể.
*
* *
Nhưng đêm hôm đó chúng tôi không biểu diễn ở Điện Biên được. Đêm sau, đêm sau và đêm sau nữa cũng thế. Có một đơn vị tình nguyện sắp hành quân qua Lào hiện đang đóng quân tại Lai Châu đòi hỏi chúng tôi phải có mặt gấp để phục vụ. Phục vụ xong, đoàn nhận được lệnh phải quay về Hà Nội ngay để thành lập những nhóm nhỏ vượt Trường Sơn vào chiến trường miền nam. Thế là tôi không còn có dịp gặp lại em. Không gặp lại suốt những ngày sau đó. Bởi khi cuộc chiến tranh đã lan rộng cả nước, ở văn công thấy lòng dạ không yên, tôi bèn xin vào mặt trận làm người lính thực thụ. Trước khi đi, tôi định tranh thủ lên lại Điện Biên tìm em vì biết đâu lần đi này tôi sẽ vĩnh viễn không có dịp trở về nhưng đợt nghỉ ngắn quá, có ba ngày thì làm sao đi nổi, chỉ đi không đã không kịp rồi chứ còn nói gì đến vừa đi vừa về mà lại còn phải tìm nữa. Đến lúc ấy tôi mới tự nguyền rủa mình sao khờ khạo đêm ấy không kiên quyết lấy bằng được tên và địa chỉ của em để ít nhất cũng có một lá thư gửi lên thanh minh, xin tha lỗi và nói lời tạm biệt. Vậy là đành bấm bụng lên đường. Chỉ kịp dặn lại ông thợ điện già nếu có dịp lên trên ấy lần nữa, nhớ hỏi giúp tôi về nàng. Chú ơi, cháu đi chuyến này trong hầu bao tình cảm gần như chẳng có gì ngoài hình ảnh của cô ấy. Một hình ảnh thoáng qua nhưng sâu thẳm như hình ảnh của một mối tình đầu, chú nhớ giúp cháu. Ông già nhận lời.
*
* *
Mười năm sau không chết, trở về, động tác đầu tiên là tìm đến nhà người thợ điện già đã về hưu ấy. Ông chấp chới mắt một lúc rồi mới chợt nhớ ra, nói trong cái lắc đầu: "Ba năm sau đoàn mới lại có dịp trở lại đấy. Nhớ lời mày, tao có để bụng đi tìm nhưng không gặp. Dân bản ở đó bảo cô ta, sau lần gặp mày chừng nửa năm, không còn cách nào khác, buộc phải chấp nhận đi làm lẽ cái lão già ở Lai Châu ấy. Nhưng cũng chỉ ở được chừng ít ngày. Khi bà mẹ ốm chết cũng là lúc cô ấy bỏ nhà chồng ra đi. Đi đâu không ai biết. Người thì bảo qua Lào, người lại bảo xuống xuôi, có người lại bảo cô ta bị hổ ăn thịt trong rừng rồi. Tóm lại chuyện về con bé sơn cước ấy coi nhưng xong, cho qua, bây giờ mày về rồi, chỉ cần ngồi một chỗ, tao sẽ bảo thằng con dẫn đủ các loại đàn bà con gái đến cho mày chọn lựa".
Tôi cười mà đắng hết cả lòng. Ông già đâu có hiểu được rằng, chính vì nghĩ đến em, có hình bóng của em đỡ nâng, bám vịn mà tôi đã có thể đủ sức đi qua được tất cả cánh rừng bom đạn, đã biết cầm súng một cách tử tế và cố sống trong những hoàn cảnh tưởng như không sống được để hy vọng sau này về sẽ được gặp em. Vậy mà... Nửa năm. Chắc là suốt nửa năm đó em đã khắc khoải chờ đợi lời hứa của tôi để rồi cuối cùng phải đành tự chui đầu vào tục lụy. Từ đó đến giờ em ở đâu? Cuộc sống em đang trôi nổi đến khúc nhôi nào? Tội nghiệp? Tội nghiệp cho em và tội nghiệp cho cả tôi. Cuộc đời em sau này nếu may mắn lấy được một người chồng tử tế thì không sao, còn ngược lại, chính tôi cũng cảm thấy mình không thể tha thứ được. Trời ơi! Giá như đêm ấy tôi không gặp em và trước em, tôi đừng có hứa?
*
* *
Thế rồi thời gian trôi đi. Hậu chiến ngổn ngang tiếp đến thời kỳ bao cấp ảm đạm rồi lại chuyển sang thời thị trường giông gió. Con người cứ quay như chong chóng. Tôi cũng đã có vợ có con, tất nhiên, và cuộc sống mưu sinh vật vã đã không cho tôi có nhiều dịp để nghĩ về em, để lên lại mảnh đất quê em một lần. Và tôi sẽ dần dần hoàn toàn quên hẳn em như quên hẳn những kỷ niệm đau đáu khác trong dòng đời muôn vàn rắc rối nếu như vào một ngày gần đây, tôi không có dịp đi Đài Loan để ký kết một hợp đồng đóng tàu theo chức phận nghề nghiệp.
Đài Loan, hòn đảo hình củ khoai chiều dài có năm trăm cây số này sao đẹp và yên bình quá thể. Hơn nửa thế kỷ không có chiến tranh, không có đột biến nào đáng kể đã giúp cho nó có đủ thời gian để toàn tâm toàn ý dốc sức vào việc làm ăn, vun quén, vào cuộc sống dân sinh. Không có đồng lúa, không có ruộng vườn, không có cả rừng cây, không có một tài nguyên nào gọi là, đâu đâu cũng một mầu đất cằn đá cỗi, hoang trụi đến tận cùng nhưng nó đã biết áp đặt tư duy lấy công nghệ điện tử, công nghiệp cơ khí, công nghệ chế biến cùng hàng loạt những công nghệ tiên tiến khác làm điểm tựa, tất nhiên có cả sự hà hơi tiếp sức quan trọng và không mấy vô tư của một quốc gia siêu cường nằm bên kia biển Thái Bình Dương nên mặc nhiên đã đạt độ tăng trưởng đứng vào hàng thứ hai mươi ba trên thế giới.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
trachvandung
Cựu chiến binh

Bài viết: 747
|
 |
« Trả lời #95 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2008, 02:07:37 pm » |
|
Tây Bắc tìm em khắp núi rừng [/b] Nhưng buồn. Buồn trong cảnh vật, buồn trong tiết tấu cuộc sống, buồn trong dáng đi của những cư dân trên đường, buồn trong mắt nhìn con gái. Buồn cả bầu trời rất ít khi có nắng. Và buồn như hơi văn của người đàn bà có tên Quỳnh Dao nữ sĩ. Hơn năm mươi năm chỉ tồn tại trong một cuộc hành trình đơn lẻ như thế thì làm sao không buồn. Dẫu rằng nếu lạc vào bất cứ một dãy phố, một vùng đô thị lớn nhỏ nào ở đây, khách vãng lai đều có chung cảm giác choán ngợp rằng mình đang dạo bước giữa một đêm hội hoa đăng, một đại hội thể thao văn hóa rực rỡ những sắc mầu tím đỏ vàng xanh nào đó. Để rồi vào một tối buồn như thế, do thói quen thích tha thẩn ngắm mây nước trớt trăng mỗi khi đến một vùng đất lạ của cái tuổi đã chớm bước vào già, tôi dừng lại trước một quán cơm Việt Nam có cái tên cũng là lạ: Mường Thanh. Gọi là quán nhưng nó rộng phải bằng cả một cái hội trường cấp tỉnh ở ta, bên trong chứa đủ lượng bàn ăn của một tiệc cưới. Quán đang đông người. Một làn điệu dân ca bắc bộ đất Việt đang vang lên dìu dặt cùng với những tiếng va chạm lanh canh của ly cốc. Ở xứ người mà chợt nghe được dân ca xứ mình thì người có trái tim vô cảm nhất cũng phải rung lên, tức nghẹn. Trong tâm trạng như thế, tôi tìm một cái bàn khuất nhất ngồi xuống và bỗng sững người. Cô gái có vẻ là bà chủ đang đứng sau quầy điều hành một cách tươi tắn và khoan thai ngay trước mặt tôi kia sao lại giống em quá thể. Giống lắm! Cũng khuôn mặt, đôi mắt, cái miệng, dáng người ấy, duy chỉ có chiều cao là hơi nhỉnh hơn. Giống đến nỗi khi người bồi bàn già đi đến hỏi tôi dùng món gì, phải đến lần hỏi thứ ba tôi mới lùng bùng nhận biết được nội dung câu hỏi của anh ta. Tôi kêu vài món gọi là rồi sau khi mời anh chàng một ly rượu, tôi mới đánh bạo hỏi, tất nhiên là hỏi bằng thứ tiếng Hoa mà tôi có biết chút ít rằng, hình như cô chủ quán này là người Việt? Anh ta gật đầu, nói thêm, không phải cô chủ đâu mà là bà chủ đấy. Bà chủ đi vắng, cô con gái tạm thay. Một luồng điện xẹt ngang đầu, tôi định hỏi thêm nhiều điều nữa thì ông đã đi sang bàn khác rồi. Tôi quyết định ngồi lại chờ cho đến lúc vãn khách trong chủ đích sẽ hỏi thẳng chuyện với cô chủ nhỏ kia. Nhưng khổ, xứ này người ta ăn uống hầu như không có giờ giấc gì, càng về đêm hình như càng khoái khẩu hay sao ấy nên chiếc đồng hồ trên tường đã chỉ vào con số 12 rồi mà vẫn chưa có chiều vãn khách. Ngồi nán lại nữa thì vô duyên. Đành về. Tự hẹn sáng mai dù bận thế nào cũng quay lại sớm. Nhưng sáng hôm sau, như ông già bồi bàn nói, cô chủ của ông đã bay đi Cao Hùng rồi, tại đấy cũng có một siêu thị lớn buộc cô phải có mặt để xử lý mấy việc rắc rối. Hỏi ra mới biết người bồi bàn này cũng cùng bà con dòng họ bên nội với cô, vừa mừng vừa hụt hẫng, tôi mới xin phép được ngồi trò chuyện chút ít với ông nhân lúc khách còn thưa vắng. Ông già nhìn tôi chăm chú một lúc như nhìn một con bệnh thần kinh rồi miễn cưỡng ngồi xuống. Và chính trong cái sự miễn cưỡng đó, tôi đã thấu hiểu ra tất cả. Trời ơi, đúng là quả đất xoay tròn, cô gái kia chính là con đẻ của em. Nhưng không phải là con của cái người đàn ông nghiện ngập ở cái xứ Lai Châu heo hút nọ mà là giọt máu của người đàn ông ở Chợ Lớn, Sài Gòn, nơi mà sau năm 75, do tìm đường làm ăn em đã phiêu bạt tới. Không còn trẻ nhưng nhan sắc vẫn mặn mà, em đã lọt vào đôi mắt đa tình của ông ta. Một nhà buôn người Hoa có hạng trên phạm vi lục tỉnh. Bằng con mắt từng trải, ông ta ngỏ lời muốn lấy em làm vợ. Đang thân cô thế cô, em nhận lời. Và sau năm 90, khi cả đất nước đang rùng rùng vào công cuộc đổi mới ông đưa cả gia đình sang đây với lý do có đất làm ăn hơn và đi đâu thì đi, cuối đời nên trở về với gốc nguồn cội rễ. Đó là một người đàn ông tử tế và hết lòng thương yêu vợ con. Sang được ít năm thì ông ngã bệnh lăn ra chết. Của chồng công vợ, em bỗng được thừa hưởng toàn bộ số tài sản kếch xù gồm ba nhà hàng, hai khách sạn một cái năm sao, một cái ba sao, một xưởng đóng tàu, một nhà máy chế biến hải sản và hai siêu thị của chồng. Cô gái Mường Thanh nghèo khổ năm xưa bỗng trở thành một bà chủ nức tiếng giàu sang và giỏi làm ăn trên đất Đài nhưng, cũng theo lời ông già nói, lòng dạ vẫn khôn nguôi nhớ về chốn cũ, thì đó, ngay cái tên quán đặt là Mường Thanh cũng đã nói lên rõ tấm lòng hoài niệm ấy đó thôi. Năm nào em cũng trở về và lần trở về nào em cũng cố gắng làm một cái gì đó cho quê như một sự chuộc lại. Và cho đến năm vừa rồi, nghe nói vùng quê ấy đã trở thành thành phố, lại đang rục rịch chuẩn bị cho ngày lễ trọng của cả nước nhân năm mươi năm ngày giải phóng, cái ngày mà người cha thân sinh ra em đã ngã xuống khi em còn nhỏ, em đã quyết định trở về, về hẳn, toàn bộ tài sản, công việc làm ăn đang có chiều phát đạt giao lại cho con gái và mấy người cháu ruột của chồng... Nghe xong câu chuyện tôi rã rời cả người. Cuộc đời vần vũ thật lạ. Kiếp người này tưởng chừng sẽ tàn úa, phôi pha thì lại bừng lên chói sáng. Kiếp người kia tưởng chói sáng lại suy sụp, điêu tàn, có khi phải chui đầu vào nhà đá. Định hỏi, thế, trong những lúc rỗi rãi, là bà con thân tộc, ông có nghe bà ấy lần nào nhắc đến một anh con trai vận áo lính người Hà Nội mà một lần bà đã vô tình gặp trên đỉnh đèo mờ sương lạnh ở quê nhà cách đây đã gần nửa thế kỷ không nhưng cứng lưỡi không hỏi được. Hỏi làm gì hay chỉ chuốc lấy sự bẽ bàng khi người ta đã trở thành một doanh gia nức tiếng. Sắp đến giờ ra máy bay, tôi vội cám ơn, đứng dậy tạm biệt ông già và phiền ông ghi cho cái địa chỉ của em ở bên nước, tất nhiên lần này thì không thể cho phép mình quên được tên, họ. Thì ra em là Lò Thị Mền, khốn nạn, đi gần hết cuộc đời mà cho đến tận bây giờ mới biết được tên em, còn địa chỉ thì ông bảo em lúc chỗ này lúc chỗ khác, ngay chính ông cũng không nắm chắc được nhưng cứ lên Điện Biên mà hỏi chắc sẽ gặp. * * * Về được ba ngày, tôi đáp máy bay đi luôn. Vậy là kể từ ngày đó, từ cái ngày được gặp em, tôi mới có dịp lên lại vùng đất sử xanh này. Chao ôi, tất cả đã thay đổi đến không ngờ! Một Điện Biên hẻo lánh, nghèo nàn, quạnh quẽ cách đây bốn mươi năm đã hoàn toàn biến mất để thay vào đó là một thành phố đang phôi thai, sầm uất, rộng dài với những tòa nhà đang đua nhau vươn mình lên tầm cao không gian xanh biếc. Ngay cái đỉnh đèo lầy lội đầy ổ trâu ổ gà năm xưa tôi đã ngồi bên lửa cùng em ấy nay cũng đã thành một điểm du lịch ngoạn mục với con đường dẫn đến lát bê-tông thẳng thơm, đủ hai làn cho các dòng xe nhẹ nhàng xuôi ngược. Lại chợt nao buồn, tuổi già sao hay buồn thế, vậy là ngay cả cái mốc kỷ niệm nhỏ nhoi với em cũng không còn nữa. Như không có thật, như ảo ảnh, như chỉ là một giấc mơ. Hay là mơ thật? Ngồi một mình tư lự hút hết gói thuốc, tôi tìm xuống một người quen sơ đang làm việc ở ban chỉ đạo các công trình thuộc dự án lễ kỷ niệm để hỏi tin em. Người bạn này nói có, có một bà Việt kiều tên như thế, người như thế đã có mặt ở đây nhiều ngày, đã đi xem xét tất cả những khu chiến tích đang được phục chế và đã ngỏ ý xin được đóng góp một số tiền không nhỏ gọi là chút tấm lòng của bà con hải ngoại trước việc trùng tu thánh tích nhưng bây giờ bà ấy đi rồi, đi Lai Châu thì phải. Ở đó đang có một dự án khổng lồ di dời toàn bộ dân ra khỏi thị xã, ra khỏi tỉnh lên vùng Tam Đường để phục vụ cho khu thủy điện Sơn La chiến lược sắp vào giai đoạn khởi công. Tôi chóng cả mặt. Chao ôi, cái vùng đất địa đầu biên giới bao năm tưởng chừng như bị bỏ quên này sao hôm nay lại nảy mầm lên nhiều công trình, nhiều dự án thế, mà dự án nào cũng là dự án thế kỷ cả. Đã lường trước nên tôi không mấy hẫng hụt, trước khi đi tiếp cuộc hành trình tìm kiếm, tôi bỏ ra hẳn một ngày để đi thăm lại hết thảy những gì mà hơn bốn chục năm trước tôi đã có dịp đi qua . Đồi A1, cầu Mường Thanh, khu hầm chỉ huy của bộ tư lệnh, căn hầm của đại tướng Võ Nguyên Giáp, hầm Đờ Cát, căn cứ pháo binh, đài tưởng niệm bốn trăm người dân bị giết hại... Năm mươi sáu ngày đêm, kéo pháo ra kéo pháo vào, cánh đồng đẫm máu... Hồn tử sĩ gió ù ù thổi. Thời khắc lịch sử năm mươi năm như cùng một lúc theo ngọn gió ấy ào ạt thổi về khiến tôi thấy rợn cả người. Cánh đồng Mường Trời đẫm máu dập rờn sóng lúa đang trải dài tít tắp dưới kia, nơi bố em ngã xuống ở chỗ nào? Phải chăng... * * * Lai Châu những ngày sắp chìm tất cả xuống lòng nước thật buồn. Chìm xuống những thăng trầm vật vã, những khát vọng và tuyệt vọng, chìm xuống những kỷ niệm yêu nhau, ghét nhau, chìm xuống những cái tên đất, tên người đã tạc vào lịch sử, chìm xuống những thế hệ dằng dặc khổ đau và hào hùng, chìm xuống ngọn núi mây mù bên kia thác nước mà vị vua Thái Đèo Văn Long đã nhiều năm trấn ngự độc ác cùng với rượu ngoại và các cô gái xòe bị chôn sống theo chồng và, chìm xuống cả cái con người nghiện oặt mà đã có lần em đã vì quá thương mệ khăn gói về làm lẽ người ta, chìm xuống... chìm xuống hết để mai đây chỉ có mặt nước mênh mang. Chỉ có em là đứng lại. Đứng lại như sự kết tinh của tất cả. Nhưng chán thay, tại đấy, người ta lại bảo em mới ra sân bay đi rồi, đi Hà Nội hay Sài Gòn vì một công việc bận rộn gì không biết nữa. Người ta còn bảo, bà ấy lạ lắm, nghe đói rất giàu có nhưng cái ăn cái mặc lại hệt như một người đã có nhiều năm sống nghèo khổ ở trên này. Điều này còn lạ hơn, chính bà ấy đã xin chính quyền được tự tay bỏ vốn để xây dựng một khu nhà định cư gồm ba chục căn hộ trên vùng đất mới cho bà con mà không cần đấu thầu, trúng thầu, không đòi hỏi một điều kiện gì cả. Ở đây mọi người gọi bà là Nhà tài trợ mặc váy thổ cẩm... Thiên hạ còn nói nhiều điều về em, nói xuôi chiều có mà ngược chiều cũng có bởi lòng tốt một khi đã trở thành thái quá, không phải ở đâu, bao giờ cũng được nhìn nhận một cách thẳng ngay. Riêng tôi, tôi lại hiểu thấu được tấm lòng em. Em đang muốn trả nợ cuộc đời, trả nợ giọt máu thiêng liêng người cha thân yêu của em đã đổ xuống và trả nợ cho chính những năm tháng tuổi thơ đau khổ, nhọc nhằn của chính em. Có thể đời này, kiếp này tôi không tìm gặp lại được em, vì cả hai lúc này đã già rồi, chỉ cầu mong lúc này em đang ở đâu đó, Lò Thị Mến ơi, nếu có một chút lắng lòng, đọc được những dòng này, xin em hãy thể tất và tha thứ cho tôi, một gã trai mộng mơ và đa tình đã không thực hiện được lời hứa trong cái đêm em ngả mái tóc khét nắng vào vai tôi ngủ ngon lành giữa đỉnh đèo hun hút gió ấy. Bởi em, bằng trái tim tinh khiết và tấm tình thơ ngây của mình, em đã tự tìm được niềm vui và lẽ sống trong cuộc đời. Cũng như người cha không còn nữa của em năm xưa đã ngã xuống giữa trời Điện Biên ngàn trùng mây trắng. C.L Tháng 3-2004
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|