Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 08:07:07 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tên trùm phát xít Đức thú nhận  (Đọc 66706 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
canaris
Thành viên
*
Bài viết: 78



WWW
« Trả lời #30 vào lúc: 11 Tháng Tư, 2010, 07:07:32 pm »

Để tỏ rõ lòng biết ơn các chiến sĩ đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên mặt trận bí mật, một mặt trận không kém phần quan trọng như các trận đánh trên chiến trường, lần đầu tiên trong lịch sử, Quốc trưởng đã trao tặng huân chương cho các thành viên của cơ quan phản gián Đức. Bốn người trong phân đội đặc nhiệm SS được tặng huân chương Chữ thập sắt hạng nhất. Những người còn lại đều được tặng huân chương loại hai. Quốc trưởng còn đến bắt tay, ôm hôn từng người và chúc mừng họ. Tiếp đó bước ra trước hàng quân với tác phong quân sự, Hitler giơ cao cánh tay phải ra phía trước chào tạm biệt. Lễ trao tặng huân chương kết thúc.


Chúng tôi ngồi trên những chiếc xe hơi đi về giữa hàng rào danh dự đang đứng nghiêm bồng súng chào. Thành thực mà nói lúc đó tôi vô cùng bồi hồi xúc động.

Hôm sau, tôi phải đến báo cáo với Quốc trưởng vào lúc 21 giờ. Heydrich khuyên tôi nên trao đổi với Muy-le để nắm chắc những tin tức mới nhất trong việc hỏi cung En-xe và các vấn đề mà Quốc trưởng có thể nêu ra.


Nước da của Muy-le xanh xao, trông có vẻ mệt mỏi. Tôi thuyết phục ông ta rằng việc coi Bét-stơ và Sti-vơn có mối liên hệ với EN-xe là không đáng. Muy-le tán thành, song ông ta chỉ nhún vai tỏ vẻ bất lực và nói:

-Nếu cả Hitler và Heydrich đều không làm cho Quốc trưởng thay đổi ý kiến thì ông không thể có hy vọng nào khác. Nếu ông liều thì đó là chơi với lửa đó.

Tôi hỏi Muy-le:

-Theo ông, ai là kẻ chỉ huy En-xe?

-Tôi chưa thể có kết luận gì. Vì lúc thì anh ta nhất định không khai, lúc thì nói toàn chuyện vớ vấn. Gần đây anh ta quay lại vấn đề đã khai là do căm thù Hitler đã bắt anh trai anh ta vào trại tập trung với lý do có cảm tình với cộng sản. Vì vậy anh ta say sưa nghiên cứu chế tạo quả bom tối tân và hy vọng dùng nó xé xác Hitler ra từng mảng, dù bị chết anh ta cũng cam long. Chất nổ và dây cháy chậm anh ta khai do một người bạn cùng có tên là En-xe cho tại một quán cà phê ở Munich.

Ngừng một lát như để suy nghĩ, Muy-le nói tiếp:

-Có nhiều khả năng là do Strát-xe và cái “Mặt trận bí mật” của hắn nhúng tay vào vụ này. Tay trái của Muy-le cứ xoa xoa cổ tay phải đen phát đỏ, cặp môi mím chặt và đôi mắt ti hí của ông ta như biểu lộ một ấn tượng nào đó, trống rất dữ tợn. Lát sau giọng của muy-le dịu đi song vẫn không kém phần sôi nổi:

-Không một kẻ nào cả gan trêu tức tôi mà không bị tôi bẻ cho gãy cổ!

Đó là lời nói của Muy-le, một con người trước đây chỉ là anh mật vụ quèn ở Munich, này nắm trong tay những quyền hành rất lớn.


Tối hôm đó, trên đường tới dinh Quốc trưởng tôi suy nghĩ miên man. Ở đây, tôi đã gặp cả Himmler và Heydrich. Chúng tôi cùng bước vào phòng chờ Hitler tới. Vì chưa đọc báo cáo nên trước bữa ăn tối Himmler muốn nghe qua tình hình. Tôi tóm tắt nội dung báo cáo và nói lại cuộc trao đổi giữa Muy-le với tôi nhằm bác bỏ việc ghép sự việc của Bét-stơ và Sti-vơn với vụ En-xe. Trên mặt của Himmler và Heydrich thoáng hiện vẻ không vui. Họ thừa nhận tôi có lý nhưng không biết làm cách nào mà giải thích cho Hitler được. Cuối cùng họ xúi tôi báo cáo trước để thăm dò sự may rủi.


Mọi người xung quanh thấy chúng tôi trao đổi ồn ào có ý tò mò xem chuyện gì. Hess, Borman va Smun, Tổng tham mưu trưởng cùng một số người khác xúm lại tham gia ý kiến nhưng nét mặt lạnh lùng của Himmler và Heydrich đã khiến họ cụt hứng không dám phát biểu, trao đổi nữa.


Trước đây ít lâu, tôi đã trao đổi với Hess về một vấn đề có liên quan đến công tác tình báo. Lúc này ông ta vừa cười vừa nói với Himmler:

-Chắc ngài đã biết cách đây vài tuần, ông Schellenberg và tôi đã trao đổi với nhau về cơ quan tình báo chính trị. Ông Schellenberg đã cho tôi thấy ông ta là một luật gia có tài. Vấn đề là ta phải làm sao sử dụng tốt tài năng của ông ta.

Thật là một nhận xét có lợi cho tôi. Vì phép lịch sự, Himmler buộc phải biểu lộ sự đồng tình với lời nói của Hess bằng cái gật đầu, nhưng tôi cảm thấy Heydrich lại chú ý tới việc này và tỏ vẻ nghi ngờ tôi. Để xác minh, Heydrich bảo tôi ngày mai phải báo cáo lại nội dung trao đổi giữa tôi với Hess về cơ quan tình báo chính trị của ông ta.
Cánh cửa thông sang buồng Hitler bật mở, Quốc trưởng thong thả bước vào. Ngài vừa đi vừa nói chuyện với các trợ lý thân cận, không chú ý đến những người xung quanh. Bước tới giữa gian phòng ngài mới dừng lại bắt tay Hess, Himmler, Heydrich và cuối cùng đến tôi. Hitler nhìn tôi chăm chú như có vẻ thăm dò, sau đó ngài bước sang phòng ăn, mọi người đều bước theo sau.


Viên trợ lý sắp xếp vị trí ngồi cho từng người: bên phải Quốc trưởng là Himmler, đến tôi rồi Heydrich, bên trái ngài là Keitel và Borman. Còn Hess ngồi đối diện với Hitler.
Khi mọi người ngồi vào chỗ, Hitler quay sang tôi nói bằng một giọng ồm ồm phát ra từ cuống họng:

-Tôi thấy báo cáo của ông rất bổ ích, mong rằng ông sẽ báo cáo tiếp cho tôi.

Tôi gật đầu tuân lệnh. Một phút nặng nề trôi qua. Mặt Hitler hơi đỏ và chảy xệ, tôi đoán có lẽ Quốc trưởng bị cảm lạnh. Như đọc được ý nghĩ của tôi, ông ta quay sang phía tôi nói:

-Hôm nay tôi bị cảm, có lẽ do thời tiết thay đổi. Quay lại phía Hess, ông ta nói:

-Ông Hess, ông có biết áp suất khí quyển ở Berlin hôm nay là bao nhiêu không? Chỉ có 73 mm thôi đấy. Ông có tin như vậy không? Đó là điều bất bình thường khiến mọi người cảm thấy khó chịu.
Logged

Khi con sinh ra mọi người đều cười chỉ mình con khóc.
Con hãy sống sao cho: khi con chết đi, mọi người đều khóc chỉ mình con cười.
canaris
Thành viên
*
Bài viết: 78



WWW
« Trả lời #31 vào lúc: 11 Tháng Tư, 2010, 07:08:38 pm »

Quốc trưởng đã khơi ra một chủ đề hấp dẫn làm mọi người trao đổi sôi nổi. Nhưng ông ta không tiếp tục hưởng ứng chủ đề này nữa, thậm chí có thể nói ông ta không để ý xem ai đã nói gì. Mọi người bắt đầu ăn tối nhưng Hitler vẫn ngồi chờ món ăn riêng. Có lẽ vì đói nên Quốc trưởng ăn khá ngon miệng. Câu chuyện trở nên đứt quãng. Tôi nghĩ, chẳng lẽ mọi người đều sợ phải nói cả hay sao. Thật là kỳ quặc!
Đột nhiên Hitler quay sang hỏi Himmler phá tan sự im lặng:

-Ông Schellenberg chưa tin hai thằng tình báo Anh có quan hệ với En-xe phải không?

-Vâng, thưa Quốc trưởng-Himmler đáp-khả năng về mối quan hệ giữa En-xe với Bét-stơ và Sti-vơn là không có. Cũng có thể cơ quan tình báo Anh móc nối với En-xe qua con đường khác. Có thể họ thông qua người Đức trong “Mặt trận bí mật” của Strát-xe chẳng hạn. Hiện nay chúng tôi mới coi điều này là giả thiết. En-xe thú nhận rằng hắn có quan hệ với hai người mà hắn không biết tên. Chúng tôi cũng chưa biết hắn có quan hệ với nhóm hoạt động chính trị nào nữa hay không. Cũng có thể đó là  hoạt động của bọn cộng sản, của cơ quan tình báo Anh hoặc của thành viên “Mặt trận bí mật” cũng nê. Có một điều rõ ràng là chuyên gia kỹ thuật khẳng định chất nổ và bộ phận gây nổ trong quả bom đều do nước ngoài chế tạo.

Im lặng hồi lâu, Hitler quay sang Heydrich nói:

-Các giả thiết này đều có thể xẩy ra, nhưng tôi muốn biết nguyên nhân gì đã dẫn tới hành động gây tội ác này. Ông phải áp dụng mọi biện pháp để buộc thẳng cha ấy khai ra. Thử dùng thuật thôi miên hoặc các loại hóa chất xem sao! Cần áp dụng mọi thành tựu của khoa học hiện đại vào điều tra vụ này. Tôi muốn biết xem ai đã xúi giục hắn, ai là kẻ đứng sau vụ này?

Lúc này mọi người đã ăn xong, chỉ còn một mình Quốc trưởng nên ngàu ăn ngấu nghiến không đếm xỉa gì đến phép lịch sự nữa. Đầu tiên ngài ăn món bột ngô rán bơ, rồi đến một đĩa “Kai-xe-ma-ren” to tướng: đó là món ăn xúc xích của Áo trộn lẫn với quả dâu khô và một loại nước sốt ngọt. Trong khi ăn, ngài không hề nói một lời nào.
Ăn xong, Hitler mới hỏi viên trợ lý:

-Đến bây giờ tôi vẫn chưa nhận được báo cáo nào của Giôn gửi về?

Viên trợ lý đi ra, hai phút sau ông ta trở lại với một tập giấy đánh máy trong tay. Ông ta đưa cho Hitler tập giấy đó và chiếc kính lúp. Trong lúc Quốc trưởng chăm chú đọc bản báo cáo, mọi người đều yên lặng. Sau đó Quốc trưởng nói, mắt không nhìn vào ai:

-Theo tôi, việc đánh giá sức sản xuất thép của Pháp trong báo cáo này là hoàn toàn đúng. Chưa cần nói tới các loại đại bác nặng, nhẹ, chỉ riêng số vũ khí hiện có ở chiến lũy Maginot cũng đã khá chính xác. So sánh số lượng vũ khí, đạn dược của họ và ta thì rõ ràng ta đã vượt Pháp. Đó là điều chắc chắn! Họ có thể trội hơn ta về loại vũ khí phóng lựu hoặc súng cối hạng nặng. Nhưng chỉ riêng loại này, ta sẽ đuổi kịp họ trong một thời gian không xa. Còn ta đã vượt hẳn họ về số lượng xe bọc thép. Hơn nữa, ta còn có súng chống xe bọc thép và nhiều loại vũ khí tự động khác, đặc biệt là loại đại bác 105 ly kiểu mới, đấy là chưa nói đến lực lượng không quân. Tất nhiên, về mặt này ta đã vượt xa họ. Không, không! Tôi không sợ gì họ, không sợ bất kỳ kẻ thù nào trên thế giới!

Cầm bút chì đỏ dánh dấu vào báo cáo, Quốc trưởng quay sang viên trợ lý:

-Ông đặt báo cáo này lên bàn cho tôi, đêm nay tôi sẽ đọc lại lần nữa!

Sau những lời nhận xét của Hitler là sự im lặng nặng nề. Tôi phá tan cái không khí ấy trước sự kinh ngạc của mọi người:

-Thưa quyết tấm, Ngài có ý kiến gì về tiềm lực quân sự của người Anh không? Tôi nghĩ rằng chắc chắn họ sẽ theo đuổi cuộc chiến tranh này đến cùng. Nếu không thấy trước được điều này, tôi e rằng ta sẽ phạm sai lầm.

Quốc trưởng nhìn tôi vẻ ngạc nhiên nói:

-Hiện tại tôi chỉ quan tâm đến sức mạnh đội quân viễn chinh của họ trên đất liền mà thôi. Các cơ quan tình báo của ta đang theo dõi vấn đề này. Người Anh chớ nên quên, nước Đức có một lực lượng không quân hùng hậu. Chúng ta sẽ ném bom các trung tâm công nghiệp cho tới khi họ bị hủy diệt hoàn toàn.

-Thưa Quốc trưởng, bây giờ tôi chưa thể đánh giá ngay lực lượng phòng không của họ-Tôi đáp, nhưng chúng tôi cho rằng người Anh có thể dựa vào hạm đội của họ. Về mặt này, chắc chắn họ mạnh hơn ta.

-Dựa vào hạm đội để phòng thủ chống lại các cuộc tiến công của máy bay ư? Điều này thì tôi chẳng quan tâm. Chúng ta sẽ chơi trò ú tim với hải quân Anh và sẽ làm cho nó mất hiệu lực. Máy bay của ta sẽ rải mìn dọc bờ biển nước Anh, hơn nữa, ông Schelenberg, xin ông chớ quên rằng tôi đang cho đóng tàu ngầm, phải đóng cho nhiều tàu ngầm hơn nữa, càng ngày số lượng tàu ngầm của ta sẽ càng phải tăng lên không ngừng. Lần này người Anh không thể đẩy nước Đức chúng ta trở lại nạn đói một lần nữa đâu.

Đột nhiên Hitler vặn hỏi tôi:

-Thế ý kiến của ông về cuộc thương thuyết với người Anh ở Hà Lan ra sao? Ông cho tôi nghe trước khi thẩm vấn họ.

-Thưa Quốc trưởng, trong cuộc chiến tranh này, người Anh cũng sẽ chiến đấu kiên cường và bền bỉ như bất kỳ cuộc chiến tranh nào trước đây của họ, cả khi ta đánh chiếm lấy hòn đảo duy nhất của tổ quốc họ thì chính phủ Anh sẽ tiếp tục chiến đấu từ Canada, vì đây là cuộc chiến đấu giữa cái sống và cái chết của nước Anh và các đồng minh của họ. Và khi đó thì Stalin chỉ việc ngồi nhìn cuộc xâu xé này mà mỉm cười thích thú. Tôi cảm thấy Himmler đá nhẹ vào chân tôi như có ý nhắc nhở còn Heydrich càng nhìn tôi với cặp mắt nghiêm nghị. Không hiểu tại sao người ta lại không cho tôi được tự do phát biểu ý kiến với Hitler? Như bị kích động thêm và không tự kiềm chế nổi tôi tiếp tục nói:

-Thưa Quốc trưởng, không biết liệu nước Đức đã đến lúc cần phải thay đổi chính sách với người Anh trong hiệp định Gô-đéc-sbéc chưa?

Nói xong tôi thấy mọi người đưa mắt nhìn nhau sợ hãi. Heydrich như cảm thấy tóc gáy dựng cả lên, còn Himmler thì cúi mặt nhìn xuống bàn, thái độ tỏ ra bối rối và cứ mân mê mẩu bánh mì trong tay.
Logged

Khi con sinh ra mọi người đều cười chỉ mình con khóc.
Con hãy sống sao cho: khi con chết đi, mọi người đều khóc chỉ mình con cười.
canaris
Thành viên
*
Bài viết: 78



WWW
« Trả lời #32 vào lúc: 11 Tháng Tư, 2010, 07:09:24 pm »

Hitler nhìn thẳng vào tôi im lặng. Tôi cố chịu đựng cái nhìn đó trong mấy phút cảm thấy như nó không bao giờ dứt ra nữa. Sau cùng Hitler nói:

-Tôi mong ông tự suy nghĩ và nên đặt nước Đức vào bối cảnh chung. Về cơ bản, tôi muốn hợp tác với người Anh, nhưng họ đã gạt bỏ mọi yêu cầu của ta. Thật ra, không có gì tồi tệ hơn là trong gia đình mọi người lại có sự cãi cọ nhau. Xét về phương diện chủng tộc, về mặt nào đó người Anh là anh em với chúng ta. Về điểm này thì ông có lý đấy. Song tiếc rằng chúng ta phải chấp nhận một cuộc chiến đấu đến cùng, trong khi đó kẻ thù chính của ta ở phía đông lại có thể ung dung nhìn thấy cái châu Âu này bị suy yếu đến kiệt sức. Chính vì vậy mà tôi không muốn tiêu diệt nước Anh và sẽ không bao giờ hủy diệt họ (giọng Hitler trở nên chua xót và sâu xa). Nhưng phải làm cho họ trước hết là Churchill hiểu rằng nước Đức, và cả nước Anh nữa phải có quyền cùng tồn tại. Song tôi quyết định chiến đấu cho tới khi nào người Anh phải tỏ ra tôn kính dân tộc này. Ngày nước Anh tỏ ra biết điều và phải ký kết một hiệp ước với ta sẽ đến! Đó là mục đích của ta, ông hiểu chứ!?

-Vâng, thưa Quốc trưởng, tôi sẽ là người thực hiện bằng được lý tưởng của ngài! Nhưng xin Quốc trưởng chớ nên quên rằng tâm lý của một dân tộc sống trên đảo không giống với tâm lý của chúng ta. Lịch sử và truyền thống dân tộc của họ cũng khác với lịch sử và truyền thống của nhân dân Đức, nó được xác định bằng những pháp luật xa xưa xuất phát từ hoàn cảnh là họ sống trên một hòn đảo. Vì thế nên nước Anh đã trở thành một cường quốc thuộc địa. Cuộc sống người dân Anh gắn liền với hòn đảo của họp, còn ta thì gắn với một cái lục địa châu Âu này. Ở đây chúng ta phải là một cường quốc lục địa. Khó có thể hòa hợp hai đặc tính dân tộc hoàn toàn khác này lại với nhau, mặc dù chỉ là sự khác nhau về hai mặt đó. Người Anh gan góc đến mức ngoan cố, ít xúc cảm và sôi nổi. Không phải ngẫu nhiên mà người ta gọi họ bằng cái tên “anh chàng Giôn-bơn”. Một cuộc chiến tranh như vậy có thể dẫn đến sự sụp đổ. Ai có thể đoán trước được hậu quả của sự sụp đổ đó sẽ ra sao?

-Ông bạn thân mến, đây là nỗi lo lắng của tôi, hãy để việc đó lại cho tôi!

Im lặng giây lát, Hitler nói tiếp:

-Ông đã đến gặp Ribbentrop về bức công hàm của chính phủ Hà Lan kháng cáo viên sĩ quan của họ bị chết vì các vết thương chưa?

Quay lại Heydrich, Hitler mỉm cười:

-Người Hà Lan thật ngốc. Ở hoàn cảnh họ, tôi sẽ im lặng. Nhưng không, họ định chơi xỏ ta bằng bức công hàm đó. Rồi có ngày ta sẽ tính chuyện với nó. Họ nhận Cơ-lốp là sĩ quan của Bộ Tổng tham mưu Hà Lan, điều đó chứng tỏ chính phủ họ đã vi phạm nền trung lập chứ không phải ta.

Tôi đáp lại là tôi chưa gặp Ribbentrop. Hitler ngồi im lặng. Sau đó Quốc trưởng quay sang Himmler.

-Tôi có một số việc muốn bàn với ông! Nói xong, Hitler đột ngột đứng dậy, gật đầu chào mọi người rồi quay lại phía Heydrich và tôi:

-Tôi muốn gặp cả hai ông.

Chúng tôi cùng bước sang phòng bên. Cạnh lò sưởi đã kê sẵn những chiếc ghế bành sang trọng. Vừa đi Himmler vừa thì thầm với tôi:

-Ông có cái đầu lợn khá thông minh đấy, nhưng không sao, Quốc trưởng ngài rất vui và thông cảm.

Heydrich nói chen vào:

-Ông bạn thân mến, chưa khi nào tôi nghĩ rằng ông lại thân người Anh đến như vậy. Phải chăng đó là kết quả của các cuộc thương lượng giữa ông với các tên Bét-stơ và Sti-vơn.

Tôi nghĩ bụng tốt nhất là cứ im lặng, không trả lời câu hỏi này của Heydrich. Có lẽ thời gian qua tôi đã đi quá xa rồi chăng? Sau đó Hitler gặp riêng Himmler. Không ngồi yên một chỗ, Quốc trưởng vừa nước bằng gót chân vừa nói, còn Himmler đi sát bên, tỏ vẻ chăm chú lắng nghe.

Tôi nghe hai viên trợ lý thì thào với nhau:

-Trông kìa! Hen-ni, cái kiểu bợ đỡ như thế kia, có lẽ ông ta sẽ bò vào tận tai của “ông cụ” đấy!

Hitler có thói quen uống chè ướp bạc hà, nhưng Quốc trưởng lại gọi lấy rượu sâm banh để đãi khách. Sau khi trao đổi với Himmler bằng một giọng rất nhỏ không muốn để mọi người nghe thấy, Quốc trưởng quay lại nói với chúng tôi về lực lượng không quân Đức. Ngài đánh giá cao công việc mà Goering đã làm, đặc biệt là những kinh nghiệm của Goering, người đã có nhiều chiến công trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Hitler còn nói về các loại súng phòng không, đến vấn đề sản xuất thời chiến và nhiều vấn đề quân sự khác tới khi tiễn chúng tôi ra tận cửa. Tôi về đến nhà đã nửa đêm, cảm thấy trong người vô cùng mệt mỏi.
Logged

Khi con sinh ra mọi người đều cười chỉ mình con khóc.
Con hãy sống sao cho: khi con chết đi, mọi người đều khóc chỉ mình con cười.
canaris
Thành viên
*
Bài viết: 78



WWW
« Trả lời #33 vào lúc: 11 Tháng Tư, 2010, 07:09:57 pm »

Hôm sau theo lệnh của Hitler, tôi và Muy-le đến gặp Heydrich. Muy-le báo cáo tình hình En-xe đêm qua và sáng nay. Ba chuyên gia thần kinh đã khám cho En-xe và các biện pháp điều tra En-xe vẫn đang tiếp tục. Họ tiêm cho anh ta các liều thuốc gây rối loạn thần kinh, nhưng anh ta vẫn không hề thay đỏi ý kiến mặc dù đã sử dụng thuốc ở liều lượng cao. Muy-le còn cho chuyển cả một “xưởng mộc” đến để kiểm tra tay nghề của En-xe. Anh ta đã đục đẽo liền trong mấy ngày và gần hoàn thành được “quả bom”. En-xe cũng làm được chiếc cột trông giống chiếc cột trong nhà máy, nơi cất giấu quả bom trong đó. Heydrich tỏ ra quan tâm đến vụ này và cả ba chúng tôi cùng đến buồng giam En-xe.


Lần đầu tiên tôi trông thấy anh ta. Thân hình gầy gò xanh xao nhưng En-xe có cặp mắt sáng và thông minh, bộ tóc nâu thẫm, chiếc trán cao và đôi bàn tay rắn chắc. Đó là loại người có tay nghề thủ công cao. Những việc làm trong mấy ngày qua chứng tỏ tay nghề của anh ta vào loại thợ bậc thầy, có thể gọi sản phẩm đó như một tác phẩm. Ban đầu, gặp chúng tôi, anh ta tỏ ra lo ngại, rụt rè, nói năng miễn cưỡng, đến khi chúng tôi hỏi về mục đích hành động, lúc đó anh ta mới thoát ra khỏi sự lầm lì. Sôi nổi, hoạt động, En-xe tả lại khá kỹ những gì có liên quan đến cấu tạo của quả bom và làm cách nào để anh ta hoàn thành nó. Dần dần En-xe càng tỏ ra thích thú say sưa, hình như quên cả mục đích tồi tệ mà người ta khéo léo bày đặt cho anh. Hỏi đến hai người tòng phạm trùng tên En-xe, anh ta vẫn trả lời như cũ và nói rằng mình chẳng làm việc này cho ai. Heydrich nêu các câu hỏi về loại chất nổ, ngòi nổ và mối quan hệ với người nước ngoài để thẩm tra, thăm dò xem anh ta có mất cảnh giác không thì anh ta trả lời không hề đắn đo, do dự. Không một chút bối rối, En-xe thừa nhận hành động đó quả là một việc nguy hiểm. Khi quyết định phải ám sát Hitler, En-xe biết cuộc sống của mình sẽ kết thúc. Chính anh ta có âm mưu thực hiện vụ ám sát và đã tìm cách cải tiến kỹ thuật để làm sao thực hiện trọn vẹn ý đồ. Vì vậy công việc chuẩn bị của anh ta đã kéo dài một năm rưỡi.


Chúng tôi đưa mắt nhìn nhau như để trao đổi, Muy-le giống như bị kích động mạnh còn Heydrich nở một nụ cười mỉa mai. Chúng tôi rời phòng giam ra về. Hom sau người ta cử bốn chuyên gia nổi tiếng về thôi miên đến thử nghiệm En-xen, nhưng chỉ có một nguời đạt kết quả trong việc thôi miên anh ta. Mặc dù ở trong trạng thái bị thôi miên nhưng En-xe vẫn khai đúng như những lần trước.


Theo tôi, một trong bốn nhà thôi miên ấy đã có sự phân tích khá tốt về đặc điểm và nguyên nhân của En-xe. Ông ta cho rằng thủ phạm vụ mưu sát là kẻ cuồng tín đến mức bị rối loạn tâm thần chỉ còn biết hành động cho lý tưởng một cách cứng nhắc. Tâm lý anh ta hết sức phức tạp và liên quan đến những vấn đề thuộc kỹ thuật và được biểu hiện ra ở hiện tượng muốn hoàn thành một cái gì đó thực sự phi thường. Đây là trạng thái mất cân bằng “nghèo nàn” và “bất thường” giữa nhận thức và tư tưởng, xuất phát từ lòng khát khao được trả thù cho sự uất ức căng thẳng, một sự bất công mà người anh ruột của thủ phạm là nạn nhân. Chỉ có cách giết cho được người cầm đầu của cái đệ tam đế chế thì mới giải thoát được tâm lý phức tạp này. Làm được như thế bản thân anh ta sẽ nổi danh, mọi người sẽ biết tới, và sẽ được coi như thần tượng của nền đạo lý, tương tự như việc cứu nước Đức thoát ra khỏi cơn hiểm nghèo. Có những kích thích phức tạp xuất phát từ lòng mong muốn chưa được đáp ứng và sự hy sinh đó là đặc điểm tâm lý của những tín đồ tôn giáo cuồng tín.


Cuộc điều tra còn phát hiện những người thân trong gia đình En-xe cũng có những rối loạn tâm lý tương tự.


Himmler tỏ ra không thỏa mãn với những kết luận của chúng tôi. Trước khi lên báo cáo Quốc trưởng, ông ta như nằn nì, khẩn khoản sự giúp đỡ của tôi:

-Ông Schelenberg, đây không phải là nhiệm vụ chính của chúng ta mà công việc của chúng ta là làm sao phải tìm cho ra kẻ nào đứng đằng sau sự kiện này. Quốc trưởng không khi nào tin rằng chỉ có một mình En-xe hành động. Ngài không ngừng nhấn mạnh sự cần thiết phải có một vụ xử án lớn để tuyên truyền đó sao?

Vấn đề này luôn luôn ám ảnh Himmler suốt ba tháng trời. Tôi còn gặp phải nhiều khó khăn, trở ngại lớn trong việc phòng ngừa không để cho Bét-stơ và Sti-vơn bị lôi cuốn hoặc có liên quan đến vụ án này.
Logged

Khi con sinh ra mọi người đều cười chỉ mình con khóc.
Con hãy sống sao cho: khi con chết đi, mọi người đều khóc chỉ mình con cười.
canaris
Thành viên
*
Bài viết: 78



WWW
« Trả lời #34 vào lúc: 11 Tháng Tư, 2010, 07:11:09 pm »

CHƯƠNG 8
BỨC CHÂN DUNG CỦA HITLER

Tôi đã được gặp Hitler, có dịp làm việc nhiều lần với Quốc trưởng và biết khá rõ những chi tiết trong cuộc sống hàng ngày cũng như biết phương pháp làm việc, về những khái niệm chính trị và xã hội của ông ta. Những điều đó tôi muốn dựng lên một bức tranh toàn cảnh về tính cách của Hitler. Nhưng dù còn tỏng suy nghĩ hay viết để mô tả một cách thật đầy đủ về con người Hitler đi chăng nữa thú thật tôi không sao thực hiện được.


Sự hiểu biết và kiến thức của Hitler ở một số lĩnh vực nào đó có tầm rộng lớn, song cũng mới chỉ ở bình diện và có nhiều biểu hiện của sự ham mê kiểu chơi trội, tài tử mà thôi. Hitler có một thiên tư chính trị phát triển nhưng lại thiếu một sự thận trọng, chu đáo, tỉ mỉ. Nó được che đậy bằng những khái niệm và ảo giác khó giải thích và những sự cấm đoán của giai cấp tiểu tư sản. Những đặc điểm cá tính bao trùm ở Hitler là tuyệt đối tin tưởng vào Thượng đế đã trao cho ngài gánh vác sứ mệnh lớn lao đối với dân tộc Đức. Đó là cái “sứ mệnh lịch sử” mà ngài hết sức tin tưởng.


Với tác phong nhanh nhẹn và sự năng động trong tính cách, Hitler đã gây cho mọi người có ấn tượng về sự thông minh với một kiến thức sâu rộng và lý tưởng cao cả của ông ta. Hơn nữa, sự suy nghĩ biện chứng một cách kỳ lạ đã giúp Hitler chiến thắng mọi lập luận của các chuyên gia nổi tiếng lúc bấy giờ trên mọi lĩnh vực và thường dẫn tới những hậu quả nguy hại. Hitler dễ làm cho đối phương của mình chưng hửng, bị rối trí hoặc lạc hướng đến nỗi họ không thể tìm ngay được câu giải đáp đúng đắn và thích hợp.


Hitler thích mọi người tôn trọng mình đến tột đỉnh và ham muốn quyền lực tối cao cộng với sự thô bạo của ngài đến mức tàn nhẫn nhiều khi đưa tới những phản ứng khủng khiếp trong nghị lực lẫn trong cách giải quyết vấn đề. Với bản tính vốn có ấy, Quốc trưởng có thể thống trị nước Đức và làm cho cả thế giới phải kiêng nể.


Hitler không tin vào bất cứ một thần linh nào ngoài đấng thượng đế tối cao. Với Quốc trưởng chỉ các quan hệ máu mủ giữa các thế hệ kế tiếp nhau mới là đáng kể, ở đây Hitler đã gắn bó nó với một khái niệm mơ hồ về một định mệnh của Chúa trời. Ngài cũng không tin vào chuyện có một cuộc sống khác sau khi chết. Vấn đề này, Quốc trưởng thường hay đọc câu thơ của Ét-đa, một trích đoạn nổi tiếng của nền văn học cổ xứ Ít-slăng. Theo Hitler, câu thơ đó chứa đựng một sự khôn ngoan rất mực của người dân vùng Bắc Âu:

“Vạn vật sẽ mất đi,
Chỉ còn lại cái chết
Và vinh quang
Của những người đã khuất
Là tồn tại!”
.

Cuối đời mình, lòng tin vào “sứ mệnh” của Hitler phát triển đến cực độ và trở thành sự độc tài, cuồng nhiệt. Lúc đó Quốc trưởng tự coi mình là Chúa cứu thế của nước Đức và trở nên người đứng đầu của một dân tộc có 80 triệu dân. Chỉ trong vòng 12 năm cầm quyền ngắn ngủi nhưng Hitler đã để lại những dấu ấn khó phai mờ trong lịch sử.


Chỉ đến khi người Đức không thực hiện nổi những điều mong ước của Hitler tại Stalingrad và Bắc Phi, chỉ đến khi khả năng thất bại đã rõ ràng thì những “khả năng trực giác” và sự sùng bái cá nhân đối với Quốc trưởng mới bắt đầu giảm sút. Mặt khác, ngay từ cuối năm 1943, những triệu chứng của bệnh Parkinson ngày càng xuất hiện rõ ở Hitler. Bác sĩ Đờ Crơ-nít cùng hai bác sĩ riêng của Hitler là bác sĩ Brea-đơ và Xtum-phê-gie đều xác nhận là hệ thần kinh của Quốc trưởng có biểu hiện của sự suy thoái.


Heydrich được các bác sĩ thông báo những chỉ tiết nhỏ nhất trong cuộc sống riêng của Hitler. Ông ta biết rõ kết quả những cuộc chẩn đoán của các bác sĩ, nắm chắc mọi chiều hướng, mọi triệu chứng bệnh lý không bình thường của nhà lãnh đạo này. Khi nó được chuyển qua văn phòng của Himmler sau khi Heydrich chết. Các tài liệu ấy cho biết với một sự say mê, một sức mạnh ma quỷ, Hitler lao vào công việc đến mức ngài không hề nghĩ đến cả những việc chung sống bình thường với một phụ nữ. Lòng ham muốn nắm cho được chính quyền bằng mọi giá khiến ho Hitler cảm thấy thỏa mãn. Trong khi đọc diễn văn, Quốc trưởng tự đề cao ngài tỏ vẻ mãn nguyện. Có thể Hitler cũng cảm thấy tình trạng không bình thường ấy và bản thân cũng lo ngại có sự thoái hóa của hệ thần kinh. Vì thế Quốc trưởng đã hỏi ý kiến bác sĩ Mo-ren và bác sĩ Bren-đơ về tình trạng sức khỏe của mình. Song việc chẩn đoán và những liều thuốc của bác sĩ Mo-ren đã không làm cho bệnh trạng của Quốc trưởng giảm nhẹ mà trái lại, có phần nặng thêm. Mo-ren cho rằng các triệu chứng trên là một phần không thể tách rời khỏi những ham muốn về quyền lực của Hitler và nó tác động đến Quốc trưởng như sức hút của thanh nam châm với mạt sắt.
Logged

Khi con sinh ra mọi người đều cười chỉ mình con khóc.
Con hãy sống sao cho: khi con chết đi, mọi người đều khóc chỉ mình con cười.
canaris
Thành viên
*
Bài viết: 78



WWW
« Trả lời #35 vào lúc: 11 Tháng Tư, 2010, 07:11:37 pm »

Chính trong thời kỳ có sự suy sụp về thần kinh và thể trạng này của Hitler mà Quốc trưởng đã đưa ra quyết định phải tiêu diệt người Do Thái.

Sự điên rồ về đầu óc chủng tộc của Hitler là một trong những nét khá độc đáo. Nhiều lần tôi đã trao đổi vấn đề này với bác sĩ Gút-bác-lét một thầy thuốc ở Munich và là hội viên trong cái câu lạc bộ thân mật của Hitler. Bác sĩ Gút-bác-lét cũng tin vào chiếc “đồng hồ vũ trụ”-một sản phẩm quái gở của các nhà chiêm tinh. Ông ta còn hy vọng chiếc đồng hồ này sẽ khám phá được sự hiện diện của dòng dõi Do Thái và tất cả những người có quan hệ với họ. Hitler đã dựa vào cái gọi là năng lực của Gút-bác-lét để gặp gỡ, trao đổi với bác sĩ về chủ đề này.


Lòng căm ghét người Do Thái của Hitler xuất hiện đồng thời với những lập luận của ngài về tính ưu việt của chủng tộc German. Những ngày ở thăm Vienna, thủ đô Áo, Quốc trưởng đã chịu ảnh hưởng của phong trào Sô-ne-re. Sô-ne-re là thủ lĩnh phái bài Do Thái ở Áo, đại diện cho một lực lượng chính trị khá lớn trong những năm đầu của thế kỷ 20.


Thời gian này Hitler chịu khó đọc khá nhiều tài liệu về những lĩnh vực khác nhau và quan tâm nhiều đến thời tiền sử của các bộc tộc German, về nguồn gốc của nền văn hóa Bắc Âu cùng với vai trò lịch sử của giống người Aryan. Hitler đã xây dựng được một cơ sở lý luận về chủng tộc mà hiện thân của nó là chủ nghĩa bài Do Thái. Tuy nhiên sức mạnh của sự cảm xúc cũng góp phần sản sinh ra những tính cách riêng của Hitler.


Một người khác cũng ảnh hưởng lớn tới Hitler, đó là Pơ-le-xinh-gie, kỹ sư người Áo. Thông qua người này, trong tư tưởng Hitler, đã định hình về sự cấu trúc ban lãnh đạo Đảng Quốc xã theo tổ chức hội đoàn của những người Do Thái. Trong các diễn văn của mình, Hitler đã dùng một câu nói của Pơ-le-xinh-gie, nhà triết học của công nghiệp Quốc xã ấy như sau:

“Người Do Thái chỉ là những con dòi của sự thối rữa. Họ có thể tư duy khái quá nhưng không thể có tư tưởng sáng tạo”.

Từ năm 1943, lòng căm ghét người Do Thái của Hitler tăng lên đến mức độ thật sự bệnh hoạn. Hitler cho rằng, tất cả những người Do Thái, dù họ ở bất kỳ nơi nào trên thế giới đều chịu trách nhiệm trước sự thất bại của Đức. Chính họ đã gợi ý cho Churchill và Roosevelt nêu ra yêu sách “đầu hàng không điều kiện” đối với Đức, tại hội nghị Cassablanca. Dù Churchill hay Roosevelt đi nữa thì những người này chỉ đáng là tôi tớ của người Do Thái mà thôi. Điều này chứng tỏ ảnh hưởng của sự mê tín, bói toán đã hình thành một lý luận “khoa học” giả hiệu và phát triển tới mức bệnh hoạn ở con người cầm đầu 80 triệu dân này. Những ý kiến thực tế đã có tính chất xây dựng hay không xây dựng nhưng dựa trên những bằng chứng lịch sử và chính trị đều bị những khái niệm về lý luận “khoa học” giả hiệu này bác bỏ. Người Anh, một dân tộc vốn xuất thân từ chủng tộc German thực tế phải được mọi người quý trọng ngang với dân tộc Đức chính cống.


Mục đích cuối cùng của Hitler là hợp nhất những người thuộc chủng tộc German sống ở mảnh đất châu Âu hay bất kỳ nơi nào để chống cộng sản. Dựa trên quan điểm này, học thuyết về chủ nghĩa phân biệt chủng tộc của Hitler đóng một vai trò quyết định. Bất kể các báo cáo của cơ quan tình báo gửi đến Quốc trưởng mà có nội dung trái với ý kiến của Hitler đều bị từ chối, vì Hitler không chịu từ bỏ khái niệm điên rồ của ông ta. Hitler cho rằng ngay từ năm 1920, Stalin đã thi hành một chính sách bí mật nhằm đồng hóa các dân tộc trên đất Nga. Kế hoạch này còn tạo ra cho người Mông Cổ chiếm ưu thế so với các dân tộc khác. Quốc trưởng không thèm đếm xỉa gì đến những báo cáo của cơ quan tình báo mà còn tin tưởng vào những ý nghĩ ngày càng mù quáng hơn trước đây. Về vấn đề này, tôi nhớ lại câu chuyện trao đổi với Himmler vào năm 1942 khi tôi báo cáo những nhận định của Hitler về các cuộc thương thuyết giữa Nhật Bản và Trung Quốc cho một nền hòa bình ở phương Đông. Lúc đó hai chúng tôi đứng bên cạnh một quả địa cầu. Himmler khoa tay lên lãnh thổ nước Nga và chỉ vào nước Đức, nói rằng: “Nếu lần này chúng ta lại bại trận thì vĩnh viễn không bao giờ còn có một chiến thắng nào nữa”. Lấy tay xoa quả địa cầu rồi chỉ vào Trung Quốc, Himmler nói tiếp: “Chuyện gì sẽ xảy ra nếu một ngày nào đó nước Nga liên kết được với Trung Quốc?”. Tôi chỉ có thể nhắc lại câu nói của Quốc trưởng về vấn đề này sau đó ít lâu là: “Xin thượng đế ngài hãy trừng phạt cái nước Anh chết tiệt ấy đi!”. Đầu tiên, khái niệm về “một khoảng trời Âu-Phi” được hình thành ở Hitler với sự hỗ trợ của nước Anh nhằm xây dựng một trung tâm đấu tranh chống các nước phương Đông. Sau năm 1940, khi người Anh từ chối sự hòa giải với Đức thì Hitler chuyển khái niệm trên sang một khái niệm mới là “vùng trời châu Âu”. Quốc trưởng đã dựa vào lực lượng của riêng bản thân nước Đức và tiềm lực của các nước bị chiếm đóng để duy trì việc thống trị châu Âu! Thật là một tư tưởng, một hành động phiêu lưu, mạo hiểm! Mở cuộc tấn công sang phía đông, Hitler muốn có thêm một thuộc địa để phục vụ cho mục đích vì lợi ích của một châu Âu thống nhất. Tất nhiên khi đó nước Anh là quốc gia bị gạt ra khỏi khối này rồi.
Logged

Khi con sinh ra mọi người đều cười chỉ mình con khóc.
Con hãy sống sao cho: khi con chết đi, mọi người đều khóc chỉ mình con cười.
canaris
Thành viên
*
Bài viết: 78



WWW
« Trả lời #36 vào lúc: 23 Tháng Năm, 2010, 08:32:07 am »

CHƯƠNG 9
CHIẾN DỊCH SƯ TỬ BIỂN


Đầu năm 1940, nhiệm vụ của tôi rất nặng nề. Công việc chủ yếu là phải cải tổ lại cơ quan phản gián vào những tháng cuối năm. Ngoài ra tôi thường được giao những công tác đột xuất nên có khi phải làm việc tới 17 giờ trong một ngày. Cả những thú vui duy nhất của tôi là cưỡi ngựa dạo chơi vào lúc sáng sớm cũng phụ thuộc vào công việc. Bình thường tôi cùng với Đô đốc Canaris, Cục trưởng Cục tình báo quân sự cưỡi ngựa, vừa đi vừa bàn bạc, xem xét các vấn đề mà chúng tôi cùng quan tâm nhằm phối hợp công tác của hai tổ chức tình báo này.


Đầu năm đó, Bộ tư lệnh tối cao quân Đức bị một thất bại hết sức đau đớn. Nguyên do hai sĩ quan Đức được cử đi Cologne, dọc đường họ được mời ghé qua Mun-stơ thăm người bạn cũ. Một trong hai sĩ quan đó đem theo các tài liệu tuyệt mật, đó là “bản kế hoạch tấn công đánh chiếm Bỉ và Hà Lan”.


Mải vui chơi ở Mun-stơ, hai sĩ quan để lỡ chuyến tàu đi Cologne. Là một chỉ huy của lực lượng không quân Đức, người bạn của họ đã bố trí cho hai sĩ quan đi theo một chuyến máy bay và cả hai đã vui vẻ nhận lời. Nhưng sương mù quá nhiều, mất liên lạc với sân bay nên buộc máy bay phải hạ cánh xuống gần Ma-li-nơ thuộc Bỉ. Lập tức hai sĩ quan quyết định phải thiêu hủy tài liệu nhưng không kiếm đâu ra lửa. Khi họ đang loay hoay chưa biết tính sao thì đã bị nhà cầm quyền Bỉ bắt giữ. Tại trụ sở cảnh sát, lừa lúc không có ai, họ định ném tập tài liệu vào lò sưởi. Ác thay! Các tài liệu này không cháy mà chỉ đỏ hồng lên. Cảnh sát Bỉ đã giữ lại được và đem ra mã dịch một cách dễ dàng.


Nghe tin này, Hít-le nổi cơn thịnh nộ. Lúc đầu nghi họ cố ý phản bội, quốc trưởng định ra lệnh bắn hai sĩ quan tại chỗ. Nhưng qua điều tra kỹ thì họ phạm tội là do khinh xuất. Ban đầu các nước phương Tây hết sức lo lắng và kinh hoàng. Sau họ cho rằng biết đâu Đức cố ý tung tài liệu này ra nhằm phao tin giả nên đã không tin rằng người Đức lại phạm phải sai lầm ghê gớm đến thế. Sau sự việc bất ngờ đó, một buổi tối Him-le mời tôi đến và cho biết ông ta không sao gặp được Hây-đrich, còn tôi phải chuẩn bị thảo gấp thông cáo đề ra những nguyên tắc giữ bí mật trong quân đội. Nguyên tắc này cũng áp dụng trong tất cả các ngành dân sự, các cơ quan Nhà nước, Hít-le muốn công bố bản thông cáo này ngay trong đêm đó. Him-le tỏ ra lo lắng, dao động và bối rối nên không truyền đạt cho tôi rõ ý định cụ thể của Hít-le. Mỗi lần tôi định hỏi thêm một chút thì ông ta lại cáu gắt, thiếu bình tĩnh. Cuối cùng ông ta giao cho tôi phải thảo xong mệnh lệnh này trong vòng 2 tiếng đồng hồ.


Trở về phòng làm việc, phải dành ra nửa tiếng đồ hồ để suy nghĩ và đã thảo ra những điểm chính, nhưng khi Him-le đưa nó ra trình bày với quốc trưởng thì ông ta nói rằng chưa đạt. Bản thân quốc trưởng tự đọc thông báo này và gọi đó là bản “Mệnh lệnh số 1 gửi cho những người chỉ huy các cơ quan dân sự và quân sự".


Thông báo đó, Hít-le nêu lên những quy định để giữ gìn bí mật thời chiến là chỉ có những người có trách nhiệm mới được biết những vấn đề có liên quan. Đối với cơ quan tình báo của Him-le và Hây-đrich thì điều này chẳng phải cái gì mới, bởi vì ở các tổ chức này, việc vạch kế hoạch và công tác hành chính là hai vấn đề hoàn toàn biệt lập, không dính dáng gì với nhau. Sự tách rời, biệt lập này từ lâu đã trở thành một nguyên tắc đến mức các chỉ huy của cơ quan này không bao giờ hỏi nhau về công việc của người khác, cũng không bao giờ thông báo cho nhau về cái mà họ đang thực hiện. Dù sao mọi người đều nhận thức rằng một việc nào đó mà bí mật quá đáng thì chẳng những chỉ có hại cho sự hợp tác với nhau mà còn gây tình trạng công việc bị chồng chéo, hơn nữa làm cho một số người có thể che giấu được những sai lầm và các yếu kém của họ.


Đầu tháng 3 năm 1940, Hít-le lấy mật danh Ve-dơ-uy-bung (một danh từ riêng, vô nghĩa) để đặt tên cho chiến dịch đánh chiếm Na Uy và Đan Mạch. Tôi được giao nhiệm vụ đẩy mạnh các hoạt động liên lạc, tiếp tục để nắm tình hình ở Na Uy. Tại cảng Hăm-bua, chúng tôi đã có các cơ sở bí mật và tình báo viên làm việc trong các công ty vận tải Đức-Na Uy, một số còn nằm trong các xí nghiệp đánh và chế biến cá. Nhiệm vụ trước hết của họ là phải cung cấp những tin về thuỷ văn, khí tượng cho hạm đội hải quân Đức bảo đảm cho việc vận chuyển các đơn vị lớn, họ cũng đã cung cấp những tin tình báo hết sức quý giá cho lực lượng không quân. Những tin ấy được thông báo dưới dạng “giá cả”, mẫu, số lượng cá đánh bắt và được chuyển về bằng điện thoại hoặc bằng máy phát vô tuyến điện một cách dễ dàng.


Hít-le quyết định đánh chiếm Na Uy và Đan Mạch là căn cứ vào các báo cáo của cơ quan tình báo chúng tôi nói rằng quân Anh đang tập trung hạm đội của họ để mở đợt tấn công vào Na Uy. Nhiệm vụ chúng tôi là phải bảo đảm mọi bí mật cho việc chuẩn bị tấn công xâm lược, đặc biệt là giữ bí mật các cuộc tập trung và vận chuyển quân đội. Yêu cầu của việc điều động gấp lực lượng hải, lục, không quân lại mâu thuẫn với việc giữ bí mật. Tôi đã cố gắng khẩn trương cho kiểm tra các hải cảng, các khu vực tiếp giáp và các trục đường giao thông chính, những chuyến xe lửa chở khách và các khách sạn đều đặt dưới sự giám sát chặt chẽ.
Logged

Khi con sinh ra mọi người đều cười chỉ mình con khóc.
Con hãy sống sao cho: khi con chết đi, mọi người đều khóc chỉ mình con cười.
canaris
Thành viên
*
Bài viết: 78



WWW
« Trả lời #37 vào lúc: 23 Tháng Năm, 2010, 08:32:46 am »

Ở Stét-tin, tình hình lúc nào cũng ồn ào náo động. Khắp thành phố giống như một gánh xiếc đang ở thời kỳ dựng rạp chuẩn bị biểu diễn: đồ đạc, dụng cụ ngổn ngang. Trên các đường phố, bộ đội đi lại nườm nượp binh bính thì chạy lăng xăng đi tìm đơn vị; sĩ quan thì chạy đi chạy lại để đốc thúc đơn vị mình chuẩn bị xuống tầu. Trong số ấy người ta dễ nhận ra những đơn vị sơn cước ngươờ Áo, qua tính cách riêng, qua thái độ và hành động quá hiền lành nhu nhược và tính hài hước, châm biếm của họ. Thật khó có thể áp dụng các biện pháp an ninh nghiêm ngặt để buộc họ phải tuân theo và tôi cũng không giải đáp đươợ làm sao các cuộc chuyển quân ồ ạt như thế này lại có thể tránh được sự chú ý của các cơ quan tình báo địch? Chẳng khó khăn gì cũng có thể phán đoán được việc chuyển quân này đang nhằm vào hướng nào.


Trong số các yêu cầu đặt ra cho tôi còn có một yêu cầu của Rip-ben-trốp. Ông ta muốn biết liệu chúng tôi có đủ nhân viên và các cơ sở bảo đảm an toàn cho các gia đinh hoàng tộc của Vương quốc Đan Mạch một khi cuộc chiến tranh nổ ra trên đất họ hay không? Thế rồi, giờ hành động đã đến, chiến dịch tiến công vào Đan Mạch đã diễn ra mau lẹ đúng như kế hoạch, không đổ máu.


Khi quyết định đánh chiếm Na Uy và Đan Mạch, Hít-le chưa hề biết một quyết định mới của Bộ tư lệnh tối cao các nước đồng minh ngày 28-3-1940. Đó là quyết định tiến hành thả mìn dọc bờ biển từ Na Uy-Đan Mạch đến sát Thuỵ Điển, bất chấp nền trung lập của các nước này. Nếu biết trước được quyết định này chắc chắn Hít-le đã không cần phải có những thủ đoạn để dẫn tới việc chiếm đóng hai nước trên. Tiếc rằng chúng tôi chỉ nhận được toàn văn quyết định đó của đồng minh ít ngày sau khi đã chiếm đóng Na Uy và Đan Mạch thông qua một điệp viên làm việc ở tổng đài điện thoại riêng của thủ tướng Pháp là Pôn Rây-nô. Tài liệu này còn cho biết thêm: quân Đồng minh dự định sẽ oanh tạc khu khai thác dầu lửa của Liên Xô ở vùng Cáp-ca-dơ và gây các trở ngại cho việc tiếp nhận dầu lửa của chúng tôi ở Ru-ma-ni.


Giữa lúc đó Hít-le ra lệnh cho tôi phải cùng với Ríp-ben-trốp phân tích thực chất cuộc thương thuyết ở Văng-lô kết hợp với những lời khai gần đây của thiếu tá Sti-vơn và đại uý Bét-stơ viết báo cáo gấp trình lên quốc trưởng. Khi tôi đến, Ríp-ben-trốp đang đứng sau chiếc bàn, hai tay chắp sau lưng. Nhìn tôi bằng cặp mắt lạnh lùng và thiếu thiện cảm. Ríp-ben-trốp chỉ vào chiếc ghế, mời tôi ngồi và hỏi:

-Chắc ông có việc gì cần gặp tôi?

Tôi nghĩ bụng, việc tôi đến đây chắc ông phải biết trước rồi chứ? Tuy vậy, bằng giọng nhẹ nhàng nhưng không kém vẻ chậm biếm, cộc lốc, tôi đã buộc ông ta phải thay đổi thái độ. Ríp-ben-trốp cũng cảm thấy ngay điều đó nên sau đó ông ta đã nói với giọng nhã nhặn hơn:

-Thôi, chúng ta hãy nói chuyện đứng đắn với nhau thì hơn. Nào, trước hết ông hãy nói lai những việc ông đã nắm được đi.

Từ đó, thái độ của ông ta trở nên tốt hơn. Ríp-ben-trốp tỏ ra hết sức chú ý đến những điều tôi phân tích và gật gù có vẻ tán thưởng, nhưng ông ta cũng nêu ra những vấn đề nhằm làm sáng tỏ câu chuyện. Nghe tôi nói xong, Ríp-ben-trốp bảo:

-Quốc trưởng hết sức quan tâm đến công việc của ông. Ngài hoàn toàn tin vào các tài liệu của vụ Văng-lô. Chúng ta có thể chứng minh một cách rõ ràng rằng người Hà Lan đã vi phạm nền trung lập của họ trong việc cộng tác với nước Anh. Họ đã giúp ta có điều kiện để có bản tố cáo đầy đủ về vụ này.


Nói xong Ríp-ben-trốp gọi viên cố vấn pháp lý cùng viên thư ký là Gốt-xơ đến giúp tôi chuẩn bị làm báo cáo. Từ trước đến nay, không một tài liệu quan trọng nào mà không qua tay Gốt-xơ soạn thảo. Khi phát hiện có chỗ nghi ngờ hoặc có vẻ soi mói, ông ta lại khéo léo gợi ý Ríp-ben-trốp với thái độ khách quan. Song bao giờ Gốt-xơ cũng phải nói quanh co một lát rồi mới đi đến câu “Thưa, nếu ngài bộ trưởng cho rằng nếu như thế thì ta sẽ thực hiện bằng cách…”.


Gốt-xơ là người có thân hình cao lớn khoẻ mạnh, cái đầu có vẻ rất trí thức, có thể ông ta là người có quyền lực cao nhất về lĩnh vực luật quốc tế ở nước Đức. Ông ta hết lòng phục vụ qua nhiều chế độ bằng tấm lòng trung thành, mẫn cán theo như lương tâm của mình: từ cái chính phủ xã hội-dân chủ của Xây-đơ-man đến chính quyền của Strét-sơ-man và Bru-ninh, còn bây giờ là chính phủ của những người quốc xã. (Tại toà án Nuy-rem-be, Gốt-xơ là hiện thân của việc chống lại đồng sự. Lúc đó ông ta là người buộc tội và chính ông ta đã buộc tội tôi trong vụ Văng-lô).


Đầu năm 1940, tôi và Gốt-xơ thường trao đổi bàn bạc với nhau nhằm sử dụng những tri thức về pháp luật của ông để khẳng định chính người Hà Lan đã vi phạm nền trung lập của nước họ.


Ngày 1 tháng 5 năm 1940, Hây-đrích lệnh cho tôi phải hoàn thành các báo cáo trong 24 tiếng đồng hồ. Nếu xong sớm ông ta có thể trình ngay lên quốc trưởng. Hôm sau tôi đến Bộ Ngoại giao báo cáo với Ríp-ben-trốp. Người ta đã dựa vào báo cáo của tôi để thảo ra các giác thư gửi cho chính phủ Hà Lan và Bỉ, thông báo cho họ biết việc quân Đức phải chiếm đóng lãnh thổ của họ một cách khẩn cấp.
Logged

Khi con sinh ra mọi người đều cười chỉ mình con khóc.
Con hãy sống sao cho: khi con chết đi, mọi người đều khóc chỉ mình con cười.
canaris
Thành viên
*
Bài viết: 78



WWW
« Trả lời #38 vào lúc: 23 Tháng Năm, 2010, 08:33:35 am »

Giờ giải lao trong buổi gặp đó, Ríp-ben-trốp nói về kinh nghiệm đối với cơ quan tình báo Anh. Ông ta tỏ ý lo ngại về hoạt động của tình báo Anh và cho rằng những người Anh đi du lịch hoặc làm việc, sinh sống ở nước ngoài đều được cơ quan tình báo Anh sử dụng. Qua những điều Ríp-ben-trốp nói ra, có thể thấy ông ta căm thù sâu sắc tất cả những gì có dính líu đến người Anh. Sau đó ông ta đặt vấn đề:

-Vậy thì ai sẽ là người dạy cho cái dân tộc kiêu căng đó một bài học?

Quá nửa đêm hôm đó, chúng tôi mới hoàn thành bản báo cáo và tôi phải đưa bản dịch cuối cùng trình Him-le. Him-le đã tiếp tôi tại nhà riêng và chăm chú đọc báo cáo đó.
Sáng hôm sau, ngày 8 tháng 5, tôi lấy chiếc xe du lịch loại tốt đi gặp tiến sĩ Phrich-cơ bộ trưởng Bộ Nội vụ hiện đang nghỉ ở vùng Ba-vi-e. Bộ trưởng ở lại một biệt thự bên hồ Xtan-be. Báo cáo của tôi phải được tiến sĩ thông qua sau khi Ríp-ben-trốp đã thông qua trước khi trình lên Hit-le xét duyệt.


Hôm đó là một ngày đẹp trời. Tôi cảm thấy chuyến đi này thật khoan khoái. Được thoát khỏi Béc-lin-cái chảo của thầy phù thuỷ-dù chỉ là một thời gian ngắn cũng làm cho tôi thấy khuây khoả, lâng lâng. Gần trưa tôi tới nơi và được tiến sĩ Phrích-cơ đón tiếp ngay. Tiến sĩ đọc bản báo cáo thỉnh thoảng lại nêu ra một vài câu hỏi, nhưng cuối cùng Phrích-cơ đã ký vào báo cáo đó với một thái độ dứt khoát. Một giờ sau, tôi lại rong ruổi trở về Béc-lin, đến nhà vào hồi 9 giờ tối.


Nghe tôi báo cáo kết quả của chuyến đi, Ríp-ben-trốp vỗ nhẹ vào vai tôi tỏ vẻ thân mật và yêu cầu tôi ở lại giúp ông ta chuẩn bị các bản sao của giác thư đó. Nhờ tằng thêm 4 thư ký nữa nên sau hai tiếng đồng hồ mọi việc đều kết thúc.


Bức giác thư được công bố vào sáng sớm ngày 9 tháng 5 thì sáng 10 tháng 5 nhiều cánh quân Đức đã mở cuộc tiến công về phía tây. Các trận đánh diễn ra đúng kế hoạch. Có điều kỳ lạ là do một sơ suất của tướng Ma-li-nơ, kế hoạch tấn công của thống chế Vông Man-sten bị lọt vào tay người Bỉ. Song các kế hoạch đó thực tế vẫn được thực hiện. Tổng tham mưu trưởng quân đội Đức muốn thay đổi các kế hoạch đó nhưng Hít-le và Vông Man-sten dựa vào sự bịp bợm nên vẫn quyết định cứ thi hành các kế hoạch cũ. Một số đơn vị quân Đức ở mặt trận phía nam và phía tây biên giới nằm trong tình trạng phòng thủ trong khi các đơn vị chúng tôi lại tấn công dọc theo chiến lũ Ma-gi-nô vào các cứ điểm quân Bỉ, ở những nơi phòng thủ yếu nhất.


Cơ quan tình báo Đức đã hoàn thành nhiệm vụ chuẩn bị một cách xuất sắc. Điệp viên chúng tôi lôi kéo mua chuộc được Xa-rơ Gô-min và Mét-dơ làm việc trong nhà máy xi măng Năng-ki, được họ cung cấp cho những tin chính xác về công trình xây dựng các cứ điểm trên chiến lũy Ma-gi-nô. Tình báo viên chúng tôi hoạt động trong nhà máy chế tạo vũ khí Xnây-da Crơ-dô đã cung cấp những tin về trang bị các loại pháo và đơn vị xe bọc thép của quân đội Pháp. Ngoài ra chúng tôi còn lấy được bản sao các bức ảnh chụp mệnh lệnh tối mật và các kế hoạch bố phòng, các phương án hoạt động của cơ quan phòng Nhì Pháp.


Nhiều đơn vị đặc biệt quân đội Đức phối hợp chặt chẽ với cơ quan tình báo quân đội của tướng Ca-na-ri cũng được tung vào các chiến dịch để điều tra, đánh phá những cứ điểm kiên cố nhất trong hệ thống phòng ngự E-ben Ê-ma-en của Bỉ. Các kế hoạch phối hợp đó được nghiên cứu, chuẩn bị kỹ và thực tập nhiều lần trước khi các đơn vị đặc biệt này bước vào hành động. Cứ điểm phòng ngự Ê-ben Ê-ma-en được giao cho đơn vị biệt kích chiến thuật thuộc trung đoàn Bren-đơ-bua có mật hiệu là Z.B.V.800 đảm nhiệm và được sự hỗ trợ của các đơn vị nhảy dù đã huấn luyện tốt. Lần đầu tiên người ta tung ra một lực lượng lớn và sử dụng hàng loạt tàu lượn loại to hạ cánh xuống ngay cứ điểm này. Bằng chiến thuật ấy, các đơn vị nhảy dù đã phối hợp với bộ binh đánh chiếm và giữ an toàn chiếc cầu bắc qua sông Xen-tơ, không để đối phường phá khi rút chạy. Cánh quân dưới đất đã bắt liên lạc với các đơn vị nhảy dù trong thời gian ngắn.


Quá trình chiến dịch, chúng tôi được giao thêm nhiệm vụ là cùng Bộ tuyên truyền gây ra một tâm lý hoang mang trong hàng ngũ địch nhất là quân đội Pháp. Giám đốc đài phát thanh ở Sa-rơ Brúc là tiến sĩ A-đôn-phơ Ra-skin, một trong số các bạn thân đã giúp tôi thực hiện thắng lợi nhiệm vụ này. Bố trí ba máy phát có công suất lớn. Ra-skin cho phát liên tục trên làn sóng điện những tin do chúng tôi bịa ra để làm quân đội Pháp hoang mang. Những tin giả về các cuộc bại trận của quân Pháp đã gây nên nỗi kinh hoàng và tâm lý nghi ngờ cũng như sự rối loạn trong sĩ quan, binh lính và nhân dân Pháp. Từng đoàn người di tản lũ lượt kéo nhau lê bước trên các con đường đã tạo ra một ấn tượng không sao trấn an nổi trong các đơn vị quân Pháp ở tuyến sau. Bất chấp tình hình khó khăn của chiến sự, tình báo viên chúng tôi vẫn hoạt động trên đất Pháp, vẫn thu thập được nhiều tin và chuyển về qua một đường dây đặc biệt chạy qua biên giới. Có khi họ dùng cả điện thoại (qua đường cáp đấu từ Sa-ren-be đến tuyến phòng ngự của chiến lũy Ma-gi-nô).


Tinh thần binh sĩ Pháp lại càng dao động hơn khi các máy bay Đức thả xuống những truyền đơn tung tin về một cuộc phóng thích tù binh Pháp. Những truyền đơn đó in bằng tiếng Pháp nên có tác dụng lan truyền rất nhanh. Một số truyền đơn khác còn nói đến tác dụng ghê gớm của một loại máy bay mới, sắp được sử dụng đánh phá vùng hậu phương miền đông nước Pháp. Nhà cầm quyền Pháp có nhiều cố gắng nhằm ngăn chặn làn sóng người di tản tràn về hướng đông nam nhưng đều bất lực. Chúng tôi không ngờ việc làm của mình lại gây tác động lớn và có hiệu quả đến thế.
Logged

Khi con sinh ra mọi người đều cười chỉ mình con khóc.
Con hãy sống sao cho: khi con chết đi, mọi người đều khóc chỉ mình con cười.
canaris
Thành viên
*
Bài viết: 78



WWW
« Trả lời #39 vào lúc: 23 Tháng Năm, 2010, 08:34:25 am »

Cánh quân cơ giới của tướng Gu-đê-ri-an tiến về hướng A-miêng đã chiếm được A-hơ-vin buộc quân Bỉ phải đầu hàng kéo theo những thất bại của quân Anh-Pháp sau khi họ nỗ lực phá vỡ vòng vây của Đức ở Ác-ra. Chiến dịch đã giành thắng lợi, một phần do tiến hành loại “chiến tranh giả”, đó là chiến tranh tâm lý. Thế nhưng, trong việc phát huy thắng lợi các trận đánh trên chiến trường Pho-lăng-đơ-rơ ở Pháp, quân Đức cũng vấp phải những thất bại. Điều này tự nó nói lên những tính cách riêng của A-đôn-phơ Hít-le.


Trong khi thực hiện cuộc bao vây lớn trên đất Pháp vào thời điểm cao nhất của chiến dịch, một số đơn vị quân Đức đã chiếm được các vị trí ở phía tây, nhưng một lực lượng quân Anh-Pháp vẫn đóng giữ được ở Đoong-Kéc-cơ, nghĩa là còn nằm ở phía sau tuyến một của quân Đức. Ngày 29 tháng 5 năm 1940, Hít-le ra lệnh cho cánh quân này hoãn cuộc tấn công lại hai ngày, đồng thời lệnh cho cánh quân cơ động Đức rút ra khỏi kênh đào Đơ-la-ba-xê, đợi bộ binh đến tăng viện cho họ chống lại quân Pháp ở phía đông nam. Nhiều báo cáo của tình báo viên mặt trận và tài liệu của máy bay trinh sát chứng minh rằng ở khu vực này quân Pháp không thể gây ra trở ngại nào đáng kể cho cuộc tiến công của quân Đức. Một số nhà bình luận nước ngoài cho rằng hiện tượng này chứng tỏ thần kinh của Hít-le bị rối loạn. Lúc đó quốc trưởng đã thiếu táo bạo và tính quyết đoán cho một hành động quyết định, nếu không chắc chắn Hít-le đã giành thắng lợi to lớn nữa. Một số sĩ quan trong Bộ Tổng tham mưu Đức cũng tán thành nhận định này.


Thế rồi ngay trong tháng 7, Hít-le lại ra lệnh triển khai chiến dịch “Sư tử biển” tấn công vào nước Anh. Công việc chuẩn bị cho cuộc hành quân lớn này kéo dài hai tháng. Đến phút cuối cùng, đột nhiên Hít-le lại ra lệnh bãi bỏ toàn bộ chiến dịch đó.


Thất bại của Hít-le trong âm mưu thành lập một liên minh Pháp-Đức để chống nước Anh thông qua thương lượng riêng với Pháp cũng xuất phát từ những quan điểm cá nhân và thành kiến của ông ta. Ở Pháp, khuynh hướng bài Anh rất rõ và ngày càng tăng qua cuộc chiến đấu dũng cảm của hải quân Pháp chống lại lực lượng thiện chiến của hải quân Anh. Đối với người Anh, sự thân thiện và hoà hợp với Pháp đã hết, vì sự thân thiện hoà hợp ấy không giúp được họ bảo vệ hòn đảo-tổ quốc của họ nữa. Thủ tướng Sớc-sin đã công khai thừa nhận rằng: ông ta từ chối, không muốn hy sinh tiềm lực của không quân Anh trên đất Pháp. Tuy vậy, mối quan hệ Đức-Pháp cũng không đạt được kết quả vì sự nghi ngờ và những thiên kiến của Hít-le. Ông ta coi nước Pháp như một quốc gia đang hấp hối cả về mặt vật chất lẫn tinh thần. Nếu Đức muốn tranh thủ sự hứa hẹn với Anh thì chỉ còn cách là phải hy sinh nước Pháp, không có con đường nào khác. Sai lầm của kết luận về một liên minh Pháp-Đức cộng với thái độ chần chừ, do dự là cơ hội để đội quân viễn chinh Anh thoát khỏi cặp mắt diều hâu của các tướng lĩnh Đức. Những điều trên cộng với thái độ thiếu dứt khoát trong việc tiến công nước Anh là lời giải thích cuối cùng của Hít-le. Quốc trưởng tin tưởng mù quáng rằng người Anh vốn là dân tộc anh em với người Đức, họ xứng đáng được bảo vệ. Người Anh đã hiểu được tín hiệu đó và liên kết với Đức. Vì vậy Hít-le có lần đã nói với tôi vào năm 1939 như sau:

-Tôi không có ý định tiêu diệt người Anh, nhưng phải làm cho họ nhận lấy sự nhục nhã và rút ra được bài học trong cách xem xét, đánh giá sự vật theo quan điểm của chúng ta về vấn đề châu Âu. Phải làm cho họ từ bỏ chính sách “cân bằng lực lượng" ở châu Âu. Họ có thể duy trì sức mạnh về hải quân và thuộc địa của họ, nhưng những vấn đề trên lục địa thì họ phải xích lại với ta, liên kết với ta. Người Đức và người Anh sẽ thống trị mảnh đất châu Âu này và phương Đông sẽ không còn là mối đe doạ nguy hiểm nữa.


Đến cuối năm 1943, Hít-le vẫn còn tin tưởng vào khả năng hoà hoãn với nước Anh bằng cách dùng sức mạnh quân sự buộc đối phương phải liên kết với mình như kinh nghiệm của tướng Bít-mác đã áp dụng trước đây với Áo. Tuy đã ra lệnh chuẩn bị tiếp hành chiến dịch “Sư tử biển” xâm lược nước Anh vào mùa hè năm 1940, song Hít-le vẫn hy vọng vào khả năng có thể hoà hoãn với nước Anh, một phần do công việc bận rộn và tình cảm chi phối nên hành động của Bộ Tổng tham mưu để thảo luận về chiến dịch này gồm có Kây-ten, Giôn, Tốt, Ra-ê-đe, Vông Pút-ca-me và Smun-tơ không được triệu tập trước ngày 26 tháng 7. Ngay từ đầu Hít-le định tung vào cuộc tấn công từ ba mươi đến bốn mươi sư đoàn trên hướng chiến dịch kéo dài từ Đoong-kéc-cơ tới Séc-bua. Số phương tiện cần huy động lên tới khoảng 4.000 chiếc tàu, thuyền, sà-lan đổ bộ, tàu kéo và tàu vận tải.


Đô đốc hải quân Ra-ê-đa đã nêu lên những nghi ngờ lớn của ông ta (bằng cả văn bản) về thắng lợi của cuộc tấn công này; Ông cũng không tin rằng Đức có thể chiếm ưu thế về không quân trên bầu trời vùng “Eo biển” này. Dù Đức có tung hết lực lượng hải quân ra tấn công, sau 8 hoặc 10 ngày cũng không thể đổ bộ lên nước Anh. Thời gian trước đó không thể có một cuộc vận động chiến nào. Cho dù lực lượng tham gia chiến dịch này có rút xuống còn khoảng 15 sư đoàn thì vẫn có thể xảy ra sự trục trặc trong việc phối hợp, hợp đồng tác chiến giữa bộ binh với hải quân và sự trục trặc đó không thể giải quyết được trong tháng 9. Tuy với thói quen sử dụng chức Tổng tư lệnh tối cao can thiệp vào công việc một cách độc đoán, lần này, Hít-le bỏ mặc những bất đồng và khó khăn, không ra quyết định và cuối cùng toàn bộ vấn đề chuẩn bị cho chiến dịch chẳng đen lại kết quả gì. Do đó mọi mệnh lệnh xuất phát từ Bộ chỉ huy của tướng Kây-ten càng nổi bật lên rõ nét.
Logged

Khi con sinh ra mọi người đều cười chỉ mình con khóc.
Con hãy sống sao cho: khi con chết đi, mọi người đều khóc chỉ mình con cười.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM