daibangden
Moderator

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #470 vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2009, 02:46:26 am » |
|
Chư tướng nghe xong, bất giác cùng có cảm nghĩ hân hoan vô cùng. Linh-Nhân hoàng thái hậu kết luận:
– Phật giáo đến Trung-quốc, bị Trung-quốc hóa đi, nhưng vẫn rời xa việc bảo vệ xã tắc. Còn Phật-giáo vào Đại-Việt, đã được Việt hoá thành một chủ đạo tộc Việt là lấy đạo pháp bảo vệ đất nước từ thời ngài La Quý-An, Sùng-Phạm, Bố-Đại, Vạn-Hạnh, Minh-Không, Huệ-Sinh; nhưng cái chủ đạo ấy vẫn chưa hình thành một thứ chủ đạo dân tộc hoàn toàn. Nay đến ngài Minh-Không, Đạo-Hạnh, tinh thần đó thành chủ đạo, thành vũ khí giữ nước.
Đến đó, thân binh báo:
– Hai thánh tăng cùng với bốn hòa thượng chùa Báo-ân giá lâm.
Linh-Nhân hoàng thái hậu vẫy Long-biên tứ hùng, Tây-hồ thất kiệt ra ngoài đón rước.
Linh-Nhân hoàng thái hậu cung tay:
– A-di-đà Phật! Chúng đệ tử xin tham kiến nhị vị bồ tát. Tứ vị sư huynh.
Minh-Không đáp lễ:
– Nhọc thánh thể Thái-hậu cùng chư vị ra đón. Nghe Thái-hậu cũng chư tướng nghị kế giữ nước. Anh em bần tăng tuy hạc nội mây ngàn, nhưng cũng là con dân Đại-Việt, nên đến thái hậu cho ra trận làm bốn phận con dân.
Lễ nghi tất.
Tây-hồ thất kiệt là đệ tử của Minh-Không, nên bẩy tướng kéo ghế lại ngồi bên ngài. Linh-Nhân hoàng Thái-hậu với Long-biên ngũ hùng là sư đệ sư muội của bốn nhà sư Viên, nên tứ hùng cùng lại ngồi bên bốn ngài.
Lý Thường-Kiệt tóm lược những gì đã nghị sự cho sáu vị nghe.
Minh-Không chỉ Tín-Nghĩa vương:
– Bần tăng thấy dường như vương gia đã có đến năm sách lược bảo quốc, mà sao chưa tâu lên Thái-hậu? Tín-Nghĩa vương kinh hoàng, vì năm sách lược đó, ông hoạch định trong tâm, mà sao vị sư phụ này lại biết. Chợt động tâm cơ, vương chửi thầm:
– Mình thực sơ tâm! Hai vị bồ tát này luyện Mật-giáo đến trình độ tối cao, thì tất cả những gì mình suy nghĩ, ngài cũng thấy, đâu có lạ?
Vương cung tay:
– Xin tuân pháp dụ của sư phụ.
Vương cung tay hướng Thái-hậu:
– Thần xin đưa ra năm diệu kế để giữ nước.
– Xin hoàng thúc cứ nói.
– Cái ngày mà Quách Quỳ vượt sông e không xa. Ta không thể cản bước tiến quân của y. Phòng tuyến Như-nguyệt của ta cực kiên cố, với hai hiệu Thiên-tử binh Bổng-thánh của Mai Cầm, Phương-Đơn; Bảo-thắng của Quách Y, Phương-Tiên quyết tử trấn ở đây. Vậy sách đầu tiên của ta là chấp nhận trận đánh Như-nguyệt, ta mất một, Tống mất mười. Nếu như trong khi đánh, thấy quân mình chết nhiều quá, Quách Qùy cho lui quân, thì e rằng sau này khó có thể đủ khả năng vượt sông nữa; đây là thượng sách cho ta. Bằng y chịu hy sinh hai mươi vạn người, để phá Như-nguyệt thì ta cũng đành chấp nhận.
Quan Thái-phó Quách Sĩ-An hỏi:
– Khi ta biết chủ tâm của Tống là dùng hết khả năng đánh Như-nguyệt. Vậy sao ta không phối trí tại đây ba, bốn hiệu binh nữa cho ăn chắc?
Tín-Nghĩa vương lắc đầu:
– Thưa quan Thái-phó, phòng tuyến Như-nguyệt phía trước là sông, đã đắp thành lũy. Phía sau là vườn, ruộng, địa thế rất hẹp, không thể đồn trú quá hai hiệu binh. Vả có đem nhiều binh tới đây cũng vô ích, mà chỉ nên đồn trú dọc đường Như-nguyệt Thăng-long mà thôi. Vì vậy tôi đã đề nghị đem thực nhiều Thần-nỏ, thú-binh, cùng các cao thủ. Nhân Như-nguyệt gần Tản-lĩnh, tôi đã xin tiên nương Bảo-Hòa viện cho đội võ sĩ phái Tản-viên nghìn người. Với nghìn người này, có sức mạnh bằng mười vạn quân.
Nhiều đại thần chau mày tỏ vẻ không đồng ý vì: Phía sau Như-nguyệt năm mươi dặm thì tới Thăng-long. Như-nguyệt thất thủ, thì e hai khắc sau kị mã đã tới kinh đô rồi. Quan tổng trấn Thăng-long Ngô Thường-Hiến hỏi:
– Ví thử Tống chịu hy sinh 20 vạn người để phá cho được Như-nguyệt thì vương gia tính sao?
– Đó là điều tôi mong đợi. Nếu như Quách Quỳ nướng 20 vạn người vào đây, thì ta đánh một hai trận nữa, ắt y không còn lực, chỉ có thể rút lui. Vì từ Như-nguyệt tới Thăng-long có ba đoạn đường. Một là Như-nguyệt đến rừng tre khoảng hai mươi dặm, hai bên có 18 xã. Theo phương lược của Quách Quỳ, thì y cho kị binh đi trước, bộ binh đi sau, dùng tân-đằng-hải đánh các xã. Ta dùng hai hiệu binh các lộ, chia cho các xã hợp với hoàng nam để chống lại quân tân-đằng-hải. Như thế là sách dùng tân-đằng-hải kiếm lương với dân phu bị phá; mà kị binh, bộ binh tiến trước thấy hai sườn bị uy hiếp phải dừng lại. Đây là sách thứ nhì.
Chư tướng vỗ tay hoan hô.
– Đoạn đường thứ nhì là từ rừng tre tới Cổ-pháp, khoảng mười dặm, hai bên có mười xã, ta cũng áp dụng như trên. Ngay trước Cổ-pháp là vòng đai bảo vệ Thăng-long của công chúa Thiên-Ninh với hai hiệu Ngự-long của Phạm Dật, Kim-Loan; Quảng-vũ của Vũ Quang, Kim-Liên. Phòng tuyến này còn chắc hơn phòng tuyến Như-nguyệt nữa. Quân Tống đến đây dù Quách Qùy có muốn hy sinh giống Như-nguyệt, thì e không còn đủ quân nữa. Trong khi đó dọc đường, quân các lộ của ta với hoàng nam đánh chặn dường tiếp tế lương thảo. Như vậy Tống không thể xuống Thăng-long được. Đây cũng vẫn nằm trong sách thứ nhì.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Moderator

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #471 vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2009, 02:47:31 am » |
|
Thái sư Lý Đạo-Thành hỏi:
– Khải vương gia, ví thử Quách Qúy nhất quyết thí quân ở Cổ-pháp, thì Thăng-long nguy tai!!!
– Thưa Thái-sư, tiểu bối chưa trình bầy xong mà.
Tín-Nghĩa vương giảng giải: Sách thứ ba, là ta lợi dụng Tống dùng hết khả năng đánh Như-nguyệt, còn hai mặt Nham-biền, Phú-lương là hư. Ta hãy tưởng tượng rằng khi chiến lũy Như-nguyệt thất thủ, quân kị bộ Tống đang tiến về Thăng-long. Ta dùng đạo binh lưu động của Trung-Thành vương đánh tan một trong hai đạo Nham-biền, Phú-lương, rồi tiến về uy hiếp bản doanh Quách Quỳ, đốt cháy kho lương. Dĩ nhiên Quách Quỳ phải rút quân về bảo vệ lấy căn bản. Nếu y không rút về, thì chỉ nửa ngày quân y sẽ tan, vì không có lương ăn!
Vương nhấn mạnh:
– Cái khó khăn là chiến lũy Cổ-pháp phải cầm chân kị binh ít nhất trong hai ngày, để đạo binh Trung-Thành vương có thời giờ hành sự. Không biết công chúa Thiên-Ninh giữ nổi chiến lũy Cổ-pháp trong bao nhiêu lâu?
Công chúa Thiên-Ninh tự tin:
– Xin hoàng thúc yên tâm, cháu có thể giữ được ít nhất một tháng.
Chư tướng vỗ tay hoan hô.
Tín-Nghĩa vương tiếp:
– Bấy lâu nay, triều đình bắt Thân phò mã với công chúa Thiên-Thành; công chúa Côi-sơn với phò mã Tôn Mạnh; thượng tướng quân Đinh Hoàng-Nghi với phu nhân ẩn thân trong rừng. Bây giờ ta thư cho ba vị ấy xuất hiện, vượt biên sang Tống đốt kho lương, đánh úp các đồn Quyết-lý, Chi-lăng, rồi trấn giữ tại đây. Tống bị cắt đường vận lương, bị tuyệt đường về, ắt Quỳ phải dồn hết lực lượng khai thông đường Như-nguyệt sang Trung-nguyên, Như thế y không thể tiến về Thăng-long được. Đây là sách thứ tư.
Vương đưa mắt nhìn Côi-sơn tam anh:
– Sách thứ năm, phi tam vị sư bá, không ai thực hiện nổi.
Trần Trung-Đạo hỏi:
– Sách này ra sao?
– Sách này ta đã dùng sau trận Côn-lôn, Đại-giáp, Ngọc-tuyền, Hỏa-giáp, Ung-châu. Nay dùng lại một lần nữa.
Trung-Đạo bật cười:
– Sách này tuy không có kết quả ngay, nhưng nó thấm vào tâm não muôn nghìn năm sau của người Hoa rằng: Cho con em đánh sang Đại-Việt, thì chỉ có đi, mà không có về.
Phò mã Hoàng Kiện hỏi:
– Trình sư bá, chi tiết áp dụng ra sao?
– Ta khích động cho gia đình tử sĩ sang đào mả đem xác về, để gây trấn động giang sơn Tống, gây bất mãn, lo sợ cho binh Tống. Không biết số tổn thất chính xác của Tống ở mỗi mặt trận là bao nhiêu? Chôn tại đâu?
Trung-Thành vương trình:
– Sau trận đột kích của ta vào Vình-bình, Tây-bình, Lộc-châu, cùng cuộc phục kích đánh truy binh của Tống cộng bốn lần Tống đánh Quyết-lý, Chi-lăng, số quân triều chết khoảng hai vạn. Quách Qùy đã cho đưa tử thi về nguyên quán, khiến dân phu phục dịch cực kỳ khổ sở, dọc đường gây ấn tượng kinh hoàng cho dân chúng. Cho nên Quách Quỳ tạm bỏ chương trình đưa xác tử sĩ về nguyên quán. Số quân tân-đằng-hải chết trận tại Bắc-biên là sáu vạn, đa số quê ở vùng Trường-sa được chôn ngay ở biên giới. Từ trận Đâu-đỉnh, trận đánh đêm Giao-thừa, quân triều chết hơn bốn vạn, quân tân-đằng-hải chết hơn chín vạn, đa số quê ở Quảng-Đông, Quảng-Tây y cho chôn ở Bắc Như-nguyệt. Quách Quỳ, đợi sau chiến tranh sẽ cải táng đưa về nguyên quán.
Linh-Nhân hoàng thái hậu hỏi:
– Triều đình có nhận được tin của Đinh Hoàng-Nghi báo cho biết Quách Quỳ không cho cắm gỗ đề tên tử sĩ lên mộ là ý gì vậy?
– Tâu, vì y sợ quân Tống sống thăm mồ mả bạn hữu tử trận, nên không cho đề tên kẻ xấu số lên ván, cắm ở mộ; mà chỉ cho viết trên nắp áo quan, đợi sau chiến tranh, mới đào lên đem về nguyên quán.
Trung-Đạo hỏi:
– Có cách nào lấy được danh sách tử sĩ Tống tại các mặt trận không?
– Thưa sư bá cháu đã có trên tay.
Trung-Thành vương đáp: Vì Quỳ bắt dân ta xẻ gỗ làm quan tài chôn tử sĩ Tống, cùng chôn cất, cháu lợi dụng cho tế tác len lỏi vào, nên đã lấy được đầy đủ họ tên, cấp bậc, quê quán. Không biết sư bá dùng làm gì?
– Tốt lắm. Trước đây, ta đã cho đệ tử đón đường giết ngựa trạm của Tống, tịch thu được nhiều văn kiện. Nhờ đó ta biết ấn, chữ ký, binh phù của Ôn Cảo, Triệu Tiết, Quách Quỳ. Ta đã cho khắc mấy chiếc ấn giống của chúng. Bây giờ ta chép danh tính của tử sĩ Tống từng huyện một, rồi giả công văn gửi đến các huyện; lệnh cho huyện loan báo hung tín tới gia đình. Trong thư ta sẽ ghi rõ mồ hiện chôn tại đâu, thân nhân có thể sang thăm, hoặc tự cải táng mang về.
Linh-Nhân hoàng thái hậu nhắm mắt lại một lát rồi nói:
– Sách này rất độc. Hãy cứ tưởng tượng, gần hai chục vạn dân phu, bảo binh, tân-đằng-hải tử trận, thì ít ra cũng có mười vạn gia đình đi tìm xác con em. Họ đâu có đi một mình? Tính trung bình mỗi tử sĩ có ba người đi tìm xác, thì ít ra cũng có sáu mươi vạn người tràn qua biên giới. Bấy giờ Quách Quỳ ắt biết đây là mưu của ta, nhưng đành thúc thủ. Y không thể sai quân cản những người này. Nhược bằng y có sai, thì quân cũng không tuân.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Moderator

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #472 vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2009, 04:04:09 pm » |
|
Chương 44 Nam-thiên tứ đại thần khí Tín-Nghĩa vương hướng Minh-Không, Đạo-Hạnh: – Xin nhị vị sư phụ ban pháp dụ. Đạo-Hạnh chắp tay vái cử tọa một lượt, rồi nói: – Vương gia đưa ra năm phương lược cứu nước. Vậy bần tăng cũng đưa ra hai phương lược nữa là bẩy. Ta tạm gọi là Thất lược trấn quốc. Cao nhất là Linh-Nhân hoàng thái hậu, thấp nhất là thị vệ đứng hầu đều im lặng, hồi hộp nghe hai phương lược của hai thánh tăng Đại-Việt. Vì từ lâu, khắp Hoa-Việt đều tôn hai ngài là đấng trí tuệ cao thâm vô cùng tận. – Trong Thiên-hạ này, nơi nào tụ được nhiều linh khí, thì sẽ có chúa thánh, tôi hiền ra đời; mưa hòa, gió thuận, dân chúng ấm no. Ngược lại, nơi nào có nhiều ác khí nảy sinh, thì sẽ có quỷ vương, ma quái đội lốt quan; gió bão, hạn hán nảy sinh, dân chúng đói khổ. Xưa, khi vua Minh tế cáo trời đất, chia Thiên-hạ làm hai, Bắc thành Trung-nguyên, Nam thành Đại-Việt. Trong khi linh khí miền Bắc tản ra khắp nơi, thì Linh khí Lĩnh-Nam tụ về vùng Giao-chỉ, Cửu-chân. Thế nhưng cuối đời Tây-Hán, linh khí miền Bắc phân tán ra khắp nơi, bởi vậy mới có nạn Vương Mãng cướp ngôi. Linh khí Lĩnh-Nam cực thịnh, nên mới có việc vua Trưng cùng 162 tướng khởi nghiệp, suýt làm đổ triều Hán. Ngài ngừng lại một lát rồi tiếp: – Thời Bắc thuộc, vua Đường thấy linh khí Đại-Việt ta quá thịnh, mới sai Cao Biền sang làm thứ sử Giao-châu để yểm tất cả các thế đất linh. Biền thành công hầu hết, duy hai nơi thất bại là núi Tản và Cổ-pháp. Thế đất Tiêu-sơn ở Cổ-pháp tụ khí thiêng Nam-nhạc, nên mới sinh đức Thái-tổ nhà ta, lập ra bản triều trên hai trăm năm. Trong khi Biền yểm đất thiêng Lĩnh-Nam, thì y quy hướng tất cả hồn, phách linh khí vào bụng ba mươi sáu con trâu vàng, rồi đem về chôn ở trong lòng núi Thái-sơn. Minh-uy đại tướng quân Quách Y hỏi: – Bạch sư thúc, thủa nhỏ con có nghe thầy đồ kể truyện này. Thầy nói rằng Biền thu ba mươi sáu ngôi sao ở Thiên-hà chiếu xuống Lĩnh-Nam, rồi đem về giam ở núi Thái-sơn. Nay sư thúc lại kể rằng hồn và phách. Vậy có gì khác nhau giữa sao với hồn, phách? – Con hỏi thực phải! Này con hãy nghe cho kỹ, sư thúc vì con mà nói. Tiếng ngài Đạo-Hạnh thật đầm ấm, thật trong nhẹ, hợp với tư thái, nét mặt từ ái của ngài; khiến cử tọa đều có cảm tưởng đang nghe đức Phật A-di-đà thuyết pháp: – Sao là tinh thể, kết hợp khí của vũ trụ mà thành. Sao chiếu xuống Thiên-hạ thành linh khí. Linh khí bàng bạc trong trời đất, gặp cây nuôi cây, gặp hoa nuôi hoa, gặp người tạo cơ thể con người thành hùng tráng, thần minh sáng suốt. Cái thần minh đó gọi là hồn và phách. Này con hãy nghe: Lột quần áo ra, thì con với đứa trẻ chăn trâu cũng giống nhau. Nhưng sao con lại làm đại tướng, trí dũng có thừa mà đứa trẻ lại là mục đồng chất phác? Cái mà con với trẻ mục đồng khác nhau đó là do phách, và hồn tạo ra. Quách Y reo lên: – Con hiểu rồi! Con hiểu rồi. – Con thử nói cho sư thúc nghe xem nào? – Khi sao ở Thiên-hà chiếu xuống thế gian, con người thấu, cảm ánh sáng đó, hợp với mưa, nắng, núi, sông cho nên thể thì giống nhau, mà phách và hồn thì khác nhau. Thế thì từ con sâu, cái kiến, con chó, con mèo cho đến con người đều có hồn và phách. Nhưng mỗi cơ thể thấu cảm linh khí của tinh hoa sơn xuyên, nhật nguyệt mà khác nhau. Nay Cao Biền yểm hết thế đất thiêng, đào lấy những kết tinh của thế đất đem đi. Thế nhưng... – Thế nhưng sao? – Thế sao y lại bỏ vào ba mươi sáu con trâu vàng? Mà không bỏ vào con rồng, con phượng? Thưa sư thúc? – Giản dị thôi! Tộc Việt chúng ta là con cháu vua Thần-Nông. Tộc Hoa cũng là con cháu vua Thần-Nông. Nhưng sau triều đình Thần-Nông phương Bắc bị vua Hoàng-Đế đánh bại. Vua Hoàng-Đế là dân du mục, săn bắn. Người Hoa sau tôn vua Hoàng-Đế là Quốc-tổ. Bởi vậy Biền mới bắt tinh hoa 36 ngôi sao, bỏ vào bụng trâu, đem về chôn ở núi Thái-sơn, để diệt linh khí Nam phương, cái linh khí dùng sức trâu để canh tác. Nói đến đây, ngài đưa mắt nhìn Linh-Nhân hoàng thái hậu. Hậu tiếp lời ngài: – Đến đời vua Thái-tông nhà Tống, sau khi bị bại ở Chi-lăng, Bạch-đằng; nhà vua sai bẩy đạo sĩ của phái Hoa-sơn lên núi Thái-sơn đào trâu vàng đem về, rồi lấy đồng đen đúc thành hộp. Mỗi hộp để chín lá bùa, giam một trâu, sau đó cất vào một nơi cực mật trong kinh thành Biện-kinh. Hồi Khai-Quốc vương đi sứ, người đã sai Kinh-Nam vương đột nhập ngự thư phòng vua Tống Nhân-tông tìm di chúc của vua Thái-tông nói về việc này, nhưng không ra manh mối. Hơn bốn chục năm qua, Kinh-Nam vương có tai mắt khắp nơi trong triều Tống, mà cũng chỉ biết rằng ba mươi sáu hộp đồng đó để ở trong kho tại Hoàng-cung. Đích thân vương âm thầm đột nhập tìm kiến nhiều lần mà không thấy.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Moderator

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #473 vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2009, 04:04:54 pm » |
|
Ngài nhìn Trần Trung-Đạo:
– Vừa rồi, trong dịp người của ta làm rối loạn phủ đệ Vương An-Thạch, cùng hoàng cung Tống, vô tình đã tìm ra nơi để hộp giam trâu vàng.
Nghe hậu cùng đại sư Đạo-Hạnh thuật, trên cao nhất là các công chúa, phò mã, cho tới văn võ các quan đều ngẩn người ra. Thực vạn vạn lần họ cũng không ngờ các vua triều Lý lại giữ một bí ẩn ghê gớm về đất nước như thế.
Đạo-Hạnh tiếp:
– Bần tăng với sư huynh phải tìm trăm phương ngàn kế mới xin Hy-Ninh đế thưởng công trị tà, bằng cách ban cho ít đồng đen, chính mình chọn. Nhà vua truyền quan giữ kho dẫn sư huynh sư đệ bần tăng vào kho tả, trong khi ba mươi sáu hộp đồng để ở kho hữu. Bần tăng giả chọn đi chọn lại hết kho tả, mà cũng không được đồng như ý muốn. Viên thái giám đưa bần tăng với sư huynh sang kho hữu, thì hỡi ơi! Vừa vào kho, bần tăng đã thấy ngay.
Ngài lắc đầu:
– Ba mươi sáu cái hộp được đặt trên một bệ theo hình Tiên-thiên bát quái. Xung quanh đầy những tượng hổ, báo, rắn, cùng mô hình núi sông Đại-Việt. Anh em bần tăng vờ như không biết gì, sau khi lựa đồng, lẳng lặng cáo từ ra về, đến đêm báo cho Côi-sơn tam anh biết.
Đến đây, ngài đưa mắt cho Côi-sơn tam anh. Trần Phụ-Quốc tiếp:
– Khi được sư phụ báo tin, anh em thần tức tốc dùng chim ưng báo cho sư đệ Tự-Mai biết, vì chỉ người của Tự-Mai mới có khả năng đột nhập kho đồng hữu lấy ba mươi sáu cái hộp ra. Cái khó khăn là phải báo cách nào để qua được mắt công chúa Huệ-Nhu; vì công chúa với sư đệ luôn ở cạnh nhau như bóng với hình. Cuối cùng thần báo cho sư phụ (ghi chú: Đó là Trần Tự-An) biết. Lập tức người triệu sư đệ tới để dạy dỗ võ công, rồi nói cho y biết. Y giả rủ công chúa Huệ-Nhu lên đường sang Tống, rồi chính y điều động chân tay đột nhập kho đồng hữu, lấy ba mươi sáu cái hộp trao cho ba anh em thần mang về nước.
Nghe Phụ-Quốc thuật, mọi người như đang đi trong đêm, được đốt lên cây đuốc, nhìn rõ mọi vật. Bởi trước đây họ chỉ nghe nói hai vị được vua Tống ban đồng, rồi làm phép lấy hết kho đồng, rồi Hy-Ninh đế sai Tổng-lĩnh thị vệ Lý Hiến đem quân đuổi theo. Họ thắc mắc rằng dù võ công cao, làm sao hai vị có thể mang được hết kho đồng đi? Xá gì chút đồng mà nhà vua phải sai thị vệ đuổi theo?
Từ đầu đến cuối, ngài Minh-Không ngồi trầm tư, để ngài Đạo-Hạnh trình bầy. Bây giờ ngài mới nói:
– Ta đã tìm lại được tinh hoa linh khí mấy nghìn năm tộc Việt. Bần tăng đem đặt vào chỗ cũ của nó được mấy tháng nay. Còn ba mươi sáu cái hộp với bùa, bần tăng tìm ba mươi sái cái xương sọ của tướng sĩ Tống tử trận bỏ vào, rồi đem chôn ở khắp các cửa sông, cửa biển Đại-Việt làm quỷ trấn áp quân Trung-nguyên. Còn ba mươi sáu con trâu thì sẽ ném xuống đáy hồ Tây với tất cả tinh hoa võ công Đại-Việt, để làm thần trấn Thăng-long.
Thấy mọi người ngơ ngác không hiểu, ngài tiếp:
– Nguyên cách đây hơn năm, bần tăng có duyên hội ngộ với quốc sư Huệ-Sinh, lão tiên sinh Trần Tự-An, tiên nương Bảo-Hòa, Quan-âm Bình-Dương, Thái-sư Dương-Bình, phò mã Thân Thiệu-Thái, U-bon vương Lê Văn. Các vị đưa ra ý kiến rằng: Thời vua Hùng, phò mã Sơn Tinh đã chép tất cả võ công lại thành bộ Văn-lang vũ kinh; nhờ vậy mà sau này Bắc-bình vương Đào Kỳ tìm được, rồi đem quảng bá, mà không đến nỗi tuyệt tích. Thời Lĩnh-Nam, võ học tộc Việt cực thịnh, vua Trưng sợ sau này mai một đi, mới ủy cho Bắc-bình vương Đào Kỳ, tể tướng Phương Dung, công chúa Phùng Vĩnh-Hoa chép tất cả tinh hoa lại, thành bộ Lĩnh-Nam vũ kinh. Đến thời Thuận-Thiên, vua bà Bình-Dương, tiên nương Bảo-Hòa tìm lại được, rồi luyện thành.
Ngài dừng lại, móc trong túi ra một cái hộp, rồi mở ra. Trong hộp có một trăm cái thẻ đồng. Ngài chỉ vào thẻ đồng:
– Các vị đưa ý kiến: Hiện nay võ học Đại-Việt ta tối thịnh, cũng nên chép thành sách để lại cho đời sau. Các vị ủy cho Kinh-Nam vương, U-bon vương, Quan-âm Bình-Dương với bần tăng chép lại. Sau khi chép, mỗi vị giữ một bản. Bần tăng dùng nội lực khắc vào trăm cái thẻ đồng này một bản nữa. Bây giờ bần tăng dùng trăm thẻ, ba mươi sáu con trâu vàng, chôn ở đáy hồ Tây, làm vật trấn Thăng-long. Như vậy, vĩnh viễn từ nay cho đến muôn ngàn năm sau, Trung-nguyên không bao giờ có thể cai trị Đại-Việt ta quá hai kỷ.
Tây-hồ thất kiệt đều là đệ tử của Minh-Không bồ tát, Quy-Đức đại tướng quân Trần Di hỏi:
– Bạch sư phụ! Sư phụ, sư thúc đã đem linh khí từ phương Bắc về Thăng-long, con nghĩ mình nên yểm khiến Trung-nguyên vình viễn không chiếm được Đại-Việt lấy một ngày thì hơn là để Trung-nguyên cái trị mình hai kỷ.
Đại sư Minh-Không chiếu con mắt từ ái nhìn đệ tử:
– Thông minh! Sư phụ biết con có lòng son với nước, mà đặt câu hỏi đó. Nhưng con ơi! Trong những ngày sư phụ, sư thúc cùng với Côi-sơn tam anh thiết kế giả làm ma, làm quỷ khiến toàn thể người trong phủ Vương An-Thạch, trong nội cung Tống hóa điên, hóa khùng; lỡ tay làm quá khiến Thanh-Hư đạo trưởng với đại pháp sư Nguyên-Đăng chết oan. Nghiệp quả từ đó sinh ra, nên sau này Đại-Việt ta thế nào cũng bị Trung-nguyên cai trị nữa, trong khoảng hai kỷ.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Moderator

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #474 vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2009, 04:05:55 pm » |
|
Ghi chú,
Thuật Phong-thủy (Địa-lý) xuất phát từ Trung-quốc vào thời Chiến-quốc (thế kỷ thứ ba trước Tây-lịch). Cho đến đời Hán (thế kỷ thứ tư) đời Đường (thế kỷ thứ bẩy) thì cực thịnh. Hiện nay tại Hương-cảng, Đài-loan, Trung-quốc đã đưa vào đại học, vì có thể thử nghiệm được bằng khoa học.
Tương truyền Cao Biền sang cai trị nước ta, y đã yểm tất cả các thế đất phát đế vương, yểm tất cả các linh thần để diệt anh khí. Đến đời Lý, hai đại sư Minh-Không, Đạo-Hạnh sang vân du Trung-quốc, tìm ra nơi đặt bùa yểm, mới phá đi. Hai ngài nhân đó, phối hợp thuật Phong-thủy với Mật-giáo của nhà Phật thành một thuật mới, để giữ linh khí Đại-Việt trong việc bảo quốc. Về sau ngài Đạo-Hạnh đã dùng một phần của thuật này để thoát xác, đầu thai làm con của Sùng-hiền hầu, rồi lên làm vua, đó là vua Lý Thần-tông. Sang đời Trần, thuật này càng thịnh, Thủy-Tiên công chúa (Dưỡng nữ đức thánh Trần, phu nhân Phạm Ngũ-Lão), đã dùng bắt sống tên Nguyễn Linh-Nhan.
Sau khi hết giặc Mông-cổ, Chiêu-Văn vương Trần Nhật-Duật, Hưng-Võ vương Trần Quốc-Hiến, Hưng-Nhượng Trần Quốc-Tảng chép lại thành sách, mang tên Vạn pháp quy nguyên. Bộ này được xử dụng như một thứ vũ khí quốc phòng, suốt đời Trần, đời Lê.
Đến triều Nguyễn, Vạn-pháp quy nguyên vẫn được coi như quốc sách giữ nước.
Khi vua Gia-long chiếm được nước, đã dùng thuật chép trong Vạn pháp quy nguyên để trấn áp linh khí triều Tây-sơn, ý định diệt tận gốc, không cho con cháu Tây-sơn trung hưng. Việc yểm này sử chép: Đem xương sọ của Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Quang-Toản bỏ vào trong ba cái vò (chum, lu), cùng với nhiều bùa. Lại lấy máu một con vượn đen, ba con chó mực, bẩy con chồn hôi đổ vào vò, rồi dùng nhựa sắn thuyền bịt kín miệng. Trên nắp vò, dùng một thanh kiếm đâm sâu xuống xuyên qua xương sọ. Ngoài vò dán bùa, dùng xiềng; xiềng ba cái vò, đem giam trong ngục tối lẫn với các tử tội. Mỗi ngày một nhất đẳng thị vệ thân vào ngục kiểm soát. Hàng tháng, một vị đại thần thuộc Cơ-mật viện tới kiểm một lần. Các tử tội bị giam, đều cho biết ba ông vò rất thiêng. Cho đến cuộc chính biến năm 1885, vua Hàm-Nghi rời kinh thành ra đi, ba ông vò được di thần thời Tây-sơn ăn cắp đem đi gỡ bùa, rồi chôn cất cẩn thận.
Khi phụ thân giảng dạy cho tôi về thuật Phong-thủy, người chỉ có quyển thứ năm của bộ Vạn-pháp quy nguyên chép thuật Dương-trạch (để hướng nhà), cùng thuật trị bệnh tà. Nhưng người lại không phải là y sĩ, nên không hiểu nội dung thuật trị bệnh tà nói gì, dĩ nhiên không giảng cái thuật này cho tôi. Sau này học y khoa, tôi mới đem ra nghiên cứu lại.
Năm 1976, trong khi trị bệnh cho góa phụ một cựu công sứ từng cai trị Bắc-Kỳ, bà tặng tôi một số sách cũ của ông. Trong số sách đó có bộ Vạn-pháp quy nguyên. Bộ này ông cựu công sứ ghi chú ở đầu là Nhảm nhí, dị đoan. Tôi biết ông không hiểu nổi. Bởi sách viết với trình độ khoa học Đông-phương rất cao. Người đọc phải hiểu rất cặn kẽ bằng này vấn đề:
1. Về triết học, gồm bộ kinh Dịch, nhất là các thuyết âm dương, học thuyết ngũ hành, tiên thiên bát quái.
2. Về y học phải hiểu thấu bộ Hoàng-Đế nội kinh tố vấn, bộ Nạn-kinh, bộ Mạch-kinh.
3. Phải có kiến thức rất sâu về sử, về địa lý Hoa-Việt.
4. Phải có cái học rất rộng về thiên văn, lịch số, phong thủy.
5. Đủ kiến thức về kinh điển Phật-giáo.
Sách lại viết bằng văn đời Trần, một loại cổ văn trúc trắc, đầy điển cố. Xin cử một thí dụ để độc giả hiểu rõ hơn: Như muốn học toán trình độ lớp 12, mà không biết gì về hình học, đại số, lượng giác thì sao học cho nổi.
Khi mới tìm được, tôi đem công bố vài chi tiết trên tờ Văn-nghệ tiền phong ở Hoa-kỳ, thì có rất nhiều độc giả viết thư đòi cho nghiên cứu. Chín phần mười những thư đó tôi không trả lời, vì bấy giờ tôi đã ba mươi bẩy tuổi rồi, mà những gì ông cha ủy cho làm, chưa được lấy một phần năm; tôi không thể ăn rồi ngồi viết hàng nghìn lá thư trả lời những thắc mắc về vấn đề ấu trĩ về học thuật Đông-phương. Tuy nhiên, có những người lịch sự, viết thư xin « trao đổi kinh nghiệm ». Tôi đồng ý tiếp. Khi đối diện, tôi mới bật ngửa ra rằng những vị đó nhìn cái cây đổ nằm ngang, cũng không biết rằng nó tượng trưng cho chữ nhất! Cũng có người rất giỏi về phong thủy đến tìm tôi, khi tôi đưa sách ra để cùng nghiên cứu, thì vị đó lại mù tịt về y học. Tuy nhiên, tôi cũng gặp được mươi vị ở Trung-quốc, vài vị ở Đài-loan, Hương-cảng, mươi vị người Việt kiến thức rất rộng để thảo luận về bộ này. Dĩ nhiên cuộc thảo luận đem lại cho tôi nhiều bài học quý giá. Trong các vị người Việt đó, có giáo sư Lương Kim-Định, sư phụ tôi là cố hòa thượng Chân-Thường, văn hữu Nguyễn Đức-Sách (Úc).
Sau khi nghiên cứu tường tận, tôi cảm thấy rùng mình. Vì những thuật đó ngoài chương dùng để trị bệnh tà ra, còn lại quá bá đạo, quá ác độc. Bản sư Chân-Thường khuyên tôi đừng đem ra thử. Bốn thân hữu tình nguyện làm vật thí nghiệm để xem nó ra sao. Sau khi tôi thử, cả bốn đều gặp những truyện thảm khốc. Từ đó tôi ngừng.
Thời gian 1980-1982, do tính bồng bột, tôi có đem vài thuật ra trừng trị một đại ma đầu trong làng báo ở Hoa-kỳ. Kết quả, y sống dở chết dở cho đến chết. Năm 1990 tôi lại trị một nữ ma đầu ở Ivry sur Seine thuộc Pháp; thị bị táng gia bại sản, thân bại danh liệt, trong khi tinh thần trở thành ngớ ngớ, ngẩn ngẩn, khật khật, khùng khùng. Mà ác một điều, tôi đã gỡ ra, mà thị vẫn không khỏi. Sau vụ này, quá hối hận, tôi tìm bản sư sám hối. Từ đấy tôi bỏ không đem ra thử nữa.
Tuy nhiên, tôi đã có chủ ý, tự hứa, đợi đến tuổi cổ lai hy, sẽ đem ra thử lại một lượt, rồi dịch, chú giải để lại cho hậu thế. Bấy giờ lỡ sự gì không hay xẩy đến, thì có chết cũng chẳng sao.
Trở lại với lời ngài Đạo-Hạnh, quả nhiên cuối đời Trần, sau khi đánh tan giặc Hồ Quý-Ly, người Minh cai trị Đại-Việt trong hai kỷ, từ 1407-1428. Rồi từ đấy về sau, không bao giờ họ có thể cai trị ta nữa.
Công chúa Thiên-Ninh hỏi đại sư Đạo-Hạnh:
– Hồi nãy đại sư phụ có dạy rằng đại sư phụ có thêm hai phương lược giữ nước nữa. Phương lược đem linh khí trở về là một. Vậy còn phương lược thứ nhì?
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Moderator

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #475 vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2009, 04:07:00 pm » |
|
Ghi chú,
Đại-Việt có hàng ngàn cao tăng đắc pháp thành bồ tát, nhưng hai thiền sư Minh-Không, Đạo-Hạnh được thiền sử tôn là thánh tăng. Hai ngài được thờ ở khắp nơi, được coi là hai vị tăng có tư tưởng nhập thế bậc nhất. Xét chung về hành trạng của hai ngài, tôi thấy hai ngài thoát ra ngoài khuôn khổ Phật-giáo Đại-thừa, Tiểu-thừa từ Ấn-độ truyền vào. Hai ngài đã hoà lẫn tinh hoa của Phật-giáo Ấn-độ vào với tinh hoa chủ đạo tộc Việt thành Phật-giáo Đại-Việt, với tinh thần nhập thế, đem đức từ bi hỷ xả của đức Thế-tôn bảo vệ đất nước.
Vua Lý Thánh-tông làm chùa Thiên-phúc niên hiệu Long-thụy Thái-bình thứ 4 (1058) ngài Đạo-Hạnh tu ở đây. Vua Lý Nhân-tông không có con trai, xuống chiếu chọn con trai trong hàng tôn thất để lập làm thái tử. Em vua là Sùng-hiền hầu cũng chưa có con trai. Bấy giờ thánh tăng Đạo-Hạnh đến chơi nhà hầu. Hầu tỏ ý muốn có con trai. Ngài dặn : « Bao giờ phu nhân sắp lâm bồn thì báo cho bần tăng biết ». Ba năm sau phu nhân của Sùng-hiền hầu họ Đỗ có thai. Lúc lâm bồn trở dạ mãi không đẻ được. Hầu nhớ lời ngài Đạo-Hạnh dặn trước, vội sai người báo với ngài. Lập tức ngài tắm rửa, rồi vào hang xuất hồn đầu thai làm con Sùng-hiền hầu. Phu nhân sinh ra con trai ngay sau đó, đặt tên là Lý Dương Hoán. Niên hiệu Hội-tường Đại-khánh thứ 8 (1117) Dương-Hoán được vua Lý Nhân-tông lập làm thái tử. Khi vua Lý nhân-tông băng, thái tử Dương-Hoán lên nối ngôi vua, tức vua Lý Thần-tông.
Thời còn là thái tử, vua Lý Thần-tông bị bệnh Zonna, đau đớn gầm thét như cọp, da sần sùi trông giống da cọp, nên người đương thời đồn rằng ngài hóa hổ. Bấy giờ trong dân gian trẻ con truyền nhau hát rằng: Tập tầm vông,
Có sư Nguyễn Minh-Không,
Chữa được bệnh thái tử.
Triều đình sai sứ về Thần-quang tự mời ngài Minh-Không tới Thăng-long trị bệnh cho thái tử. Bệnh khỏi. Khi thái tử lên ngôi vua, phong ngài Minh-Không làm Quốc-sư, truyền lập đền thờ sống. Đền đó nay là chùa Quán-sứ, ở số 73 phố Quán-sứ Hà-nội.
Đó là truyện sau.
Hầu như các chùa miền Bắc đều thờ hai ngài, cho đến nay (1995) tôi còn ghi lại được những chùa, đền chính thờ hai ngài.
1. Chùa Chúc-thánh.
Hay còn gọi là chùa Phả-lại ở trên núi xã Phả-lại, huyện Quế-dương, tỉnh Bắc-ninh.
Tài liệu
Xin xem phần nói về chùa Chúc-thánh trong hồi này.
2. Chùa Quán-sứ.
Trước kia thuộc thôn Yên-tập, huyện Thọ-xương, Hà-nội. Nay tọa lạc tại số 73 phố Quán-sứ, Hà-nội. Khởi đầu là ngôi đền, được kiến tạo do sắc chỉ của vua Lý Thần-tông để thờ sống Minh-Không thiền sư. Đời vua Trần Dụ-tông (1341-1369), công quán để đón tiếp sứ giả Chiêm-thành, Vạn-tượng, Nam-chưởng v.v. gần đền, nên vua ban sắc xây ngôi chùa ngay trước đền để các sứ giả lễ Phật, vì vậy chùa mang tên là Quán-sứ.
Tài liệu
– Thăng-long cổ tích khảo,
– Hoàng Việt địa dư chí,
– Đại-Việt địa dư chí,
– Bắc-thành địa dư chí lục,
– Hà-nội sơn xuyên phong vực,
– Bắc-kỳ giang sơn cổ tích danh thắng bị khảo,
– La-thành cổ tích vịnh.
Chùa Quán-sứ
3. Nguyễn Minh-Không từ
Đền thờ quốc sư triều Lý Nguyễn Minh-Không, tại xã Điềm-xá, huyện Gia-viễn, tỉnh Ninh-bình. Đền được kiến tạo niên hiệu Đại-định thứ 2 (1141) đời Lý Anh-tông.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Moderator

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #476 vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2009, 04:08:09 pm » |
|
Tài liệu
– Đại-Việt sử ký toàn thư (Lý kỷ, Thần-tông bản kỷ),
– Ninh-bình sử tích,
– Ninh-bình toàn tỉnh địa chí khảo biên,
– Bắc-kỳ giang sơn cổ tích danh thắng bị khảo,
– Đồng-khánh địa dư chí lược.
4. Quốc-thanh tự
Toạ lạc ở thị xã Ninh-bình. Chùa được kiến tạo trước năm 1077.
Tài liệu
– Thiền-uyển tập anh,
– Nam ông mộng lục,
– Việt điện u linh,
– Lĩnh-Nam chích quái,
– Thiên-Nam văn lục liệt truyện.
5. Hào-khê tự
Ở xã Hào-khê, huyên Ninh-giang, nay là Ninh-thanh, tỉnh Hải-hưng. Chùa từng là nơi trụ trì của ngài Minh-Không. Như vậy chùa phải được xây ít nhất vào khoảng 1077 là năm xẩy ra chiến cuộc Tống-Việt.
Tài liệu
– Hải dương tỉnh thần tích.
6. Lạc-lâm tự
Ở núi Không-lộ, huyện Thạch-thất, tỉnh Sơn-tây, nay thuộc Hà-nội. Theo ĐNNTC thì ngài Từ Đạo-Hạnh xuất hồn tại đây để đầu thai làm con Sùng-hiền hầu (Thuyết này không đúng). Như vậy chùa phải được kiến tạo trước năm 1077 là năm đang xẩy ra chiến cuộc Tống-Việt.
Tài liệu
– Thiền-uyển tập anh,
– An-Nam chí nguyên,
– Lê triều ngự chế quốc âm thi,
– Ngự đề Lạc-lâm thi,
– Đồng-Khánh địa dư chí lược.
7. Thần-quang tự
Còn gọi là chùa Keo. Có hai chùa Keo. Cả hai chùa đều thờ ngài hai. Nhưng chùa Keo dưới to lớn hơn, liên hệ tới lịch sử nhiều hơn. Hai chùa cách nhau bởi con sông Thái-bình. Nếu đi bằng đường bộ thì xa nhau diệu vợi. Còn đi bằng đường thủy, thì chỉ cách nhau một quãng nửa giờ.
Chùa Keo dưới hay chùa Keo Giao-thủy, ở xã Vũ-ghĩa, huyện Vũ-thư, tỉnhThái-bình. Chùa do ngài Minh-Không xây dựng năm Chương-thánh Gia-khánh thứ ba (1061) đời vua Lý Thánh-tông. Lúc đầu chùa mang tên Nghiêm-quang. Niên hiệu Chính-long Bảo-ứng thứ năm (1167) vua Lý Nhân-tông nhớ ơn ngài Minh-Không chữa trị cho vua Thánh-tông với Linh-Nhân hoàng thái hậu, nên mới có ngài. Ngài đến lễ chùa, tu sửa, đổi tên là Thần-quang. Độc giả NQSH là Phật-tử, hay theo bất cứ tôn giáo nào, nếu có dịp cũng nên tới hành hương tại đây để được thấy một kiến trúc cổ, mang đầy di tích lịch sử.
Tài liệu
– Thái-bình địa dư,
– Nam-định tỉnh địa dư chí,
– Hành-thiện xã chí.
Chùa Keo hay Thần-quang tự
8. Diên-phúc tự
Còn gọi là chùa Keo trên, chùa Keo Giao-thủy, ở ấp Giao-thủy, hương Hải-thanh thời Lý, nay là thôn Hành-thiện, xã Xuân-hồng, huyện Xuân-thủy, tỉnh Nam-Hà. Khởi đầu chùa do vua Lý Nhân-tông ban sắc kiến tạo niên hiệu Thiên-phù Duệ-vũ thứ 2 (1121) gọi là chùa Diên-phúc. Niên hiệu Thiệu-Minh thứ nhất (1138) vua Lý Anh-tông ban sắc chỉ tu bổ. Niên hiệu Chính-long Bảo-ứng thứ 5 (1167) lại xuống chiếu trùng tu, đổi tên là chùa Viên-quang, đổi tên ấp Giao-thủy là Hộ-xá. Đến năm Tự-Đức thứ 5 (1865) bờ sông bị lở, dân Hộ-xá dời chùa đến địa điểm hiện nay. Xã Hộ-xá sau đổi là Nghĩa-xá, đến triều Nguyễn đổi là xã Hành-thiện, huyện Xuân-trường, tỉnh Nam-định.
Tài liệu
– Thiền-uyển tập anh,
– Thánh-tổ hành thực diễn âm ca,
– Lĩnh-Nam chích quái.
9. Không-lộ tự
Tọa lạc ở cuối núi Hân, xã Chính-đại, huyện Tống-sơn, tỉnh Thanh-hóa. Tôi không tìm được năm kiến tạo.
Tài liệu
– Thanh-hóa tỉnh chí,
– ĐNNTC,
– Đồng-Khánh địa dư chí lược.
10. Dương-nham tự
Tọa lạc ở động núi xã Dương-nham, huyện Hiệp-sơn, nay là xã Kính-chủ, huyện Kim-môm, tỉnh Hải-hưng. Tôi không tìm được năm kiến tạo. Đây là một danh thắng rất đẹp.
Tài liệu
– Bắc-kỳ giang sơn cổ tích danh thắng bị khảo,
– Kim-văn loại tụ,
– Toàn Việt thi lục,
– Dương-nham khắc thạch.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Moderator

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #477 vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2009, 04:09:08 pm » |
|
11. Bản-tịch tự
Ở thôn Bình-lương, xã Đình-loan, huyện Văn-lâm, tỉnh Hải-dương, nay là tỉnh Hải-hưng. Chùa được kiến tạo do sắc chỉ của vua Lý Thần-tông (1128-1138).
Tài liệu
– Bắc-ninh toàn tỉnh địa dư chí.
12. Bối-am tự
Ở núi Sài-sơn, xã Thiên-phúc, huyện Yên-sơn, phủ Quốc-oai, nay là huyện Quốc-oai, tỉnh Hà-sơn-bình. Hồi sinh tiền, ngài Từ Đạo-Hạnh có đến ngụ tu một thời gian, nên người sau huyền thoại rằng đây là nơi ngài hoá thân (Không đúng).
13. Chiêu-thiền tự
Còn gọi là chùa Láng, ở xã Yên-lãng, huyện Từ-liêm, nay thuộc quận Đống-đa, Hà-nội. Nguyên hồi chưa đi tu, sư Đại-Điên (tức Đinh Kiếm-Thương) đã giết phụ thân ngài Từ Đạo-Hạnh là Từ Vinh. Sau này ngài gặp y ở địa điểm này, và giết chết y để báo thù. Vua Lý Thần-tông (1128-1138) ban sắc chỉ kiến tạo chùa để ghi nhớ sự tích và công ơn ngài Từ Đạo-Hạnh, cũng là tiền thân của vua. Hiện chùa còn mấy cây muỗn trồng từ đời Trần. Đây là nơi mà thời thơ ấu thuật giả thường ra nô đùa với các bạn cùng lứa tuổi.
Tài liệu
– Thiền-uyển tập anh,
– Hoàn-long huyện chí,
– An-lãng Chiêu-thiền tự,
– Hà-nội địa dư,
– Ngoại truyền kỳ lục,
– Bắc-thành địa dư chí lục,
– Thăng-long cổ tích khảo,
– Đại-Nam nhất thống chí,
– Hoàng-Việt địa dư chí,
– La-thành cổ tích vịnh,
– Bắc-kỳ giang sơn cổ tích.
Chiêu-thiền tự hay chùa Láng
14. Minh-Không thiền sư từ
Ở xã Cổ-đam, huyện Ý-yên, tỉnh Nam-hà. Đền được xây vào đời vua Lý Thần-tông (1128-1138), để tưởng nhớ công ơn ngài trị bệnh cho vua.
Tài liệu
– ĐVSKTT, Lý kỷ
– Đại-Việt địa dư chí,
– Bắc-thành địa dư chí lục,
– Đồng-khánh địa dư chí lược.
15. Đền thờ Minh-Không thiền sư
Ở xã Hán-triền (Hay Hán-lý), huyện Vĩnh-lại, tỉnh Hải-dương, nay thuộc huyện Vĩnh-bảo, Hải-phòng. Tương truyền Minh-Không thiền sư hóa thân ở núi Tam-viên thuộc xã này, nên dân chúng lập đền thờ.
Tài liệu
– ĐVSKTT, Lý kỷ.
– Đại-Việt địa chí,
– Bắc-thành địa dư chí lục,
– Bắc-kỳ giang sơn cổ tích danh thắng bị khảo,
– Đồng-Khánh địa dư chí lược,
– Đại-Nam nhất thống chí.
16. Thiên-phúc tự
Còn có tên là chùa Thầy. Chùa ở núi Sài-sơn (hay Thạch-thất, hay Phật-tích) thuộc địa phận hai xã Thiên-phúc, Thụy-Khuê, huyện Yên-sơn, phủ Quốc-oai. Nay là xã Sài-sơn, huyện Quốc-oai, tỉnh Hà-sơn-bình.
Đây là nơi ngài Từ Đạo-Hạnh xuất hồn đầu thai làm vua Lý Thần-tông. Trong các đền, chùa thờ hai ngài, thì đây là chùa chính. Sau khi ngài hóa, xác vẫn còn. Năm 1407, bọn Trương Phụ, Mộc-Thạch chiếm Đại-Việt mới đem xác này đốt đi. Tương truyền chúng phải đốt ba ngày mới cháy hết.
Tài liệu
– ĐVSKTT, Lý kỷ,
– Sơn-tây tỉnh chí,
– Hoàng-Việt địa dư chí,
– Bắc-thành địa dư chí lục,
– Đại-Nam nhất thống chí,
– Đồng-khánh địa dư chí lược,
Thiên-phúc tự hay chùa Thầy.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Moderator

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #478 vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2009, 04:10:10 pm » |
|
Đại tư mã Lý Thường-Kiệt hỏi chư tướng:
– Trước đây tôi chỉ định trấn tại phòng tuyến Như-nguyệt là Trấn Bắc thượng tướng quân Nguyễn Căn với phu nhân Vũ Thanh-Thảo. Lực lượng gồm hai hiệu Bổng-thánh của Mai Cầm, Phương-Đơn; hiệu Bảo-thắng của Quách Y, Phương-Tiên. Trấn Như-nguyệt kỳ này coi như lành ít, dữ nhiều. Nay tôi muốn chọn lấy hai tướng tình nguyện. Vậy ai có thể nhận trọng trách một đi không về này?
Lập tức chư tướng đều dơ tay tình nguyện. Thường-Kiệt không biết giải quyết ra sao, ông đưa mắt hỏi ý kiến Linh-Nhân hoàng thái hậu. Thái-hậu lại đưa mắt hỏi công chúa Thiên-Ninh. Công chúa cảm động:
– Thế mới biết anh linh thần vũ của tộc Việt ta mạnh vô cùng. Trấn ở Như-nguyệt không cần tài trí, mà cần quyết tâm, can đảm. Xét trong chư tướng đây, ai cũng có đầy đủ hai đức tính đó. Thần xin Thái-hậu cho chư tướng rút thăm. Ai trúng thì được lĩnh cái vinh dự này.
Mai Cầm, Quách Y đỏ mặt lên cãi:
– Trước đây Đại-tư-mã đã chỉ định hai chúng thần rồi, tại sao bây giờ lại cho rút thăm? Như vậy là bất công. Chúng thần không chịu.
Mặc hai tướng cãi, cử tọa nhất định đòi rút thăm. Cuối cùng hai đại sư Minh-Không, Đạo-Hạnh được cử ra chủ trì cuộc tuyển chọn này. Tất cả có mười một tướng thống lĩnh mười một hiệu Thiên-tử binh, một tướng thống lĩnh kị binh, mười tướng thống lĩnh các hiệu binh của châu-lộ, bốn đô đốc. Tổng cộng 26 tướng.
Đạo-Hạnh để 26 thăm vào trong cái hộp, rồi ngài nâng hộp lên ngang mày khấn:
– Xin liệt tổ 88 đời vua Hùng, vua An-Dương cùng chư đại thần, vua Trưng cùng 162 anh hùng... xin anh linh liệt tổ chọn cho hai tướng xứng đáng để trấn ở phòng tuyến Như-nguyệt.
Khấn xong ngài bảo ưng binh:
– Gọi cho thầy một chim ưng.
Ưng binh rút tù và ra thổi lên tu tu, lập tức có một chim ưng từ ngoài bay vào đậu trên tay ngài. Ngài nói:
– Trong hộp này có 26 thăm, thì 24 thăm trắng, còn hai thăm bần tăng vẽ con rồng. Ai được chim ưng rút cho thăm có con rồng, thì sẽ lĩnh vinh hạnh trấn Như-nguyệt.
Thế rồi ngài chỉ tay vào cái hộp, chim ưng nhặt thăm đưa đến tận tay các tướng. Sau khi 26 tướng nhận thăm rồi, ngài hô:
– Mở thăm ra. Chư tướng mở thăm cùng một lúc. Đúng là có người mà cũng tại trời, hai tướng Mai Cầm, Quách Y trúng thăm có con rồng. Hai tướng chắp tay hướng lên trời:
– Đa tạ Quốc-tổ, Quốc-mẫu đã chọn chúng con.
Chư tướng đều đưa lời chúc tụng hai tướng.
Linh-Nhân hoàng thái hậu tới bên hai tướng, ngài nắm lấy vai hai tướng, trong khi nước mắt chảy xuống đôi gò má:
– Chị biết chính khí chư tướng hào hùng vô tận. Chị cũng biết hai em do liệt tổ chọn. Nay hai em được tận trung báo quốc, chị mừng cho hai em. Nhưng này, hai em đã nghĩ kỹ chưa?
Hai tướng quỳ gối rập đầu xuống đất:
– Chúng em là những trẻ mồ côi, lang thang vô sở bất chí, được hậu thương yêu như con. Hậu nuôi dạy bọn em, gây dựng hạnh phúc sự nghiệp cho bọn em. Nay hậu thấy bọn em sắp chết, mà lòng không nỡ. Nhưng hậu ơi! Con người ta ai cũng phải chết, không chết bằng cách này, thì cũng chết bằng cách kia. Nay chúng em được chọn cái chết vinh dự nhất, thì thực là trời cho bọn em. Hậu cứ để cho các em ra đi.
Linh-Nhân hoàng thái hậu bảo Mai Cầm, Quách Y:
– Hai em xòe bàn tay ra nào!
Hai tướng xòe bàn tay ra trước mặt hậu. Ngài nắm lấy bàn tay hai tướng, đưa lên miệng cắn sẽ một cái:
– Hồi gặp các em ở hồ Tây, chị đã cắn bàn tay các em, để sau này đi đâu, các em cũng không quên chị. Bây giờ chị lại cắn nữa, để không bao giờ chị em ta quên nhau.
Thường-Kiệt đứng lê tóm tắt:
– Tôi xin nhắc lại năm điều.
Trong phòng im phăng phắc.
– Một là, chưa biết ngày mười chín tháng giêng, giờ Thìn, quân Tống sẽ vượt biên đánh xống Thăng-long hay không ? Nhưng tôi biết chắc rằng chúng phải tiến quân cho nhanh, vì sang tháng ba, trời bắt đầu nóng, mà chưa chiếm được Đại-Việt, thì chúng phải lui quân, nếu không thì bộ, kị binh sẽ bệnh mà chết hết. Bằng lui quân thì bọn Quách Quỳ, Triệu Tiết sẽ bị xử trảm. Chủ tâm của chúng là phá vỡ Như-nguyệt, rồi dùng kị binh tiến khẩn cấp về Thăng-long, bộ binh tiến sau. Quân tân-đằng-hải sẽ đánh chiếm các xã ấp để kiếm lương, dân phu.
Ông chỉ vào tướng Nguyễn Căn:
– Tổng trấn tại Như-nguyệt là Trấn-Bắc thượng tướng quân Tản-viên hầu Nguyễn Căn. Lực lượng thống thuộc gồm có hai hiệu Thiên-tử binh Bổng-thánh, Bảo-thắng, mười dàn Thần-nỏ, một hiệu thú binh gồm sáu sư Phong, Tượng, Ưng, Hổ, Báo, Ngao. Về cao thủ gồm bốn đại sư Viên Căn, Viên Mộc, Viên Chi, Viên Diệp chùa Báo-ân; Hùng Nhân, Hùng Nghĩa, Hùng Lễ, Âu Hoàng, Âu Thanh, Âu Huyền. Đặc biệt còn nghìn đệ tử của trường Long-thành ẩn-sĩ Tôn Đản, do phu nhân Vũ Thanh-Thảo chỉ huy.
Ông chỉ vào công chúa Thiên-Ninh:
– Kế tiếp Như-nguyệt là vòng đai bảo vệ Thăng-long, do công chúa Thiên-Ninh chỉ huy. Lực lượng trực thuộc có hiệu Thiên-tử binh Ngự-long, kị-binh, hiệu binh địa phương Hồng-châu trấn ở Cổ-pháp; hiệu Thiên-tử binh Quảng-thánh, hiệu binh địa phương Sơn-Nam phân tán vào các xã cùng hoàng nam đánh vào hông địch. Yểm trợ cho Cổ-pháp còn có mười dàn Thần-nỏ, sáu sư thú, một nghìn đệ tử phái Tản-viên.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Moderator

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #479 vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2009, 04:10:54 pm » |
|
Các tướng im lặng, dù không phải lệnh của mình cũng phải nghe cho rõ, để còn biết mà phối hợp.
– Hai là, mặt Phú-lương, Nham-biền. Ở đây Tống chỉ hư trương thanh thế. Ta nhân đó dùng toàn lực đánh chúng. Mặt Phú-lương do phò mã Hoàng Kiện, công chúa Động-Thiên trấn giữ. Lực lượng trực thuộc có hai hiệu Thiên-tử binh Vũ-thắng, Bổng-nhật; 10 dàn Thần-nỏ, sáu sư thú binh; tăng viện thêm bốn cao thủ Hùng Trí, Hùng Tín, Âu Lam, Âu Hồng; một ngàn cao thủ phái Tiêu-sơn. Bằng mọi giá phải giữ vững mặt này, nếu như vì lý do gì để Tống phá vỡ phòng tuyến Phú-lương, thì Thăng-long lâm nguy, bởi phía sau không còn lực lượng nào nữa.
Công chúa Động Thiên chỉ vào phò mã Hoàng Kiện; Lý Đoan, Trần Ngọc-Liên; Lý Tứ, Mai Tứ; Trần Di, Phương Lý:
– Đại huynh đừng lo. Tống chỉ có thể vượt Phú-lương, khi tất cả chúng em bị tan thây mà thôi.
Chư tướng vỗ tay.
– Ba là mặt Nham-biền. Mặt này của Tống là hư. Còn ta, thì ta đánh như sét nổ, diệt các đạo binh Tống ở Nham-biền, rồi tiến về Như-nguyệt. Mặt này do Trung-Thành vương, Tín-Nghĩa vương tổng chỉ huy. Lực lượng thống thuộc gồm năm hiệu Thiên-tử binh Đằng-hải, Long-dực, Hùng-lược, Vạn-tiệp, Thần-điện; đội Thần-tiễn Long-biên, đội Giao-long Tây-hồ; một nghìn võ sĩ phái Đông-a; hạm đội Thần-phù.
Trung-Thành, Tín-Nghĩa cùng chư tướng đứng dậy nhận lệnh.
– Bốn là, Khu-mật viện sẽ dùng chim ưng đem lệnh cho phò mã Thân Cảnh-Long, công chúa Thiêm-Thành đem quân vượt biên đánh sang Vĩnh-bình, Tây-bình, Lộc-châu để dọa Tống. Công chúa Côi-sơn, phò mã Tôn Mạnh đánh chiếm Quyết-lý; Quán-quân thượng tướng quân Đinh Hoàng-Nghi sẽ đánh Chi-lăng, cắt đường lui quân tiếp tế lương thảo của Tống.
– Năm là đội công tác đặc biệt, do quan Thái-phó Quách Sĩ-An chỉ huy với đội cao thủ trường Thái-hà dàn ra từ Phú-lương tới Như-nguyệt, Nham-biền, ngày đêm dùng loa đọc bộ Thiên-thư nghị chế thời Tống Nhân-tông cho binh tướng giặc nghe. Không biết quan Thái-phó có điều gì thắc mắc không?
Quách Sĩ-An là quan văn, bây giờ được lệnh ra trận, ông vui mừng chi siết kể:
– Đại-tư-mã có nhã ý cho tôi ra trận, thực thâm cảm vô cùng. Tôi có đề nghị này: Nhiều người trong chúng ta biết nói tiếng Hoa, nhưng nói tiếng Hoa Biện-kinh thì ít ai nói trôi chảy văn chương. Tôi từng đi sứ, đã học nói tiếng Biện-kinh, nhưng nội lực không làm bao để có thể phát thanh vượt sông đến trại Tống. Ở đây, ta có ba vị, không những võ công cao cường, nội lực xung mãn, mà văn chương quán thế, nói tiếng Biện-kinh như người Tống. Xin Đại-tư-mã mời ba vị ấy cùng làm với tôi thì hay biết bao.
Mọi người cùng đổ dồn mắt nhìn Côi-sơn tam anh. Linh-Nhân hoàng thái hậu biết Thường-Kiệt là sư điệt, nên không dám sai ba đại sư bá. Hậu định lên tiếng, thì Phụ-Quốc đã nói:
– Quan Thái-phó đã có ý kiến ấy, thì chúng tôi đâu dám từ. Được! Vậy thế này, chúng tôi dẫn đệ tử, trường Thái-hà đi phát thanh. Còn quan Thái-phó thì nghiên cứu, rồi viết ra bản văn, để chúng tôi phát thanh cho thống nhất.
Buổi hội chấm dứt. Tết Đinh-Tỵ năm nay trên khắp đất nước Đại-Việt, gần như dân chúng không còn tâm trí nghĩ đến ăn uống, vui mừng, vì cái tin 40 vạn quân Tống, 60 vạn bảo binh, dân phu đã tràn đến Bắc sông Như-nguyệt. Chúng như đàn hổ đói, đang rình rập, chờ dịp thuận tiện là nhảy xuống ăn thịt dân Thăng-long.
Nhưng trưa mùng một, mõ khắp nơi cùng rao rằng: Trung-Thành vương, Tín-Nghĩa vương đã đột kích quân Tống giữa đêm giao thừa. Giặc chết đến hơn sáu vạn. Sau đó, khắp các trấn, các huyện, các làng... các thầy đồ kể truyện cho dân chúng nghe về chi tiết trận đánh. Trong quân, thì các vị sư trưởng, đạo trưởng tập họp quân sĩ lại kể cho họ nghe.
Dân chúng bớt lo sợ, người người hăm hở lo phòng bị giữ làng khi giặc tới.
Ngay đêm mùng một, sang ngày mùng hai, mõ lại rao một tin lạ lùng vô cùng:
« Hai đại bồ tát Minh-Không, Đạo-Hạnh trong khi vân Trung-thổ đã trị bệnh, trừ tà trong thành Biện-kinh. Vua Tống cúng dàng một kho đồng. Đây không phải đồng bình thường, mà là tinh hoa linh khí Trung-thổ kết tinh mà thành. Hai ngài đã dùng đồng đó để đúc: Nam thiên tứ khí. Tứ khí gồm một tượng Phật cao hai trượng, một cái vạc nặng ba vạn cân, một cái chuông ngân thiên, và đỉnh tháp Báo-thiên. Với Nam thiên tứ đại thần khí, thì chư thiên, chư bồ tát, chư thần sẽ giáng hạ đánh tan giặc Tống. Dân chúng muốn biết rõ chi tiết hãy đến các quán trà, các trường học mà nghe thầy đồ kể rõ ngọn nguồn ».
Dân chúng lại ào ào đến các trường, các quán trà nghe thấy đồ kể truyện. Trong quân, thì các cấp chỉ huy họp tướng sĩ để giảng giải. Thế là khắp Đại-Việt, chỗ nào cũng nghe nói về Nam thiên tứ đại thần khí. Tại rừng Bắc-biên, nơi ém quân của hiệu binh Quảng-vũ ở trong rừng Bắc-biên.
Từ hôm được chỉ dụ của Linh-Nhân hoàng thái hậu truyền rút quân vào ẩn trong rừng, chờ khi có lệnh, sẽ đánh vào hậu quân địch đến giờ; Phò mã Thân Cảnh-Long, công chúa Thiên-Thành; phò mã Tôn Mạnh, công chúa Côi-sơn; Quán-quân thượng tướng quân Đinh Hoàng-Nghi, quận chúa Phương-Quỳnh; đô thống Lý Tam và phu nhân... phân tán quân ra thành từng tốt (100 người), rồi cho ẩn vào các trang động Bắc-biên chờ lệnh.
Lúc được lệnh rút quân vào rừng, Đinh Hoàng-Nghi bàn với Phương-Quỳnh, Chang-Lan rằng: Vi Thủ-An hàng Tống thực, nhưng nay y chết rồi, mà mấy chục trang động thống thuộc y thì bất mãn vì Tống bắt dân phu, thu lương, nên vẫn anh hùng một cõi. Chúng ta cử sứ giả tới liên lạc với họ, giúp đỡ, bảo vệ họ; như vậy ta vừa được dân, vừa có lương thực nuôi quân.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|