Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:00:49 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những người thắng cuộc  (Đọc 88318 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #110 vào lúc: 02 Tháng Mười, 2008, 06:38:14 pm »

Chương 25
"TINH THẦN VÀ TÂM HỒN CỦA MỘT DÂN TỘC ĐƯỢC TÁI SINH"


Trong vòng ba năm sau hội nghị Postdam, câu chuyện người Mỹ ở Đức không chỉ là của Harry Truman mà là của Lucius Clay. Cũng như với Tướng Douglas MacArthur, tổng trấn ở Nhật, Truman ít giải thích về quyền tự trị của tướng Clay trên vùng Mỹ chiếm đóng.188 (Vì sách này có liên quan đến tài năng chính trị thời chiến của Roosevelt và Truman trên nước Đức thời hậu chiến, nên chương này cung cấp cách đối xử khái quát bốn năm sau đó)


Giống như Truman, Tướng Clay có các lý do của tổ tiên để so sánh sự chiếm đóng nước Đức với Thời kỳ Tái thiết nước Mỹ. Sinh năm 1898, ông là con trai Nghị sĩ Đảng Dân chủ bang Georgia, Alexander Stephens Clay, được đặt theo tên Phó Tổng thống Liên bang. Sau khi tốt nghiệp ở West Point, chàng trai trẻ Clay không bằng lòng với sự bổ nhiệm vào Quân đoàn Công Binh dự bị. Nhưng sau khi vẽ bản đồ các khu rừng nhiệt đới ở Panama và nghiên cứu việc xây dựng đập nước gần Pittsburgh, ông tiếp tục đến Hoa Thịnh Đốn năm 1933 như người thứ hai dành cho sông ngòi và bến cảng, tranh cãi với các nhân vật trong chính sách kinh tế xã hội mới của Roosevelt năm 1932 như Harold Ickes và Harry Hopkins trên các công việc trong những công trình công cộng.


Trong suốt Thế chiến II, là trưởng Quân nhu, Clay tập trung một số lượng 88.000 xe tăng, 2 triệu xe tải và 178.000 viên đạn pháo. Lo sợ sự nghiệp bị “thất bại mà không có kinh nghiệm trận chiến," ông phiền muộn khi nghe nói rằng ông sẽ kế vị Eisenhower làm tư lệnh Mỹ ở Đức. Nhưng ông nhận thức rằng thời gian phục vụ trong chiến tranh đã dạy ông về “toàn bộ nền kinh tế của một đất nước."


Lần đầu tiên Clay đọc JCS 1067 khi đang bay đến châu Âu vào tháng Tư năm 1945. Ông đồng ý với tiền đề cho rằng người Đức phải gánh chung tội lỗi với các tội ác của Hitler. Ông viết cho McCloy là ông “không muốn thừa nhận rằng nước Đức đã trở thành cái nó đã là" chỉ vì người Đức có khuynh hướng “vâng theo lãnh đạo." Clay tán thành các biện pháp trừng phạt các tội phạm chiến tranh Đức, truy bắt các viên chức cao cấp và hạn chế các nhà máy có thể tạo ra chiến tranh. Nhưng giống với Stimson và McCloy, ông cảm thấy người Mỹ “không phải là một dân tộc hận thù.”


Clay phản đối hầu hết phần JCS 1067 thừa kế trực tiếp từ Kế hoạch Morgenthau. Sau này ông nhớ lại rằng "về mặt kỹ thuật các hướng dẫn của chúng ta ngăn không cho chúng ta làm bất kỳ điều gì giúp người Đức về mặt tài chính hoặc kinh tế.” Nhưng có lần ông nhận thức rằng không có việc thực hiện chính quyền ở Đức, ông bắt đầu nghĩ "dưới dạng tái xây dựng- trong giai đoạn mà ngay cả nói về việc tái xây dựng nước Đức cũng đủ để làm cho bạn bị treo cổ trên tháp Ellipse ở Hoa Thịnh Đốn."


Trước Ngày Chiến thắng châu Âu, Clay bảo đảm với McCloy rằng “sự tiêu diệt tiềm năng chiến tranh của Đức" không còn là vấn đề nghiêm trọng nữa: "Sự phát triển chiến tranh đã đạt tới điều đó.” Ông yêu cầu "ở đây có đủ tự do để đưa các công nghiệp trở lại sản xuất, nhằm cho phép người Đức tồn tại, ông nói thêm, "Tôi hy vọng các ông không nghĩ rằng tôi mềm yếu.” Sau khi nghiên cứu sự tàn phá rộng lớn khắp nước Đức, Clay viết cho McCloy rằng tình trạng đói một chút là điều cần thiết để làm cho nước Đức “nhận thức được các hậu quả của chiến tranh do họ gây ra,” nhưng không được “đi đến chỗ gây ra chết đói và đau ốm hàng loạt."


Tháng tám năm 1945, Clay từ Frankfurt đến Bá Linh. Lo lắng không đập tan được người Đức như kẻ thống trị chủ nghĩa khoái lạc, ông sử dụng một căn nhà giản dị, trang trí cây thường xuân ở vùng ngoại ô Dahlem.
Một trong các vấn đề đầu tiên của ông với JCS 1067 là lệnh cấm không cho người Mỹ thân thiện với người đức mà ông nhận thấy "khó khả thi." Clay viết cho McCloy, tính thân thiện duy nhất thực sự liên quan đến binh lính là đi chơi với cô gái Đức xinh đẹp, là bằng chứng rõ rệt."189 (Sau Padover, một nhà phân tích tình báo Quân đội Mỹ đi theo Quân đi vào nước Đức, bảo Harold Ickes rằng "phụ nữ Đức điên dại vì đàn ông" và “làm tình" là "điều phổ biến." Ickes viết trong nhật ký là "xét cho cùng vì đã lâu họ không có đàn ông”) Được Marshall và Eisenhower ủng hộ, Clay bãi bỏ lệnh cấm, tuyên bố người Mỹ có thể chuyện trò “với người Đức trưởng thành trên đường phố và ở những nơi công cộng."


Khi lương thực ngày càng thiếu trầm trọng, Clay nhắc nhở các phụ tá kẽ hở trong JCS 1067 về “bệnh tật và tình trạng bất ổn." Lúc đó ông cảnh báo Hoa Thịnh Đốn rằng cần phải có các nguồn cung lấp lương thực lớn hơn để tránh rối loạn, ông nói thầm rằng họ sẽ giúp toàn Tây Âu: không có sự chọn lựa nào giữa việc trở thành người Cộng sản với 1.500 calo và một người tin vào chế độ dân chủ với 1.000 calo." Làm ít hơn có thể chuẩn bị cho một nước Đức Cộng sản." Clay ra lệnh cho chính quyền quân sự theo đuổi “chính sách 4D": phi quân sự hóa (demilitarization), không kinh tế cartel hóa (decartelization), dân chủ hóa (democratization), tiêu diệt chủ nghĩa quốc xã (denazification).


Khi quân đội Mỹ thọc sâu vào nước Đức, các tổ chức quân sự bị giải tán, vũ khí và đạn dược bị tịch thu. Việc phá vỡ các nền kinh tế cartel được thực hiện phối hợp với các cường quốc đang chiếm đóng khác. Clay bắt đầu chiến dịch dân chủ của mình bằng cách ra lệnh tiêu hủy tất cả các sách giáo khoa và văn học Quốc xã, nhưng cũng lưu ý rằng “bạn không thể xây dựng một nền dân chủ thực sự trong một bầu không khí túng quẫn và đói nghèo."
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #111 vào lúc: 02 Tháng Mười, 2008, 06:39:01 pm »

Về vấn đề tiêu diệt chủ nghĩa quốc xã, tháng Bảy năm 1945, Clay khuyên Hoa Thịnh Đốn rằng ông chưa thấy “bất kỳ cảm giác chung nào về tội phạm chiến tranh hoặc ghê tởm học thuyết và chế độ Quốc xã.” Người Đức "trách Quốc xã bại trận, cam đoan không biết các tội ác của chế độ và giũ sạch sự hỗ trợ của riêng họ hoặc im lặng như ngẫu nhiên và tất yếu.”


Tháng Chín, Tướng Ceorge Patton, thống chế quân sự ở Bavaria, nói với giới báo chí rằng "hơn nửa dân chúng Đức là đảng viên Quốc xã và chúng ta sẽ ở trong địa ngục khó khăn nếu chúng ta cho về vườn hết mọi đảng viên Quốc xã. Tôi nhận thấy đảng Quốc xã này rất giống cuộc chiến tuyển cử giữa Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa." Patton tuyên bố ông bị trích dẫn sai, nhưng khi ông phê phán Clay cố gắng đánh tan tác vùng Quốc xã, Eisenhower đã xoa dịu ông. Phản ứng lại sự náo động khi quay trở về Mỹ, Eisenower và Clay công bố một sắc lệnh mới rằng các cựu đảng viên Quốc xã chỉ được sử dụng làm lao động chân tay.


Một số người Đức sợ luật mới là mũi nhọn đem lại sự phục hưng Kế hoạch Morgenthau. Tháng Mười năm 1945, Clay thông báo cho McCloy biết khoảng bảy mươi lăm ngàn người Đức mất việc làm. Khi một phụ tá cho ông biết ông đã quá cứng rắn với người Đức. Clay trả lời, “Cách tốt nhất để làm cho một mệnh lệnh xấu thay đổi là mạnh mẽ thực hiện nó.” Clay phàn nàn với Ngũ Giác Đài rằng cho dù là ông được cấp cho mười ngàn người Mỹ giúp bảo vệ vùng ông chiếm đóng khỏi Đảng Quốc xã, ông cũng không thể kết thúc được công việc.


Chương trình tiêu diệt chủ nghĩa quốc xã của Clay nao núng dưới sự mênh mông của nhiệm vụ, tài nguyên nghèo nàn của ông, sự háo hức giữ cho nền kinh tế hoạt động bằng cách cho nhiều đảng viên Quốc xã địa phương việc làm và chiến thắng cuộc đấu tranh chống Liên Xô giành sự đồng tình của người Đức. Cho dù có nhược điểm, chương trình tiêu diệt chủ nghĩa quốc xã cũng triệt để hơn chương trình của người Anh hoặc người Pháp-và chắc chắn hơn Liên Xô. Cuối cùng khoảng ba triệu người Đức bị buộc tội, hai triệu người bị đưa ra xét xử và gần một triệu bị trừng phạt theo một cách nào đó.


Sau này Clay nói chương trình của ông quá khắt khe: “Tôi nghĩ chúng ta đưa nó đi quá xa. Anh và Pháp đã không có cùng một cảm giác đối với các đảng viên Quốc xã như chúng ta đã có. Người ta cũng không có một dân số Do Thái khổng lồ đã phát triển lòng thù hận mà bạn có thể hiểu rõ... Chúng ta không ngớt bị báo chí tấn công, điều này có khả năng chính xác phát hiện ra một đảng viên Quốc xã nào đó mà chúng ta đã đưa vào chính quyền quân sự."


Lo sợ bị báo chí phê bình, Truman yêu cầu Byron Price, cựu chủ bút dịch vụ điện báo và trưởng ban kiểm duyệt thời chiến của Roosevelt, đi tham quan vùng Mỹ chiếm đóng và báo cáo lại công việc Clay thực hiện. Price cảnh báo rằng nhiều người Đức, "ngay từ lúc đầu chào đón người Mỹ như những người giải phóng," hiện đang bộc lộ “kinh ngạc và thất vọng với các chính sách cứng rắn của chúng ta” về việc tiêu diệt chủ nghĩa Quốc xã và triệt phá công nghiệp.


Price lý luận rằng khẩu phần thực phẩm 1.550 calo mỗi ngày người Mỹ dành cho người Đức là không đủ: "Nếu chết đói xảy ra, như có vẻ có thể xảy ra, bệnh dịch và tình trạng hỗn loạn sẽ không còn xa nữa.”190 (Trả lời, Thứ trưởng Chiến tranh Robert Patterson đồng ý 1.550 calo là không phù hợp: "Khó khăn ở đây là khẩu phần ở Ba Lan và áo không cao hơn... và theo Tuyên ngôn Postdam, người Đức không được có khẩu phần cao hơn những người khác trong các quốc gia lân cận.”) Ông cũng báo cáo “điều người Đức ngạc nhiên” là quân Đồng minh chưa thực hiện lời hứa đưa các lãnh đạo Quốc xã ra xét xử ở tòa án quốc tế. Điều này đã không “cải thiện được các mối quan hệ với dân chúng Đức có truyền thống chỉ tôn trọng quyền lực kiên quyết và nhanh lẹ.”


Toà án quốc tế mà Roosevelt và Churchill đã có lần tranh luận, được triệu tập tại Nuremberg vào tháng Mười Một năm 1945. Bắt đầu với Martin Bormann-xử vắng mặt191 (Người ta đồn thư ký riêng của Hitler, được Hitler bổ nhiệm làm thủ lĩnh chính trị của tổ chức dân quân, đã trốn thoát khỏi quân Đồng minh, có lẽ đến châu Mỹ la tinh. Trên thực tế, sau khi Hitler chết, Bormann đã tự tử hoặc bị giết chết ở Bá Linh. Phần thi thể của ông được phát hiện và xác định năm 1972)-và Hermann Goring, hai mươi hai lãnh đạo Quốc xã cao cấp bị truy tố về tội âm mưu thực hiện tội ác chiến tranh, tội ác chống lại hòa bình và tội ác chống lại nhân loại.


Lặp lại các lý luận của Stimson thời chiến tranh, năm 1963 Truyền nhắc lại rằng ông muốn có “một tòa án công khai, nhanh chóng và công bằng” để cho người Đức thấy được “vết nhơ không thể gột rửa được mà các lãnh đạo của họ đặt lên họ trong các quốc gia" và “làm cho không còn ai nhắc đến điều đó nữa trong tương lai, “Ồ, nó chưa xảy ra-chỉ tuyên truyền thôi-toàn những điều dối trá.”


Truman đồng ý với ủy viên công tố Mỹ, Thẩm phán Tòa án Tối cao Robert Jackson, rằng tòa án phải được triệu tập tại nước Đức. Clay đề nghị ở Nuremberg, nơi tổ chức các đại hội đảng khét tiếng của Hitler, và đưa mười lăm ngàn tội phạm chiến tranh Đức ra dọn dẹp dường phố. Sau này ông nhấn mạnh rằng nếu không có hồ sơ lưu lại các vụ xét xử ở Nuremberg, thì không thể làm cho dân chúng Đức nhận thức thấy "chính quyền của họ thực sự gây kinh hoàng khủng khiếp thế nào."192 (Sau khi tòa án quốc tế kết thúc vào tháng Mười năm 1946, Mỹ còn mở mười hai phiên tòa nữa tại Nuremburg xét xử những người Đức cấp thấp hơn. Mỹ cũng mớ các tòa án quân sự tại Dachau)
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #112 vào lúc: 02 Tháng Mười, 2008, 06:39:43 pm »

Cùng thời gian phải trừng phạt người Đức trong vùng ông chiếm đóng, Clay được giao nhiệm vụ phải lôi kéo họ theo chế độ dân chủ kiểu Mỹ. Để bắt đầu các quá trình dân chủ và giảm các chi phí chiếm đóng, ông nhanh hơn các quân chiếm đóng khác trong việc chuyển giao trách nhiệm cho những người Đức tốt ông chia vùng Mỹ chiếm đóng thành ba phần, bổ nhiệm ba chủ tịch-bộ trưởng-người Đức không phải đảng viên Quốc xã và yêu cầu họ, theo chỉ đạo của ông, soạn thảo các chính sách về lương thực, tiêu diệt chủ nghĩa quốc xã và các vấn đề khác cho đến khi có chính quyền trung ương Đức.


Trong chuyến thăm Hoa Thịnh Đốn vào tháng Mười Một sau khi kế vị Eisenhower làm tư lệnh vùng, Clay khuây khỏa khi nhận thấy rằng yêu cầu tái xây dựng kinh tế nước Đức không còn khiến ông có nguy cơ phải gục đầu trước Đài Tưởng niệm Washington nữa. Dưới kẽ hở “bệnh tật và tình trạng bất ổn" trong JSC 1067, Clay giành được sự chấp thuận cho phép người Đức trong vùng ông sử dụng than đá để ngăn ngừa chết đói và đẩy nhanh tốc độ phục hồi lại Tây Âu.


Tổng thống Pháp lâm thời Charles de Gaulle, ngăn chặn Hội Đồng Kiểm soát Đồng minh. Truman cảm thấy việc de Gaulle "mong muốn Pháp trở lại vai trò cường quốc thế giới" là “phát xít hoặc theo chủ nghĩa Napoleon." Ông phải đe dọa de Gaull bằng hành động tạm ngưng viện trợ tài chứlh cho Pháp chỉ để đuổi quân đội Pháp ra khỏi Stuttgart, nằm trong vùng Mỹ chiếm đóng. Mặc dù Truman bảo đảm rằng bom nguyên tử sẽ “làm ngập ngừng" nước Đức và các đất nước có khả năng gây hấn khác, nhà lãnh đạo Pháp đòi vùng đất sông Rhine cho nước Pháp. Cũng giống như người Nga, ông muốn quốc tế hóa vùng Ruhr.


Gặp rắc rối trong các xung đột mới với Liên Xô, thiết tha bảo vệ nước Pháp và vùng Ruhr khỏi chủ nghĩa cộng sản, Truman mất kiên nhẫn với việc Clay cộng tác quân sự với Nga và việc ông nhất định theo đuổi hiệp ước Postdam là đối xử với nước Đức như một tổng thể kinh tế.


Tại hội nghị thứ hai của Hội đồng các Ngoại trưởng được ủy nhiệm ở Postdam, tổ chức ở Mạc Tư Khoa vào cuối năm 1945, Tống thống giận dữ khi Jimmy Byrnes độc lập đưa ra sự thừa nhận khả thi các chế độ ủng hộ Liên Xô ở Lỗ Ma Ni và Bảo Gia Lợi và công khai phát biểu về chính sách ngoại giao trước khi báo cáo với Tổng thống. Theo giải thích sau này của Truman, ông đã đọc to cho Byrnes nghe lời phàn nàn ông viết cho Byrnes về việc Byrnes không chịu phục tùng, đồng thời cũng cảnh báo, “Nếu Nga không phải đối phó với một cú đấm thép và lời lẽ thô tục, thì một chiến tranh khác đang hình thành. Tôi mệt vì phải nuông chiều Liên Xô.”193 (Sau này Byrnes nói nếu Truman đọc cho ông nghe một lá thư như thế, ông đã từ chức ngay tức khắc)


Trong Hội đồng Kiểm soát Đồng minh, Clay nói với Liên Xô và Pháp rằng ông không thể tiếp tục rút hết vùng Mỹ chiếm đóng để lấy khoản bồi thường thiệt hại chiến tranh mà không thu hoạch lợi lộc từ sự thống nhất kinh tế đã được thỏa thuận tại Postdam. Khi ông cho dừng lại việc phá hủy công nghiệp và phân phát bồi thường thiệt hại chiến tranh, Liên Xô lớn tiếng chống lại “Tướng Clay bất hợp pháp."


Tháng Năm năm 1946, Clay điện báo cho Hoa hình Đốn rằng sau một năm chiếm đóng, bốn vùng nước Đức hầu như trở thành cấc lãnh thổ kín gió. Với một "nền kinh tế tồi tệ," việc không thể đạt tới sự thống nhất kinh tế sẽ làm cho mùa đông kế tiếp “gần như không thể chịu đựng nổi.” Sau đó một tháng, Thứ trưởng Chiến tranh Robert Patterson viết cho Byrnes rằng “an ninh quốc gia" Mỹ đòi hỏi phục hồi kinh tế vùng Ruhr và vùng đất sông Rhine và sử dụng nguồn tài nguyên Đức để củng cố Tây Âu khỏi bị Liên bang Liên Xô "nhận chìm.”


Tại hội nghị các ngoại trưởng mới đây, bắt đầu trong tháng Tư tại Ba Lê, Byrnes bác bỏ yêu cầu mới về bồi thường thiệt hại chiến tranh của Molotov, thưa kiện rằng Mỹ và Anh phải trả nửa tỉ mỹ kim một năm nuôi người Đức trong vùng họ chiếm đóng vì vùng Liên Xô chiếm đóng đã bỏ phân phối lương thực. Khi Molotov từ chối đề nghị của Ngoại trưởng Mỹ cho rằng bốn cường quốc giữ cho nước Đức phi quân sự trong hai mươi lăm năm, Bymes kết luận rằng Stalin đang chờ người Mỹ rút khỏi châu Âu. Sau đó Liên Xô sẽ hành động chống lại nước Đức.


Clay cảnh báo cho Byrnes biết người Đức lo lắng lực lượng Mỹ sẽ bỏ mặc họ một mình đối chọi với Hồng quân. Tháng Chín năm 1946, Ngoại trưởng Mỹ đến Đức và phát biểu tại Nhà Hát lớn ở Stuttgart với khán giả gồm nhiều người Đức được Clay bổ nhiệm vào cuộc thử nghiệm một chính phủ tự trị. Qua đài phát thanh, hàng triệu người Đức lắng nghe bản dịch tiếng Đức được phát đi cùng lúc.


Byrnes tuyên bố rằng bao lâu còn quân đội chiếm đóng ở lại nước Đức, người Mỹ vẫn còn ở lại: “Chúng tôi sẽ không trốn tránh trách nhiệm. Chúng tôi sẽ không rút quân." Ông nói, "Dân tộc Mỹ muốn giúp dân tộc Đức giành lại vị trí đáng kính trọng trong số các quốc gia tự do và yêu chuộng hòa bình trên thế giới."
Như Clay sau này nhớ lại, nhân dân rất nhiệt tình. Đối với tôi điều đó quả là khó tin."


Mùa đông năm đó, theo đề nghị của Clay, Truman cử Herbert Hoover đi kinh lý Tây Đức, sử dụng xe lửa riêng cũ của Goring. Vị cựu Tổng thống cảnh báo ngay rằng nền kinh tế của đất nước bại trận đã bị nhấn chìm xuống mức thấp nhất cả đến một trăm năm."


Tổng tham mưu trưởng quyết định việc phục hồi hoàn toàn công nghiệp Đức, “đặc biệt khai thác than đá," hiện nay là “quan trọng hàng đầu” đối với an ninh Mỹ. Để xoa dịu những gian khổ về kinh tế, Anh và Mỹ tạo ra một vùng Anh-Mỹ riêng gồm Gilbert và Sullivan-nghe như tên của vùng Bizonia, có thủ đô là Frankfurt.


Truman sa thải Byrnes vô tổ chức vào tháng Giêng năm 1947 và bổ nhiệm vào chức vụ đó là Tướng George Marshall, người đã loại bỏ JCS 1067 và thay thế nó bằng JCS 1779 khoan hồng hơn, quy định rằng "một châu Âu trật tự và thịnh vượng cần phải có những đóng góp về kinh tế của một nước Đức ổn định và hữu hiệu.” Nước Mỹ cung cấp lương thực thực phẩm cho hơn ba triệu trẻ em Đức.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #113 vào lúc: 02 Tháng Mười, 2008, 06:40:16 pm »

Sau một hội nghị khác của các ngoại trưởng bị bế tắc, vào mùa xuân năm 1947 ở Mạc Tư Khoa, Marshall kết luận rằng việc thương lượng thêm với Nga về một nước Đức thống nhất có thể chỉ mở đường cho cường quốc Liên Xô trong khi các vùng chiếm đóng phía tây bị rối loạn bởi sự hỗn loạn và náo động. ông cảnh báo "bệnh nhân chết dần trong khi bác sĩ cứ hội chẩn mãi.” Clay nói với Hoa Thịnh Đốn rằng ông chưa bao giờ nhìn thấy người Đức mất tinh thần đến thế.


Tháng Sáu năm 1947, trong buổi lễ phát bằng tại Đại học Harvard, Ngoại trưởng Mỹ công khai tuyên bố những gì nổi tiếng như Kế hoạch Marshall, đề nghị Mỹ hào phóng viện trợ để khôi phục châu Âu. Cảm hứng trong khi soạn thảo, Marshall đã gửi các bản ghi nhớ năm 1944 của Stimson cho Rooseveit để đánh đổ Kế hoạch Morgenthau và để yêu cầu tái thiết nước Đức hậu chiến. Molotov tuyên bố bãi bỏ đề nghị của Marshall như một thủ đoạn mở rộng ảnh hưởng của Mỹ vào Đông Âu, nhưng ông ta không thể làm gì được.


Tài liệu được công bố của Liên Xô sau Chiến tranh Lạnh cho rằng Stalin hy vọng một nước Đức thống nhất, nhưng chỉ với điều kiện vẫn có nhiều cơ hội để bồi thường thiệt hại chiến tranh. Liên Xô gây ảnh hưởng trên vùng Ruhr và Tây Âu, và một ngày nào đó, sau khi Mỹ rút quân, giấc mơ xưa của ông về một nước Đức hoàn toàn xã hội chủ nghĩa dưới sự che chở của điện Cẩm Linh. Mùa xuân năm 1946, Stalin nói với các du khách người Nam Tư rằng “toàn bộ nước Đức phải thuộc về chúng tôi-tức Liên Xô, chủ nghĩa Cộng sản."


Năm 1947, các hy vọng đó đang chết dần, do Liên bang Liên Xô phải đối đầu với phương Tây, do mâu thuẫn tư tưởng của Stalin về những gì phải làm với nước Đức và sự môi giới vụng về của Molotov. Nhiều năm sau, Molotov thừa nhận rằng ông đã cố gắng "mở rộng biên giới Liên Xô xa bao nhiêu có thể,” và nói thêm rằng không thể có một nước Đức "yêu chuộng hòa bình" nếu nước Đức không đi theo "con đường xã hội chủ nghĩa."


Stalin cũng ngầm phá hoại khả năng thống nhất nước Đức bằng cách giao vùng Liên Xô chiếm đóng cho cựu đảng viên Cộng sản Walter Ulbricht. Một cựu học sinh trong Ủy Ban nước Đức Tự do trong thời chiến của Stalin, một Ulbricht cứng nhắc rõ ràng cảm thấy con đường tốt nhất đi đến quyền lực của ông là bằng cách biến vùng chiếm đóng thành một bang khách hàng của Liên Xô được quân sự hóa cao. Quả là quá trễ khi Stalin cho gọi Ulbricht đến Mạc Tư Khoa và khiển trách ông vì chiến đấu “như các tổ tiên của ông, những người Giec-manh, với tấm che mở," "có thể là dũng cảm" nhưng "thường là rất ngu ngốc."


Sau thất bại của hội nghị các ngoại trưởng tổ chức ở Luân Đôn đầu năm 1948, Truman kết luận “người Nga sẽ không thực hiện hiệp ước của họ về sứ mệnh của bốn cường quốc tại Đức." Sử gia Carolyn Woods Eisenberg tự hỏi hếu có phải Mỹ từ bỏ quá nhanh để may ra có thể có được một nước Đức thống nhất trung lập thực sự không. Năm 1996, bà viết rằng đối với mọi cảnh báo của họ về cuộc xâm lược của Nga, những nhà soạn thảo chính sách của Mỹ thấy rằng Liên Xô yếu cả về kinh tế lẫn quân sự," tránh “các cuộc thương lượng có triển vọng tiềm năng” với Liên Xô vì họ mong đợi một sự sụp đổ hoàn toàn."


Nhưng việc đánh cược trên một nước Đức thống nhất vào những năm cuối thập niên 1940 đã mở ra một hướng đi cho châu Âu - hoặc một nước Đức ham muốn một Hitler khác. Sử gia Thomas Alan Scjwartz ghi chép rằng vào thời điểm “khi dân chúng Đức nhìn lại với lòng mong mỏi quyền lực và sự thành công kinh tế của chế độ Quốc xã, thì đối với một nhà lãnh đạo Mỹ, việc tin tưởng một nước Đức “độc lập” như thế là đỉnh cao của trách nhiệm.” Schwartz cho thấy các nghiên cứu được thực hiện sau khi Đức bại trận tiết lộ rằng hầu hết người Đức vẫn nghĩ rằng “thời gian tốt nhất của Đức trong lịch sử gần đây là trong những năm đầu tiên của các đảng viên Quốc xã." Một thiểu số lớn vẫn còn nhấn mạnh rằng “chủ nghĩa Quốc xã là một ý tưởng hay được thực hiện tồi” và “Hitler là nhà lãnh đạo Đức vĩ đại.”


Qua mọi thương lượng giữa tam cường về nước Đức trong Thế chiến II, Stalin vẫn giữ lại một vũ khí hiệu nghiệm-ông có khả năng chặn đứng các lộ trình tiến vào Bá Linh, sâu một trăm dặm trong vùng Liên Xô chiếm đóng. Tháng Tư năm 1948, phàn nàn rằng phương Tây đang chuyển hướng đến một nước Đức bị chia cắt, Liên Xô tuyên bố không cho xe lửa ra vào Bá Linh nếu Liên Xô không kiểm tra và cho phép. Hai tháng sau, Mỹ, Anh và Pháp công bố một biện pháp hướng đến liên kết ba vùng mà họ chiếm đóng-sáng tạo ra một hệ thống tiền tệ chung có thể cản trở những chính sách nào của Liên Xô có khả năng gây ra lạm phát và ngăn cản sự khôi phục kinh tế ở tây Đức.


Liên Xô phản ứng bằng cách ra khỏi Hội đồng Kiểm soát Đồng minh và yêu sách đòi toàn bộ Bá Linh. Các lộ trình đường sắt và đường bộ đến từ các vùng thuộc Tây Đức bị đóng lại. Từ Mạc Tư Khoa, Staìin yêu cầu một chính phủ "lâm thời, dân chủ, yêu chuộng hòa bình" và một hiệp ước hòa bình với Đức, nói thêm rằng mọi lực lượng chiếm đóng phải rút quân trong vòng một năm.


Sợ phải đối đầu, Quân đội Mỹ từ chối yêu cầu của Clay đòi thử phong tỏa Tây Bá Linh của Liên Xô bằng đoàn xe bọc thép. Thay vào đó, Anh và Pháp mở đường vận chuyển hàng không đến Bá Linh, tiếp tế cho cư dân trong các vùng Tây Đức đến tám ngàn tấn lương thực, than đá và các nhu yếu phẩm khác mỗi ngày. Truman viết trong nhật ký, “Chúng ta sẽ ở lại Bá Linh cho dù có xảy ra việc gì đi nữa!


Clay và đội quân Anh, Pháp cũng chống phong tỏa mặt hàng thép, thiết bị và các chuyến tàu vận chuyển than đá từ Tây Đức. Trong số những người dân ở Tây Bá Linh kiên cường, sĩ quan chỉ huy Mỹ của thành phố, Đại tá Frank Howley nói, “Đó là Valley Forge của họ. Họ mua quyền lợi như một dân tộc muốn chịu đựng và chết cho nền dân chủ."
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #114 vào lúc: 02 Tháng Mười, 2008, 06:40:59 pm »

Mùa xuân năm sau, sự kiện phong tỏa Bá Linh thất bại. Thấy ít có cơ hội nhanh chóng có được một nước Đức thống nhất, không nguy hiểm, Anh và Mỹ chuẩn bị cho ra một liên minh phương Tây-NATO (North Atlantic Treaty Organiza-tiền: Tổ chức Minh ước Bắc Đại Tây dương)-một đất nước Tây Đức sẽ bảo vệ Tây Âu chống lại Liên bang Liên Xô và neo chặt những người Tây Đức vào nền dân chủ.


Dưới quyền chủ tịch của Konrad Adenauer, thị trưởng ở Cologne trước thời Hitler, bị cầm tù năm 1944 sau khi Stauffenberg âm mưu giết Quốc trưởng, các bộ trưởng Đức được yêu cầu viết một hiến chương cho một chính phủ Tây Đức mới. Khi chống lại việc tán thành chia cắt lâu dài nước Đức, họ nhóm họp ở Bonn, một thành phố tỉnh lẻ. Vì cùng một lý do như thế, họ gọi hiến chương của họ không phải là hiến pháp mà là “Luật Cơ bản.” Luật Cơ bản ngăn chặn không cho quốc hội mới làm tê liệt các cử tri không tin tưởng và các đảng phân lập. Để ngăn ngừa một Quốc trưởng khác, luật đặt các giới hạn nghiêm ngặt trên thủ lĩnh của quốc gia mới.194 (Các Cường quốc phong Tây chiếm đóng giữ quyền kiểm soát khoản bồi thường thiệt hại chiến tranh, công nghiệp, các vấn đề quân sự và ngoại giao. Họ có thể bãi bỏ luật của quốc hội nếu nó xung khắc với chính sách chiếm đóng và duy trì quyền lực trên Tây Bá Linh) Ngày 23 tháng Năm 1949, Cộng hòa Liên bang Đức ra đời. Năm tháng sau Stalin thành lập Cộng hòa Dân chủ Đức "lâm thời," do một cơ quan an ninh, sau này gọi là "Stasi", cai trị. Đất nước Tây Đức mới được mô phỏng theo truyền thống trước thời Bismarck cổ xưa thuộc các vùng đất nhỏ bé, nửa tự trị. Những người dự thảo Luật Cơ bản không biết điều đó, nhưng họ sáng tạo ra một chế độ phân quyền tương tự với những mường tưởng tượng của Roosevelt về một nước Đức hậu chiến như các quốc gia khu biệt, yêu chuộng hòa bình mà ông còn lưu luyến nhớ đến từ thời thơ ấu.


Khi Clay kết thúc công tác ở Bá Linh, Eleanor Roosevelt viết cho ông rằng ông đã thực hiện một phần công việc tuyệt vời Clay nhắc bà nhớ lại rằng "Tổng thống Roosevelt ngay từ đầu đã giao cho tôi thực hiện nhiệm vụ ở nước Đức.” Ông hy vọng cố Tổng thống "không thất vọng."195 (Đúng hơn, Cao ủy Mỹ đầu tiên đến Tây Đức là John McCloy)


Trở về Hoa Thịnh Đốn, Clay diễn thuyết trước Hạ viện và Thượng viện, các Dân biểu cùng Nghị sĩ hoan hô ông vì đã đánh bại được sự phong tỏa Bá Linh. Ông tuyên bố người ta chỉ cần ghé thăm lại Buchenwald hoặc Dachau cũng có thể nhớ được hành động cực kỳ tàn ác của chế độ Đức quốc xã. Tôi nhìn thấy ở Bá Linh tinh thần và tâm hồn của một dân tộc được tái sinh.”


Trong vòng bốn năm sau, đường biên giới giữa Đông và Tây Đức là chiến trường chính của Chiến tranh Lạnh. Năm 1961, Đông Đức xây Bức tường Bá Linh và “đường băng chết" dài một trăm dặm để ngăn chặn hàng triệu người tị nạn đến Tây Đức tự do và phồn thịnh.


Sau đó, năm 1989, một lớp lãnh đạo Liên Xô mới, Mikhail Corbachev, quay lưng với Stalin và phá đổ Bức tường Bá Linh. Một năm sau, những người chiến thắng Thế chiến II chính thức từ bỏ các quyền lợi của họ trên vùng đất họ từng chiến thắng.


Ngày 3 tháng Mười 1990, quốc gia bị thương tổn do chiến tranh được thống nhất nằm giữa trung târn châu Âu mà, lần đầu tiên kể từ trước thời Adolf Hitler, được “nguyên vẹn và tự do."196 (Tất cả đảng phái đều cẩn thận tránh sử dụng điều khoản tái thống nhất nước Đức. Phần hiệp ước thống nhất đất nước quy dình việc Liên Xô sát nhập vùng đất phía đông Biên giới Oder-Neisse mà Truman đã từng phản đối kịch liệt là "hành động chiếm đất của Bônsêvíc,” phải vĩnh viễn. Năm 1989, Chính Tổng thống George H.W. Bush đã nói ở Mainz triển vọng về một châu Âu “nguyên vẹn và tự do.”) Trên bầu trời Bá Linh, một DC-3 cũ, từng là một phần của cầu hàng không Đức, bay lượn trong dịp lễ kỷ mềm. Đúng nửa đêm, có pháo bông trên bầu trời Reichstag xa xưa thuộc thế kỷ XIX đen tối, còn tàn tích đổ nát từ khi Quân Đồng minh chiếm Bá Linh năm 1945. Lá cờ Đức vàng, đen, đỏ lớn được kéo lên trong âm thanh vang rền từ mô hình Chuông Tự Do Mỹ. Quốc hội Đức nhóm họp ở Reichstag lần đầu tiên kể từ năm 1933. Helmut Kohl, lúc này không còn là Thủ tướng Tây Đức mà là toàn nước Đức, tuyên bố, “Chúng ta không bao giờ được quên, che giấu hoặc làm giảm nhẹ các tội ác mà người Đức đã phạm phải trong thế kỷ này... Trước hết, chúng ta có được điều này là nhờ vào các nạn nhân của nạn tàn sát người Do Thái, tội diệt chủng người Do Thái Âu châu chưa từng xảy ra." Kohl gửi các lời cam kết bằng văn bản cho các lãnh đạo thế giới, viết, "trong tương lai, nền hòa bình duy nhất sẽ nẩy mầm từ đất Đức.”


Chủ trì nghi lễ quốc gia đầu tiên của nước Đức mới tại Philharmonic Hall là Tổng thống Richard von Weizsacker. Cha ông, một trong những nhà ngoại giao chủ yếu của Hitler đã bị kết án phạm tội ác chiến tranh. ông ghi lại rằng nếu đó không phải là chiến tranh do “Hitler" khởi đầu, thì đất nước họ hẳn không bao giờ bị chia cắt. Ông yêu cầu người Đức ngẫm nghĩ về nạn tàn sát người Do Thái thời Hitler, "một tội ác khủng khiếp nhất trong mọi tội ác," và nói thêm, "Lịch sử đang cho chúng ta cơ hội. Chúng ta muốn sử dụng nó-với niềm tin và hy vọng."
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #115 vào lúc: 02 Tháng Mười, 2008, 06:41:52 pm »

Chương 26
NHỮNG NGƯỜl THẮNG CUỘC


Trước khi rời nước Đức trong chức vụ tổng tư lệnh Mỹ vào tháng Mười 1945, Dwight Eisenhower nói với nhân viên, “Thành công của sự chiếm đóng này có thể chỉ được xét đoán sau năm mươi năm tính từ lúc này. Nếu lúc ấy người Đức có được một chế độ dân chủ thịnh vượng, ổn định, thì chúng ta đã thành công."


Hơn nửa thế kỷ sau, nước Đức thời chúng ta chưa phải là một quốc gia lý tưởng. Cũng không ai có thể chắc chắn rằng nó sẽ có một tương lai hoàn hảo. Nhưng trong chế độ dân chủ, nền tảng trong thể chế phương Tây và kiêng kỵ các tham vọng bành trướng, chiến tranh và chế độ độc tài, thì nó giống như nước Đức mà Franklin Roosevelt và Harry Truman đã có lần mường tượng nhiều hơn là con người có thể mơ thấy.

 
Trong bốn mươi lăm năm sau Thế chiến II, cả người Đức lẫn người Mỹ đều phải chịu nhiều phí tổn. Để gìn giữ hòa bình kháng lại Liên bang Liên Xô trong khi người Tây Đức chứng tỏ cam kết với nền dân chủ, thì người Đông Đức bị rơi vào cái mà John Kennedy gọi là "nhà tù." Việc đương đầu với một nước Đức bị chia cắt, trên chiến tuyến Chiến tranh Lạnh ở châu Âu, đòi hỏi sự đóng góp rất nhiều tiền của, quân đội và các tài nguyên khác của Mỹ, và có thể nhanh chóng chuyển thành chiến tranh hạt nhân chung.


Tuy nhiên, trong những năm đầu thập niên 1990, khi nước Đức thống nhất và Chiến tranh Lạnh kết thúc, người Mỹ không ngừng nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của thành tích của mình. Nhờ vào tính kiên quyết và rộng lượng, ý thức về công bằng không có thù hận và niềm tin vào các ý tưởng của Thomas Jefferson, họ đã thực hiện được những điều mà một số người năm 1945 nghĩ là bất khả. Khi làm việc với người Đức, người Mỹ giúp biến đổi cường quốc lớn nhất châu Âu thành chế độ dân chủ và loại bỏ khỏi thế giới mối hiểm họa, mà Churchill từng cảnh báo là gây đau khổ cho nhân loại bằng ba cuộc chiến tranh lớn.


Những người ca ngợi Mỹ giúp tạo dựng ra một nước Đức dân chủ thường ám chỉ đến Kế hoạch Marshall, Cầu hàng không Bá Linh, NATO và sự cam kết lâu dài chịu nhiều phí tổn bảo vệ Tây Âu. Người ta rất thường không chú ý đến phần đóng góp trước khi Thế chiến II kết thúc. Nếu Roosevelt và Truman chỉ nhấn mạnh đến việc chiến thắng nước Đức mà không bảo đảm rằng nước Đức không bao giờ tái đe dọa thế giới, ngày nay có thể đất nước này còn nguy hiểm nhiều hơn nữa.


Tài lãnh đạo thời chiến của Roosevelt trên một nước Đức hậu chiến hầu như hoàn hảo. Ông dũng cảm hơn nhiều trong thời gian Morgenthau gọi là "mười tám tháng khủng khiếp" trong năm 1942 và 1943 sau khi chính phủ Mỹ bắt đầu biết về các trại tập trung của Hitler. Vào thời điểm chính quyền Roosevelt đang cho người Mỹ biết "vì sao chúng ta chiến đấu” bằng cách phơi bày và bi kịch hóa các hành động tàn ác khác của Đức, Tổng thống không cần che giấu những gì Hoa Thịnh Đốn biết về bộ máy giết người của Hitler.


Có thể Roosevelt tin rằng bằng cách chọn ra kẻ giết người Do Thái làm mối quan tâm đặc biệt của Mỹ, ông có thể kích thích Hitler truy kích họ một cách tàn bạo hơn nữa. Trong mười tám tháng đó, ông có thể sợ việc đưa ra lời phản đối công khai đặc biệt có thể làm tăng thêm các nghi ngờ cũ trong số những người Mỹ bài Do Thái cho rằng Mỹ phát động chiến tranh vì người Do Thái. Chắc chắn ông tin rằng việc nhận diện mục tiêu của bất kỳ cuộc chiến tranh nào ngoài việc chỉ chiến thắng chiến tranh sẽ mở ra mọi loại nhu cầu về quyền lợi đặc biệt trong nước.


Nhưng bằng cách ngầm cho rằng Mỹ không biết gì về tội diệt chủng và không quan tâm đủ để đưa ra lời phản đối đặc biệt, thái độ im lặng của Roosevelt có thể khuyến khích Đức quốc xã truy kích người Do Thái ở châu âu mãnh liệt hơn nữa, đoán chừng rằng họ không phải gánh chịu một hậu quả đặc biệt nào trong thời hậu chiến về tội lỗi của họ trong trường hợp Quân Đồng minh thắng. Bằng sự nhận thức muộn màng sau sáu mươi năm, thái độ im lặng của Roosevelt dường như là một sai sót kỳ lạ trong hồ sơ của một Tổng thống đã thường nói với người Mỹ về các vấn đề quan trọng của thế giới bằng thái độ can đảm, thẳng thắn và nhìn xa trông rộng. Sai sót đó được tăng cường bằng việc Roosevelt muộn màng trong thúc đẩy các quan chức cứu giúp người tị nạn Do Thái và bằng việc ông miễn cưỡng tán thành ý kiến cho rằng ném bom Auschwitz có thể cứu thoát một số nạn nhân nằm trong kế hoạch của Hitler mà không làm chậm lại chiến thắng ở châu Âu.


Xu hướng của Roosevelt muốn chuyển hướng chiến tranh Hitler chống Do Thái thành một phần riêng biệt trong tâm trí của ông đã thỏa hiệp với việc lập kế hoạch cho nước Đức hậu chiến. Ngày nay, bất kỳ học giả nào đang cố gắng giải thích vì sao nước Đức thời Hitler là tội ác độc nhất vô nhị, đều bắt đầu từ nhiệt huyết của Hitler được nhiều người Đức đồng tình, là tiêu diệt hoàn toàn một dân tộc.


Thay vào đó, khi Roosevelt nói riêng về vấn đề nước Đức ông vui thích nhung bài diễn văn ngớ ngẩn về người Phổ, quân phục, diễu hành và không hề đề cập chút nào đến tội ác diệt chủng-ngay cho dù cá nhân ông biết nhiều về nạn tàn sát người Do Thái hơn phần lớn người Mỹ cùng thời. Không ai mong đợi Tổng thống hiểu biết một vấn đề như thế bằng sự nguy biện của một học giả có sự nhận thức muộn. Nhưng việc Roosevelt không thể nhận thấy điều sai lầm lớn nhất với nước Đức thời Hitler đã đưa đến những hậu quả nghiêm trọng.


Nó khuyến khích các quan chức như Hull và Stimson nghĩ đến nước Đức hậu chiến chủ yếu như một vấn đề tái thiết, tương tự vấn đề ở Mễ Tây Cô (Mexico) năm 1848, mà sau dó người Mỹ từ bỏ, không theo đuổi một chương trình như chương trình bốn “D”, và giao phó tương lai nước Đức hậu chiến cho số phận. Tuy biểu lộ thành thật sự giận dữ người Đức, song Tổng thống chưa bao giờ chỉ thị cho các quan chức hàng đầu của ông rằng, không giống như người Mexico thế kỷ XIX, tội ác chính của người Đức thời Hitler không phải là điều gì đó dịu dàng như chiếm đoạt tài sản của người Mỹ mà là một chương trình tội ác diệt chủng chưa từng có.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #116 vào lúc: 02 Tháng Mười, 2008, 06:42:48 pm »

Đầu năm 1944, Henry Morgenthau đưa ra một yếu tố thực tế đã bị loại bỏ khỏi cuộc thảo luận nội bộ của chính phủ Mỹ. Ông nói, lý do chính để khiếp sợ người Đức không phải là khuynh hướng thích quân phục mà Roosevelt từng lặp đi lặp lại mà là khuynh hướng tiêu diệt hoàn toàn một dân tộc. Kết hợp với lịch sử hiếu chiến của người Đức, điều này có nghĩa là việc đối xử hậu chiến với một quốc gia bại trận phải nghiêm khắc khác thường nếu thế giới không bao giờ muốn lại nhìn thấy chiến tranh như thế một lần nữa.


Mục tiêu đáng trọng như thế không đòi hỏi một kế hoạch tàn nhẫn và hận thù như kế hoạch của Morgenthau. Nếu được ban hành, Kế hoạch Morgenthau có thể châm dầu thêm vào ngọn lửa tàn ác của người Đức để có thể tạo ra một Hitler khác và khi Chiến tranh Lạnh tăng tốc, nó đã mở đường cho cường quốc Liên Xô tiến vào Tây Âu. Nhưng lại chính việc Roosevelt không thể đối đầu với vấn đề cơ bản nhất về đặc tính Đức đã khiến cho Morgenthau điên cuồng để có lý do đề xuất một kế hoạch quá khắc nghiệt.


Chính sách ngoại giao của Roosevelt về nước Đức hậu chiến cũng nguy hiểm bởi giải pháp cai trị lộn xộn-cho phép dân tộc ông đấu tranh vượt lên trên chính sách và sự nổi bật và sau dó kiềm chế họ khi họ quá mạnh, quá coi thường các mục đích của ông hoặc làm cho ông ngượng nghịu trên mặt báo. Tổng thống tin rằng các phương pháp như thế sẽ cho phép ông xiết chặt được những người độc lập, kiên quyết nhất. Vấn đề là trong khi chờ đợi, họ thường gây tổn hại nghiêm trọng. Điều này không đòi hỏi Morgenthau phải bật đèn xanh cho các nỗ lực của Bộ Ngoại giao chấm dứt việc cứu giúp người tị nạn Do Thái. Nếu Roosevelt sâu sát hơn với vấn đề và nhấn mạnh hơn rằng các quan chức của ông phái chia sẻ các nguyên lý của ông, thì nhiều nạn nhân của Hitler có thể được giải cứu.


Một dẫn chứng khác là thiện ý của Roosevelt cho phép các nhà lập kế hoạch trong Bộ Ngoại giao và Bộ Chiến tranh về nước Đức hậu chiến đi chệch khỏi các vấn đề trái với ý định riêng của ông, luôn tin rằng vào một thời điểm thích hợp, ông có thể bắt chúng quay trở lại. Vì Tổng thống mệt mỏi và bệnh hoạn hơn, ông ít có khá năng làm trọng tài cho các trận tranh cãi công khai giữa Hull, Morgenthau và Stimson hoặc giữ cho Jimmy Dunn khỏi lừa ông tán thành một cách không ý thức chính sách khoan dung với nước Đức.


Tuy nhiên, các thiếu sót như thế được che khuất bởi tài lãnh đạo của Roosevelt về nước Đức. Năm 1939 và 1940, dựa vào lời khuyên của các cố vấn sắt đá cảnh báo rằng đa số người Mỹ theo chủ nghĩa biệt lập, Tổng thống đánh liều sự nghiệp bằng cách phát động chiến dịch quân sự sẵn sàng chiến đấu và viện trợ cho Anh quốc. Nếu Roosevelt nhu nhược hơn hoặc thiển cận hơn, Hitler có thể thắng Thế chiến II.


Trong chiến tranh, Tổng thống lợi dụng kinh nghiệm khi còn ở trong Bộ Hải quân của Wilson và năm 1920 làm ứng viên phó Tổng thống của Đảng Dân chủ. thời gian ông phải bảo vệ nền hòa bình có vết rạn nứt ở Versailles. Nếu Tổng thống không có kinh nghiệm này thì không thể có quyết tâm tránh lặp lại các lỗi lầm của năm 1918 và 1919-hệ thống chính trị không vững chãi của Đức, huyền thoại “vết đâm sau lưng,” khoản bồi thường chiến tranh quá nặng và các nghĩa vụ khác đã làm kiệt quệ đất nước và gieo hạt mầm để có một Hitler.


Do đó, lúc này Roosevelt yêu cầu Quân đồng minh phải chiến thắng, chiếm đóng và tái thiết toàn bộ nước Đức. Cùng với sự háo hức muốn tránh một nền hòa bình riêng Xô-Đức, đây là lý do vì sao ông nhấn mạnh đến việc đầu hàng vô diều kiện. Nếu ông hướng đến sự miễn cưỡng của Churchill và nhiều quan chức khác của ông về việc chiến đấu để giành thắng lợi cuối cùng, có thể nước Đức không được hòa bình và dân chủ như ngày nay.


Roosevelt biết việc ông khao khát tái thiết nước Đức hậu chiến từ đổ nát đã đặt ông vào vị trí đối lập với nhiều người đang làm việc cho ông. Nó đối đầu với lời cam kết của Hull đối với hòa bình thế giới qua tự do thương mại. Đối với hai đảng viên đảng Cộng hòa Stimson và McCloy, nhiều ý tưởng của Roosevelt cho nước Đức hậu chiến, giống như xung lực giải phóng cũ phá vỡ các phối hợp hành động chung, gần như chắc chắn nghe giống như các cải cách xã hội viển vông của chính sách kinh tế xã hội mới. Khi Morgenthau đề nghị kế hoạch khắc nghiệt của ông, như James MacGregor Burn phát biểu, Roosevelt đã khéo léo sử dụng các phương pháp cáo già để phục vụ các mục đích sư tử ông sử dụng sự hỗ trợ chiến thuật tạm thời của Kế hoạch Morgenthau như một công cụ thô sơ trình bày cho Hull, Stimson và Churchill biết ông có ý định nghiêm túc về việc biến đổi nước Đức-và tái bảo đảm với Stalin rằng ông không có ý định ôn hòa với người Đức để đánh mất mối lợi cho Liên bang Liên Xô.


Roosevelt cũng xứng đáng hưởng công trạng về lối hành xử thẳng thắn đáng ngạc nhiên với Liên bang Liên Xô thời chiến. Ông biết chỉ có thể thắng được chiến tranh nếu Stalin vẫn tin chắc rằng Mỹ không đột ngột đi tìm một nền hòa bình riêng với Hitler và rút quân. Duy trì biện pháp đầu hàng vô điều kiện, Roosevelt cố gắng giữ cho Liên Xô chiến đấu chống lại Đức và, cho dù có sai lầm hay không cũng cố gắng trung thực khuyến khích sự cộng tác Xô-Mỹ trong việc cai trị nước Đức chiến bại, bác bỏ các yêu cầu của Churchill đòi chạy đua với Liên Xô vào Bá Linh.


Biết rằng có thể không có được sự cộng tác như thế, Roosevelt vẫn chuẩn bị. Trong chiến tranh, khi xem chừng người Đức có thể đầu hàng bất cứ lúc nào, ông ở tư thế sẵn sàng cho quân đội Mỹ bay đến Bá Linh để bảo đảm rằng người Nga thắng trận không thể bất ngờ tìm cách ngăn trở quân đồng minh nằm ngoài thủ đô nước Đức được. Trong những ngày cuối đời của Roosevelt, khi Stalin trở nên ngang ngược hơn, Tổng thống đáp trả bằng sự kiên quyết được chứng minh là đúng.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #117 vào lúc: 02 Tháng Mười, 2008, 06:44:02 pm »

Đối với sự kiện đổ vỡ trong các quan hệ Xô-Mỹ, kế hoạch của Roosevelt chia cắt nước Đức thành nhiều vùng tạo thành sự tùy chọn rút lui của ông, cho phép mỗi cường quốc nắm một phần chia của nước Đức hậu chiến. sử dụng sức mạnh quân sự để quản chế những người Đức hậu chiến và không cho người Nga bước chân vào Tây Âu. Tuy người ta thường nhớ đến Roosevelt-và nguyền rủa-do ông mơ mộng về một tình hữu nghị hậu chiến với Liên bang Liên Xô, song ông là một người nghĩ ra bi kịch mà cuối cùng cho phép phương Tây duy trì đường biên giới Đức chống lại việc Liên Xô thống trị châu Âu.


Ngay đầu thế kỷ XXI, rõ ràng là Franklin Roosevelt có ảnh hướng nhiều hơn bất kỳ ai không phải người Đức về những gì đất nước Hitler hiện nay trở thành. Một nước Đức dân chủ, phân quyền trên quy mô lớn là một đất nước do Roosevelt mường tượng ra và làm hết cách để đạt được. Trong số những điều mà Roosevelt và thế hệ người Mỹ thời ông có thể làm được trong Thế chiến II, thì nước Đức ngày nay là điều quan trọng nhất. Bất kể các lý lẽ thời chiến cho rằng người Đức “hết thuốc chữa,” Roosevelt và người Mỹ do ông lãnh đạo vẫn đáp ứng theo truyền thống tốt nhất của người Mỹ, chứng minh rằng những con người hiếu chiến có thể trớ nên yêu chuộng hòa bình nếu được khuyến khích chấp nhận một loại chế độ chính trị đúng. Họ và các thế hệ người Mỹ sau này cho thấy họ chấp nhận hy sinh để thực hiện điều đó trong nước Đức.


Ảnh hưởng của Harry Truman trên nước Đức ngày nay, chủ yếu được sử dụng sau giai đoạn Thế chiến II, được xem xét trong sách này, nhưng trong vòng bốn tháng kể từ khi thừa nhận quyền lực qua hội nghị Postdam, các năng khiếu của tân Tổng thống thường thận trọng và chính xác.


Đặc biệt khi phát hiện ra các trại tập trung khiến cho cả thế giới sững sờ, Truman, mặc dù đã hiểu biết sâu sắc lịch sử song vẫn cho thấy ông không hiểu chiến tranh Hitler chống người Do Thái mang ý nghĩa gì. Tuy các mối quan hệ công khai giữa Truman với người Do Thái là chuyện phổ biến, song các lời chỉ trích bài Do Thái, riêng tư, nhỏ mọn của ông vẫn không dịu đi chút nào.


Ngay ở Postdam, khi Truman được báo cho biết Mỹ có một trái bom nguyên tử có thể hoạt động, thì bất chấp hậu quả ra sao, ông có thể gây hấn có điều kiện thuận lợi mới hơn hẳn Roosevelt. Tuy nhiên, Truman không lợi dụng quyền bá chủ mới của Mỹ để cố gắng nuốt lời của Roosevelt hứa cho người Nga một vai trò lớn trong nước Đức hậu chiến.197 (Tuy vậy, khi về hưu, lúc Chiến tranh Lạnh gần lên đến đỉnh điểm, Truman nói ông hối hận vì đã không sử dụng quyền lực mới của Mỹ để cai trị nước Đức đơn phương hơn nữa.)


Với tâm hồn phóng khoáng, mới mẻ Truman có thể nhanh chóng hơn vị tiền nhiệm phải đáp ứng với các biến cố địa lý - chính trị thay đổi nhanh chóng ở châu Âu và phần thế giới còn lại. Ngay ở Postdam, ông đã nhận thấy rằng nhiều điều xảy ra đã khiến cho Kế hoạch Morgenthau lỗi thời. Có sẵn bom nguyên tử trong tay để tùy nghi sử dụng, ông không cần lo lắng gì đến sức mạnh quân sự của Đức. Truman biết việc Stalin "chiếm đoạt đất đai" đã cướp mất của Đức nhiều đất nông nghiệp màu mỡ nhất, dập tắt lý lẽ nghi ngờ cho rằng nước Đức có thể tự nuối sống mình. Và sự chia cắt nước Đức thành các vùng chiếm đóng đã đoán trước dự thảo về loại chia cắt lâu dài mà Morgenthau đòi hỏi.


Mùa hè năm 1945, Truman đấu tranh với các nhu cầu cấp bách mới. Ông biết với sự tăng tốc của Chiến tranh Lạnh, một nước Đức trì trệ, yếu kém có thể mở đường cho lực lượng Liên Xô tiến vào châu Âu. Sự hủy diệt trong nước Đức nhiều hơn mong đợi đến nỗi việc Morgenthau ước muốn tiêu diệt nền công nghiệp Đức dường như đã lỗi thời. Với người Đức và quá nhiều người châu âu châu vô gia cư và đói rét khác, việc để cho nước Đức sụp đổ hẳn sẽ có các hậu quả rất đau buồn hơn Morgenthau đã tiên đoán.


Trong việc đàm phán hiệp ước Postdam, Truman, giống như Roosevelt, lợi dụng được các lỗi lầm ở Thế chiến I. Hiệp ước đoán trước mối nguy hiểm về khoản bồi thường rất lớn của người Đức cho Liên bang Liên Xô mà Mỹ thật sự phải tài trợ. Trong khi duy trì cơ may cuối cùng cho một nước Đức thống nhất, nó cho nước Mỹ, Anh quốc và Pháp cơ hội trong khi chờ đợi thì ít nhất cũng tạo ra một phần nước Đức thành một quốc gia có chế đội được Truman hy vọng và tin tưởng, một ngày nào đó bành trướng sang phương Đông.


Truman muốn củng cố khẳng định của Roosevelt rằng người Đức biết họ chiến bại, nhưng ông cũng phải tranh đua với Mạc Tư Khoa giành đồng tình của người Đức. Như Tướng Lucius Clay cảnh báo ông, người Đức không thể chuyển sang chế độ dân chủ nếu người Mỹ đối xử với họ cứng rắn hơn Liên Xô. Khác với Roosevelt, người từng tưởng tượng mình là tư lệnh Mỹ ở nước Đức hậu chiến, Truman sẵn sàng cung cấp cho Clay sự suy xét khôn ngoan đặc biệt.198 (Sử gia khi nghiên cứu các lời phát biểu công khai của Truman trong vòng ba năm sau hội nghị Postdam, đã ngạc nhiên bởi Tổng thống hiếm khi nào nói hoặc trả lời các câu hỏi về các chính sách chiếm đóng của Mỹ ở nước Đức) Ông đổ lỗi cho Clay đôi khi đưa ra các quyết định khó chịu, chẳng hạn như dùng các cựu đảng viên Quốc xã có tiếng tăm, để củng cố địa vị của Mỹ nhưng lại cắt giảm quyết tâm cải tạo người Đức của Mỹ.199 (Carolyn Woods Eisenberg nhận thấy chính quyền Truman giải thích không chính xác" chính sách của họ ở nước Đức cho người Mỹ: "Trong hai năm đầu tiên sau chiến tranh, họ ít nói về nỗ lực tái thiết đất nước. Mức độ mà đa số người Mỹ biết là, mục dịch chính là trừng phạt Đức quốc xã và cải cách xã hội”)
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #118 vào lúc: 02 Tháng Mười, 2008, 06:45:00 pm »

Trước hết, Truman tự chứng tỏ có khả năng cùng một lúc lưu trữ các mục tiêu đối lập trong trí nhớ. Ông muốn cải tạo người Đức, nhưng không ngăn trở họ tiến tới dân chủ. Ông muốn làm sống lại đất nước bại trận, dể nghèo đói và hỗn loạn không lái châu Âu hướng đến chủ nghĩa cộng sản và tình trạng vô chính phủ, nhưng không cho phép người Đức sống tốt hơn các nạn nhân của họ trong Thế chiến II. Ông muốn cố gắng hòa hoãn với Liên Xô ở nước Đức và cái giá là không để Liên XÔ thống trị đất nước đó hoặc toàn châu Âu.


Các nhà lãnh đạo thời chiến đôi khi tưởng tượng những gì có thể xây ra nếu những gì không thể tưởng tượng được xảy ra. Trong bữa trưa ở Quebec vào tháng Mười năm 1944, Roosevelt và Churchill muốn biết rõ những gì Hitler sẽ thực hiện nếu ông ta thắng Anh quốc. Nhìn chằm chằm vào đống đổ nát ở Bá Linh trong thời gian tham dự hội nghị Postdam, Truman ngập chìm trong thất vọng khi ông đương đầu thế nào với một Quốc trưởng đầy căm thù, thắng cuộc có thể thay hình đổi dạng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn.


Hitler để lại ít bằng chứng về việc ông có thể biến đổi Hoa Thịnh Đốn hoặc phần còn lại của nước Mỹ như thế nào nếu ông thắng trận và biến một phần hoặc toàn bộ chất nước này thành một nước chư hầu. Trụ sở Quốc hội Mỹ và Tòa Bạch ốc, làm trụ sở quốc hội bù nhìn và chỗ ở cho Tổng thống bù nhìn của Hitler, có thể vẽ đầy chữ vạn. Hoa Thịnh Đốn có thể sẽ có một đài tưởng niệm Thế chiến II, nhưng binh sĩ được tôn kính sẽ là Luftwaffe, SS và Gestapo.


Đương nhiên sẽ không có các lăng mộ cho Franklin Roosevelt hoặc Harry Truman. Trong một nước Mỹ bị Quốc xã hóa, một đất nước với hành động tàn ác khôn xiết, các tuyên truyền viên của Goebbels sẽ ào ạt mô tả các Tổng thống cuối cùng trước Quốc xã là các tội phạm láu cá mà Hitler đã giải cứu dân tộc Mỹ từ tay họ. Những đảng viên Quốc xã chiến thắng có thể phá hủy biệt thự Hy de Park của Franklin Roosevelt và căn nhà ván che màu trắng của Truman trong Dinh Độc lập để cho chúng không còn là những nơi tụ tập chống lại ách thống trị của Hitler ở Mỹ. Và không cần phải nói thêm rằng nước Mỹ bị Quốc xã hóa sẽ bị tước mất các giáo đường Do Thái hoặc người Do Thái.


Về phần Bá Linh, sau khi chiến thắng Thế chiến II, Hitler có kế hoạch năm 1950 làm lại thủ đô thành “Ggermania," có nét hùng vĩ xứng đáng với "Đế chế Giéc-manh của Đất nước Đức" chiến thắng. Ông ra lệnh cho kiến trúc sư hoàng gia Albert Speer phải bảo đảm rằng các khách tham quan tương lai đến Bá Linh sẽ “sững sờ" với “quyền lực của Đế chế Đức."


Vượt cao hơn hẳn thành phố là Tòa nhà Vĩ đại cao ba trăm mét với mái vòm trên dính là một con chim đại bàng bằng vàng ngự trị giữ chặt chữ vạn. Trong "Chứng hoang tướng tự đại" của Hitler, theo Speer ghi lại, Quốc trưởng bị công trình kiến trúc "ám ảnh.”200 (Sau này Speer thuật lại rằng trước Thế chiến II, Hitler cảm thấy “rất khó chịu” và "bị lừa bịp" khi ông nghe được rằng Stalin đang xây dựng một dinh thự tưởng niệm cao nhất thế giới ở Mạc Tư Khoa. Khi nước Đức tiến hành chiến tranh chống Liên Xô, Quốc Trưởng vui thích vì đề án của Stalin bị ngưng lại. Ông bảo Speer, "Bây giờ là lúc kết thúc vĩnh viễn công trình xây dựng của họ.") Được làm theo mô hình Đền Bách Thần của Roma, Tòa nhà Vĩ đại sẽ có nhiều hang động đến nỗi nó có thể giữ được nhiều trụ sở Quốc hội Mỹ. Căn phòng trung tâm sẽ khổng lồ đến nỗi một trăm năm mươi ngàn người Đức có thể tập trung ở đó để chúc nhau đến khàn cả giọng các bài diễn văn của Hitler.


Xuôi xuống đại lộ trung tâm rộng hơn Champs d’Élysées hiện ra một Khải hoàn môn, lớn gấp bốn mươi chín lần phiên bản của Pháp, và một cột khí làm nổi bật "lồng cầu thang lớn nhất trên thế giới.” Hitler báo cho Speer phải trang hoàng các tòa nhà bằng các cửa chớp và cửa ra vào bằng thép. Một ngày nào đó ông có thể “bị buộc phải sử dụng các biện pháp không phổ biến," có khả năng "dẫn đến bừa bãi lộn xộn.” Ông phải "bảo vệ tổng hành dinh của Quốc trưởng như một pháo đài."


Đương nhiên cột mốc quan trọng nhất của Bá Linh sẽ là Dinh thự của Quốc trưởng. Khi Hitler quyết chí như thế, dinh thự của ông sẽ được trang trí bằng các trụ đá, các đồ khảm đỏ và các con sư tử bằng đồng, có “sự điêu tàn" nhắc nhớ Speer về “một bộ Cecil B. Demille" và “các dinh thự mới của các bạo chúa phương Đông."


Dinh thự của Hitler sẽ to lớn hơn tổng hành dinh cũ của Neo, có kích thước to gấp một trăm năm mươi lần tòa nhà mà Bismarck cai trị đế chế Đức. Dinh thự sẽ được xây dựng từng khối đá một, từ đá granite được các tù nhân ở các trại tập trung khai thác.201 (Speer nhớ lại là sự “ngu dốt lạ lùng" của các sĩ quan SS điều hành trại tập trung, mà các khối đá granite được sản xuất theo cách họ tạo ra các vết nứt để các sĩ quan SS phải loại bỏ. Hitler xoi mói rằng thất tốt hơn là bọn tù quay trở lại “sản xuất dép in và túi giấy." Theo lệnh của Hitler, khách tham quan trong nước phải đi bộ bốn trăm mét qua các dinh thự mới đến được phòng ngai vàng)


Hitler đắc chí nói với Speer rằng sau khi nước Đức thắng trận “cả thế giới sẽ đến Bá Linh tham quan các tòa nhà của chúng ta." Người Mỹ bại trận sẽ điên cuồng hin ngắm tòa nhà xa hoa nhất thế giới." Hitler nói, “Này Speer, ước muốn duy nhất của tôi là được sống để lần thấy các tòa nhà này. Năm 1950, chúng ta sẽ tổ chức hội chợ thế giới... Chúng ta sẽ mời toàn thể thế giới."


Thay vào đó, các tòa nhà chọc trời, công viên và các quảng trường của Bá Linh ngày nay cũng độc đáo và thú vị như các điều tưởng tượng tầm thường của Hitler. Đúng thế, có các đài tưởng niệm Thế chiến II trong thành phố mới, nhưng không dành cho Hitler. Nếu bạn nghiên cứu bạn có thể hin được vị trí một boong ke ngầm dưới đất, là nơi ông đã gí súng lục bắn vào đầu mình. Nhưng trước hết bạn có thể nhìn thấy một đài tưởng niệm hình trụ cho các nạn nhân của các hành động tàn bạo của Hitler, mà thế giới ngày nay gọi là nạn tàn sát người Do Thái thời Hitler.


Những người Đức trong Thế chiến II được kính trọng ở Bá Linh ngày nay, nhưng không phải Hitler, Goebbels hay Goring. Thay vào đó, có các lăng mộ cho những người tìm cách ám sát họ. Nếu bạn đến Đường phố Bendler, bạn sẽ nhìn thấy tổng hành dinh quân sự cũ của Hitler, nơi Claus von Stauffenberg bị xử tử vào chiều ngày 20 tháng Bảy 1944, được tái tạo thành viện bảo tàng tôn kính sự chống đối của người Đức. Nhưng tên con đường này không còn là Bendler nữa. Bây giờ là con đường mang tên Stauffenberg.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #119 vào lúc: 02 Tháng Mười, 2008, 06:45:55 pm »

CHÚ GIẢI VÀ LỜI CẢM TẠ CỦA TÁC GIẢ


Tôi quyết định viết cuốn sách này vào đầu tháng Chạp 1991, vào lúc nửa đêm đứng tại Quảng trường Đỏ ở Mạc Tư Khoa. Hai tuần trước khi Mikhail Gorbachev tuyên bố khai tử Liên bang Liên Xô, ngay trước khi phương Tây chiến thắng Chiến tranh Lạnh.


Khi tôi nhìn thấy binh lính Liên Xô trước lăng mộ của Lenin, tôi tự hỏi quang cảnh đó trông như thế nào trong vòng năm mươi năm nữa. Nếu sự sụp đổ của Liên Xô kích động một loại phản ứng quyền lực dữ dội nào đó, nó có thể giống hệt như thế. Nếu nền dân chủ bén rễ ở Nga, tôi đoán chừng, tương lai Quảng trường Đỏ có thể trông giống như Times Square hay Đấu trường Piccadilly.


Đầu óc tôi hướng đến đối thủ trọng yếu sau cùng của Mỹ. Ngay trước chiến thắng năm 1945, tôi tự hỏi, không biết Franklin Roosevelt và Harry Truman đã hình dung nước Đức ra sao sau năm mươi năm bom ngừng rơi? Không biết họ có cho là người Đức nhục nhã bởi bị bại trận, sẽ nhanh chóng hướng đến một Adolf Hitler khác hoặc họ có chiến đấu trong Thế chiến II với niềm tin rằng lịch sử nước Đức có thể được hướng sang nền dân chủ bền vững không?


Khi trở về Hoa Thịnh Đốn và bắt đầu đọc kỹ văn học lịch sử về giai đoạn này, tôi nhận thấy trong khi người ta viết nhiều về vai trò Mỹ trong nước Đức hậu chiến, song lại có ít điều viết về những gì FDR và Truman thực hiện trong thời chiến để bảo đảm rằng nước Đức cuối cùng có thể được biến đổi thành một nền dân chủ. Do đó, tôi sung sướng quay trở về giai đoạn Roosevelt và Thế chiến II, và viết cuốn sách đầu tiên về nó trong những năm đầu thập niên hai mươi.


Tôi dã không tưởng tượng được rằng hơn một thập niên trôi qua trước khi Những người Thắng cuộc hoàn tất. Sau gần bốn năm nghiên cứu và viết, tôi nhận thấy rằng văn thư lưu trữ chủ yếu hiểu được việc Tổng thống đưa ra quyết định thời chiến về nước Đức vẫn còn đang mở rộng. Từ Liên bang Liên Xô cũ, các học giả đang giành được các tài liệu về chính sách ngoại giao của Bộ Ba và Chiến tranh Lạnh thời kỳ đầu mà một ít người ở phương Tây từng mong đợi được thấy. Các giấy tờ riêng của Winston Churchill được mở rộng cho nghiên cứu chung. Chính phủ Anh ở tư thế sẵn sàng phát hành các tài liệu về các vấn đề như cơ quan tình báo Anh nỗ lực giết chết Hitler và các sĩ quan của ông.


Chính phủ Mỹ đang hé mở nhiều ngàn thông điệp thời chiến trong số các sĩ quan tình báo Liên Xô ở Mạc Tư Khoa, Hoa Thịnh Đốn, Nữu Ước, và các nơi khác, cung cấp các đáp án mới cho cuộc tranh luận tồn tại mãi mãi, đã hừng hực ngay tại trung tâm chính trị nội địa Mỹ trong một thập niên sau chiến tranh, cho dù Harry Dexter White và các quan chức Mỹ khác đã làm việc bất hợp pháp và lén lút với cơ quan tình báo Liên Xô để hướng chính sách thời chiến của Roosevelt vào các quyền lợi của Liên Xô. Ngoài ra, FBI phải tác động đến danh sách các yêu cầu về Tự do Thông tin mà tôi đã đưa ra xem xét năm 1992. Do đó tôi gạt bản phát thảo cơ bản về cuốn sách này sang một bên và, trong khi viết Chịu Trách nhiệm (Take Charge) và Đạt tới Vinh quang (Reaching for Glory), dựa trên băng ghi âm của Johnson White House, chờ đợi văn thư lưu trữ dược tiết lộ.


Trong một quá trình gần mười một năm, tôi mang ơn rất nhiều người. Tại Thư viện Franklin D.Roosevelt ở Hyde Park, Verne Newton đưa ra lời khuyên tuyệt vời và chia sẻ công việc của riêng mình về FDR và nạn tàn sát người Do Thái thời Hitler. Tôi phục hồi mối quen biết cũ với trưởng chuyên viên lưu trữ văn thư của Thư viện, Raymond Teichman, luôn là người hướng dẫn hồ sơ tài liệu về chính sách ngoại giao của FDR. Trong các giai đoạn nghiên cứu và viết lách sau này, tôi nhận được sự giúp đỡ của Bob Clark tài năng, cũng như Alycia Vlvona, Karen An son, Mark Renovltch và Robert Parks, và giám đốc mới cua Thư viện, Cythia Kech. Tại thư viện Harry S.Truman ở Tòa nhà Độc lập, tôi được Larry Hackman, George Curtis, Michael Devine, Philip Largerquist, Dennis Bilger, Pauline Testerman và Elizabeth Safly giúp đỡ. Tại Văn khố Quốc gia, Tôi mang ơn Chuyên viên lưu trữ văn thư nước Mỹ, John Carlin, và John Taylor đáng kính.


Tôi rất vui mừng được làm thành viên trong ủy ban cố vấn Đề án Lịch sử Quốc tế Chiến tranh Lạnh của Trung tâm Quốc tế Woodrow Wilson dành cho các Học giả ở Thủ đô Hoa Thịnh Đốn, nơi đã làm nhiều việc để khuyến khích Nga và các chính phủ khác giữ gìn và hé mở các tài liệu quan trọng về Chiến tranh Lạnh. Tôi có được lời khuyên của giám đốc đầu tiên của Đề án, James Hershberg, và cám ơn ông và người kế vị ông Christian Ostermann cùng với đội ngũ cán bộ tuyệt vời của họ.


Tôi biết ơn lòng tốt của Henry Morgenthau III, người con trai lớn của BỘ trưởng Tài chính thời Roosevelt, người mà năm 1991 xuất bản cuốn lịch sử gia đình sâu sắc nhưng khó chịu, Mostly Morgenthau. Vì không có các điều kiện hoặc sự đảm bảo nào về những gì tôi sẽ viết, ông chuyển giao cho tôi hàng ngàn trang ghi chép và các cuộc phỏng vấn cung cấp cho tập đó, bao gồm các bản ghi chép các cuộc đàm luận được ghi âm với nhiều người mà tôi háo hức muốn phỏng vấn nếu họ vẫn còn sống khi tôi bắt đầu viết cuốn sách này, cũng như các lá thư riêng của gia đình Morgenthau và các tài liệu vẫn còn trong quyền sở hữu của ông.


Văn thư này bổ sung rất nhiều bản ghi chép của Henry Morgenthau, các cuộc đàm luận riêng tư của ông trong mười một năm làm Bộ trưởng Tài chính, hiện nằm trong Thư viện Roosevelt. Trong khi các băng gốc rõ ràng đã biến mất thì các bản ghi chép cho phép sử gia mô tả vai trò của Morgenthau và các quan chức chính khác về tài quản trị công việc trong thời chiến của FDR và Truman về nước Đức với vẻ thật mà các hệ thống thu âm bí mật của các Tổng thống Kennedy, Johnson và Nixon cho phép chúng ta có được lịch sử của thập niên 1960. Khi sử dụng chúng, cũng như các văn thư khác về các cuộc đàm luận trong sách này, đôi khi tôi sửa đổi cách chấm câu hoặc bổ sung các các chu nghiêng cho rõ ràng hơn, nhưng không thay đổi ý nghĩa ở bất kỳ chỗ nào.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM