Tác giả: Michael Knights
Nguồn: T/c Anh “Jane’s Intelligence Review”, số tháng 5/2007, tr 14 – 19
Người dịch: Nguyễn Hồng Cường
Việc chỉ trong vòng hơn một tháng đã có tám chiếc máy bay trực thăng của Mỹ bị rơi ở Irắc khiến người ta để tâm tới tầm quan trọng của việc đi lại bằng máy bay trực thăng ở quốc gia này. Do mạng lưới giao thông trên bộ liên tục bị tấn công, nên không phận Irắc đã trở thành con đường chủ đạo trong các chiến dịch của liên quân.
Máy bay trực thăng được coi là công cụ chủ yếu trong việc thực thi nhiệm vụ trinh sát các tuyến đường và chống phục kích ở những nơi có các đoàn xe trên bộ hoạt động. Một số lực lượng phản ứng nhanh và toàn bộ việc đưa binh lính bị thương và tử vong về tuyến sau cũng dựa vào máy bay trực thăng. Các đội tuần tra chống hỏa lực súng cối sử dụng máy bay trực thăng để tuần tiễu, bảo đảm loại hỏa lực gián tiếp của đối phương bị hạn chế ở tầm rất ngắn và không mấy hiệu quả. Máy bay trực thăng cũng có thể khống chế mặt đất trong các chiến dịch hành quân, phong tỏa những con đường mà đối phương có thể sẽ bí mật rút lui và sử dụng các xen-xơ hiện đại trang bị trên máy bay để xác định những kẻ nổi dậy đang đào tẩu và đôi khi còn lần theo tới những địa điểm mới của chúng rồi tấn công.
Bên cạnh những nhiệm vụ mang tính chiến thuật và bảo vệ lực lượng đó, máy bay trực thăng vận tải của liên minh còn ngày càng được sử dụng nhiều như là phương tiện đi lại giữa tiền tuyến và hậu phương an toàn và tiện ích hơn. Được thiết kế như một vũ khí chiến đấu, nhưng máy bay trực thăng vận tải cũng thường được sử dụng để chở quân trên những quãn đường ngắn từ vùng an toàn của Bátđa tới những điểm lân cận, hoặc từ căn cứ chiến đấu này tới căn cứ chiến đấu khác. Kết quả của nhu cầu sử dụng ngày càng cao này là số giờ bay của máy bay trực thăng Mỹ đã liên tục tăng từ 240.000 giờ trong năm 2005 lên 334.000 giờ năm 2006. Các phát ngôn viên của Mỹ từ lực lượng đa quốc gia ở Irắc báo cáo rằng các phi công lái máy bay trực thăng dự đoán số giờ bay trong năm 2007 sẽ là trên 400.000 giờ.
Phân tích mang tính thống kê Xét một cách tổng thể, số lượng máy bay trực thăng bị rơi ở Irắc do gặp phải hỏa lực của đối phương là khá thấp. Trong chiến tranh Việt Nam, từ năm 1965 tới 1973, đã có hơn 37 triệu lượt máy bay trực thăng cất cánh và 2.587 chiếc đã bị bắn hạ, chiếm tỷ lệ 1/13.461 lượt cất cánh. Còn ở Irắc, máy bay trực thăng Mỹ đã cất hạ cánh khoảng 650.000 lượt kể từ năm 2003 và đã mất ít nhất là 33 chiếc do bị hỏa lực dưới mặt đất bắn rơi, tỷ lệ thương vong trong cuộc xung đột này là 1/19696 lượt cất cánh. Những vụ máy bay rơi do lỗi kỹ thuật thậm chí còn ít hơn rất nhiều, và các vụ tai nạn do gặp phải hỏa lực của lực lượng nổi dậy và các lỗi về điện và cơ khí giờ đây có tỷ lệ sống sót cao hơn.
Tuy nhiên, theo thống kê, những tháng đầu năm 2007, tỷ lệ máy bay trực thăng rơi lại đi ngược lại hoàn toàn với xu hướng chung. Chỉ trong vòng 40 ngày từ 20 tháng 1 đến 1 tháng 3 đã có tám máy bay trực thăng bị hỏa lực của những kẻ nổi dậy bắn rơi hoặc phá hủy. Tương đương với tỷ lệ 1/6.000 lượt cất cánh. Cho dù là như vậy, thì sự tăng lên đột ngột này không phải là không lường trước được. Chẳng hạn như, trong tháng 1 năm 2006, chỉ trong vòng 10 ngày đã có 03 chiếc máy bay trực thăng của Mỹ bị bắn hạ khiến 16 binh sĩ tử vong.
Phân tích về số lượng các cuộc tấn công máy bay trực thăng ghi lại được cho thấy rằng tỷ lệ máy bay bị bắn hạ ở mức cao này không đồng nghĩa với việc có nhiều hơn số vụ tấn công máy bay bằng hỏa lực phòng không. Những thống kê do nhóm Olive sưu tập trong hơn 1.200 ngày hoạt động liên tiếp ở Irắc cho thấy rằng trung bình mỗi tháng chỉ có dưới 21 vụ bị tấn công (số vụ tấn công đã bị phát hiện hoặc bị hệ thống phát hiện tên lửa nhận diện) được báo cáo lại kể từ đầu năm 2004. Số vụ này đã tăng lên thành 24 trong tháng 12 năm 2006 và 26 trong tháng 1, rồi 28 trong tháng 2 năm 2007. Nhìn lại xa hơn, số lượng các vụ thương vong trong tháng 1 và tháng 2 nằm trong số 9 tháng có số vụ thương vong cao kể từ năm 2004. Nói cách khác, không có bằng chứng nào cho thấy đã có sự gia tăng đáng kể số vụ tấn công nhằm bắn rơi máy bay trực thăng.
Tuy nhiên, hiệu quả của các đợt tấn công đã tăng. Trong năm 2004 và 2005, tỷ lệ các vụ tấn công thành công so với không thành công lần lượt là 1/49 và 1/25. Trong hai tháng đầu năm 2007, tỷ lệ này là 1/7. Ngay cả khi có tính đến rất nhiều những vụ tấn công máy bay trực thăng bằng hỏa lực nhỏ bất thành đã không được các phi công chú ý hoặc báo cáo, thì số liệu thống kê cũng cho thấy rằng hiệu quả của những đợt tấn công được phát hiện đã tăng cao. Nguyên nhân có lẽ là do đã có sự gia tăng nhẹ về tỷ lệ của cái gọi là “những vụ tấn công phức tạp” liên quan tới nhiều loại vũ khí và đôi khi là cả tổ hợp tên lửa phòng không mang vác (MANPADS)
