Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:10:49 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Vòng cung lửa  (Đọc 41858 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
katysha
Thành viên
*
Bài viết: 126


« Trả lời #30 vào lúc: 24 Tháng Giêng, 2010, 07:57:16 am »

Phần thứ hai
Chương 5
Người tình báo giỏi đáng giá cả một đạo quân


“31-3, Hồng quân đã kết thúc chiến dịch mùa đông chống quân phát xít Đức… Trong chiến dịch mùa đông, quân đội Xô Viết đã giáng cho kẻ thù những thất bại nặng nề. Hồng quân đã gây cho bọn phát xít Đức thất bại nặng nề nhất trong lịch sử các cuộc chiến tranh ở Xta-lin-grat, đập tan quân đội Đức ở Bắc Cap-ca-dơ và Cu-ban, gây thất bại nặng nề cho kẻ thù ở hàng loạt vùng giữa sông Đông và Vô-rô-nhe-dơ, tiêu diệt các bàn đạp của địch ở mặt trận Trung tâm (Rdep-Gdat-xơ-Viadơma) và ở khu vực Đe-men-xcơ, chọc thủng vòng vây Lê-nin-grat”
Tổng kết chiến dịch mùa đông của Hồng quân
Tổng cục thông tin Liên Xô2-4-1943



Anh không nghe thấy gì hết. Chiếc tàu ngầm chạy cả đêm, cả ngày, như một tàu tuần dương, vì người bị thương được đưa lên tàu rất trầm trọng. Ngườì quân y sỹ đã cấp cứu cho anh, báo cáo với chỉ huy tàu là viên đạn bắn vào cạnh tim và mắc lại ở bên vai trái, nhưng anh không muốn mổ liều. Người phụ nữ ngoại quốc, anh nói là cũng bị choáng nặng, nhưng không chịu rời người bệnh.


Bức điện đánh đi đã được trả lời sau ba mươi phút. Chỉ huy tàu được lệnh phải mang người bị thương về càng sớm càng hay, “bất kể mọi nguy hiểm trên đường”; và con tàu chạy đều không ngừng như một chiếc tàu nổi, vì cả người bị thương và người phụ nữ cùng đi đều cần không khí trong lành. Những pháo thủ thường trực bên cạnh các khẩu đội cao xạ cỡ lớn. Những nhân viên viễn tiêu và các sỹ quan, các chuêyn gia thanh học đều sẵn sàng. Còn con tàu “bất kể mọi nguy hiểm”, đã vượt qua hết bờ biển Na Uy.


Những người ở dưới tàu ngầm vẫn không hiểu được vì sao họ tốt số đến thế. Có thể cảnh sát hàng hải Na Uy đã mất dấu vết của chiếc xuồng nhỏ mà chúng xả liên thanh từ ca nô vào, và cho rằng những kẻ chạy trốn hay những tay buôn lậu đã vượt sang Ai-len hay Băng Đảo, và không thông báo cho bọn Đức cộng tác với chúng biết về cuộc đụng độ ngẫu nhiên giữa biển này. Cũng có thể bọn hải quân Đức đang mải rượt theo một đoàn tàu nào đó từ nước Anh hay nước Mỹ đi tới vùng bờ biển Liên Xô. Nhưng Vi-ta biết rằng những lời cầu nguyện của chị, tình yêu của chị đã che chở cho chiếc tàu ngầm khỏi kẻ thù.


Con tàu đến cảng vào buổi sáng, và trên bến tàu đã có xe cứu thương, hai bác sỹ và một sỹ quan cùng đi đến đợi. Sau cuộc nói chuyện ngắn gọn, các bác sỹ tiêm thuốc trợ sức cho người bị thương và đồng ý đi theo đến Mat-xcơ-va. Người phụ nữ lặng lẽ không nói một câu, không nhỏ một giọt nước mắt, chỉ thỉnh thoảng lại cầm tay người bị thương hay mép cáng, ngồi xuống bên cạnh trên chiếc ghế lật trong xe cứu thương đi ra sân bay, và hàm răng thỉnh thoảng lại nghiến lại mỗi khi chiếc xe xóc lên trên mặt đường đóng băng và người bị thương khe khẽ rên.


May mắn là trong máy bay ấm áp, chị ngồi xuống bên cạnh chiếc cáng treo và chỉ có một lần nhìn ra cửa sổ tròn khi kinh ngạc nhìn thấy mấy chiếc máy bay khác-mũi nhọn, cánh ngắn-bay kèm một chiếc ở đằng trước và hai chiếc ở hai bên. Mãi lúc đó chị mới nhớ ra là máy bay của họ sẽ bay lâu, rất lâu, mà trên bầu trời máy bay địch có thể xuất hiện bất kỳ lúc nào, chị nhớ ra và lại quên đi.


Và chị không được nhìn thấy Mat-xcơ-va khi ngồi trong chiếc xe cứu thương sơn màu trắng. Chị mong chờ bao giờ mới đến bệnh viện, bao giờ các bác sĩ mới mổ, mới nói cho chị biết cái con người nằm bên chị, mắt nhắm nghiền, không còn cảm giác, chưa chết, nhưng cũng không sống, có sống nổi hay không…


Chị lại ngạc nhiên một lần nữa. Chị thấy xe không chạy đến bệnh viện, mà đến một tòa nhà ở nào đó. Vừa đến người ta lại khiêng người bị thương đi đâu ngay, và chị lại nắm lấy mép cáng như sợ rằng chị buông tay ra là anh sẽ biến mất.


Nhưng dù sao, nơi cuối cùng họ đến-những người hộ lý khiêng cáng, chị tay nắm lấy mép cáng, các bác sỹ tháp tùng và viên sỹ quan-đã là một bệnh viện: bàn mổ, các giáo sư mặc đồ trắng, các y tá; ánh sáng trong vắt của những ngọn đèn không tỏa bóng. Không ai làm phiền chị, chỉ có cô y tá dẫn chị sang phòng bên giây lát, nơi trong tủ có treo nhiều quần áo và bảo Phre-ken (tiểu thư) thay quần áo, vì trên người Phre-ken vẫn là bộ quần áo đánh cá, bốc lên mùi muối biển và xăng dầu, giúp chị mặc chiếc blu-dơ trắng, rồi lại đưa chị trở lại nơi người bị thương đã nằm trên bàn, dưới tấm vải che, và các giáo sư, bác sỹ, y tá đang làm gì đó với anh, còn bộ quần áo rách nát của anh được xếp ở một góc nhà.


Điều đó kéo dài chừng giờ rưỡi, hai giờ. Vi-ta thỉnh thoảng nhìn đồng hồ, nhưng đằng nào cũng không nhớ được thời gian. Các cửa sổ đều bịt kín bằng rèm đen nên không sao biết được đang là ngày hay đêm. Nhưng rồi vị giáo sư nhiều tuổi nhất lại gần Vi-ta, hỏi chị có hiểu tiếng Nga không và thấy chị gật đầu, nói:

-Tiểu thư quý mến, chồng chị là người may mắn. Anh ấy sẽ sống.

Và lúc đó, chị khóc lên lần đầu, nhưng đó là những giọt nước mắt giải thoát. Vị giáo sư gật đầu với cô y tá và cô này, vén tay áo khoác và áo trong của Vi-ta lên, tiêm cho chị một mũi tiêm. Vi-ta bỗng thấy mình trôi ra khỏi phòng. Nhưng chị đang ở bên Vô-lô-đi-a-họ lướt trên những thanh trượt bên bờ hồ phủ tuyết-nên chị thấy mọi chuyện đều tốt đẹp và đầy hạnh phúc. Chị không cảm giác được là cô y tá đã lật đi, lật lại người chị trên chiếc giường rộng, cởi quần áo cho chị, đặt chị nằm thật thoải mái. Chị vẫn đi bên cạnh Vô-lô-đi-a, anh mạnh khỏe chứ không giống như chị mới thấy ở biệt thự, mà đúng như hồi chị thấy lần đầu đã yêu ngay và suốt cả cuộc đời…
Logged
katysha
Thành viên
*
Bài viết: 126


« Trả lời #31 vào lúc: 24 Tháng Giêng, 2010, 07:58:19 am »

Chị tỉnh dậy vì những tiếng nói lạ nhưng sự thức tỉnh vẫn tuyệt vời, vì chung quanh tất cả đều sáng sủa, những cửa sổ lớn tỏa vào phòng ánh sáng xanh biếc: chị hiểu ngay là đêm qua tuyết đã rơi và có lẽ đây là trận tuyết cuối cùng của mùa đông dài dặc và khó khăn này. Cánh cửa he hé mở, cô y tá đã giúp chị thay quần áo ngày hôm qua đứng túc trực ở đó, trong phòng bốc lên mùi cà phê, mùi bánh mới nướng. Khi cô y tá nhìn thấy đôi mắt chị mở ra, bèn lại gần và nói rằng Phre-ken trước hết phải ăn sáng, phòng tắm đã sẵn sàng, đồng chí Tô-lu-be-ép cảm thấy dễ chịu, mặc dù không thể nói chuyện với anh được.

-Nhưng nhìn anh ấy, nhìn thôi, có được không?-Vi-ta kêu lên.

-Phre-ken nói gì?-Cô y tá hỏi.

Lúc đó Vi-ta mới hiểu rằng trong đêm chị đã chuyện trò với Tô-lu-be-ép bằng tiếng Na Uy và nói với cô y tá lúc này cũng bằng tiếng mẹ đẻ, mặc dù người ta nói với chị bằng tiếng Nga. Khó khăn lắm chị mới nhớ ra được tiếng cần nói và lai kêu lên:

-Nhìn thấy anh ấy!

-Phải ăn sáng và tắm rửa đã!-Cô y tá nghiêm khắc nói và đi ra, khép chặt cánh cửa lại sau lưng.

Ngoài cửa, lại nghe những tiếng nói lạ, nhưng ôn hòa và điềm tĩnh. Vi-ta thấy yên tâm. Chị chỉ hơi ngượng là mặc chiếc áo sơ mi dài, khác thường, không quen, chứ không phải bộ pi-da-ma: nhưng mùi cà phê kích thích chị nhớ ra rằng đã hai hay ba ngày đêm chị không ăn uống gì và giờ chị đang ở nước Nga giá lạnh, rằng Vô-lô-đi-a đã khá hơn, có nghĩa là chị cũng phải khỏe hơn. Chị vội uống tách cà phê, hiểu rõ rằng việc cho phép gặp anh là tùy thuộc ở chị.


Không có chuông bấm ở bên giường hay trên bàn nhưng có máy điện thoại. Vi-ta nhấc ống nói lên. Một phụ nữ từ xa hỏi: “Cần ai”. Vi-ta rụt rè nói: “Y tá”. Cô y tá xuất hiện ngay trong phòng. Vi-ta ngồi dậy, nhưng chị bị chóng mặt, và cô y tá tự lựa chọn lấy cho chị quần áo lót, bít tất, váy áo, giầy… Nếu người ta chuẩn bị cho chị của hồi môn, thì đây quả là rất nhiều thứ. Sau đó, cô y tá đưa chị vào phòng tắm và giúp đỡ chị vì người chị vẫn chao đảo hết bên nọ sang bên kia, bảo chị rằng sau mười, mười lăm phút tình trạng đó sẽ qua khỏi.


Và quả thật, thời gian trôi khi nhanh khi chậm, với những bước nhảy lạ kỳ, đã bắt đầu chững lại, và Vi-ta được dắt tới chính cái gian phòng mà các giáo sư đã làm gì đó với Vô-lô-đi-a vào ngày họ mới tới đây, chỉ có không hiểu được là hôm qua hay mấy hôm rồi. Căn phòng vẫn nguyên như vậy, chỉ không còn bàn mổ, những ngọn đèn không tỏa sáng, bây giờ sáng sủa có đặt nhiều đi văng và hoa. Vô-lô-đi-a đang nằm trên chiếc giường rộng nhìn chị vẻ ngạc nhiên, vui mừng đến nỗi chị không chịu nổi và lại bật khóc. Nhưng cô y tá đã đóng cửa, đưa chị sang phóng khác, nơi có hai người Nga đang ngồi uống cà phê.


Những người Nga đứng dậy, chào hỏi và giới thiệu tên mình, nhưng Vi-ta đang còn ở trạng thái kích động và chị không nhớ được tên họ. Tuy nhiên, chị đã cảm thấy mình là chủ nhân của căn nhà của chị và Vô-lô-đi-a, và các “đồng chí” tới đây để thăm chị. Chị ngồi xuống ghế và mời họ cùng ngồi. Chính cô y tá trực lại bước vào, mang theo ấm cà phê, cốc chén và bình sữa kem cho Vi-ta rồi lại đi ra. Vi-ta mời khách uống ca phê mới pha và tự rót cho mình.


Một vị khách, người cao gày, mặt nhọn, lễ phép hỏi bằng thứ tiếng Na Uy tồi:

-Phre-ken có nói được tiếng Nga không?

-Ồ, có, có!-Chị trả lời.

Người kia thấy nhẹ nhõm, chuyển sang tiếng Nga.

-Phre-ken, chị có nói với chỉ huy tàu ngầm đi đón là mọi số liệu chị đều nắm giữ… Ý chị muốn nói gì?

-Tất cả những gì tôi và Vô-lô-đi-a đã nhận được ở đó,-chị vẫy tay về một phía nào đó. Chị không muốn nói đến tên nước mình và cả nước Đức.

-Vla-đi-mia A-lếch-xan-đrô-vích Tô-lu-be-ép còn lâu mới nói chuyện được với chúng tôi, nên chúng tôi muốn được xem những… số liệu của chị.

Ông ta có vẻ không tin ở những số liệu đó lắm. Vị khách thứ hai, người phục phịch, vẻ mặt mệt mỏi và luôn lo lắng, cũng yêu cầu:

-Vâng, chúng tôi muốn được xem.

Sự thiếu tin tưởng không nói ra miệng này, đã làm chị xốn xang. Chẳng lẽ họ đã đi dưới là mưa đạn chỉ vì một sự phô trương rỗng tuếch nào đó sao? Chẳng lẽ Vô-lô-đi-a đã suýt bỏ mạng vì một điều vô nghĩa ư? Chị kiêu hãnh ngồi thẳng lên và khô khan hỏi:

-Tại sao tôi lại phải đưa số liệu này cho các ngài? Các ngài là ai?

Hai người khách nhìn nhau. Người phục phịch vẻ mặt tư lự rút ra từ túi áo ngực một chiếc ví da, lấy từ ví tấm chứng minh thư bìa đỏ, đưa cho Vi-ta. Chị mở ra và nhìn thấy ảnh của người to béo và hàng chữ: “Phó chính ủy nhân dân công nghiệp nặng” dưới có đóng dấu và chữ ký. Chị nhìn ông với vẻ kính trọng và nghĩ thầm: ở bên mình là thứ trưởng. Ở Na Uy đối với chị các bộ trưởng cũng chỉ là bạn bè của bố. Nhưng nước Nga to hơn nước Na Uy đến sáu mươi lần-và ở đây, bộ trưởng có lẽ cũng quan trọng hơn tới sáu mươi lần. Tuy vậy chị cũng nhìn người bạn đường của ông ta với vẻ đòi hỏi tương tự.

Khi đó, người mặt nhọn cũng chìa ra giấy chứng minh, tuy không sang như cái kia, nhưng cũng bọc da và chị đọc thấy hàng chữ ngắn ngủi: “Đại tá Krit-xchi-an M.A”. Nhớ lại đại tá vừa mới hỏi chị bằng tiếng Na Uy, chị thầm nghĩ: “Có lẽ đây là cấp trên của Vô-lô-đi-a, nhưng không có quyền nói ra điều đó”. Nhìn người cau có này với vẻ tò mò một lần nữa, chị ra khỏi phòng, chạy về chỗ ở riêng của mình.
Logged
katysha
Thành viên
*
Bài viết: 126


« Trả lời #32 vào lúc: 24 Tháng Giêng, 2010, 07:59:06 am »

Tất cả quần áo của chị treo ở mắc áo. Chị rạch cái túi bí mật, lấy ra chiếc túi cao su nhỏ, sờ nắn qua nó, rồi rắn rỏi trở về với các vị khách và đặt nó lên bàn.

Đại tá Krit-xchi-an bắt đầu mở chiếc túi ra. Vi-ta thấy tay ông run run. “Lạy chúa, chả hóa ra điều đó quan trọng đến thế ư?”-Chị nghĩ, nhưng rồi đứng ngay lại: “Còn Vô-lô-đi-a? Anh đã vượt qua bao thử thách, lẽ nào không phải vì công việc có tính chất quan trọng đặc biệt?”. Trong khi đó, đại tá Krit-xchi-an đã rút ra và đặt lên bàn những ghi chép của Vô-lô-đi-a, chiếc phong bì đen trong có ảnh kỷ niệm ở Đức và chiếc nhân đen nhỏ.

-Cái gì thế này nữa?-Ông hỏi, nhắc nhắc chiếc nhẫn trên tay.

-Ồ, chiếc nhẫn cưới của tôi đấy!-Chị hóm hỉnh trả lời.

Nhưng ông không nhận ra câu đùa của chị, bỏ chiếc nhẫn xuống và xé phong bì đựng ảnh.

Ông bỗng như ngừng thở, nom giống như một con nhím, mỏ nhọn, khi dơ chiếc ảnh lên gần mặt và hít vào thật sâu, bảo:

-Thế mới là làm việc chứ! Quả là một chiến công!-Và trao tấm ảnh cho thứ trưởng. Ông này cũng chăm chú nhìn ảnh, và sau đó kinh ngạc nhìn Vi-ta:

-Chính cái xe tăng này, hả? Ông vừa hỏi vừa nhìn Vi-ta đầy thán phục.

-Vâng!-Chị trả lời.

Sau đó, Krit-xchi-an mở phong bì đựng những ghi chép của Vô-lô-đi-a. Đó là những tờ giấy gập tư, nét chữ nhỏ li ti, không mã hóa. Vi-ta đã từng viết giúp. Ông đọc hết trang này sang trang kia, rồi lại chuyển cho thứ trưởng, vị này đọc lại và cẩn thận xếp vào phong bì. Khi họ đã đọc xong hết, đại tá Krit-xchi-an hỏi:

-Chị còn có gì nói thêm nữa chăng?

-Tôi còn có tài liệu bằng vật chất để bổ sung.-chị mạnh dạn nói.

-Cái gì thế?-Krit-xchi-an ngạc nhiên hỏi.

-Mẫu của loại thép mới làm vỏ bọc, đủ để phân tích. Ngài Tô-lu-be-ép, chồng tôi đã nói như vậy.

-Thế mẫy ấy đâu?

-Thế cái này?-Chị đẩy chiếc nhẫn về phía họ.

Trời đất, nét mặt cả hai người đã thay đổi đến thế nào! Họ cúi xuống chiếc nhẫn, đầu sát nhau, chuyền chiếc nhẫn sang tay nhau. Sau đó, Krit-xchi-an đâm bổ lại chiếc máy điện thoại và gọi điện cho ai đó, reo lên: “Nữ đồng chí Tô-lu-be-e-va đã mang được mẫu thép về để phân tích”. Ông yêu cầu gửi chiếc xe có bảo vệ tới. Từ tất cả những điều đó, chị hiểu ra điều chủ yếu nhất: chị đã được công nhận là người giúp đỡ xứng đáng của Vô-lô-đi-a và được công nhận là vợ anh.


Sau cửa sổ, có tiếng xe gầm rú và các vị khách vội vã cúi chào. Vi-ta vô cùng ngạc nhiên: cả hai người đàn ông đều hôn tay chị-thế mà chị đã tưởng là người Nga, khi chia tay, thường vỗ vỗ vào vai nhau. Ít ra, trong các cuốn phim chị xem ở nước mình, các thủy thủ Nga thường vẫn làm như vậy. Chị lại gần cửa sổ và thấy cả hai vị khách ngôi vào một chiếc xe bọc thép. Mãi lúc này, chị mới hiểu rằng việc chị đã làm không phải là một trò chơi, dù nó có lôi cuốn đến thế nào, mà là một cái gì lớn lao hơn thế, mà rất có thể, số phận các dân tộc tùy thuộc vào đó…


Tràn đầy xúc động, cảm thấy đôi chân như muốn khuỵu xuống, chị ghé ngồi vào thành cửa sổ rộng, nhìn từ tầng hai xuống thành phố xa lạ, nơi chị đã chọn làm Tổ quốc thứ hai. Thành phố lặng lẽ phủ tuyết. Tuyết trắng như ở biệt thự và ít người qua lại. Gần như mọi người đều mặc quần áo lính-cả đàn ông lẫn đàn bà-bước đi nhanh nhẹn, dường như trong thành phố này, trong đất nước này, có một nhịp sống khác; và chị càng cảm mạnh mẽ hơn: chị đang sống ở trong một cuộc chiến tranh, dù không ở tuyến đầu, nhưng cũng trong một thành phố chiến đấu.


Bác sỹ đến, cho phép chị nhìn Vô-lô-đi-a đang ngủ, sau đó nghiêm khắc bắt chị đi nằm. Và cũng vẫn cô y tá mặc áo blu trắng cho chị ăn trưa, uống một thứ thuốc gì đó. Rồi Vi-ta không kịp nghĩ đến những ý nghĩ của mình, chung quanh chị lại như chao đảo như ở dưới tàu ngầm khi chị đi theo người chồng bị thương-ở đó, dưới tàu ngầm, mọi người đều hiểu như vậy!-và chị thiếp đi.
Logged
katysha
Thành viên
*
Bài viết: 126


« Trả lời #33 vào lúc: 24 Tháng Giêng, 2010, 08:00:19 am »

“Ngày 7-4, trên các mặt trận, không có những biến đổi đáng kể.
Ở gần Pa-ri (Pháp), nhiều lính Đức đào ngũ, bỏ trốn khi biết phải điều sang mặt trận Xô-Đức. Các đội SS và hiến binh đặc biệt ngày đêm truy lùng những kẻ đào ngũ. Cuối tháng ba, riêng ở Pa-ri, đã có tới ba trăm lính đào ngũ bị bắt giữ. Theo lệnh của tướng Phôn Run-stet, 90 lính đào ngũ đã bị xử bắn”.
Tổng cục thông tin Liên Xô
7-4-1943



Ngày hôm sau, đại tá Krit-xchi-an đến thăm Vi-ta. Ông nhiệt liệt cảm ơn chị đã giúp đỡ Tô-lu-be-ép, nhờ chuyển lời thăm anh nếu có thể được, và vui vẻ uống cà phê do cô y tá Li-đi-a pha. Bây giờ Vi-ta đã biết tên cô rồi, và chuyện trò với cô để nói thạo tiếng Nga hơn. Chị chỉ được lại gần Tô-lu-be-ép khi anh đang ngủ, còn Krit-xchi-an không được vào.

Sau khi uống cà phê, Krit-xchi-an bảo:

-Phrê-ken Vi-ta, chắc chị đang buồn? Tôi đã hỏi bác sỹ, đồng chí ấy nói là chị chưa nên ra phố vì hãy còn quá yếu do những điều vừa trải qua. Nhưng tôi yêu cầu chị, chị hãy viết hồi ký về chuyến đi thăm nước Đức. Điều đó sẽ làm chị khuây khỏa, lại giúp được chúng tôi. Thậm chí tốt hơn là chị sẽ đọc cho người viết. Sáng mai, tôi sử gửi người ghi tốc ký đến chỗ chị.

-Hãy để chị ấy mang đến cho tôi ít sách đọc và sách giáo khoa tiếng Nga. Tôi nói tiếng Nga tồi quá!-Vi-ta than phiền. Chị nghĩ thầm là, nếu Vô-lô-đi-a ở Na Uy nói tiềng như dân Lap-lan, thì chị nói tiếng Nga còn kém hơn những người Lô pa-ki. Hình như dân Lap-lan gọi những người Nga trú ngụ trên lãnh thổ của họ như vậy.


Cô tốc ký viên đến, mang theo sách đọc và sách giáo khoa tiếng Nga. Đến cùng cô còn có một giáo viên Nga văn. Nhưng cả tốc ký viên, cả bà giáo đều không biết tiếng Na Uy, nên công việc ghi chép và học tiếng Nga rất chậm chạp.


Nói chung, Vi-ta không có gì phải phàn nàn, ít ra chị cũng có công việc để làm, còn Vô-lô-đi-a cứ mỗi ngày lại khá hơn chút ít. Anh tỉnh lại luôn, mỉm cười với chị, nhưng bác sỹ không cho anh nói chuyện.


Vi-ta chăm chú nghe đài, đọc tất cả các báo đại tá Krit-xchi-an gửi đến, trong đó có cả báo Na Uy. Về cuộc bỏ trốn tai tiếng của chị, báo chí không nhắc đến một lời. Ông bố, có lẽ vần còn ở bên Đức. Ở đó có thể ông sẽ dễ chịu đựng đòn đau này hơn.


Trong các bản tin quân sự, Vi-ta ngạc nhiên thấy chiến tranh như dừng chân tại chỗ. Ngày nào các tin tức cũng nói rằng không có những thay đổi đặc biệt trên các mặt trận. Chị quan tâm đến những tin tức của phong trào kháng chiến, bằng những con đường nào đó, vẫn vượt qua mặt trận, lọt sang nước Nga và đôi khi được đăng ở phần cuối bản tin của Tổng cục thông tin Liên Xô. Dù hiểu ít tiếng Nga, chị cũng thấy rõ được một điều: cuộc kháng chiến trong các nước quân Đức chiếm đóng ngày một mở rộng, những cuộc chiến đấu thực sự đã bắt đầu. Và chị cầu nguyện để quân Đức chóng bị đập tan để Vô-lô-đi-a khỏi phải liều mình một lần nữa, mặc dù chị hiểu rằng chiến tranh không phải được quyết định bởi các cuộc đụng độ nhỏ, không phải bởi các mặt trận của quân Anh và quân Đức ở châu Phi, mà tất yếu vẫn là ở đây, ở nước Nga.


Và chị kiên trì giải thích cho cô ghi tốc ký từng lời, từng chữ, vì mỗi lời, mỗi chữ của chị cũng phục vụ cho chiến thắng tương lai. Cuối cùng, sau một tuần, bản báo cáo đã làm xong, và cô tốc ký hứa sẽ chuyển cho đại tá Krit-xchi-an.


Cuối cùng, thời gian hạnh phúc cũng đã đến: chị được phép ở bên Vô-lô-đi-a, đọc sách báo cho anh nghe, chuyện trò, nhưng chỉ như nói với trẻ nhỏ: trả lời những câu hỏi, còn những lời lẽ khác như muốn bật ra khỏi trái tim họ phải nén lại.


Có lẽ các bác sỹ theo dõi Vô-lô-đi-a đã thông báo tình hình sức khỏe của anh hàng ngày cho Krit-xchi-an, nên ngày đầu tiên khi anh ngồi dậy được trên giường, lưng tựa vào đống gối, đại tá đã đến ngay bệnh viện.


Ông chỉ rẽ vào giây lát, vẻ mặt cau có và đăm chiêu, nhưng chào Vô-lô-đi-a và Vi-ta đầy mừng vui, hỏi thăm sức khỏe và nói luôn:

-Ngày mai, anh có thể tiếp các đồng chí đã quyết định cho chuyến đi của anh không?

-Được,-Vô-lô-đi-a đáp.

Và Vi-ta hiểu là những người chị không quen biết đó cũng chờ đợi sự lành bệnh của anh với sự sốt ruột và lo lắng như chính chị.

Sáng hôm sau, Vi-ta giúp chồng thay chiếc áo sơ mi, còn cô y tá ldi không lúc nào xa rời căn phòng họ, cạo râu cho anh, dọn dẹp căn phòng, kê thêm mấy ghế dựa vào chiếc bàn con.

-Họ nhiều lắm à?-Vi-ta lo lắng hỏi.

-Không, chỉ năm người thôi. Một cuộc họp nhỏ mà.

-Nhưng Vô-lô-đi-a không chịu nổi.

-Anh ấy chỉ nghe thôi.

-Thế còn tôi?

-Điều đó phải hỏi đại tá Krit-xchi-an.

Krit-xchi-an đến đầu tiên, mang theo người ghi tốc ký. Ông tự nói với Vi-ta:

-Tôi mong muốn được chị tham gia vào cuộc nói chuyện của chúng tôi.

Lát sau, thứ trưởng Bộ công nghiệp nặng đã đến cùng với ba người nữa.

Vi-ta lại ngồi bên chồng. Anh cảm thấy dễ chịu và nóng ruột chờ khách đến.

Chị mời mọi người vào.

Các vị khách kính cẩn chào hỏi Tô-lu-be-ép và Vi-ta thấy thích điều đó. Dù sao chị cũng có phần lo cuộc thăm viếng long trọng này.

Khi mọi người đã ngồi vào chỗ và cô tốc ký viên đã đặt bút chì và vở viết xuống bàn, đại tá Krit-xchi-an lên tiếng:

-Cuộc họp của chúng ta hôm nay không phải là chính thức. Chúng ta chỉ trao đổi ý kiến với nhau, nhân khi sức khỏe của trung trung tá Tô-lu-be-ép có phần khá hơn chút ít.

-Trung tá?-Tô-lu-be-ép ngạc nhiên.

-Cho phép tôi là người đầu tiên được chúc mừng anh nhân dịp phong quân hàm đặc cách và việc tặng thưởng huân chương Lê-nin vì sự hoàn thành nhiệm vụ đặc biệt của chính phủ. Vi-ta Ac-vi-dốp-na Tô-lu-be-e-va được thưởng huân chương Cờ đỏ chiến đấu vì sự giúp đỡ tận tụy anh trong việc hoàn thành nhiệm vụ.
Logged
katysha
Thành viên
*
Bài viết: 126


« Trả lời #34 vào lúc: 24 Tháng Giêng, 2010, 08:01:31 am »

Vi-ta đỏ mặt lên vì thích thú. Thực ra, thậm chí không phải vì chị, mà vì Vô-lô-đi-a. Nhưng sự thừa nhận công lao của chị cũng rất lý thú. Đặc biệt thú vị là chị được xác nhận lần nữa, quyền làm vợ Tô-lu-be-ép. Chị đã hiểu được, đã hình dung và biết trước được là ở đất nước đang có chinh chiến, người phụ nữ nước ngoài không có giấy tờ, quyền lợi pháp lý sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Thế mà ở đây, quyền chị được yêu, được sống với người chồng Nga đã được thừa nhận.


Còn Vô-lô-đi-a khi thì tái đi, khi thì đỏ mặt lên. Cô y tá Li-đi-a hiện ra ở cửa và nghiêm khắc nói:

-Giáo sư yêu cầu không làm bệnh nhân xúc động.

-Chị y tá đáng mến, chưa có ai chết vì mừng vui bao giờ đâu!-Krit-xchi-an nói.

-Có thể!-cô y tá nói không khoan nhượng, nhưng đã khép cửa lại.

Và Vi-ta nghĩ thầm: Li-đi-a sẽ ngồi ngoài cửa như vậy trong cả thời gian này, để khi nào cần, sẽ giúp đỡ ngay được Vô-lô-đi-a hay yêu cầu các vị khách ra về. Và chị lại cảm thấy vui sướng! Chồng chị được giữ gìn!

-Chúng ta không thể chống lại các nhà y học,-Krit-xchi-an cười khẩy.-Vì vậy chúng ta cố gắng ngắn gọn. Xin mời đồng chí thứ trưởng công nghiệp nặng phát biểu trước.

-Vla-đi-mia Alếch-xan-đrô-vích! Chúng tôi đã phân tích “thép mẫu”.-Ông nhấn mạnh chữ cuối cùng và rút trừ trong cặp ra chiếc hộp nhỏ.-Loại thép “siêu cứng” đấy. Trong giờ phút này, tại một nhà máy ở Matxcơva, đang đúc mẻ đầu tiên loại thép này. Một tuần sau, chúng ta sẽ chế tạo chiếc hộp thí nghiệm và bắn thử bằng đạn xuyên thép của chúng ta. Nhưng Vi-ta Ac-vi-dốp-na, trong ghi chép của mình, có nói là chúng đã bắn thử chiếc xe tăng trước mặt chị, bằng loại pháo 85 ly của chúng ta. Những viên đạn chỉ để lại những vết lõm. Tôi không nghi ngờ là đồng chí đã nghĩ đến điều đó. Đồng chí có đề nghị gì đặc biệt không?

-Có. Chế tạo loại pháo mới.

Trước mắt đồng chí đây là kỹ sư của một xưởng chế tạo pháo ở U-ran.-Ông chỉ người trẻ tuổi đang khiêm nhường ngồi ở góc phòng.-Họ đã tổ chức được việc sản xuất đại bác 122 ly. Tác dụng của loại pháo này chúng ta sẽ thử vào tuần sau, với “cái hộp”. Đồng chí còn đề nghị gì nữa không?

-Việc sử dụng chủ yếu của loại pháo này thế nào?

-Sẽ trang bị cho các trung đoàn.

Như thế sẽ không có hiệu quả cần thiết.-Tô-lu-be-ép chăm chú nhìn người kỹ sư trẻ và nói tiếp:-Bây giờ đã có thể nói chắc chắn rằng mùa hè tới, quân Đức sẽ có vài nghìn xe tăng mới này rồi. Vì loại xe này rất nặng nề, nên bọn Đức sẽ chọn mùa khô ráo nhất cho cuộc tấn công bằng xe tăng. Có khả năng hơn cả là vùng đồng cỏ không có sông ngòi, rừng rậm và đầm lầy, sẽ được chọn làm bàn đạp. Tôi nghĩ rằng đó sẽ là vùng Cuốc-xcơ hay dưới phía nam nữa-đồng cỏ Xan-xkai-a. Ít ra, những khẩu pháo mới này được trang bị cho các trung đoàn tiền tuyến, sẽ không thể đánh bật được cuộc tấn công xe tăng tập trung. Cần phải có lá chắn bằng hàng loạt pháo tự hành cỡ lớn, có thể chuyển nhanh tới bât cứ khu vực mặt trận nào bị đe dọa, và phải trang bị loại pháo này cho xe tăng hạng nặng “IX” của ta nữa.

-Pháo tự hành nòng 122 ly? Trang bị cho xe tăng? Nhưng chúng sẽ quá nặng-Thứ trưởng đăm chiêu nói.

-Sao lại thế ạ?-Người kỹ sư bỗng linh hoạt hẳn lên.-Nhiệm vụ sẽ đơn giản hơn nhiều. Vì rằng đa số các cuộc tấn công sẽ diễn ra trên những hướng tiếp giáp nhau, súng có thể làm nhẹ hơn. Trong bộ binh vẫn còn lại pháo loại cũ. Còn đối với xe tăng và pháo tự hành, ta sẽ cải tiến thêm.


Vị tướng lúc nãy đến giờ vẫn im lặng ngồi cạnh thứ trưởng cũng sôi nổi lên tiếng ủng hộ người kỹ sư.

-Nếu chúng ta chế tạo được hai, ba ngàn khẩu pháo tự hành và xe tăng, thì các xe tăng mới của Hít-le cũng sẽ bốc cháy như đã bốc cháy trước đây!

-Hai, ba ngàn…-Tô-lu-be-ép lấy lòng ban tay che mắt. Hoặc là anh đang tưởng tượng tượng ra trận đánh quy mô chừa từng thấy này, hoặc anh không thể tin rằng đất nước đang chiến tranh có thể thực hiện được chiến công đó. Còn Vi-ta thấy lạnh ngườì khi đột nhiên hiểu ra rằng những con người này đang thản nhiên đến thế, khi nói tới những cuộc chiến đấu tương lai, trong đó sẽ có hàng nghìn người chết.

-Ha, ba hoặc bốn. Cần bao nhiêu làm bấy nhiêu!-Vị tướng nóng nảy nói!-Chúng ta đặt vào ván bài này rất nhiều-cả vận mệnh của Tổ quốc! Đồng chí biết đấy, trung tá Tô-lu-be-ép, chúng tôi đã học được phép tin ở các chiến sĩ tình báo. Nếu đồng chí đã mang về những bằng chứng hiển nhiên như vậy về cuộc tấn công bằng xe tăng, thì chúng ta phải tính toán thế nào để người thắng trận này không phải là bọn Đức, mà là chúng ta!-Ông đột ngột đứng dậy và nói với mọi người:-Có lẽ chúng ta đã đi đến kết luận cần thiết. Tôi cho phép mình một lần nữa cảm ơn trung tá Tô-lu-be-ép và Vi-ta Ac-vi-dốp-na về sự giúp đỡ đối với quân đội và nhân dân. Giờ ta hãy để cho trung tá nghỉ ngơi. Hy vọng tuần sau anh sẽ có thể tham gia cuộc thử vũ khí mới.


Mọi người bắt đầu chia tay. Thứ trưởng lại gần Vi-ta và đưa cho chị chiếc hộp ông đã lấy từ cặp ra lúc bắt đầu cuộc nói chuyện.

-Còn cái này, Vi-ta Ac-vi-dốp-na, là quà tặng thay cho chiếc nhẫn cưới của chị. Chiếc nhẫn ấy, đáng tiếc là đã phải nung chảy ra.

Ông mở chiếc hộp nhỏ và Vi-ta nhìn thấy hai chiếc nhẫn cưới. Cả hai đều bằng vàng, một chiếc của đàn ông, một chiếc của phụ nữ. Chị đeo thử chiếc nhẫn nhỏ vào ngón tay và thấy nó vừa khít. Chiếc kia chị đưa cho chồng, và Tô-lu-be-ép tròn mắt kinh ngạc vì nó vừa in với tay anh.

-Nhưng các ngài lấy kích thước ở đâu cơ chứ?-Vi-ta thốt lên.

-Những tay tình báo kỳ cựu!-Vị tướng hiền hậu mỉm cười.
Logged
katysha
Thành viên
*
Bài viết: 126


« Trả lời #35 vào lúc: 24 Tháng Giêng, 2010, 08:02:14 am »

Giữa trưa, có hai người lính mang vòng dây và máy điện thoại tới. Y tá Li-đi-a và Vi-ta cùng phản đối việc xâm nhập này. Nhưng mấy anh lính cứ đứng trơ trơ ở hành lang và nhắc lại rằng theo lệnh của thiếu tướng, họ phải đặt máy điện thoại ở cạnh giường bệnh trung tá Tô-lu-be-ép. Cuối cùng, hai chị em đành chịu thua. Còn tốt một điều là người ta đặt máy ở chỗ Li-đi-a. Trước hết chuông reo lên trong buồng chị, sau đó chị xem sức khỏe bệnh nhân thế nào đã rồi mới nối dây liên lạc.


Vi-ta có lần đã thử nghe xem ai quấy rầy người chồng đang ốm của mình. Nhưng chiếc máy đó là loại máy gián đoạn, khép kín, giống như loại máy gọi là “thư ký giám đốc”. Khi máy Tô-lu-be-ép nói chuyện thì ống nghe của Li-đi-a lặng im.


Nhưng rõ ràng là các hồi chuông đã làm Vô-lô-đi-a xúc động. Anh trở dậy và đi lại, mặc dù tạm thời anh còn chưa đi được. Vi-ta phàn nàn với vị giáo sư hầu như ngày nào cũng đến thăm bệnh nhân. Giáo sư đều gặp Tô-lu-be-ép, ngồi với anh mấy phút, trở ra, và bảo:

-Chúng ta phải giúp anh ấy lấy lại sức, và càng mau càng hay. Sau đó, anh ấy sẽ khỏe dần lên thôi.

Vi-ta không thể tin rằng sự lao lực sẽ không làm hại mà còn giúp đỡ được người ốm.
Nhưng sang tuần sau, khi nghe một trong hai hồi chuông bất ngờ, Tô-lu-be-ép yêu cầu mặc quần áo cho anh. Cô y tá Li-đi-a đã có sẵn từ bao giờ bộ quân phục mới. Tô-lu-be-ép thích thú ngắm mình trong gương. Quân hàm trung tá, nét mặc hốc hác, tóc điểm bạc, nom anh rất có dáng: “Nom ra dáng quá!” Vi-ta phàn nàn với Li-đi-a.


Và chỉ mất phút sau, ô tô đã đến. “Còn may là họ gửi xe cứu thương đến!”-Vi-ta nghĩ thầm. Chị lại phải đi theo anh. Tô-lu-be-ép được khiêng trên cáng, còn chị đi bên cạnh, bám vào mép cáng và lại sợ anh sẽ biến mất. Cũng may là đoạn đường không xa, chiếc ô tô rẽ vào một cái sân có rào ngăn. Đợi sẵn ở đó đã có đại tá Krit-xchi-an, thứ trưởng công nghiệp nặng, vị tướng đã đến chỗ anh chị một lần và người kỹ sư chị mới quen biết. Ngoài ra còn mấy người nữa đầy vẻ ngạc nhiên nhìn viên trung tá được khiêng ra khỏi xe cứu thương đạt ngồi ngay vào một chiếc ghế đan và người phục nữ mặc chiếc váy rất sang, đội muc, đang cầm tay trung tá dường như sợ anh sẽ chạy khỏi chị ngay bây giờ. Đến lúc này, Vi-ta mới hiểu rằng chị đang ở bãi thử vũ khí.

Nhưng sao ở đây đơn sơ, bình thường và giản dị đến như vậy?


Các công nhân trong những bộ quần áo lao động lem luốc đẩy từ đâu ngoài cổng vào một khối thép đồ sộ giống như chiếc xe tăng, nhưng chưa lắp dây xích. Bên phía tường đối diện có đặt hai khẩu pháo-một khẩu Vi-ta đã biết rồi: giống khẩu pháo đã bắn vào chiếc xe tăng, khi thử con quái vật mới sáng chế bên Đức, còn khẩu kia chị không quen biết.


Khối kim loại được đặt vào chiếc hầm nổi trước sau có thành đất, phía sau nữa có một bức tường cát. Viên tướng gọi điện thoại, người sỹ quan chỉ huy pháo chạy lại chỗ ông. Họ nói gì đó với nhau, sau đó người sỹ quan trở về các khẩu pháo và viên tướng khẽ ra lệnh qua máy nói:

-Bắn!

Tiêng súng nổ vang, viên đạn rít lên, đập vào khối sắt kỳ quái và cắm vào thành cát. Viên tướng vẻ ngoài vẫn bình tĩnh, hạ lệnh tiếp:

-Bắn!

Lần này, khẩu pháo nổ ba phát liền, và tất cả những viên đạn bắn vào cái hộp sắt ngu ngốc, thậm chí làm nó rung lên trên những bánh xe trơn trượt của nó, chúng chỉ kêu rít lên, vẩng cắm vào vẫn cái thành cát ấy. Vi-ta bỗng cảm thấy kinh hoàng. Đến giờ thì chị hiểu ra rằng người ta đang thử chiếc xe tăng chị đã chụp ảnh trước đây và cái khối thép ấy vẫn chống lại những viên đạn như vậy…


Viên tướng lại nói điều gì đó và đột nhiên tất cả mọi người chạy lại cái hộp thép, hai chiến sĩ nhấc bổng chiếc ghế có Tô-lu-be-ép được đặt ngồi trên, khiêng đi như khiêng kiệu vị hoàng đế Trung Quốc. Vi-ta đi bên cạnh chiếc “kiệu”, cầm tay chồng và an ủi bằng những lời lẽ gì đó mà chính trị cũng không rõ nghĩa. Nhưng rồi mọi người đã dừng lại, các sỹ quan bắt đầu đo và mô tả những vết lõm, còn chiếc hộp vẫn nguyên như khi nó được kéo ra trường thử.


Trở về vị trí quan sát, nét mặt ai nấy đều ảm đạm và trầm lặng. Người sỹ quan chỉ huy pháo đã đợi họ. Anh báo cáo gì đó với viên tướng và ông vẫy tay cho phép. Viên sỹ quan vung tay. Một tiếng nổ không to vang lên, chiếc hộp rung rinh và bỗng nhiên một ngọn lửa xanh lan khắp mình nó. Mấy giây lặng thinh, rồi sau đó mọi người bỗng reo lên: “Hoan hô!” và Vi-ta cũng không nhận ra là chính mình cũng reo lên và đập đập vào tay Tô-lu-be-ép. Cả anh cũng kêu lên, nhưng khàn khàn yếu ớt. Chỉ lúc đó chị mới sự tỉnh, lấy tay bịt lấy miệng anh. Tô-lu-be-ép lên tiếng gọi, hai anh chiến sĩ nhấc bổng chiếc ghế lên và chạy thẳng, đến nỗi Vi-ta tuột khỏi tay chồng và chạy theo sau anh một mình.


Chiếc hình mẫu xe tăng với động cơ được lắp sẵn đã bị bắn thủng ở mạn sườn ngay từ phát đạn đầu tiên.
Logged
katysha
Thành viên
*
Bài viết: 126


« Trả lời #36 vào lúc: 24 Tháng Giêng, 2010, 08:48:40 am »

Chương 6
Giải pháp kỹ thuật cho trận đánh


“Trong ngày 21-4, trên các mặt trận không có thay đổi đáng kể.
…Du kích Nam Tư đã chiếm được thành phố Ô-tô-cha-xe và Bri-nhe những người yêu nước đã thu được triệu rưởi viên đạn và hai toa chở đạn đại bác, 13 nghìn lít xăng và nhiều vũ khí. Quân du kích đã đánh tan một đội quân lớn của địch tràn vào thành phố Nhe-vin-xơ. Thành phố đã được quét sạch khỏi bọn Hít-le. Hơn 100 tên lính và sỹ quan địch bị giết. Ở vùng ven biển Xto-ven-xki, du kích đã tấn công vào những đồn lũy của quân I-ta-lia, 80 tên lính bị chết, 60 tên bị bắt sống, thu được 14 khẩu súng máy, 100 súng trường và nhiều đạn dược”.
Tổng cục thông tin Liên Xô
21-4-1943



Trong phòng bệnh đã hình thành một cái gì đó giống như một bộ tham mưu. Nhiều khi Vi-ta không được ở bên chồng tới năm phút trong một ngày.

Ở buồng bên có đặt máy điện tín, hai máy điện thoại thường xuyên có hai chiến sĩ thông tin thường trực, có những cán bộ dân sự nào đó chờ cuộc nói chuyện với Tô-lu-be-ép. Tất cả những điều đó làm cho nơi đây giống như một cơ quan, chứ không phải nhà ở. Nói chung, Tô-lu-be-ép thực sự lãnh đạo bộ tham mưu, mặc dù anh khó cất mình dậy trên giường bệnh. Đại tá Krit-xchi-an dường như xin lỗi Vi-ta vì sự phiền hà, đã giải thích:

-Vi-ta Ac-vi-dốp-na, chồng chị mới được giao chức vụ mới: anh ấy là đại diện quân sự trong Bộ công nghiệp nặng.

-Nhưng anh ấy còn ốm thế!-Vi-ta than vãn.

-Lúc này cứ thử bảo anh ấy bỏ dở công việc xem! Anh ấy sẽ không chịu được một tuần đâu!-Krit-xchi-an quả quyết nói.

-Nhưng ở mặt trận yên lắng lắm cơ mà?-Vi-ta vẫn giữ ý mình-Đây, ngài xem,-và chị chìa cho đại tá tờ báo và trích đọc một câu đã trở nên quen thuộc, không chút ngắc ngứ: “Trong đêm rạng ngày 23-4, trên các mặt trận không có thay đổi đáng kể”.

Đại tá cầm tờ báo, đưa mắt tìm gì đó và hỏi:

-Thế còn câu này trong bản tin, chị đọc chưa?

Có, chị đã đọc. Và cố suy nghĩ điều đó có nghĩa gì. “Tên phi công tù binh thuộc tổ hai, phi đội ném bom số một của quân Đức, thiếu úy Hen-rích Ti-ten khai rằng: “Hai phi đội thuộc nhóm hai từ phi trường Bren-xcơ và hai phi đội thuộc nhóm ba từ phi trường Óc-lốp được lệnh ngày 11-4 ném bom Cuốc-xcơ. Trên đường bay tới thành phố, chúng tôi đã bị các máy bay tiêm kích Xô Viết xua tan. Tôi cũng như đa số các phi công không tới được Cuốc-xcơ. Máy bay bị cao xạ Nga bứn rơi, thậm chí tôi còn chưa kịp cắt bom. Mới đây, tôi có về Đức, ở đó đang diễn ra cuộc tổng động viên rộng khắp. Hàng nghìn người mới được gọi vào quân đội. Họ phải lấp kín lỗ hổng trong hàng ngũ quân Đức bị thiệt hại trong mùa đông. Những điều mà các sư đoàn tinh nhuệ Đức không làm nổi, thì những tay dân sự mới vào lính sao có thể làm nên được? Đó là những người buôn bán có tuổi, các công chức, người hầu, bồi bàn, khoác vội chiếc áo lính lên người, không đáp ứng được những đòi hỏi gắt gao của cuộc chiến tranh ở phương Đông và sẽ bị nghiền nát ngay trong những cuộc giao chiến lớn đầu tiên”.

-Thế thì làm sao?-Chị hỏi.-Theo lời tên phi công Đức này, thì bọn Đức không có người để bổ sung cho quân đội!

-Không, tên thiếu úy không đến nỗi ngu ngốc đâu. Nó hiểu quá rõ là những tên hầu, những tên bồi bàn, những thương nhân và công chức cao tuổi được gọi vào quân đội không phải để vá víu những lỗ hổng của cái bọn Đức gọi là mặt trận phía Đông. Những sư đoàn vất đi này thực ra sẽ bị ném sang mặt trận phía Tây, còn từ đó những sư đoàn, quân đoàn được bổ sung, được nghỉ ngơi, ăn đẫy, sẽ bị ném sang phía Đông. Hen-rích Ti-ten đã nói hớ-thậm chí hắn đã chỉ rõ những sư đoàn này sẽ bị ném vào cối xay thịt ở đâu-ở Cuốc-xcơ! Chúng ta chỉ không biết có một điều: bao giờ xảy ra điều đó? Tháng năm? Tháng sáu? Hay muộn hơn? Nhưng chúng ta phải sẵn sàng đối phó trong bất kỳ thời điểm nào và đập tan chúng.

-Nhưng Vô-lô-đi-a liên quan gì tới điều đó?-Chị khổ tâm hỏi.

-Vla-đi-mia A-lếch-xan-đrô-vích cùng với nhóm các nhà sản xuất làm việc bên anh được giao nhiệm vụ tìm một giải pháp kỹ thuật cho trận đánh sắp tới.-Krit-xchi-an nói hơi khô khan và vôi cúi đầu chào.
Logged
katysha
Thành viên
*
Bài viết: 126


« Trả lời #37 vào lúc: 24 Tháng Giêng, 2010, 08:50:05 am »

“Đêm rạng ngày 1-5, trên các mặt trận, không có gì thay đổi đáng kể”
Tổng cục thông tin Liên Xô
1-5-1943


Nhưng bây giờ, Vi-ta đã học được cách đọc bản tin. Trong bản tin, sau đoạn mô tả các cuộc chiến đấu, chị lại chú ý vào lời khai của một tên tù binh. “Tên tù binh của đại đội tham mưu 85, trung đoàn 5, sư đoàn xạ thủ sơn cước số 5 An-num Rây-mun nói rằng: “Cuộc tổng động viên là một mưu toan tuyệt vọng cuối cùng đẩy nhanh giờ thảm bại cuối cùng của quân đội Đức. Nước Đức đã vét tới dự trữ cuối cùng về nhân lực. Tuy nhiên nhiều người Đức cho rằng cuộc Tổng động viên không cứu vãn được thảm họa đang tới gần”.


Bên dưới còn công bố bức thư của một cô gái Nga bị bắt về Đức. Xét về nhiều mặt, bọn Đức từ lâu đã cưỡng bức những người dân của các nước Âu châu bị bắt đem về Đức lao động khổ sai trong các ngành công nghiệp. Và lúc đó, cái khái niệm tổng động viên đối vớ Vi-ta còn có ý rộng hơn nữa.


Nước Đức còn có thể một lần nữa điều động hàng triệu quân như ngày đầu chiến tranh…

Và đương đầu với nó trên khắp châu Âu chỉ có một mình quân đội Nga.

Vào những ngày ấy, Tô-lu-be-ép đã được phép đi lại.

Mùa xuân muộn màng, mà Vi-ta đã từng tưởng không còn hy vọng được thấy nó đã đến.

Ở Matxcơva đang thời chiến gian khổ. Suốt tháng tư, tuyết chống cao thành núi. Xe điện, ô tô đi lại khó khăn giữa các đống tuyết, nhưng rồi tuyết đã thấm nước, đem lại và đã biến hết trong một đêm. Trong các mảnh vườn nhỏ, cỏ xanh đã nhú lên trước các căn nhà không có ai xén tỉa, trên các luống đất đá nở những bông hoa vàng, không giống hoa vườn chút nào, nhưng dù sao cũng làm cho các công viên hoang vu đẹp thêm. Ngày 1-5, Tô-lu-be-ép tổ chức một bữa tiệc nhỏ với những người cộng sự. Thứ trưởng công nghiệp có đến vài phút, Krit-xchi-an cũng đến thăm với một bản dự báo thời tiết cho cả tháng. Không hiểu sao Vô-lô-đi-a rất quan tâm đến dự báo thời tiết. Đến tối Vô-lô-đi-a nói rằng sáng mai anh sẽ bay đi U-ran.


Vi-ta chộp lấy máy điện thoại, gọi đại tá Krit-xchi-an-ông ta lại đang ở nơi làm việc,-và tuyên bố rằng chị không cho chồng đi đâu một mình cả. Đáp lại, Krit-xchi-an cười vang và bảo rằng trung tá Tô-lu-be-ép sẽ không đi đâu một mình, mà còn có cả mấy kỹ sư, nữ y tá Li-đi-a và nếu Tô-lu-be-ép muốn, thì cả cô thư ký riêng Vi-ta Ac-vi-dốp-na Tô-lu-be-e-va cũng sẽ cùng đi. Ở nơi Tô-lu-be-ép đến làm việc vẫn cần sự giúp đỡ của Vi-ta Ac-vi-dốp-na…


Tô-lu-be-ép đứng bên, mỉm cười, nhưng Vi-ta thậm chí không giận: chị vẫn là người cần thiết cho chồng!

Vào tối ngày hôm sau, họ đã đến nhà máy nổi tiếng chế tạo pháo lớn, mà mỗi lần các kỹ sư đến họp bàn với Tô-lu-be-ép đều thấy nhắc đến.

Không gian của xứ sở này thật đáng kinh ngạc, họ bay suốt cả ngày mà mới tới tuyến giữa của nước Nga. Còn đáng ngạc nhiên hơn nữa, là thành phố to lớn này đầy ánh sáng, dường như ở đây không nhớ tới chiến tranh. Nhưng những người đi ngoài phố ăn mặc kém, giày dép tồi, nét mặt gày gò, mệt mỏi, và cuộc sống tiêu điều đó gợi nhớ tới chiến tranh cay đắng hơn cả. Chỉ có trẻ em là vẫn tinh nhanh, dù có thể là bị đói ăn. Và mọi người đều mừng vì mùa xuân đã đến.


Nhóm Tô-lu-be-ép được giành một nhà tập thể nhỏ bên bờ sông, có phòng ăn, phòng nghỉ và nhiều phòng ngủ. Rõ là họ đã được chờ đợi ở đây. Quả thực giám đốc nhà máy, một người béo tốt, lông mày rậm, đã cố can Tô-lu-be-ép không nên đến nhà máy ngay, nhưng trung tá cứ giữ ý của mình.


Đêm trắng giống như ở Na Uy, ở Kic-ne-net, khi ánh hoàng hôn còn sáng lên ở phía tây thì đã thấy ánh sáng đầu tiên của mặt trời thấp trong xoe. Và nhà máy vào lúc này, giữa ngày và đêm, nom càng hùng vĩ, to lớn hơn là nhìn nó giữa ban ngày. Những phân xưởng rực ánh lửa trên các ngọn đồi cách xa cổng vào hàng năm sáu cây số. Các kỹ sư không đi bộ thăm xưởng mà đi bằng ô tô vì có mất đến cả ngày cũng không đi vòng hết nhà máy được. Viên giám đốc đặt vợ chồng Tô-lu-be-ép ngồi vào xe, cả người kỹ sư trẻ đã đến dự cuộc họp đầu tiên bên giường bệnh Tô-lu-be-ép cũng ngồi vào đó, và chiếc xe đi qua cánh cổng sắt vào khu vực nhà máy.


Chiếc ô tô dừng lại bên một phân xưởng nằm trong tòa nhà xây bằng bê tông, lắp kính, dài đến nửa cây số. Người kỹ sư trẻ giúp Tô-lu-be-ép đi ra, chìa tay cho Vi-ta, những quân nhân và kỹ sư đi theo vây quanh họ và cùng đi vào xưởng.


Vi-ta nhìn thấy những vật giống như những cột điện thoại, nằm xếp thành từng đống, từng đống. Có thể đó là những thân cây, hay những súc gỗ? Nhưng rồi chị đã đoán ra: đó chính là nòng súng. Xa hơn chút nữa, những ống thép này buộc xích vào những cần cẩu nối tiếp nhau, trôi lơ lửng: cần cẩu hạ những ống thép này xuống những dàn sắt: một đội công nhân chạy lại kiểm tra, sửa sang thêm gì đó, rồi chúng lại trôi đi tiếp. Và khi Vi-ta theo sau Tô-lu-be-ép đến cuối phân xưởng, chị nhìn thấy các nòng súng này được lắp vào những xe bọc sắt chạy bằng xích, bốn người lính nhanh nhẹn khéo léo trèo lên xe, ngồi khuất sau những tấm thép chắn, máy nổ rộ lên và cả cái khối sắt đồ sộ này chuyển ra ngoài cánh cổng cao, chạy vào đêm trắng trong suốt. Rồi tiếp liền đó lại một cái nòng khác được nặng nề đặt xuống-và được thêm một khẩu pháo hoàn chỉnh, lại có bốn chiến sĩ hiện ra, động cơ rú lên, chiếc xe chạy ra cổng, dưới chân nó đất đai rung chuyển, sàn bê tông chao đảo như có động đất.


Bãi thử ở ngay bên bờ sông, bên kia hiện lên một khu rừng nham nhở, và ở trong rừng, những vật gì đó đang di động giống những chiếc xe tăng, nom rất rõ trong ánh đêm trong. Trên bãi thử đã đặt sẵn hai chục chiếc xe và khi nhóm thanh tra của Tô-lu-be-ép đi xe lại gần những khẩu súng đang bắn vào các vật di động. Tô-lu-be-ép đi vào một căn hầm nhỏ, và Vi-ta nghe thấy người điện thoại viên nhận tin từ bờ sông bên kia sau mỗi tiếng nổ, lại reo lên: “Trúng rồi”, thì anh lai làu bàu, bối rối. “Mục tiêu không bị phá hủy”. Nhưng chị đã đếm thử số lần reo vui nhiều hơn, và chị yên lòng về người chồng.

Viên giám đốc lại gần chị bảo đồng chí trung tá còn ở lại, và mời chị lên xe. Ông chở chị về nhà. Chỉ hiểu là Tô-lu-be-ép còn có cuộc họp bàn về công việc, chị không nên có mặt ở đó, và chị lên xe.
Logged
katysha
Thành viên
*
Bài viết: 126


« Trả lời #38 vào lúc: 24 Tháng Giêng, 2010, 08:51:34 am »

Nữ ý tá Li-đi-a đã chỉ huy mấy cô gái chuẩn bị bàn tiệc. Mặc dù thức ăn không nhiều, nhưng mặt bàn được bày nhiều hoa, các bộ đồ ăn lấp lánh, rượu và vốt-ca xếp đầy bàn đến nỗi Vi-ta phát hoảng, nhưng Li-đi-a đã làm yên lòng chị. Vla-đi-mi-a A-lếch-xan-đrô-vích sẽ không uống gì khác, chỉ một cốc săm-panh thôi. Còn Vi-ta Ac-vi-dốp-na tốt nhất nên đi tắm, vì bụi kim loại và dầu mỡ trong không khí có thể thấm qua thậm chí cả quần áo bằng vải bạt.


Tô-lu-be-ép cùng những người thanh tra, các kỹ sư và lãnh đạo nhà máy trở về vào đúng bữa điểm tâm, sáu giờ sáng. Vi-ta đã ngủ, nhưng nghe tiếng chân chồng, chị thức dậy. Anh có lẽ vừa mới tắm, đang trải mớ tóc ướt. Sau tường, nghe tiếng bát đĩa lanh canh khe khẽ và những giọng nói ôn tồn. Chị mặc quần áo và cùng chồng đi sang nhà ăn.


Trong căn phòng nhỏ bên cạnh nhà ăn, nữ y tá Li-đi-a đang đọc cho người lính điện tín viên hàng loạt số dài. Vi-ta mỉm cười: Li-đi-a biết nhiều nghề quá, nên không thể chỉ là y tá được. Phải hỏi chị đã học khoa học mật mã ở đâu? Nói chung, có khi Li-đi-a đã từng công tác ở địch hậu rồi cũng nên? Trong những bản tin của Tổng cục thông tin, chị thường đọc chăm chú đặc biệt những tin tức từ phía bên kia trận tuyến…


Sau bàn, mọi người đều chúc mừng người kỹ sư trẻ. Anh đã lắp ráp khẩu pháo tự hành mới trong mười một ngày đêm. Viên giám đốc nói rằng nếu bọn Đức để họ, những người đúc súng, được yên chừng một tháng nữa, thì đơn đặt hàng của Bộ Quốc phòng sẽ được thực hiện vượt mức kế hoạch. Cả người kỹ sư trẻ, cả viên giám đốc được vỗ tay hồi lâu, nhưng trong lòng họ vẫn nhức nhối mối lo, và máy thu thanh ở trên cửa sổ vẫn không tắt đi. Khi nghe tín hiệu lúc bảy giờ sáng, mọi người đều lặng im. Sự im lặng làm cho Vi-ta thấy trái tim bứt rứt.


Lê-vi-tan (phát thanh viên nổi tiếng của Liên Xô) điềm tĩnh nói:

“Trong đêm rạng ngày 3 tháng 5, trên các mặt trận không có thay đổi đáng kể”.


Hai tuần lễ sau khi nhóm thanh tra của Tô-lu-be-ép đi xuống miền Nam U-ran, nơi nhà máy xe tăng mới chế tạo loại tăng hạng nặng “IX” với pháo 122 ly, thì đại tá Krit-xchi-an đã đuổi kịp họ.

Ông bay suốt đêm, đó là những đêm trời sáng, ngắn ngủi thật đẹp. Ông chào hỏi Vi-ta và Tô-lu-be-ép như là vừa từ phòng bên cạnh bước sang phòng họ trong khách sạn, nơi họ đã sống tới ngày thứ mười.

Vừa bước vào ông mỉm cười bảo:

-Vi-ta Ac-vi-dốp-na, tôi thấy là chị đã nghỉ ngơi tốt rồi! Còn giá tôi và Vla-đi-mi-a A-lếch-xan-đrô-vích được uống một tách cà phê theo cách pha của chị…

-Ở đây không có cà phê!-Vi-ta than vãn.

-Tướng Kô-rô-bốp đã nghe thấy tiếng than của chị!-Đại tá nghiêm khắc nói và chỉ tay lên trần như chỉ lên đấng tối cao nhìn thấy, biết hết mọi sự.

-Đây!-Và ông rút từ cặp da ra một thứ hạt quý hiếm ấy với cả cái cối xay cà phê nhỏ bằng đồng của Thổ Nhĩ Kỳ với những xanh xay đá.

Li-đi-a vẫn mỉm cười quan sát cuộc gặp gỡ này, với ngay lấy cái bao và cái cối xay từ tay ông. Có lẽ chỉ mình chị mới hiểu được Vi-ta khó chịu thế nào khi thiếy chén cà phê quen thuộc này. Và cả Vla-đi-mi-a A-lếch-xan-đrô-vích hóa ra cũng mê thứ đồ uống đó. Chiếm được món quà quý rồi, y tá Li-đi-a ra khỏi phòng. Lúc đó Krit-xchi-an bỗng trở nên nghiêm nghị, rút từ cặp ra một phong bì.

-Vi-ta Ac-vi-dốp-na hãy xem đây!-Ông nói, xé những dấu gắn xi và mở chiếc phong bì dày nặng ra.

Trên bàn, trước mặt Tô-lu-be-ép và Vi-ta có hai chục chiếc “Con Cọp”.

“Con Cọp” mới tinh, óng ánh nước sơn ngay cả trên giấy đen trắng, dường như nó được chụp trên bãi thử.

Nước sơn màu sáng, Krit-xchi-an nói rằng màu ô-liu thích hợp với vùng sa mạc, cho quân đoàn Phi châu của tướng Ru-men. Nó được chụp từ khắp các phía: hai bên, đằng trước, đằng sau, từ trên xuống-thấy rõ là người chụo những bức ảnh này đã không vội vã và yêu thích nghiệp vụ của mình. Cả Vi-ta và Tô-lu-be-ép kinh ngạc nhìn những bức ảnh, cay dắng nhớ tới bức ảnh nghiệp dư nhỏ bé của Vi-ta.

-Của tình báo Anh chăng?-Tô-lu-be-ép ướm hỏi.

-Anh xét theo màu sơn chứ?-Krit-xchi-an cười khẩy.-Hãy nhìn kỹ cái phông nền sau nó thế nào,-ông đề nghị.

Nền phông trên tất cả các bức ảnh bị nhòa, nhưng vẫn còn lại cái gì đó. Tô-lu-be-ép cầm một tấm anh lại xem ở bên cửa sổ. Trên một bức ảnh, hiện lên khá rõ viền rừng ở xa và những nét lờ mờ hình ảnh những căn nhà gỗ của nông dân Nga.

-Đây là miền Bắc nước ta!-Tô-lu-be-ép thốt lên.

-Phải rồi, đây là ở Nga!-Vi-ta cùng hòa theo. Giờ đây chị đã biết vùng Bắc Nga, vùng U-ran và không bao giờ có thể lẫn những phong cảnh này với các nơi khác.

-Phải, đây là nước Nga!-Krit-xchi-an trịnh trọng nói-Nhưng như thế chưa phải là hết đâu. Các bạn hãy xem tiếp những tài liệu này nữa…

Ông rút từ cặp ra mấy trang giấy đánh máy. Tô-lu-be-ép đặt chúng ra trước mặt như chiếc quạt xòe. Đây là sự mô tả kỹ thuật chiếc tăng: những thông số của nó, chiều dày của vỏ thép, cấu tạo động cơ đi-ê-den, trang thiết bị điện, vũ khí những chố hiểm yếu, v.v… Đó là công việc của cả một tập thể kỹ sư, vì mỗi đặc điểm của chiếc tăng đều đuợc mô tả bằng ngôn ngữ của nhà chuyên môn…

-Nhưng sao làm được điều đó?-Vi-ta hoang mang hỏi.

Li-đi-a mang cà phê ra và Krit-xchi-an im lặng.

Khi cô đi pha cà phê đợt hai bằng cái máy xay nhỏ, Krit-xchi-an khẽ nói:

-Vi-ta Ac-vi-dốp-na, sau khi nhận đuợc bức ảnh của chị, tướng Kô-rô-bốp đã ra lệnh cho các tình báo viên ở bên kia trận tuyến chú ý tới sự xuất hiện của những xe tăng mới ở nơi họ hoạt động. Người ta đã phát hiện ra các tài liệu của Bộ chỉ huy Đức thu được trong các thời gian khác nhau, rằng bọn Đức không chỉ có tăng “Con Cọp” mà còn có cả “Con Báo” nữa, chúng đúng là những con quái vật. Thêm vào đó, chúng còn có loại pháo tự hành “Phéc-đi-năng”. Nhưng tất cả những của mới này bọn Đức đều giữ ở xa mặt trận, chắc là để đề phòng chuyện bất trắc. Thế rồi cách đây vài ngày, các trinh sát viên đã phát hiện ở mặt trận Vôn-khốp, hai trung đoàn xe tăng mới thuộc đội quân dự bị của Tư lệnh quân đoàn trưởng Phôn Ban-xơ. Chúng định làm ở gì vùng đầm lầy này là một điều chưa hiểu được. Ở đó, vẫn còn ngập nước, liên tiếp là những bãi sông, lạch, đầm lầy, hồ ao, trên đó băng chưa tan hết. Nhưng thiếu tướng của chúng ta biết rõ Phôn Ban-xơ là con cưng của Quốc trưởng. Chắc rằng hắn muốn cho Quốc trưởng kính mến của hắn được thấy những đồ chơi này hoạt động như thế nào. Ngoài ra, Phôn Ban-xơ còn là một tên loạn óc-luôn bắt chước Hít-le trong mọi việc, thậm chí cả trong những cơn điên loạn…

Vi-ta không hiểu những thiếu sót của tướng Phôn Ban-xơ có ý nghĩa gì, nhưng Tô-lu-be-ép cười gằn vì lý do gì đó. Chị ngạc nhiên nhìn chồng.

-Phần tiếp theo có thể hiểu được, đơn giản thôi,-Vô-lô-đi-a nói.-Phôn Ban-xơ bị ép mạnh, từ các phía mặt trận và hắn phải tung “những đồ chơi” này vào cuộc chiến!

-Thế mà anh vẫn cứ tự nhận mình là một kỹ sư hơn là một nhà chỉ huy! Krit-xchi-an nhếch mép cười, nhưng đầy vẻ hài lòn, nói:-Mọi chuyện đã xảy ra đúng như vậy. Kô-rô-bốp và đại tá Koc-sma-rep đã báo lên Tổng hành dinh Bộ tư lệnh tối cao, nói rõ mọi tình tiết, và Bộ đã “duyệt y”. Họ đã bay ra mặt trận nghiên cứu tình hình tại chỗ; và năm ngày trước “đã ép mạnh” Phôn Ban-xơ. Ở đó có con đường hiểm trở giữa các hồ được đắp thành đê cao. Ban đêm, quân ta đã chiếm được đường hẻm, thọc sâu vào trận địa của quân Đức tới năm kilômét. Ngay trong đêm đó, các chiến sĩ công binh đã đào ở trên đê những cái hố bẫy thú trên có ngụy trang. Đến khi Phôn Ban-xơ tung vào trận những “Con Cọp” của mình-quả thực chỉ có nằm chiếc thôi,-quân ta đầu tiên đã rút lui, nhưng sau đó cắt đứt xe tăng với bộ binh. Ba chiếc xe tăng trườn thoát được về, một chiếc bị bắn cháy, còn chiếc thứ năm-chính ó đấy! Nó đã được kéo lên nguyên vẹn, chở về hậu phương, sau đó lại được khéo léo trả về vị trí cũ.
Logged
katysha
Thành viên
*
Bài viết: 126


« Trả lời #39 vào lúc: 24 Tháng Giêng, 2010, 08:52:42 am »

Tin buổi chiều:
“Ngày 23-6, trên các mặt trận, không có thay đổi đáng kể.
… Ở phía tây Ben-gô-rốt, đơn vị thuộc đội X-tiến hành trinh sát tuyến phòng thủ của quân địch…”
Tổng cục thông tin Liên Xô
23-6-1943



Tối hai mươi tư tháng sáu, họ trở về Matxcơva. Nhóm của Tô-lu-be-ép còn ở lại, riêng anh được triệu về. Đại tá Krit-xchi-an không quên nhã ý ghi thêm trong giấy triệu tập “Cùng đi với thư ký riêng Vi-ta Ac-vi-dốp-na Tô-lu-be-e-va”. Tới thời gian này, Vi-ta đã biết là mọi cuộc đi lại trong đất nước có chiến tranh này đều nhất thiết phải có giấy phép, giấy triệu tập, giấy giới thiệu.


Trong vòng một tháng rưỡi, họ đã đi bằng máy bay và xe hơi khắp vùng U-ran, gần khắp miền Xi-bia. Vi-ta ngạc nhiên nhận thấy ở những nơi mà theo tưởng tượng của chị hay sự mô tả của báo chí trên các đường phố thường có những con gấu chính công đi lại, nhưng chị lại chỉ thấy từ các nhà máy những đoàn xe tăng nối đuôi ra ga, những chiếc máy bay mới từ các sân bay ẩn kín trong rừng sâu cất cánh bay lên, bay về phía tây. Còn nếu họ đi bằng xe lửa, từ phía tây tới, ngược chiều là hàng trăm đoàn tàu dài dặc… Thực ra, đoàn tàu đặc biệt của họ thường được chạy liên tục, không phải kiểm soát, nhưng cũng có khi họ phải dừng lại hàng mấy tiếng đồng hồ ở chỗ tàu tránh nhau vì các đoàn tàu chạy ngược chiều nối tiếp vào nhau. Những lúc ấy Vi-ta cùng Li-đi-a ra khỏi toa,. Và ở những chỗ tránh hẻo lánh ấy, họ đi hái dâu tây hay những bông hoa hồng dại thơm ngát. Thường những lúc đó, Tô-lu-be-ép ngủ. Anh quá mệt mỏi trong các cuộc “thanh tra” này và nhiều khi trở về phòng khách sạn hay nhà tập thể đã phát ốm hoàn toàn. Lúc đó y tá Li-đi-a bắt anh đi nằm, tiêm hay cho uống thuốc ngủ và cả hai người phụ nữ ân cần chăm lo sự nghỉ ngơi của anh.


Trong những ngày ấy, y tá Li-đi-a trở nên khó tính: một viên giám đốc, một chánh kỹ sư nào đó có thể quát tháo, la mắng thế nào cũng được, chị nghe hết; không nhìn lên, trả lời giọng không hê to tiếng: “Trung tá ốm. Anh ất sẽ tiếp chuyện đồng chí vào ngày mai, giờ này, giờ nọ!”-và chị nêu ra chính xác giờ mà Tô-lu-be-ép trở dậy khỏe khoắn và lành mạnh.


Chỉ có với một người Li-đi-a đặt ra ngay ngoại lệ-đó là đại tá Krit-xchi-an. Mỗi ngày đại tá Krit-xchi-an gửi đến cho Tô-lu-be-ép một bức điện bằng mật mã. Y tá Li-đi-a giải mã và đưa cho Tô-lu-be-ép khi anh tỉnh dậy, và trong suốt thời gian họ đi thăm các nhà máy quân sự, bức điện mã chỉ giản dị có mấy chữ “Sức khỏe bệnh nhân đáng hài lòng”.


Đã qua một tháng, thời hạn mà ông giám đốc nhà máy chế tạo pháo ao ước, một hôm Li-đi-a giải mã bức điện của Krit-xchi-an, chị bỗng kêu lên, nhìn Vi-ta bằng đôi mắt như nhòa đi chạy bổ sang phòng mà Tô-lu-be-ép vừa ngấm thuốc ngủ mới thiếp đi và ra sức lay anh dậy. Tô-lu-be-ép khó khăn mở đôi mắt díp vào nhau, chị đưa cho anh bức điện, cương quyết và gay gắt kêu lên:

-Tỉnh dậy ngay đi, Vla-đi-mi-a A-lếch-xan-đrô-vích!

-“Bệnh nhân bắt đầu đi lại”.-Tô-lu-be-ép đọc qua và Vi-ta thấy anh vẫn chưa tỉnh hẳn.

-Vla-đi-mi-a A-lếch-xan-đrô-vích, Vla-đi-mi-a A-lếch-xan-đrô-vích!-Y tá Li-đi-a lắc mạnh người anh nhưng đầu anh lại ngả xuống gối, mắt nhắm lại.

-Ối, lạy chúa, cà phê, mau lên!-Cô y tá ra lệnh, Vi-ta mang cà phê đến. Nhưng Tô-lu-be-ép đã tỉnh dậy, anh ngồi lên, mắc rực sáng, đọc lại bức điện. Anh bỗng kêu lên, uống chén cà phê nóng đến bỏng cả miệng, yêu cầu!

-Vi-ta, giúp anh mặc quần áo mau!-Rồi quay sang Li-đi-a:-Sao chị cứ dứng ngây ra thế! Gọi ngay tất cả mọi người lại đây!

Li-đi-a chạy lại máy điện thoại, còn Vi-ta giúp anh mặc quần áo. Vì thuốc ngủ còn ngấm, anh giống như một đưa trẻ phật ý và gần như không tự làm lấy được một việc gì. Khi chị cài khuy áo blu-dông và đi ủng vào chân cho anh, anh khẽ nói:

-Krit-xchi-an báo rằng quân Đức đã chọn khu vực để tấn công: từ Ben-gô-rốt tới Cuốc-xcơ và từ Óc-lốp cũng tới Cuốc-xcơ. Chúng định cắt mũi Cuốc-xcơ ra… Nhưng đồng chí ấy giỏi thật! Chúng ta còn gần một tuần lễ nữa, đại pháo đã ở trên các sân ga gần mặt trận cả rồi.


Những người giúp việc của Tô-lu-be-ép đã đến cả phòng làm việc. Và Vi-ta thấy kinh ngạc: còn vừa là một người mệt lả, chồng chị bỗng trở nên cương quyết, dứt khoát. Những mệnh lệnh ngắn gọn của anh tuôn ra trôi chảy như chỉ gồm toàn những phụ âm cứng. Các sỹ quan theo nhau rời khỏi căn phòng. Ngoài cửa sổ, động cơ ô tô rú lên, chở họ tới các nhà máy, sân bay, nhà ga. Chỉ nửa giờ sau, chung quanh đã không còn một ai.


Anh lính thông tin mang đến một bức điện mật mã nữa. Krit-xchi-an đề nghị trở về Mat-xcơ-va.

Mat-xcơ-va đang nóng bức, hoa bạch dương bay đầy. Trên các đường phố có trồng cây, các thiếu nữ mặc quân phục đang thả lên bầu trời tối dần những khinh khí cầu, hình thù như những điếu xì gà dài. Kỳ này Mat-xcơ-va và người Mat-xcơ-va có vẻ bình tĩnh hơn: chắc họ đã quen đi với những bản tin luôn thuyết phục rằng mấy tháng nay trên các mặt trận đều yên tĩnh. Còn những trận thắng mùa đông đã đẩy lùi quân Đức xa đến mức không xuất hiện cả ở trên trời nữa…


Vợ chồng Tô-lu-be-ép được đưa đến căn nhà nơi học đã sống lần đầu tiên. Cô y tá Li-đi-a đi theo họ, gọi điện đi đâu đó và lát sau đã thấy xuất hiện vị giáo sư.

Giáo sư gõ vào người và nghe Tô-lu-be-ép khá lâu, kiểm tra huyết áp; y tá Li-đi-a lấy máu và đem xét nghiệm ngay. Nhìn giất ghi của chị, vị thày thuốc ngạc nhiên nói:

-Nền y tế hiện đại đang phát hiện ra những điều kỳ lạ. Trong chiến tranh, bệnh nhân mất hẳn chứng đau dạ dày, những hiện tượng dị ứng nặng, viêm dạ dày, viêm kết ruột và hàng chục căn bệnh khác.

-Điều đó không có gì lạ cả-Tô-lu-be-ép cười nói.-Trong những thức ăn đơn giản không có những chất kích thích như trong các món ăn ngon. Giáo sư đã ăn trứng cá đen lần cuối cùng vào bao giờ?

-Phải, có lẽ là từ trước chiến tranh đấy,-giáo sư trả lời.-Không tôi thấy lạ ở điều khác: theo phân tích thì anh đã mổ dạ dày ba lần cách đây không lâu, sau đó anh bị bắn xuyên qua phổi, xuýt trúng vào tim. Tôi đã bở dở việc theo dõi anh cả hai tháng chỉ vì sức ép hành chính. Tôi đã chờ đợi thấy gì? Sự suy sụp hoàn toàn của cơ thể, thiếu máu và nếu anh muốn, là sự toàn phế. Thế mà tôi đã thấy điều gì? Mọt con người hoàn toàn khỏe mạnh, tuy có mệt mỏi quá chút ít, nhưng không phải do bệnh tật, mà là do gánh nặng thể lực của công việc. Trung tá đã làm tôi rối trí, nhưng tôi hoàn toàn thanh thản ký giấy chứng nhận, đồng chí đã khỏe mạnh hoàn toàn và có thể trở về với nhiệm vụ chiến đấu.

Một lúc sau, Krit-xchi-an đến.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM