Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:55:18 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Biên giới Tây Nam  (Đọc 150940 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #50 vào lúc: 28 Tháng Sáu, 2009, 07:19:46 am »

CHUYỆN LẠ TRONG NGÔI MỘ

BÙI THANH MINH



Một quả đạn ĐKZ chẻ toác cành cây săng lẻ trước mặt tôi, nửa thân cây cùng quầng lá quặn gãy, đổ vật nhào. Vầng sáng của ánh mặt trời xòa xuống mặt đát bị vụn nát. Liên tiếp hai quả đạn pháo 105 ly cày tung cái ụ mối phía sau, kéo theo một loạt cây xanh đổ xuống đất đá bắn tung rào rào. Đạn pháo, đạn K56, đạn 12,7 ly... thi nhau nổ đinh tai, nhức óc. Tôi và đại đội trưởng Bình vội nhét chiếc máy điện thoại vào hốc cây lớn chỉ huy bộ đội đột phá.


Sau hai ngày kịch chiến, thương vong của trung đoàn lên tới con số 50. Nay là ngày thứ ba, trung đoạn hạ quyết tâm bằng giá nào cũng phải chọc thủng tuyến phòng thủ của địch giải phóng nhân dân trong thị xã Kô Kông.


Trong làn đạn dày đặc, anh em khiêng về một thương binh. Đó là Xuân, một cán bộ trung đội dũng cảm, mới được thưởng huân chương chiến công trận trước. Xuân bị một viên đạn xuyên từ ức vào trong ngực, một viên khác phá bung đầu gối phải. Toàn thân Xuân tím ngắt, nhưng đôi mắt lại tỉnh. Xuân nói như trăng trối:

- Đệ ơi! Tao còn mấy tháng phụ cấp, mày thanh toán rồi gửi về cho má tao nhá.

Đệ cúi xuống sát mặt Xuân vừa rãnh làn đạn, vựa để nói rõ cho Xuân nghe:

- Ừ, mày yên tâm...

Một số chiến sĩ chạy đến vĩnh biệt Xuân, vì ai cũng hiểu rằng chỉ ít phút nữa là Xuân "đi". Cũng biết vậy Xuân nhìn tôi và Bình nói như sợ hết thời gian:

- Anh Minh, anh Bình phải không? Em còn nhìn rõ... thôi, em chào các anh. Các anh ở lại chiến đấu trả thù cho em nhé.

Lạ thay, Xuân nói không một lời vấp váp, không một tiếng hụt hơi. Mặc pháo gầm, đạn réo các chiến sĩ vẫn vây quanh Xuân như làm lễ truy điệu.

- Xuân chào tất cả anh em... Đệ ơi, mày về nói với má là tao đã hoàn thành nhiệm vụ - Xuân nói, rồi nhắm mắt, giọng tha thiết như niệm Phật:

- Má ơi! Con đã hoàn hành nhiệm vụ với Tổ quốc... Thân ơi! Em đi lấy chồng đi em nhá. Anh thương em lắm... Má ơi! Thân ơi!

Chúng tôi đều biết má chỉ có mình Xuân, cha anh là liệt sĩ, còn Thân là vợ chưa cưới của anh.

Kết thúc trận chiến, chung tôi chạy về trạm phẫu của trung đoàn xem sức khỏe của Xuân ra sao. Nếu có mệnh hệ gì cũng còn gặp nhau phút cuối.

Trạm phẫu là một căn lán dựng tạm trong rừng cao su xanh rợp, thi thoảng có tiếng nổ lốp bốp của trái cây cao su và tiếng cành cây khô rơi gãy. Chúng tôi ùa vào lán và mừng quá vì Xuân vẫn còn sống. Nhưng để cứu Xuân, bác sĩ quyết định phải phẫu thuật cắt bỏ chân phải của anh trước khi chuyển lên bệnh viện tuyến trên. Ca phẫu thuật được tiến hành ngày. Ba mươi phút sau y tá mang ra khúc chân của Xuân vừa tháo khớp gối. Chao ơi! Một chiếc chân còn nguyên vẹn, ống chân thẳng, bắp thon dài, bàn chân nhỏ, gót đã chuyển thành màu tím nhợt.


Chúng tôi bảo nhau xin được mang cái chân của Xuân về đơn vị, chôn cất. Anh em gói “liệm" vào chiếc “quan tài" nhỏ bằng gỗ tốt rồi đưa lên đồi. Trên đỉnh đồi cao lộng gió có một ngôi mộ nhỏ có vòng hoa nhỏ, có hương thơm và được đánh dấu chu đáo.


Hai ngày sau, chúng tôi được tin Xuân hy sinh trên đường chuyển viện vì vết thương quá nặng. Nhưng xót hơn là tin xe chở thi hài về nước qua phà bị tụt xuống sông và xác Xuân bị nước cuốn mất.


Mười năm sau, bộ đội tình nguyện Việt Nam đã hoàn thành nghĩa vụ quốc tế, theo thỏa thuận của Chính phủ hai nước, chúng tôi được trở về Tổ quốc. Tôi bàn với anh em là phải mang “thi hài" Xuân về trao cho người mẹ. Hôm ấy màu trời xanh như mùa thu ở Việt Nam, cuối chân trời có những vệt mây màu đỏ. Trên đỉnh đồi hoa lau trắng như bông, lắc lư vẫy gọi. Chúng tôi đứng xếp hàng ngang trước ngôi mộ nhỏ. Đệ thắp ba nén hương, rồi quỳ xuống cung kính khấn vái. Mọi nghi lễ xong xuôi, chúng tôi đào lên. Khi mở nắp ra, thật lạ: Chiếc chân sau 10 năm hầu như còn nguyên vẹn, năm chìm trong lớp nhũ màu hồng trông như máu, xung quanh miệng hòm trắng xóa những phấn bông. Tôi bàn với Bình và anh em để nguyên thế nắp lại, dùng vải bọc nhiêu lần, ngoài cùng gói bằng ni lông, cho vào ba lô rồi mang về thủ đô Phnôm Pênh cùng đứng trong hàng quân làm lễ từ biệt đất bạn.


Khi về đến thành phố quê hương mới hay tin Xuân hy sinh rồi mất xác là nhầm lẫn. Xuân vẫn sống không những thế mà còn từ thương binh hạng ba cậu ta chạy chọt lên hạng một. Vài năm gần đây Xuân đưa gia đình vào thành phố này để sinh sống và trở thành “ông chủ" rất “kính nể" nhờ làm dịch vụ “thương binh". Nghĩa là Xuân biết làm cho ai dù không thương tật sẽ có thẻ thương binh, hạng nào cũng được miễn là gia dinh họ có đủ tiền cho “dịch vụ".


Chúng tôi quyết định mang hòm "thi hài" đến gặp Xuân để cho một bài học, nhất định không để Xuân trượt dài như thế. Tòa nhà 3 tầng nằm chênh ềnh mặt phố Bùi Thị Xuân, chiếc cổng bằng sắt sơn xanh đóng im ỉm khóa bằng chiếc khóa to đùng màu vàng. Tôi thò tay bấm chuông, vài phút sau cổng mở. Một con bẹc giê màu hung to như con bê con đứng ở góc thềm nhảy dựng lên tru tréo, nhưng bị chiếc dây xích kéo giật lại. Một người thiếu phụ mặt buồn như là héo, lặng lẽ đưa chúng tôi vào phòng khách. Pha xong ấm trà, chị ta nói:

- Ông chủ đi công chuyện, lát nữa về. Các ông chờ chút.

Tôi định đặt chiếc mũ mềm xuống gộc chiếc bàn nhóc, nhưng vội rụt lại đành phải nắm chiếc mũ trong lòng bàn tay để trên đùi bởi dưới tấm kính dày làm mặt bàn chỗ tôi định để chiếc mũ, ông chủ đặt tờ đô la một trăm màu xanh, kế đó là hình một cô gái gần như khỏa thân một trăm phần trăm hớ hênh trơ trẽn.

Ngồi chờ, chúng tôi hỏi mới biệt người phụ nữ đang ngồi tiếp chúng tôi chính là Thân vợ Xuân. Từ ngày vao thành phô này, Xuân thành ông chủ, còn Thân thì vẫn không làm mẹ được nên bị “giáng xuống” làm người ở. Thay thế Xuân là người đàn bà khác. Bà má của Xuân cũng ở tại đây, hơn năm nay không biết má bị trúng bệnh gì mà suốt ngày không nói, không rằng. Chúng tôi tỏ ý muốn gặp má. Má từ dưới bếp bước lên, cũng lúc xe hơi chở ông chủ đỗ xịch ở cổng.


Xuân xuống xe bước vào, hai cánh tay mũm mìm, cà nhắc vì chiếc chân giả phải đỡ cả thân hình. Xuân xững lại vì vệt mắt của bà mẹ chém ngang. Thân đóng cổng rồi lặng lẽ đi vào trong nhà. Con bẹc giê vẫy chiếc đuôi đến gập thân mình mừng chủ. Xuân thập chễnh đến chỗ con chó, kẹp chiếc ca táp vào đùi móc ra lấy một chiếc kẹo sô-cô-la bóc nhét vào miệng con vật, rồi khom lưng vuốt ve thích thú nhìn nó tợp tợp nhai chiếc kẹo. Xong việc bước vào cửa, Xuân mới biệt nhà có khách. Phải mất khoang một phút thông hiểu ngạc nhiên hay không nhận ra chúng tôi mà Xuân đứng ngây, mãi đến khi Đệ đứng dậy nói như quát:

- Tao đây, thằng Đẽ băng vết thương cho mày đây! Tao mang hai tháng phụ cấp trung sĩ của mày về đây mà may cũng quên à?

Xuân như chọt tỉnh, rồi giơ hai cánh tay chẳng để làm gì, giọng rất ông chủ:

- Ô… ô… các chiến hữu.

Sau các thủ tục xã giao, chúng tôi không thể kìm lâu hơn nữa, lúc đầu tuyên bố mục đích chuyên viếng thăm, sau rồi nóng mặt cho một bài học. Xuân ngồi nghe, mặt đỏ nhừ rồi tái thâm như bị chọc tiết. Chúng tôi trao cái hòm "thi hài" cho Xuân. Anh ta đặt lên mặt bàn và bóc từng lợp vải. Khi mở nắp ra cũng lạ thay: Chiếc chân nguyên vẹn năm trong lợp nhũ hồng đã biến đâu mất. Trong hộp chỉ có một khúc xương cẳng chân đuồn đuỗn thâm thì nằm trơ khô khốc.


Xuân đứng ngây, mắt như sáng ra. Thân quay đi, hai bàn tay bưng lấy mặt. Bà má thì ôm cái hòm gỗ có khúc xương, bỗng thốt được thành lời:

- Ôi! Con tôi, con tôi đây rồi...

Cho đến bây giờ, chúng tôi vẫn chưa giải thích được hiện tượng kỳ lạ của cái chân.


BTM
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #51 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2009, 06:42:14 pm »

CHUYẾN XE ĐÊM


MA VĂN KHÁNG

Chiếc xe lại hỏng.

Lần này là lần thứ mấy, kể từ lúc nó rời biên giới? Ngồi ở băng ghế sau, người phụ nữ phương Tây xinh xắn không nhớ, nhưng khó chịu và buồn lo lộ ra mặt. Bởi vì lúc này trời đã tối. Trời tối ở một vùng đất xa lạ, còn ngổn ngang, bữa bộn vết tích của chiến tranh. Đất hoang lạnh, loang lổ những vết cháy. Cây xém, ủ rũ cạnh những đống vỏ đạn pháo lớn và những vòng thép gai bò loằng ngoằng gớm guốc. Đường đã vắng từ lúc chập tối.

Giờ, thì chẳng còn sự sống trên mặt con đương gập ghềnh, lồi lõm hố đạn pháo. Không có xe đi ngược chiều và cùng chiều, kể cả những chiếc xe hai bò kéo, bánh xe to một cách cổ lỗ và như là vô lý của những người dân vừa ra khỏi cuộc chiến tranh đang tìm đường trở về quê cũ. Không còn tiếng nó lăn lọc cọc đều đều trong hành trình giống như trong một cuộc viễn du vô định.

Giờ, chiếc xe trở nên cô đơn.

Họ đã phải đổi xe ở biên giơi. Chiếc Mazda sang trọng được thay thế bằng chiếc com măng ca cũ kỹ minh đầy bụi, lam lũ, không có biển số. Trông nó đã nao cả lòng, nhất là khi nghe ngươi sĩ quan dặn người lái xe: "Chú ý: gặp ai, không được nói cho họ biết xe chở ai, đi đâu. Dọc đường, không cho bất cứ một ai đi nhờ xe".

Ngươi phụ nữ hiểu ngay từ lúc đó: tính mệnh của họ trên đất nước xa lạ này hoàn toàn phụ thuộc vào chiếc xe và anh lái xe, một chiến sĩ Việt Nam nhỏ nhắn hiền lành. Ôi chao! Chiếc xe thì quả là không tin cậy được. Giờ, nó lại chết giữa vùng đất mênh mang, nhìn đâu cũng chỉ thấy mờ mờ nhũng cây thốt nốt cao lớn, chơi vơi trên vòm trời, chẳng có gì chơi vơi, chống chếnh như loài cây ấy vào lúc này.

Thấy xe hỏng, người đàn ông phương Tây ngồi cùng người phụ nữ, từ nãy vẫn lim dim như hoài niệm cái gì đó, choàng tỉnh, đẩy cửa xe, chui ra. Đó là một người đàn ông cao lớn, vạm vỡ, bụng xệ. Cái bụng xệ không gây ấn tượng chậm chạp, nặng nề. Vì cái quần jean bó tôn người ông cao lên, rất hòa hợp với cái áo bu-dông bó gọn thân trên và cái vẻ háo hức trẻ trung trên khuôn mặt dãi dầu, từng trải. Ông là phóng viên của nhiều tơ báo lớn trên thế giới, quen với những khung cảnh chiến trường, nỗi hiểm nguy và những sự kiện mới mẻ, sôi động của hành tinh.

- Rô-đa, em cứ yên tâm.

Người đàn ông ghé mặt vào cửa xe, an ủi người phụ nữ. Cạnh ông, chị nhỏ bé, non nớt như một cô em út. Họ mới lấy nhau. Và người đàn ông đã thuyết phục được vợ mới cưới thuận theo ý muốn phản ánh cái máu mê nghề nghiệp của mình: hưởng tuần trăng mật trên con đường thiên lý của nghề nhà báo, ở một đây nước xa xôi, đầy bí hiểm: "Em có biết không? Bọn cai trị ở nước ấy bắt đàn ông đàn bà phải sống cách biệt trong các trại tập trung. Chúng chỉ định người đàn bà này lấy người đàn ông kia. Chúng cũng tổ chức cưới cho họ. Cưới hàng chục cặp ghép đôi như ghép gà, ghép lợn rồi ai lại về trại nấy. Không ai được phép có một cái gương. Soi mặt dưới bóng nước, bắt gặp chúng đập chết liền". Nghe người chồng nói vậy, người vợ rùng mình. Thật là kinh khủng và quái gở. Làm sao có thể tin được. Tính tò mò được khơi dậy. Chị bằng lòng. Và họ bay đến Việt Nam, rồi bây giờ quá cảnh qua đây, vùng đất nước vừa mới thoát khỏi cái tai ương khủng khiếp vô nhân đạo nhất kia, mới có ít ngày.

Được sự an ủi của chồng, người phụ nữ yên dạ. Chị gật đầu hơi nũng nịu. Và người đàn ông hôn vợ rồi đi lên phía đầu xe lúc này nắp ca bô đã mở, hất lên; ở đó lúi húi bóng người lái xe bé nhỏ.

- Xe làm sao thế, anh người Việt - Người đàn ông hỏi, giọng cô tỏ ra không sốt ruột.

- Thủng két nước, ông ạ. Người lái xe đáp khẽ, nhưng lại chợt giật mình chồm lên, gào vào trong xe lúc đó có ánh đèn vừa lóe dậy vàng đục: Tắt đèn! Tắt đèn đi, chị ơi!

Người đàn ông quay đầu lại. Ánh đèn trong xe vừa bật - chắc là người phụ nữ định tìm cái gì đó - đã tắt ngấm. Người phụ nữ kêu the thé, chừng như bực bội.

Ngươi đàn ông bước lại giữa xe, nhún vai. Trong xe, im thin thít. Cả hai đều tự hiểu một cách thật sâu xa rằng, ánh sáng lúc này là mục tiêu của bao điều hung hiểm. Tốt nhất là yên lặng trong đêm và chờ đợi. Nhưng mà chờ đợi bao lâu nữa. Thủng két nước giữa chốn này!

Người đàn ông đứng tựa lưng vào cửa xe như chở che cho vợ, nhìn anh lái lui húi ở đầu xe, chốc chốc lại thở dài vô vọng.

Nhưng bỗng, thình! Nắp ca bô xe dập xuống. Người đàn ông bước nhanh lên đầu xe. Người lái xe đang lau tay.
Lát sau, ông quay lại, mở cửa xe, gieo mình xuống cạnh vợ, thở phào sung sướng:

- Thủng kết nước! Nhưng, thật là kỳ diệu! Thật là kỳ diệu!

- Chữa được rồi, Bốp? - Người phụ nữ níu vai chồng, ríu rít: Chữa xong thật rồi à! May quá!

- Anh ta đã chữa. Bằng gì em có biết không? Ở Cu-ba, năm sáu mươi, anh cũng gặp một ca như vậy. Ở Ăng-gô-la vừa rồi chiếc xe chở anh cũng rơi vào cảnh tương tự, người lái xe bít lỗ thủng bằng xà phòng. Còn ở đây, bây giờ, anh lái người Việt này chít các lỗ thủng bằng cứt trâu! Thật là kỳ lạ!
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #52 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2009, 06:42:58 pm »

Thật là kỳ lạ! Lúc chiều tối, họ đã gặp những chiếc xe từ chiến trường về, đi ngược chiều tới họ. Nhiều chiếc không kính. Có chiếc dùng đèn pin thay đèn pha và cả hai vợ chồng đã cười như nắc nẻ khi thấy một chiếc xe trên nóc buồng lái đặt một phuy xăng, xăng theo vòi cao su rỏ thẳng xuống đầu máy, chắc là bơm xăng hỏng. Họ đã băn khoăn tự hỏi: những người chiến sĩ kia, vì lẽ gì mà vất vả thế? Họ đem thân họ đến đất này đâu có phải là để giải phóng cho đồng bào họ? Ai cũng biết người Việt đã trải qua hơn ba chục năm chiến tranh trên đất nước của mình rồi. Người phóng viên đã hỏi câu đó với một vị chỉ huy ở biên giới. Người chỉ huy nguyên là một thầy giáo dạy tiếng Pháp. Ông không trả lời thẳng vào câu phỏng vấn của nhà báo: “Theo chỗ tôi biết, trong ngôn ngữ tất cả các nước châu Âu, đều có chữ tình. Tình yêu, tình bạn, tình gia đình, tình thầy trò - ông nói điềm đạm. Nhưng trong tiếng Việt của chúng tôi, cạnh chữ tình còn có chữ nghĩa; nghĩa về phương diện nảo đó, là kết tinh của tình, nghĩa vợ chồng, nghĩa bè bạn, nghĩa xóm giềng lân bang...". Đó thật là một điều mới lạ nữa vơi người phóng viên.

Và bây giờ khi xe đã chữa xong, tiếp tục lăn bánh, người phóng viên lại có cảm giác ngỡ ngàng, mỗi bánh xe lăn là một bước đi vào những điều chưa biết, tư cảnh quan tới không khí, khoảng trời.


"Mùa khô kéo dài 6 tháng. Người đàn ông nhớ tới một trang sách trong cuốn sách khảo cứu về đất nước này mà ông đã được đọc rất kỹ trước khi qua đây. Bạn có thể nhìn thấy cây thốt nốt xa tít ở chân trời chỉ còn nhỏ bé, đơn côi như ngọn cỏ, đựng trơ vơ như chứng nhân từ tiền sử. Đất phù sa cổ khô, chờ mưa xuống sẽ xuê ra, tơi tả. Lúc ấy người Khơ-me sẽ sạ lúa, cứ mỗi mẫu là 60 cân hạt. Cây lúa cao lên, họ sẽ bừa áo đi. Cây yếu tự chết. Cây nào sống sót thì sống mạnh mẽ, mãnh liệt, y hệt con người ở xứ sở này. Đất nước sống bằng gạo và khô cá này ngờ đâu đã có lịch sử từ 2500 năm trước công nguyên, đã trải qua các vương quốc, vương triều...".


Bánh xe chạm đánh kịch vào gờ một chiếc cầu, cắt đứt dòng suy tưởng của người đàn ông. Cả hai vợ chồng cùng hơi bị xô về phía trước. Và họ cùng nhìn thấy lố nhố trong bóng đêm ba bốn cái mũ sắt cùng mấy ngọn súng tiểu liên. Người lái xe ngoảnh ra cửa, đưa tay lên chào những người gác cầu, nói cái gì đó và chiếc xe lại lăn đi ngay.

Sự gặp gỡ thỉnh thoảng một chiếc cầu và các trạm gác vừa làm cho hai vợ chồng người phóng viên yên lòng, lại vừa gây cho họ cảm giác phấp phỏng.

Xe cách cầu được một quãng, người lái xe trẻ tuổi, quay lại, vẻ như là bâng quơ:

- Không có bộ đội thì trong vòng một ngày, chiếc cầu sẽ bị bọn phỉ phá sập ngay.

Ngươi phụ nữ co người lại sau câu nói đó. Nhất là lúc này đêm bỗng nhiên trở nên nhờ nhờ sáng, người đàn ông háo hức vì nghề nghiệp, đã chuyển lên ngồi ở ghế trước và không khí trở nên hắt hiu khác thường. Đêm mờ cành hiện lên sự vắng vẻ, cái vắng vẻ chứa chấp những bất trắc khôn lường.

- Một đất nước huyền thoại và trữ tình. Rô-đa ạ.

Người chồng quay lại, đắm chìm trong suy tưởng, thoát khỏi cái hiện thực lạnh lẽo ngoài kia. Nhưng người vợ đã bíu lấy cổ chồng, giọng lạnh run:

- Bốp, lạy Chúa! Sao chúng ta không đợi sáng mai hãy đi.

- Ồ nghề nghiệp của anh. Rô-đa à, trong tĩnh lặng buổi đêm, ta nhìn được chiều sâu của các sự kiện.

- Lạy Chúa! Em vùa đọc xong “Chùm nho uất hận" của Sten-béc. Sao em có cảm giác chúng ta đang ngồi trong chiếc xe Hudson của gia đình Tôm đi về miền Ca-li-phoóc-nia xa xôi, vô định quá.

- Đừng nghĩ u ám thế. Rô-đa.

- Lạy Chúa, trong cuộc di cư tuyệt vọng ấy, thoạt đầu là ông nội Tôm chết, kế đó là bà nội Tôm...

Người đàn ông lắc đầu, im lặng. Cái rùng mình từ người phụ nữ lan sang ông, lướt qua ông để lại trong ông một cảm giác lửng lơ và khi thấy xe chạy gần một tiếng đồng hồ nữa mà không gặp lại một chiếc cầu nào thì ông thấy nỗi lo sợ của người vợ là hợp lý ông cũng thấy như mình đang chờ đón một cái gì đó như là sự may mắn, điều rủi ro, và các chức phận cảm giác của ông căng dần lên, khó chịu.


Thấm nhiễm khắp không gian là cơn tê giá của những hãi hùng tưởng tượng mà hết sức đáng sợ. Trời đất trống tuếch, nhưng bất cứ ở nơi nào đó cũng có thể nảy ra một cái gì đó rất bất ngờ, ở ngoài sự phỏng đoán của con người.


Sự tương phản tình cảm ở trong xe, đối cực với trạng thái tâm lý của người phụ nữ và phân não của người đàn ông, là anh lái xe. Anh còn rất trẻ trong bộ quần áo lính, những bộ quân áo lính không bao giờ mới, nhưng bao giờ cũng làm cho người mặc trẻ ra. Chỉ độ hăm mốt hăm hai, anh có một khuôn mặt không thật đặc sắc nhưng dễ mến, nhìn bán diện, cái trán hơi dô, gò mũi cao và cái cằm thon lẹm, nhỏ, hệt cằm con cái. Song đáng chú ý nhất là con mắt. Xe chạy không đèn. Nhưng mắt anh là ngọn đèn. Hình như nó phát ra hai luồng sáng. Và con người trẻ tuổi ấy lại diễn đạt sự bình tĩnh đến mức người đứng tuổi vốn có ưu thế ấy phải ghen tị. Sự bình tĩnh thuần thục và tự nhiên làm sao. Đó không phải là sự lên gân cố tinh, hay thái độ vô tư lự, không hiểu biết. Cũng chẳng phải là sự phớt lờ, khinh bạc. Sự bình tĩnh vì từng trải, vì làm chủ được sự vật, hòa hợp một cách thật nhuần nhuyễn với cái gì đó như là một bản lĩnh chiến sĩ, có thể hiện lên thành hình hài cho một kiệt tác điêu khắc.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #53 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2009, 06:43:55 pm »

Người phóng viên phương Tây cảm nhận điều đó không thật rõ ràng, nhưng ông muốn ghi lại hình ảnh này trong ký ức vâ ông đang tận từ ngữ, phong điệu để định hình sự diễn đạt. Nhưng, ông bị đột ngột.

- Ông nên ngồi ra ghế sau đi.

Người lái xe bỗng ngoảnh sang người phóng viên, nói khe khẽ, nét mặt không hề thay đổi, nhưng đó là một nét mặt khó miêu tả nhất vì đằng sau cái thần thái tự nhiên ấy là cái mênh mang sâu thẳm của tinh thần. Người phóng viên dò đoán, cố nắm bắt cái tinh thần ấy thì người lái xe đã thêm:

- Ngồi ở ghế trên này nguy hiểm đấy, ông ạ.

Lần này giọng nói của người lái xe có vẻ nghiêm trang. Lập tức, ngươi phóng viên cảm thấy bị xúc phạm.

- Tôi đã từng ở mặt trận Pa-lét-xtin. Tôi đã ở bãi biển Hi-rôn Cu ba khi bọn Mỹ bị đánh trả tơi bời. Tôi vừa ở Áp-ga-ni-xtăng về...

Người lái xe quay lại, hai con mắt thông minh chớp chớp. Anh hiểu ông nhà báo, nhưng hơi mỉm cười:
- Ở đây bọn tàn quân Pôn Pốt nó ranh ma lắm, ông ạ. Phát súng đầu tiên chúng dành cho người lái. Phát sau là một quả B.41. Tháng trước có một ông bị vạ lây với tôi vì thế, may chỉ bị thương. Vả lại đừng nên để bà ấy ngồi một mình.

Cơn tự ái của người phóng viên tan ngay sau câu nói ấy. Ông hiểu rồi: không phải là người lái xe coi thường ông. Nhân cách này cao cả và lạ lùng: anh ta chỉ muốn mình mình hứng chịu nỗi hiểm nguy.

Xe dừng lại một phút để người đàn ông chuyển về hàng ghế sau. Và khi xe tiếp tục chuyển bánh ông lại rơi vào một trạng thái tâm lý dở dang, lừng chừng rất quen thuộc. Y như cái cảnh tranh tối tranh sáng nhuốm một vẻ bâng khuâng ở ngoài xe: đồng hoang trải rộng chập chờn những đám sương trắng mỏng manh như khói ẩn giấu đâu đó nỗi kinh dị về những huyễn tượng yêu ma, quái đản.

Xe đã gặp lại một chiếc cầu. Trên dặm đường thăm thẳm, đó là nỗi an ủi duy nhất của nó. Lần này trời sáng hơn. Và vì người lái dừng xe xin thuốc lá người gác nên người phóng viên nhìn rõ gương mặt, những anh bộ đội Việt Nam: những người lính rất trẻ, tỉnh táo và mắt lấp lánh nhiệt tình khi nhận ra trong xe có hai người phương Tây, nhất là lại có một phụ nữ.

Nhưng, cuộc gặp gỡ như định kỳ ấy lại khiến người phụ nữ thấp thỏm. Về tâm linh, chị tinh tế hơn chồng. Sau phút yên lòng, chiếc xe đi vào nỗi bơ vơ, đơn chiếc. Ở mỗi đoạn đường, hai cây cầu là hai điểm nương tựa, an toàn, và chỉ có vậy thôi, còn khúc giữa dằng dặc là dặm đường đầy những bất hạnh khôn lường.

Người phụ nữ níu tay chồng, dồn dập hơi thở:

- Bốp! Thật là kinh khủng! Chỉ với cái không khí này em cũng đã hiểu bọn người xưa kia thống trị xứ sở này tàn ác như thé nào. Nhưng, sao ta lại dấn thân vào đất này! Thật là mạo hiểm! Mà em cũng chẳng hiểu: tại sao người Việt lại dính vào công việc ở đây. Họ rỗi việc quá hay sao, nên thấy đám cãi nhau liền xô lại can.
 
- Không phải! Bọn Pôn Pốt đánh họ đấy chứ! Người đàn ông cải chính.

Người phụ nữ vẫn lắc đầu:

- Em không thích, Bốp à. Chúng ta sống yên ổn, thái bình và buôn bán với ai thỏa thuận với ta. Sao họ không như ta?

Lần này người đàn ông không giải thích cho vợ nữa. Chị là một phụ nữ xinh đẹp, đảm, yếu ớt và ngây thơ. Vậy thôi. Nhưng người lái xe sau khi nghe người đàn ông dịch lại câu nói của người phụ nữ, gần như nhoai nửa người qua lưng ghế, anh chỉ lái có một tay.

- Chị chưa hiểu dân tộc tôi. - Anh nói - Chị tôi, năm trước xung phong đi xây dựng kinh tế ở Tây Nguyên. Hăm hở lắm. Những vừa rồi tôi về phép thì gặp bà ấy bồng bế tất cả con cái về làng. Không phải bà ấy không chịu được khổ. Trên ấy sung túc là khác. Nhưng bà ấy về vì... nhớ quê. Cái làng quê Việt Nam giữ chặt chân người ta lắm. Người ta chẳng muốn rời khỏi làng nình, xã mình, huyện mình, tỉnh mình, chứ đừng nói đi tới nước khác. Người Tàu thì khác! Với ba củ lạc rang, họ đi khắp thế giới. Họ đến đất này, thoạt tiên xin ngủ nhờ đầu hè nhà người Khơ me. Ít lâu sau, họ mở sòng bạc, cửa hàng tạp hoá. Rồi họ lấy vợ người địa phương. Rồi bắt đầu mua đất. Người Campuchia đánh bạc hết tiền, cầm đất. Hết đất, thế là vợ chồng con cái lên xe cho bò kéo đi. Thực dân một cách êm thấm là cái cách của ngươi Tàu. Còn chúng tôi, tất nhiên không phải thế. Nhưng nói thế nào để chị hiểu nhỉ? Ờ, vấn đề chính trị, ờ, đúng là bọn Pôn Pốt đã gây sự với chúng tôi... nhưng không phải chỉ có thế...

Hình như lúng túng về cách diễn đạt, người lái xe trở lại tư thế bình thường, hai tay xoay nhè nhẹ vành tay lái:

- Ông bà trông kìa, có giống cánh đồng ma không? Người Khơ-me có câu thành ngữ rất hay: "người Tàu đuổi người Khơ-me, người Khơ-me đuổi ma". Đó, cầm đất cho người Tàu xong, người Khơ-me lại lặn lội đến các cánh đồng hoang, bắt đầu khai phá.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #54 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2009, 06:45:00 pm »

"Anh ta hiểu biết vấn đề một cánh sâu xa". Người phóng viên nghĩ. Nhưng, câu chuyện về tội ác của bọn người cai trị đất nước này lẽ ra có thể kể được rất nhiều nữa đã bị dừng lại. Dường như không muốn gây những ấn ương nặng nề cho người phụ nữ, cảnh ở ngoài xe đã đủ lắm rồi - anh lái xe, sau một vòng cua hẹp, giọng bỗng trở nên nhẹ tênh:

- Đến Campuchia, ông nên đưa bà ấy đi xem Ăng-co.

- Anh đã đi chưa? - Người phóng viên hỏi.

- Tôi đã đưa khách đến đó một vài lần. Chà! Thật là cả một kỳ quan. Mùa khô này, ông bà nếu xem ở phía đông nên xem từ quãng 8 giờ đến 10 giờ sáng. Lúc ấy mặt trời vàng như mật ong, tượng các vũ nữ rực rỡ, lộng lẫy nét hình, đẹp hơn tượng trong hoàng cung nhiều. Ừ, đẹp nhất là tượng phụ nữ. Mà phụ nữ Campuchia đẹp thật. Bà chị tôi 38 tuổi đã xồ xề. Phụ nữ dân tộc này 40 vẫn thon gọn, vóc dáng, đầy sức sống nữ tính - Anh lái xe hơi mỉm cưỡi: Ông bà nên đến Ăng-co. Đến đó, ông thử nghĩ, giả dụ ông có một người xóm giềng tài năng như thế...

Ngươi phụ nữ bị nỗi sợ hãi ám ảnh dày vò, không để ý tới ý tứ chứa đựng trong từng câu nói của anh lái xe, nghe chồng dịch lại chưa hết, đã lắc đầu quầy quậy:

- Không! Không! Tôi chẳng đi đâu cả! Lạy Chúa! Đến Phôm Pênh tôi mua vé máy bay về ngay nước tôi thôi. Bốp! Thôi đừng kể những chuyện khủng khiếp nữa.

Những câu nói gay gắt của người phụ nữ làm không khí trong xe trở nên nặng nề. Không ai nói nữa. Và lúc này, xe đang đi vào một vùng tối âm u. Bóng đen từ khu rừng cao su rậm tỏa ra, vệt đường trước kính xe chìm lẫn vào cõi mung lung.

Mắt căng rọi cái nhìn tập trung vệ phía trước, anh lái xe cho xe chạy chầm chậm như vừa chạy vừa dò đường. Người phụ nữ nép vào bên chồng, run rẩy. Chị lẩm nhẩm như đọc kinh: "Bốp! Chắc chắn là họ đã dò mìn cẩn thận rồi chứ". "Bốp, sao mãi không đến một chiếc cầu nào "Bốp, dừng lại ở trạm gác cầu sắp tới nhé. Em chịu không nổi nữa rồi!".

Và nỗi sợ hãi của chị đã tới cực điểm, đã thành sự thật. Chị bỗng ôm chặt chồng, rú lên một tiếng khiếp đảm và tắc nghẽn.

Đoành! Đoành! Đoành! Đạn vừa nổ ba tiếng phá vỡ bõng đêm. Đó là tiếng súng bắn chiếc xe của bọn tàn quân.

Người phóng viên chồm lên, thét một tiếng còn kinh hãi hơn tiếng rú của người phụ nữ, ông nhìn thấy người lái xe đập mặt xuồng vành tay lái:

- Trời!

Ông run hết cả người, cảm thấy mất hết tự chủ. Cảnh tượng trước mắt ông là sự thật mà như ác mộng. Tên phỉ thiện xạ nào đó bắn thật chính xác, ba viên đạn xuyên qua ngực người lái xe phá chếch ở phía lưng anh. Anh gục xuống lưng hơi cồm dập, ở đó mấu đà ứa ra đen thẫm. Vậy là hết rồi. Hết rồi. "Phát đạn đầu chúng dành cho ngươi lái xe. Phát thứ hai là một quả B.41“ Bọn tàn quân vẫn giữ cái lối xử sự như thời chúng còn thống trị đất này: chúng không ưa bắt tù binh, không sử dụng trại giam. Chúng giết người ngay tại chỗ, gọn ghẽ và chóng vánh.

Người đàn ông lảo đảo đứng dậy, mất hết tri giác. Nhưng ông bỗng nắm lấy lưng ghế trước. Sao lạ thế này? Trong cái phút hoàn toàn tuyệt vọng nãy, khi người vợ yêu quý đã chết ngất bên mình, kỳ lạ quá, ngươi đàn ông bỗng thấy trọng lượng thân thể mình sụt xuống, ông hẫng ngươi, chông chênh trong một cảm giác mờ mờ ảo ảo: ngoài cửa xe, cảnh bỗng chuyển dịch như các khuôn hình của một cuộn phim.

"Xe vẫn chạy". Người đàn ông bàng hoàng khi thấy phía sau xe vụt qua một luỗng hơi nóng ngột và một tiếng nổ lớn. Ông ngồi xuống, nghiến chặt răng.

Quả thật chiếc xe có khựng lại, nhưng chí một giây thôi. Và bọn tàn quân chưa kịp phóng quả đạn hủy diệt vào nó, nó đã tiếp tục lăn bánh. Chiếc xe không chết. Nó lao vùn tụt, tốc độ xem ra có phần còn nhanh hơn lúc nãy. Tựa như có một lực vô hình đẩy nó. Tựa như có một phép thần nào điều khiển nó. Tựa như vừa xuất hiện một bầu trời năng lượng mới chưa từng có. Bởi vì anh lái xe người Việt vẫn gục trên tay lái, máu càng lúc càng đẫm khoang lưng áo. Bởi vì anh lái như đang ở trong giây phút hấp hối: thỉnh thoảng anh lại nghển lên giống như là quằn quại, nhìn về phía trước, rồi lại dụi mặt xuống tay lái, đau đớn hực hực thở hắt ra.

Mươi phút sau, chiếc xe đỗ lại ở một cây cầu có những người linh gác. Anh lái xe đã bất tỉnh, nhưng chân vẫn còn đặt hờ trên chân ga, tay vẫn nắm chặt vành tay lái.

Câu chuyện về chiếc xe vượt qua cõi chết vô cùng khó hiểu đã trở thành một trong những chuyện kỳ lạ của chiến tranh. Tính toán chi li thì với ba viên đạn xuyên qua phổi, anh lái xe người Việt coi như đã gục ngay tại chỗ rồi. Cũng không phải là chiếc xe đã chạy theo quán tính. Đường rừng ở đây ngoằn ngoèo, không theo một sơ đồ cố định nào... Vả lại, tính ra, nó đã chạy được tới gân mười cây số để tới sự sống an toàn.

Câu chuyện gây xôn xao cho các bác sĩ và các phóng viên.

Hai vợ chồng ngươi phóng viên phương Tây đền bệnh viện. Anh lái xe người Việt chưa chết. Đến bên giường anh, người phụ nữ đặt bó hoa lên cái bàn nhỏ cạnh anh, nước mắt giàn giụa. Con người đàn ông, thói quen nghề nghiệp lại hòa vào xúc động của ông.

Ông nắm tay người lái xe trẻ tuổi, rưng rưng:

- Thật là kỳ diệu! Vì sao lại có thể như thế được, anh người Việt ơi?

Mặt nhợt vì mất máu, anh lái xe mấp máy đôi môi nhỏ:

- Lúc ấy tôi như chết rồi. Nhưng ông bà là người tôi có trách nhiệm phải đảm bảo an toàn, ông bà như mọi người, cần phải sống. Ông bà lại mới lấy nhau. Tôi như chết rồi. Nhưng chân ga chưa chết, mắt cũng như tay cố sông thêm, cố gắng để sống thêm...

Ngước lên nhìn người phụ nữ mi mắt đầy nước, anh lái nhoẻn cười nụ cười in dấu cơn đau, méo xệch:

- Ông bả nên đi thăm Ăng-co đi. Đó mới là sự kỳ diệu...

Anh nói thế đã là quá sức rồi. Người phóng viên vội ghi lại ngay những lời của anh. Vì đó có thể là nhận lời cuối cùng của một người đã tự biểu hiện một cách hết sức tự nhiên và khiêm tốn nhân cách dan tộc mình: một dân tộc vị tha, sống, chết vì ngươi khác; điều đó đã thành một đạo lý, một nguồn năng lượng vô tận của họ.


4-12-1980
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #55 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2009, 07:49:48 pm »

ĐIỂM TỰA


VŨ NGỌC KHÔI


Anh Phương thân yêu.

Khi viết cho anh lá thư nay tôi phải ghìm cơn đau quặn một. Một viên đạn đã nằm sâu trong mạng sườn của tôi. Tôi bị thương vào đợt tấn công thứ mười lăm của bọn phản động. Lúc này tiếng súng đang lùi dần vê phía bên kia biên giới. Những không vì thế mà chúng tôi rời bỏ điểm chốt trên đầm lầy. Năm mười hai ngày đêm chiến đấu, nó đã trở thành điểm tựa vững chãi trong lòng mỗi chúng tôi.

Chính vì điều này, hôm nay giữa hai trận đánh, tôi gắng viết cho anh.

Như anh biết đấy, sau khi cấp trên điều anh - một ngươi bạn chiến đấu ý hợp âm đầu của tôi - tới một chiến trường cần thiết khác, đơn vị được bổ sung thêm đồn trưởng Nghĩa. Đối với Nghĩa, tôi luôn luôn quý trọng và kính yêu như người anh. Nghĩa hơn tôi về tuổi đời và hiểu biết Anh chiến đấu rất dũng cảm và tận tụy với nhiệm vụ. Nhưng trong cuộc chiến đấu vừa qua, giữa tôi và Nghĩa có những nhận thức không giống nhau. Bởi vậy, chúng tôi vừa trải qua không chỉ là những trận chiến đấu quyết liệt để đánh thắng quân thù mà còn là một cuộc đấu tranh nội bộ để giành lấy sức mạnh chiến thắng ấy. Tôi thiết nghĩ, đó là điều bổ ích cần phải nói với anh.


Cách đây hai năm: bọn phản động bắt đầu đánh lén chúng ta. Hai năm trời, chúng vu khống, gây hằn thù và liên tục tấn công, nhưng chưa bao giờ chiến trường căng thẳng như bây giờ. Trước đợt chiến đấu này, bộ chỉ huy mặt trận tới thăm đơn vị và dân quân đồng chí chỉ huy mặt trận đã giao nhiệm vụ: bằng bất cứ giá nào, các đồng chí cũng phải giữ vững từng tấc đất của Tổ quốc, giữ yên lành sự sống của nhân dân..."


Như anh đã biết, trong địa ban này thì vùng đầm lầy là một trọng điểm. Đó là cửa ngõ để xuyên vào đường lộ. Phía trước đầm lầy là dòng sông biên cương. Phía sau là ngọn núi đá vôi độc nhất nổi lên ngăn cách với đồng bằng. Dãy núi chạy dài theo hình cánh ná án ngữ biên giới. Nếu chiếm được điểm cao nay, kẻ dịch sẽ khống chế toàn bộ tuyến đường vận chuyển phía sau và một hệ thống thị trấn làng mạc đông dân cùng cánh đồng lúa phì nhiêu đang mở rộng.


Với những ý nghĩ đó, vùng đầm lây trở thành quyết chiến điểm của phân đội chúng tôi. Lúc đầu, trạm kiểm soát biên phòng đóng ngay trên cửa lạch. Bọn Khơ-me đỏ đã nã súng vào đây nhiều lần. Về sau, chúng tôi rời trạm vào sâu trong rừng đước, và chuyển cát, chặt cây đóng cọc, tổ chức thành những công sự khá kiên cố. Với những công trình đó, chúng tôi sôi nổi chuẩn bị cho cuộc chiến đấu mới. Nghĩa năng nổ chèo thuyền và chạy hết điểm này đến điểm khác để đôn đốc anh em. Giữa lúc ấy, địa phương tăng cương thêm cho chúng tôi một trung đội dân quân. Trực tiếp chỉ huy đơn vị này là xả đội trưởng Ba Lực, một du kích dã từng chiến đấu dày dạn trong vùng đầm lầy. Người anh hơi thấp nhưng to chắc, luôn luôn tất bật với dáng điệu tươi cười, một vai đeo túi dết, một vai quàng khẩu AK báng gấp. Gặp nhau, anh bóp chặt tay tôi và cưỡi khà khà vang một khúc rừng:

- Đánh tới hả? Thui ruột cũng không lui, nghen.

Chúng tôi ôm chầm lấy nhau, cười chảy nước mắt.

Trong buổi hội ngộ hôm đó, tôi còn gặp điều cảm động bất ngờ nữa. Anh còn nhớ Năm The chứ? Cô bé dịu hiền hễ ai nói đùa là má đỏ ửng lên, cứ bối rối cắn đuôi tóc ấy mà - Cái cô bé dũng cảm đã xung phong làm giao liên cho đồn biên phòng khi chúng ta mới đặt chân lên khảo sát cùng biên giới này ấy mà. Xin lỗi, tôi phải nói kỹ với anh điều này, bởi vì, giờ đây The đã trở thành người gắn bó với cuộc đời tôi. Chúng tôi chính thức yêu nhau đến nay vừa tròn ba tháng mươi hai ngày. Tôi viết thư về nhà. Má tôi lặn lội từ rừng U Minh lên đây để thăm chúng tôi. Đơn vị cùng hai gia đình đều hài lòng.

Hôm chia tay The để trở lại vùng đầm lầy, tôi nói:

- Bây giờ má già rồi, chỉ con em là lớn nhất. Hai anh đã hy sinh, chị Tư lấy chồng xa. Em phải gánh vác gia đình, chăm nom ba em nhỏ đỡ má. Nếu chiến sự bình thường, em hãy cùng du kích và dân làng bám đồng sản xuất. Nhưng nếu biến động lớn thì theo sự sẵp xếp của chính quyền, em hãy giúp má về nơi an toàn.
The im lặng cắn đuôi tóc, ngược cặp mắt đen tròn nhìn tôi như muốn khóc:

- Nhưng... em lo...

Tôi nắm chặt lấy bàn tay mềm mại của The:

- Đừng lo gì cho anh. Các anh sẽ đứng vững, nếu ở phía sau an toàn.

Từ đó tôi đinh ninh The sẽ làm theo lời mình. Nhưng không ngờ, đùng một cái, tôi gặp The ở đây. Vừa thấy tôi, The chạy xô tới, hai tay năm chặt lấy tay tôi reo lên vui sướng:

- Chui cha anh Hai! Em phải nài mãi chú Ba mới cho em vô miệt với anh đó.
Tôi giả bộ giận, nghiêm nét mặt:

- Nhưng cớ gì em không nghe lời anh dặn?

The ngớ người đứng im. Một giây sau như đã hiểu ra, cô phá lên cười ngặt ngoẽo.

- Trời, ngó bộ anh lo cho má hả. Má không nhờ tới em đâu. Chính má lại bắt em vô miệt cùng anh đánh quân cướp tràn sang đó. Má bảo: "Việc nhà việc xóm có bọn già chung tao lo. Tụi bay trẻ tuổi phải ra đàng trước. Ba quân cướp mà tràn qua thì đầu người còn mất chớ nói chi đến giữ nhà". Đó, anh coi, tinh thần của má cao thế đó.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #56 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2009, 07:50:42 pm »

Vậy đó anh Phương ạ, người trên cây cứ lo cho người dưới gốc, con người dưới gốc càng lo cho người trên cây. Nhưng suy cho cùng thì các má các chị lo cho mình đúng hơn. Vì phía ước không trụ được thì phía sau đúng vững làm sao? Nghe The và anh eln du kích kể lại, tôi càng vững tâm. Hậu phương được tổ chức chu đáo theo những phương án linh động. Bà con dân làng càng hạ quyết tâm sẽ bám trụ sản xuất, thu hoạch tốt vụ múa đang chín rộ và sẵn sàng làm nhiệm vụ tiếp tế tải thương...

Còn đối với chúng tôi là trách nhiệm của ngươi cầm súng trụ chốt nơi này. Hậu phương đã dựa vào chúng tôi và chúng tôi sẽ dựa vào hậu phương để chiến đấu. Đó là cái điểm tựa vững chãi cho cả tiền tuyến và hậu phương trong cuộc chiến đấu này.

Chúng tôi lặng lẽ chuẩn bị cho trận đánh đầu tiên. Vào lúc sẩm tối, trận địa phòng ngự được củng cố xong. Trẽn toàn tuyến đầm lầy, chúng tôi chia làm bốn cụm chốt giữ. Anh Ba Lực và tôi phụ trách hai cụm giữ rừng đước. Năm The và bốn du kích nữa được bổ sung vào mũi trên cửa lạch do đôn rường Nghĩa chỉ huy. Còn xã đội phó Tỉnh nắm chắc một mũi phục kích sườn trái núi đá vôi để yểm trợ các hướng và bất ngờ đánh vào sườn quân địch.

Thời gian chờ đợi thật nặng nề.

Toàn vùng đầm lầy im lặng. Chỉ có tiếng muỗi kêu ve ve khắp đó đây cùng tiếng giun dế cóc nhái ra rả trong lòng đất. Ờ vùng đẫm lầy, chúng tôi còn có thêm một kẻ thù nguy hiểm nữa, đó là muỗi. Thật vậy, muỗi ở đây to kỳ lạ. Đốt đau như kim châm. Iại còn một điều đáng ngại nữa, là phải lội nước ngâm bùn. Nước ở đây không ngọt cũng không mặn, nó lờ lợ, chua chua. Lòng đầm được tạo nên bởi phù sa và các loại cỏ rác, lá cây mục ngưng đọng hàng nghìn năm, nên đây đó thỉnh thoảng lại sủi bọt ủng ục, bốc hơi thum thủm. Có những chỗ rất nguy hiểm, bùn lầy dày đặc tưởng như không đáy. Nếu ai vô ý sa xuống đấy thì cư đứng im chờ ngươi kéo, chứ càng cựa quậy càng chìm nghỉm, không có chỗ nào bấu víu để rút nốt chân. Nhiều khi trời hanh khí độc bốc lên gặp ngọn lửa cháy ngùn ngụt. Ban đêm lân tinh bay xanh lè khắp mặt đầm. Rải rác mới tìm thấy một đám đất nổi, hay một mạch đá ngầm để đứng chan cho vững. Còn lại, bạt ngàn mênh mông khắp đồng lầy và rừng đước. Những cây đước bền bỉ thi gan cũng mưa gió đâm vút cành lá lên trời cao, tỏa rễ dị kỳ bò lan trên mặt nước cắm sâu xuống đầm lây. Những cây đước hùng vì này bám rễ vào nhau chằng chịt đã tạo thành những mảnh đất cho chúng tôi sống. Chúng tôi mắc võng từ nhánh này sang nhánh kia. Thổi cơm trên cành cây. Giải trí vui chơi trên rễ đước. Và cuối cùng, cũng dựa vào đước mà chúng tôi tổ chức trận địa phòng ngự. Những bao cát sọt đất, những cọc tre cọc gỗ, đá núi chuyển tư phía sau tới được chất cao như những bục hào nổi xen giữa ngang hàng đước ken vào nhau. Đứng trong trận địa này, tôi nghĩ thầm: Không một tên địch nào sán gần đước tới đây, những bục hào nổi này sẽ ngăn cản mọi đường đạn chúng bắn tới, và từ đây chúng tôi ung dung bắn tỉa từng tên một nếu chúng liều mạng lội tới hoặc bơi xuồng lại. Tôi nghĩi thể và rất yên tâm.


Nhưng anh Phương ạ, sự đời không đơn giản. Tờ mờ sáng hôm ấy chưng bắt đâu nổ súng. Phát đạn đầu tiên chúng bẳn vào cửa lạch. Tôi nhảy choàng xuống võng hét to:

- Chúng nó pháo kích. Tất cả vào công sự!

Mọi người nhanh chóng vào vị trí chiến đấu. Đúng lúc ấy, một quả pháo 130 ly giã đúng chỗ tôi nằm khi nãy. Bùn nước tung lên ào ào. Cây nghiêng ngả. Mãnh đạn vãi ra như mưa. Liền đó tôi không còn nhận ra gì nũa. Chúng pháo kích tơi tấp. Đạn nổ rung động. Lửa chớp nhay nháy. Chúng cấp tập dữ dội liền 30 phút.
Đạn ngớt, chúng tôi nhô đầu lên khỏi chiến hào. Quang cảnh xung quanh đã biến dạng. Cây cối ngả nghiêng, lá rụng bay như bươm bướm phủ lấp mặt đầm lầy. Có những vạt rừng bị thui đen, lửa vẫn bốc cháy phừng phừng. Có những cây đước đại thụ bị đạn bới tung, ngọn cắm xuống bùn, chùm rễ chổng ngược lên trời như những ngón tay kỳ dị giơ lên chới với. Cả một khu rừng rậm rạp kín đáo phút chốc bị tàn phá, để lộ ra những khoảng trời trống trải.


Tôi đưa mắt nhìn quanh trận địa. Anh em đã đứng vào chiến hào. Công sự đã bị bới lộn nhiều chỗ. Các chiến sĩ ai nấy khẩn trương sửa chữa lại trận địa. Tôi quàng súng lên vai, cúi người chạy dọc chiến hào đến từng ổ chiến đấu để kiểm tra quân số, thương vong. Nhưng rất may, phân đội tôi chưa ai bị hy sinh ngoài hai đồng chí bị thương nhẹ vì mảnh đạn. Tôi quay ra giúp Bình, Văn, hai xạ thủ đại liên đang hì hục kéo cỗ súng nặng nề è cổ lún dưới bùn lên đặt sau một góc đước già cỗi. Bình lấy khăn thông vội nòng súng và lau qua chỗ bùn đất bê bết. Văn mở hòm nạp đạn. Tôi ngắm lại vị trí đặt súng và cảm thấy hài lòng, từ đây khẩu đại liên này có thể khống chế được hướng chính yếu. Vừa lúc ấy tiếng nói của Tâm từ chòi trinh sát vọng lại:

- Báo cáo đội trưởng, bên kia biên giới bọn địch đã xuất hiện.

Tôi đưa ống nhòm lên. Quả nhiên, bên kia sông, từ sau những khóm lau hiện ra những bóng người lố nhố qua ánh lửa chợp nhờn. Những mũi thuyền đã lách khỏi cây bụi cây rậm. Phút chốc, trên mặt sông dày đặc nhũng con thuyền lao vun vút. Tôi đưa mắt nhìn về cửa lạch. Tất cả vẫn im lìm. Bọn địch đang lặng lẽ tiến qua lòng sông. Tôi thầm nghĩ: "Có lẽ Nghĩa đang cố chờ chúng vào sâu trong tâm súng".

Tôi quay lại quan sát trận địa của mình. Mọi người đã sẵn sàng, súng nâng ngang tầm mắt. Chuông điện thoại réo. Tôi lao vào hầm chỉ huy nghe máy. Bên kia đâu dây, tiếng Nghĩa vang lên:

- Hai Thành đấy à? Tìinh hình ra sao?

- Báo cáo anh, bình thường. Chỉ hai đông chí bị sượt da, đã băng bó. Công sự bị sạt nhiều đoạn nhưng đã củng cố và mọi người đang sẵn sàng chiến đấu.

- Tốt. Hãy cẩn thận. Chúng đang vượt sông. Tin trên cho biết, chúng bắt đầu tiến công toàn địa bàn của đồn ta phụ trách. Riêng vùng đầm lầy, địch dùng tới một rung đoàn có hoả pháo yểm trợ. Chúng ta sẽ phải chịu đựng nhiều khó khăn đấy, ráng sức nghe.

- Anh yên tâm.

- Chúng đã vượt qua đường biên giới rồi đó. Tạm biệt nhé. Chuẩn bị nổ súng thôi.

Nghĩa đặt máy. Chuông lại réo. Tôi nghe tiếp. Tiếng Ba Lục reo vui.

- Hai đó hả. Bay thấy chi chưa? Tụi Miên ăn cướp đã chui vô rọ đó. Dày đặc như lá tre. Cố ghìm hết tụi chó xuống lòng đầm nghe.

- Chú Ba yên tâm. Bọn tôi đang chờ chúng đây.

- Khá lắm. Đánh tới nghen. Hẹn với bay sau thắng lợi Ba Lực sẽ thưởng một bữa xị đế cùng cá bống cơm châm nước mắm Phú Quốc, nhậu chết thôi nghen!

Nói rồi Ba Lực cười khà khà thay lời chia tay.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #57 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2009, 07:52:00 pm »

Đó, chúng tôi bước vào trận đánh vô tư như vậy. Nhưng thực ra, trận chiến đấu đã trả bẵng một giá quyết liệt. Đợi những tên cướp vào sâu trong tầm súng. Khi những mũi thuyên đầu tiên vừa chạm bãi, chúng tôi nô sũng đồng loạt. Dưới làn mưa đạn xối xả, hàng chục tên địch gục xuống không kịp trở tay, hàng trăm tên khác bị hất lộn ngửa xuống sông. Những chiếc xuống không người bị bắn chim, bị lật nghiêng hoặc xoay tròn trên mặt nước.


Hàng ngũ địch trở nên rối loạn. Chúng kêu gọi và la hét dữ dội. Có tên bơi, có tên lặn ngụp, cũng có tên cố ngóc đầu dậy chĩa súng lên bắn lại điên cuồng. Nhiều tên cố sống cố chết bám một vạt đất nổi, níu quanh rễ đước lồng lộn đánh trả ta. Những tên này bắn mạnh, nhằm ghìm hỏa lực ta xuống để tạo cho những chiếc thuyền phía sau có thể vượt lên cập mạn vào vạt rừng trước mặt. Một thằng béo đen, có vẻ là chỉ huy, vừa bám được vào một bãi sú liền nhỏm dậy khoát tay, gào lên ra lệnh. Nhưng hắn chưa kịp đứng dậy đã bị Tâm ở vọng quan sát nổ giòn giã ba phát tiểu liên vào bụng. Hắn đứng khựng lại, khẩu AK rơi khỏi tay, đôi mắt trợn ngược, từ tư cắm lộn đầu xuống nước. Đồng bọn của hắn ở phía sau ào ạt xông lên. Chúng hét lên đầy kích động. Có tên nhảy chồm chồm, vừa bơi vừa chạy. Có tên vừa nấp vừa bắn trả bừa bãi. Tôi đến bên khẩu đại liên nói với Bình:

- Cứ bình tĩnh. Cậu ngắm thật kỹ lia cho lũ kia một vệt.

- Rõ. Anh cứ mặc em.

Bình gật đầu, rê mũi súng, nheo mắt. Văn nhanh nhẹn nâng băng đạn đỏ chói lên ngang nòng. Pằng, pằng, pằng! Đột nhiên, khẩu đại liên rung lên xôi xả. Bọn địch rụng xuống nháo nhác.

- Hay lắm. Bắn rất khá!

Tôi reo lên và nhổm dậy quan sát bọn địch đang tan tác. Bỗng một loạt liên thanh từ bên trái tạt qua mặt tôi, bắn xé vào trận địa ta. Tôi ngồi xụp xuống, quay sang nhìn. Một thằng cởi trần quanh người đeo đầy băng đạn, có mây tên khác bâu quanh hỗ trợ, đang cặp khẩu trung liên ngang nách, quỳ gối nghiến răng lia mạnh mũi súng. Cùng lúc ấy, không rõ từ đâu, một quả cối đã giáng trúng vào công sự, đất đá nổ tung. Khẩu đại liên bỗng câm lặng. Tôi nhìn lại, Bình đã bốc xuống, mũ rơi khỏi đầu, mặt áp nghiêng trên báng súng. Tôi khẽ kêu lên:

- Bình!

Thấy đại liên tắt, bọn địch reo lên xấn xổ xông tời. Bên kia, khẩu trung liên của chúng được thể càng ra sức áp đảo. Luồng đạn nóng rát bay ngang mặt hào. Tôi nghiến răng: "Nguy hiểm thật! Phải diệt ngay thằng trung liên này". Rồi rút quả lựu đạn tháo kíp, nắm chặt trong tay, tôi trườn người theo đường hào, áp sát lại phía chúng. Một thoáng sau tôi đã ở bên sườn bọn địch. Nhưng vẫn còn cách chúng một vũng lầy khá rộng. Cần phải sát lại gần hơn nữa cho chính xác. Tôi bò tiếp về phía sau. Ước chừng là đã vòng qua được vũng lầy, tôi nhỏm dậy. Vừa lúc, một tên địch nhìn thấy tôi liền nổ sung. Tôi bỗng thấy mát lạnh bên vai trai. Mặc. Tối nghiến răng quăng mạnh thủ pháo và thụp xuống. Trái đạn nổ chói óc. Tôi ngẩng lên vừa kịp nhận thấy ba tên địch ngã vật trong đám khói xanh mờ. May sao khi ấy khẩu đại liên của ta đã hoạt động trở lại. Tiếng nổ lại vang lên giòn giã. Tôi ngồi phệt xuống đất, giơ tay áp lên vai trái. Máu ướt đẫm cả rồi. Viên đạn đã sướt qua bả vai, nhưng rất may nó không trúng xương. Tuy nhiên, vết thương vẫn làm tôi đau đớn. Mắt hoa lên, tôi thò tay vào túi tìm cuộn băng. Bỗng từ đâu, y tá Thi nhào tới ôm chầm lây tôi:

- Anh bị rồi à. Chết thật, sao lại bỏ vị trí chỉ huy?

Vừa nói anh vừa nhanh nhẹn băng bó. Tôi ngả lưng ra thành hào mỉm cười. Nụ cười mệt mỏi và nhợt nhạt:
- Nguy hiểm quá. Thằng trung hliên áp sát lại khống chế trận địa. Không diệt được nó thì gay.

- Dù sao cũng phải nhớ vị trí của mình. Anh bỏ trận địa, có thể sẽ hở sườn.

Thi vẫn gay gắt phê bình tôi. Tuy là y tá, nhưng anh từng đã tham gia nhiều trận đánh, nên anh không chỉ lo việc cứu thương, mà luôn luôn có ý thức quán xuyến trận địa để góp ý cho đồng đội. Tôi vui vẻ:

- Đồng ý. Băng xong chưa?

Thi gật đầu. Tôi chống tay đứng dậy, xách súng khom người lao đi. Trở lại vị trí cũ, tôi giật mình nhận thấy sự nhận xét của Thi rất đúng. Lợi dụng lúc khẩu đại liên tắt, một chiếc xuồng lớn chở hàng chục tên giặc không rõ từ đâu đã lặng lẽ lướt tới bãi sậy sát phía sau trận địa. Tôi kêu lên:

- B.41 đâu?

- Có.

Trung sĩ Hải vội xách súng chạy lại.

- Phải diệt bọn kia ngay! - Tôi chỉ cho anh chiếc xuồng đang luôn tới Nó định quặp pha sau ta đó.
Hải không nói, quỳ xuống, áp ngực sát bao cát, nheo mật lại.

Ầm! Một tiếng nổ cùng một dải lửa xanh lê bắn phụt lại sau. Cả chiếc xuồng bỗng tan biến đâu mất trong cột nhóc dựng đứng lên cao. Khi cột nước ụp xuống, tôi chỉ còn thấy nước đổ rào rào, sủi bọt trắng xóa cùng những mảnh ván tan tác bập bềnh, lại một mối nguy nữa bị đánh tan.


Cùng lúc ấy, trên các mũi khác, bọn địch đều bị đánh tơi tả. Chúng cố sống cố chết xông tới nhưng không sao bám được chân lên bãi. Qua đây tôi càng hiểu rằng, việc đứng chân trên đầm lầy đã khó, song kẻ đến sau muốn chiếm lại đầm lầy còn gay go gấp bội. Chính vì điều này mà chúng tôi càng phải quyết tâm giữ vững điểm chốt, bởi vì ai làm chủ được mảnh đất này kẻ đó sẽ thắng.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #58 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2009, 07:52:57 pm »

Trận đánh mở đầu được kết thúc vào trưa hôm sau. Sau nhiều đợt tấn công bất lực, bọn cướp bỏ chạy tán loạn về bên kia biên giới. Những chúng chưa từ bỏ âm mưu xâm chiếm. Chúng phải lui quân để tính toán lại và sẽ tổ chức những trận đánh tiếp theo.

Biết rõ điều ấy, chúng tôi củng cố lại công sự, nhanh chóng rút kinh nghiệm chuẩn bị cho trận đánh sau tốt hơn. Kiểm điểm lại chúng tôi cũng có những thiệt hại đáng kể: Nhiều công sự, hầm hào bị phả hủy, bảy anh em bị thương vong. Số anh em này phải lui lại chân núi đá vôi để đợi dịp lui về tuyến sau. Năm The được rút về bổ sung cho đội cấp cứu tải thương.

Trong cuộc họp của tổ Đảng và ban chỉ huy chốt, đã có những ý kiến nêu lên nhiều khó khăn nếu ta phải cầm cự ở đây lâu dài. Trước những ý kiến này, Nghĩa không phát biểu nhưng xem ra anh cũng có nhiều nỗi băn khoăn. Riêng Ba Lực vốn tính bộc trực, anh nói thẳng:

- Ở đâm lầy dĩ nhiên là khổ rồi. Cực mọi mặt, thiếu đủ đường. Nhưng việc ấy không bàn. Cái phải nói đến là ta có dám đứng chân ở đây không, hay là mới một trận đã thối chí?

Câu nói của Ba Lực vừa là câu hỏi, vừa là lời khẳng định khiến mọi người đều im lặng. Lát sau Nghĩa kết luận:
- Anh Ba nói đúng. Chúng ta đến đây để giữ chốt. Điều đó là nhiệm vụ. Chỉ có chuyện cần tính cho kỹ, làm sao đánh chốt mà bảo đảm ít thương vong. Tôi e sắp tới đây, bọn địch sẽ dùng hỏa pháo đập mạnh, phá hủy công sự phòng ngự làm ta mất điểm tựa...

Thì ra vậy. Lúc này tôi mới hiểu nỗi băn khoăn của Nghĩa là điểm tựa vào công sự. Kể ra anh lo lắng cũng có lý. Trong chiến đấu điểm tựa rất quan trọng. Nhưng nếu nói ở đẫm lầy chỉ có công sự mới là điểm tựa thì chưa đủ. Tôi chợt nghĩ đến cuộc chiến đấu bền bỉ của nghĩa quân bãi sậy do Nguyễn Trung Trực lãnh đạo và những chiến sĩ du kích của cả hai thời kỳ đánh Pháp và đánh Mỹ trong đầm lầy... Với nhũng chiến sĩ ấy, tôi tin rằng, điểm tựa của chúng ta không chỉ là công sự, mà là một cái gì lớn lao hơn, vững chắc hơn...


Tôi nghĩ như vậy nhưng tôi không phát biểu, vì cuộc họp đã kết thúc Mọi người đều nhất trí trong trận đánh vừa rồi ta thắng lợi lơn. Anh em đang hăng hái và sẵn sàng đối phó những trận tiếp theo. Tuy nhiên, những ý kiến của Nghĩa vẫn để lại trong lòng tôi nhiều do dự. Và quả nhiên ba ngay sau đó, nó được chứng minh bằng thực tế.


Ba ngày sau, bọn địch tiếp tục tấn công. Chúng nổ súng vào lúc nửa đêm. Với ý đồ dùng hỏa pháo để phá tan tuyến phòng ngự của ta, chúng đã bắn pháo cấp tập liên tiếp sáu tiếng đồng hồ liền. Sáng hôm sau, toàn bộ trận địa của chúng tôi đã biến thành một bãi trắng. Xung quanh chỉ có trời và nước. Chỗ đất còn lại thì bùng nhùng, bùn không ra bùn, đất không phải đất. Bao nhiêu đường dây liên lạc đều bị cắt đứt không sao nối lại được. Anh em phải bám rễ đước, bám vào những thân cây còn lại để chiến đấu. Sự đi lại cực kỳ khó khăn. Thương binh phải cấp cứu tại chỗ.


Nhất là việc tiếp tế ăn uống ngày càng trở nên gay cấn. Hàng ngày, anh nuôi chỉ có thể phát cho mỗi người một nắm cơm và dúm muối trắng. Chúng tôi phải chia ra ăn cho tới sáng hôm sau. Nhưng rồi lương thực cũng cạn dần, mà lực lượng tiếp tế phía sau vẫn chưa lên được. Mạch nước ngọt trong núi cũng rất hiếm. Hứng suốt ngày đêm may ra được một thùng, vừa đủ nấu cơm và tiếp nước cho thương binh. Anh em đã bắt đầu phải dùng nước lợ trong đầm.


Với tất cả những khó khăn ấy, chúng tôi đã cầm cự quyết liệt với kẻ thù suốt bốn tuần. Trong gần một tháng trời ấy, chúng tôi đã đánh bật hàng chục đợt tấn công quy mô và chặn đứng nhiều mũi đánh lén của bọn lấn chiếm.


Nhưng dần dần chúng tôi đã bị kiệt sức. Hàng tháng trơi ngâm mình trong bùn nước, một số bị sốt rét, số còn lại phải liên tục quần nhau với giặc nên sức khỏe hao hụt, cơ thể mệt mỏi. Nhưng anh Phương ạ, điều nguy hiểm hơn là tư tưởng chiến đấu của một số anh em đã bắt đầu sa sút. Có những đồng chí đâm ra hoài nghi ta không đủ súc cắm giữ được vùng đầm lầy, có đông chí lo lắng cho là cứ đánh chác kiểu này, nếu không bị địch tiêu diệt thì cũng bị đói bị ốm mã chết. Thậm chí có người còn nảy sinh tư tưởng rút bỏ vùng đầm lầy, lùi lại sau để dựa vào hậu phương vững chắc hơn. Với những suy nghĩ ấy, lác đác đã có hiện tượng đào ngũ...


Tình hình ngay càng căng thẳng. Nhất là sau đợt bọn Miên dùng lối đánh du kích, chia thành các tốp lẻ, lợi dụng ban đêm bao vây chốt của ta trong suốt mấy ngày. Ở điểm chốt của Nghĩa bị thương thêm một số. Anh phải rời bỏ cửa lạch co cụm lại sát trận địa của phân đội tôi để chống giữ. Cũng may, giũa lúc đó, lực lượng du kích địa phương chi viện thêm cùng cánh quân của Hai Tĩnh từ núi đá vôi đánh vào sườn trái quân dịch, tiêu diệt nhiều tên, phá vỡ vòng vây của chúng. Nhân dịp đó, chúng tôi đánh thốc ra bẻ gãy cánh quân chủ yếu của địch, buộc chúng phải tháo chạy sang bên kia biên giới, để lại nhiều xác chết trên đầm lầy.


Sau trận đánh này, ban chỉ huy chốt quyết định triệu tập toàn thể đảng viên mở cuộc họp chi bộ ghép giữa lực lượng biên phòng và dân quân. Trước lúc họp tôi và Nghĩa đã gặp nhau, tranh luận gay gắt. Nghĩa đã có những biểu hiện dao động. Anh nói:

- Tôi thấy không thể cắm chốt kiểu này mãi được. Hệ thống công sự đã bị phá hủy hết. Không còn điểm tựa để chiến đâu. Vậy mà cứ ở lì tại đây, giơ lưng ra đỡ đạn... Hừ, da thịt đọ với sắt thép mãi sao được?
- Có nghĩa là ta không phòng ngự nổi sao? - Tôi hỏi.

- Không hẳn như vậy. Nhưng tôi cho rằng: cắm chốt trên vùng đầm lầy là không lợi và không thể giữ trận địa mãi được. Bọn Miên thì lúc tấn công qui mô, lúc đánh lẻ, lại có hỏa pháo yểm trợ như mưa. Còn ta thì cứ cắm chốt, mục tiêu lồ lộ, không di chuyển, không ngụy trang... Tôi không hiểu ta cố giữ cái cửa khẩu và trạm kiểm soát cũ để làm gì?

- Không phải là cửa khẩu - Tôi phản đối - Mà ta phải bảo vệ toàn vẹn chủ quyên lãnh thổ. Bằng bất cứ giá nào, chủng ta cũng không cho phép bọn Miên xâm chiêm được một tấc đất của Tổ quốc. Nhưng tôi đồng ý với anh. Chúng ta không nên cắm chốt ở một chỗ, giơ lưng ra mà chịu báng.

- Tức là đồng chí cũng đồng ý rời bỏ vùng đầm lầy?

- Sao lại bỏ đầm lầy? Tôi chưa hiểu. Anh định rút lui ư?

- Không phải rút lui. Mà là lùi trận đìa lại phía sau.

- Cả vùng đầm lầy này rộng hai trăm hecta. Tức là ta sẽ bỏ lại cho địch một khoảnh đất bằng hai xã?

- Ta lùi về chân núi đá vôi để củng cô công sự. Đó la điểm cao lợi thế, để phòng ngự, dễ tấn công, lại có chỗ dựa vững chắc.

- Nhưng ta chịu mất đứt đi một vùng đất rộng hai trăm héc ta này sao?

- Dù sao ở đây cũng chỉ là đầm lầy. Dẫu chiếm được, bọn địch cũng khó bám vào đấy để sống. Ngay ta cũng vậy, xem ra anh em khó có thể chịu đựng hơn nữa, đã bom đạn chết chóc, lại đói khát... Vì vậy, tôi cho rằng ta về án ngữ ở chân núi đá vôi là hợp lý. Ở đấy có khó khăn gì ta còn liên lạc kịp thời với phía sau. Hậu phương sẽ tiếp tế lương thục, thực phẩm cũng như chuyển thương dễ dàng hơn. Còn ở đây, tôi cảm thấy chúng ta đơn độc quá.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #59 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2009, 07:53:41 pm »

Vậy đó! Tôi đã hiểu rõ mọi ý nghĩ của Nghĩa. Ke ra anh nói cũng có lý. Nếu trận địa phòng ngự dựa vào chân núi thì trước hết ta có công sự vững chắc tránh được phi pháo sát hại. Vả lại, việc tiếp tế tải thương nối liền với hậu cứ có nhiều thuận lợi: Song nghiêm khắc mà nói, đó là tư tưởng thoát lui. Hơn nữa, điểm tựa là gì? Theo tôi nghĩ, điểm tựa không đơn thuần là công sự như Nghĩa nói, mà trước hết phải là lòng tin vào sự tất thắng và tư tưởng tiến công. Điểm tựa ẩy phải được xây dựng vững chắc ngay trong lòng mỗi một người, từ đồng chí chỉ huy tới anh em chiến sĩ. Giữa lúc mọi người đang căng thẳng chờ đợi ở người chỉ huy một mệnh lệnh nào đó, bỗng nhiên có tiếng hô rút lui, thì không thể tồn tại một đội ngũ chiến đấu nghiêm chỉnh nữa, mà khác chi dòng nước đang dâng cao lại phá bỏ một đoạn đê hiểm yếu. Tại sao tự nhiên ta lại bỏ đi một vũng đất mà kẻ thù đã tốn bao xương máu cũng không đánh nổi được? Người giữ mảnh đất ấy đã khó bám, thì kẻ mong chiếm lấy nó càng gay go gấp bội. Giả thiết nếu ta bỏ nơi nãy cho địch thì sau này đồng đội của ta sẽ phải trả biết bao xương máu nữa mới chiếm lại được. Vả lại, không lẽ trong cuộc chiến đấu này mình cứ phải đi tìm một điểm tựa cụ thể? Sao không nghĩ rằng mỗi một chiến sĩ đang đựng ở vị trì chiến đấu này phải trở thành một điểm tựa vững chắc cho người khác, cho hậu phương. Tôi chợt nghĩ tới má Bảy, tơi người mẹ vợ tương lai của tôi và câu nói của bà: “Tụi bay trẻ tuổi phải ra đằng trước mà giữ. Ba quân cướp mà tràn qua thì đầu người con mất chứ nói chi giữ nhà". Đấy, bà con cô bác ở phía sau đều gửi gắm lòng tin như vậy cho chúng tôi đứng phía trước. Tôi biết lúc này ở quê hương, bà con đang lao vào một chiến dịch gặt lúa để đề phòng bọn địch tràn tới cướp bóc. Trận chiến đấu ấy cũng quyết liệt không kém gì chúng tôi ở đây. Song hai cuộc chiến đấu ấy đều phải tiến hành song song không thể bỏ một mặt trận nào được. Hơn nữa, sở dĩ chúng tôi phải độc lập tác chiến ở đây đã hơn một tháng, vì cấp trên đang tập trung lực lượng mở những hướng chủ yếu vào mặt trận chính, nhằm tiêu diệt lực lượng phản động và đánh tan ý chí xâm lược của chúng. Chính vì vậy, chúng tôi cũng còn là một điểm tựa của nhiều điểm tựa khác.

Nghĩ thể, tôi khẳng định với Nghĩa:

- Tôi cho rằng trước lúc tìm được mảnh đất để đứng chân, cần phải tìm được chỗ dựa vững chắc cho tinh thần người chiến sĩ đã.

Nghĩa nhìn tôi chòng chọc:

- Đồng chí định nói gì cứ toạc móng heo ra. Tôi không thích lối nói bóng bẩy ấy. Vậy theo đồng chí, ta cứ cắm chốt mãi chỗ này mới đúng hay sao?

- Không. Tôi đồng ý với anh một điểm, ta sẽ không cắm chốt cố định. Nhưng ta không được bỏ vùng đầm lầy lui về chân núi. Theo tôi, ta phải cơ động chiến đấu trong đầm lầy như những chiến sĩ du kích trước đây.
- Nghe nói thi hay đấy. Nhưng làm được điều ấy đâu có dễ.

- Tất nhiên lã khó. Nhưng tôi tin rằng anh em sẽ lãm được khi có quyết tâm. Hơn nữa, bên cạnh chúng ta còn có những chiến sĩ du kích dày dạn như Ba Lục, Hai Tĩnh và bà con phía sau...

Nghĩa đỏ mặt:

- Tôi cho đó là lý luận. Thực tế sẽ không giản đơn. Rồi anh vùng vằng - nhưng anh nên nhớ. Nếu ta cứ cắm chốt ở đây có thể đưa đến cái chết oan uổng cho nhiều sinh mạng. Vì vậy, trong cuộc họp tới đây anh cần có trách nhiệm trước từng lời nói của mình.

Đúng lắm. Cần phải có trách nhiệm. Nhưng trách nhiệm trước hết là cao nhất, theo tôi nghĩ: là sự mất còn của mảnh đất mà Tổ quốc đã giao cho chúng tôi giữ gìn. Tôi tin rằng mình nghĩ đúng. Đây là lần đầu tiên chúng tôi va chạm với nhau.

Sớm hôm sau Năm The đến băng lại vết thương cho tôi. Lựa lúc vắng vẻ, cô hỏi tôi với ý trách móc:
- Khi hồi em nghe nói anh và anh Nghĩa có va chạm vơi nhau?

- Đâu có - Tôi gượng cười - Anh chỉ trao đổi vi trách nhiệm.

- Nhưng em nghe hình như anh hơi máy móc.

Tôi kinh ngạc nhìn The. Cô tiếp:

- Anh Nghĩa thương chiến sĩ dữ á! Có lẽ vì thế mà ảnh muốn tránh cho anh em khỏi bị thiệt hại oan uổng chăng. Vả lại anh cũng cần phải có thực tế chút xíu: bao nhiêu thương binh nằm lại trong hang chưa có cách nào chuyển ra. Hơn nữa, lương thực đã cạn. Liệu anh em có thể sống trong đầm bao lâu nữa? Chẳng qua anh Nghĩa muốn gần hậu phương thôi.

Tôi lặng đi suy nghĩ. Tôi thương The. Tôi không biết giải thích thế nào cho The hiểu. Cuối cùng tôi phải nói:
- Vậy The không biết rằng anh là người tha thiết gắn bó tới hậu phương đến thế nào? Đó là cuộc sông của má, của các em, và tình yêu của chúng ta. Chẳng lẽ anh không biết rằng lùi lại phía sau là đỡ gian khổ và có thể sẽ tránh được những hy sinh cần thiết? Nhưng Năm nghĩ xem, đây là mảnh đất chúng ta đây từng đổ máu... Anh không muốn rời khỏi đây để chúng ta phải đổ máu nhiều hơn nữa mới giành nổi những gĩ chúng ta đang có trong tay...

The im lặng suy nghĩ. Lát sau cô thở dài:

- Dù sao lúc này cũng rất khó khăn. Anh em đã hết lương ăn mà thương binh thì ùn lại, chưa chuyển lại sau được. Điều cần thiết lâ phải phá vây để liên lạc được với hậu phương.

- Anh tin là mọi người sẽ bàn bạc để tìm ra lối thoát. Còn trước mắt, bằng mọi giá, chúng ta phải giữ vững vùng đầm lầy, đó chính là điều mà bà con cô bác đang trông chờ ở chúng ta. Còn nếu bỗng nhiên ta lùi lại, thì hậu phương sẽ mất lòng tin. Và anh cho rằng lúc đó, chúng ta sẽ không giữ nổi một cái gì nữa hết.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM