Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:05:58 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tuyển tập truyện ngắn về người lính  (Đọc 183681 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
trieumien
Thành viên

Bài viết: 3


« Trả lời #100 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2009, 08:00:49 am »

Trận mưa to phủ lên người Y Seng ướt sũng. Cái lạnh ngấm vào người làm Y Seng từ từ hồi lại. Trời đen như mực, thỉnh thoảng cơn chớp loé lên Y Seng mới nhận ra mình vẫn còn nằm giữa rừng. Y Seng vật ngửa người lên đón nhận những hạt mưa rơi vào bụng, vào mặt, lúc đầu còn thấy ran rát nhưng sau chỉ thấy cái lạnh thấm vào từng thớ thịt, tận tim gan..... Nhắm mắt lại, há to mồm đón nhận những hạt mưa nhỏ sâu vào tận cổ họng. Y Seng cảm thấy thích thú, tinh thần đã sảng khoái hơn, coi như một phát hiện mới mà chưa bao giờ Y Seng nghĩ tới. Cơn mưa đã tạnh, khu rừng đón nhận những ánh sáng mờ mờ, những bóng cây đen dần hiện ra trên bầu trời xám xịt. Y Seng để hai bàn tay gập trên đầu định thần lại một lúc lâu mới biết mình hiện ở đâu. Phải rồi, chờ sáng sẽ bò ra nằm giữa đường nhất định xe sẽ phát hiện được. Niềm tin đã làm cho Y Seng an tâm, phấn chấn.
Rừng cây mầu đen chuyển dần thành mầu xanh thẫm và dần dần xuất hiện những mầu xanh non trên những búp cành. Tiếng chim bắt đầu rộn rã. Những tia nắng lung linh hiện ra từ phía trên cao hướng đầu Y Seng chiếu xuống sao đẹp thế. Y Seng nằm ngửa tận hưởng cảnh ban mai lần thứ hai, lần này rực rỡ đủ mầu sắc, huyền ảo hơn vì sau một trận mưa bầu trời trong xanh, sạch sẽ, không khí thoáng mát dễ chịu. Những tia nắng âm ấm cứ mơn man trên chiếc bụng lép kẹp dính đầy đất buồn buồn, dễ chịu. Y Seng nhỏm dây tìm cành cây cong gác cái chân bị thương lên cho nước dốc chảy về phía mông và hứng ra cho ánh nắng chiếu vào, rồi lại nằm ngửa tận hưởng cảnh bình minh. Chẳng cách đường bao xa, chưa vội đi. Nhưng rồi cái nắng nhè nhẹ kia đã trở thành những tia nắng quái ác, gay gắt, nóng bỏng, bức bối khó chịu, nhất là từ khi nước từ đất ẩm gặp nắng bốc lên làm không khí vừa ẩm, vừa nóng. Y Seng không thể chịu được đành bò ra sát đường trú dưới gốc cây to rậm cho đỡ những tia nắng nóng cháy da. Chỗ Y Seng nằm không yên được, để tránh cái nắng chói chang giữa trưa và cái nắng xiên chéo lúc xế chiều, Y Seng phải quay tròn quanh gốc cây tìm chỗ mát. Thế rồi một ngày nữa trôi qua không hy vọng. Lại một lần suy sụp tinh thần, thôi đành phó mặc thân xác cho may rủi. Chỉ còn chờ đợi và chờ đợi. Đã chờ, đã đợi thời gian như ngừng lại, cái mà mình mong chẳng bao giờ đến. Hết một ngày tiếp đến một ngày nữa. Y Seng thiếp đi trong chờ đợi.
Con người ta gặp lúc tuyệt vọng, khi mơ hồ thấy một điều gì có thể cứu được mình sẽ tạo ra một sức mạnh kỳ lạ. Y Seng cũng vậy. Khoảng giữa buổi ngày hôm sau Y Seng nghe văng vẳng tiếng xe. Như có một sức mạnh vô hình đã dựng Y Seng dậy, Y Seng thấy không hề mệt mỏi, quơ lấy súng lết nhanh qua vũng nước sâu ra nằm giữa đường chờ, hy vọng.
Chiếc xe đã từ từ dừng lại, người lái xe từ trên ca bin nhảy xuống đến chỗ Y Seng. Suốt mấy ngày rồi Y Seng chỉ chờ có giây phút này. Đôi mắt lờ đờ nhưng ánh lên niềm vui, niềm hy vọng và biết ơn. Miệng khô không nói được nên lời. Trên xe một số người nhảy xuống vây quanh và nhìn Y Seng ái ngại, đang chờ quyết định của lái xe. Vừa lúc đó người lái xe nói “Anh em giúp tôi một tay”. Bốn năm anh em túm lại khiêng Y Seng một cách thận trọng. Nhưng người lái xe không chuyển Y Seng lên xe mà lại chuyển vào trong rừng chỗ gốc cây Y Seng đã nằm ban sáng. Sau đó anh chạy vào ca bin lấy một gói nhỏ để lại chỗ Y Seng. Tất cả lặng lẽ lên xe không một lời dặn lại. Y Seng thất vọng lại ngất đi. Khi tỉnh dậy không biết mình đang ở đâu. Nhìn quanh lại thấy chỗ cũ. Lòng Y Seng vô cùng bối rối. Y Seng thầm nguyền rủa những kẻ vô lương tâm, vô nhân đạo, chúng không phải là người. Nghĩ đến những hành động của lái xe Y Seng vô cùng thắc mắc. Ừ, nếu là địch chúng bắn chết hay bỏ lại cho chết, thu súng, nhưng đây lại không phải, gói nhỏ trong đựng một cái bánh mì, một gói kẹo, với cách khiêng gượng nhẹ của số người này thì không phải là địch nhưng sao lại không chuyển mình về nơi chạy chữa ? Bao nhiêu câu hỏi mà không thể giải đáp được. Thôi đành vậy. Bụng đói nhìn cái bánh mì mà không muốn ăn vì miệng khô quá, không còn nước miếng để nuốt nữa. Y Seng lấy mấy cái kẹo bỏ vào miệng, chất ngọt thấm dần ra lưỡi tạo nên một chất keo ngòn ngọt rồi trở thành một thứ nước lỏng trôi xuống làm cổ họng Y Seng động đậy, nuốt dần cái chất ngọt vô cùng quý giá này.... Y Seng đã ngậm và nuốt được gần nửa gói kẹo, cổ họng đã dịu lại, lưỡi đã mềm vì có chất nước. Y Seng nghĩ đến ăn một chút bánh mì, moi lấy ruột bánh ăn trước, nó mềm ra không phải nhai mà vẫn nuốt được. Có chút chất ngọt và chất bột vào ruột cơ thể Y Seng có sự chuyển động mới, cảm giác thấy nhạy hơn, đôi mắt đã có sức sống. Càng tỉnh bao nhiêu Y Seng càng thắc mắc bấy nhiêu. Chẳng lẽ ta lại phải đi tiếp ?
Đang miên man suy nghĩ tính kế, Y Seng đã nghi ngờ nên rất tinh, phát hiện từ xa từng bước đi của nhiều người. Nhất định tên lái xe đó đã về báo cho địch đến đây bắt mình. Lúc này là lúc ta phải ra tay để chứng tỏ khí phách của người chiến sĩ quân giải phóng. Súng không còn đạn, với báng súng này cũng phải đập chết ít nhất một tên. Nghĩ vậy Y Seng nhanh chóng lết rời khỏi gốc cây lớn, đến một bụi cây um tùm để tạo thế bất ngờ đánh tốt hơn. Từ xa có 5, 6 người cùng đi xe đạp, đến chỗ Y Seng nằm cũ họ dừng lại. Đi đầu là một anh to lớn, trông rất quen mặt nhưng chưa nhớ là ai. Các anh em khác toả ra đi tìm và cảnh giới hai đầu đường. Đến gốc cây không thấy Y Seng, anh em ngơ ngác. Y Seng chợt nhớ, à đúng rồi, Y Bình, Y Bình y sĩ phụ trách trại cùi buôn Ea Na. Biết anh em đến cứu mình, Y Seng muốn la lên mà không la được, đành giơ súng đập túi bụi vào lùm cây. Thấy động, anh em đến vui mừng khi thấy Y Seng. Cũng lúc đó Y Seng ngất xỉu không biết gì nữa. Sau này mới biết anh em dùng võng gác lên xe đạp chở về buôn Ea Na mà không giám dùng ô tô sợ xóc Y Seng không chịu được dễ xảy ra nguy hiểm.
Y Seng được sự đùm bọc, chạy chữa, nuôi dưỡng và bảo vệ khỏi tai mắt của bọn tề điệp của bà con trại cùi Ea Na. Vết thương đã lành dần. Biết Y Seng là quân giải phóng, lại là người dân tộc bà con càng quý mến, tin tưởng coi như người của trại mình. Được hơn 2 tháng Y Seng được đưa về điều dưỡng tại trại thương binh gần buôn Y Seng.
Khi về đến trại thương binh Y Seng mới biết ngay sau đó đơn vị cử một tổ 4 người đi tìm Y Seng nhưng không thấy. Khi sắp sửa ra về thì địch ập đến. Tiếng súng mà Y Seng nghe được chính là lúc anh em bị địch đánh, may mà không ai việc gì.
Đấy câu chuyện của Y Seng chỉ có thế !

“Ôi câu chuyện không thể tưởng tượng nổi”, anh bạn tôi la lên và ôm chặt lấy Y Seng đầy xúc cảm đến ứa nước mắt. Và rồi anh cũng đặt một câu hỏi: “Anh Y Seng này, làm sao anh mà anh vượt qua được ?”, Y Seng trả lời: “Đến bây giờ nghĩ lại mình cũng không biết vì sao, nhưng mình chắc rằng một điều là mình muốn sống trở về với đồng đội.”
Câu chuyện chỉ có thế mà sao cứ đọng lại trong tôi và anh bạn ngoại thương của tôi vốn chỉ quen hàng hoá và tiền bạc một cách sâu sắc và cảm động đến vậy. Sáng hôm sau, anh bạn tôi đã ký một bản hợp đồng với Y Seng nhận mua trong năm 1000 chiếc gùi các cỡ với giá rất đẹp. Trước khi ra về chúng tôi ôm chặt lấy nhau, chia tay trong lòng đầy xúc động, không muốn rời nhau.
Anh bạn tôi giọng nghẹn ngào khi những chiếc gùi của Y Seng được chuyển lên xe: “Anh Y Seng này, những cái gùi tôi mua của anh hôm nay không phải là cái gùi mỹ nghệ bình thường, mà là những chiếc gùi chứa cả một câu chuyện cổ tích hiện đại của dân tộc Việt Nam ta và nhất là của dân tộc Êđê đầy tính sử thi đấy. Ai mua lại bất cứ chiếc gùi nào của anh làm ra tôi đều kể cho họ nghe câu chuyện của anh đấy !”
Y Seng cười, một nụ cười đầy nước mắt sung sướng.

                                                                 Tháng 6 năm 1997.
Logged
3m_h0k_t1n
Thành viên
*
Bài viết: 10


« Trả lời #101 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2009, 02:20:53 pm »

(Nguồn: Nguyễn Thế Duyên - vnthuquan.net)


Một buổi sáng chủ nhật của tháng sáu, Diu một thằng bạn lính của tôi đột nhiên đến nhà. Vừa vào đến cửa nó đã bảo ngay
      -Mặc quần áo vào. Đi.
      -Đi đâu?
Tôi vừa mặc quần áo vừa hỏi lại nó. Nó không trả lời vào câu hỏi của tôi mà lại gắt um lên
      -Giời ạ. Sao mày lại mặc bộ quần áo này- Nó quay sang vợ tôi- Bộ quần áo lính của nó ngày xưa đâu. Em lấy ra cho nó.
Vợ tôi mở tủ lôi ra chiếc ba lô đã bạc thếch theo năm tháng, lấy ra bộ quân phục đưa cho tôi. Thằng Diu nhìn tôi gật gù tỏ ý hài lòng.
      -Có thế chứ. Tao tưởng mày đã vứt bộ quân phục này .
      -Vứt thế nào được với ông ấy- Vợ tôi cười nói ngay-Anh không biết đấy thôi. Anh ấy đã từng cho em mấy cái tát vì bộ quân phục này đấy.
Thằng Diu trợn tròn mắt ngạc nhiên. Nó không thể tin rằng một thằng nổi tiếng là sợ vợ như tôi mà lại dám tát vợ chỉ vì một bộ quân phục. Nhưng chuyện đó là có thật.
Hồi đó nhà tôi mới xây lại nhà. Toàn bộ nội thất cũng được thay mới, thế là bao nhiêu những thứ không dùng đến vợ tôi đem tống khứ đi hết và vật đầu tiên mà bà ấy vứt đi lại chính là chiếc ba lô bên trong đựng những thứ ngày xưa tôi mang ở chiến trường về. Thật phúc đức cho tôi. Không hiểu tại sao mà ngay tối hôm đó tôi lại đột nhiên hỏi vợ về chiếc ba lô
      -Em vứt đi rồi- Vợ tôi trả lời gọn lỏn- Giữ làm gì những thứ ấy cho nó bẩn nhà.
Lời vợ tôi nói chưa dứt thì đã hứng ngay hai cái tát thẳng cánh. Mắt tôi vằn đỏ. Tôi chỉ thẳng tay vào mặt vợ giọng rít lên
      -Ngày mai mà cô không lấy lại được những thứ ấy mang về thì cô ra ngay khỏi nhà đấy. Rõ chưa?

Vợ tôi sợ xanh mắt. Cũng lạ, tôi thì nổi tiếng sợ vợ còn vợ tôi thì lại nổi tiếng là đỏng đảnh, hơi một tý là hờn dỗi đến mấy ngày thế mà lần ấy cô ta lại không hề hờn dỗi lại còn tìm mọi cách xoa dịu sự tức giận trong tôi.
Ra đến ngoài đường thằng Diu mới bảo Hôm nay trung đoàn tổ chức họp mặt những chiến sĩ cũ của trung đoàn đang sống ở Hà Nội. Có đại diện của trung đoàn từ trong Tây nguyên ra
Nơi gặp mặt là nhà của một  người ngày trước chiến đấu ở trung đoàn. Chúng tôi đến nơi thì mọi người đã khá đông đủ. Mừng mừng tủi tủi. Ba mươi năm sau khi rời quân ngũ  chúng tôi mới lại gặp được nhau. Những kỉ niệm xưa sống lại trong lòng. Nhiều người không cầm nổi nước mắt.
      -Thằng Chung Tý Bìu đâu nhỉ. Sao tao không thấy nó?
      -Mày còn nhớ hồi ở 601 không? Mày sơi nguyên một quả US thế mà không chết mới tài chứ
      -Thằng Long ở cối 160 kìa. Long, lại đây, nhìn thấy mày là tao lại nhớ đến ông Thạch lúc ông ấy chửi mày “Long ơi! Mày bắn chết bố mày rồi”
Người có tên là Long chạy lại, cười toe toét
      -Phúc tổ bẩy mươi đời nhà các ông. Hôm ấy quả cối 160 mà nổ thì cả cái tiểu đoàn bộ của các ông đi rồi.
Mọi người ồn ào cười nói. Người ngồi , người đứng, túm tụm thành những đám nhỏ năm sáu người một nhắc lại những kỉ niệm ngày xưa. Đột nhiên một ai đó hô lớn
      -Nghiêm!
Tất cả bỗng im phắc. Mọi người đứng cứng người đưa tay lên chào. Tôi nhìn ra, một người mái tócđã bạc gần hết , chân đi tập tễnh  vừa bước vào phòng. Một người đeo quân hàm trung tá, chắc người này vẫn còn phục vụ trong quân đội chạy lên phía trước dập mạnh gót giầy.
      -Báo cáo sư trưởng, tôi , trung tá Nguyễn Thành hiện đang là trung đoàn trưởng trung đoàn 66 xin vui mừng được đón sư trưởng đến gặp mặt với anh em trong trung đoàn
Ông già cười xòa. Tôi nhận thấy ông đang cố nén xúc động.
      -Thôi mà , cậu làm gì mà trịnh trọng thế. Bây giờ thì còn sư trưởng với sư chiếc gì nữa. Tớ đến đây với tư cách là một người lính của trung đoàn thôi
Nói xong, ông quay ra phía chúng tôi, xua xua tay.
      -Thoải mái đi. Hôm nay không có sư mới sãi gì hết. Tất cả là những thằng lính của một trung đoàn hai lần anh hùng. Thế thôi.
Tôi quay sang hỏi nhỏ thằng Hường ,một thằng bạn cùng nhập ngũ với tôi trong trường đại học. Nó hiện vẫn trong quân đội đeo hàm đại tá.
      -Ông nào đấy mày.?
Thằng Hường trợn mắt nhìn tôi.
      -Người đã cứu mày mà mày không biết là ai à?
Nói rồi nó túm lấy tay tôi lôi ra chỗ ông già
      -Thủ trưởng, thủ trưởng có biết thằng này không?
Ông già nhìn tôi lắc đầu cười.
      -Làm sao tớ nhớ hết được các cậu
      -Thằng này thủ trưởng chưa gặp nhưng nhất định thủ trưởng sẽ nhớ nó. Nó là thằng sống sót duy nhất trong khẩu đội cối 82 mà thủ trưởng đã phải xuống tận trung đoàn đích thân chỉ huy để lấy xác tử sĩ trong trận cắt đường 14 đấy.
Ông già ngạc nhiên nhìn tôi. Ông ồ lên một tiếng.
      -Người ấy là cậu à? Mạng cậu lớn thật đấy
Ông xúc động. Tôi cũng xúc động.

Logged
3m_h0k_t1n
Thành viên
*
Bài viết: 10


« Trả lời #102 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2009, 02:21:31 pm »

Hồi  ấy tôi là lính trong khẩu đội cối 82 của trung đoàn. Trung đoàn được giao nhiệm vụ cắt đường 14, khẩu đội cối được bố trí ngay trên đỉnh một quả đồi trông xuống con đường. Đường 14 vốn là cái cuống họng của thị xã plâycu nên khi đường bị cắt đến ngày thứ ba thì địch bất ngờ đổ một lữ đoàn dù đến đoạn bị ta cắt để giải tỏa con đường.Thế là khẩu đội tôi bị vây giữa một lữ đoàn dù. Chúng tôi đánh nhau suốt từ sáng đến chiều. Cối dựng thẳng đứng nòng lên trời thả đạn. Địch không sao lên được nhưng chúng tôi cũng không phá nổi vòng vây. Đến chập tối thì hết đạn. Mấy anh em chỉ còn độc một quả US cuối cùng. Chúng tôi nhìn nhau, không ai nói với ai , tất cả chui vào chiếc hầm chữ A. Tôi đưa cho khẩu đội trưởng quả US cuối cùng rồi tất cả nắm lấy tay nhau. Địch đã lên đầy cửa hầm. Chúng tôi tất cả đều nhìn người khẩu đội trưởng . Cả năm cái đầu đều gật. Người khẩu đội trưởng rút chốt quả US. Chúng tôi nhắm mắt lại. Nhưng không. Thay cho việc cho nổ quả US để chết cùng nhau, người khẩu đội trưởng lại ném quả US cuối  cùng lên trên miệng hấm. Trái US nổ, địch kêu la inh ỏi rồi một loạt những trái US ném xuống hầm. Tôi không còn biết gì nữa. Khi tỉnh lại tôi thấy mình đang nằm trong quân y viện.
      -Cậu có biết không, hồi đó sau hai lần trung đoàn xuất kích mà vẫn không lấy được xác các cậu ,trung đoàn đã phải đề nghị lên sư cho bỏ xác tử sĩ- Ông bồi hồi nhớ lại. Chúng tôi ngồi xúm quanh ông im lặng nghe ông kể- Đối với tớ, đó là một quyết định thật khó khăn. Về nguyên tắc để đánh một lữ đoàn chúng ta cần ít nhất hai trung đoàn tham chiến thế mà lúc đó trong tay tớ không còn một trung đoàn nào ,mà bỏ xác các cậu lại như đề nghị của trung đoàn thì tớ thấy có tội với các cậu
      -Sau phải làm thế nào hả thủ trưởng?
Một người hấp tấp hỏi chen vào. Ông cười
      -Còn giải quyết thế nào nữa. Phải đánh thôi. Tớ cắt một tiểu đoàn của thằng 24 cho đánh rát những vùng ven thị xã làm địch phải rút bớt lực lượng về đấy. Còn tớ thì xuống thẳng trung doàn đích thân chỉ huy trận ấy. May mà lấy được xác các cậu.
Ông dừng lại. Mắt ông mờ đi, xa xôi. Đột nhiên ông đặt tay lên vai tôi, nhìn thẳng vào mắt
      -Cậu có biết để cứu sống được cậu trận ấy trung đoàn đã tổn thất thế nào không?
      -Không ạ
      -Gần hai mươi người. Chính xác là mười bảy người đã hi sinh để cứu sống cậu.-Tôi cúi mặt nhìn xuống đất. Ông nhìn khắp lượt chúng tôi rồi nói giọng trầm trầm-Hãy sống cho xứng đáng với những người đã chết.
Cuộc gặp mặt tan, tôi với mấy thằng bạn học cùng nhập ngũ ngày xưa kéo nhau vào một quán bia. Tôi hỏi thằng Hường, thằng duy nhất trong chúng tôi vẫn còn phục vụ trong quân đội.
      -Sao hôm nay mày không đeo quân hàm cho oách?
      -Làm sao tao dám đeo quân hàm đại tá trước mặt một người đáng lẽ phải đeo quân hàm cấp tướng
Tôi ngạc nhiên
      -Mày nói thế nghĩa là quân hàm của ông ấy còn thấp hơn mày sao?
Nó buồn bã gật đầu.
      -Không những thấp hơn mà còn phải nói rằng ông ấy không còn gì cả
Tôi túm lấy vai nó lắc mạnh.
      -Sao lại thế?  Mày nói đi
Nó vớ lấy vại bia tu ừng ực như muốn nuốt tất cả những uất ức  vào trong lòng. Nó dằn mạnh chiếc vại không xuống bàn. Mắt nó đỏ kè.
      -Sau khi chiến tranh kết thúc, mấy năm sau người ta phát hiện ra trong khi khai lí lịch để kết nạp đảng ông đã không khai bố mình là thành phần địa chủ. Thế là người ta khai trừ ông ra khỏi Đảng, tước quân tịch, đuổi ông ra khỏi quân đội.
Tôi nắm chặt lấy mép bàn, người run lên vì phẫn nộ.
      -Sao lại thế được. Có thể khai trừ ra khỏi Đảng nhưng làm sao có thể tước quân tịch đuổi ông ra khỏi quân đội được.Khi gọi ông ấy nhập ngũ sao người ta không thấy ông ấy là con cái địa chủ?
Thằng Hường thở dài cay đắng
      -Mày còn lạ gì tình hình bộ quốc phòng trong những năm tám mươi ấy nữa.
Tất cả chúng tôi đều im lặng, chán nản, thất vọng. Chẳng lẽ cầy cáo chết chó săn bị làm thịt vẫn còn trong thời đại vũ trụ này?
             
     
Logged
3m_h0k_t1n
Thành viên
*
Bài viết: 10


« Trả lời #103 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2009, 02:22:20 pm »

                                                                *
                                                                *           *
Không hiểu sao từ lúc thằng Hường nói cho chúng tôi biết về số phận của người sư trưởng , tôi lại mong muốn gặp ông. Nhất là khi tôi được biết thêm rằng sau khi ông bị đuổi khỏi quân đội ông đã phẫn chí tẩm xăng vào người tự thiêu. Người tự tử thì có nhiều nhưng rất ít người tự tử bằng cách đau đớn này. Phải có điều gì đó đổ vỡ ghê gớm lắm người ta mới chọn cách này để chết. Và tôi muốn biết sự đổ vỡ đó. Tôi xin địa chỉ ông từ thằng bạn và quyết định đến thăm ông.
Nhà ông ở là một hiệu bán phở ở khu Thanh Xuân. Khi tôi đến, ông nhận ngay ra tôi. Ông ấn tôi ngồi xuống một chiếc bàn.
      -Ngồi xuống đây làm với tớ một chén rượu đã- Rồi ông quay lại nói với bà vợ-Này bà nó, cho chúng tôi một đĩa gì để lai rai. Lâu lâu rồi  tôi mới được ngồi với một thằng lính của mình.
Tôi định chối từ thì bà vợ ông đã bảo
      -Chú cứ ngồi chơi với ông nhà tôi cho vui. Đừng ngại. Các chú ấy đến đây luôn ấy mà.
Nói rồi bà mang ra cho chúng tôi một đĩa cổ cánh gà đầy vật . Thấy tôi có vẻ áy náy bà cười.
      -Chú thấy mất một đĩa thịt gà hơn hay là mất một ông chồng yêu quý hơn? Nhờ có các chú đến chơi mà ông nhà tôi mới vui vẻ được như thế này đấy.
Ông đỏ mặt.
      -Sao bà cứ luôn nhắc đến cái chuyện dại dột của tôi mãi thế?
Bà vợ lườm ông.
      -Ông chả dại thì khôn với ai. Chỉ vì một chút danh hão mà suýt mất mạng. May mà thằng cả kịp thời nhìn thấy không bây giờ người ta xuống Văn điển phong cho ông quân hàm cấp tướng.
Ông cười , rót rượu ra chén.
      -Thôi tôi xin bà. Bà để anh em chúng tôi còn uống rượu. Uống đi cậu.
Ông cầm chén tợp một ngụm lớn. Rượu vào mặt ông tái đi. Ông cầm cái chén, xoay xoay nó trên tay. Trầm ngâm một lúc bỗng ông nói với tôi
      -Lạ thật đấy cậu ạ. Lúc khó khăn ác liệt, cái sống và cái chết chỉ cách nhau một sợi tóc thì không một ai nghĩ đến công danh nhưng đến khi thanh bình rồi thì hai chữ công danh sao mà lớn thế ai cũng cố giành lấy. Không giành được thì trở nên hậm hực phẫn chí. Thật ngu hết sức.
Tôi cười hỏi ông
      -Có phải chính vì hai chữ công danh ấy mà thủ trưởng suýt mất mạng không?
      -Có lẽ cũng vì nó thật- Ông gật đầu công nhận-Cậu thử nghĩ xem, đang ở đỉnh cao quyền lực. Đi đến đâu người ta cũng đứng nghiêm chào. Mở mồm là nghe thấy hai tiếng “Báo cáo”, “Thưa tư lệnh” đùng một cái rơi xuống đáy vực “ Tên lừa dối đảng” Đau lắm chứ. Hận lắm chứ. Cậu không biết đấy thôi. Quyền lực làm người ta nghiện còn ghê gớm hơn cả ma túy. Một kẻ nghiên ma túy chỉ có thể làm hại đến chính bản thân mình. Cùng lắm là làm hại thêm cho vợ con hắn. Nhưng một kẻ nghiện quyền lực thì có thể làm hại cho hàng chục, hàng trăm , thậm chí hàng nghìn con người. Thật may mắn cho tớ, tớ chỉ mới bắt đầu chớm mắc nghiện thứ ma túy “Quyền lực” ấy. Vẫn còn kịp cai nghiện.
Ông cười thoải mái, nét mặt ông dãn ra.
      -Thì cái cú kỉ luật ấy là liều thuốc cai nghiện bắt buộc rồi còn gì. Thủ trưởng không cai cũng không được.
      -Cậu nhầm rồi. Nếu chỉ một cái quyết định kỉ luật mà có thể cai được cơn nghiện quyền lực thì sao có thể gọi nó là ma túy được.- ông hăng hái xua xua tay  phản đối ý kiến của tôi- Cũng giống như  thằng nghiện khi không có tiền mua ma túy không được hút nó bị cơn nghiện vật . Quyền lực cũng vậy, khi nghiện nó rồi người ta sẽ dùng mọi thủ đoạn để giành lấy bằng được nó . Lúc đó thì không còn tình nghĩa, không còn đồng đội. Chỉ còn quyền lực và khi dùng mọi thủ đoạn rồi mà vẫn không giành được nó thì bóng ma của nó sẽ ám ảnh anh suốt cả cuộc đời. Cậu cứ lên mạng đọc thì sẽ thấy. Bao nhiêu kẻ cả cuộc đời chiến đấu cho mảnh đất này thế mà về cuối đời vì cơn nghiện quyền lực đã quay lại chửi cả một quá khứ của chính mình. May cho tớ là có các cậu nếu không không biết tớ còn u mê đến bao giờ.
Điều ông nói làm tôi rất ngạc nhiên. Không biết tại sao chính chúng tôi lại làm ông cai được cơn nghiện quyền lực trong ông. Tôi dè dặt hỏi lại
      -Thủ trưởng bảo sao? Chính chúng tôi làm thủ trưởng cai được cơn nghiện
      -Đúng đấy.- Ông gật đầu- Hồi ấy tớ chỉ mới chớm nghiện thôi. Trong tớ hồi ấy vẫn còn hai tiếng “Đồng đội”.và “Danh dự”. Điều lúc ấy tớ sợ nhất là các cậu coi thường tớ, khinh bỉ tớ. Khi nghe tin tớ tự tử thằng Hiên , chính ủy sư đoàn ,hồi ấy nó đã được phong tướng đang họp ở Hà Nội cùng một lô những anh em cũ chạy đến bệnh viện thăm tớ. Trước mặt bao nhiêu người , trong lúc người tớ vẫn còn quấn đầy băng, nó giáng cho tớ một cái tát đến nẩy đom đóm rồi quát
      -Đồ ngu ! Lúc mày lao lên cửa mở mày có nghĩ đến cái quân hàm cấp tướng không?.
Ông lại cười. Một nụ cười tươi rói
      -Ừ, nó  nói đúng. Mình ngu thật. Trước cửa mở mà nghĩ đến công danh thì người ta lùi xuống chứ ai còn dám lao lên. Đến lúc mọi người từ biệt ra về, không ai bảo ai, tất cả đều đứng nghiêm dơ tay lên vành mũ chào tớ mà toàn bọn cấp tá làm cả phòng bệnh phải ngạc nhiên. Điều đó làm tớ xúc động. Tớ biết, tớ vẫn còn trong lòng các cậu.
Ông nhìn tôi, thấy chén rượu của tôi vẫn đầy nguyên. Ông dục
      -Uống đi chứ. Mà khi ra khỏi quân đội cậu quân hàm gì nhỉ?
      -Tôi là trung úy ạ.
Ông hắng giọng rồi nói to
      -Đồng chí trung úy
      -Có tôi
      -Sư trưởng sư mười hạ lệnh cho đồng chí uống cạn chén rượu ngay lập tức
      -Rõ
Tôi cười nâng chiến rượu lên cụng li với ông và một hơi uống cạn chén rượu.

 
Logged
3m_h0k_t1n
Thành viên
*
Bài viết: 10


« Trả lời #104 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2009, 02:22:32 pm »


                                                                     *
                                                             *               *

 
Hai năm sau, một hôm tôi nhận được điện thoại của thằng Hường. Nó báo tin ông chết. Tang lễ được cử hành tại nhà tang lễ Thanh nhàn. Hội cựu chiến binh của sư đoàn quyết định những người lính của sư đoàn đến dự tang lễ tất cả đều phải mặc quân phục. Tôi vội vàng mặc quân phục đến đưa ông.
Tôi đến nơi, nhà tang lễ đã đầy nghẹt lính. Hai hàng quân danh dự mặc lễ phục trắng toàn là những đại tá mái đầu đã trắng phớ.Đứng đầu hai hàng quân danh dự là hai vị tướng.  Không có súng, ban tổ chức đã có sáng kiến lấy những cây gậy gỗ thay cho súng để bồng.
Từng tốp lính nối đuôi nhau đi quanh linh cữu ông vĩnh biệt người chỉ huy của mình trong tiếng nhạc của bài hồn tử sĩ trầm buồn. Tất cả chúng tôi bằng mọi phương tiện đều tìm cách xuống tận dưới Văn điển. Khi mộ được đắp xong vị tướng vốn ngày trước là chính ủy sư đoàn hô lớn.
      -Tập hợp.
Chúng tôi im lặng xếp thành đội ngũ. Một khối lính vuông vắn. Rất nhiều người phải đứng giữa những vũng nước cho đội ngũ được chỉnh tề. Chính ủy hô đanh, gọn
      -Bồng súng! Chào!
Rập! những cây súng gỗ của hàng quân danh dự rắp lên vai. Chúng tôi ưỡn ngực, đứng nghiêm nhất loạt đưa tay lên vành mũ.
Đúng lúc ấy, một chiếc U Oát phóng vào. Chiếc xe đầy bụi đất. Nó đã phải chạy từ rất xa đến đây. Cửa xe mở, Một viên trung tá nhẩy vội ra tay ôm theo một vật được bọc trong lá quân kì màu đỏ. Tôi nhận ra đó chính là trung tá Nguyễn Thành trung đoàn trưởng trung đoàn 66. Anh đến trước mộ, đứng nghiêm chào rồi quay ra nói với mọi người.
      -Thưa các thủ trưởng, Thưa toàn thể các đồng chí. Bộ tư lệnh sư mười không thể ra đưa tiễn sư trưởng Trần Đoàn được . Sư đoàn có ủy quyền cho tôi, trung đoàn trưởng trung đoàn 66, trung đoàn mà ngày trước sư trưởng vốn là lính và đồng thời cũng là trung đoàn trưởng của trung đoàn mang một tấm bia để dựng trước mộ sư trưởng.
Nói rồi anh từ từ mở lá quân kì lấy ra một tấm bia kính cẩn chôn ngang hàng với tấm bia của gia đình. Trên tấm bia chỉ khắc mấy dòng chữ
                                               Tướng
                                            Trần Đoàn
                                        Sư trưởng sư 10
Tất cả chúng tôi cúi đầu mặc niệm.
Tôi đợi cho mọi người về hết. Chỉ còn lại một mình. Tôi đến bên mộ ông thắp một nén hương cắm lên mộ. Tôi nói to thành tiếng
 -Xin ông yên nghỉ. Ông mãi mãi là một vị tướng trong lòng chúng tôi,những người lính của ông.
 
                                                             Hà nội ngày 9-3-2009
Logged
ngọc trong đá
Thành viên

Bài viết: 2


« Trả lời #105 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2009, 01:49:32 pm »

HỌ ĐÃ TRỞ THÀNH ĐÀN ÔNG

    Tiếng người dẫn chương trình rành rọt vang trên loa phóng thanh:


- Sinh viên năm thứ tư khoa Văn trường đại học X, Phạm Vân Ngọc với tham luận: "Sự hy sinh - Những giá trị đích thực của nó thông qua số phận người phụ nữ trong chiến tranh giữ nước".


Đã gần hết giờ buổi sáng của hội thảo khoa học sinh viên khoa Văn các trường đại học. Hội trường ồ lên - Lại chiến tranh, đây có phải văn đàn đâu, lật xới làm gì mảng hiện thực cũ mèm ấy - Rách việc thế, chiến tranh thì can hệ gì đến hội thảo khoa học này - Mà biết quái gì về chiến tranh - Nữ sinh viên Vân Ngọc thoáng chút ngập ngừng. Rồi cô mạnh dạn từng bước một, đĩnh đạc tiến lên bục diễn đàn. Dáng vẻ dứt khoát ấy, cộng vào tà áo dài trắng tha thướt và một khuôn mặt đẹp dịu dàng, bất ngờ làm hội trường ồn ã ắng hẳn đi. Bằng một giọng run run, cô trình bày quan điểm của mình dựa trên các luận cứ khoa học đã được thử thách và một loạt dẫn chứng minh họa. Tham luận rất ngắn. Thoạt đầu chẳng có gì đáng nói. Hội trường im lặng. Thứ im lặng miễn cưỡng và có phần thờ ơ. Vấn đề không mới. Sự hy sinh ấy thời gian đã nghiền ngẫm nó đầy đủ. Chỉ đến phần cuối cùng của tham luận, nữ sinh đặt vấn đề trên nền một dẫn chứng cá biệt, lạ lẫm thì hội trường hoàn toàn sôi động. Có mặt ở cuộc hội thảo, ngoại trừ số ít các nhà văn, nhà lý luận, nghiên cứu và giảng dạy văn học, còn đa phần sinh viên. Cô ta nói gì thế nhỉ? Sao lại thế? Hơn một nửa số người có mặt rầm lên phản đối. Tham luận kết thúc trong tiếng bàn tán, bất bình. Cô gái sững sờ. Mặt cô từ đỏ bừng chuyển dần sang trắng bệch. Phản ứng mạnh mẽ và đột ngột của người nghe khiến cô chôn chân, chết lặng. Phải đến mấy giây cô mới bừng tỉnh được. Giọng nói ai đó căng như loạt liên thanh quất mạnh vào khuôn mặt đang ngơ ngác của cô: "Đảo lộn mọi giá trị. Không cần sự hy sinh nhơ nhuốc ấy. Điên!". Cô gái rùng rùng người rồi đổ sập xuống. Một tích tắc. Cô bật dậy cũng rất nhanh, ào chạy khỏi hội trường. Vấp. Ngã. Lại vấp. Hội trường ắng đi, ngột ngạt. Không đành được, tôi băng theo. Có một cái gì đó ào ụp trên khuôn mặt ngây thơ của cô gái. Cô lau thật nhanh những giọt nước mắt đang tứa ra. Khoảnh khắc. Giọng cô gấp gáp:


- Chú! Chú từng là người lính, từng cầm bút. Chú trả lời cháu đi. Chiến tranh đã lâu sao mọi người quên nó nhanh đến vậy? Tại sao không chấp nhận sự hy sinh nhiều thua thiệt ấy? Đạo lý ư, chiến tranh mà, tại sao lại coi điều đó làm hoen ố chiến thắng? Trả lời cháu đi, kìa chú!


- Cha cháu là một trong những người đã trở thành đàn ông khi đi qua cuộc đời cô ấy. Chú đã biết điều đó. Sao chú vẫn im lặng. Chú cần phải biết thêm điều này. Mỗi khi gặp khó khăn tưởng chừng như phải gục ngã, bao giờ cha cháu cũng gượng dậy bằng được. Vì cái gì? Chính vì người đàn bà năm trước. Cho dù thời gian đã qua đi, nhân cách của cô ấy không hề bị hoen ố.


Im lặng.


- Tại sao thế? Không! không! chú trả lời cháu đi. Đừng im lặng, chú. Cháu van chú. Sao? chú nhẫn tâm thế. Độc ác!


Im lặng.


Tôi xiết chặt tay cô gái. Bằng một sức mạnh của sự đổ vỡ, cô vằng khỏi tay tôi và vùng chạy thật nhanh. Tôi đứng lại. Loa phóng thanh lại vang rành rọt:


- Sinh viên năm thứ tư trường đại học Z Nguyễn Trung Hiếu với tham luận: "Thi pháp ảo trong thơ điên của Hàn Mặc Tử".


Năm ấy chị hai mươi hai tuổi và tròn một tuổi quân.


Đó là quãng thời gian ác liệt nhất của chiến tranh chống Mỹ. Binh trạm của chị nằm kề sát mặt trận. Những đoàn quân sau chặng dài hành quân mệt mỏi, nằm tập kết tại binh trạm để rồi tỏa ra khắp các hướng chiến trường. Chị là chiến sĩ quân lương. Kho của chị nằm giữa một cánh rừng đại ngàn. Tiếng là đại ngàn sóng bom đạn đã phát đi quang quẻ những tầng cây rậm rịp. Vào đến đây số chiến sĩ nữ như chị thật hiếm. Cả binh trạm vài trăm con người chỉ có dăm người là nữ. Duy nhất chị là người thành phố. Chị không đẹp - Đấy là chị tự đánh giá mình. Điều ấy đúng, nếu như chị vẫn còn ở thành phố quê hương. Nhưng ở đây, giữa hoang vắng của rừng rú, giữa nghiệt ngã của chiến tranh với vóc dáng thon thả, tóc đen mượt, nước da trắng của người thành phố lại chưa trải qua sốt rừng, chị là người đẹp nhất. Sát kho chị có một con suối. Nước lặng phắc, trong vắt. Suối không sâu nhìn thấy cả ánh vàng dưới đáy. Chị có thói quen tắm buổi sáng. Vì thói quen này chị bị phê là tiểu tư sản. Cái đó là tất nhiên đối với người chiến sĩ nữ là người thành phố. Chị có học. Văn khoa hẳn hoi. Dở đại học thì tình nguyện đi vào chiến trường.


Sáng ấy!


Hình như đã sang thu, trời lành lạnh. Mặt trời chưa lên. Sương bàng bạc. Nước bàng bạc. Da thịt chị cũng bàng bạc. Tất cả bàng bạc một mầu tinh khiết. Chị bất động giữa dòng suối như một pho tượng tạc vào thiên nhiên, im lặng tận hưởng đến cùng ban mai trong trẻo. Không có chiến tranh, không có phiền não, không có ưu tư... Mọi thứ vào giờ khắc ấy, dường như bị đẩy lùi, tan biến. Chị khỏa nước thật nhẹ. Bỗng chị ngồi thụp xuống. Có tiếng soạt khẽ. Vút từ ngọn búi lồ ô ven suối một chú gà soạch thẳng vào rừng. Đã sáng. Chị từ từ xoay lưng lại. Linh cảm phụ nữ mách bảo có người nhìn trộm thân thể chị. Giọng nói trẻ xoáy vào hõm đá.


- Đẹp quá! Hệt như thần vệ nữ.


- Vệ nữ thì tao không biết nhưng hơn đứt bọn con gái quê tao.


- Mày nhìn trộm chúng nó à?


- Không, quê tao trai gái đều tắm chung cầu ao. Dưng mà không được trắng thế kia - Có tiếng thở dài.


- Lần đầu tiên tao được nhìn con gái rõ đến thế.


- Tao cũng vậy thôi.


- Tao chưa có người yêu đã đành. Còn mày, lẽ ra đã cưới trước khi đi B, tưởng mày phải biết?


- Mày ngu thế, dễ cứ yêu là lột trần con người ta ra được à? Đừng hòng! - Giọng nói trầm hẳn xuống - Nếu muốn, tao có thể đã biết được cô ấy. Tội nghiệp, cứ giục cưới, mày bảo mình đi biết bao giờ về. Con gái có thì, tao không muốn cô ấy cột vào mình, để phải đằng đẵng chờ đợi. Bom đạn thế này biết cái gì sẽ xảy ra. Tao nhất quyết không chịu cưới. Trước hôm đi hai đứa dắt nhau ra đồng bãi, ngồi đến sáng. Cô ấy tức tưởi khóc. Thương quá. Cô ấy bảo không cưới cũng được, cứ để lại cho cô ấy một đứa con. Chiến tranh kéo dài bao lâu mặc kệ. Tiếng tăm, dư luận mặc kệ. Khổ thế nào cô cũng chịu được. Cô sẽ nuôi con chờ đợi. Bao nhiêu năm cũng vẫn đợi. Thú thật, có giây phút tao đã xiêu lòng định tặc lưỡi. May kìm được. Chắc cô ấy sẽ hiểu. Sau này dù thế nào, tao cũng nhất định tìm về cô ấy. Chỉ tiếc, có mệnh hệ gì...


- Suỵt, khẽ chứ. Ai nghe được thì chết. Tao cũng đang định nói. Đất nước loạn lạc, mình thân trai xông pha mũi tên, hòn đạn là phải.


Nhưng bom đạn biết đằng mù nào mà tránh. Tao ở thành phố, nhà không đến nỗi, lại được chiều chuộng, cái gì cũng biết cả. Hiềm một nỗi, bây giờ có nằm xuống, mình, tiếng là thằng trai lừng lững mà chưa được thành đàn ông, kể cũng tiếc.


- Thôi ra đi mày, lấy nước rồi còn về. Từ từ thôi kẻo lộ, ngượng chết.


Chị không bỏ sót lời nào. Mắt chị hút theo bóng hai người lính trẻ. Chị đã quên bẵng họ vừa trộm nhìn chị. Đoạn đối thoại vô tình của hai người lính tác động ghê gớm đến chị. Người chị ớn lạnh. Chị rùng mình. Sao nước suối bỗng dưng lại lạnh buốt thế này? Toàn thân run rẩy, chị bấu chặt tay vào gờ đá sắc cạnh. Chị nghiến chặt răng, cố đẩy lùi cảm giác buốt tê tái đang dần chiếm cơ thể chị. Có thể thế được chăng? Tại sao chị không hiểu ra điều ấy. Anh ơi, linh hồn anh có phiêu bạt, lang thang ôm niềm tiếc nuối kia không? Chị thấy mình chới với. Không! Ngã xuống là chết. Chị vận hết sức gượng dậy. Lạnh quá. Người chị rùng rùng đón nhận trăm, nghìn mũi kim buốt giá đâm vào da thịt. Không biết bằng cách nào chị lên được đến bờ, mặc quần áo và lết về đơn vị. Chị ngã vật ra sạp hầm bất tỉnh.


*
* *


Chị thấy chòng chành. Người chị nảy lên rồi giần xuống. Bom gì lạ thế. Thôi chết, sao người chị lại trôi đi thế này. Sập hầm rồi. Không phải. Chị đã bị sập hầm một lần. Chị vẫn còn nhớ. Ngạt lắm. Toàn thân bị chèn cứng. Tay chị bươm bả, quào, móc. Tất cả tối đen. Chị gắng sức gào thật to. Không được. Chị cố gắng nghĩ đến một điều gì để dẹp nỗi sợ hãi. Mẹ chẳng hạn. Không, tội nghiệp lắm. Chắc chắn mẹ không thể chịu đựng được khi thấy tình cảnh này của chị. Bố vậy. Bố hy sinh ở Điện Biên. Chị chưa một lần biết mặt bố. Bộ đội hay nhỉ. Có dịp đáo qua nhà, gửi lại đứa con, rồi đi biền biệt không về. Không ổn. Bố lắc đầu: "Nhà có mỗi mình con, đừng chết". Tốt nhất là nghĩ đến điều khác. Anh. Đúng rồi, anh cũng chết trong một trận bom tọa độ. Bom đánh trúng hầm. Đồng đội vất vả mới đưa được xác anh lên mặt đất. Tay anh vẫn khư khư chiếc bút máy Trường Sơn chị tặng. Có lẽ lúc ấy anh đang miệt mài với trang bản thảo. Nghĩ đến đấy, chị bỗng thấy trời lóe sáng. Chị nhắm chặt mắt. Có tiếng người lao xao. Đồng đội ơi. Người chị nhẹ bẫng. Sống rồi, chị òa khóc.


Ơ, sao người chị cứ trôi mãi thế này. À, chị đang đu quay ở công viên. Bị chóng mặt, sợ quá, chị thét lên gọi mẹ. Không phải mẹ. Mẹ không bao giờ áo trắng, mũ trắng. Tiếng ai đấy nhỉ? Lạ lắm: "Bốn mốt độ bốn. Mê sảng". Bóng trắng nhòa đi. Chị trôi nhanh hơn. Hóa ra chị bị sốt. Đâu thế kia? Cầu Long Biên. Phải rồi. Vẫn còn khói bom khét lẹt. Cầu vừa mới bị bom bứng đi mất một nhịp giữa. Tiếng ai đó: "Trung đội khoa Văn đâu rồi? Nhanh lên. Văn với viết các bố là chúa lề mề đấy". Cháy. Rốc két bắn vào khu lao động Phúc Tân. Cháy ghê quá. Chị chạy ra mép sông. Xác một con đò vật vờ trên sóng, một đầu dềnh vào bãi cát. Chị chõ loa xuống mặt nước: "Có ai bị thương không?". Sông rền rền hú lại: "... Thương... Không...". Chị bật cười. May, ai nhìn thấy thì chết. Đồng bào đang lâm nạn, mình lại cười, vô duyên thế. Anh vẫn mắng đùa chị vô duyên. Ghét thật. Đi mà tìm duyên khác mặn mòi. Mẹ bảo: "Con gái vô tâm hay cười, sau này lấy chồng sẽ khổ". Mẹ ơi, thế thì con sẽ ở với mẹ suốt đời, lấy chồng làm gì cho khổ. Nhưng kệ, khổ mà được cười là tốt rồi mẹ ạ.


Chị vẫn trôi nhanh. Bây giờ có cảm giác chị bay thì đúng hơn, chị đã lên đến sân thượng. Anh đâu rồi, chậm thế. Ban nãy chị hỏi: "Có dám lên sân thượng chết cho tình yêu không?". Trả lời: "Mai tớ đi B rồi. Sợ đếch". Chị từ nơi trường sơ tán cố về kịp để tiễn anh. May quá, còn trọn cả một đêm. Ngồi cạnh nhau, chị muốn tựa vào anh mà vẫn cố tình nhích xa thêm. Điệu thế mới là con gái. Anh hỏi: "Học khổ không?". Vờ vẫn, ai chả biết vừa tốt nghiệp đã được bổ làm phóng viên mặt trận. Đây mới năm thứ ba. Thời gian nhanh lắm nhé. "ờ nhanh, nào hôn đi". Phải mọi khi xem, chị sẽ làm bộ giận. Còn hôm nay, chị ngả hẳn người vào anh. Người đâu tham thế, ngạt quá. Còi hú. Mặc kệ. Còi lại hú. Báo động cấp ba rồi. Mặc kệ. Xoẹt trên đầu, sao nó bay thấp thế. Đạn cao xạ lừ lừ bay, nở đầy trời. Bom nổ, hắt lên những quầng sáng vàng vọt. Ngôi nhà tầng chao đảo. Anh áp thân thể che kín người chị: "Xuống nhé?". Không, chị lại cồn cào tìm môi anh. Mảnh văng rào rào. Anh gằn giọng: "Thôi đi xuống . Nguy hiểm lắm". - "Anh sợ à?". - "Không. Anh lo cho em". Chị lắc đầu. Giọng chị xa xôi: "Em muốn ở bên anh mãi mãi". Lòng chị rộn ràng, chị xiết chặt anh như muốn truyền sang cho anh tất cả những gì chị có. Tình yêu. Cả thành phố lửa cháy rừng rực. Sân gác thượng hồng lên. Bỗng chị thảng thốt:


- Không! Không được đâu anh.


- Anh yêu em!


- Đừng, đừng. Đó là điều thiêng liêng. Em không muốn nó xảy ra vào lúc thảm khốc này.


- Em yêu. Mai anh đi rồi. Vào lúc nào nữa?


- Bao giờ chiến thắng, anh về và cưới em.


- Nhưng bao giờ thì chiến thắng. Mười năm hay một trăm năm?


- Em không biết.


- Chả nhẽ chúng mình cứ phải đợi mãi?


- Đừng, đừng nói thế. Hãy tin em. Tình yêu của em.


Sau đó chị khóc rất lâu. Anh thầm thì xin lỗi. Không, anh không có lỗi gì cả. Chúng mình yêu nhau cơ mà. Em chỉ muốn...


Hừng đông đã rạng. Chị thấy thương anh vô cùng. Thành phố lúc ban mai trở nên yên tĩnh lạ thường. Dường như tất thảy những gì xảy ra trong đêm đều không phải là sự thật. Chị thấy tĩnh tâm trở lại. Anh cũng thế. Cái đêm đau đớn ấy của chiến tranh như đã lùi thật xa. Anh nồng nàn hôn chị. Chị hiểu rằng nỗi đau đớn của chia ly bây giờ mới thực sự bắt đầu.


*
* *


Logged
ngọc trong đá
Thành viên

Bài viết: 2


« Trả lời #106 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2009, 01:51:19 pm »

HỌ ĐÃ TRỞ THÀNH ĐÀN ÔNG


*
* *


Trận sốt ác tính quật chị nằm hơn hai tháng trời tại bệnh viện của mặt trận. Bệnh tật tàn phá ghê gớm cơ thể chị. Nhưng điều đó cũng chẳng quan trọng lắm. Câu chuyện xảy ra bên bờ suối sáng ấy hằn vết vào tâm hồn chị. Chị nhớ lại ngày nhận được tin anh hy sinh. Chị đã nấc lên. Nấc nghẹn ngào mà không hề có nước mắt. Thì ra thế, nước mắt không thể dành cho những nỗi đau đến tận cùng. Anh ơi, đau đớn quá. Thời gian nào có xa, mới chỉ cách đêm chia tay không đầy ba tháng. Người chị rộc đi. Chị sụm xuống. Có lẽ những ngày ấy nếu không có mẹ, chắc hẳn chị đã hoàn toàn gục đổ vì tuyệt vọng. Tấm lòng của người mẹ từng nếm trải đau đớn của mất mát, với nỗi cảm thông vô bờ, đã tỏa truyền hơi ấm, sưởi nóng trái tim, tưởng chừng đã lạnh băng của chị. Chị xin phép mẹ đặt ảnh anh lên bàn thờ bố. Rồi chị tình nguyện vào chiến trường. Mãi mãi chị biết ơn mẹ. Chiến tranh khốc liệt đã nhanh chóng cuốn chị vào guồng quay khổng lồ của nó. Chị hy vọng bằng trách nhiệm của người lính, bằng thời gian chị sẽ phần nào nguôi ngoai nỗi đau đớn mất anh. Nhưng buổi sáng khắc nghiệt ấy đã tàn nhẫn quất mạnh vào vết thương của chị. Vết thương chưa kịp lành miệng lại bật ra, túa máu. Anh có thế không? Nếu linh hồn anh đang lang thang với niềm tiếc nuối kia thì chị quả là có tội. Sao đêm ấy, chị không dâng hiến tất cả sự trinh bạch của đời con gái cho anh? Sao lại không? Chị ân hận quá chừng.


Ý nghĩa ấy ám ảnh dày vò chị. Buổi rời viện về đơn vị, một mình trên con đường mòn xuyên rừng, nỗi ám ảnh ấy càng gia tăng khủng khiếp. Cứ mỗi bước đi, chị lại thấy anh ở đâu đó. Lần thì chị thấy anh thấp thoáng sau một gốc săng lẻ già. Tiếng anh thoảng trong gió: "Anh yêu em". Có lúc chị lại thấy anh bị treo lơ lửng giữa những tầng cây. Người anh đầy máu. Tiếng anh đứt quãng: "Bao giờ thì hòa bình hả em?". Chị cố bước thật nhanh không dám trả lời. Trong hoang vắng của rừng, cái hoang vắng mà từ lâu chị đã quen thuộc không hề sợ hãi, nỗi ám ảnh ấy cứ lớn mãi, lớn mãi, dày vò chị không ngừng. Có lúc không đành được chị phải dừng lại. Vẫn anh, cánh tay băng bó và khuôn mặt đầm đìa máu, tay kia anh thả từng trang bản thảo. Gió tạt những tờ giấy về phía chị. Tiếng anh: "Đọc đi em. Nhật ký chiến trường đấy. Có em nửa phần trong ấy". Chị ôm lấy đầu. Chị không thấy sợ hãi. Càng tuyệt nhiên không thấy trống vắng, cô đơn. ý niệm cô đơn kể từ ngày anh mất đã không còn tồn tại trong chị. Chị dừng lại giản đơn chỉ vì thấy tủi thân quá. Chị òa khác. Lẫn trong nước mắt, trong tiếng nấc nghẹn ngào, là âm thanh tức tưởi: "Nhưng tôi có tội tình gì?". Không có ai trả lời chị. Chị khóc càng lớn. Nỗi tủi quạnh dâng đầy. Khóc chán chị lại đi. Bây giờ chẳng có ai dỗ dành chị cả.


Mẹ ở xa quá. Chị đi đến bờ một con suối rất rộng. Trong veo. Chị ngắm mình dưới nước. Chị bàng hoàng không nhận ra nổi mình. Sau cơn sốt chị như già đi hàng chục tuổi. Chị thấy cả bóng anh bên cạnh, anh tư lự. Chị thảng thốt: "Anh chán em rồi sao?". Thoắt cái bóng anh biết mất. Chị sợ hãi ngẩng tìm. Anh đã ở bên kia con suối. Tiếng anh xa rền: "Yêu em mãi đến ngàn năm". Anh vừa dứt lời, nước suối bỗng réo ùng tục. Tiếng nó rên rỉ phía thượng nguồn. Đất dưới chân chị rùng rùng chuyển. Nước biến thành mầu máu đỏ, ào lên. Thôi chết, lũ, lũ lớn. Chị quáng quàng quay trở lại. Nước bén gót. Chị bám vội vào một thân cây leo thật nhanh. Bỗng chị giật mình. Có tiếng người ở trên cao: "Đừng sợ lính T10 đây. Chị ở kho binh trạm phải không? Lũ cường đấy, leo nhanh lên". Nước tiếp tục dâng cao. Chị và người lính trẻ tìm được một chạc cây có thể nghỉ tàm tạm. Mưa tạt xối xả. Lẫn trong tiếng mưa, thoảng ầm ì tiếng động cơ máy bay C130. Tiếng ầm ì nặng dần. Phút chốc cánh rừng ngập nước bỗng run bần bật. Uột... ù... ộ... uột... Đạn bốn mươi ly vãi tung tóe từng tràng. Chị nép người dưới chạc cây. Một loạt đạn nổ sát sạt. Mảnh cây cứng ráp bị đạn băm trúng, văng khắp người chị. Lại một loạt đạn nữa gần hơn. Người lính đẩy chị xuống, lấy thân mình đè lên che cho chị. Chạc cây chao động. Một quầng lửa lóe sáng. Mái tăng hai người vừa căng để che mưa bị bốc gọn. Thiếu chút nữa cả chị và người lính trẻ đã bị hất tung xuống nước. Hơi thở người con trai xa lạ phả nóng rực một bên tóc chị. Chị có cảm giác mình đang ở trên sân thượng đêm nào và nỗi ám ảnh ấy lại ùa đến. Chị đột ngột quyết định. Chị vít mạnh đầu chàng trai áp vào ngực mình. Thực ra ý định dâng hiến sự trinh bạch của chị đã mãnh liệt ngay từ loạt bắn đầu tiên của kẻ thù. Có lẽ không phải thế, ý định ấy đã đến với chị từ trước. Nó hình thành ngay từ buổi sớm hôm nào bên bờ suối. Chị không hề đắn đo. Còn đắn đo gì nữa, biết đâu chỉ trong khoảnh khắc cả chị và người lính sẽ không còn. Chàng trai trẻ thế. Không, em ơi hãy nhận một chút ít tâm hồn chị để trở thành người đàn ông chân chính, để đừng phải mang niềm tiếc nuối đơn giản kia, nếu chẳng may em vĩnh viễn ra đi từ cuộc chiến tranh khốc liệt này.


Người lính thoáng chút ngỡ ngàng. Rồi anh chợt hiểu. Anh run rẩy áp thân thể thanh xuân của mình vào chị. Tràn ngập trong cảm giác hạnh phúc đến mãn nguyện. Chị nín thở cố giữ thật lâu niềm hạnh phúc ấy. Hạnh phúc ơi! Đấy là nỗi ám ảnh đã dầy vò chị. Đấy là mất mát chia ly làm đau đớn chị. Đấy là niềm nuối tiếc trẻ trai, chị cần san sẻ. Đấy là sự dâng hiến của chị. Hạnh phúc. Dòng máu ấm, âm ỉ lan tỏa khắp cơ thể chị. Nước bỗng rút. Mưa bỗng tạnh. Đạn ngừng nổ. Tiếng máy bay câm bặt. Và thời gian ngừng trôi.


Chị hoàn toàn mãn nguyện. Sau này, khi có những chàng trai trẻ đi qua cuộc đời chị, trở thành đàn ông, chị vẫn giữ nguyên vẹn được cảm giác mãn nguyện của lần đầu tiên dâng hiến. Người lính trẻ xúc động tràn nước mắt: "Chị, đời con gái của chị...". Lúc ấy, chị khe khẽ lắc đầu. Hình như chị đã mỉm cười. Chị âu yếm vuốt tóc người lính. "Đừng khóc em. Kìa nín đi. Đàn ông sao lại khóc". Chị thoáng thấy bóng anh. Mặt anh rạng rỡ. Nỗi ám ảnh nhẹ dần. Đúng là chị đã mỉm cười. "Suốt đời, không bao giờ em quên được chị". Chẳng cần phải thế đâu em. Chị hạnh phúc lắm rồi.


Cảm giác mãn nguyện của hạnh phúc làm chị vững tin. Vững tin đến lạ thường. Ngay cả lúc chị đứng trước cơn giận dữ của đồng đội đang kết tội chị, chị vẫn thấy lòng mình thanh thản. Chị im lặng đón nhận sự giận dữ tất yếu ấy.


Chị không nói một lời thanh minh. Thanh minh điều gì nữa. Mọi thứ đã rõ ràng. Chị thấy thương đồng đội của mình. Họ tốt quá. Họ vất vả vì chị. Chị biết ơn họ. Đồng đội ơi, tôi xin gánh chịu tất cả. Chỉ đến khi người ta lôi ra từ bồng tay của chị vài thứ kỷ vật nho nhỏ những người lính để lại khi chia tay, thì lòng chị thực sự cồn lên. Mặt chị tái đi. Bất giác chị đưa tay áp vào vùng bụng. Ở đấy phát ra những nhịp thở mỏng manh, yếu ớt. Chiếc bút máy, tấm ảnh ghi dòng địa chỉ, một cánh bằng lăng ép khô, chiếc huy hiệu, cái lược từ xác máy bay, có cả một chiếc nhẫn bằng bạc để chị đeo kỵ gió... Từng khuôn mặt hiện lên. Họ đã trở thành đàn ông. Những người nào trong số ấy đã nằm xuống. Chị lảo đảo ôm chặt lấy bụng. Niềm hạnh phúc của chị đang quẫy đạp. Anh ơi, con của chúng mình...


*
* *


À ơi, con ngủ cho ngoan .


Chị sẽ được làm mẹ. Vào những lúc một mình, chị khe khẽ hát bài ru con. Chị mong nó sẽ là con trai để được mang hình hài anh. "À ơi con ngủ cho ngoan", cây hát ấy lần đầu tiên bật ra trong giây phúc chị dâng hiến cho người lính trẻ. Chẳng hiểu sao người lính mãi rúc khuôn mặt non tơ của mình vào ngực chị. Chị thấy âm ấm vùng ngực. Có một dòng máu rần rật chuyển.


Ngực chị cương lên. Chị thấy lòng ấm áp quá. Cảm giác lạ lùng lần đầu tiên òa đến khiến chị xao xuyến. Chị thấy thân thể mình lớn vút và hồn mình rộng ra, rộng mãi. Cõi lòng chị mênh mông, bao dung. Có một cái gì đấy nhè nhẹ, nhè nhẹ... động cựa nơi bụng chị. Cảm giác ấy rõ dần. Chị thấy váng vất. ý nghĩ được hạnh phúc làm mẹ vụt đến lớn quá. Chị sẽ được làm mẹ! Và câu hát ru của ngàn đời ngàn đời, chẳng biết ký thác vào tâm hồn chị từ bao giờ, khoảng khắc ấy bật ra, ngân nga: "à ơi con ngủ cho ngoan". Cả chị, cả người đàn ông đang thiêm thiếp trên ngực chị đều sửng sốt, lặng đi trước lời ru dịu dàng của mẹ. Hạnh phúc. Chị sắp được làm mẹ.


Đêm nay, chị cố thức để khâu xong cho con bộ quần áo lọt lòng. Giá không có chặp bom lúc nửa đêm hẳn chị đã hoàn tất công việc. Vừa khâu chị vừa khe khẽ hát. Chợt một bóng người lao vào hầm. Đèn pin lấp lóe rọi thẳng vào mặt chị. Chị dơ tay. Bộ quần áo bé xíu thành tấm chắn luồng sáng độc ác. Chị không lạ gì hắn. Người đó cùng đơn vị. Từ lâu hắn đã khao khát chị. Rất nhiều lần chị đã thẳng thừng cự tuyệt nỗi ô nhục ấy. Giọng hắn rít lên khác thường:


- Sao? Cô không biết gì à? Trận bom vừa rồi tám đồng chí của ta đã trở thành liệt sĩ. Vậy mà cô vẫn thản nhiên chuẩn bị cái công việc nhơ nhuốc kia. Thật xấu hổ.


Chị đứng phắt dậy. Chị có thể bị nhục mạ, có thể mất mát tất cả và chịu đựng đến cùng. Song, chị không thể để đứa con của chị, đứa con của những người lính bị xúc phạm. Ánh đèn pin quét xuống ngực chị. Linh cảm chẳng lành, chị lùi lại, lấy tay che ngực. Khoảng khắc của dục vọng. Người đàn ông sấn đến, hổn hển: "Tôi đã giữ cô ở lại. Tôi đã bỏ qua cho cô tất cả. Hôm nay chúng ta sòng phẳng. Cô hãy cho tôi điều mà những người lính khác được làm". Một cảm giác kinh tởm ập đến. Làm sao chị có thể chấp nhận điều nhục nhã ấy. Chị phải đâu sống cho đam mê của bản thân mình. Giọng chị đau đớn van vỉ: "Xin anh đừng làm thế. Đừng làm nhục đứa bé. Đừng làm nhục những người lính đã từng làm cha của nó. Có thể trong số họ có người nằm xuống. Xin hãy để linh hồn họ thanh thản yên nghỉ...". Chị chỉ kịp nói đến đây, chị bỗng thấy mình tối tăm mặt mũi. Chị bị quật xuống nền đất. Chị dãy dụa thật mạnh. Chị chồm dậy được, chị cố nhoài tay với khẩu AK treo trên vách. Không kịp. Một lần nữa chị bị quật ngã. Lần này mạnh hơn. Chưa bao giờ chị phải gánh chịu đau đớn đến thế. Con ơi! Thế là hết. Mẹ không giữ được con rồi. Tha lỗi cho mẹ.


Chị bươn bả chạy khắp rừng. Trong đêm tối, không xác định hướng chị vẫn lần tìm đến khúc suối dạo nọ. Ban mai. Sương bàng bạc. Nước bàng bạc. Da thịt cũng bàng bạc. Tất cả một mầu bàng bạc. Chị bất động giữa dòng suối như một pho tượng tạc vào thiên nhiên, im lặng tận hưởng đến cùng hạnh phúc và khổ đau vừa nếm trải. Chị khỏa nước nhè nhẹ. Chị áp tay vào bụng và chị hát thật khẽ: "À ơi con ngủ cho ngoan". Chị thấy lòng mình ấm áp. Vào chính giây phút ấy, chị hiểu rằng, linh hồn anh không hề lang thang với niềm tiếc nuối. Anh đã bình yên an nghỉ. Và họ, những người đàn ông đi qua cuộc đời chị, có ai trong số đó đã hy sinh vì Tổ quốc, chắc chắn trước lúc vĩnh viễn ngã xuống họ đã nghĩ đến chị.



Khi tôi vào chiến trường, câu chuyện về người đàn bà ấy đã lan truyền khắp các hướng mặt trận như một huyền thoại.


Ở mặt trận phía Đông, người ta kể rằng, xác người đàn bà trôi dạt đến cuối nguồn. Phải đến tuần lễ sau mới tìm được. Không có một cỗ áo quan nào vừa thân thể chị. Phải hạ một cây dẻ to để lấy gỗ đóng hòm. Một trung đội công binh mất đến ngày trời mới hoàn thành nhiệm vụ. Đó là chiếc áo quan to nhất, xưa nay chưa từng có ở chiến trường.


Ở mặt trận phía Tây, người ta kể rằng, không biết bằng cách nào người đàn bà leo lên được và treo cổ chết trên ngọn cây chò lớn vài chục người ôm, cao đến trăm mét và sống đến ngàn năm có lẻ. Phải vất vả mới hạ được xác chị an toàn. Sau đó một hôm, không bom đạn, không gió, mưa, sấm, sét, bỗng dưng cây chò sập đổ. Trước đấy, kể cả B52 cũng không đánh gục nó.


Ở mặt trận phía Nam, người ta kể rằng, sớm ấy, bất thần bom tọa độ chụp xuống khúc suối. Xác chị văng thành ngàn, vạn mảnh. Sau đó khu rừng trở nên tốt tươi kỳ lạ. Hoa lá, cỏ cây, chim chóc chen chúc ríu rít. Bom đạn, chất độc tàn phá thế nào cũng không hủy diệt nổi.


Còn ở binh trạm, người ta xếp chị vào quân số mất tích. Không ai biết gì hơn về số phận của chị.


*
* *


Tôi không có cách nào để trả lời cô gái. Có điều, tôi nghĩ rằng, người đàn bà năm xưa hẳn phải có một khuôn mặt dịu dàng, thánh thiện như cô sinh viên năm thứ tư này. Tôi đành câm lặng chịu lời kết tội là kẻ độc ác của cô gái. Duy nhất, tôi chỉ có thể làm được mỗi một việc, là viết lại câu chuyện này để ít nhiều tôn trọng một sự thật. Quyền phán xét nó thuộc về bạn đọc.

PHẠM NGỌC TIẾN

Logged
trachvandung
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 747



« Trả lời #107 vào lúc: 03 Tháng Chín, 2009, 02:56:57 pm »

Có một người đàn bà như thế

Cơn mưa buổi chiều tháng Bảy ập xuống nghĩa trang Lộc Vinh cách trị trấn Lộc Ninh vài cây số. Nước xối trắng trời, trắng đất. Rừng cao su chìm trong mưa. Cô gái níu cánh tay người đàn bà đứng tuổi đứng bên ngôi mộ trong nghĩa trang đất đỏ, nước mắt hòa mưa...

Ông Tùng chọn bộ quần áo đẹp nhưng nền nã, hỏi vợ:

– Em mua đồ gì đến giỗ anh Hỷ?

Vân ngồi trước bàn phấn, mắt sáng, môi hồng, da mịn, mỉm cười:

– Năm nay ngoài bánh trái, hoa quả, em sắm tặng anh Hỷ chiếc ô tô.

– Anh nhìn gói đồ đi ăn giỗ to quá. Anh Hỷ hy sinh ở Bình Long năm bảy hai, không biết lái xe hơi?

– Mấy người ta mua xe hơi cho người thân, em cũng tặng anh ấy một chiếc.



Minh họa: A.Dũng

Lúc đó hai đứa con của họ, thằng Hưng mười sáu tuổi, chở bé Hương mười tuổi, đi học thêm về. Từ trên lầu chị Vân gọi vóng xuống:

– Con à, hai đứa chuẩn bị đi qua nhà cô Ninh ăn giỗ.

Tiếng “dạ” của hai đứa ấm cả căn nhà.

Tùng lái xe con bốn chỗ sáng bóng chở ba mẹ con Vân dừng lại ở căn nhà nhỏ, khang trang, sạch sẽ trong hẻm rộng đường số 16, Thủ Đức.

Từ trong bếp, chị Ninh đon đả chạy ra, vẫn cầm đôi đũa bếp:

– Chào cả nhà!

Vân bước tới ôm lấy chị Ninh, nói:

– Chị vẫn trẻ, khỏe.

Tùng cười gật đầu thay lời chào Ninh, anh sững lại thấy Ninh ngót năm chục tuổi, vẫn thon thả, mắt sáng, da hồng. Thằng Hưng và bé Hương khoanh tay:

– Con chào bác Ninh. Anh Vinh có nhà không bác?

– Anh Vinh đi mua bia chút về.

Ninh kéo Vân vào nhà. Tùng bưng gói đồ lễ đặt lên bàn thờ, trước di ảnh anh bộ đội trẻ, mỉm cười, mắt trong veo, lồng trong khung kính, khung có hoa văn rất đẹp. Lư hương khói nhang uốn éo như múa tỏa mùi trầm đằm trong căn nhà ấm cúng.

Vinh chạy xe Honda chở thùng bia về tới cửa thì Hưng và Hương reo lên:

– A… em chào anh Vinh.

– Anh chào hai em!

Ông Tùng trong nhà đi ra, Vinh xuống xe khoanh tay:

– Con chào bố. Dì Vân có qua không bố?

– Có. Bà ấy trong bếp với mẹ con. Hai bà gặp nhau là không bao giờ hết chuyện.

Hôm nay ngày giỗ anh Trần Hỷ, hy sinh ngày mười bảy, tháng tám, năm một ngàn chín trăm bảy mươi hai, tại làng Mười lăm, quốc lộ Mười ba, cách Chân Thành (Chơn Thành) sáu cây số.

Tiếng rù rì của hai người đàn bà trong bếp; tiếng hỏi và tiếng trả lời của Vinh với Hưng và bé Hương vọng vào tai ông Tùng. Bé Hương nhõng nhẽo với Vinh đàn bản “Con mèo lười”, nhưng Hưng năn nỉ Vinh đàn bài “Chiều trên bến cảng”. Vinh cười vuốt tóc hai đứa em cùng cha khác mẹ. Ông Tùng sau khi đốt nhang trên bàn thờ, khấn vái xong, khoanh tay nhìn ba đứa con, bỗng nói:

– Theo bố, hôm nay giỗ bác Hỷ, Vinh đàn bài “Tiến về Sài Gòn”, điều mong ước của bao chiến sĩ chiến trường trong những năm chống Mỹ. Nhưng bố Hỷ của các con không có mặt ở Sài Gòn ngày Ba mươi tháng Tư năm Bảy nhăm. Vinh ơi, đàn bài đó cho bố Hỷ và mọi người trong gia đình mình nghe.

Vinh cười, xoa đầu bé Hương nói:

– Con đốt nhang khấn bố Hỷ, con đàn bài “Tiến về Sài Gòn” mời bố con về. Ăn cơm xong Hưng và Hương yêu cầu bài gì anh đàn bài đó. Được không?

Bé Hương vỗ tay hoan hô.

Tiếng đàn piano vang lên bản nhạc rộn ràng, trầm hùng lao xao cả khói nhang. Từ bếp chị Ninh và Vân lên nhà, bố con Tùng cùng Vinh vừa đàn vừa hát. Chị Ninh và Vân cũng hát theo. Chị Ninh cầm đôi đũa bếp gõ nhịp nhịp: “Tiến về Sài Gòn ta quét sạch giặc thù…”.

Lúc sau tiếng hát của gia đình Tùng và chị Ninh đã dừng, Vinh dạo thêm một khúc nhạc lời hai của bài hát; tiếng đàn vang trong căn nhà, mọi người đứng nghiêm nhìn lên bàn thờ, tấm hình của người chiến sĩ lung linh mờ ảo trong khói nhang như cũng mỉm cười.

Khách của chị Ninh đến là bác tổ trưởng dân phố, anh Chính, đồng đội cũ của anh Hỷ. Mâm cơm cúng ngày giỗ của người chiến sĩ, chị Ninh nấu đơn giản, canh rau cần nấu với lòng gà, quả trứng, chén cơm, thịt gà luộc lá chanh…

Vinh cùng ông Tùng hóa vàng, khi Tùng đốt cái xe hơi làm bằng giấy, Vinh bỗng buồn buồn nói:

– Bố con nhà quê chưa bao giờ ngồi xe con, không biết ông có hài lòng nhận món quà này không?

Cái xe hơi cháy bùng, tàn đỏ rực, gió cuốn bay tứ tung.

Chị Vân xách xô nước chạy ra nhìn tàn tro của cái xe hơi bay, chị nói:

– Anh Hỷ nhận xe rồi đó - Và chị té nước vào đám tro hóa vàng.

Ăn cơm xong, lúc sau bé Hương kéo Vinh vào chỗ để đàn piano. Chị Ninh và Vân dọn dẹp xong lên nhà. Tùng nói với Vân:

– Anh có việc ở công ty, em và hai con ở đây chơi, chiều anh ghé đón.

Thằng Hưng và Hương khoanh tay chào bố, Vinh rời cây đàn ra cửa khoanh tay:

– Con chào bố ạ!

Con Hương cười vênh cái má trắng hồng hỏi:

– Mẹ ơi, sao anh Vinh đã có bố Hỷ còn có cả bố Tùng, sao anh có hai bố hả mẹ?

Vinh ngồi đàn bản nhạc bản theo yêu cầu của bé Hương.

* * *

Cơn mưa buổi chiều tháng Bảy ập xuống nghĩa trang Lộc Vinh cách trị trấn Lộc Ninh vài cây số. Nước xối trắng trời, trắng đất. Rừng cao su chìm trong mưa. Cô gái níu cánh tay người đàn bà đứng tuổi đứng bên ngôi mộ trong nghĩa trang đất đỏ, nước mắt hòa mưa:

– Mẹ ơi, đúng phần mộ anh Hỷ rồi. Bia người ta đề chữ Liệt sĩ Trần Hỹ hy sinh ngày 17 tháng 8 năm 1972. Giấy của tỉnh đội ghi rõ đúng nghĩa trang, đúng phần mộ và ngày, tháng hy sinh. Anh tên Hỷ, người ta đánh dấu “ngã” thay dấu “hỏi “.

Người đàn bà nấc lên:

– Con ơi, Hỷ ơi, mẹ Hào và em Ninh đến thăm con đây. Mưa quá làm sao đốt nhang được Ninh ơi!

Cô Ninh và bà Hào quỳ trước ngôi mộ mà tấm bia tên “Liệt sỹ Trần Hỹ”. Mưa ào ào, tưởng như trời có bao nhiêu nước trút xuống vùng trời Lộc Ninh có nghĩa trang này. Bà Hào để bánh trái, nến tiền vàng mã lên mộ của con trùm áo mưa lên. Trời tối nhanh. Ninh đưa áo mưa của mình cho bà Hào, hai mẹ con về chợ Lộc Ninh gặp anh bộ đội. Bà Hào hỏi:

– Anh “rì” ơi, cho tôi hỏi ở đây có nhà “chọ” không?

Anh bộ đội nghe thổ ngữ vùng sông Thái Bình, nhận ra đồng hương. Anh hỏi:

– Cô và bác người Thái Bình phải không?

Bà Hào rét run, nói:

– Mẹ con tôi người Quỳnh Phụ, Thái Bình.

– Quê cháu rồi. Mời bác và cô theo cháu vào đơn vị có chỗ ăn nghỉ.

Bà Hào và Ninh theo anh bộ đội vào đơn vị nơi anh công tác. Anh nói tên Tùng trung úy, cán bộ ở đây. Tùng đưa hai mẹ con bà Hào vào phòng khách của đơn vị, anh nuôi lo cơm nước. Lúc sau bà Hào và Ninh tắm xong, Tùng mời hai mẹ con bà Hào xuống bếp ăn cơm. Ăn cơm xong, Tùng vào phòng khách thăm mẹ con bà Hào.

Trời se lạnh, trong tiếng mưa rơi, bà Hào kể với Tùng: “Anh Tùng ạ, Ninh không phải con gái mà là người yêu của Hỷ con trai tôi. Ninh và Hỷ ở cùng xã, Hỷ đang học Đại học Thủy lợi ở Hà Nội được lệnh nhập ngũ. Hỷ về thăm nhà trước ngày lên đường. Hai đứa yêu nhau đã mấy năm, Hỷ bảo gia đình bỏ trầu để không anh nào nhòm ngó cô Ninh nữa. Tôi nói với ông nhà tôi như thế cũng tốt, đứa ở ngoài mặt trận vững tin chiến đấu, con Ninh ở nhà chú tâm học tập. Trước sau gì đất nước mình cũng hòa bình, Hỷ về là cưới ngay.

Sau ngày bỏ trầu, tôi coi Ninh như một thành viên trong gia đình. Ngày giỗ, tết Ninh đến nhà tôi như đứa con về nhà mình. Hai gia đình lúc vui bàn chuyện ngày Hỷ về làm đám cưới to nhất làng. Đùng một cái cuối năm Bảy ba, ông Phó chủ tịch và ông Xã đội trưởng đến thăm gia đình. Hai ông cán bộ xã nhìn nhau. Tôi hỏi: "Thằng Hỷ nhà tôi hy sinh rồi phải không?”. Ông Phó chủ tịch mở sắc cốt lấy tờ giấy báo tử trao cho chồng tôi. Tối hôm sau chính quyền xã làm lễ truy điệu đồng chí Liệt sĩ Trần Hỷ.

Sau ngày giải phóng, tờ giấy báo tử ghi rõ hy sinh ngày 17 tháng 8 năm 1972 tại mặt trận Bình Long. Tháng sáu con Ninh nhà tôi tốt nghiệp, hai mẹ con đi thăm mộ Hỷ…”.

Nghe chuyện của bà Hào, Tùng xúc động nhìn Ninh trân trọng.

Hôm sau chia tay, Tùng hỏi Ninh ra trường về dạy ở đâu chưa?

Nhìn trời Lộc Ninh, nắng mùa mưa hiền dịu, rừng cao su xanh đến nôn nao cả lòng người. Ninh nói:

– Em ước được dạy học gần đây, có điều kiện chăm sóc phần mộ anh Hỷ.

Ninh và bà Hào về quê rồi, Tùng cứ băn khoăn điều ước muốn của Ninh.

Ba năm sau, Tùng chuyển ngành về Sở Xây dựng thành phố, rồi bất ngờ nhận được thư của Ninh nói nhờ người thân xin cho Ninh dạy ở Trường phổ thông cơ sở Giồng Ông Tám. Tùng đến thăm Ninh, hai người thỉnh thoảng đi chơi với nhau.

Năm sau nhân ngày hai bảy tháng bảy, Tùng chở Ninh viếng mộ Hỷ ở Lộc Ninh. Sáng đi, chiều về. Ninh mệt. Tùng đưa Ninh về phòng của mình ăn uống, Ninh mệt ngủ thiếp đi. Gần sáng, Tùng năn nỉ, Ninh buông xuôi. Khi biết Ninh có thai, Tùng cầu hôn. Ninh khóc. Sau nhiều lần Tùng năn nỉ, Ninh im lặng. Rồi Ninh sanh bé trai, kháu khỉnh, đặt tên là Vinh. Tùng đến chăm sóc. Một hôm Ninh nói với Tùng:

– Thiệt lòng em rất quý trọng anh, nhưng nghĩ đến việc chung sống với anh là ngực em ngộp thở. Lạ thật. Tình yêu nó có tiếng nói riêng, không phải có con với nhau là có tình yêu.

Tùng buồn so.

Thế rồi năm sau nữa Ninh và Tùng đi Lộc Ninh viếng mộ Hỷ. Tùng đặt trái cây, tiền vàng, lên phần mộ của Hỷ. Mộ Hỷ cùng những ngôi mộ trong nghĩa trang đã được xây khang trang đẹp đẽ. Tùng đốt nhang khấn: “Anh Hỷ ơi, em là Tùng, chiến sĩ của tiểu đoàn mười hai, cùng sư đoàn với anh đây. Ninh và em đã lỡ có con với nhau, em lạy anh tha thứ cho chúng em để Ninh về ở với em…”. Bỗng gió từ rừng cao su ào tới cuốn bay tứ tung những tờ tiền vàng. Ninh đuổi theo nhặt lại nói: “Anh Hỷ em nổi giận đó! Tình yêu của em đã trao cho anh Hỷ rồi”.

Năm sau Tùng về quê lấy vợ đưa vào thành phố. Đó là Vân, cô gái trẻ hơn Ninh gần mười tuổi, xinh đẹp. Vừa học xong Trung cấp kế toán.

Thời gian trôi đi, năm Vinh mười tuổi, hai mẹ con đến nhà Tùng chơi. Hôm đó Vân đang giỡn với bé Hưng sáu tuổi. Thấy người đàn bà dắt cậu con trai tươi cười vào nhà:

– Chào Vân, anh Tùng có nhà không em?

Vân nhìn người đàn bà xa lạ cùng cậu con trai coi thông minh:

– Chị gặp anh Tùng có việc gì, nếu không ngại chị nói với em, em nói lại với anh ấy.

– Tôi đến thăm anh Tùng có việc riêng, không nhờ gì.

Vân lên lầu nói với chồng có một chị và cậu con trai chờ ở phòng khách. Tùng bước xuống cầu thang. Vừa thấy Ninh, Tùng reo lên:

– Chào Ninh và con trai!

Vân trố mắt nhìn chồng. Vân nhớ chuyện khi anh ngỏ lời yêu, anh nói có đứa con trai là sự thật. Lúc đó Vân cho Tùng nói đùa thử lòng Vân. Ninh và Tùng hỏi thăm công việc sức khỏe của nhau. Ninh cười kéo Vinh ngồi vào ghế và gọi Vân:

– Vân lại đây chị có chuyện cần nói.

Rồi bằng giọng bình thản nhẹ nhàng, Ninh kể chuyện chị có con với Tùng. Việc này không ai có lỗi. Vinh là đứa con ngoan, thông minh, học giỏi. Là người ai cũng phải biết nguồn cội của mình, cha là ai, phải có bà con dòng họ nội ngoại. Ninh ôm vai con trai chỉ vào người đàn ông ngồi đối diện:

– Cha của con đó. Con lại với cha của con.

Vinh lau nước mắt bước ôm lấy Tùng. Tùng ôm chặt lấy Vinh. Chị Vân và Ninh cũng đẫm lệ.

Từ đó Ninh thường đưa Vinh đến thăm gia đình Tùng, Tùng cũng đưa vợ con đến thăm nhà Ninh. Họ trở thành bạn thân của nhau. Ninh và Vân coi nhau như chị em.

* * *

Nắng nhạt. Bầu trời thành phố dịu mát. Tùng dừng xe ở cửa nhà Ninh. Anh xuống xe vào nhà thì Vân và Ninh vẫn thủ thỉ chuyện về tính nết của những đứa con. Tùng chào cả nhà rồi nói:

– Chiều nay mời cả nhà đi ăn cháo mực!

Quay sang chỗ Ninh và Vân, Tùng nói:

- Vinh có bạn gái rồi đó, hai bà bàn rồi tính lo cho Vinh để sớm có cháu bồng nghe.

Bé Hương đang đánh nhịp cho Vinh đàn, nghe vậy vỗ tay reo lên:

– Hoan hô anh Vinh. Anh Vinh cưới vợ thì vui quá phải không anh Hưng - Bé Hương nũng nịu - Anh Vinh có vợ vẫn phải đàn cho em nghen.

Cả nhà cùng cười!

Chiếc xe con Tùng lái hòa cùng dòng xe trên con đường rợp bóng cây buổi chiều dịu mát này.

Nguyễn Ngọc Mộc
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #108 vào lúc: 09 Tháng Tám, 2011, 08:34:43 pm »

BIỂN KHÓC


1.

- Đi thôi anh em!

Tư Trung nhìn đồng hồ xong rồi cất lời ra lệnh. Năm người xúm lại mũi tàu hò nhau kéo chiếc dây neo to bằng cổ tay. Tài công nổ máy. Tiếng máy gừ gừ nghe êm tai. Đợi chiếc neo vừa được kéo lên khỏi mặt nước, chiếc tàu gỗ nhằm hướng Bắc lao đi.

Đáng lẽ, theo kế hoạch đã lên sẵn từ trong năm, hết rằm tháng Giêng là Tư Trung cùng anh em sẽ lên đường ra Bắc để tiến hành công việc. Nhưng nấn ná mãi vì phải chờ qua lễ khao lề nên bây giờ mới đi được.

Cứ vào độ này hằng năm, khi mùa mưa bão ở miền Trung đã dứt, huyện đảo Lý Sơn quê anh lại diễn ra các cuộc tế lễ dành cho những hùng binh năm xưa đã ra Hoàng Sa làm nhiệm vụ bảo vệ quần đảo thỉêng liêng của Tổ quốc. Là con dân của đảo nên Tư Trung không thể bỏ được nghi lễ rất linh thiêng này.

Tư Trung còn có một chân trong đội đua thuyền truyền thống của đảo. Với sức khỏe, sự nhanh nhẹn vốn có của mình, anh được phân công vào đội dầm chèo. Hầu như các cuộc đua thuyền truyền thống nào trong lễ khao lề thế lính Hoàng Sa của đảo Lý Sơn hằng năm, thuyền rồng của anh đều giành vị trí quán quân. Tư Trung hãnh diện lắm.

Nhà Tư Trung ba đời nay làm nghề lặn biển. Cái nghề sao mà cơ cực vô cùng. Người ta nói nghề này là “Ăn cơm dương gian làm việc âm phủ” quả không sai. Lúc còn là thằng bé cởi truồng thường hay đi dọc bến tàu nhặt cá tôm rơi vãi, Tư Trung đã thấy cha và ông nội ngày ngày đi lặn kiếm ốc, sò gai, hải sâm đem về cho bà nội và mẹ bán. Lên mười ba tuổi, anh đã theo cha và chú Ba đi lặn. Lòng biển có một sức lôi cuốn, mê hoặc Tư Trung đế ghê gớm. Hễ hôm nào không được lặn là anh cảm thấy trong người bứt rứt khó chịu. Tư Trung là người có sức khỏe phi thường. Anh có thể lặn sâu xuống được ba mươi sải nước. Trong gia đình Tư Trung cho đến bây giờ, có ba người chẳng may gặp nạn bởi nghề lặn đó là ba, chú Ba và anh Hai Đởm. Cha anh chết thảm cách đây mười lăm năm. Chú Ba và anh Hai Đởm thì liệt nửa người do lặn quá sâu bị nước ép. Bây giờ họ trở thành người tàn phế sống nhờ vợ con. Nhiều lúc Tư Trung cũng muốn bỏ nghề lặn bởi nó quá hiểm nguy. Nhưng nghĩ lại, nếu bỏ nó thì biết làm nghề gì để kiếm sống đây? Thôi chậc, sinh nghề tử nghiệp. Chẳng qua cũng chỉ vì miếng cơm manh áo cả. Hà bá nó bắt mình lúc nào thì mình đành chịu vậy, biết răng chừ? Có điều mình sẽ phải cẩn thận hơn cho vợ con được nhờ. Tư Trung lập luận như vậy.

Bây giờ thì Tư Trung đã là chủ của một chiếc tàu lặn biển với đồ nghề hiện đại nhất đảo. Anh chuyển sang lặn tìm phế liệu bởi mặt hàng này dưới biển rất nhiều. Kiếm ăn được.

Tư Trung cùng tốp thợ năm người của mình đều là những tay lặn cừ khôi trong họ tộc từng rong ruổi đi khai thác phế liệu ở nhiều vùng biển trong Nam ngoài Bắc. Số tiền kiếm được cũng kha khá. Anh đã xây được một ngôi nhà tương đối hoành tráng ở làng. Mở cho vợ một sạp vải ở chợ. Hai đứa con ăn học đàng hoàng. Nhìn thấy vậy, Tư Trung càng cảm thấy yêu nghề và quyết tâm gắn bó với nghề lặn hơn.

Trước hôm lên đường đi chuyến này, Tư Trung có biện chút lễ ra thắp nhang ngoài mấy ngôi mộ gió và đền thờ cá ông để cầu mong cho chuyến làm ăn gặp nhiều may mắn, tránh mọi tương ương. Lúc quay về, anh rẽ vào nhà ông Tám “âm phủ” nhờ xem giúp chuyến đi thế nào. Ông Tám “âm phủ” là thầy bói nổi tiếng ở huyện đảo này.

Ông Tám “âm phủ” thắp ba nén nhang lên bàn thờ. Khi xem ba con bài mà Tư Trung vừa bốc, ông bấm đốt ngón tay một lúc rồi ngần ngừ:

- Lạ thiệt!

- Là sao ông Tám? – Tư Trung hấp tấp hỏi lại.

- À, ờ..! Mày đi chuyến này coi chừng được cá to nghe hông Tư? Một chiếc ghe của mày tao e chở không hết hàng đâu!

- Vậy hả? Mà hàng gì hả ông Tám?

- Ừa, thì sắt thếp chi chi đó! Mà chỗ đó thiêng lắm đó nha, có thể có người nữa đó!

- Hả? - Tư Trung giật mình - Có người là sao ông Tám?

- Thì tao đã bảo rồi, khu vực đó rất thiêng, ra đến nơi mày phải làm một cái lễ đầy đủ bài vị nhang đèn rồi thành tâm cúng bái để cho người ta phù hộ. Không ai làm hại mày đâu!

- Dạ, ông Tám ghi cho con những thứ đồ lễ để về vợ con đi sắm cho kịp sáng mai đi!

- À mà này, mày về dặn với mấy anh em bạn là tối nay cấm đứa nào được gần vợ nghe chưa? Nếu không nghe thì đừng trách tao không nói.

- Dạ, con biết rồi ông Tám!

Tư Trung vội vàng cầm mảnh giấy của ông Tám “âm phủ” đưa cho. Miệng hấp tấp chào ông rồi tất tả phóng xe ra cổng.



2.

- Bây giờ là ngày hay đêm?

- Bình minh hay hoàng hôn?

- Trưa hay tối?

- Chịu!

Biết bao lần Tài và Thức đều tự đặt ra câu hỏi và rồi cuối cùng cũng tự trả lời cho mình bằng một câu cụt ngủn như vậy.

Nằm cạnh Thức, Tài cứ trằn trọc, theo thức mãi. Thỉnh thoảng, có một con bạch tuộc hay con cá đuối cô đơn nào đó đi qua ngôi nhà của họ. Chúng lóe lên một chút ánh sáng lân tinh ma quái rồi vội tắt lịm. Hoang lạnh. Câm bặt. Một cõi u tịch đến dợn người.

Bao quanh đây là một màn đêm đặc quánh. Cái ý niệm về không gian, thời gian coi như không có. Tất cả đều tối thui.

Một quầng bùn cát vẩn lên hắt vào mũi làm Thức chợt tỉnh giấc. Anh mở mắt, quờ tay sang bên cạnh. Tài khẽ cựa mình rồi húng hắng ho.

- Tài không ngủ hả em? - Thức khẽ hỏi.

- Không hiểu sao em không ngủ được anh ạ! - Tài thủng thẳng đáp.

- Có chuyện gì à?

- Em cũng chẳng biết có chuyện gì nữa. Hôm nay em thấy trong người nó làm sao ấy. Cứ nôn nao khó tả!

- Hay là nhớ em Lài? - Thức vừa hỏi vừa tủm tỉm cười.

- Nhớ nhưng biết làm sao được hả anh? - Tài chợt chùng giọng - Bây giờ chắc cô ấy đã là một bà giáo về hưu, con cháu đề huề rồi anh nhỉ?

- Ừ, chắc vậy!

- Anh Thức này, tại sao anh em mình ngủ suốt mấy chục năm nay rồi mà không cảm thấy chán hả anh? Năm qua tháng lại chỉ mỗi điệp khúc “Ngủ - thức - ngủ” mà không thể có việc gì hơn ngoài cái điệp khúc cũ mèm ấy. Chán thật! - Tài khẽ lắc đầu, chép miệng.

- Em nói còn thiếu, cái điệp khúc ấy phải là “Thức - ngủ - nhớ - thức - nhớ - ngủ”.

- Là sao anh?

- Nếu không có những ký ức, những kỷ niệm mà ta đã từng trải qua thì làm sao anh em mình có thể tồn tại được nơi đáy biển âm u này. Chúng ta đang sống bằng những kỷ niệm của một thời trai trẻ đấy thôi!

- Vâng, và đến bây giờ thì chúng ta vẫn là những gã trai làng non tơ. Anh vẫn là chàng trai hai mươi hai, còn em mười chín. Chúng ta chẳng già đi chút nào anh nhỉ?

- Ừ, nhưng anh khổ tâm hơn em vì trước lúc lên đường anh đã kịp có một người vợ và đứa con trai lên hai. Thà như em chưa có gia đình thì còn ít người đau khổ, mà bản thân mình cũng đỡ dằn vặt hơn. Đằng này… không biết bây giờ mẹ con cô ấy ở quê thế nào? Tội mẹ con cô ấy quá Tài ạ!

- Vâng, mặc dù em chưa có vợ con như anh nhưng em cũng đã có người yêu. Lài là mối tình đầu của em. Chúng em yêu nhau bằng tất cả sự chân thành. Lúc ấy Lài đã là một cô giáo làng. Lúc chia tay lên đường, cô ấy động viên em nhiều lắm. Lài hứa sẽ chờ em trở về. Hai đứa sẽ báo cáo gia đình rồi tổ chức lễ cưới. Lài sẽ thường xuyên sang thay em chăm sóc bố mẹ em. Cô ấy tốt thật anh ạ! Không lúc nào là em nhớ về cô ấy!

- Thì chiến tranh nó nghiệt ngã là vậy mà em! - Thức thở dài.

Như nhớ ra điều gì, Tài nhổm dậy hỏi Thức với giọng hấp tấp:

- À, anh Thức này! Anh có nhớ chính xác là anh em mình ở đây được bao lâu rồi không anh nhỉ?

- Ba mươi lăm năm, bốn tháng, mười một ngày!

- Ôi, trí nhớ của anh tuyệt thật. Thế mới đúng là ông anh khẩu đội trưởng của em! Bái phục, bái phục!

- Có gì đâu mà tuyệt với chả vời, tài với chả giỏi. Nếu tài giỏi thì anh em mình đâu phải ở những nơi tối tăm u uất như thế này. Có thể bây giờ em sẽ cùng Lài và những đứa con đang đi du lịch đâu đó, còn vợ chồng anh đang gặt lúa trên đồng hay đi làm cỏ lúa. Thế mới thuyệt, em hiểu chưa?

- Thôi, thôi, thôi anh đừng nói nữa, em không chịu được nữa đâu! Em khóc đấy! - Tài xua tay, giọng có vẻ hơi gắt.

- Cái thằng này, chỉ được cái mau nước mắt…

- Mà thôi anh ơi, cất cái chuyện thời gian, năm tháng, vợ con ấy lại đi, em buồn ngủ lắm rồi.

- Ừ, ngủ đi em…!

Dòng nước ấm khẽ chảy qua khoang tàu làm lay nhẹ những trang giấy cháy sém nằm lả tả cạnh hai người. Hai khẩu AK rỉ sét bên cạnh họ vẫn nằm lặng ngắt. Lòng bàn tay Tài còn nắm chặt miếng mica hình trái tim. Chắc là cậu ấy định làm quà kỉ niệm để gửi về cho Lài. Nhưng không kịp…

Một đàn cá nhỏ lững lờ bơi đến rỉa mấy sợi rong rêu bám vào thân tàu rồi lại lặng lẽ bỏ đi.

Tất cả đều câm lặng một cách đáng sợ. Hai người lính lại chìm sâu vào giấc ngủ miên man vô định.




3.

Ngày.

Vậy là mình đã trở về đơn vị an toàn. May mà vẫy được chiếc xe tiếp phẩm của tỉnh đội để trèo lên đi nhờ được cả quãng đường dài. Đi bộ thêm mười sáu cây số nữa mới về đến đơn vị. Mệt. Không, nhằm nhò gì! Được về tranh thủ thăm mẹ con Thoan là vui lắm rồi. Dẫu có phải đi bộ cả trăm cây số mình cũng chấp nhận.

Chiều nay, vừa khoác ba lô xuống tàu, anh em ùa ra đòi quà. Đi vội quá nên Thoan chỉ kịp gói cho mình được một ít bánh gai để làm quà cho anh em trong đơn vị. Anh Huấn chính trị viên đùa bảo: “Cả tàu này sướng nhất Thức rồi đấy! An tâm công tác nhé!”

Ba ngày về tranh thủ mình làm được những việc gì nhỉ? Đi thăm bố mẹ hai bên này. Bố mình và bố Thoan đều già yếu lắm rồi. Mình biếu bố vợ chai rượu thuốc mua ở cửa hàng dược, cụ vui lắm. Đi cuốc cỏ lúa giúp Thoan được hai buổi này. Tội Thoan quá, một nách vừa nuôi con nhỏ vừa đảm đương hai mẫu ruộng. Mình lại đi xa chẳng giúp gì được cho Thoan nhiều. Trước hôm đi, Thoan bảo mình dói lại mái nhà tranh bị dột, nhưng thời gian nghỉ tranh thủ đã hết nên không thể làm kịp. Đành hẹn Thoan dịp khác mình về vậy.

Mà tóm lại, sướng nhất trong dịp tranh thủ này là được ôm hai mẹ con Thoan cho bõ những ngày xa cách. Cu Tuấn ban đầu nhìn thấy mình còn lạ nhưng khi thấy bố và mẹ nó tình tứ với nhau nhiều nên cũng nghe theo mẹ bập bẹ gọi “Bố, bố”. Nghe mà như nở từng khúc ruột. Cứ hở ra tý nào là mình và Thoan lại quấn lấy nhau. Vội vội vàng vàng như ma đuổi. Thoan bảo: “Anh tham thế?”. Mình cười: “Tại chiến tranh nên anh phải thế!”. Thoan lại bảo: “Lúc nào anh cũng đổ tội cho chiến tranh. Thế nếu hết chiến tranh chắc anh chẳng còn yêu em nữa phải không?”.

Hạnh phúc đến với mình thật nghẹt thở.


(còn tiếp)
« Sửa lần cuối: 11 Tháng Tám, 2011, 12:53:47 am gửi bởi chuongxedap » Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #109 vào lúc: 09 Tháng Tám, 2011, 08:54:28 pm »

BIỂN KHÓC

(tiếp theo)


4.

Vùng biển Long Châu.

Tư Trung cùng anh em thành kính đem đồ cúng lễ ra trước mũi tàu. Những bộ quần áo giấy và vàng tiền địa phủ được dằn bằng mấy cục đá đem theo để khỏi bị gió thổi bay xuống biển. Tự tay Tư Trung thắp nhang, rót rượu ra ba chiếc ly rồi quỳ xuống. Năm anh em trong đội cũng quỳ xuống phía sau Tư Trung. Mọi người đều chắp hai tay lên ngực nhìn về phía bát nhang. Giọng Tư Trung lầm rầm trong gió: “Con nam mô a di đà Phật! Con nam mô a di đà Phật! Con cúi đầu quỳ lạy các chư vị Nam Hải Đại Vương, những người đã nằm lại vùng biển này…!”.

Tư Trung vừa kết thúc bài khấn nôm, mọi người trên tàu sì sụp vái lạy. Bỗng ba cây nhang bùng lên cháy thành ngọn lửa. Mắt ai cũng sáng lên. Tư Trung lắp bắp: “Vậy thì đúng rồi, đúng rồi! Thiêng thật! Thiêng thật! Thần biển và các vị tảo sa tảo lạc phù hộ anh em mình rồi! Con nam mô a di đà Phật…!”. Tư Trung cùng anh em thả quần áo, vàng mã và rải gạo, muối, rượu xuống biển. Xong xuôi, cả nhóm ngồi quây quần lại để hưởng lộc vừa cúng. Tư Trung mừng ra mặt bởi đã hai ngày quần thảo khắp khu vực Long Châu này, tốn kha khá dầu rồi mà vẫn chưa có tín hiệu từ lòng biển. May mà trưa nay, khi tàu vào đến vị trí này thì máy dò kim loại kêu tút tút liên hồi làm mọi người mừng thở phào nhẹ nhõm. Cộng với hiện tượng lúc nãy ba cây nhang bỗng nhiên bùng cháy nữa nên càng củng cố thêm niềm tin là tìm được mỏ phế liệu lớn.

Tư Trung hạ lệnh cho anh em sửa soạn cơm nước thật tươm tất để ăn lấy sức và tiện thể động viên tinh thần cả tàu. Tối nay, tốp lặn bắt đầu xuống biển thăm dò, đánh dấu vị trí. Sáng mai sẽ tiến hành khai thác phế liệu. Tâm trạng ai cũng phấn chấn lạ thường.

Tư Trung rít mạnh hơi thuốc, mắt nhìn xuống nước. “Hơn hai mươi sải, làm được!”. Anh lẩm bẩm.

Biển vẫn một màu đen thẫm. Con tàu nhỏ lắc lư qua lại trên sóng. Xa xa, một vài chiếc tàu cá mỏng manh tựa lá tre đang tất tả chạy về.



5.

Đêm…

Đêm nay, gác ca gần cuối. Không gian thatạ yên tĩnh, vắng lặng. Chẳng có chút gì là dấu hiệu của thời chiến cả nhỉ? Anh em đang say giấc ngủ. Ai cũng mệt vì phải căng mình làm công tác sửa chữa, bảo quản vũ khí máy móc. Tàu nằm sâu trong hẻm núi chờ lệnh xuất kích. Dạo này bọn khu trục thường mò vào tận khu Long Châu khiêu khích. Chúng liều lĩnh, lì lợm thật. Được thôi, cây muốn lặng mà gió chẳng đừng. Chúng ta sòng phẳng với nhau nhé!

Nhìn về hướng quê nhà mà thấy nhưng nhức trong lòng. Không biết giờ này mẹ con Thoan ngủ có ngon giấc không? Cu Tuấn của bố có quấy mẹ không nhỉ? Bố thương con quá Tuấn ạ! Con còn quá nhỏ để hiểu được nỗi buồn của bố khi phải xa mẹ, xa con. Những ngày không có bố ở nhà, con phải ngoan, không được quấy mẹ nghe không con! Mẹ vất vả vừa nuôi con, vừa đồng áng, vừa chăm ông bà nội. Ông bà nội già rồi mà bố cũng chưa giúp được gì nhiều. Con phải thường xuyên lên chơi với ông bà nội để ông bà vui con nhé! Con là cháu đích tôn của ông bà, trọng trách nặng nề lắm đấy Tuấn ạ! Bố rất thương mẹ con mà chẳng biết làm sao. Vì bố là bộ đội, bố phải trực chiến liên tục con ạ! Khi nào đánh giặc xong, bố sẽ về quê để được gần mẹ con con. Bố sẽ đền cho hai mẹ con tất cả những ngày xa cách. Hai mẹ con cố chờ bố nhé!




6.

Chiều…

Trưa nay toàn biên đội được ăn tươi mừng Quốc khánh. Cả biên đội được chỉ huy cho phép làm thịt hẳn một con lợn to vật vã. Chà, hôm nay toàn chuyện vui. Sẽ kể từng chuyện một.

Trước hết là chuyện đánh tiết canh. Tàu nằm trên sóng cứ bồng bềnh lắc qua lắc lại nên nhiều anh em bàn lui hay là thôi, sóng như thế này thì tiết đánh ra làm sao đông được? Thằng cu Soi “báo vụ” liền khua tay: “Ấy, ấy… các bác cứ để em, em chịu trách nhiệm cái vụ lẻ tẻ này cho!”. Chà, cái thằng này ăn nói có vẻ bốc đồng nhỉ? Anh Đại thuyền trưởng hỏi: “Có chắc không? Nếu đánh hỏng thì sao?”. Hắn lại chặc lưỡi cười tủm: “Ấy dà…! Báo cáo thủ trưởng, nếu đánh hỏng mẻ tiết canh này thì em xin từ cái chức báo vụ số 1 ngay!” Lão Hoan “cơ điện” là đồng hương Thái Bình với Soi tiết lộ: “Anh em yên tâm, nhà thằng Soi ba đời nay làm nghề bán cháo lòng tiết canh đấy!”. Mọi người thở phào rồi hô: “Quyết!”. Vậy là lao vào mỗi người mỗi việc. Thằng Soi quả thật là giỏi thật. Bốn mươi lăm bát tiết canh, bát nào bát nấy đông cứng. Thằng Thái “ra đa” bảo, các bác trừ cho em xin một bát tiết, em sẽ lấy dây lạt xâu lại tý nữa cầm về cho mẹ thằng cu ăn cho đỡ thèm. Cả tàu cười như nắc nẻ. Lâu rồi không ăn lòng lợn tiết canh. Hôm nay ngon quá. Gắp miếng lòng cho vào mồm tự nhiên lại nhớ mẹ con cu Tuấn ở nhà. Mà thôi, đã bảo là kể chuyện vui cơ mà…




7.

Trời tối đen như mực. Gió lạnh sởn da gà. Ánh đèn của một vài chiếc thuyền câu mực phía xa xa chiếu lại như những ngôi sao nhỏ nhoi đang lang thang giữa màn đêm đặc quánh. Tư Trung ngồi bên mạn tàu vừa điều chỉnh chiếc máy nén khí vừa chăm chú theo dõi anh em làm việc phía dưới. Điếu thuốc luôn đỏ chót trên môi. Thỉnh thoảng có con cá chuồn liều mình lao lên khỏi mặt nước bay về phía Tư Trung. Anh né người, con cá giãy đành đạch rồi phơi cái bụng trắng bệch trên sàn tàu. Những con mực ống nhao lên ăn đèn. Chiếc đèn pha được chỏa xuống mạn tàu làm sáng lên một khoảng nước trước mặt. Một tiếng đồng hồ đã trôi qua. Không biết ở dưới đó anh em đã tìm được gì chưa? Đây là vùng biển lần đầu tiên mình thử sức. Liệu sự thật ở dưới đáy biển có đúng với những tiên đoán của ông Tám “âm phủ” không? Những câu hỏi cứ nảy ra trong đầu Tư Trung. Kinh nghiệm mấy chục năm làm nghề đã tạo cho anh sự bình tĩnh, can đảm khi phải đối mặt với những tình huống xảy ra trong quá trình lặn. Trong tốp lặn này chỉ có thằng Thắng là còn hơi non nghề. Đáng lẽ công việc của nó là điều chỉnh máy nén khí phía trên nhưng lúc ăn cơm xong, nó xin phép Tư Trung được lặn cùng mấy anh để củng cố tay nghề. Đắn đo một lúc rồi Tư Trung cũng đồng ý với điều kiện chỉ cho nó lặn một tiếng thôi. Nó chưa quen nghề bằng anh em thì chỉ cho nó đi theo học nghề là chính. Muốn lặn thì hôm sau sẽ chọn một vùng nước cạn hơn cho nó lặn ban ngày, có gì còn dễ xử lý. Làm cái nghề này không tham, không cố được. Nếu không tuân thủ điều đó thì chết như chơi. Nếu có phúc thì sinh mạng cũng chỉ còn là nắm thân tàn ma dại. Dân lặn biển ở Lý Sơn đang cần những người như thằng Thắng để nối nghề. DÙ cái nghề này có nghiệt ngã, hiểm nguy đến đâu thì cũng cần phải tồn tại. Tồn tại để sống. Đáy biển là cơm áo gạo tiền.

Cái thằng quỷ này răng lâu vậy nhỉ? Định thi gan cùng mấy tay kia chắc? Tư Trung đang thắc mắc một mình thì thấy ánh sáng loa lóa dưới nước. Ánh sáng đèn đang dần trồi lên mặt nước. Chiếc đèn pha gắn trên trán nhô lên khỏi mặt nước, người mặc bộ đồ cao su bơi về mạn tàu. Thằng Thắng. Tư Trung mỉm cười. Anh giơ tay kéo nó lên tàu. Thằng Thắng tháo kính lặn, nhả ống thở, mồm thở hổn hển. Nó cởi chiếc túi lưới đeo bên cạnh mình, thò tay lấy mấy thứ ra đưa cho Tư Trung. Tư Trung nhìn kỹ. Một hộp bảng điện tàu, một chiếc thước song song bằng mica, nắp hộp điện, la bàn. Tư Trung chau mày: “Tàu đắm hả?”. “Vâng, một chiếc tàu đắm anh Tư ạ. To lắm!”. Thắng vừa thở vừa trả lời.

Dưới mặt nước lại có tiếp mấy người ngoi lên. Vừa trèo lên tàu, khuôn mặt ai cũng tỏ vẻ căng thẳng. Mọi người đều xác nhận những gì vừa tận mắt thấy dưới làn nước sâu. Bảy Nam cầm khẩu súng AK đã rỉ sét đưa cho Tư Trung: “Là một con tàu anh Tư ạ!”. Cầm khẩu súng chỉ còn lại phần thép, Tư Trung giọng run run: “Tàu chiến. Chắc là tàu của bộ đội mình!”. Bỗng Tư Trung nhìn khắp lượt anh em rồi quả quyết: “Được rồi, sáng mai tôi sẽ xuống. Chúng ta sẽ tìm để đưa các anh ấy lên!”.

Tư Trung lẩm bẩm: “Ông Tám “âm phủ” thiêng thật! Nói đâu trúng đó!”.

(còn tiếp)
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM