Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:31:34 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tuyển tập truyện ngắn về người lính  (Đọc 183668 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #20 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2008, 10:54:43 am »

CHIỀU VÔ DANH (tiếp)


... Trường Sơn, những chiều mưa rấm rứt. Những cánh rừng đại ngàn âm u, ẩm ướt. Vắt rào rào quăng mình trên lá mục vừa bén hơi người.

Tôi ì ạch bám sát đội hình hành quân. Đầu chúi xuống hai vai tê bại, đầm đìa mồ hôi, ớn lạnh. Dù đã độn lót khá kỹ, những cành đạn cối 60 ly vẫn cứ thản nhiên và vào lưng tôi đau thon thót.

Một tiếng chửi bật lên khe khẽ: “Tổ cha...”. Tôi ngẩng đầu lên. Vũ đang quài tay ra phía sau sờ mó cái ba lô vuông nhầy nhợt mỡ. Chết cha rồi! Cái thùng mỡ 10 ký đã bục vỡ trong ba lô. Mỡ nhểu giọt xuống lá rừng. Mỡ chảy theo lưng áo, ống quần và luồn qua gót chân, chui vào mặt dép đúc, trơn tuột. Vũ hơi cúi người, lột dép cầm tay và lại chửi: “Tổ cha bay!”.

Tôi buồn cười, nhưng không cười nổi. Mệt quá. Chỉ khẽ nhếch mép. Phải nói Vũ là thằng tốt nết nhất tiểu đội. Chỉ có nó mới chịu đeo cái “của nợ” ấy trên lưng mà đi ròng ròng ngày này qua tháng khác. Mồ hôi trộn vào mỡ khét mù. Lúc nào cũng nhớp nháp ngứa ngay. Có môt đêm, trong lúc đang mò mẫm lao người xuống một cái dốc đứng, Vũ túm phải một cây nứa tép dập, cây nứa cứa lòng bàn tay vũ tướp máu. Máu, mỡ, mồ hôi quyện vào nhau lầy nhầy. Nghĩ mà sởn gai gà!

Vũ lầm lũi bước đi trước mặt tôi. Cái thằng chân đi vòng kiềng mà khoẻ và lì số một. Hắn là con dân chài nòi vùng biển Nghệ An mà! Ôi chiến tranh kỳ diệu. Con người sinh ra và lớn lên trong bão tố biển khơi bỗng nhiên nhảy lên rừng sâu núi thẳm để tải bộ thế này? Tôi chợt nghĩ đến Thời. Hắn là một gã lính ba trợn ba trạo. Có thói quen nói mà không bao giờ thèm để ý đến người nghe. Những ngày đầu sống với hắn, tôi cứ chờn chờn ghê ghê. Người đâu mà băm bổ, thô lỗ?

Có lệnh tạm dừng, triển khai đào hầm, dựng lán. Tôi thở phào. Sẽ được xả hơi vài ba ngày đây. Không ai bảo au, tất cả đều nặng nề thả người đánh phịch xuống đất, xoạc rộng hai chân, ngả người vào chiếc ba lô và lim dim đôi mắt. Không ít chàng lính đã ngoẹo đầu ngủ rũ. Tôi cũng thèm ngủ kinh khủng. Đầu óc cứ mê mụ, bồng bềnh... Bỗng tôi giật thót. Một cái bàn chải sắt nào đó đang chà sát lên má tôi. Tôi tỉnh hẳn. Thời! Chính hắn! Hắn đang nhăn nhở cười. Dù biết hắn chính gốc Khâm Thiên – Hà Nội, tôi vẫn cứ ngờ ngợ. Hắn có bộ râu tua tủa rất đàn ông. Hắn không giấu giếm niềm tự hào về bộ râu rễ tre ấy. Hắn thường cao giọng kể đi kể lại mối tình đầu của mình. Hắn bảo sau mấy đêm đi chơi với bé (hắn gọi người yêu là “bé”), hắn hỏi: “Em có biết anh yêu em từ bao giờ không?” Bé đáp: “Chưa thấy!”. Thế là hắn lia râu túi bụi vào mặt bé. Hắn bảo bé cứ sướng rên lên... Mỗi lần kể xong, hắn lại cười khùng khục: “Cái hôn không râu như cà phê không đường!” Chẳng hiểu sao, các chiến hữu nghe mãi cái chuyện vặt ấy mà không chán? Ngược lại, hễ hắn dứt lời là tất cả ôm bụng cười ngả nghiêng, ngặt nghẽo, cười đau quặn thắt cả ruột gan. Đứa thì tung hô Thời là “lãnh tụ của ái tình”. Đứa lại gọi hắn là nhà “Ma sát thịt”. Còn tôi thì buột mồm gọi nôm là “Thời râu!” Xem ra Thời có vẻ ưng ý với cái tên của tôi hơn cả. Hắn chộp ngực tôi, day thật lực và hùng hồn tuyên bố: “Thời... râu! Được đấy. Vừa nho nhã, vừa đời và cũng rất...đực! Ô hô! ông Nghĩa thánh thật!...”

Vừa nói Thời vừa làm động tác nhún nhảy. A! Tôi thoáng bối rối, nhưng kịp trấn tĩnh ngay. Cái phản xạ đầu tiên của người lính mà tôi cũng quên phắt đi mất. Đi thì thôi, hễ dừng là phải đào hầm, cưa cây.

Tôi vừa ngật ngưỡng kéo cưa vừa lơ mơ ngủ và rồi lăn ra đất lúc nào không hay. Thời hì hục cắt gỗ một mình. Sau khi bó gỗ thành hai ccọ to, Thời mới đánh thức tôi dậy. Tất nhiên vẫn là bằng... bộ râu!

Hắn cất giọng khàn khàn:

- Về thôi!

Dứt lời, hắn xốc vác gỗ to tướng lên vai và lắc lư bước đi như con gấu. Tôi nhìn theo và thèm khát một sức vóc cường tráng như hắn. Hắn khoẻ phát sợ. Hai bên nách kẹp hai bao gạo 50 ký, hắn có thể ung dung bước đi như kẻ nhàn tản dạo mát. Dạ dày hắn có sức chứa bảy lần vục đầy cơm bằng loại bát B.52 và cao hứng lên, có thể tráng miệng thêm hai phong lương khô nữa. Hắn ăn như hùm, nhưng làm khoẻ như voi nên mọi người đều vui vẻ nhường nhịn hắn và hắn cũng sẵn lòng gánh vác giúp anh em những công việc nặng nhọc. Cái sức lực hơn người của hắn còn được chính hắn oang oang tô vẽ không chút ngượng ngùng rằng: “Mẹ kiếp! Đêm nào tao cũng mơ thấy bé. Và đêm nào tao cũng đánh mất một thằng Thời con. Biết đâu trong đám những thằng Thời con chưa kịp làm người ấy, chẳng có đứa sẽ là thi sĩ. Hô hố...”

Sau khi đào xong hầm thì tất cả đều mệt lử. Tôi cảm thấy cơ thể rệu rã, miệng đắng ngắt, mắt nảy đom đóm. Vẫn còn một việc nữa là lấp đất, Thời thở dốc, tì ngực vào cái cán xẻng, lầu lầu:

- Mẹ kiếp! Toàn nhữmg việc nặng nhọc, khốn khổ. Thằng lính mà phải làm cả thợ sơn tràng, thợ đấu, ngựa thồ... thì đến đá cũng phải xỉu, nói đếch đến người!

Nhìn đôi mắt đỏ ngầu đờ đẫn của Thời, tôi biết hắn đang phải vật lộn với con đói ngủ dữ dội lắm. Tôi giằng cái xẻng trong tay hắn, bảo:

- Ngủ đi! Giờ thì đến lượt tao làm việc chứ.

Có lẽ chỉ đợi thế, Thời đổ vật xuống đất, ngáy luôn. Bộ râu lem nhem đất và đầy những cọng lá khô quăn queo rung lên đều đều sao mà ngon lành?

Vừa phủ xong đất lên nóc hầm, chưa kịp chui vào ngồi thở thì có lệnh hành quân gấp. Cha mẹ ơi! Nước sông công lính. Chúng tôi lần ngược trở  lại co đường vừa mới đi hôm trước. Nghe đâu địch đã đánh hơi thấy một cuộc di chuyển lớn của binh đoàn. Tôi lắng nghe tiếng rên “eo...u u” dai dẳng của thằng OV-10 và buột mồm hỏi một câu bầng quơ:

- Chẳng lẽ nó ở tít trên cao kia mà cũng nhòm thấy cái thùng mỡ trên lưng Vũ khoèo hay sao?

Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #21 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2008, 10:55:13 am »

CHIỀU VÔ DANH (tiếp)

Chiến dịch lớn đã bắt đầu. Nó cuốn những người lính vào một cơn lốc chóng mặt. Nó thổi bay những ý nghĩ vụn vặt từng đeo bám trong đầu, nhưng cũng thổi bùng lên một nỗi khát thèm được sống tưởng đã bị vùi lấp trong vô vần những biến cố, những sự kiện chồng chéo lên nhau xô bồ, hỗn tạp.

Sống - đó là niềm hy vọng mỏng manh của những người lính trong bất kỳ cuộc chiến tranh nào, nhưng dường như càng mỏng manh nó càng hối thúc người lính phải suy nghĩ về nó một cách nghiêm chỉnh.

Chúng tôi hối hả hành quân giữa các làng quê và đô thị. Những bàn chân quen bước thấp bước cao trong rừng, nay nện gót trên mặt đường nhựa phẳng lỳ cứ tức anh ách. Máu tụ lại, da phồng rộp, vỡ toét, bỏng rát lên tận óc. Vừa đi vừa chạy vừa chạy vừa thở và xuýt xoa đau đớn. Dừng chân là nổ súng. Nổ súng xong lại chạy xuốt đêm ngày. Chiến tranh kết thúc đến nơi rồi. Mộtc cuộc chiến dù dài lâu đến đấu vẫn có ngày kết thúc! Và sẽ có một viên đạn cuối cùng dành cho một người lính cuối cùng ngã xuống trước giờ phút khải hoàn.

Chúng tôi đi suốt đêm và dừng lại ở một trảng cát. Phía sau lưng là một cánh rừng cao su bạt ngàn. Còn trước mặt là căn cứ địch rộng tám kilômet vuông. Đó là mục tiêu phải đánh chiếm của đơn vị chúng tôi.

Một tổ ba người moi một cái hố chiến đấu. Tôi, Vũ và Thời cũng âm thầm đánh vật với cát. Tiếng lưỡi xẻng bập vào cát sột sẹ. Tiếng thở nặng nhọc, gấp gáp. Những chùm pháo sáng của địch lơ lửng trên bầu trời, thứ ánh sáng lạnh lẽo ma quái. Thỉnh thoảng, một loạt đạn lửa từ trong căn cứ địch vọt lên bầu trời, loằng ngoằng những đốm lửa ma trơi.

Đang moi sâu dưới hố, Thời bỗng nhảy phắt lên, thở hồng hộc. Tôi ghé sát vào hắn, thì thào:

- Sao thế?

Thời lia cái cằm bàn chông vào má tôi, giọng rin rít:

-         Xương! Xương người!

Tôi và Vũ ngớ ra. Thời lẩm bẩm:

- Dép đúc, dây lưng...

Vũ buột miệng, lào thào:

- Quân ta à?

Tôi lẳng lặng lấy ra tấm ni lông màu cỏ úa và trải rộng trên cát. Thời nhảy xuống hố. Hắn thận trọng moi dần từng cái xương vùi trong cát ướt đưa lên cho chúng tôi. Tôi và Vỹ loay hoay xếp đặt. Tất cả là ba bộ hài cốt. Một tổ ba người bị bom vùi từ bao giờ? Chắc là từ hồi F9 trừng trị sư đoàn “Tia chớp nhiệt đới” của bọn Mỹ. Ngày ấy, bị địch giội bom rải thảm, nã pháo cực nhanh và dùng hàng đàn xe tăng bọc kín sau lưng, các chiến sĩ F9 đã quyết tử trên mảnh đất đẫm máu này. Mai sau, chẳng biết có ai đến đây để cắm một tấm bia với dòng chữ: “Nơi yên nghỉ của hàng trăm liệt sĩ vô danh thuộc sư đoàn 9 – QGPMN”? Thời chống hai tay vào mép hố, nhảy lên. Hắn vừa buộc túm tấm ni lông thành một bọc trông lởm khởm vừa thì thầm:

- Dám thưa hương hồn các anh. Bọn em gồm ba đứa là Thời râu, Vũ khoèo và Nghĩa thư sinh trói gà không nổi...

Nghe Thời khấn khứa, tôi chạnh lòng. Khoé mắt cay cay. Vũ cũng xúc động lắm. Hắn dụi nhanh mắt vào tay áo. Còn Thời khấn xong thì ngồi xổm, bần thần. Bộ râu bê bết cát ướt của hắn như dài ra, tua tủa, rung rung. Lát sai hắn chỉ tay xuống hố, giọng khàn đục:

- Phải mai táng theo nghi lễ nhà binh!

Tôi và Vũ còn đang ngơ ngác chưa hiểu ý định của Thời thì hắn đã gắt khẽ:

- Mỗi thằng nộp ba viên đạn AK thay cho ba loạt súng bắn vĩnh biệt.

Thời đặt cái bọc xuống đáy hố, xếp chín viên đạn thành một hàng ngay ngắn bên cạnh cái bọc và nhảy lên.

Sau khi lấp đầy cát vào hố, Thời bảo:

- Ngày mai, đứa nào còn sống phải nhớ đánh dấu ngôi mộ này. Nếu quên thì thằng Thời râu mang trọng tội lừa dối các linh hồn chết, hiểu chưa?

Chúng tôi hì hục moi cát đào một cái hố khác. Vừa buông xẻng thì pháo binh ta cũng khai hoả.

 

*   

Hàng nghìn quả đại bác và hàng chục phi đạn ĐKB gầm rít vang trời. Không gian như vỡ toác và rùng rùng chuyển động. Cùng lúc, các cỡ súng của địch cũng thi nhau khạc đạn. Cả một vùng trời đất bị nung nóng ngùn ngụt lửa khói. Không thể phân biệt nổi tiếng nổ của súng ta và súng địch. Chỉ còn một mớ âm thanh hỗn độn ù ù như xay lúa, chát chúa như muôn vàn cặp đe búa gõ đập loạn xạ bên mang tai.

Nép sát vào nhau dưới hai làn hoả lực khủng khiếp, chúng tôi tưởng như ngạt thở trong trạng thái cảm xúc đầy mâu thuẫn. Chợt thấy sung sướng là vì được chứng kiến đoạn kết ngoạn mục của một cuộc chiến tranh kéo dài ba thế hệ. Lại thoắt run bởi thấm thía nỗi sợ hãi xon người. Chao ôi, những ngày thiếu đói triền miên của cuộc đời sinh viên, những cơn nguy khốn cùng cực giữa vòng vây kẻ thù, những lời khen chê vô bổ, những soi mói đố kỵ tầm thường của người đời... Tất cả, phỏng có nghĩa lý gì khi chỉ lát nữa thôi, có thể sẽ bị vùi sâu dưới cát? Vào khoảnh khắc yếu đuối nhất của bản năng con người khi phải đối mặt với tử thần, tôi bất giác nhìn sang Thời. Hắn nghiến răng trèo trẹo, quai hàm bạnh ra, những sợi râu đen bóng dựng đứng lên như con nhím xù lông. Nhưng, không hiểu sao, tôi thấy hắn rất đẹp. Một vẻ đẹp ngạo nghễ gai góc, hình như hắn bất cần? Và vì thế, có lễ hắn không có những phút yếu đuối như tôi? Tôi bỗng nôn nao thèm khát có được phẩm chất liều lĩnh như hắn. Tôi bị thuyết phục trước vẻ đẹp ngang tành, dữ dằn của Thời. Tôi ôm lấy hắn. Khác với mọi lần, bộ râu của hắn không hề gây cảm giác khó chịu, mà hình như những sợi râu cắm vào da thịt tôi khiến tôi có thêm sức mạng, giúp tôi can đảm hơn! Đột nhiên, Thời quàng tay riết chặt cả tôi và Vũ. Tôi nghe rõ nhịp đập không bình thường của cả ba con tim. Thời nói. Lần đầu tiên, tôi được nghe hắn noi bằng một giọng run run, ngập ngừng:

- Nếu còn sống, chúng mày phải ra Hà Nội. Tao có hai đứa em gái...

Hoả lực của ta đột ngột chuyển làn, bắn sâu vào căn cứ địch. đó là hiệu lệnh mở cửa. Đại đội chủ công chúng tôi bắt đầu phần việc của mình.

Người thứ nhất ôm bộc phá lao lên. Một tiếng nổ rung chuyển trận địa. Cát bụi, mẩu dây thép gai, ống bơ... bay lên tung toé.

Dường như địch cũng nín thở, căng tai căng mắt chờ đợi cái biến cố sinh tử này?

Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #22 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2008, 10:56:15 am »

CHIỀU VÔ DANH (tiếp)

Cửa mở chìm trong lưới đạn dày đặc của kẻ thù. Chớp lửa loang loáng chói mắt. Tiếng nổ rền rĩ vô tận. Cát bị quyện vào khói lửa vón cục thành từng cây nấm xám khổng lồ từ từ bay lên không trung, tản ra, che kín cả một góc trời vần vũ...

Con số thương vong tăng lên chóng mặt. Hầu hết các cán bộ trung đội, tiểu đội đã hy sinh. Đồng đội của chúng tôi lần lượt gục ngã ở các hàng rào vòng ngoài. Vẫm còn hai hàng rào dây thép gai nữa.

Chính trị viên trưởng Toán rướn cổ thét to, giọng khản đặc:

- Đồng chí Hào dẫn bộ đội lên mở cửa!

- Rõ ... o õ!

Lát sau đã thấy hai người trườn ngang qua mép hố của chúng tôi. Đó là Bê phó Hào và chiến sĩ Bình. Hào động viên Bình:

- Bình tĩnh nhé! Ôm chặt bộc phá, chuẩn bị lao lên áp sát mục tiêu.

Bình ngẩng mặt lên, lý nhí: “Rõ!”. Bỗng “hự” một tiếng, Bình ngoẹo đầu sang bên phải. Một viên đạn xuyên qua trán Bình. Máu và óc trắng phun ra xối xả. Hào giật khối bộc phá trong tay Bình, đứng bật dậy, vọt lên. Nhưng cả một băng tiểu liên cực nhanh AR15 của địch đã hất anh ngã ngửa. Đầu Hào thõng xuống vai Thời. Thời nâng gáy Hào, vuốt mắt cho anh. Thời xoay xác Hào nằm dọc theo mép hố, lẩm bẩm: “Thế là toi một cây tiếu lâm!”. Những sợi râu dựng đứng của Thời chợt giãn ra nom dễ sợ.

Chiến sĩ  Ngọ từ phía sau bò lên, tiếp tục công việc dang dở của Bình và Hào. Ngọ bị trúng đạn vào chân nhưng vẫn cố lết lên. Chúng tôi dán mắt vào Ngọ. Hai mươi thước. Mười thước. Năm thước... Một vồng lửa tròn lăn tới và trong nháy mắt đã nuốt chửng Ngọ. Súng phun lửa! Thời chửi toáng lên: “Đ. mẹ! Chúng nó xịt súng phun lửa!”... Nhưng, Ngọ vùng đứng đậy. Toàn thân Ngọ rừng rực như một bó đuốc. Bó đuốc khét lẹt ấy lừng lững tiến về phía hàng rào. Một tiếng nổ kinh thiên động địa. Thịt xương người chiến sĩ bị hút vào cây nấm xám khổng lồ, bay lên trời và tan biến trong khoảng không mờ mờ, vô định.

Thắng, cậu liên lạc đại đội chạy ào đến chỗ chúng tôi như một cơn lốc. Thắng nằm sấp, hổn hển:

- Các anh trong Ban chỉ huy đại đội bị thương và hy sinh ba người rồi. Chỉ còn chính trị viên phó Huấn. Cấp trên chi viện xe tăng. Anh Huấn bảo anh Nghĩa cử người ra rừng cao su dẫn xe tăng vào vị trí chiến đấu. Hết!

Truyền xong lệnh, Thắng chồm dậy và lao vụt đi. Tôi bật lên tiếng kêu thảng thốt. Những con rắn lửa loằng ngoằng đang quấn lấy người Thắng. Chúng nó đổ đạn vào một mục tiêu trần trụi trên mặt đất. Trời ơi! Thắng còn trẻ quá. Chưa đầy mười tám tuổi và mới suýt soát ba mươi sáu ký!

Thời thở dài:

- Tôi và ông phải đi bộ đội và đi bộ đội là phải. Còn nó? Ai bắt nó tống gạch đá vào túi quần. Ai bắt nó khai gian ngày sinh tháng đẻ?

Đến lượt tôi thở dài. Thời nhăn nhó:

- Ông đa cảm bỏ mẹ. Sao không ở nhà mà làm thơ? Thôi, xin chào!

Dứt lời, Thời đứng dậy sửa lại bao đạn chuẩn bị vọt lên khỏi hố. Tôi vội vàng:

- Không! Việc này của tao.

Thời nheo mắt nhìn tôi. Những sợi râu của hắn giật giật như thể có một bàn tay vô hình nào đó đang túm những chân râu kéo tụt vào trong da. Tôi hiểu, đó là dấu hiệu của sự điên khùng. Mặc! Tôi vụt đứng dạy. Vũ cũng lập tức đứng dậy. Tôi ấn vai hai chiến hữu:

- Ngồi xuống! Nó xơi gọn cả tổ bây giờ!

Vừa kịp thụt xuống thì “oành”, một quả đạn cối 81 ly rơi sát mép hố. Oành! Oành! Oành... Mảnh cối rít lên lạnh gáy. Cát bụi trút ào ào xuống đầu khiến chúng tôi tối tăm mặt mũi. Thời khạc nhổ ầm ầm và văng ra một câu chửi rất tục.

Cối địch bắn lui dần về phía sau lưng chúng tôi. Hình như chúng muốn ngăn chặn quân ta ở trong rừng cao su?

Bỗng “xoẹt – rầm – oành! Oành oành oành...” Những tiếng nổ loạn xạ đã nuốt chửng tiếng gào thét của Thời. Chúng tôi đều ôm đầu, nhắm mắt. Chúng nã pháo 155ly. Những quả đạn réo lên như xé màng nhĩ và nổ từng chuỗi như bom chùm. Thời lắc đầu rũ đất cát, rác rưởi đầy tóc đầy râu, gào lên:

Nghe đây! Sau này chúng mày chịu khó lang thang khắp 36 phố phường Hà Nội tìm “bé” cho tao. Còn bây giờ, tao ra dẫn xe tăng. Đứa nào cãi, tao rút chốt lựu đạn US cho chết luôn cả ba ở đây!

Tôi gai người trước những lời lẽ quyết liệt của Thời. Đầu óc sách vở của tôi còn kịp hiểu rằng Thời là một hiệp sĩ mà chúng tôi phải chịu ơn suốt đời. Vũ rơm rớm nước mắt:

- Anh Thời ơi, anh cầm nốt chỗ bông băng cá nhân của em...

Rồi Vũ run rẩy móc túi ngực ra mấy viên tăng lực ấn vào miệng Thời, nói vội: “Anh ăn đi để lấy sức”...

Tôi ôm lấy Thời, âm thầm gạt nước mắt. Những sợi râu xuyên qua áo lính, mơn man trên da thịt tôi buồn buồn, nao nao. Mắt tôi nhoè nhoẹt, cay xót. Thời buông tôi. Đôi mắt hắn đỏ ngầu, nhưng không phải màu đỏ của cơn đói ngủ hôm nào. Hình như hắn cũng khóc? Theo cách của hắn. Những mao mạch trong mắt hắn vỡ ra thành nước mắt. Hắn cất giọng khàn khàn, là lạ:

- Vĩnh biệt!

Thời phốc lên và mất hút trong biển cát bụi mịt mù. Tôi căng mắt dõi theo bóng Thời. Không thấy gì cả. Chỉ có khói lửa cuồn cuộn. Một cảnh tượng tan hoang, hỗn độn. Có cái gì đang sụt lở ầm ầm trong tâm tưởng? Lòng đầy mặc cảm, tôi muốn được hét lên gọi tên Thời. Hắn thế đấy! Dám sống thật với con người thật của mình. Đùa bỡn với tất cả!

Tôi mệt mỏi ngồi thụt xuống hố và lại bồn chồn đứng bật dậy. Vũ nhìn tôi, đôi mắt đỏ hoe, thẫn thờ. Cái hố cát nơi chúng tôi đang đứng chợt như rộng ta, toang hoác, trống trải lạ lùng - Ước gì nó rộng nữa, rộng mãi và tan biến thành biển cả hay sa mạc.

Mặt đất bỗng rung lên cùng với những tiếng động lạ. Xe tăng! Tiếng ai đó reo lên. Tôi và Vũ cùng dán mắt vào cánh rừng cao su. Đúng là xe tăng rồi!

Bốn chiếc xe tăng T34 từ trong rừng cao su lừ lừ bò ra. Xe tăng ta vừa hành tiến vừa nã đạn yểm trợ cho bộ binh mở cửa. Chúng tôi nhìn rõ Thời ngồi chễm trệ trên chiếc xe tăng đi đầu.

Bàng hoàng vì sự xuất hiện đột ngột của bốn chiếc xe tăng, súng địch chợt im bặt khoảng mấy giây đồng hồ. Nhưng, ngay lập tức, quân địch điên cuồng giáng trả. Một cơn mưa đạn cấp tập ác liệt trùm lên bốn chiếc xe tăng. Mặt đất chao đảo. Không gian như bị nung nóng hàng ngàn độ trong cuộc đọ sức của sắt và lửa. Tưởng như tất cả sẽ hóa lỏng trong chớp mắt.

Bỗng, một quầng lửa màu da cam bùng lên, phủ kín chiếc xe tăng đi đầu. Một tiếng nổ long óc... Chiếc xe tăng bốc cháy đùng đùng. Con mãnh thú bị tử thương còn kịp gửi lời chào vĩnh biệt bằng mấy phát đạn cuối cùng. Không có chiến sĩ nào bật nắp tháo pháo nhảy ra! Bi tráng thay là cái chết của những người lính xe tăng. Họ tự đến, tự đi, tự bắn chào vĩnh biệt và tự mai táng cho mình! Mắt tôi hoa lên, chập chờn... Lửa vàng rừng rực... khói đen cuồn cuộn... Tiếng nổ âm u, văng vẳng... Mười ngón tay vô tri của tôi chới với bấu vào bờ cát đang sụt lở... Thời ơi!

 
Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #23 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2008, 10:56:52 am »

CHIỀU VÔ DANH (tiếp)

Tôi cũng không nhớ nổi, sau cái chết của Thời cùng năm chiến sĩ xe tăng, tôi và Vũ đã xông lên như thế nào và vì sao tôi còn may mắn sống sót?

Tôi còn sống? Sống ngơ ngác giữa bãi chiến trường ngổn ngang bao nhiêu đồng đội đời đời im lặng! Tại sao kẻ may lạ là tôi? Nếu tất cả những kẻ hay do dự và sĩ diện hão như tôi đều sống sót cả thì cuộc đời mới vô duyên làm sao? Ờ, tại sao kẻ thù lại bắn tồi đến thế? Tôi cũng xông lên, cũng phơi mình lù lù trên bãi trống kia mà! Sao tôi không dính một viên đạn? Ôi, Thời, mày thiêng lắm! Bom đạn tránh người mà! Nhưng mày đâu biết nó tránh những ai?

Chiến tranh đến trời long đất lở và ra đi lặng ngắt như thế này ư? Tôi lẳng lặng bước đi như một kẻ mộng du. Tôi lẩm bẩm gọi tên từng người đang yên nghỉ theo những tư thế rất khác nhau. Vũ đây! Chàng trai vùng biển chất phác vô tư, chỉ nghe nói đến chuyện người ta hôn nhau đã thẹn thùng ngượng nghịu. Tôi quỳ xuống vuốt mắt cho Vũ và cúi đầu vĩnh biệt. Nước mắt tôi ứa ra, ròng ròng. Bên má tôi còn ấm nóng hơi thở của Vũ đêm nào, gần đây lắm, chỉ vài chục tiếng đồng hồ thôi... Bây giờ... Tôi nấc lên nghẹn ngào và lảo đảo đứng dậy. Tôi vừa loạng chạng bước thấp bước cao vừa lảm nhảm gọi tên đồng đội. Bình này, Ngọ này, Hảo này, Lân này, Hùng này, Phong này, Khương này... Bỗng tôi khựng lại. Thắng! Chú liên lạc đại đội nằm ngửa, giang rộng hai tay hai chân, đôi mắt mở to nhìn bầu trời cao xanh vòi vọi. Tôi ngồi xụp xuống, vuốt mắt cho Thắng nhưng vô ích. Thi thể người lính trẻ đã lạnh ngắt, cứng đờ. Chẳng lẽ Thời luôn luôn đúng? Đôi mắt trong veo của Thắng chưa kịp hiểu gì hết! Cả cuộc đời và cả chiến tranh. Thế mà lồng ngực bên trái của Thắng đã hứng trọn một loạt đại liên bắn vỗ mặt?

Tôi cúi đầu im lặng. Không gian cũng im ắng lạ thường. Chỉ có giò ù ù bên tai. Bầu trời quang đãng bao la. Và con người sao mà bé bỏng? Và tôi ngậm ngùi hiểu ra rằng, khi buông vũ khí, tôi mới là kẻ đáng thương đến chừng nào?

Bất giác, tôi vồ lấy khẩu AK, lên đạn và chĩa thẳng nòng súng lên trời. Tôi nghiến răng bóp cò. Có tiếng ai đó quát to. Mặc! Tôi quẳng cái hộp đạn rỗng và lắp tiếp một băng khác. Lại lên đạn và xiết cò. Ai đó bóp mạnh vào vai tôi, quát:

- Điên hả? Không được bắn nữa!

Tôi mắm môi, miết cứng vòng cò. Một tiếng “đoàng” lẻ loi, khô khốc. Hết đạn. Đó là viên đạn cuối cùng trong đời lính của tôi. Tôi thẫn thờ buông thõng khẩu súng. Tôi bỗng thèm được nghe tiếng gầm của hàng ngàn khẩu trọng pháo. Thiếu vắng những âm thanh đó, tâm hồn tôi như hụt hẫng?

Chính trị viên phó Huấn đứng trước mặt tôi. Nom anh hốc hác, nhợt nhạt. Anh buồn rầu, nói:

- Không tìm thấy xác Thời, ông ạ!

Tôi giật nẩy người:

- Sao? Mất xác à?

Huấn gật đầu và lầm lũi bước đi. Tôi chạy như bay tới chỗ chiếc xe tăng bị bắn cháy đen thui. Không còn dấu vết gì của Thời, kể cả một vệt máu cháy đen.!

Chúng tôi dàn hàng ngang tìm kiếm. Mười phút. Hai mươi phút. Rồi ba mươi phút. Bất chợt, tôi dừng lại trước một đám kiến đen lổm ngổm, xúm xít. Tôi vội ngồi xuống, dán mắt vào cát. Không có gì cả. Đàn kiến đang kiếm ăn trên một vũng máu tím bầm đầy cỏ rác và bụi bặm. Tôi thất vọng đứng dậy đảo mắt nhìn đám kiến đen đang tầng tầng lớp lớp bu quanh một miếng mồi. Một miếng mồi tua tủa râu đen.

Tôi qùy đầu gối xuống cát, chống hai tay, chổng mông, phồng má lấy hơi thổi đám kiến đen đang lăn xả vào phần thi thể của Thời. Vô ích! Chúng cứ ỳ ra không chịu buông tha miếng mồi. Và hình như chúng còn cố tình trêu ngươi tôi? Chúng chúi đầu rúc sâu vào các chân râu, ngoáy chân, một cách ngạo mạn. Mắt tôi long lên nhức nhối. Những con kiến đen to dần, to dần đến khủng khiếp. Những sợi râu của chúng oằn oại như những cái vì bạch tuộc. Những chiếc răng của chúng nhọn hoắt như răng cá mập. Người tôi chợt đờ ra, lạnh toát. Một nỗi sợ hãi xen lẫn sự kinh tởm dâng lên khiến tôi nghẹt thở và buồn nôn. Kiến đen, những con vật nhỏ bé hiền lành vụt trở thành những tên đồ tể khổng lồ say máu một cách điên dại. Chúng đang gặm sồn sột khiến tôi đau đớn và bất lực. Nhưng, chính vào cái thời khắc yếu đuối một cách quái gỡ ấy, hàng ria vểnh lên ngạo nghễ của Thời đã hối thúc tôi hành động. Tôi dùng bàn tay phải cướp lại mảnh thi thể của Thời. Những con kiến đen túa ra trên mu bàn tay và các kẽ ngón tay của tôi. Chúng tràn cả lên trên phía cổ tay. Tôi điên tiết dùng bàn tay trái miết mạnh giết từng con cho đến khi không còn một mống kiến đen nào trên tay tôi nữa. Giá có một nắm rơm hoặc một can xăng, tôi sẽ phóng hỏa thiêu sạch lũ kiến nhung nhúc trên mặt đất. Tôi dùng hai đế dép đúc chà đi xát lại đám kiến đàn chạy trốn náo loạn. Tôi biết là không thể nào tận diệt được những sinh vật nhỏ bé này bởi vì chúng có mặt ở khắp các hang cùng ngõ hẻm. Và bởi vì tạo hóa sinh ra chúng cũng như đã sinh ra con người vậy. Mọi tính toán nhằm tận diệt lẫn nhau đều có kết cục đáng buồn. Tôi thốt rùng mình như bị lên con sốt rét ác tính...

... Trong cơn mơ chập chờn mộng mị, tôi nghe văng vẳng một lời ai đó rất mơ hồ: “Không khéo tay này bị bệnh thiếu máu não cũng nên!”.

Nguồn: Tạp chí VNQĐ
Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #24 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2008, 10:58:06 am »

CÂY SỐ 42


Sân bay Tân Sơn Nhất, một buổi chiều. Những ngọn gió nam không bị vật gì kìm hãm, rít vù vù trong cuộc đuổi nhau bất tận, cuốn tung những ngọn cờ trên nóc nhà ga, và bên cạnh tôi những tà áo dài của các chị em trong đoàn đi đón khách bay vờn lên như những cánh bướm.

Truyện ngắn. DŨNG HÀ

Chiếc máy bay TU.134A lăn những vòng bánh cuối cùng rồi dừng lại ở vị trí quy định. Mấy phút sau chiếc cầu thang đã được đặt xong và cửa máy bay mở rộng. Các vị khách quốc tế xuất hiện trên khung cửa giơ tay vẫy chào đáp lại những cánh tay và những lời reo vui nồng nhiệt của chúng tôi, những người đón khách.

Đó là những vị khách đến dự một cuộc họp quốc tế quan trọng được tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh.

Cùng với các bạn trong đoàn ra đón, tôi lần lượt bắt tay các vị khách quý, những nhân vật có tên tuổi, nam và nữ của hai lục địa. Họ đều cao lớn, khoẻ mạnh với những gương mặt cởi mở, trang nghiêm, hoặc bỡ ngỡ với những màu da trắng hồng hoặc nâu và đen.

Tôi xiết chặt tay một người mặc âu phục xám, dáng cao và mảnh khảnh, có hàng ria đen khá đậm để theo kiểu người Ả Rập và chào anh bằng tiếng Pháp.

- Chúc mừng đồng chí đã đến thăm đất nước chúng tôi.

Người khách nắm chặt tay tôi và thật bất ngờ, anh đáp lại bằng tiếng Việt khá sõi:

- Chào đồng chí! Rất cảm ơn đồng chí đã ra đón chúng tôi. Đồng chí có mạnh khỏe không?

Ngạc nhiên tôi ôm lấy người bạn quốc tế mà ngay từ câu nói đầu tiên đã tỏ ra am hiểu phong tục Việt Nam. Anh đã chẳng hỏi thăm ngay sức khỏe của tôi như một người bạn thân lâu ngày mới gặp lại đó sao?

- Anh nói được tiếng Việt? Hay quá! Anh nói được nhiều không?

- Tàm tạm - Anh bạn nhã nhặn gật đầu, miệng tủm tỉm, lộ vẻ hóm hỉnh - Tôi nói còn xoàng hơn mấy cha kia!

Anh hất hàm về phía những người bạn quốc tế đang tíu tít bên những cô phiên dịch và những bạn bè quen thuộc ra đón.

"Chà! Vớ được anh Tây mắm tôm". Tôi hết sức hứng thú trước sự bất ngờ này, nghĩ thầm trong bụng rồi lần lượt bắt tay những người bạn khác. Sau đó, tất cả chủ và khách cùng nắm tay nhau đi vào phòng khách của nhà ga.

Anh bạn mà tôi vừa quen, đi trước cùng các đồng chí trong ban chấp hành ra đón. Tôi nhìn anh từ phía sau. Lưng anh hơi còng và lệch vai bên phải. Nhìn kỹ thấy bước chân anh hơi tập tễnh dường như chân trái có tật. Mái tóc đen dài và xoăn của anh đã bạc trắng ở hai bên thái dương. Tôi bỗng mơ hồ như đã gặp anh ở đâu. Nhưng nghĩ mãi không nhớ ra.

Đêm hôm ấy, trong căn phòng nhỏ trên tầng lầu ba của một khách sạn bên sông Sài Gòn, tôi cứ trăn trở mãi không ngủ được, bâng khuâng nhớ lại cảnh tượng ban chiều. Cùng phòng với tôi, là một anh bạn ở Hà Nội vào. Chúng tôi trao đổi với nhau những nhận xét, những cảm nghĩ và ấn tượng ban đầu trong cuộc tiếp đón những bạn quốc tế. Tôi kể lại cho anh bạn Hà Nội nghe về người khách nói tiếng Việt rồi phàn nàn:

- Trí nhớ mình tồi quá! Hình như mình đã gặp ông ấy ở đâu một lần.

Anh bạn đã ngái ngủ nhưng cũng gắng tỏ ra lịch sự trả lời:

- Ông thử nhớ lại những lần ông đi họp ở Liên Xô, ở Đức, ở Tiệp, ở Mông Cổ hay đi thăm Ấn Độ, Cu Ba xem?

- Cái gương mặt ấy, kiểu tóc ấy, bộ ria mép ấy, rõ ràng là người Ả Rập.

Anh bạn Hà Nội cười phá lên:

- Nói như thế cũng chẳng khó gì! Nhưng họ là người nước nào? Thôi ngủ đi! Mai hỏi khắc biết!

Chỉ mươi phút sau, tôi đã nghe tiếng ngáy đều đều của anh bạn Hà Nội. Thế mà tôi vẫn không sao ngủ ngay được. Kỳ lạ! Hình ảnh người bạn quốc tế cứ xoắn lấy tôi. Tôi lặng lẽ ngồi dậy đốt một điếu thuốc rồi đến bên song cửa nhìn ra. Đêm đã về khuya. Từng cơn gió mát lạnh từ sông Sài Gòn thổi vào vuốt ve da thịt khiến tôi thấy tỉnh táo hẳn lên. Ngoài đường Tôn Đức Thắng chạy dọc bờ sông, lúc này xe cộ đã thưa thớt hẳn, không còn nghe thấy tiếng nổ phành phạch đến nhức tai của những chiếc xe lam hay xích lô máy, cũng như không còn phải hít cái mùi khói dầu khét lẹt do những chiếc xe đó phun ra. Không gian thoảng mùi êm dịu của hoa dạ hương từ một vườn hoa hay một dã thự nào đưa tới, lẫn với mùi tanh nhàn nhạt của mặt sông xao động dưới những ánh đèn xa và hương vị ngọt ngào trong vắt lúc này của gió. Thỉnh thoảng, có tiếng vọng ì ầm từ bên kia bến phà Thủ Thiêm hay mãi bên Khánh Hội hoà với tiếng còi xa xăm của vài chiếc tàu nhỏ đang rời hay cập bến. Dọc bến Bạch Đằng hàng trăm ngọn đèn lung linh mờ tỏ trên những con tàu đại dương sơn màu trắng, vàng hay nâu, dăng hàng, trang nghiêm, im lìm như một hạm đội đang chuẩn bị chiến đấu. Bầu trời cao thẳm đen sẫm. Ức triệu vì sao lung linh trải ra tít tận chân trời.

Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #25 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2008, 10:58:38 am »

CÂY SỐ 42 (Tiếp)

Tôi lục tìm trong trí nhớ, hồi tưởng lại tất cả những chặng đường đã đi qua ở nước ngoài, những hội nghị, những cuộc viếng thăm, những ngày tắm nắng ở bờ Bắc Hải, những buổi toạ đàm ở Niu Đely… Nhưng hoài công. Tôi đã không thể nhớ lại được một gương mặt nào như thế, với dáng đi tập tễnh, đôi vai lệch và tấm lưng dài hơi còng như thế.

Tôi lại trôi theo dòng hồi tưởng ngược về những năm tháng xa xưa, trong những ngày gian nan chống Mỹ, dọc đường khu Bốn, khu Năm, theo đường Trường Sơn vào tận các bưng biền miền Nam, đến khi tôi trở về thành thị và những ngày sôi động ở Sài Gòn. Không. Tôi đã không gặp một người nào như thế!

Tôi đốt điếu thuốc "475" thứ ba, tiếp tục lần ngược dòng ký ức về tận những ngày xưa cũ, quãng thời gian chống Pháp, tiếp quản Thủ Đô đuổi giặc ở đồng bằng Bắc Bộ, ngược về chiến dịch Điện Biên Phủ. Tính tôi vốn như vậy: đã vương vấn nghi hoặc một điều gì là tự tìm cách lý giải đến cùng cho đến khi sáng tỏ mới thôi.

Bỗng như tia chớp loé: một kỷ niệm vụt hiện lên trong trí nhớ tôi. Rồi nó cứ xoắn xuýt mãi, lúc đầu còn mơ hồ mỏng manh như khói sương, sau dần dần tụ hội lại, ngày càng rõ nét, càng hoàn chỉnh. Tôi bàng hoàng vui sướng kêu lên: "Đúng rồi!". Nhưng ngay sau đó, cảm giác hoài nghi khi nghĩ về thực tại lại lập tức chế ngự đầu óc. Tôi tự nhủ: "Không làm gì có chuyện như thế! Người đó đâu còn nữa! Ở đời thiếu gì người giống nhau!".

Tôi bồi hồi trở về giường, khẽ khàng đặt lưng để khỏi làm anh bạn Hà Nội thức giấc. Tôi đặt cho mình một nhiệm vụ là sáng mai phải tìm gặp anh bạn ban chiều và hỏi cho ra ngọn ngành. Yên tâm, tôi ngủ thiếp đi.

Hôm sau cuộc họp được tiến hành trong một hội trường tráng lệ của thành phố. Tôi ngồi ở chỗ dành cho các nhà báo trong nước được mời. Cả buổi sáng, cả buổi chiều, tôi nhìn lên phía đoàn chủ tịch, tai lắng nghe những lời phát biểu qua máy phiên dịch, mắt lại luôn nhìn anh bạn chiều qua. Rõ ràng anh là một nhân vật quan trọng trong cái tổ chức quốc tế Á - Phi này. Người ta gọi anh một cách trọng vọng là Ápđun Môhamét.

Tôi cũng nhận thấy một điều khác lạ. Ápđun ngồi trên ghế đoàn chủ tịch, thường đưa mắt nhìn về phía chúng tôi. Cặp mắt nâu hơi sâu và trầm tĩnh của anh như tìm kiếm và khi anh phát hiện ra tôi, dường như cặp mắt ấy ánh lên một nét bỡ ngỡ lẫn mừng vui. Khi anh bước lên diễn đàn, giọng nói của anh trầm ấm và kiên nghị:

- … Trong cuộc chiến tranh thần thánh chống bọn xâm lược Mỹ, nhân dân Việt Nam anh hùng đã giành được sự đồng tình, ủng hộ của cả loài người tiến bộ. Bằng những cống hiến của mình, những bạn bè của các đồng chí ở khắp năm châu đã góp phần tích cực vào việc lên án bọn xâm lược, ca ngợi và cổ vũ cuộc chiến đấu chính nghĩa của Việt Nam. Chúng tôi vui mừng và tự hào trước sự đánh giá của bạn về phần cống hiến nhỏ bé này. Ngày nay trong công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng đất nước của Việt Nam, chúng tôi cũng giành toàn bộ tình cảm và sự ủng hộ của mình. Chúng ta đoàn kết với Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh chống đế quốc, giữ gìn độc lập dân tộc và bảo vệ hoà bình…

Phiên họp cuối cùng chấm dứt, mọi người ùa ra hành lang sân nghỉ ngơi trong lúc chờ đi dự buổi chiêu đãi của Uỷ ban Nhân dân thành phố.

Tôi đến ngồi trên chiếc sôpha, cạnh một chiếc bồn lớn bằng sứ tráng men xanh, trồng một cây bông sứ đẹp mê hồn, chờ cho Môhamét dứt khỏi những bạn bè. Thì chính anh ấy đã bước đến bên tôi với dáng cả quyết đáng mến:

- Xin lỗi! Tôi muốn được nói chuyện với anh, được chứ?

Tôi vội đứng dậy, nắm lấy tay anh, không giấu được vẻ mừng vui:

- Tôi rất mừng là lại được nói chuyện với anh. Mấy ngày qua anh bận quá. Tôi có một băn khoăn muốn hỏi anh…

Ápđun ôm lấy vai tôi nồng nhiệt nói:

- Trời ơi! Chính tôi cũng đang muốn được gặp anh. Tôi cảm thấy rất quen anh, như là đã được gặp anh ở đâu rồi.

Tôi khẽ nắm tay anh:

- Anh cho phép tôi hỏi, trước đây anh đã sang Việt Nam lần nào chưa? Anh học tiếng Việt từ bao giờ mà nói khá thế?

- Tôi sang đây lần này là thứ ba.

- Lần thứ nhất là bao giờ? Hồi chiến tranh chống Pháp, anh có ở đây không?

Ápđun nhìn chằm chằm vào mặt tôi, mặt đỏ lên vì xúc động:

- Lần thứ nhất là từ cuộc chiến tranh Pháp - Việt. Lúc ấy tôi là lính trong quân đội Liên hiệp Pháp.

Tôi hồi hộp hỏi dồn:

- Anh có dự trận Điện Biên Phủ không?

- Tôi có dự. Tôi là lính của tiểu đoàn lê dương đóng trên đồi Anne Marie.

- Anh có ở trong đoàn tù binh về Thanh Hoá không?

- Có!

- Anh có nhớ vụ trực thăng ở cây số 42 không?

- Trực thăng? Không bao giờ tôi quên được việc ấy!

- Anh còn nhớ một commăngđăng và một cô gái thanh niên xung phong không?

Ápđun nắm chặt cánh tay tôi. Nét xúc động tràn ngập ánh mắt anh:

- Tôi có nhớ! Làm sao có thể quên được!

- Thế anh có phải là người lính đó không?

- Chính tôi đấy!

- Trời ơi! Hoá ra anh đấy ư? Anh có nhận ra tôi không?

Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #26 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2008, 11:00:14 am »

CÂY SỐ 42 (Tiếp)

Ápđun Môhamét bỗng run lên. Ánh mắ nóng bỏng của anh như cắm sâu vào mắt tôi. Trong một thoáng, hình như anh đang cố hình dung ra một bóng dáng xa vời của dĩ vãng. Cặp môi anh mấp máy, rồi anh ôm chầm lấy tôi, hoan hỉ kêu lên:

- Mon commandanf!(1)

- Bella!

Bỗng chốc, tôi bật nhớ ra tên anh.

*
*   *

Lúc ấy, vào khoảng ba giờ chiều ngày mồng 7 tháng 5. Tiểu đoàn chúng tôi đã đánh chiếm hoàn toàn cứ điểm A1 mà tướng Đờ Cát gọi bằng cái tên mỹ miều là Anne Marie, sau một tháng giằng co ác liệt.

Các đại đội, với số quân vơi đi quá nửa, chia nhau chiếm giữ các vị trí, các ụ súng, các giao thông hào, sẵn sàng đánh địch phản kích từ trung tâm Mường Thanh lên. Sở chỉ huy tiểu đoàn đặt trong một công sự đắp nổi bằng bao cát mà trong sơ đồ tác chiến, chúng tôi gọi là Ụ Thằng Người vì nó ở ngay bên một gốc cây cụt, trông xa như một người bước lom khom.

Tù binh đã được đưa ra hết phía sau từ buổi sáng, nhưng đó đây, từ các hầm bí mật, bọn lê dương, có vài tên sĩ quan chỉ huy vẫn ngoan cố chống cự. Chúng luồn lỏi trong những đoạn đường hào lấp kín, bất ngờ ném lựu đạn vào những ụ súng có bộ đội ta chốt giữ. Công việc tảo trừ bọn tàn quân kéo dài đến tận chiều và đến lúc này mấy tên tù binh cuối cùng đã bị dồn vào một lô-cốt không mái che. Một chiến sĩ cắp khẩu tiểu liên "Tuyn" đứng gác.

Tôi đứng trên Ụ Thằng Người chiếu ống nhòm nhìn xuống khu Mường Thanh. Chiều tháng 5, trong khu lòng chảo rất oi bức. Trời trong xanh kông gợn một đám mây. Hai chiếc Đakota bay khá cao đang cố lượn những vòng tuyệt vọng, thả dù xuống khu trung tâm. Những chiếc dù trắng tung ra, lủng lẳng những chùm đạn đại bác 105 ly, những hòm thực phẩm. Còn những cuộn dây thép gai thì chúng cứ đẩy thẳng xuống, gây nên khủng khiếp cho bọn lính đang lúc nhúc dưới các hầm hào. Tiếng súng lớn nhỏ dội lên khắp nơi. Mấy chiếc xe tăng T18 cuối cùng đang cuống cuồng chạy đi chạy lại. Nhưng toàn bộ khu trung tâm đã lộ ra một quang cảnh nhốn nháo hỗn loạn khác thường. Dọc những mép hào giao thông nối liền các vị trí còn lại của địch, trông xa giống như trăm ngàn tổ kiến, những tên lính Pháp đang lũ lượt chạy dồn vào khu trung tâm. Rất nhiều tên đã bỏ súng nhảy lên ngồi trên mép hào. Xa xa, về phía Tây và Nam, bỗng xuất hiện những lá cờ trắng.

Đại đội trưởng Thuỵ giương ống nhòm quan sát một lúc, bỗng hét to:

- Anh Vũ! Địch đầu hàng rồi!

Khắp đồi A1, vang động những tiếng reo hò. Các chiến sĩ cực kỳ phấn khởi, nhảy cả lên nóc lô cốt. Giờ cáo chung của tập đoàn cứ điểm đã đến rồi!

Đúng lúc đó hàng loạt tiếng đề-pa của súng cối 120 ly từ Hồng Cúm vèo vèo rít gió, hướng về phía chúng tôi. Tôi chỉ kịp thét:

- Nó bắn đấy! Nằm xuống!

Hàng chục quả đạn cối 120 ly đã ầm ầm quật xuống đồi A1. Tiếng nổ chát chúa như xé tai. Khói đen đặc trùm kín nơi chúng tôi đang đứng. Tiếng kêu thét "Mon Diêu!" của mấy tên tù binh lẫn trong tiếng kêu thất thanh của đại đội trưởng Thuỵ:

- Tôi bị rồi anh Vũ ơi!

Chúng tôi lao vào lô-cốt giam tù binh giữa làn khói bụi sặc sụa khét lẹt. Chiếc lô-cốt đã vỡ tung. Một quả đạn rơi đứng giữa căn hầm lộ thiên, giết chết tươi ba tên tù binh. Tên còn lại máu me đầy mặt đang run bắn, nép vào góc tường, giương cặp mắt nâu đờ dại nhìn chúng tôi, miệng lắp bắp: Mon Dieu! Mon Dieu!(1).

Tôi ôm đại đội trưởng Thụy trên tay. Một mảnh đạn đã làm đùi trái anh bị gãy nát và trên bụng anh, máu trào ra ướt đẫm bàn tay tôi. Gương mặt Thuỵ tái xanh, nhưng Thuỵ nói vẫn bình tĩnh:

- Anh Vũ! Nó chỉ có thể phản kích bằng hoả lực được thôi! Cho anh em sơ tán rộng ra.

Đưa Thụy sang căn hầm khác cấp cứu và tổ chức cáng thương đưa anh về phía sau xong, y tá tiểu đoàn băng bó cho tên tù binh còn sống sót. Nó có vẻ chịu đựng, tự tay xé rộng ống quần để lộ vét thương đỏ lòm. Cặp môi dày của nó mấp máy:

- Merci! Merci bien mon caporal(2).

Tôi đang cay đắng vì tổn thất bất ngờ xảy ra trước giờ toàn thắng, không khỏi mỉm cười trước câu nói "cầu tài" của tên lê dương. Tôi dằn giọng bảo nó:

- Thấy rõ bộ mặt Đờ Cát chưa? Đứa nào giết chúng mày?!

Tên tù binh ngước cặp mắt thảm hại nhìn xác mấy tên đồng bọn lẩm bẩm: "Khủng khiếp quá! Khủng khiếp quá!".

Tiểu đoàn trưởng Dũng bắn trọn một băng đại liên quét sườn một toán địch dang lò dò lên chiếm lại đồi Châu Ún, chi viện cho đơn vị bạn. Anh vất súng, nện đôi giày đinh chiến lợi phẩm cồm cộp đi vào. Tay đặt lên khẩu Brôninh Canada, anh nói rít trong kẽ răng. Anh nói tiếng Pháp rất thạo:

- Chúng mày phải chết.

Nhìn nòng súng chĩa vào ngực mình mỗi lúc một gần, tên tù binh bật dậy:

- Mon commandant! Tôi không có tội!

- Không có tội! Mày? Một tên lê dương?

- Thưa ông, tôi đã phản chiến! Tôi đã chạy sang hàng ngũ các ông.

Tiểu đoàn trưởng phì cười:

- Chúng tao bắt mày tại trận mà mày lại là hàng binh à?

Tên tù binh vẫn đứng theo tư thế nghiêm:

- Xin phép ngài thiếu tá được báo cáo!

- Nói đi!

- Thưa ngài thiếu tá! Cách đây ba ngày tôi đã rời khỏi căn cứ này chạy ra rừng để tìm đến hàng quân đội Việt Nam. - Hắn lóng ngóng lần túi trong chiếc áo "bắt gà" rộng lùng thùng rút ra một tờ giấy trắng gấp cẩn thận:

- Thưa ngài thiếu tá! Tôi nhặt được tờ truyền đơn của các ngài cách đây một tuần. Tôi liền đào ngũ chạy ra rừng. Nhưng loanh quanh ba ngày không gặp bộ đội Việt Nam. Tôi lại bị quân tuần tiễu bắt gặp, trả về đại đội. Tôi bị phạt giam ba ngày. Khi các ngài đánh vào, capiten(1) buộc tôi cầm súng chống cự. Tôi chỉ bắn lên trời, cầu Chúa che chở cho. Đúng lúc ấy các ông tràn vào…

Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #27 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2008, 11:01:07 am »

CÂY SỐ 42 (Tiếp)

Tôi để ý nhìn kỹ tên tù binh: mái tóc đen xoăn tít rối bù, gương mặt đen sạm gầy guộc, cặp mắt nâu trũng sâu, một hàng ria mép đen và chiếc lưng hơi còng. Trông hắn có vẻ thành thật bên trong nỗi mệt mỏi cực độ về thể xác. Tôi hỏi:

- Tên anh là gì? Cấp bậc?

Lập tức, tên tù binh rập gót giày:

- Benla. Binh nhất, thưa ngài thiếu tá!

- Bao nhiêu tuổi?

- Thưa ngài thiếu tá, hai mươi tám.

Tôi ngạc nhiên nhìn hắn. Tôi tưởng hắn phải đến bốn mươi nhăm.

Tiểu đoàn trưởng Dũng phẩy tay làm một cử chỉ cắt ngang:

- Không thể tin anh được. Anh bị bắt tại trận với vũ khí trong tay. Anh là tù binh chiến tranh. Ra chỗ kia tập trung.

Tên tù binh chớp cặp mắt mệt mỏi, cúi đầu bước theo một chiến sĩ, dáng đi lộ vẻ nhẫn nhục.

Ba ngày sau, tiểu đoàn chúng tôi nhận được một lệnh khá đặc biệt "áp tải hai nghìn tù binh Pháp về hậu phương Thanh Hoá". Cấp trên còn đề ra yêu cầu phải bảo đảm đầy đủ số tù binh không được để hao hụt, đào ngũ dọc đường.

Để giữ bí mật an toàn, tránh máy bay địch phát hiện bắn phá, các đơn vị áp tải tù binh đều phải hành quân đêm. Chúng tôi chia số tù binh đồng đều về cho các đại đội. Các đơn vị tổ chức lại thành từng toán, chừng ba chục tên. Cứ mười tên thành một tổ, chỉ định một tên có cấp bậc cao nhất làm tổ trưởng. Mỗi tổ tù binh do một tổ ba người của ta trông nom đôn đốc. Gay go nhất là vấn đề lương thực dọc đường. Chúng tôi ăn thế nào thì cấp cho tù binh như thế. Nghĩa là chỉ có gạo và muối trắng. Đôi khi có ít lạc và vừng. Tù binh đựng gạo bằng tất cả thứ gì chúng có: ống quần, bít tất, áo sơ mi, quần đùi, vỏ hộp.

Chiến dịch áp tải tù binh mới đầu tưởng cũng đơn giản nhẹ nhàng. "Có gì lắm đâu? Chỉ là việc dắt những tên lính bại trận đã bị tước vũ khí về hậu phương trình diện với đồng bào như dắt một đàn bò thôi mà". Cánh tiểu đội trưởng trẻ măng bảo nhau thế.

Hoá ra đó lại là một công việc hết sức phức tạp và vô cùng gian khổ. Đội quân viễn chinh lê dương thất trận, trong nỗi vui sướng vô biên lộ ra trên cửa miệng từng đứa "fini la guerre"(2) đã chơi cho chúng tôi một vố, khiến chúng tôi, những người thắng trận phải một phen điêu đứng suốt chặng đường dài dằng dặc trong hơn một tháng trời.

Một buổi chiều, từ chỗ trú quân ven đường gần ngã ba Tuần Giáo, chúng tôi dẫn tù binh vượt đèo Pha Đin. Đó là một cái đèo nổi tiếng vì độ cao, độ dài và khó đi, là nỗi gờm sợ của những chàng lái xe kéo pháo.

Tôi cùng cậu liên lạc vượt lên trước. Từ chỗ đứng trên cao, nhìn xuống đoàn tù binh trải thành một hàng dài vô tận. Sương buông xuống, phả những hạt lạnh li ti lên mặt khiến tôi thấy tỉnh táo hẳn lên. Tôi ngắm nhìn cái dòng người rồng rắn loang lổ ở dưới kia, ngẫm nghĩ và thấy thấm thía ý nghĩa của hai chữ chiến thắng và độc lập.

Những tên lính hung hãn kia chẳng đã một thời là nỗi khiếp đảm đối với mọi người dân ta đó sao? Trước ngày Cách mạng tháng Tám, đừng nói một tên lính Pháp, mà chỉ một tên lính khố xanh bản xứ, thậm chí một tên lính cơ, lính lệ ở cái xó huyện đường cũng đã là nỗi sợ hãi ngày đêm với từng người đàn bà, ông già hay em nhỏ, nhất là với dân quê. Thế mà nay, trải qua một cuộc đổi đời, trời long đất lở. Những thiên lôi, quan lớn, phượng hoàng… với thân xác to lớn, cồng kềnh chỉ còn là một lũ quân ô hợp, cực kỳ bạc nhược, chỉ trong một hai ngày đã phơi bày ra tất cả những gì xấu xa hèn yếu.

Trông chúng mới thảm hại làm sao! Chúng đội trên đầu những cái gọi là mũ: mũ sắt kiêm nồi nấu súp, mũ vải, calô và cả nồi nhôm. Quá nửa trong bọn chúng là đầu trần, chân đất, quần đùi, áo cộc. Lại có đứa chỉ có độc cái quần tắm trên người, phơi ra cái thân hình đỏ ửng như tôm luộc. Đứa nào cũng râu ria, lông lá. Cũng có đứa mang đủ các thứ linh tinh trên người: từ chiếc ba lô nặng chịch những đồ hộp đến đôi giày đinh mới nguyên đeo trên cổ chắc là mới khoắng được trong kho trước phút đầu hàng. Có đứa chỉ đi người không, hai tay đút túi quần vẻ mặt lì lợm hoặc phớt đời. Có đứa chỉ xách trên tay một chiếc vỏ hộp cát-cút.

Đi bên cạnh với dòng người hỗn tạp, hôi hám ấy, là từng tốp chiến sĩ ta với vóc dáng bé nhỏ với súng ống đạn dược trang bị theo cơ số chiến đấu và một chiếc ba lô mỏng tang sau lưng.

Vượt qua mấy đoạn đèo, đoàn tù binh đuổi kịp một đơn vị nữ Thanh niên xung phong cũng trên đường trở ra. Các cô đều mặc quần đen, áo sơ mi xanh màu lá, dép lốp, mũ nan, gài lá nguỵ trang. Nhiều cô khoác tấm vải dù hoa, một kỷ niệm kiêu hãnh của người ở chiến trường trở về. Cô nào cũng gồng gánh nhưng xem ra chẳng có gì là nặng. Khác hẳn những ngày trước đây, các cô nhìn toán tù binh dài dặc vượt qua bằng ánh mắt thản nhiên, tò mò, thích thú và khinh thị. Những tiếng nói lao xao trong trẻo cất lên giữa lưng đèo lạnh ngắt:

- Khiếp, trông chúng nó kinh kinh là! Bây giờ em mới nhìn thấy tận mắt đấy.

- Các cậu ơi! Thằng râu đỏ kia có cái bụng to như bụng Đổng Trác.

- Eo ơi! Chúng nó hôi quá.

- Các anh ơi! Cho chúng em mỗi đứa một thằng về kéo cầy nhé. Trâu nhà em tầu bay nó bắn chết rồi.

- Ơ hò… Bộ đội mà gặp dân công… Ai đi hò lờ

Như anh gặp chị… ai đi hò lờ

Như ông gặp bà… Hò lơ ới lơ, lắng tai nghe chúng tôi hò lơ.

Tiếng ồm ồm của một cậu nào bỗng cất lên nghịch ngợm khiến quang cảnh trở nên nhộn nhạo. Khắp hàng quân, ran ran tiếng cười nói, tiếng đùa cợt, tán tỉnh của các chàng lính trẻ. Các cô gái, cười như nắc nẻ, dúi đẩy nhau, đấm vai nhau thùm thụp.

Bọn tù binh cũng giương những cặp mắt mèo hau háu nhìn các cô gái. Chúng trao đổi với nhau những cái hất hàm, nháy mắt, những câu bình phẩm tục tĩu và cười hô hố. Vài tên còn chụm những ngón tay bóp bóp vào không khí.

Thấy thế, đại đội trưởng Lâm hầm hầm vỗ bao súng quát:

- Cu xoong tù binh! Đứa nào động tới chị em tau bắn tại chỗ!

Bọn tù binh như hiểu ý qua dáng điệu của người mà chúng gọi một cách kính cẩn là "mon capitaine"(1) liền im bặt lấm lét bước nhanh.

Một cô gái đi sau, sát vệ đường lấy sức bước lên một hòn đá. Bất ngờ cô trượt chân ngã quỵ xuống. Cô gái kêu lên một tiếng hoảng hốt, đứng ngẩn nhìn theo chiếc ba lô chưa biết xử trí ra sao… Giữa lúc mọi người đi trước chưa biết làm gì thì trong đoàn tù binh, một người đã tự động tách khỏi hàng và lao theo chiếc ba lô. Chỉ một phút sau anh ta đã leo lên và đặt chiếc ba lô trước mặt cô gái miệng lúng búng.

- Của cô… Xin chào! Cám ơn…

Trước vẻ bỡ ngỡ và có chiều ngượng ngập của cô gái, anh ta chạy vội về hàng của mình.

Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #28 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2008, 11:01:54 am »

CÂY SỐ 42 (Tiếp)

Việc nhỏ đó cũng đủ là đề tài câu chuyện kéo dài trong chặng vượt đèo. Khi cậu liên lạc láu táu kể chuyện đó cho tôi nghe, tôi nảy ra ý tò mò muốn biết mặt người tù binh đó. Tuy trời đã nhá nhem tối nhưng tôi cũng còn nhận ra một dáng hơi quen. Vừa đi bên cạnh anh ta, tôi hỏi:

- Anh đã giúp đỡ một người của chúng tôi. Thế là tốt.

Người tù binh ưỡn ngực nhưng vẫn bước:

- Xin cảm ơn ngài thiếu tá!

- Tôi trông anh hơi quen.

- Thưa ngài thiếu tá! Tôi đã được hân hạnh gặp ngài trên đồi Anne Marie sau khi pháo của quân đội liên hiệp Pháp đã giết hại mấy đồng đội của tôi.

- À! Tôi nhớ, Benla, đúng tên anh vậy không?

Mấy tên tù binh đi bên cạnh Benla nhìn anh ta bằng cặp mắt ghen tị. Benla lộ vẻ vui sướng nhưng giọng vẫn điềm đạm:

- Rất cảm ơn ngài thiếu tá.

*
*   *

Một tuần sau, ngày nghỉ đêm đi, chúng tôi vẫn hành quân trên trục đường 41 về hậu phương. Bọn tù binh xuống sức trông thấy. Chúng không quen đi bộ, lại nhiều đứa không có giày, phải xé quần áo quấn lấy bàn chân mà đi trong khi nhiều đứa khác thường là bọn sĩ quan lại có đôi giày dự bị đeo trên cổ… Chúng không biết nấu súp nên bao giờ cũng phải ăn cháo sống. Còn ngủ thì gần giống như bộ đội ta, đã có những đệm lá khô trong rừng. Sau một đêm hành quân, sáng ra điểm danh lại thiếu hụt dăm bảy đứa. Nhiều tên, nhất là bọn quê ở Bắc Âu, Trung Âu tỏ ra bạc nhược và vô kỷ luật hơn cả. Chúng cứ tụt dần về cuối hàng và chờ dịp chiến sĩ ta sơ ý, liền tạt ngang vào rừng, chui sâu vào những lùm cây rậm rạp và lăn ra ngủ. Chúng sợ hoặc lười đi đêm. Sáng dậy, chúng mới đủng đỉnh lên đường tìm theo đơn vị mà chúng biết chắc thế nào cũng phải cắm biển đón. Gặp dân bản, chúng lén lút mò vào, vơ vét tất cả những gì chúng có thể vơ vét được: hàng sọt lá khoai lang khô giành nuôi lợn, chúng nhét đầy túi, làm thuốc lá hút dần, mấy quả muỗm xanh, mấy quả trứng gà trên ổ, con chó con còn đang bú mẹ.

Một buổi sáng sớm, khi chúng tôi vừa thức dậy sau một hai giờ chợp mắt vội vàng, một dân quân người Thái, tay cắp súng, đã áp tải một tên lê dương đến trả. Anh lôi trong túi quần "bắt gà" của nó một vốc hành khô, mấy chiếc men lá dùng để nấu rượu và một con lợn sữa đã chết cứng.

Đại đội trưởng Lâm quắc mắt: đơn vị anh bị mất nhiều tù binh nhất.

- Mi lấy những thứ ni ở mô? Ai cho mi bỏ hàng ngũ?

Tên tù binh, người Tây Đức vẫn nhơn nhơn:

- Thưa ngài đại uý! Có một "lơ nhà quê" cho tôi.

- Cho mi, răng người ta đến tận ban chỉ huy báo cáo?

Tên tù binh giương cặp mắt ốc nhồi lấc láo nhìn đi chỗ khác nhún vai vẻ phớt đời.

- Mẹec! Cu xoong! - Đại đội trưởng Lâm, cáu tiết cho luôn nó một cái đá đít, quát:

- Về hàng! Mi còn phạm kỷ luật lần nữa, tau bắn đó!

Tên lê dương vẫn lấc láo, nghênh ngang tìm về "grúp" của mình giữa những tiếng cười hô hố của đồng bọn.

Một đêm đã khuya, bọn tù binh được lệnh nghỉ chân tại ven đường. Trăng rừng hắt ánh sáng xanh xao lên mọi người khiến mọi khuôn mặt trở nên gày võ. Tôi ngồi trên một thân cây đổ, tình cờ lại ở ngay cạnh người tù binh có tên là Benla. Đến nay, anh ta vẫn nhận mình là hàng binh.

Khi tôi châm một điếu thuốc Cẩm Thuỷ và rít một hơi, qua ánh lửa, tôi nhìn thấy vẻ thèm thuồng trên ánh mắt Benla đang nhìn chằm chặp vào điếu thuốc. Nhưng Benla không xin. Tôi biết anh ta đang phải chịu đựng sự dày vò ghê gớm. Tôi chỉ còn điếu ấy là cuối cùng, liền đưa cho anh ta:

- Anh cầm lấy mà hút.

Người tù binh gần như vồ lấy điếu thuốc, miệng nói:

- Rất cảm ơn ngài thiếu tá!

Anh ta mới rít được một hơi, lập tức đã có mấy bàn tay chìa ra. Anh ta cố rít thêm được một hơi nữa rồi đành tiếc rẻ chuyển điếu thuốc cho người khác một cách miễn cưỡng.

Im lìm độ vài phút, bỗng người tù binh lên tiếng, giọng rụt rè:

- Xin phép ngài thiếu tá!

- Anh muốn hỏi gì?

Giọng anh ta đắn đo:

- Tôi xin được ngài thiếu tá giải thích cho về hội nghị Giơnevơ hiện nay đến đâu rồi? Liệu có thể chấm dứt chiến tranh được không?

Tôi ngạc nhiên về những câu hỏi của người tù binh và bỗng thấy có cảm tình với anh ta. Tôi nói vắn tắt diễn biến mới nhất của hội nghị mà tôi nghe được qua bản tin của sư đoàn, nói rõ lập trường của phái đoàn ta và quan điểm phản động của Bidault, ngoại trưởng Pháp.

Nghe xong, người tù binh thở dài:

- Bidault là một con lừa! Ông ta muốn tiếp tục chiến tranh bằng máu của chúng tôi, những binh lính thuộc địa.

- Anh là người nước nào?

- Thưa, tôi là người Angiêri.

- Trước kia, anh làm nghề gì?

- Thưa, tôi dạy học. Tôi dạy văn tại một trường trung học ở Orăng.

- Tại sao anh lại vào lính lê dương?

- Đó là bi kịch lớn nhất của đời tôi, thưa ngài. Tôi là con cả trong một gia đình đông con. Cha tôi có nợ nần, quá hạn không trả được bị người ta đưa ra toà. Nước Pháp mộ lính lê dương, hứa hẹn rất nhiều quyền lợi, ba hoa những điều hấp dẫn "đấy chỉ là một cuộc du lịch sang sứ nhiệt đới Châu Á không mất tiền". Và điều quan trọng là họ ứng trước một khoản tiền. Tôi lại bị sa thải vì bị coi là có những quan điểm quốc gia quá khích. Vì thế, tôi đánh canh bạc liều. Kết quả thật là bi đát. Chúa đã trừng phạt tôi.

Tôi còn giải thích thêm cho anh ta về hoàn cảnh của Tổ quốc anh và nói về chỗ đứng của anh đáng lẽ phải có ở chỗ nào. Anh ta chỉ im lặng ngồi nghe. Một lát, anh đứng lên, tư thế nghiêm trước mặt tôi:

- Thưa ngài thiếu tá! Cho phép tôi được hân hạnh biết tên tuổi của ngài.

- Ồ! Anh hỏi để làm gì?

- Thưa ngài, tôi đã có sự ngộ nhận về những sĩ quan Việt Nam. Bộ chỉ huy quân đội liên hiệp Pháp tuyên truyền rằng, cán bộ Việt Minh là những người nhà quê, không biết chữ và hoàn toàn dốt nát về tri thức quân sự.

Tôi phì cười, châm biếm:

- Như đã được chứng minh ở Điện Biên Phủ phải không?

Người tù hàng binh không cười:

- Thưa ngài thiếu tá, Coócnây đã viết "la valeur! N'attend point le nombre des années"(1). Các ngài đã chứng minh hùng hồn như vậy.

- Anh thuộc Le Cid(1) đấy nhỉ?

Benla lại rập gót giày:

- Rất cảm ơn ngài thiếu tá về lời khen. Tôi là giáo viên dạy văn học cổ điển Pháp.

- Thế mà anh lại đi cầm súng đánh thuê. Tôi mong rằng lần này thoát chết được về quê hương, anh sẽ lại có chỗ đứng trên bục giảng.

Người tù hàng binh cúi đầu:

- Rất cám ơn ngài thiếu tá.

Cuộc hành quân của chúng tôi mỗi ngày một trở nên khó khăn. Đêm nào, tù binh cũng đào ngũ hàng chục đứa, mặc dù chúng tôi đã nát óc tìm mọi biện pháp ngăn ngừa. Chúng lén đổ gạo đi để khỏi phải mang, chui vào rừng, đánh một giấc, để rồi sáng mai, leo lên những ngọn núi phía tây, tìm đường trốn sang Lào. Chúng mò vào nhà dân, bắt gà lợn, hiếp phụ nữ, đã có tên bị dân quân trong bản Mèo bắn chết.

Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #29 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2008, 11:02:39 am »

CÂY SỐ 42 (Tiếp)

Một đêm, đại đội phó đại đội Ba lên tìm tôi, nhăn nhó:

- Báo cáo tiểu đoàn, đơn vị tôi có một thằng tù binh chết.

- Tại sao? Tên nó là gì?

- Thằng Gavrini, lê dương người Nam Tư. Nó đang đi, bỗng loạng choạng ngã vật ra, người cứng đờ. Cấp cứu xoa bóp chẳng ăn thua.

Theo qui định của sư đoàn, nếu đang hành quân, có tù binh nào chết thì báo cho đội chôn cất của trung đoàn đi phía sau, còn đơn vị vẫn tiếp tục hành quân để bảo đảm kế hoạch. Chúng tôi cũng làm như thế.

Nhưng sáng hôm sau, khoảng mười giờ đã thấy đại đội phó đại đội Ba lên, miệng cười ngoác tận mang tai:

- Nó chết quái đâu! Mẹ cụ cái thằng Gavrini! Nó lười đi đêm, chơi xỏ mình giả vờ chết để được tự do nằm ngủ. Đến lúc đội tải thương mang cuốc xẻng đến, đào xong hố, khiêng nó đi chôn, nó mới chồm dậy, chạy bán sống bán chết. Tôi cho nó cái bạt tai.

Tôi đã quan sát đoàn tù binh, phát hiện ra có một trung đội toàn người Bắc Phi là tỏ ra khá nhất. Sau mười lăm ngày hành quân. Số quân của trung đội này vẫn đầy đủ. Họ ít nói, có ý thức giúp đỡ nhau, ở mỗi nơi trú quân, thường đóng riêng ra một chỗ. Tôi biết ý chí hồi hương của họ rất mãnh liệt. Trong trung đội đó có người tù hàng binh Benla.

Một đêm đi qua Mộc Châu. Đêm cuối tháng đã tối, lại càng tối thêm bởi những vách đá sừng sững hai bên đổ bóng xuống mặt đường. Trời về sáng. Sương mù lạnh ngắt rắc đầy như mưa bụi, rỏ lộp bộp trên những tàu lá chuối rừng. Tôi có việc bận họp ở trung đoàn nên phải đuổi theo đơn vị. Trên khúc đường quạnh quẽ thấp thoáng trong sương lạnh một bóng người cao lênh khênh hai tay chống hai chiếc gậy dài, đang tập tễnh dò dẫm lê từng bước chân nặng nề với dáng vẻ hết sức nhẫn nại. Trong cái vắng vẻ đến rợn người, tôi nhận ra một tù binh, liền bước lên ngang anh ta hỏi:

- Anh ở "công voa" nào? Sao lại tách ra khỏi hàng?

 Giọng người tù binh bỗng có vẻ mừng rỡ:

- Thưa ngài thiếu tá, tôi bị ốm quá nên không theo kịp công voa. Tôi đã được ông đại uý cho phép đi chậm suốt đêm.

Hoá ra là Benla. Trạnh lòng, tôi hỏi:

- Sao anh không nhờ đồng đội dìu đi hay nằm cáng một đoạn đường. Tôi đã ra lệnh cho tù binh phải mang theo băng ca kia mà?

Benla lắc đầu quầy quậy, giọng đầy bi thảm:

- Thưa ngài thiếu tá, tôi ốm đã ba ngày nay nhưng tôi quyết không bỏ công-voa, bởi vì tôi phải sống, phải về được tổ quốc tôi dù có phải bò đi nữa. Đồng đội cũng có giúp đỡ tôi, nhưng họ cũng đã quá mệt nên tôi quyết định tự mình phải cố gắng là chính. Đêm qua, thấy tôi di tụt lại sau, mặt ông đại uý thương tình chỉ định mấy đứa dìu đi. Nhưng khi vắng mặt săngtinen(1), mấy thằng người Ý này chửi rủa, đấm đá tôi thậm tệ. Tôi đã phải van lạy chúng nó để cho tôi đi một mình. Vâng, thưa ngài thiếu tá, tôi thấy khổ quá, nhiều lúc muốn chết cho đỡ cực. Nhưng rồi tôi lại cố đến kiệt sức. Tôi phải sống bằng mọi giá. Dù có què quặt về được đến quê nhà, gặp lại những người thân và nếu có thể thì đem hết sức còn lại làm được một việc gì có lợi cho sự giải phóng của Tổ quốc tôi. Sáng nay, tôi lại đi vượt qua cả công-voa vì không tìm thấy biển cắm. Những thằng nằm lại đêm qua, sáng dậy đã đi trước tôi. Chúng lột hết biển cắm, cuộn hút thuốc lá, thành ra tôi cứ lê từng bước đi suốt ngày, mãi chiều nay mới gặp lại công-voa. Rồi Benla kể lại cảnh mấy thằng tù binh người Tây Ban Nha và Anh khiêng cáng anh ta hồi đêm. Khi thấy Benla quá ốm, hai chân sưng vù, quấn đầy giẻ rách mà vẫn tập tễnh cố bám theo đoàn, đại đội trưởng Lâm liền giữ hai tên tù binh cao lớn còn khá khỏe mạnh, đang vác chung một chiếc băng ca bằng nứa, do bộ đội ta làm cho:

- Các anh hãy khiêng người này!

Hai thằng làu bàu trong cổ họng, tỏ ý không muốn làm. Một thằng gân cổ lý sự: - Nhưng thưa ông đại úy! Tôi phải khiêng nó thì khi tôi ốm có đứa nào khiêng tôi không?

Đã biết đặc tính chúng, đại đội trưởng Lâm xẵng giọng:

- Chấp hành mệnh lệnh!

Miễn cưỡng hai thằng đặt chiếc băng ca xuống. Benla lập cập nằm vào cáng, miệng lẩm bẩm: "Merci! Mercibiencamarades"(1).

Đại đội trưởng Lâm đi kèm chúng một quãng rồi vượt lên đầu hàng quân. Hai tên tù binh khiêng cáng cố ý trùng trình đi chậm rồi tụt lại sau cùng. Khi đường đã vắng không còn bóng người, hai thằng bắt đầu xỉ vả người nằm trong cáng:

- Thằng chó đẻ! Mày là thằng mọi đen mà dám bắt chúng tao phải hầu hạ à?

- Chết mẹ mày đi! Đồ giòi bọ! Mày không đáng sống!

Chúng trao đổi với nhau bằng thứ tiếng lóng mà Benla không hiểu được. Đến một lùm cây rậm bên đường, hai thằng dừng lại cùng hô: hai... ba rồi thẳng tay, quăng luôn cả cáng lẫn người xuống khe núi. Xong việc, chúng thản nhiên cười hềnh hệch, xoa tay đi thẳng.

Phúc cho Benla! Chiếc cáng rơi trúng bụi cây sim mua rậm rạp nên vướng lại. Benla bị hắt văng xuống đất. Choáng váng, anh cố hết sức thu tàn lực bò dậy, quờ quạng tìm hai cái gậy của mình và bò lên đường, người ướt đẫm nước khe và nước mắt. Anh lại tập tễnh bước đi với đôi chân sưng phù quấn giẻ rách, rát bỏng như kim châm.

-... Thưa ngài thiếu tá, tôi căm thù chúng nó. Chúng nó là lũ lang sói không có một chút tính người.

- Tôi sẽ tìm ra hai tên ấy và sẽ trừng phạt chúng. Tôi sẽ ra lệnh cho chúng phải khiêng anh.

- Xin đa tạ ngài thiếu tá. Nhưng xin ngài đừng ra lệnh cho chúng. Nhất định chúng sẽ giết tôi.

Người tù hàng binh đã bình tĩnh trở lại, nói với tôi bằng một giọng van lơn và cả quyết. Tôi bảo anh ta dừng lại, tìm chỗ ngủ đêm nay, rồi bấm đèn pin, xé một tờ giấy trong quyển sổ tay,viết nhanh:

"Ban chỉ huy tiểu đoàn... cho phép tù binh này được đi riêng ban ngày trên đường 41. Đề nghị các đơn vị không bắt giữ anh ta.

"Tôi ghi rõ họ tên, chức vụ của mình, ký tên rồi đưa cho anh ta: - Cầm giấy này mà đi. Mệt quá thì cứ nghỉ. Buổi sáng thì cố tìm về đơn vị còn có cái mà ăn. Hôm nay, anh nhịn cả ngày à? Tôi bảo cậu liên lạc đưa cho anh ta gói xôi lạc, suất ăn của cả hai người.

Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM