Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:12:47 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tuyển tập truyện ngắn về người lính  (Đọc 183646 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #30 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2008, 07:58:13 pm »

CÂY SỐ 42 (Tiếp)

Máy bay trinh sát của Pháp bắt đầu sục sạo tìm kiếm dấu vết tù binh Pháp. Từ mấy ngày nay, một chiếc Michel cứ bay dọc đường 41. Chúng đã đánh hơi thấy bọn tù binh, do những tên đào ngũ đã leo lên núi, nhìn thấy máy bay của chúng bay qua thì đốt lửa, vẫy khăn làm hiệu. Bộ tư lệnh sư đoàn lệnh xuống: "Phải đặc biệt đề phòng khả năng bị ném bom vào đội hình quân ta và đổ trực thăng đánh cướp tù binh, nhất là bọn sĩ quan. Nghiêm trị bọn phá rối". Sự phiền phức đã xảy ra ở cây số 42, trên đường từ Mộc Châu về Suối Rút. Trưa hôm ấy, đoàn tù binh trú quân trong một cánh rừng rậm, bằng phẳng phía tây đường. Tù binh đã nấu nướng, cơm nước xong. Nhiều tên đã lăn ra ngáy khò khò. Nhiều đứa đi tắm dưới con suối trong vắt. Trên mặt đường ở khu vực các đại đội đều có cắm những tấm giấy nhỏ ghi địa chỉ: "ler công voa" - "2ème công voa"... lác đác vẫn còn những tên tù binh đến chậm. Đã quen lệ, chúng nhòm vào từng tờ giấy, nhận ra đơn vị của mình liền phởn phơ tìm đến nơi.

Đại đội nữ thanh niên xung phong cũng trú quân gần đấy, phía đầu dòng suối. Khoảng 1 giờ trưa, có tiếng máy bay từ hướng đông nam vẳng lại nghe mỗi lúc một gần. Trong nháy mắt, chiếc Michel bay sạt ngọn cây, to như một chiếc phà, phơi cái bụng xám mốc. Một phút sau, nó bay quành trở lại và lượn những vòng rất thấp gần chạm ngọn cây quanh khu vực trú quân. Tiếng rít rú của động cơ dội vào vách núi gây nên một không khí hết sức căng thẳng... Thật không thể tưởng tượng được! Hàng trăm tên tù binh, như có ma lực hấp dẫn, bỗng chồm dậy la hét, reo hò loạn xạ. Chúng leo lên cây, chạy lên mặt đường cái tung khăn, vẫy mũ. Những đám khói từ đâu ùn ùn bốc lên cao. Bọn tù binh có nguy cơ nổi loạn!

Tiểu đoàn trưởng Dũng tay lăm lăm khẩu Brôning Canada đã lên đạn, quát lớn: - Bọn tù binh ngồi im không được nhúc nhích! Các đại đội dàn lực lượng vây tròn chúng lại! Súng trường, lắp lưỡi lê! Trung liên vận động lên chiếm núi cao bên phải đường! Sẵn sàng bắn máy bay!

Tiếng thét oai nghiêm, cùng vẻ mặt sắt đá của anh đã có hiệu lực. Các chiến sĩ lập tức lắp lưỡi lê lên nòng súng và lên đạn các khẩu tiểu liên. Bọn tù binh dần dần bị đẩy sâu vào rừng.

Chiếc Michel như đã phát hiện ra mục tiêu, lượn những vòng rất hẹp chung quanh nơi trú quân. Bỗng từ bụng nó, tung ra hai chiếc dù trắng treo lủng lẳng mấy chiếc hòm nhỏ. Rồi nó cất lên cao, bay mất hút về phía Đông Nam. Tôi cùng một tổ trung liên chạy lên mặt đường 41 và vận động lên một quả núi trọc cao nhất gần đấy ở phía đông đường. Giữa lúc ấy, lại thấy một chiếc trực thăng từ đâu phành phạch bay tới. Nó lượn quanh ngọn núi mà chúng tôi đang vận động lên, gần như treo tại chỗ rồi hạ thấp dần. Một chiếc thang dây tung ra, lủng lẳng. Trong khoang chiếc trực thăng, mấy cái đầu thò ra ngoài, nhìn xuống.

Gần tới đỉnh đồi, tôi đã nhìn thấy một cảnh tượng gay cấn diễn ra: bốn tên tù binh lao vào một chiến sĩ ta đang cầm một con dao trong tay. Tôi nhận ra một chiến sĩ nuôi quân ở tiểu đoàn bộ. Hai tên xông vào giằng được con dao và thẳng cánh đâm vào bụng anh chiến sĩ. Cậu này tránh được mấy đòn ác hiểm, nhưng nhát đâm cuối cùng đã làm anh ngã xuống. Đúng lúc tên tù binh giơ cao con dao định đâm bổ xuống thì khẩu trung liên đã rít lên. Chiếc trực thăng tròng trành rồi hốt hoảng vụt lên cao, kéo theo chiếc thang dây đung đưa, bỏ lại dưới bụng nó mấy tên tù binh với khoảng cách chừng vài ba thước. Ba tên tù binh thấy nguy, liền lao đầu chạy tuột xuống sườn núi phía tây, thoát khỏi tầm đạn và nhanh chóng mất hút trong rừng rậm bạt ngàn. Cũng lúc ấy, từ sườn núi, có hai người nữa chạy lên, tay xách súng cabin. Đó là hai cô ở đội thanh niên xung phong. Tôi nhận ra, một trong hai người con gái ấy là người đã bị ngã ở đèo Pha Đin và được người tù binh nhặt giúp chiếc balô đưa trả với vẻ lịch thiệp. Từ xa, các cô đã hỏi gấp:

- Các anh ơi! Cho chúng em chiến đấu với!

Ngẫu nhiên, hai tốp chúng tôi cùng lao tới tên tù binh còn lại đang đứng đờ ra như một xác chết. Cô gái có mái tóc cắt ngắn vội chạy tới đỡ người chiến sĩ dậy. Máu loang ra thấm đỏ tay cô.

Bừng bừng nổi giận, tôi chạy tới sau lưng tên tù binh túm cổ áo nó lắc mạnh rồi xoay mặt nó quay lại. Tôi sững sờ:

- Benla! Té ra lại là mày à! Mày trả ơn chúng tao như thế này phải không? Thằng chó chết!

Tên tù binh Benla rũ ra như con gà bị cắt tiết, chân tay run lẩy bẩy, hai chiếc gậy rơi xuống đất.

- Thưa ngài thiếu tá! Xin tha tội cho tôi. Chúng nó rủ rê, cưỡng ép tôi. Nếu không, chúng giết...

Tôi cười gằn:

- Rốt cuộc, mày vẫn là một thằng lê dương mạt hạng! Tao phải bắn mày vì tội phá rối cuộc hành quân và hành hung chiến sĩ của chúng tao. Tên tù binh ngã quỵ xuống, òa lên khóc:

- Thưa ngài thiếu tá! Ngài cứ bắn tôi đi! Vâng! Vâng! Tôi là kẻ đào ngũ! Tôi đã theo chúng nó. Trời ơi! Tôi chỉ muốn sống được trở về quê hương sớm ngày nào hay ngày ấy. Tôi đã nghe chúng nó. Tôi có tội với các ngài. Vâng! Xin ngài cứ bắn tôi đi!

Những giọt nước mắt đùng đục chảy trên khuôn mặt hốc hác của hắn lúc này không làm tôi động tâm. Tôi nhìn cậu chiến sĩ nuôi quân. Cô gái đã băng bó cho anh xong và đặt anh nằm nghiêng trên vạt cỏ. Cảm giác vừa phẫn uất, vừa cay đắng nghẹn ứ trong lòng tôi. Tôi đã bị tên tù binh phản bội. Tôi thật quá ngây thơ khi tin rằng ở trong trái tim một tên lê dương, lại có một ngọn lửa khát khao chính nghĩa đang bùng cháy. Chung quy chó sói vẫn là chó sói. Tôi rút khẩu súng ngắn ra, lạnh lùng:

- Cầu chúa đi!

Tên tù binh ngước nhìn tôi với vẻ tuyệt vọng nhưng không khóc nữa. Nó quỳ xuống, tay làm dấu thánh giá.

Hồng - cô gái có mái tóc cắt ngắn - rụt rè lên tiếng:

- Em có ý kiến! Xử nó thế nào thì tùy các anh. Nhưng thằng này, em thấy nó ốm quá, mà suốt tuần qua, ngày nào chúng em cũng thấy nó chống gậy lần đi. Cái thằng đâm anh bộ đội là thằng có râu quai nón mầu râu ngô kia! Nó chạy thoát rồi.

- Làm sao cô biết? Không chạy trốn mà nó ở đây à?

- Cách đây một giờ, em trông thấy mấy đứa dưới đường. Thấy chúng nó đông, em vội nấp vào bụi. Em thấy ba thằng kia xì xồ gì với thằng này như chúng nó cãi nhau, rồi chúng kéo thằng này lên núi. Khi nghe có tiếng trực thăng, em gọi được cái Soan chạy lên, chính mắt em nhìn thấy thằng râu xồm xông vào đâm anh bộ đội.

Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #31 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2008, 07:59:20 pm »

CÂY SỐ 42 (Tiếp)

Trong lòng tôi lúc này có sự giằng co dữ dội. Một mặt là những tên tù binh cực kỳ ngoan cố đã cố tình phá hoại cuộc hành quân, chỉ điểm cho máy bay địch và nghiêm trọng hơn là chúng dám hành hung cả chiến sĩ ta. Tội ấy đáng phải xử bắn để răn đe những đứa khác. Tên tù binh này phải đền tội, chẳng qua cũng giống như hàng ngàn những tên giặc đã bỏ mạng trong chiến trường Điện Biên Phủ. Chẳng có gì đặc biệt.

Tôi bỗng nhớ lại tất cả những gì nó đã nói với tôi trong suốt chặng đường. Tôi hình dung vẻ mừng rỡ của bố mẹ nó khi thấy nó đột nhiên bước vào nhà, thấy sự hoan hỉ của những đứa học trò trong một lớp học nào đó ở trường trung học Orăng xa xôi khi thấy nó xuất hiện trên bục giảng. Biết đâu, nó chẳng có thể trở thành người cầm súng trong vùng chiến khu nào đấy của tổ quốc nó. Nó có thể trở thành người có ích cho đất nước đang còn nô vong của nó chăng? Bắn hay tha!

Y tá tiểu đoàn đã chạy lên và cùng mấy chiến sĩ dìu cậu anh nuôi lần xuống núi. Thở dài, tôi nhét khẩu súng vào bao:

- Tạm tha cho mày! Tội trạng sẽ xét sau. Về ngay công voa.

Tên tù binh đứng nghiêm chào tôi, rồi tần ngần một giây hắn bước đến trước mặt Hồng, cô gái vừa lên tiếng xin tha cho nó, cúi rạp đầu, cung kính nói bằng tiếng Việt:

- Merci bien! cam ơn cô... cam ơn lăm lăm!

Khi tên tù binh ngước lên nhìn cô gái, tôi cảm thấy ánh mắt anh ta trở nên hiền dịu, ấm áp khác thường, khiến cô gái bắt gặp cái nhìn ấy, cũng phải ngượng ngập, quay mặt đi...

Khi đoàn tù binh vượt qua sông Suối Rút, đi vào địa phận Thanh Hóa, thì điều kiện sinh hoạt của bộ đội và tù binh được cải thiện khá hẳn lên. Tù binh được phát thuốc lá Cẩm Thủy và cả thịt trâu. Lại là trâu còn sống. Hai tên phi công chân sưng vù, được ưu tiên cưỡi trên lưng trâu. Hai tên khác vào loại lười đi đêm, xung phong cầm thừng dắt trâu đằng trước. Lại hai tên nữa kiếm được một cớ chính đáng là cầm roi đuổi trâu đi phía sau. Quang cảnh hài hước đó diễu qua các thị trấn dọc đường, gây nên những trận cười râm ran khắp nơi, nhưng bọn tù binh cứ điềm nhiên phớt lờ. Chúng bắt đầu hiểu rằng chúng đã về đến căn cứ an toàn, chắc chắn sống sót và ngày trở về quê hương không còn xa nữa. Sức khỏe chúng khá dần lên. Kỷ luật cũng tiến bộ hẳn. Không còn tên nào đào ngũ nữa.

Đại đội nữ thanh niên xung phong cũng cùng về nơi tập kết tù binh và tổ chức lại thành những tiểu đội cấp dưỡng, với nhiệm vụ nuôi bọn tù binh, chờ ngày trao trả cho đối phương.

Tiểu đội nữ do Hồng, cô thanh niên xung phong làm tiểu đội trưởng được phân công nấu ăn cho hai trăm tù binh. Nhà ở, nhà ăn, đều là nhà dân. Vì thế, nỗi vất vả của chúng tôi và ban quản lý tù binh tăng lên gấp đôi. Tù binh được cắt phiên nhau xuống giúp nhà bếp. Chúng vui sướng như điên với công việc này vì được nhìn các cô gái, được ăn vụng thực phẩm các cô mua về như cá, đậu và nhất là thịt trâu, thịt bò. Chúng rút dao găm lén cắt từng miếng thịt sống đút vào túi quần "bắt gà", rồi lỉnh ra một chỗ xé thành từng miếng nhai ngấu nghiến.

Một buổi sáng, tôi xuống kiểm tra nhà bếp của đại đội Hai. Mấy tên tù binh đang huỳnh huỵch bổ củi. Bên cái giếng to giữa sân đình, Benla đang thả gầu múc nước. Anh ta không múc bằng cái khau mo cau mà bằng cả chiếc thùng gánh nước, kéo lên một cách nhẹ nhàng. Bên cạnh anh ta, Hồng, tay áo xắn đến khuỷu, đang vùi hai cánh tay vào chiếc chậu gỗ cực lớn vo gạo. Dáng điệu anh tù hàng binh từ tốn và rõ ràng tỏ ra ngoan ngoãn mỗi khi cô gái lắc đầu, hất mái tóc xõa che lấp khuôn mặt rám nắng. Họ nói chuyện với nhau bằng tiếng nói của mỗi người, bằng những cử chỉ và cả bằng mắt. Thỉnh thoảng, cô gái lại cười như nắc nẻ.

Tôi bước tới, lên tiếng:

- Chào cô Hồng! Thế nào, Benla, anh khỏe chứ?

Benla buông thùng, ưỡn ngực đứng nghiêm:

- Xin chào thiếu tá! Rất cám ơn ngài.

- Cô nói chuyện gì với anh ta thế?

Cô gái bỗng đỏ mặt, ngượng nghịu bê thúng gạo ướt sũng đứng lên:

- Em đang tranh thủ dạy anh ta học nói đấy!

Cô gái đi rồi, Benla vẫn đứng nghiêm bên giếng nước nhưng ánh mắt đuổi theo cô gái. Mỉm cười, tôi bảo:

- Benla, nghỉ! Cho phép anh ngồi xuống đây. Anh thấy cô gái Việt Nam của chúng tôi thế nào?

Benla xin phép rồi ngồi bệt xuống sân gạch. Giọng anh ta trầm trồ: - Tuyệt vời! Thưa ngài thiếu tá! Cô gái này đã cứu tôi thoát khỏi tử hình - anh ta ngượng ngập - Tôi suốt đời biết ơn cô ấy.

- Anh thấy cô ấy thế nào?

- Một cô gái vị tha, hiền dịu và xinh đẹp, thưa ngài thiếu tá. Phụ nữ Việt Nam rất đẹp. Cô ấy giống như những cô gái đẹp nhất xứ tôi. Cặp mắt anh ta phút chốc trở nên mơ màng và đượm buồn. - Thưa ngài thiếu tá, cô ấy cũng có cuộc đời éo le.

Ngạc nhiên, tôi hỏi:

- Anh biết cô ấy ư? Do đâu vậy?

- Thưa thiếu tá, tôi đã mạn phép hỏi cô ấy.

- Cô ấy nghe sao được?

- Thưa, cô ấy nghe và nói được tiếng Pháp, tuy không thật chuẩn xác lắm. Tôi đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác.

-...?

- Thưa ngài thiếu tá! Cô ấy là con một viên chức ở tỉnh, đã học qua tiểu học trước chiến tranh nên biết ít nhiều tiếng Pháp. Gia đình cô ấy sơ tán về Nho Quan, chẳng may bị quân Pháp giết hại trong trận càn năm năm hai, chỉ còn có một cô ấy sống sót.

Tôi hoàn toàn bất ngờ trước câu chuyện, lại thấy ân hận mình thật vô tâm. Hóa ra trong bước đường kháng chiến, cũng có lắm chuyện lạ kỳ. Có những số phận lạ lùng ở ngay bên cạnh mà mình chẳng hề biết tới.

Hơn một tháng sau, thực hiện hiệp định Giơnevơ, chúng tôi đưa đoàn tù binh lúc này đã lại sức ra bãi biển Sầm Sơn. Hải Thôn là địa điểm được hai bên thỏa thuận để nhận người của mình.

Một chiếc cầu phao dài được bắc từ bờ cát ra biển, dùng làm cầu tàu. Hàng chục cổng chào kết lá dừa được dựng lên. Những lá cờ màu cùng những cờ Tổ quốc bay phần phật trong gió lộng như vẫy chào những con người ưu tú trở về. Nhân dân địa phương, đông đến mấy ngàn người, mặc quần áo ngày hội, tay cầm cờ xếp thành hàng dọc lối đi. Những giây phút cực kỳ xúc động. Giữa những tiếng hò reo của trẻ em, tiếng hô khẩu hiệu của thanh niên, là tiếng nức nở của mẹ già. Nhân dân ôm lấy những con em mình áo nâu, đầu trọc, vừa cười vừa khóc.

Những cảnh tượng thiêng liêng ấy đập vào mắt những tù binh đang tập trung gần đấy, chờ đến lượt xuống thuyền ra tàu. Nhiều tên thẫn thờ, mắt đỏ hoe. Họ ăn mặc giống nhau: chiếc mũ lá rộng vành, bộ quần áo màu xanh lá cây, đôi dép cao su và một cái túi xách nhỏ đựng những vật dùng thường ngày. Tôi đi dọc hàng tù binh, nói chuyện, khích lệ và tiễn biệt họ. Bỗng thấy Benla chạy tới, giọng hồi hộp trong hơi thở gấp:

- Kính chào ngài thiếu tá!

- Benla! Chúc anh lên đường may mắn! Hãy chấm dứt cuộc đời lính đánh thuê, về chiến đấu cho tổ quốc anh.

Benla xúc động thật sự, rơm rớm nước mắt:

- Cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn chính phủ Bác Hồ, các sĩ quan và binh sĩ quân đội Việt Nam về lòng nhân đạo này. Cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn ngài thiếu tá. Xin cho phép được hân hạnh bắt tay ngài. Anh nắm chặt tay tôi bằng cả hai bàn tay cứng cáp rồi đưa lên môi hôn một cách kính cẩn.

Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #32 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2008, 08:00:24 pm »

CÂY SỐ 42 (Tiếp)

Khi tôi bắt tay anh lần nữa và định quay đi, Benla ngập ngừng nói với theo: - Thưa thiếu tá, tôi có thể nhờ ngài giúp cho một việc được không?

- Sẵn sàng lắm? Anh có việc gì cần.

Benla rút trong túi ngực ra một phong thư, vuốt ngay ngắn rồi trân trọng đưa cho tôi bằng cả hai tay:

- Xin ngài làm ơn đưa giúp bức thư này cho cô Hồng. Sáng nay vì đi vội nên tôi chưa kịp gửi.

- Tôi rất vui lòng chuyển giúp anh bức thư này đến tận tay cô ấy.

- Thưa thiếu tá, bức thư để ngỏ, xin ngài xem cho và nếu ngài không cho là xấu, xin ngài chuyển giúp cho.

- Anh cứ yên tâm.

Tiếng còi tàu rít lên. Đoàn tù binh xếp hàng lần lượt bước xuống cầu phao. Tôi xắn quần đứng dưới mép nước, vẫy chào họ. Tù binh reo lên: - Finit la guerre(1)

- Rapatriement!(2)

Tiếng của Benla chìm đi trong những đợt sóng ập vào bờ:

- Mong có ngày được gặp lại ngài thiếu tá!

Trên đường về, tôi mở bức thư của Benla ra xem, theo yêu cầu của anh. Nét chữ đẹp, cứng cáp, viết bằng tiếng Pháp:

Thưa cô Hồng,

Tôi là người chịu ơn cô cứu sống. Suốt đời, tôi biết ơn và thờ phụng cô. Rồi đây, tôi sẽ trở về chiến đấu cho Tổ quốc tôi, cũng giống như cô đang chiến đấu cho Tổ quốc Việt Nam. Hình ảnh cô mãi mãi ngự trị trong trái tim tôi. Sau này tôi sẽ nên người một khi đất nước tôi được hoàn toàn giải phóng. Tôi nhất quyết xin trở lại đây để được gặp cô và xin Chính phủ Việt Nam được đón cô về. Tôi tha thiết hy vọng ngày ấy cũng không quá lâu và cô cũng chưa quên kẻ bất hạnh nhưng hết sức trung thành với cô.

Môhamét Benla

*
*   *

Cuộc gặp gỡ quốc tế của chúng tôi tại thành phố Hồ Chí Minh đã kết thúc. Chúng tôi bay ra Hà Nội, trái tim đất nước. Sau mấy ngày hoạt động thăm viếng, hôm nay, tôi lại được cùng các bạn đồng nghiệp tiễn những người bạn quốc tế về nước. Vì cương vị giao thiệp, tôi không được ngồi cùng xe với Ápđun Môhamét. Mãi đến sân bay Nội Bài, tôi mới lại được gặp anh.

Chúng tôi uống cạn ly cà phê trên tầng hai của nhà ga sân bay, rồi không hẹn mà nên, hai chúng tôi cùng đứng dậy xuống cầu thang dạo quanh vườn cây mới trồng. Những hàng bạch đàn và trắc bạch điệp non tơ ướt đẫm sương mai, đung đưa thân hình gầy guộc, cố gắng tỏa ra một bóng mát nhỏ nhoi và nhân hậu đổ xuống nền xi măng lát lối đi. Gió sớm, thơm ngát mùi lúa chín và hương hoa đồng nội Chiếc Bôing 707 sừng sững trên sân đậu như tương phản với đàn trâu lưng bết bùn đất đang kéo những chiếc xe quệt ra đồng.

- Thế là tình bạn của chúng ta đã được thử thách qua nửa đời người chứ không phải chỉ có mấy ngày. Anh có cho phép tôi nghĩ thế không?

- Hoàn toàn đồng ý!

- Tôi rất mừng là anh đã thực hiện xuất sắc lời hứa đối với Tổ quốc anh. Cũng như tôi, anh đã cầm súng chống kẻ xâm lược và sau đó đã phục vụ Tổ quốc theo khả năng phát triển của mình.

Môhamét thân thiết ôm lấy vai tôi. Một nụ cười hóm hỉnh hiện trên khuôn mặt cương nghị của anh:

- Bây giờ đã đến lúc tôi giới thiệu với anh về vợ con tôi. Hôm nọ anh có hỏi nhưng vì chuyện cũng dài nên thú thật tôi cũng định để đến lúc này mới nói với anh.

Môhamét rút ví lấy ra một tấm ảnh cỡ 9x13 đưa cho tôi. Nhìn qua cũng thấy ngay ảnh của gia đình anh: anh mặc bộ âu phục đứng giữa, bên một thiếu phụ và hai bên là cậu con trai và cô con gái cũng đã lớn. Tôi khen xã giao:

- Đẹp lắm!

Nhưng Môhamét theo đuổi một ý nghĩ khác:

- Anh nhìn kỹ nhà tôi xem.

Tôi nhìn lại tấm ảnh. Người thiếu phụ uốn tóc cao, mặc áo xanh, váy trắng, nét mặt đầy đặn, xinh đẹp và thùy mị. Tôi mơ hồ thấy một gương mặt hơi quen. Bỗng tôi reo lên:

- Cô Hồng phải không?

Vẻ mặt Môhamét rạng rỡ hẳn lên:

- Trí nhớ anh thật tuyệt vời! Chính cô ấy đấy!

- Anh nói nhanh lên tôi nghe nào?

Môhamét như trẻ lại mấy tuổi:

- Ngày ấy, vào đến Sài Gòn là tôi đấu tranh đòi hồi hương. Về đến nước nhà, tôi tìm tham gia Mặt trận Giải phóng và chiến đấu với cương vị đại đội trưởng. Năm 57, sau khi nước tôi giành được độc lập, qua đường ngoại giao, tôi xin trở lại Việt Nam để tìm cô ấy. Nhà Hồng ở gần thị trấn Nho Quan. Hồng vẫn chưa lấy chồng. Khi tôi và một cán bộ của Bộ Ngoại giao Việt Nam tìm đến, cô ấy đã khóc và đưa cho xem bức thư tôi gửi anh ngày ấy. Tôi được phép Chính phủ Việt Nam đưa Hồng về nước. Bố mẹ cô ấy đã mất sớm, họ hàng cũng không còn ai. Thành ra, ngót ba mươi năm xa Tổ quốc, Hồng vẫn nhớ nước mà chưa về được. Thỉnh thoảng, cô ấy vẫn ôn lại kỷ niệm cũ cho các cháu nghe.

Tôi hết sức cảm động, nhìn kỹ tấm ảnh và thầm liên tưởng lại quãng ngày gian khổ chúng tôi hành quân trên đường 41 và cảnh tượng đã xẩy ra tại cây số 42. Thấm thoắt mà đã ba chục năm trời!

Môhamét cầm lấy tấm ảnh, rút bút ghi mấy chữ nắn nót ở mặt sau rồi đưa cho tôi:

- Xin tặng anh tấm ảnh này với tất cả ý nghĩa của nó. Sang bên ấy, Hồng có thêm tên là Rôdơ Mari. Hai cháu cũng có tên Việt Nam, cháu trai tên là Hùng Cường, còn cháu gái là Ái Việt...

Tôi chỉ nắm chặt tay anh không nói rồi trân trọng cất tấm ảnh vào chiếc ví trên túi ngực.

Tôi tiễn anh đến tận chân cầu thang máy bay. Anh ôm hôn tôi thắm thiết nhiều lần, rồi trước con mắt ngạc nhiên của các bạn quốc tế và trong nước, anh bỗng đứng nghiêm giơ tay lên vành mũ, giọng trang nghiêm: - Merci bien mono commandant!(1)

 

 

 



--------------------------------------------------------------------------------

(1) Ngài thiếu tá.

(1) Lạy chúa!

(2) Cám ơn! Rất cảm ơn thầy cai.

(1) Ông đại uý.

(2) Hết chiến tranh rồi!

(1) Ngài đại uý.

(1) Tài năng chẳng cần phải đợi chờ năm tháng.

(1) Bi kịch cổ điển của Coócnây (1606 - 1684).

(1) Lính gác.

(1) Cảm ơn! Rất cảm ơn các bạn.

(1) Chấm dứt chiến tranh!

(2) Hồi hương.

(1) Rất cám ơn ngài thiếu tá!
Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #33 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2008, 07:21:15 pm »

THỜI GIAN LẶNG LẼ

Khoảng 10 giờ sáng ngày mồng 4 Tết âm lịch năm 1972 Cả khu vực xóm Trại, nơi đóng quân của đại đội 4, tiểu đoàn 10 râm ran chuyện không hay; một cô gái đến chơi với người của đơn vị, đã bỏ đi để lại một đứa bé còn đỏ hỏn, dễ chừng mới được vài tháng tuổi... Cả đại đội rối tinh rối xòe. Cán bộ nháo nhào, chiến sĩ thì chạy xuôi chạy ngược. Người có liên quan trực tiếp là binh nhất Nguyễn Ngọc Phú, nguyên sinh viên Đại học Sư phạm II, tiểu đội trưởng tiểu đội 5, trung đội 2 được gọi lên và bị các thủ trưởng thẩm vấn liên tục.
 


Truyện ngắn. DƯƠNG TỬ GIANG

 

 

Cái vẻ đẹp trai thong dong thường ngày như biến đâu mất. Mái tóc đen mượt rối bời, mướt mồ hôi trán, trông bơ phờ mệt mỏi mà vẫn còn ngơ ngác, kể chuyện mà vẫn không hiểu sự tình nó là thế nào. Câu chuyện được kể lại lỗm bỗm, không biết đâu là đầu đâu là cuối. Đại để như Phú nói: Cô ta là bạn học từ hồi phổ thông, cũng có quan hệ với nhau từ hồi nghỉ hè. Bẵng đi thế rồi sáng nay cô ta bế đứa bé đến, cứ khăng khăng nói là con anh. Em cứ tưởng nói đùa, đang ngồi nói chuyện bình thường thấy cô ta đặt đứa bé ra phản, nói là để cho nó ngủ yên rồi bảo ra ngoài xem cảnh núi đồi, cũng chủ quan không tìm ngay...

Khuôn mặt rầu rĩ, giọng nói của Phú khổ sở quá: "Các thủ trưởng bảo em phải làm gì bây giờ?".

Kế hoạch lùng sục, tìm kiếm cô gái được triển khai tắp lự. Những là ra ga gần nhất, rồi hai ga trên và dưới. Những là đường cô ta quay lại, thậm chí cả lối đi xuôi nếu cô ta nghi binh. Những là vào từng nhà dân, chú ý cả những ao hồ, hàng quán ven đường.

Bữa cơm trưa được ăn vội vàng, toàn bộ trung đội 2 được huy động. Từng tốp 3 người được quán triệt, dặn dò kỹ càng. Lúc đi căng thẳng, hăm hở bao nhiêu, vài tiếng sau khi trở về thì đều rã rời, chán trường bấy nhiêu. Ai cũng thuộc lòng hình dáng, khuôn mặt, trang phục, thậm chí kiểu dép cô ta đi, thế mà tất thảy đều chịu thất bại, không hoàn thành nhiệm vụ. Lúc 3 giờ 15, thấy toán cuối cùng về cũng lắc đầu, đại đội trưởng dậm chân bành bạch rồi nghiến răng ken két:

- Không lẽ cô ta độn thổ?

Từ lúc cô gái bỏ đi , việc bế ẵm đứa bé được giao cho binh nhì Nguyễn Thị Hạnh, chiến sĩ gái tiểu đội nuôi quân. Đứa bé khóc ngặt nghẽo, không biết nó muốn gì, đòi gì. Chỉ thấy binh nhì Hạnh vã mồ hôi, bơ phờ không kém binh nhất Phú.

Đến 4 giờ 5 phút chiều, sau khi bàn bạc hội ý mãi, chỉ huy đại đội thấy chỉ còn mỗi cách là bế đứa bé lên tiểu đoàn, xin hướng giải quyết. Mệnh lệnh lập tức được thi hành, chính trị viên đại đội cùng Phú và Hạnh bế đứa bé lốc thốc lên đường. Tình huống hi hữu này cũng làm cho chỉ huy tiểu đoàn lúng túng không kém, chắc trong đời binh nghiệp của các anh chưa bao giờ gặp phải. Vấn đề xem chừng khó giải quyết.

Tiểu đoàn trưởng đỏ mặt tía tai khi nhìn qua đứa bé:

- Lính với tráng, tí tuổi đầu đã nhăng nhít. Cậu phải tìm bằng được và trao trả đứa bé này cho cô ta rõ chưa!

Chính trị viên tiểu đoàn thì ôn tồn:

- Em có biết nhà cô ta chứ gì? Được rồi, vấn đề là phải làm tốt công tác tư tưởng, phải quán triệt cho gia đình cũng như cô ta hiểu rõ tình hình. Chúng ta còn rất nhiều việc hệ trọng phải làm, chúng tôi cũng tin là gia đình và cô ta sẽ thấy được vấn đề để nhận lại cháu bé. Liên quan của em đến đâu và mức độ ra sao thì sẽ giải quyết từng bước.

Còn tham mưu trưởng lại trầm ngâm:

- Nhưng nếu như tìm đến nhà mà họ không nhận và cũng giả định là cô gái không có ở đấy, chưa về hoặc đã bỏ đi chỗ khác thì sao đây?

Mọi vấn đề được lật đi lật lại, các tình huống được giả định và các phương án khắc phục được nêu ra. Cuộc hội ý rồi cũng đi đến hồi kết thúc. Văn thư tiểu đoàn khua máy chữ rào rào, văn bản đưa ra tới tấp, riêng Hạnh được nhận hai tờ giấy có cùng nội dung được đóng dấu đỏ chói:

Đơn vị M ngày... tháng 2 năm 1972

Kính gửi: ủy ban hành chính xã Bạch Đằng

Cháu bé đây không phải là con của quân nhân Nguyễn Thị Hạnh. Do những khó khăn mà đơn vị chưa thể khắc phục được, nếu gia đình đồng chí Hạnh rộng lượng, vui lòng tiếp nhận và nuôi dưỡng cháu thì đơn vị hết sức hoan nghênh và cũng mong ủy ban hành chính xã tạo mọi điều kiện cho gia đình trong việc nuôi dưỡng chăm sóc cháu.

Đơn vị xin biết ơn gia đình, ủy ban hành chính xã và xin gửi lời chào quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

 T/M. Đơn vị, Tiểu đoàn trưởng: Thượng úy Đỗ Văn Huynh

 

Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #34 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2008, 07:21:43 pm »

THỜI GIAN LẶNG LẼ (tiếp)

Những người chờ và đi trên chuyến tàu chợ lúc 7 giờ 45 phút tối hôm 4 tết năm ấy từ Thanh Hóa ra Hà Nội hẳn chưa quên cảnh một đôi trai gái mặc quân phục nhưng mặt mũi còn non choẹt, bế theo một đứa bé, tất tưởi chen lên tàu. Anh chàng trông cao ráo lắm, đẹp giai nhưng thái độ gượng gạo, có vẻ thất thế, đeo hai ba lô cái trước cái sau, đi trước mở lối. Cô gái không đẹp, dáng người đẫy đà, bộ quân phục có vẻ hơi chật so với vóc dáng tràn đầy sinh lực của cô. Nét mặt hiền lành, thái độ bình tĩnh, cô gái chậm rãi đặt từng bước chân. Có vẻ như cô vừa sợ ngã, cũng như sợ ai đó vô tình bất cẩn, động vào đứa bé.

Cả hai không ai nói với ai câu nào, và từ lúc ở sân ga cũng như khi lên tàu, đôi trai gái nhẫn nhịn, chịu đựng những cái nhìn đầy ẩn ý của mọi người.

Tàu chạy được một đoạn, đứa bé ậm ẹo khóc. Rồi nó khóc to hơn. Bà khách sồn sồn ngồi dựa lưng vào ghế của đôi trai gái nói vọng sang:

- Nó đói đấy.

Anh chàng lóng cóng lôi ra cái bát sắt quân dụng, rồi bi đông nước, rồi đường, rồi sữa, rồi lập cập pha pha quấy quấy.

Thằng bé vẫn nhắm nghiền mắt, chóp chép uống được vài thìa, rồi nó nghẹo đầu ngủ. Im lặng chỉ được mươi phút. Thằng bé lại khóc và lần này thì nó khóc to hơn, lâu hơn. Nghe mà sốt ruột quá.

Bà khách sồn sồn nghển cả người lên thành ghế, càu cạu nhìn cô gái rồi càu nhàu:

- Rõ chẳng ai như nhà chị này, con khóc như thế mà cấm chịu vạch áo cho nó bú. Không có sữa thì cứ cho nó ngậm. Tí tởn lắm vào, giờ còn xấu hổ nỗi gì.

Cô gái thở dài, bặm môi quay mặt đi.

Cô gái ấy chính là Hạnh. Hạnh chẳng hé răng đến nửa lời, cô chỉ thấy mệt và đói, đúng rồi, suốt từ trưa đến giờ, Hạnh đã ăn uống gì đâu.

Khi trưa, nghe chị em kháo nhau, thế là cô chạy sang. Khi thấy thằng bé nằm chỏng chơ ở phản, khóc oe oe, chủ nhà cũng không có ai, thế là cô bế thằng bé lên. Lúc đầu thì cô cũng thấy ngột và khó chịu lắm vì thằng bé cứ rúc đầu vào ngực cô. Sau cô cũng thấy bình thường, quen quen đi rồi chỉ thấy thương nó. Da nó đỏ hồng, những mạch máu li ti, mầu xanh, mỏng manh và yếu ớt. Môi nó bé xíu, nhỏ như hai cánh hoa hồng. Hai mắt nhắm nghiền, trông nó tội nghiệp, giống như con chuột đồng mới đẻ: Người ta bảo những đứa bé trông đỏ đắn như thế này, khi lớn lên sẽ trắng trẻo xinh xắn lắm, chẳng biết có đúng thế không. Mà sao mẹ nó bạc ác, nhẫn tâm đến thế. Những ý nghĩ ấy cứ miên man, lộn xộn trong đầu Hạnh.

Cho đến khi bảo là phải bế nó lên tiểu đoàn, Hạnh có ý nghĩ là muốn bế nó thêm một lúc nữa. Thế là Hạnh xung phong. Lên đến Tiểu đoàn, khi chờ các thủ trưởng hội ý, rồi lại nghe nói phải bế thằng bé đi tàu ra Hà Nội, tự dưng Hạnh lại thấy ái ngại thay cho Phú. Chứ còn sao nữa, cả một đoạn đường trường như thế, anh ta sẽ xoay xở ra làm sao. Hơn nữa cô cũng lờ mờ cảm thấy là thằng bé có vẻ bén hơi cô. Thế là Hạnh lại xung phong.

Bây giờ, khi đã ở trên tàu, Hạnh không hề ân hận một tí nào về việc đã bế thằng bé. Cô chỉ thấy mệt và đói.

Tàu chợ, ì ạch như rùa leo dốc, lại người lên người xuống, í ới gọi nhau, ồn ào chen lấn. Hơi người nồng nặc, ngột ngạt quá. Thằng bé ngủ không yên, nó cứ giật mình thon thót và khóc liên tục. Có lúc tiếng khóc của nó như tắc đi, nghẹn lại, nó nấc từng hồi, còn mắt thì vẫn nhắm nghiền.

Hạnh thấy xót xa trong lòng, đã mấy lần cô trào nước mắt nhưng vì tối quá nên không ai nhận thấy. Bụng dạ Hạnh rối bời. Lúc thì cô muốn tàu chạy nhanh, về là tìm được và trao ngay thằng bé cho mẹ nó, để nó khỏi mệt. Nhưng chỉ lát sau thì cô lại mong ngược lại, rằng tàu chạy thế này cũng chẳng sao, cứ như thế này mãi cũng được. Đấy, nó đã im và ngủ ngon lành rồi còn gì. Hạnh chẳng muốn xa thằng bé tí nào. Vừa chớm hình dung ra việc phải trao thằng bé cho mẹ nó, cô tự đập vào tay mình một cái, dứt khoát không nghĩ nữa. Và Hạnh ôm chặt thằng bé vào lòng.

Bên cạnh anh chàng Phú đã say sưa ngủ từ lúc nào.

Tang tảng sáng, tàu đến ga Hàng Cỏ. Phú đeo ba lô đi trước dẫn lối, còn Hạnh bế thằng bé, lếch thếch theo sau. Vòng vèo mấy dãy phố thì đến nhà cô gái, linh tính báo cho Hạnh biết là cô gái không có ở đây, điều đó cứ làm cô băn khoăn, không biết nên vui hay nên buồn. Phú luồn tay qua cái lỗ nhỏ sát tường của cái cổng sắt đã bắt đầu xệp xệ, thấy vang lên hai tiếng leng reng ngắn, rồi lại thấy Phú cúi xuống, di di mũi giày. Có tiếng loẹt xoẹt, rồi một người đàn bà gày gò mà Hạnh có cảm giác là ở bà ta cái gì cũng nhòn nhọn, bà ta cau có rút cái chốt then cổng. Khi nhận ra Phú, ánh mắt sắc lẹm của bà ta cụp xuống rất nhanh, bà ta cất giọng vồn vã nhưng nhạt thênh thếch:

- Ô cậu Phú! Cái gì thế?

- Cháu muốn hỏi: Tuyết có nhà không ạ?

- Sao, anh vẫn còn hỏi nó cơ à? Nó không có ở đây.

Hạnh thấy rõ ràng là bà ta sững người khi trông thấy cô bế thằng bé. Rồi bà ta nhẹ giọng:

- Chào cô, là cũng mong cô thông cảm giúp. Bất tiện quá nhưng tôi cũng đã đến giờ đi làm.

Mặt Phú tái đi, Phú ngắc ngứ bảo:

- Cô ạ chuyện là thế này: Hôm qua Tuyết có vào đơn vị cháu...

Mắt bà ta long lên, bà ta xoe xóe:

 

- Nó cũng đến chỗ anh cơ à, thế thì con này hư thân mất nết quá rồi, vào đấy làm gì cho anh mất thì giờ. Mà này, nói thật cho anh biết nhé, gia đình tôi từ nó đã từ lâu rồi!

Bỏ mặc Phú và Hạnh đứng ở chỗ nửa đường nửa sân như thế, bà ta ngoảnh người bước vội vào trong nhà, lại còn đóng mạnh cửa ra vào đánh rầm một cái, làm thằng bé giật nảy người.

Một vài ánh mắt của những người chung quanh, rồi cũng cái nhìn na ná như thế của những người qua đường tò mò nhìn Hạnh và Phú, Hạnh thấy bối rối khó nghĩ quá. Rồi Hạnh lại thấy Phú cũng quay ngoắt người, lùi lùi bước. Thái độ yếm thế ấy của Phú làm Hạnh bực mình, Hạnh lật đật bước theo và hỏi khẽ:

- Thế nào, đi đâu bây giờ?

- Tôi phải quay lại nhà cô ta, tìm gặp bằng được mẹ cô ta rồi muốn ra sao thì ra. Thật là nhẫn tâm, thật là vô nhân đạo!

Tất cả những điều được chứng kiến từ sáng làm cho Hạnh thấy buồn nản, Hạnh mệt mỏi bảo với Phú:

- Vô ích thôi, anh không tìm thấy cô ta thì cãi vã với bà ấy phỏng có ích gì, bà ấy cố tình ruồng bỏ thằng bé rồi, anh có thấy như thế không?

Trong lúc thay tã cho thằng bé, chợt nhớ đến hy vọng cuối cùng, Hạnh nói:

- Anh thu xếp đi, về nhà tôi. Chị gái tôi cũng mới sinh cháu, may ra...

Về đến làng vào lúc non trưa, vừa ở trên xe bước xuống, Hạnh đã xăm xăm rảo bước đi trước làm Phú cứ như phải chạy gằn theo sau.

Trong lòng Hạnh vừa xốn xang, vừa rối bời. Đã ngót năm nay cô chưa được về làng, những cảnh vật quen thuộc loang loáng trước mặt, một vài người í éo gọi cô chỉ trỏ điều gì đó. Hạnh cứ gật đầu bừa mà xăm xăm bước vội. Thực tình thì Hạnh có nóng ruột, không biết chuyện này rồi được thu xếp thế nào. Tâm trí cô dồn hết vào thằng bé và cô thấy trách nhiệm đặt hết lên vai mình, thôi thì hãy biết thế đã. Thằng bé sắp được bú, đúng rồi thằng bé sắp được bú sữa của chị cô, điều ấy như thúc giục, làm cô bước nhanh hơn.

Khỏi phải nói gia đình Hạnh ngạc nhiên đến mức nào và băn khoăn ra sao khi thấy Hạnh nói ra dự định của mình. Cô như đọc ra được những ánh mắt của mọi người và thấy lo lo, chột dạ khi chờ thầy mình xem giấy tờ. Mân mê mãi tờ giấy, lại mân mê đến cặp kính lão, rồi thầy Hạnh cũng nói khẽ khàng:

- Dù sao cũng là việc phúc đến nhà. Cũng là vất vả lắm đấy, thôi thì cũng tùy ở mẹ Tâm cả thôi!

 

Hạnh muốn nhảy lên khi nghe thấy bố nói ra điều ấy, cô cũng cảm thấy chị Tâm cũng thích thích thằng bé.

Cơm nước xong xuôi thì họ lại lếch thếch kéo nhau lên ủy ban. Ông phó chủ tịch xã chậm rãi đọc tờ công văn của đơn vị rồi đưa mấy tờ giấy khai sinh cho Phú. Ông hỏi như bâng quơ:

- Đặt tên nó là gì đấy.

Nghĩ đến câu nói của bố lúc trưa, lại chưa thấy Phú nói gì, Hạnh lanh chanh:

- Phúc ạ, Nguyễn Hồng Phúc, bác ạ.

- Mắt anh tinh, anh viết đi rồi tôi ký.

Khi Phú viết xong, vừa liếc qua ông đã xổ ra một tràng:

- Chữ anh này đẹp ghê, đại học hả? Nhưng không được, không được rồi. Thằng bé phải có mẹ chứ?

Phú tần ngần:

- Bác ạ, cháu không muốn ghi tên người đàn bà bạc bẽo ấy vào đây một tí nào.

Ông phó chủ tịch lắc đầu quầy quậy:

- Không được. Tôi cũng không hiểu anh đại học ở cái chỗ nào. Tôi hỏi anh nhé: Anh đẻ ra nó bằng đường nào, bằng nách à?

Mặt Phú như dài thuỗn ra, Phú chẳng nói được câu gì. Im lặng dễ đến hàng phút. Một ý nghĩ chợt đến, thế là Hạnh nói luôn:

- Hay đề tên cháu hở bác? Phải rồi, anh đề tên tôi vào cũng được!

Nói dứt lời, Hạnh lại đỏ mặt tưng bừng. Ông phó chủ tịch trân trân nhìn Hạnh. Rồi ông ngả người, cười khà khà:

- Thôi thì tùy nhé! Mà này, bút sa gà chết đấy con ạ. Gà con thì sống, còn chẳng biết gà mẹ sau này đào bới ra sao?

Lúc ấy, Hạnh chẳng bận tâm tý nào về ý tứ câu nói ấy của ông phó chủ tịch. Nhìn nét mặt như nhẹ đi của Phú, cô cúi xuống nhìn thằng Phúc đang hé mắt hấp háy, hình như là nó đang cười với cô. Còn Hạnh, cô chỉ nghĩ:

- Gớm, anh tí con ạ, được bú đẫy có khác.

Tối hôm ấy, Hạnh và Phú lại xuống ga, lên tàu quay trở về đơn vị.

Cái ánh đèn bão lúc lắc, lúc lắc ở cuối đoàn tàu xa dần rồi mất hẳn. Hạnh nhìn ra ngoài: tối như mực. Con tàu lao vun vút trong đêm.

Hạnh thấy mình lâng lâng, như nhẹ bỗng, nhưng rồi lại nặng trình trịch. Cô nhớ thằng Phúc, cô ứa nước mắt, buột miệng gọi: con ơi. Chừng như nhớ ra, cô giật mình quay sang: bên cạnh anh chàng Phú ôm ba lô, đã ngủ, say sưa từ lúc nào.

Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #35 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2008, 09:26:36 pm »

THỜI GIAN LẶNG LẼ (tiếp)

Sẩm tối ngày 26-3-1972, lúc đại đội đi hội trại hết trên tiểu đoàn thì Hạnh nhận được thư chị Tâm. Chị Tâm viết:

... Mọi việc ở nhà vẫn bình thường. Còn thằng Phúc, lạy trời nói trộm vía thì nó cũng dễ nuôi đấy. Nó đã biết lẫy. Dưng mà, cả đường và sữa gửi về nhà nhiều quá. ăn thì lâu hết mà bán đi thì bất tiện. Mà các em cũng phải giữ lại để bồi dưỡng sức khỏe chứ. Còn việc này thì chị muốn nói riêng với dì là hôm đi, dì có đưa cho 12 đồng, mấy hôm sau lại thấy dững 35 đồng trong giấy khai sinh của thằng Phúc. Thế là của Phú rồi. Hôm nọ lại gửi về 7 đồng nữa, cho nên là lúc nào, dì cũng phải lựa lời mà nói với chú ấy. Chị cứ nghĩ nếu như chị đẻ sinh đôi, thêm thằng Phúc thì cũng đến vậy mà thôi...

Nói vào lúc nào nhỉ, mà lựa lời là thế nào? Hạnh thấy bí quá và băn khoăn cho đến tận lúc ngủ.

Thời gian lặng lẽ trôi đi...

Ngày 2-9-1975, trung sĩ quân y Nguyễn Thị Hạnh được Bệnh viện huyện tiếp nhận vào làm việc.

Vai đeo ba lô, tay xách hai con búp bê có những cái mắt nhấp nháy, khi vừa xuống tàu và đặt bước chân đầu tiên xuống sân ga, Hạnh khẽ reo lên: thế là xong. Trong lòng cô, đâu đó như có tiếng hát ngân nga. Cô sắp được gặp lại cha mình, gặp lại chị, gặp lại quê hương. Cô không đi đâu xa nữa, cô luôn được ở gần họ và một điều làm Hạnh thích thú lắm, ấy là được gặp lại thằng Phúc. Chắc nó cũng lớn chứ nhỉ, đã gần bốn năm rồi còn gì.

Bước chân vào cổng, Hạnh thấy chị Tâm đang sàng gạo, còn hai đứa bé đang chơi đùa gì đó. Hạnh nhận ngay ra thằng Phúc, nó e dè nhìn Hạnh. Chị Tâm cười cười:

- Các con chào dì đi. à, Phúc thì phải chào mẹ, mẹ Hạnh vẫn viết thư về cho con đấy. ôi chào, búp bê đẹp chưa này. Chào mẹ đi.

Thằng Phúc vẫn ngập ngừng, nói ấp úng câu gì đó rồi lảng ra sau lưng chị Tâm. Hạnh buông ba lô, cô bước lại rồi xoa đầu nó:

- Ừ, dì cũng được. Hôm nay thì tha, nhưng mai phải gọi là mẹ. Dì mới thực là mẹ, mẹ đẻ ra con đấy.

Rồi Hạnh bật cười rũ rượi, chị Tâm nắc nẻ cười theo làm hai đứa trẻ cứ ngơ ngác mãi.

Đêm hôm ấy, Hạnh thấy khó ngủ quá. Lẽ ra phải ngược lại mới đúng chứ. Cô nhủ thầm như thế rồi tự đoán, chắc là vì lạ nhà, hoặc lúc tối phải uống một hai chén trà đặc khi tiếp mọi người đến chơi.

Lúc sắp đi ngủ, Hạnh phải dỗ dành mãi, rồi chị Tâm cũng phải quát lên nữa, thằng Phúc mới phụng phịu, lên chõng nằm cạnh Hạnh.

Thấy nó cứ vật vã, sì sục Hạnh nghĩ là có thể nó lạ nên phải vỗ về nó mãi. Rồi cô nghĩ đến việc những người mẹ hay ru con. Thế là cô cũng đọc lên khe khẽ những bài hát, câu ca từ đời nảo đời nào, mãi như thế thành thử Hạnh lại thiu thiu ngủ trước.

Giấc ngủ có vẻ êm đềm, đang đến một cách chậm chạp khó khăn, bỗng Hạnh giật bắn người, có cái gì đó lờ quờ, mơn man trên ngực cô. Hiểu ra là tay thằng Phúc, Hạnh thở phào. Cô kéo lại áo rồi mắng nó:

- Làm thế là xấu, ngủ đi.

Thằng Phúc không chịu, có lẽ nó cũng mới gà gà ngủ. Rồi nó nhì nhèo bật khóc ti tỉ, đòi vào với mẹ Tâm. Đêm đã khuya lắm, Hạnh phải nghiêm giọng:

- Nín ngay, mẹ đánh đòn bây giờ.

Lời dọa của Hạnh chẳng có tí hiệu lực nào, thằng Phúc cứ nhì nhèo, ghét thế không biết. Gian bên, chị Tâm cũng đã tỉnh giấc. Vừa nghe giọng chị Tâm, thằng Phúc đã lồm cồm ngồi dậy, dỏng tai chờ đợi. Thấy chị Tâm bảo:

- Xin lỗi mẹ đi.

Nhưng chỉ đợi có thế, thằng Phúc ngắc ngứ câu gì, rồi vén màn chạy tót đi làm Hạnh cứ buồn cười mãi.

Nghỉ ở nhà nửa tháng thì Hạnh đi nhận việc. Cô được bố trí một phòng riêng 15 m2 trong khu tập thể của bệnh viện. Trong phòng có một cái giường cá nhân bằng sắt sơn xanh hòa bình đã chớm rỉ , một cái tủ gỗ mỏng dính, quét sơn mầu trắng nham nhở, có chiều cao bằng chiều rộng của cái giường.

Không sao, thế là quá hạnh phúc, quá thừa thãi so với khi nằm võng ở rừng. Hạnh nghĩ thế lúc kê lại cái tủ đã ọc ạch, có tiếng mọt cọt kẹt đâu đó.

Những ngày này với Hạnh mới dễ chịu làm sao. Nắng như không gay gắt mấy còn mưa dầm gió bấc hình như cũng ít hơn thì phải.

Đi đâu cũng ríu rít hai mẹ con, đồng nghiệp hàng xóm thì quen rồi, chứ bạn bè xưa ít gặp thì chắc lạ lẫm và ngạc nhiên lắm. Hạnh luôn nhớ đến ơn của bố cô, đến công sức quá vất vả của chị Tâm. Này nhé, Hạnh không phải mang nặng đẻ đau, không phải gánh một tí điều tiếng gì, không bú mớm nâng giấc, thuốc thang sài đẹn cũng không nốt, ấy vậy mà bây giờ, cái thằng Phúc trông như trong tranh, lúc nào cũng bi bô gọi cô là mẹ. Còn muốn đòi gì và còn gì hơn thế nữa.

Cô ngồi trông nó xúc cơm ngon lành thì chỉ muốn nó ăn thêm bát nữa. Với Hạnh thế nào cũng xong, bo bo, bột mỳ hay ngô tẻ già luộc thì cũng như nhau cả thôi, mà cô còn nhịn ăn, có lúc bỏ bữa đấy. Hình như Hạnh có béo lên, quần áo cứ chật dần. Cũng chẳng sao, miễn là đừng ốm đau, mệt mỏi gì là được. Nhưng Phú chẳng có tin tức thư từ gì cả. Sao thế nhỉ, hòa bình đã mấy năm rồi, bao nhiêu người đã nườm nượp trở về, chí ít thì tin tức cũng đã rõ ràng. Hay là anh ta đã, không, chắc không việc gì đâu, mình thật vớ vẩn.

Chỉ cần Phú đã trở về, nhớ đến Hạnh hay không thì tùy, miễn là trông thấy thằng Phúc là được, trông nó, Phú phải thích lắm nhỉ? Đôi lúc Hạnh cứ nghĩ miên man, vẩn vơ như thế và cô cũng phải tự thú nhận là hồi này cô hay nghĩ và nhớ đến Phú rất nhiều. Có lần, đã lâu lắm, cô mơ thấy Phú nhưng máu me đầy mình và có mùi hôi khó chịu lắm, nhưng chỉ thoảng qua thôi và cô tỉnh ngay được. Còn lần sau, đấy là một trưa chủ nhật, cả hai mẹ con cùng đi ngủ. Giấc ngủ êm đềm đến thật nhẹ nhàng. Hạnh thấy mình đang đi lên một quả đồi, chung quanh toàn hoa sim, mát mẻ và vắng lặng lắm. Bất ngờ, Phú ở trên đồi chạy xuống quần áo mới tinh, hàm răng trắng bóng. Phú ôm chầm lấy Hạnh nhấc bổng cô lên rồi lại đặt cô xuống. Hạnh như lịm đi, cô kêu lên: "Ôi, anh ơi!", nhưng cô lại cuống quít, hình như không phải Phú, đấy là khuôn mặt của ông bảo vệ bệnh viện... Không được, cứu, cứu tôi với, mà sao vắng lặng thế này.

Tiếng kẹt cửa làm Hạnh tỉnh giấc. Hạnh dụi mắt và tự cấu vào mình, thì ra là Hạnh vừa mơ. Nhưng máu vẫn rần rật và người cô vẫn còn bừng bừng.

Thằng Phúc hỏi:

- Mẹ gọi gì đấy.

Hiểu ra thằng Phúc đã không ngủ, trốn mẹ đi chơi, Hạnh thấy tức nó. Cô mắng nó xơi xơi:

- Gọi gì à, làm sao mà không ngủ. Đi đâu về nhễ nhại thế này. Quần áo nữa kìa, bẩn quá đi thôi. Phúc, tự úp mặt vào tường đi.

Thằng Phúc nhích nhắc đi vào tường, len lét quay đầu nhìn mẹ. Chắc nó cũng ngạc nhiên lắm khi nhìn thấy mẹ nó. Người đang ngồi trên giường kia, tóc tai rã rợi, mặt mũi sưng sỉa đỏ như phát ban, lại đang gầm gừ quát tháo, có lẽ không phải mẹ nó.

Chừng như Hạnh cũng nhận ra một điều gì quá đáng ở mình. Cô im bặt và lặng lẽ soi gương. Cô giật mình khi thấy mình lạ đến thế. Gớm ghiếc làm sao. Rồi Hạnh cũng tĩnh trí lại được. Cô ôm chầm thằng Phúc vào lòng, nhẹ nhàng xoa đầu nó và không nói một câu nào nữa.

Nhưng suốt cả chiều hôm ấy, Hạnh như người khác. Người cô cứ nóng ran,mụ mị và mê muội đi. Trong cơn mộng du và nỗi thèm khát dai dẳng, Hạnh tự hành hạ mình, với một cái cuốc và một đôi quang gánh, cô thay toàn bộ lớp đất trên mặt của 12 m2 đất được chia để trồng rau. Chẳng nhớ là bao nhiêu gánh, gánh đất cũ đi và gánh đất mới về. Ai hỏi, Hạnh bảo đất này bạc màu rồi.

Đêm về, nỗi ám ánh ấy vẫn không buông tha cho Hạnh. Cô không tài nào ngủ được. Hạnh giở thư của Phú, chỉ có hai lá thôi mà cũ lắm rồi, cô đã thuộc lòng.

 

Hạnh thoáng thấy lo lo khi mân mê cái khăn mặt mà Phú quàng lên cổ cô hôm nào. Rồi Hạnh lấy diêm và một tờ báo. Hạnh đốt tờ báo và hơ cái khăn lên đó. Tờ báo cháy lem lém. Người ta bảo làm như thế này là người đi xa phải nóng ruột. Chẳng biết có đúng không?

Ngày 15-8-1978. Hạnh đi xin cho thằng Phúc vào học lớp 1, trường của thị trấn. Người ta yêu cầu phải có giấy khai sinh và hộ khẩu, kèo nèo mãi thì người ta cũng nhận. Lý do phải nói khó là vì thằng Phúc chưa có hộ khẩu ở thị trấn. Người ta trách cô, sao mà bất cẩn quá, sao mà không nhập hộ khẩu cho thằng Phúc. Hạnh cũng không ngờ cái chuyện giấy tờ hành chính lại lôi thôi, nhiêu khê đến thế. Cũng không nên trách cô, thực ra Hạnh đã chủ tâm bởi cô tính rằng cứ để việc thằng Phúc đấy, đợi Phú về hãy hay.

Cô chẳng muốn nói ra vì chính cô cũng thiệt thòi nhiều khi mấy năm không làm hộ khẩu cho thằng Phúc theo mình. Đã mấy lần có mấy người nhắc, cô chỉ ậm ừ. Là bởi vì cô đã tính thế. Nhưng đến nước này thì không thể được nữa rồi, phải làm hộ khẩu cho thằng Phúc thôi. Biết khi nào Phú mới về.

Nộp đơn và giấy khai sinh hôm trước thì chiều hôm sau Hạnh được mời lên phòng tổ chức hành chính để làm việc.

Bình thản ngồi xuống ghế, Hạnh lặng lẽ nhìn người cán bộ phụ trách việc quản lý theo dõi hồ sơ. Có lẽ anh ta chưa đến 40 tuổi, quần áo phẳng phiu, da trắng bệch, cặp mắt bé tí như hai vết rạch tiểu phẫu trên khuôn mặt bèn bẹt. Tóc lưa thưa, mươi sợi dài thõng thượt, cố che lấy cái trán đã hói trơn lên tận đỉnh.

Hôm nay, Hạnh mới nhìn rõ mặt anh ta, chẳng biết ai rỗi hơi nói là anh ta mê Hạnh. Mình thì có đẹp gì nhưng anh ta thì rõ là đồ trai hoi. Nghe nói con gái anh ta cũng đã lớn lắm và anh ta đang chê vợ già, quê đâu xã dưới thì phải. Hạnh chẳng thấy ưa anh ta tí nào.

Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #36 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2008, 09:27:39 pm »

THỜI GIAN LẶNG LẼ (tiếp)

Anh ta rót nước, cất giọng điệu đà và mềm như bún:

- Uống nước đi em, thế bao giờ cho các anh ăn cỗ đấy nhỉ?

- Chưa, có lẽ cũng còn lâu đấy - Hạnh đáp qua loa cho xong chuyện.

Cái giọng mềm oặt ấy vẫn không tha, hình như nghe lại thẽ thọt hơn:

- Lâu là đến bao giờ, anh ấy đang làm gì, chức vụ thế nào, công tác ở đâu?

Hạnh xẵng giọng:

- Làm gì, ở đâu, dễ thường tôi phải khai với anh à?

Im lặng. Khuôn mặt bèn bẹt ấy không hề biến sắc. Anh ta nhếch một cái cười, tợp một ngụm nước. Rồi anh ta rướn người, nghiêm mặt:

- Xin lỗi, có những việc tổ chức phải được biết và nắm rõ. Đồng chí Hạnh chưa lập gia đình có đúng không?

- Anh xem lý lịch thì rõ.

- Có nghĩa là chưa kết hôn. Vậy cháu Phúc là con ngoài giá thú?

Hạnh ớ người, cô chẳng biết trả lời thế nào. Anh ta lại dồn tiếp:

- Tại sao đồng chí không ghi vào lý lịch.

Anh ta đắc thắng, kẻ cả chìa mấy bản lý lịch mới toanh:

- Yêu cầu đồng chí ghi rõ và bổ sung lý lịch. Ngày hôm nay là...

Chẳng phải nghĩ ngợi gì, Hạnh ngoáy ngoáy trên mấy tờ lý lịch ấy. Mà việc gì phải nghĩ ngợi, việc làm rõ như ban ngày, trước chưa khai thì bây giờ khai, đã sao đâu nào.

- Hết rồi à.

Hạnh chẳng buồn đáp, buông cái bút đánh cạch xuống bàn.

- Chiến tranh, thời chiến mà? Biết vậy, cũng không ngờ nhỉ - Cái giọng mềm oặt ấy lại nhẽo nhợt.

Hạnh thấy bừng bừng trong người, cô đứng phắt dậy:

- Anh không được nhắc đến thời chiến, biết vậy thì anh làm gì nào. Này, nói cho anh biết nhé: Anh có mắt cũng như không.

Cái mặt mỏng dính ấy càng bẹt thêm ra, anh ta cũng chồm lên rồi the thé:

- Cô nói bé thôi, quát ai đấy. Tôi cảnh cáo cô về hai tội: thiếu trung thực với Đảng và lăng mạ cán bộ. Làm gì à, rồi cô khắc biết. Hừ, trông thế mà lẳng lơ!

Hạnh đập bàn đánh rầm:

- Lẳng lơ à, thì đã sao? Còn hơn khối kẻ rúc nách vợ!

Đùng đùng bỏ ra ngoài, Hạnh vẫn còn thấy gai cả người. Cô chẳng sợ gì cả, nhưng cô thấy buồn quá. Buồn cho chính mình, mà hôm nay làm sao mình lại ngoa ngoắt như thế. Buồn cho sự đời nhiêu khê và phức tạp, chuyện của cô đơn giản, khác nào một cộng một bằng hai, vậy mà nhiều người vẫn chẳng tìm hiểu cho ra ngọn ngành, đưa cô vào thế bí, lại còn buộc tội cô nữa.

Cả chiều hôm ấy, Hạnh thấy chán ngơ chán ngắt, cô chẳng tập trung đầu óc tí nào. Đã vậy, chiều tối về nhà, thầy Hạnh lại nhắc đến chuyện riêng của cô làm cô càng sốt ruột. Cô ngồi đầu hè tựa lưng vào cột, lặng lẽ nhìn bầu trời cao rộng mà thấy rối bời.

Trăng chưa lên. Bầu trời chi chít những sao là sao, lặng lẽ và nhấp nháy. To rộng thế nhưng xem ra lại mạch lạc chứ không lộn xộn, rối mù như trong đầu cô. Thực ra Hạnh cũng thấy núng thế lắm rồi. Cô cũng biết mình rõ lắm chứ! Bao nhiêu gương mặt của những người đàn ông như chập chờn trước mặt. Anh Tứ thầy giáo cấp 3 nhé, anh Vân công an huyện. Rồi cả anh Bảo mới lên phó chủ tịch huyện phụ trách nông nghiệp nữa chứ. Toàn là những người đàng hoàng cả và họ cũng đều thực lòng với cô đấy thôi.

 

Nhưng cứ nghĩ đến chuyện phải yêu ai thôi là cô lại thấy ngài ngại. Cô nghĩ đến hình ảnh thằng Phúc nằm chỏng trơ ở phản năm nào. Có khác nào cô là người bỏ rơi nó. Rồi với Phú nữa, nghĩ đến người khác tức là không chung thủy với Phú. Nhưng đã có gì với nhau đâu. Mà như thế thì đáng gọi là gì nhỉ?

Phải, hôm ấy, trời cũng đầy sao thế này, có điều oi bức hơn thôi.

Suốt từ trưa, cả tiểu đội Hạnh quần quật với những chuyện chia bôi gạo, cá khô, mắm ruốc. Rồi còn nắm cơm cho hơn trăm con người. Lúc sẩm tối, Phú có đến tìm thì Hạnh vẫn nói tưng tửng:

- Vâng! Thế anh đi mạnh khỏe nhé. Rồi Hạnh lại cắm cúi với công việc.

Thấy Phú cứ loanh quanh rồi lật đật chạy đi, Hạnh bỗng thấy bứt rứt: Dù sao thì anh ta cũng sắp đi xa, vào nơi hòn tên mũi đạn chứ có phải chuyện chơi, lành dữ đã biết thế nào, rồi cô lại nhớ đến thằng Phúc. Thôi thế là bố nó phải đi xa thật rồi. Chẳng gì thì cũng có chuyện liên quan đến thằng bé...

Hạnh chưa biết làm gì thì tiếng còi tập trung đã cất lên lanh lảnh, nghe đanh từng hồi dài.

Trong bóng tối oi bức của một ngày đầu hè, những ánh đèn pin loang loáng, những tiếng gọi í ới, thúc giục, nhắc nhở nhau. Rồi chỉ loáng sau, từ các ngõ xóm, hơn trăm con người, lặc lè ba lô, lỉnh kỉnh súng ống, lầm lũi trong bóng tối, nối nhau ra tập trung ở sân kho, trước cửa bếp nuôi quân của Hạnh.

Vịn tay vào cây cột, Hạnh căng mắt. Là Hạnh có ý tìm Phú, nhưng trông ai cũng giống nhau quá, mũ cối sùm sụp thế này. A, nhưng tiểu đội trưởng thì thường đi đầu đấy. Mới được có ba hàng, Phú đâu nhỉ?

Hạnh đang căng mắt thì Phú lại đến ngay cạnh làm cô kêu ớ lên một tiếng. Dưới vành mũ cối, Hạnh thấy hàm răng Phú trắng lấp lóa:

- Tôi đi đây, chào Hạnh lần nữa nhé!

Hạnh thấy mình run run. Cô đang cố tự chủ, định nói câu gì cho thật tình cảm nhưng đúng mực. Nhưng lạ quá, đầu óc như biến đâu mất cả mà khuôn mặt với hàm răng trắng lóa của Phú cũng như mờ đi. Ô hay, mình khóc à.

Hạnh thấy tay Phú cũng run run khi nắm tay cô. Khuôn mặt hai người gần nhau lắm. Đột ngột, Phú kéo khuôn mặt cô rồi hôn lên tới tấp. Hạnh thấy rụng rời cả chân tay, cô chưa biết phản ứng thế nào thì bàn tay Phú đã xoa rất dịu dàng lên khuôn mặt cô, rồi lại ở phía sau trên thắt lưng.

Hạnh chẳng biết làm gì cả, cô không kịp kêu. Hình như Hạnh có dướn người lên. Việc ấy chỉ xảy ra trong mươi giây, Phú nói nghẹn ngào quá:

- Anh đi, em ở lại nhớ giữ gìn sức khỏe. Nhất định anh sẽ về với em, với con.

Người Hạnh run như phải cảm. Cô không nói được câu gì rành rẽ.

Nước mắt khiến cô tắc nghẹn. Phú cởi khăn của mình lau cho cô rồi quàng lên cổ Hạnh.

Tiếng chỉ huy dõng dạc: Đại đội tập hợp.

Tất cả chỉ có vậy, thế là Phú đi, đi mãi.

Nhớ tới chuyện cũ hôm nào, Hạnh thấy trong người bừng bừng. Cô chạy ra giếng, rồi cứ nguyên cả quần áo như thế múc nước dội ào ào. Tiếng thùng va vào thành giếng loảng xoảng trong đêm khuya.

 

Lời bàn của những người ngoài cuộc.

Tôi, phó ban bảo vệ một công trường trọng điểm biết được câu chuyện trên một cách hết sức tình cờ.

Cậu nhân viên dưới quyền đưa cho tôi một quyển sổ bìa bọc nhựa đen đã cong queo, một cái gương soi bé xíu đã mờ và một khăn mặt mầu cỏ úa đã cứng quèo. Cậu ấy nói nhặt được mấy thứ trên tại bãi cỏ hoang, cạnh hàng rào của công trường mà chúng tôi đang thi công.

Cậu ấy phán đoán: có thể những thứ này là vật chứng còn lại của một vụ trộm nào đó mà bọn bất lương đã bỏ lại.

Bởi ban bảo vệ chúng tôi đang giữ những thứ ấy nên tôi đã thông báo, ai là chủ nhân của chúng xin liên hệ theo số máy:

- Trong giờ: 04. 864196.

Hoặc ngoài giờ: 04.862.408.

Sở dĩ tôi phải nói vậy là vì trong cuốn sổ ấy không thấy đề quê hương địa chỉ gì cả. Trang đầu chỉ ghi Nguyễn Thị Hạnh, hòm thư 705161 JC..., mấy số sau ở sát mép trang bị quăn, số lại mờ nên không đọc được. Trang tiếp theo chép những câu danh ngôn, chẳng hạn câu đầu tiên là:

"Thép đã tôi trong lửa đỏ và nước lạnh. Lúc đó, thép trở nên cứng rắn và không hề biết sợ".

 

Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #37 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2008, 09:29:18 pm »

THỜI GIAN LẶNG LẼ (tiếp)

Những trang tiếp theo chép những bài hát, được ưa thích một thời như: Đường cày đảm đang, Tiếng hát trên Đường 9 chiến thắng, Câu hò trên bến Hiền Lương... Có cả bài Ru con Nam Bộ.

Rồi lẫn lộn vào đấy là những câu thơ, có những câu chẳng rõ đọc được ở đâu. Ví như:

- Nước còn giặc ta đi đánh giặc.

Sức trẻ lên đường, Đất nước chuyển rung.

 

Để trống năm trang thì đến những dòng nhật ký. Ngày bắt đầu là 31-12-1971, ghi lại những cảm xúc đầu tiên khi xa nhà, nỗi nhớ gia đình, quê hương. Những ngày tiếp theo nói về cuộc sống quân ngũ, những chuyện phấn đấu, riêng tư và dừng lại ở đoạn cuối cùng như tôi vừa kể trên thì còn một tí nữa là hết giấy.

Đọc những dòng nhật ký ấy, tôi thấy rất ấn tượng. Nét chữ mềm mại ngay thẳng, câu cú rành mạch, thú thực là tôi đã chép nguyên văn những ngày, những đoạn có liên quan đến câu chuyện này, chỉ có một mạo muội duy nhất là đã thay đổi đại từ nhân xưng cho tiện kể hơn mà thôi.

Nhưng cái đoạn dừng lại như thế làm tôi băn khoăn quá. Chẳng hiểu rồi cuộc đời và số phận của những con người ấy sẽ ra làm sao, chuyện riêng tư của họ sẽ được thu xếp như thế nào.

Tôi nghĩ là anh đã bình an vô sự trở về, anh sẽ gặp lại chị và họ sẽ lấy nhau. May mắn có thể đến với họ như thế lắm chứ, nhưng biết đâu có thể còn khối điều bất hạnh đã đến với họ thì sao? Chịu, tôi không thể nào đoán được.

Nhưng dù có thể gì gì đi chăng nữa thì tôi vẫn tin tưởng ở nơi chị bởi tôi láng máng nhận ra rằng, tình yêu của chị dành cho anh luôn nguyên vẹn, mãi mãi là những điều mới mẻ, tinh khôi. Còn nghĩa cử và tấm lòng của chị dành cho thằng Phúc thì như nước của sông dài biển rộng, dẫu có qua ba vạn sáu ngàn ngày chắc cũng chẳng thể nào vơi cạn được.

Chưa rõ kết cục câu chuyện thế nào, nhưng chẳng hiểu sao tôi cứ đinh ninh như thế.

D.T.G
Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #38 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2008, 09:33:41 pm »

XƯA KIA CHỊ ĐẸP NHẤT LÀNG

- Dừng lại đã nào… Ngày ấy, chị Túc xinh lắm. Ở vào tuổi mười tám chị tươi rói như một bông hoa. Với thân hình thon thả, bờ vai chị tròn trịa, lẳn trong chiếc áo màu nâu tươi. Không biết bao nhiêu cặp mắt si mê đã đậu vào đó. Không biết bao nhiêu lời mây gió đã thoảng qua tai chị.

TẠ DUY ANH

____________

Tiếng một chàng trai đuổi theo chị như tiếng gọi khắc khoải bật ra từ nơi sâu thẳm của một lồng ngực bị dồn ép. Chị Túc từ từ quay lại. Cặp môi chín mọng của chị khẽ mở ra, để lộ một nụ cười có sức hút mê mệt. Cặp mắt giống hai miếng cau bổ khéo của chị chớp chớp nhìn xuống đất. Chị xinh đẹp nhưng chẳng tự kiêu chút nào. Đáp lại tiếng gọi, chị chờ đợi. Nhưng rồi người gọi dường như kính sợ trước một hình ảnh quá xa vời tựa cái ảo ảnh của một giấc mơ còn sót lại, cứ đứng ngây ra trước mặt chị.

Chiều nào chị Túc cũng có mặt bên giếng nước. Người ta bảo con gái nết na không dám soi mình vào gương. Mỗi lần cúi xuống kéo gầu nước, chị bồn chồn với chính hình ảnh của chị tận đáy giếng. Sóng nước chập chờn, lung lay đùa giỡn với chị. Bất chợt chị ngước lên, phá ra cười một mình. Tiếng cười của chị vô tư như chính vẻ duyên dáng của chị. Thoáng cái đã thấy chị gánh hai thùng nước, chân trắng ngần bước đi mềm mại. Lại có ai đó gọi, chị Túc nghiêng mái đầu thay cho lời đáp.

Trai làng lần lượt lên đường. Chiến tranh thò bàn tay vào lôi tuột đi các chàng trai mới chớm tuổi mười tám. Chị Túc sang tuổi hai mươi rồi hai lăm lúc nào chị không nhớ. Mỗi lần tiễn thanh niên lên đường là mỗi lần chị Túc khóc cạn nước mắt.

Những đơn vị bộ đội ở đâu ầm ầm kéo đến làng tôi, ở lại vài tháng đủ để thương để nhớ. Rồi một buổi sáng nào đó khi chúng tôi tỉnh dậy đã biến đi như có phép. Một lần tôi thấy mẹ tôi vừa đọc thư vừa sụt sùi lau nước mắt. Mẹ chỉ bảo tôi thư của chú Kiều từng ở nhà tôi. Lúc vắng mẹ, tôi mở trộm thư ra đọc. Tôi đánh vần cho bọn trẻ cùng làng đang tròn mắt ra nghe.

"… Cả tiểu đoàn em qua khỏi Quảng Trị chỉ còn vài chục người. Tụi nó đánh ác lắm chị ơi! Cả một vùng đất rộng mênh mông bị cày đi xới lại đến nỗi biến thành một thứ bột màu thuốc súng…".

Ở cuối thư, sau khi đã "vĩnh biệt chị và các cháu" chú Kiều còn "à quên cho em gửi lời chào đến cô Túc".

Ngày ấy, chúng tôi chưa hình dung được sự khốc liệt của những dòng miêu tả đó. Chiến tranh như con ngáo ộp mà chúng tôi rất sợ nhưng sẵn sàng cợt nhả trở lại. Hôm sau mẹ tôi đưa thư cho chị Túc. Chị nằm xoài ra giường hết lật sấp lại lật ngửa tờ giấy. Dường như lời thăm hỏi kia của chú Kiều chỉ là cái vỏ. Chị muốn tìm cái "bên trong" kia! Lúc chị trả lại thư cho mẹ tôi, khuôn mặt chị thoáng một chút bần thần. Nhưng cũng giống tụi trẻ chúng tôi, chị Túc không có nhiều thời gian để mà vẩn vơ. Cả làng lại cuốn vào đủ thứ lo toan để đón một đoàn quân khác. Các chú bộ đội cỡ tuổi chị Túc thường mượn cớ đến nhà tôi đánh cờ, nhưng hễ chị Túc bước vào là bàn cờ lập tức thuộc về chúng tôi. Chúng tôi có thể tuỳ ý đổi chỗ quân tốt cho quân tướng, thậm chí có thể đút cả xe, pháo, mã… vào túi đem ra chỗ khác chơi trò lăn bánh xe…

Sau mấy tháng, đơn vị bộ đội lại biến mất. Làng tôi lại hẫng đi độ nửa tháng, buồn nhớ mênh mông. Cảm giác trống vắng lây sang cả tụi trẻ con chúng tôi. Rồi cả làng lại ầm lên những tiếng hỏi nhau, tiếng bước chân chạy rầm rầm đến gõ cửa nhà nhau. Đấy là khi thư của các chú bộ đội gửi trở lại. Từng đám, từng túm quay lại hướng về ai đó đang căng lá thư ra đọc oang oang.

Những gương mặt lo âu, mừng tủi, đan cài vào nhau tuỳ theo lứa tuổi. Chị Túc cũng nhận được một lá. Một lá thư đề ngoài bì dòng tên chị, viết hoa bằng nét chữ trận mạc. Ngay tối hôm đó, chị đến tìm mẹ tôi. Tuy mẹ tôi chỉ hơn chị dăm tuổi nhưng chị Túc phải gọi bằng thím. Dưới ánh lửa chập chờn của đêm tàn đông, gương mặt chị trở nên nghiêm trang sâu sắc lạ thường. Chừng lâu lâu im lặng, chị Túc lập cập lôi từ lồng ngực ra tấm phong bì tự gập. Chị liếc nhìn tôi giọng thì thào:

- Thằng cu ngủ chưa?

- Chơi cả ngày, đặt mình xuống là ngủ như chó - tiếng mẹ tôi.

- Cháu có chuyện này muốn nói với thím - giọng chị Túc phập phồng. Tuy mắt vờ nhắm nghiền nhưng tôi biết mẹ tôi đang tóm lá thư từ tay chị Túc. Mẹ tôi kéo ngọn đèn gần lại, lật ngược lật xuôi rồi đưa trả chị:

- Đọc lên xem nào! Có hai thím cháu chứ có ai mà sợ.

- Thím không được hở ra với ai - Chị Túc mặc cả.

- Con bé này, chuyện trẻ con!

Chị Túc thở sâu mấy cái rồi bắt đầu đọc:

"Quảng Trị ngày…

Em yêu quý!".

Chị Túc phải dừng lại để lấy hơi.

- Của ai đấy? - Mẹ tôi hỏi nóng sốt.

Chị Túc giả tảng không nghe thấy, tiếp tục đọc một cách khó nhọc:

"Có thể chỉ lát nữa tôi không còn trên mặt đất này. Trận bom ác liệt lúc chiều đã cướp khỏi tay tôi hai chục chiến sĩ. Chắc chắn rồi sẽ đến lượt tôi. Chiến tranh là may rủi. Là cuộc chơi đỏ - đen tàn khốc nhất: phải được cả hoặc mất tất! Nhưng hãy còn một lát nữa để tôi kịp chuẩn bị lần chót cho cuộc ra đi không bao giờ biết trước. Giờ này trăng vừa lên. Thật kỳ lạ khi tôi có cảm giác tất cả đều bình yên, tuồng như chiến tranh bị đẩy lùi mãi, chỉ còn như một dư âm. Và tôi chờ đợi. Em có biết tôi chờ đợi điều gì không? Tôi… chờ em bước ra từ vầng trăng. Em sẽ băng bó những vết thương, làm nguội mặt đất, bởi vì em là vị Phúc thần của những người lính trận như tôi…".

Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #39 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2008, 09:35:49 pm »

XƯA KIA CHỊ ĐẸP NHẤT LÀNG (Tiếp)

Chị Túc không sao đọc tiếp được nữa và mẹ tôi phải giằng lấy đọc tiếp phần cuối. Tôi không biết lá thư nói tiếp những gì, chỉ thấy sau đó cả mẹ tôi và chị Túc cùng im lặng. Bỗng mẹ tôi thở dài đánh sượt:

- Ôi chao, bao giờ cho hết cảnh binh đao! Này, có phải của cái anh chỉ huy ấy không?

- Vâng, chính anh ấy.

- Nghe thư tôi đủ biết. Người cao ráo thế, thảo nào… cũng thật tội nghiệp cho anh chị.

Nhưng chị Túc chợt khóc nấc lên:

- Đêm chia tay… anh ấy… chỉ… xin cầm tay cháu một lần… mà không được… chắc anh ấy đau khổ lắm… hức hức…

- Anh ấy sẽ càng yêu cháu… ừ, giá như… Mẹ tôi vờ cúi xuống xoay lại thế nằm của tôi. Rất nhanh tôi thấy mẹ tôi quệt tay áo lên mắt.

*
*   *

Đông Hà ngày…

Khe Sanh 9 giờ ngày…

Nam Lào, bên một tảng đá có khóm hoa Trinh nữ ngày…

Chị Túc sắp xếp những lá thư theo thứ tự ngày tháng. Có lá gửi từ mùa hè, đến tay chị Túc đã mùa đông. Có lá dường như được viết giữa cánh rừng đước nơi tận cùng đất nước. Thảng hoặc có lá thư do bị lưu lạc quá lâu, qua quá nhiều nơi, đến mỗi trạm đều có chữ viết thêm đằng sau phong bì: "Nhanh lên đồng hương". Rồi ở trạm khác lại có dòng viết vội: "Đã duyệt và thấy cần phải lưu hành". Cho đến một trạm nào đó, dòng chữ viết còn lấp lánh một ánh mắt lính: "Tình yêu thời chiến phải thần tốc. Gửi đồng bào miền Bắc triệu cái hôn"…

Chị Túc trân trọng những tình cảm trận mạc như giữ cho mình một báu vật. Trong hàng trăm lá thư nhận được, chị Túc chỉ viết trả lời được mươi người. Số còn lại không có địa chỉ. Điều đó khiến chị Túc day dứt. Nhưng điều chị khổ tâm nhất chỉ mẹ tôi biết, anh chỉ huy viết lá thư đầu cho chị, thay lời cầu hôn, không thấy thêm một lời hồi âm nào khác. Thời gian ấy mặt trận B1 đang bước vào giai đoạn quyết liệt.

Chị Túc là tổ trưởng tổ "phòng gian, bảo mật" của xã. Từ 7 giờ tối, đội phòng gian có quyền xét hỏi bất cứ người lạ nào qua làng. Chiến tranh lan ra miền Bắc. Những tên điệp viên cải trang dưới mọi hình thức dò dẫm vào bất cứ nơi nào nghi có lực lượng quốc phòng. Làng tôi là một điểm chú ý của chúng. Huyện vừa thông báo trường hợp lão ăn xin bị tổ dân quân của chị Túc bắt bữa trước chính là một gián điệp cải dạng.

Làng xóm im lìm như sắp vào trận.

Nhưng trăng thì cứ sáng, bất chấp cả chiến tranh. Ở phía đê Bộc vẳng lên từ hội gặt lúa đêm những câu hò vừa chua ngoa vừa tình tứ. Mọi đêm cùng gặt, chị Túc rất sợ tụi này. Làng chỉ toàn đàn bà nên bọn con gái trở nên bạo mồm bạo miệng. Đã có lần chị bị đám đàn em ấy bao vây, bắt phải cung khai tên tuổi người yêu. Bí quá chị Túc đành nhận "Yêu lính". Tưởng thế là xong, ai ngờ chúng cùng hét lên:

- Hôn nhau chưa?

Chị Túc sắp ngất xỉu thì một đứa trả lời thay:

- Rồi!

- Cảm giác thế nào?

- Như điện giật!

Thế là chị Túc bỏ chạy. Trông chị lúc ấy thật tội nghiệp.

Tiếng hò vẫn lúc xa, lúc gần tuỳ theo hướng gió. Chị Túc có cảm giác từng câu hỏi đang trôi bồng bềnh về phía chị. Gió phả hương lúa mát rượi vào ngực chị "có thể cả những câu hò". Chị thầm nghĩ. Chị đặt ghếch súng qua vai, mặt dõi vào biển sương mù lãng đãng…

Có tiếng người bước rất khẽ trên cỏ. Dưới ánh trăng chị Túc nhận ra cái dáng cao lớn của một gã con trai. Đến gần chỗ chị Túc, bóng đen đứng im phăng phắc. Chị Túc run run xốc lại súng, khẽ hỏi bằng giọng nghiêm khắc:

- Ai?

- Tôi.

- Tôi là ai?

- Tôi là kẻ cô đơn.

- Nói rõ ngay, anh làm gì ở đây, không tôi bắn.

- Ngày nào Túc chẳng "bắn" tôi chưa thoả à?

Giọng trả lời có vẻ thiểu não nhưng không giấu được chất nhơn nhớt của kẻ biết rõ đối tượng trước mặt. Nhưng cũng chính cái giọng ỡm ờ ấy của gã đàn ông khiến chị Túc bình tĩnh lại ngay. Anh ta ra đây vào giờ này làm gì nhỉ. Cái anh chàng luôn chải chuốt, từng xoắn lấy chị vào buổi làng mở hội thi nấu cơm. Nhớ rồi. Anh chàng Hào công tử, con ông phó Dộc. Tuy cùng lứa, cùng làng nhưng cả năm cả đời chị Túc chỉ thoáng gặp anh ta vài bận. Hầu như Hào không bao giờ có mặt trong đám trai làng. Chớm đến tuổi nghĩa vụ, lấy cớ theo học nghề của bố, Hào biến mất tăm. Rồi bất chợt anh ta lù lù có mặt ở hội thi nấu cơm, bảnh bao như một trí thức thành phố. Anh ta bám chặt lấy chị Túc khiến có lúc chị mất bình tĩnh. Tuy vậy ở vòng một: nấu cơm trên cạn - chị vẫn giật giải nhất ngon lành. Mở vung cơm ra, mùi gạo tám bốc lên nao núng cả người. Những hạt cơm, trăm hạt như một, còn nguyên hình hạt gạo, nhưng đưa chiếc đũa cả vào, bàn tay cảm nhận thấy ngay độ mềm, xốp đúng độ của hạt cơm vừa nước, chín tới. Bát cơm không khác gì bát bông! Ban giám khảo là các cụ rất khó tính, sành ăn, chỉ việc xếp chị Túc lên hàng nhất.

Sang vòng hai: Nấu cơm dưới nước. Điều kiện thi thật ngặt nghèo. Người dự thi được cấp một bó mía xương gà, loại mía dòn và mềm, một chiếc nồi và một bao diêm. Mía xương gà phải nhai hít lấy nước để bã có thể cháy được. Mọi động tác không được thừa một ly, thiếu một ly. Phải tính toán thế nào để mía hết, cơm đủ chín, ngon và nhanh nhất. Thế mới đúng cái nghĩa " gái đảm hậu phương" như tên cuộc thi. Bị hàng ngàn cặp mắt đông nhất là bộ đội "chiếu tướng" chị Túc lúng túng mất lúc đầu vì chiếc "thúng" hình vỏ dưa cứ "giã gạo" trên mặt nước. Nhưng giải nhất vẫn thuộc về tay chị để tiếp tục vòng ba, cũng là vòng cuối cùng. Vẫn các điều kiện của vòng hai nhưng người dự thi từ "cô gái" của vòng một, "người vợ" của vòng hai, bắt đầu "làm mẹ" ở vòng cuối cùng. Người ta trao cho "người mẹ" một đứa bé đang tuổi nghịch. Chỉ cần đứa bé khóc một tiếng coi như hỏng thi. Chẳng biết xưa kia ai nghĩ ra cái trò này để kén con dâu? Chị Túc thẹn đỏ mặt với ý nghĩ ấy. May mà bẩm sinh cho chị có một sự hiền dịu tuyệt vời. Từ đầu đến cuối vòng thi, đứa trẻ cứ hết ôm cổ "mẹ" lại giơ tay chào "các chú bội đội", cho đến nắm bã mía cuối cùng. Cũng là lúc hơi cơm chín đẩy vung bốc ngào ngạt. Tất cả những người nín thở theo dõi trên bờ hò reo như sấm khiến suýt hắt chị và đứa bé xuống nước.

- Em là cô Tấm trăm phép mầu chứ không phải người trần mắt thịt.

Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM