Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:38:00 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tuyển tập truyện ngắn về người lính  (Đọc 183699 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #40 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2008, 09:39:17 pm »

XƯA KIA CHỊ ĐẸP NHẤT LÀNG (Tiếp)

Vẳng bên tai chị là lời tụng ca không ngớt của "anh ta". Khi chị rẽ đám đông để thoát ra ngoài, "anh ta" liền bám theo như cái đuôi. Cách chị một đoạn "anh ta" lầm lì bước với vẻ đau khổ của kẻ bị bỏ rơi. Giờ đây lại chính cái giọng ấy, đượm thêm sự cầu khẩn van lơn. Chị Túc thấy trào lên chút thương hại. Chỉ có điều tại sao anh ta không ra trận? Dạo ấy lời thắc mắc như vậy là điều tai hại khôn lường cho chàng trai nào đó "tụt lại". Một là anh ta sợ chết. Hoặc nếu không, hẳn có thể anh ta bệnh hoạn, khiếm khuyết gì chăng?

- Anh ra đây làm gì? - Chị Túc dịu giọng.

- Vậy là cuối cùng sự kiên nhẫn của tôi không đến nỗi uổng.

- Có ai bắt anh phải kiên nhẫn "ở lì" một chỗ đâu! - Chị Túc vẫn nhẹ nhàng.

Gã đàn ông "có tật, giật mình" hiểu ngay ý mỉa mai của chị Túc, vội lên tiếng.

- Đừng nghĩ rằng tôi sợ chết. Sáng mai tôi sẽ khoác ba lô ra trận ngay, nếu đêm nay…

Chị Túc thấy lạnh sống xương. Gã đàn ông đã ở rất gần thừa cơ sán lại.

- Trăng đẹp thế này mà tâm hồn Túc cứ lạnh như giá vậy ư?

- Không cẩn thận tôi giải anh lên huyện đấy.

- Túc không thể ban cho tôi một thời cơ để tôi thanh thản ra đi sao? Túc có biết tôi chưa ra trận vì lẽ gì không? Tôi yêu em…

- Vớ vẩn! Anh không thấy xấu hổ khi đặt điều kiện ấy à?

- Tôi không đi đâu cả, nếu không được một lần quỳ dưới chân em, để nghe từ miệng em lời thú nhận rằng em chưa từng yêu ai…

- Nếu anh thật lòng quan tâm đến tôi như một người bạn thì tôi cũng thật lòng cảm ơn. Chỉ có thế thôi!

- Chỉ có thế thôi! Trời ơi, làm sao em tàn ác thế. Em biết thừa rằng tôi yêu em, không thể thiếu em. Em biết thừa rằng đời tôi sẽ còn lại gì nếu không có em trong tất cả những gì tôi sẽ lao vào. Xin em cứ việc nguyền rủa, đánh mắng tôi như đánh mắng một con chó, chỉ cần em đừng tàn ác như lời em vừa nói, không đúng với tình hình hiện nay của em.

Tự nhiên trái tim chị Túc dịu xuống bằng cái bản tính nữ giới tuyệt vời của chị. Dù sao anh ta cũng có vẻ cô đơn thật. Một người đẹp trai, sang trọng như anh ta lấy đâu chẳng được vợ giữa buổi đàn ông biến đi hết sạch này. Chị thương hại.

- Anh ngồi xuống đây. Nhưng tôi xin nói trước, trái tim tôi đã trao cho một người, không còn chỗ để nhận những tình cảm tôi tin là rất chân thật của anh.

- Đừng nói dối, - gã đàn ông kêu lên. - Tôi van em, tôi lạy em. Chỉ cần em nói em yêu tôi, ngày mai tôi sẽ yên trí ra trận, tôi sẽ lập công, tôi sẽ…

Anh ta dừng lại vì bắt gặp cái nhìn mênh mông từ cặp mắt mênh mông. Nhưng anh ta không hiểu gì cả. Anh ta không biết lúc ấy chỉ duy nhất có một người trong cặp mắt chị Túc: "Người ấy" từng ước thấy chị ôm bó hoa quấn dải lụa xanh bước ra từ vầng trăng. Và anh ta chỉ là gã đàn ông giúp chị gợi rõ thêm hình ảnh "người ấy" của chị. Mắt chị Túc càng mênh mông dõi vào khoảng vũ trụ đầy huyền bí. Gương mặt chị có đến mấy phút bất động, đẹp như pho tượng tạc bằng loại gỗ trắng. Nhưng tất cả vụt tan biến, tất cả nát vụn trong một tích tắc. Chị Túc thấy cái khối đen trước mặt nhảy dựng lên rồi như đang rơi xuống cái hố đen ngòm. Trời sao quay cuồng ngay trước mắt chị cùng với tiếng giập lép bép của mầm cỏ bị chà xát. Chị định hét lên "buông tôi ra" nhưng bàn tay gã con trai đã bịt lấy miệng chị. Anh ta trườn như con bò sát khổng lồ trên cơ thể chị, đôi tay tham lam đang bóp vụn tất cả những gì lọt vào nó. Chị thấy ngạt thở và muốn nôn. Toàn thân chị co dúm lại. Vầng trăng vỡ oà ra, ứa máu. Nhưng vào giây phút ấy, cái giới hạn của sự thiêng liêng bị đẩy đến mép bờ vực ô nhục đang ở tích tắc cuối cùng có một sức mạnh nào đó, chưa từng có ở chị bởi còn tiềm tàng mãi nơi đáy lòng tin, nơi tận cùng của điều thâm nghiêm phải giữ bằng mọi giá đã giúp chị lật sấp người xuống. Tiện thể chị co chân đạp một cái thật mạnh vào khối đen đang mất hướng, khiến anh ta rống lên một tiếng như con chó bị đánh. Chị chồm bật dậy, chộp khẩu súng, đứng lùi xa một đoạn.

- Mày tỏ tình kiểu ấy phải không? - Giọng chị Túc sắp bật thành lửa. - Tao sẽ trả lời mày theo kiểu của tao.

Gã đàn ông còn ôm bụng lăn lóc chán để nghe tiếp lời tuyên án:

- Thì ra mày trốn lủi cái chết để định tạo ra những cái chết khủng khiếp khác phải không?

- Tôi chỉ chứng tỏ tình yêu của tôi.

- Tình yêu của quỷ sứ! Cút ngay khi tao còn chưa kịp lên đạn.

Gã đàn ông lồm cồm bò dậy, quần áo tả tơi, cắm đầu đi qua họng súng đang chĩa về phía anh ta. Đi một đoạn anh ta quay lại, nói vớt vát:

- Thèm chết cha còn làm bộ…

- Phải, tao thèm, tao rất thèm một gương mặt đàn ông nhưng không phải một con quỷ như mày.

- Dù sao đây cũng đã… là thằng đàn ông đầu tiên… Giọng gã đàn ông tráo trở đến khả ố. Thay cho lời đối lại. Chị Túc kéo quy lát đánh "roát" cùng với bước nhảy cỡn lên của gã đàn ông. Chị mím môi rê nòng súng theo bóng đen đang chạy thục mạng. Khi đầu súng đã dính chặt vào lưng gã, chị liền nhắm mắt lại. Nhưng tay chị lả dần xuống cùng với ý nghĩ chợt loé lên "cứ để cho nó sống. Loại người đó sống còn khổ hơn chết".

*
*   *

Tôi không còn nhớ đã bao nhiêu lượt đơn vị bộ đội dừng chân ở làng tôi. Có thể vài chục lần. Những người lính trẻ măng ra đi ngày ấy đều hẹn ngày nào sẽ trở lại. Chiến tranh đang một mất một còn nên cái "ngày nào đó" thật xa vời. Hàng chục năm sau vẫn không thấy một ai trong số hàng vạn chiến sĩ đã từng ở làng tôi trở lại. Nhưng lần nào cũng vậy, vẫn cái điệp khúc bi tráng: "Ngày nào đó…".

Cũng vài chục lần làng tôi háo hức chờ những lá thư. Có lá ra đến miền Bắc, người viết nó không còn. Có lá viết nguyệch ngoạc vài ba câu hỏi thăm như lời hấp hối vội vã. Người nhận được nhiều thư nhất, tất nhiên vẫn là chị Túc. Có thể có người chưa kịp đọc lời yêu thương của chị đã thịt nát xương tan ở một cánh rừng nào đó. Nhưng tất cả những người lính ấy đều không thể không mang hình ảnh chị trước lúc ngã xuống để lại cho người đời hàng ngàn bí ẩn về chiến tranh.

Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #41 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2008, 09:40:51 pm »

XƯA KIA CHỊ ĐẸP NHẤT LÀNG (Tiếp)

Chị Túc bước sang tuổi ba lăm đúng vào năm hàng triệu người cười, khóc vì mừng tủi. Mẹ tôi và chị Túc cứ gặp nhau là ghì nhau xuống giường, chan nước mắt lên ngực nhau. Rồi chị Túc bắt đầu sợ những nơi ồn ào. Cùng với niềm vui chiến thắng những giọt nước mắt của chị Túc lẫn cả vào nỗi tủi hờn của tuổi ba lăm! Khi tỉnh táo lại, chị lặng lẽ đến bưu điện lục tìm điên cuồng trong đống thư gửi từ miền Nam. Chị câm lặng làm cái việc "mò kim đáy bể" ấy suốt cả tháng ròng. Vẫn không thấy dấu hiệu nhỏ nào của những người từng hẹn "ngày nào đó". Lẽ nào chiến tranh đã ngốn hết sạch họ? Ở làng bắt đầu rì rầm bàn tán. Những người bằng tuổi chị, chỉ may mắn hơn do chồng đui, điếc, để có cả một bầy con, dè bỉu chị điên rồ, lãng mạn, dở hơi… Trong hàng mớ lý lẽ thực dụng của họ không phải vô lý cả. Họ cho rằng có bao nhiêu làng quê trên đất nước này từng là nơi người lính dừng chân. Vả lại sau chiến thắng còn ti tỉ thứ khiến anh nghĩ đến trước. Anh ta cũng có bố, mẹ và một vùng quê. Họ cho rằng, mỗi người có một bổn phận. Bổn phận của chị Túc là phải làm vợ ai đó còn sót lại để làm tròn nghĩa vụ của trời trao cho người phụ nữ. Chị chờ ai, chờ cái gì và điều đó đem lại cái gì? Một thân phận héo mòn, cô đơn. Chả nhỡn tiền ra đấy ư? Khối kẻ sau chiến thắng liền quên phắt mình đã từng sống được nhờ lời ước hẹn thuỷ chung của ai đó, tự cho mình một cái giá cực đắt để vỗ tuột tất cả? Những ngày đó, những lời đó khiến chị Túc sống gần như nghẹt thở. "Lẽ nào anh ấy lại cũng trong số những kẻ đó. Anh có còn chờ em bước ra từ vầng trăng nữa không nếu anh còn sống?".

Rồi cả làng lại thấy chị Túc ra đi, âm thầm như con vạc lẻ đàn. Lần này chị đi là đi một biệt. Khắp làng, như mọi khi, lại bùng lên từng đợt đủ thứ bàn tán. Kẻ rỗi mồm nhiều vô cùng nên cũng nhiều chừng ấy những lời đồn tai quái. Người này cho rằng chị bị loạn tình do thèm khát đàn ông. Người kia cho rằng chị Túc không chịu nổi những tiếng pháo nổ liên miên mùa cưới. Tiết trời heo may, hun hút thế này với một người đàn bà ba lăm! Chị Túc đi được mấy tháng thì anh Hào về. Không ai ngờ anh còn sống kể từ cái đêm suýt chết trên đê Bộc và sáng hôm sau bị áp giải lên huyện theo lời đề nghị của tổ trưởng tổ phòng gian bảo mật. Anh Hào về, có lẽ là sự kiện quan trọng nhất làng tôi. Anh đeo lon thiếu tá, phóng một chiếc hon đa "sáu bảy" đen trũi, cuốn bụi mù mịt. Chó của cả làng sủa váng lên chạy theo. Bọn trẻ con ùa ra đón anh. Trên cái đèo hàng, một kiện gì đó to bằng một chiếc tủ khiến những cặp mắt "cổ hủ" làng tôi bị cái hình ảnh hiện đại ấy làm cho loá mắt. Mọi người quên nghe chuyện chị Túc để hướng về anh Hào. Anh vạm vỡ, hồng hào tựa như chiến tranh chỉ là một trò chơi rất bổ ích. Anh cười nói oang oang, bẹo má đám con gái bị dồn về một xó. Nhà cụ phó Dộc trở thành điểm thu hút trí tò mò mạnh mẽ nhất. Người ta kéo đến để "vì tình làng nước" hút một điếu ru-bi, chê khét như lông chó, sờ tay vào con búp bê Nhật biết mở mắt nhắm lại, để hỏi "tình hình miền Nam, thấy bảo" trong đó "hàng hoá vứt bừa bãi như ta vứt rác ngoài này", để "xem thằng Hào làm gì mà vơ được lắm của thế?". Vả, tất nhiên, "để mừng cụ phó Dộc có cậu con leo đến hàm tá!".

Anh Hào trở thành thần tượng làm khuôn mẫu cho mọi lời giáo huấn hay nhất từng có ở làng tôi. "Cứ trông thằng Hào đấy". "Cũng là mang nặng đẻ đau, con người ta vừa "đỏ ngực" vừa khuân của thiên hạ về dưỡng bố" v.v… Đáng nghe hơn cả là những lời kể từ miệng anh Hào. Anh kể về chiến tranh như các bà ở chợ nói về giá cả. Nào là những hầm rượu Pháp còn chưa có chủ nhận, ai lấy bao nhiêu tuỳ thích. Nào là một tổng kho nào đó có thể tặng bất cứ ai vào thăm một chiếc đồng hồ mạ vàng, còn loại xe tàng tàng như anh đi thì nhà nào cũng có dăm ba chiếc cho trẻ đi học. Tất cả những điều đó anh Hào kể rất hào hùng, tuồng như việc hy sinh cả triệu người kia chỉ để cho những người như anh tha hồ đe nẹt bọn tư bản, địa chủ, để cần gì là được ngay thứ đó như trong chuyện cổ tích.

Khi "cao trào" thăm hỏi đã giảm xuống thì đến lượt các loại khách ở nơi khác đến. Những ông khách này ra vào im lặng, trao đổi bằng mắt phần nhiều và khi ra đã có người nhà làm "cọc tiêu" ở ngõ. Cụ phó Dộc bỏ hẳn nghề đục đẽo, thứ bẩy, chủ nhật lại "xách một túi" đi đâu không biết. Tất cả không qua được con mắt tò mò của làng tôi, họ còn biết cả rằng anh Hào chưa biết lấy đường ngắm cơ bản! (Tin này thì chính xác vì làng tôi có đội dân quân, thấy bảo đã có lần rước anh Hào làm thầy).

Anh Hào đã quá phép ba ngày. Cụ phó Dộc đâm ra ủ ê vì lý do anh không chịu lấy vợ. Riêng việc vì sao anh nấn ná chưa đi thì cụ phó và cả làng không ai biết.

Anh Hào chờ chị Túc. Anh còn mối hận năm xưa với chị trên đê Bộc. Nhưng trong ký ức anh, khuôn mặt thiên thần của chị vẫn là mối thách đố, không chịu được. Nó át đi cả ý nghĩ trả thù vẫn nung nấu trong sự suy nghĩ của anh. Cần thiết anh vẫn cứ quỳ xuống như thường.

Sự chậm phép của anh cũng không uổng. Còn hai ngày nữa là trọn một tuần anh ở "rốn" lại thì hôm sau chị Túc về. Mười phút sau "đề tài chị Túc" lại át mất "đề tài anh Hào" trong chương trình "thời sự làng tôi". Anh Hào có ý không rời bộ quân phục tá, nổi bật lên đôi quân hàm đỏ chói. Bỗng anh giật mình khi thấy đứa trẻ con nào đó bi bô "bà Túc", đến mức mồ hôi anh vã ra. Ừ nhỉ! Người đàn bà ấy đã sắp sang tuổi bốn mươi. Tại sao anh quên khuấy mất điều đó. Khỉ thật! Mình đã uổng công chờ một phụ nữ đã tàn phai tất cả những gì khiến mình say mê, khiến mình phải sống bằng mọi giá, bằng mọi giá để trở về. Thì cũng nên biết "cô ta" thế nào!

Anh Hào lại chọn đúng cái điểm từng bị chị Túc bắn doạ năm xưa làm nơi chờ chị đi qua. Anh sợ không nhận ra chị từ xa nên thuê một đứa bé điếu ru-bi để nó làm hộ điều ấy. Rồi người anh đợi cuối cùng đã xuất hiện. Khi đứa trẻ "báo động" "cô ấy kia kìa" tim anh khẽ nhảy lên một nhịp khác thường. Cô ta kia ư? Làm sao anh ta có thể tin được. Điều quan trọng nhất là không cho cô ta biết mình là ai. Toàn thân anh vã mồ hôi khi người đàn bà da mặt xanh xao, hơi có dấu hiệu phù nề cứ tiến thẳng về phía anh. Không kịp chạy nữa rồi. Và anh thở phào khi người đàn bà ấy câm lặng đi qua. Thế là thoát! Cần phải chuồn thật nhanh! Anh không biết rằng có một lần người đàn bà đưa mắt qua vai, nhìn chiếc cổ béo núng của anh, không mảy may xúc động.

Sáng hôm sau, anh Hào đi từ gà gáy. Chó của cả làng đuổi theo xe anh ra tận đê Bộc. Con đường chi chít vết chân trâu khiến chiếc xe nhảy chồm chồm. Từ đấy đến huyện, không một lần nào anh Hào ngoái lại.

Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #42 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2008, 09:42:16 pm »

XƯA KIA CHỊ ĐẸP NHẤT LÀNG (Tiếp)

Nhật ký của chị Túc

Ngày…

Mình đã lục gần hết đống thư khổng lồ ở bưu điện Hà Nội. Mấy cô nhân viên thật tốt bụng. Hàng ngày họ phải đáp ứng đủ thứ yêu cầu rắc rồi, lại thêm cả yêu cầu quái đản của mình. Vẫn không thấy anh ấy đâu. Kìa, Kiều nào kia? Nếu chính là anh Kiều năm xưa có thể biết chút ít về anh ấy. Tim mình đập loạn lên. Làm sao thế này? Mình run run lật đi lật lại tấm phong bì. Khỉ quá! Cô Kiều chứ không phải anh Kiều. Có mấy người cũng lục tìm như mình, thỉnh thoảng một người lại rú lên rồi chạy như hoá điên ra phố. Bao giờ cho đến lượt mình?...

Thế là đã hai ngày mình biến khỏi làng Hạ. Giờ này không biết mọi người nghĩ gì về mình. Một con điên! Thì mặc xác họ. Mình chỉ thương Lê. Lê khổ quá. Lê lấy chồng bảy năm không có con, chịu mọi đòn búa của dư luận. Rồi cả lão bố chồng tai ác, một con quỷ hình người. Chính lão lập mưu để con trai lật giường đuổi Lê ra khỏi nhà giữa đêm mưa bão. Nào ngờ kẻ mò đến ngôi miếu đầu tiên lại chính là lão bố chồng ấy. Lê chưa kể cho mình cách lão ta van xin thế nào. Nhưng mặt Lê đủ đoán ra Lê vừa trả được mối thù bằng cách hiến thân cho lão bố chồng. Có lẽ Lê tin bằng cách đó cô sẽ xé toạc tấm màn đạo đức giả của gia đình nhà chồng. Cô bắt họ chịu cầm tù trong cái mê cung vô luân, để như một dòng họ nào đó để đến lúc tuyệt diệt.

Làng Hạ ngày nay khác nhiều quá, người ta bắt đầu tập thói quen dưng dưng với mọi chuyện.

Ngày…

Vẫn không thấy anh ấy. Tổng cộng tới bốn mươi Mạnh nhưng không có Mạnh nào của mình. Hay anh bắt mình sang thế giới bên kia vẫn lang thang tìm anh, để thử thách lòng chung thuỷ. Thật là gở! Mình vẫn tin, nếu còn sống nhất định anh sẽ trở lại. Trăng dịp này đang xanh…

Ngày…


Mình chợt nảy ra ý định ấy khi nhìn thấy một anh thương binh ngồi lẻ loi trên ghế đá. Hình như thế giới náo nhiệt xung quanh không tới được anh? Sao anh ấy buồn thế? Anh bị cụt một chân, một tay và chi chít vết thương trên mặt. Khuôn mặt khắc khổ của anh im lìm lạc vào trời chiều. Cặp mắt anh không hướng về cái gì cụ thể. Ngoài mình ra có ai để ý đến người tàn tật kia không nhỉ? Cách chỗ anh mấy mét, đôi trai gái đang vờn nhau như mèo. Trời ơi, họ làm gì thế kia khi trời chưa kịp tối… Mình muốn bỏ chạy vì không thể còn gì ghê tởm và tàn ác hơn… Ghê tởm… vì… (Hay là mày ghen với người ta đấy hả Túc?). Nhưng độc ác thì quá chừng. Ít ra họ cũng nên biết có một kẻ mất mát gần hết đang cô đơn ở ngay bên cạnh họ. Mà lạ chưa! Ngay cả điều đó cũng không tới được anh. Anh vẫn ngồi câm lặng, mắt nhìn những ngôi sao cũng đang muốn chạy trốn. Trông anh như cái bóng trong bức tranh đen trắng. Bất chợt anh ngước nhìn mình. (Sao lại nhìn mình?). Trời ơi, mình làm sao đủ sức để chịu đựng cặp mắt buồn mênh mông, như từ đó đang ùa ra từng mảng tối sẫm trong khu vườn đầy ánh trăng… của anh. Đến lượt mình ngồi bất động. Hai con người của thế giới hiện đại kia đã xong việc, mệt mỏi và chán ngắt. Họ sẽ kéo nhau vào một tiệm ăn nào đó để "tái sinh" cái gánh nặng đè lên hai chân họ. Hình như họ mới là những kẻ cô đơn!

"Tối rồi!".

Mình giật bắn mình, sợ hãi ngước nhìn anh đã ở bên cạnh từ lúc nào.

"Vâng, tối rồi". - Mình đáp như cái máy - "Anh chờ ai ở đây?".

"Không ai cả! Chỉ do tôi thích được ở riêng một mình một thế giới!".

"Ngày nào cũng thế?".

"Đã nửa năm… và sẽ đến hết đời".

Chiếc chân gỗ nện xuống mặt đá lộc cộc và cứ thế xa dần cho đến khi tấm lưng của anh hoà tan vào màn đêm. Ôi biết đâu "anh ấy" của mình cũng giống như anh thương binh kia? Biết đâu "anh ấy" cũng tưởng tượng ra cảnh mình đi lấy chồng có một đàn con, để hành hạ chính anh bằng cái hồi ức về quá khứ? Không, em sẽ tìm anh. Sẽ tát cho anh một cái trước khi chan nước mắt lên ngực anh.

Ngày…

Tất cả mười tám trại thương binh nặng mình đã đến, đều không có anh. Những thương binh ở đủ mười tám trại, khi trả lời mình họ đều nói một câu gần giống nhau: "Có thể, anh ấy đã chết". Tại sao họ lại nói như vậy về đồng đội? À, có lẽ họ nói về chính họ. Họ tự cho họ có quyền thay mặt đồng đội thử thách mình. Không, điều đó chứng tỏ anh ấy còn sống, đang đau khổ nghĩ về mình ở cái trại thương binh cuối cùng mà mình chưa kịp đến. "Làm sao em biết hết đất nước này có bao nhiêu trại thương binh". Mình thấy giận anh ấy quá chừng.

Ngày…

Hôm nay thì mình tin anh ấy đã chết, hoặc đúng hơn, anh ấy còn mãi mãi. Không hiểu ai xui cho mình lang thang vào viện bảo tàng chiến tranh. Ôi, cuộc đời thật trớ trêu! Vì tất cả những "kỷ vật" kia mà mình tin và chờ đợi. Nhưng chính nó lại ngầm thông báo có biết bao nhiêu chàng trai đã ra đi và ngã xuống. Mình buồn bã ngắm một bức hoạ, màu loang lổ. Trời ơi, sao lại có hình mình treo ở đây? Rõ nhận vơ! Chắc là một cô du kích anh hùng nào đó. Lớp bột hoà tan từ chất diệp lục khiến bức hoạ như được xếp bằng hàng ngàn chiếc lá. Nhưng sao, nhưng sao… mình muốn bỏ chạy ngay tức khắc để thoát khỏi cặp mắt trên bức vẽ. Tiếng hô thuyết minh chợt vang lên (may quá!):

- "Đây là một trong những kỷ vật đặc sắc nhất của chiến tranh mà chúng tôi kiếm được trên thi thể một chiến sĩ ngã xuống trước cửa ngõ Sài Gòn. Có lẽ anh đã mang tấm hình cô gái này trong tim suốt thời chiến tranh, bởi vì xin các vị chú ý dòng chữ nhỏ bên dưới "thần chiến thắng". Có lẽ anh nảy ra ý định vẽ lại người yêu vào một đêm trăng… Một vị khách của nước bại trận đã đặt giá cả triệu đô la để có được kỷ vật đã đem về Mỹ.

Mình bỏ chạy vì không đủ sức dối mình. Nhất định đây là một cô gái khác. Nếu đấy là mình… "chúng tôi tìm thấy trong thi thể một chiến sĩ… "Không, không thể như thế được. Anh vẫn còn sống ở nơi cuối cùng mình chưa kịp đến. Nhưng cái nốt ruồi ở mép dưới cô gái trong tranh, cái nốt ruồi, trời ơi sao mình chưa bao giờ biết mình có cái nốt ruồi ở mép dưới… mình đã đập tan chiếc gương dối trá"…

Ngày…

Đã ba tháng mình lang thang bằng nỗi vô vọng và cái niềm cay đắng. Mình trở lại và ngồi trên chiếc ghế đá hôm nào. Vẫn anh thương binh ấy, thêm ba tháng nữa vào cái sáu tháng "một mình một thế giới" trước đây của anh. Cách đấy mấy mét không phải đôi "hiện đại" bữa nọ, mà là bông hoa ai đó để quên. Bông hoa tím sẫm lại dưới trời chiều, như vết máu loang.

"Tối rồi!".

"Vâng, tối rồi!".

"Chị tìm gì ở đây?".

"Không - gì - cả! Chỉ là sự trở lại".

"Tôi tin thế!".

"Anh tin gì cơ?".

"Tôi tin chị sẽ trở lại".

"Thật kỳ lạ!".

"Phải, lạ lắm. Lạ, nhưng tại sao cả tấm sắt thép đè lên tôi nhưng tôi vẫn cứ sống để trở về. Bởi vì - tiếng anh đau đớn - tôi biết thế nào cũng có người không tìm cái gì như chị!".

"Và một người không - chờ ai như anh?".

"Không, cả tôi và chị, chúng ta đều nói dối. Chị đang đi tìm cái đã mất, mà với chị, không gì thay thế được, nên cuộc đời này không còn gì đáng cho chị tìm. Còn tôi, tôi chờ một người".

"Tôi cũng chờ một người, nhưng anh ấy đã chết. Có lúc tôi nghĩ anh ấy cũng giống như anh. Liệu có khi nào anh nghĩ một người phụ nữ cũng giống như tôi, đang chờ anh không?".

"Khi tôi hăm hở lao vào cuộc chiến, tôi chưa kịp đính ước với ai cả. Lúc đó tôi mới mười tám tuổi và có lẽ điều đó là một nỗi may lớn. Không ai trên đời vì tôi mà lương tâm cảm thấy bị vò xé, ngay cả bây giờ. Tôi xin chị, chị hãy đi ngay khỏi nơi này. Giấc mơ chỉ nên để nó thoáng qua. Kéo dài mãi sẽ là nỗi chịu đựng. Vả lại tôi cũng không còn sống được bao lâu nữa".

Anh loạng choạng đứng dậy, người lệch sang một bên. Tiếng lộc cộc xa dần, xa dần cho đến khi chỉ còn lại tiếng tim mình đập hối thúc, buốt nhói trong lồng ngực.

« Sửa lần cuối: 10 Tháng Năm, 2008, 09:44:22 pm gửi bởi hoacuc » Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #43 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2008, 09:48:50 pm »

XƯA KIA CHỊ ĐẸP NHẤT LÀNG (Tiếp)

Ngày…

Anh đã trở lại, vẫn những tiếng lộc cộc, lộc cộc quả quyết và kiêu hãnh. Đến lượt mình nhắc lại lời anh hôm trước.

"Em tin thế nào rồi anh cũng sẽ trở lại".

"Thật ư?"

"Lẽ nào anh bỏ em một mình khi chính anh bảo em "tối rồi?".

Anh nhìn sâu vào mắt mình, gương mặt bừng sáng như trẻ thơ. Không hiểu sao, phút đầu tiên mình trao cuộc đời cho anh, mình lại khóc dữ dội đến thế. Cả anh cũng khóc… Lúc đó mình tin rằng, chỉ cần nước mắt của anh hoà vào nước mắt mình, những thiên thần ở đó sẽ bước ra.

Ngày…

Chưa bao giờ mình được ngắm một khuôn mặt đàn ông kỳ lạ đến như vậy. Một chút cuồng nộ trong đáy mắt, với cái gì đó gần như nỗi khổ ải ở khoé miệng anh.

"Thật ư?".

"Những một tháng mà!".

Anh ngồi lặng đi, tay rờ rẫm lên những mạch máu li ti của mình. Chẳng biết anh có nghe thấy gì không. Còn mình thì mình thấy rõ tiếng hồi âm từ một thế giới xa xôi báo hiệu có cái gì như sự cộng hưởng của hai trái tim, đang nhoi nhóp, trường tồn và vĩ đại.

"Có thật!" hàm răng anh lấp lánh.

"Vâng, có thật!".

Anh vùng dậy, hú hét như hóa dại. "Có thật! Có thật!". Tiếng chiếc chân gỗ nện xuống mặt đá dồn dập như tiếng bản nhạc hành khúc.

Ba ngày sau anh chết vì một cơn tái phát dữ dội.

*
*   *

Giờ đây có ai về làng Hạ, hỏi đến chị Túc sẽ được mọi người trả lời thế này: "Chị Túc chửa hoang phải không? Cả làng ai còn lạ? Một dạo chị ấy điên tình bỏ đi lang thang rồi đem về một đứa con, chẳng hiểu sao từ bấy đến nay sống im lặng như người câm. Của đáng tội thằng bé mới đẹp chứ, cứ như từ trong bức tranh bước ra ấy. Ôi chao, hồng nhan bạc phận. Giá như hồi ấy đừng bắc bậc làm cao, cứ lấy béng anh Hào bây giờ chả sướng một đời"! Làng tôi được mỗi anh ấy là khá. Đi bộ đội, một trận không qua, một viên đạn không bắn mà đến được hàm tá! Bây giờ thử hỏi đã ai sướng bằng anh ấy. Tuy vợ gàn dở, xấu xí nhưng con nhà quyền thế, của nả như nước. Anh ấy cứ việc bám áo bố vợ mà tiến vù vù. Vâng, cứ hỏi "chị Túc chửa hoang" thì cả làng chẳng ai lạ!

Không mấy ai còn nhớ xưa kia chị Túc xinh đẹp và tài đảm nhất làng.

                                                                                                                                    T.D.A

 

Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #44 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2008, 09:19:05 pm »

NGƯỜI BẠN LÍNH


LỜI TÁC GIẢ: Viết truyện ngắn có cái thú là chơi bố cục và chi tiết. Một truyện ngắn không có bố cục chặt chẽ, chi tiết đắt là rất khó đứng vững. Các truyện ngắn của tôi thường có nguyên mẫu trong đời sống, dĩ nhiên phải kết hợp nhiều người, nhiều hoàn cảnh, cô đúc lại trong một truyện. Truyện ngắn Người bạn lính là chuyện của nhiều người tôi quen biết, nhân vật Tấn được sáng tạo từ những nguyên mẫu đó. Truyện được dựng ở khung cảnh, chi tiết, ngôn ngữ đậm chất Nam Bộ. Truyện được viết từ những năm Tám mươi của thế kỷ trước nên có một số chi tiết hơi bị cường điệu hay nói cách khác là hơi nống lên để gây cười. Tuy vậy, tôi cũng đồng ý với một số nhà nghiên cứu cho rằng Người bạn lính là một trong những truyện tiêu biểu cho phong cách truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng.

Truyện ngắn .

NGUYỄN QUANG SÁNG

Tôi không ngờ, người mà tôi sẽ viết bản báo công để chọn phong anh hùng là thằng bạn của tôi, thằng Tấn. Bạn cùng xóm, bạn từ lớp một đến lớp ba trường làng. Hai đứa xa nhau từ khi tôi học cấp hai, còn nó ở lại nhà với nghề mộc, nghề cha truyền con nối và chơi thì chơi với bạn chăn trâu hàng xóm. Tuổi mười bốn mười lăm mà nó làm được khối tiền. Khéo tay, nó lượm gỗ vụn, đục đẽo làm những cái ghế nhỏ như cái cốc, cái bàn nhỏ như bàn tay, làm cả bộ salon nhỏ xíu, khách hàng ai cũng thích mua để trưng tủ kiếng. Hết cấp hai, tôi lên tỉnh, từ nhà trường tôi ra thẳng chiến khu. Còn nó, cũng năm ấy (không hẹn) nó ra đi từ trại mộc. Ấy là năm 1950, hai đứa cùng tuổi mười tám.

- Mầy viết báo công cho tao hả Quang?

Vẫn cái giọng xuề xoà thân mật “mầy tao”.

- Được không? Hay là chọn người văn hay chữ tốt hơn tao?

- Được mầy là tao mừng. Tao thấy mấy thằng sắp làm anh hùng như tao, thằng nào cũng khổ. Nhà báo, nhà văn tụi mầy tra hỏi còn hơn công an hỏi cung, hỏi cả cái ngày còn ở truồng, hỏi ở nhà ăn cái gì nữa. Cực hơn đánh giặc. Với mầy thì tao khỏi nói, ăn cá chốt hay cá linh, ăn đọt xoài chấm mắm hay bông điên điển làm nhưn bánh xèo, mày biết ráo. Đánh giặc bằng ống thụt, tắm sông, nhảy từ lan can cầu nhảy xuống, hay leo dừa, leo xoài, lật đất cày bắt dế hay đá cá lia thia, cái gì tao chơi mày cũng chơi, khỏi hỏi, khỏi nói, được mầy là tao khỏe.

Một đôi câu của Tấn, đủ gợi lên trong tôi cả một thời thơ ấu. Tôi cảm thấy rạo rực, muốn cầm viết, viết ngay. Viết về Tấn nhưng chan chứa tâm hồn của tôi.

- Viết mầy là thằng Tấn trọc được không?

- Được, mầy muốn viết gì thì viết.

Gọi nó là Tấn trọc, vì ở trường có đến ba thằng Tấn. Tấn đen, Tấn sún, nó là Tấn trọc. Chẳng hiểu sao, từ lớp một đến lớp hai, cái đầu của nó lúc nào cũng trọc lóc, đầy u với nhọt. Bù lại cái đầu u nần lam nham thuốc xanh thuốc đỏ, nó có cặp mắt sáng, tròng trắng rất trắng, tròng đen rất đen với một nụ cười hiền lành. Đến năm lớp ba, nhờ một người Tàu bán tương chỉ cho một bài thuốc gia truyền: cháo lươn với đậu xanh, vừa mát vừa xổ chất độc. Chỉ có vậy mà cái đầu của nó lành lặn từ lúc nào chẳng ai hay biết. Sau, dù có một mái tóc rậm đen, nó vẫn mang danh là Tấn trọc.

Bấy giờ, ngồi trước mặt tôi là một người đàn ông hơn ba mươi, dạn dày chinh chiến, rắn chắc trong bộ quân phục mà cách ăn mặc trông không được nghiêm chỉnh cho lắm, hơi xốc xếch, xuềnh xoàng.

Chiến công nổi bật của nó là trận đánh vừa chặn đứng một cánh quân Mỹ đợt hai năm Mậu Thân (1968) trong một làng vùng ngoại ô Sài Gòn. Đơn vị nó nằm trong một vị trí bất lợi. Một bên là quốc lộ, một bên là con sông. Trên quốc lộ là xe tăng, là thiết giáp; dưới sông là tàu chiến, trên trời là trực thăng. Xa hơn là dàn pháo của căn cứ Bình Chánh, dàn pháo được mệnh danh là “dàn nhạc Tân Tây Lan”. Đơn vị nó hơn một trăm tay súng nằm trong cụm vườn thưa, lấy mương nước, gốc cây làm công sự.

Giữa lúc hiểm nghèo ấy, Tấn đeo B41 leo lên ngọn dừa, lần đầu tiên trong chiến tranh Tấn là chiến sĩ dùng B41 từ trên ngọn dừa bắn hạ trực thăng. Chiếc trực thăng hình con cá lẹp, như con diều hâu sắt vừa quay cánh vừa sà xuống thấp, chưa kịp phóng rốc két thì bùng lên thành một đám cháy. Bầy trực thăng hốt hoảng, vội vã dạt ra xa. Chiến sĩ ta đồng loạt xông lên với tiếng reo hò. Tàu chiến bị trúng đạn phụt lửa, xe tăng bị B41 bốc cháy mềm như sáp. Trận đánh im tiếng súng vừa lúc trời sụp tối.

Trận đánh của Tấn tôi viết thật tỉ mỉ, tôi nghĩ, chỉ một trận đánh ấy đủ cho Tấn xứng đáng là anh hùng. Cho nên những phần khác về cuộc đời của nó, tôi chỉ lướt qua. Vậy là đêm đêm, người viết báo công và những vị sắp là anh hùng cùng nhau làm việc không nghỉ ngơi, ghi rồi lại hỏi dưới ánh sáng của ngọn đèn chai, còn hai đứa tôi thì ra trảng, nhìn trăng sao, hóng gió, uống rượu và nhắc chuyện đời.

- Sao? Có viết lại chuyện cô ở Thanh Hóa không?

Tôi nhắc lại chuyện cũ, Tấn ngửa mặt cười.

- Hồi còn đóng quân ở Thanh Hóa có một cô mê tao. Cô ta bảo: “Em xấu gái, em biết anh chẳng lấy em làm vợ đâu! Em chỉ có chỗ này là đẹp thôi”. Cô ta mở nút áo cho mình xem bộ ngực, đẹp thiệt. Không sao dằn lòng được, nhưng mình muốn đến thì cô ta xê ra. “Em sợ”. “Sợ gì?”. “Em muốn hiến cho anh nhưng sợ anh phản tỉnh”. “Không. Không. Anh không phản tỉnh đâu mà?!”. “Thôi, thôi, bây giờ thì nói thế, chứ đến lúc chỉnh huấn, cái đèn lù mù, chuyện gì mà các anh không nói, càng nói càng tiến bộ, chết là chết chúng em. Ở làng bên, có một cô như em, bị anh bộ đội phản tỉnh. Xấu hổ, cô bỏ làng đi mất!”. Hôm rồi, nhân dịp đi mua bò cho đơn vị, mình trở lại Thanh Hóa tìm cô ta, lần này mình nhất định xin hỏi làm vợ. Về đến làng thì biết cô ta đã có chồng rồi. Cô ta khóc và trách: “Sao hồi ấy anh không bảo với em!”. Trở về đánh một đàn bò mấy chục con qua ga Hàng Cỏ, mấy cô gái tóc quăn đứng bên đường kêu hỏi: “Anh bộ đội ơi, anh dẫn bò đi đâu mà nhiều thế?”. Đang buồn, đang quạu, lại mắc cỡ, mình đốp lại: “Dẫn bò đi phidê!”. Mấy cô nhìn lại mình, hai con mắt như ngọn đèn pha...

Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #45 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2008, 09:20:11 pm »

NGƯỜI BẠN LÍNH (Tiếp)

Kể xong, Tấn bỗng nhảy úm xuống suối, tôi hốt hoảng:

- Mầy làm gì vậy?

- Tắm cho đỡ buồn.

Nhớ lại, tôi hỏi:

- Bây giờ còn tắm cho đỡ buồn nữa không, cha?

- Đêm nào mà không xối ào ào cho đỡ buồn.

- Vợ con tính sao?

- Thấy ai, gặp ai mà tính...

Mấy ngày sau, bản viết của tôi được trả lại kèm theo lời phê: “... Viết về thành tích khá sinh động, nhưng còn phần lý lịch. Phải viết rõ vì động cơ gì mà hành động. Không thể không bị bóc lột, không thể không căm thù đế quốc phong kiến. Điều này cần phải được đào sâu”.

Đọc xong tôi đổ mồ hôi trán. Thế là tôi bắt đầu hành hạ thằng bạn tôi:

- Nhớ lại xem. Mầy bị bóc lột như thế nào? Mầy căm thù đế quốc phong kiến ra sao? Kể lại cho tao viết.

- Tao thì mầy biết rồi, hỏi gì nữa?

- Nhưng có một thời gian mình xa nhau.

- Thì cũng vậy, mầy đi học, tao làm thợ mộc với ông già.

- Động cơ nào mày đi theo cách mạng?

- Tới tuổi quân dịch, không đi để tụi nó bắt lính, cầm súng bắn lại bà con à?

- Được, được nhưng phải nhớ cho kỹ, phải đào sâu thêm, bị bóc lột ra sao?

Tấn thở dài:

- Tao là lính, tao chỉ biết đánh giặc – còn mầy là thằng viết, mầy phải nghĩ, viết sao nghe được thì viết.

Thật đau đầu! A, tôi nhớ ra rồi. Hồi nhỏ cái đầu của nó hay bị u nhọt. Tôi viết, hồi nhỏ, gia đình bị bóc lột, nghèo khổ, không đủ ăn nên thường hay bệnh hoạn. Nhớ nó hay đi chăn trâu, tôi viết, có lúc nó phải đi chăn trâu cho chủ, ăn không đủ no, đêm phải ngủ ngoài chòi, mưa gió. Còn cái đoạn nó khéo tay làm ra khối tiền thì tôi xóa sạch.

- Cần đọc lại cho mầy nghe không Tấn?

- Khỏi. Tao có sao mầy cứ viết vậy là được!

*

* *

Sau đó trong đợt bình bầu, Tấn được phong danh hiệu anh hùng.

Năm sau, tôi và bạn bè tình cờ đi qua đi qua đơn vị của nó. Tôi rủ:

- Ghé thằng bạn anh hùng tao chơi. Thằng điệu đời lắm.

- Nhắm có gì không, tụi tao đang đói.

- Tiệc tùng không dám hứa, nhưng ít nhất cũng có một con thịt, không nai cũng dộc, tệ lắm thì cũng một con cheo.

- Vậy thì đi!

Vào đến trạm gác đầu tiên, được tin Tấn họp. Từ trạm gác đến hội trường không xa lắm. Hội trường lợp bằng lá trung quân, không có vách, trống huơ trống hốc, đứng từ trạm gác nhìn vào tôi thấy Tấn ngồi trên hàng ghế Chủ tịch đoàn. Vừa nhắn tin, tôi vừa đứng thấp thoáng cho Tấn thấy. Từ trên ghế Chủ tịch đoàn nó nhờ một người lính nhắn ra chờ.

Chúng tôi ngồi bệt xuống đất lưng dựa lên ba lô, hút thuốc, ngồi chờ. Hút hết điếu này lại mồi qua điếu khác, tôi chờ đến phát ngượng với bạn bè.

Một cái nhướng mày:

- Sao, chờ hay đi?

- Ráng chút.

Từ hội trường vang lên tiếng vỗ tay, Tấn bước ra:

- Tấn! – Tôi như reo lên, rối rít giới thiệu với Tấn, đây phóng viên thông tấn xã, và đây là nhà thơ.

- Chào các đồng chí!

Tấn hơi cúi người, bắt tay từng người, trong nháy mắt, tôi nhận ra sự khác lạ của anh qua phong cách. Trịnh trọng trong bộ quân phục thẳng thớm, lạ với con mắt của tôi, khó chịu hơn là sự trịnh trọng trong cách bắt tay từng người, trịnh trọng mà xa cách. Còn tôi thì anh như không thấy. Có lẽ anh sợ tôi vồ vập, sợ những cử chỉ thân mật quá đáng của tôi.

- Các đồng chí đến làm việc với đơn vị? Cạnh bên anh lại có một chiến sĩ bảo vệ, với khẩu A.K. Ba thằng bạn cùng mở tròn mắt dồn lên mặt tôi. Tôi ngượng đến muốn độn thổ.

- Sẵn đi qua, tụi này ghé thăm.

- Vậy hả? Tiếc quá, đơn vị đang họp.

Vừa lúc, trong hội trường có tiếng vỗ tay. Tấn vội cúi người chào:

- Các đồng chí ngồi chơi.

Lại cúi người trịnh trọng bắt tay, lần này thì Tấn không quên bắt tay tôi trước khi quay vào hội trường.

Từ đó, không đến nỗi giận, nhưng tôi buồn. Dù không tới lui, thư từ, tôi vẫn nghe và dõi theo từng bước đi của Tấn. Từ trung uý, thẳng lên đại uý, Tấn thường được các cơ quan mời đến báo cáo điển hình, đi đâu cũng tiền hô hậu ủng. Hội nghị nào có Tấn, Tấn cũng ngồi ghế chủ tịch, ngực lấp lánh huân chương. Nghe đến anh hùng Trần Đình Tấn là tiếng vỗ tay rộ lên.

Bẵng đi hơn năm, nhớ là mùa hè năm 1971, tôi đang bị say nắng dưới chòm cây tai ghé bên rìa trảng. Có tay ai đập khe khẽ trên đầu võng, giật mình mở mắt, tôi không tin, đưa tay dụi mắt.

- Mày còn sống hở Quang?

Nó, người bạn anh hùng.

- Chết cũng khó!

(Những năm chiến tranh ác liệt, gặp nhau, hỏi thăm người nào đó, không hỏi mạnh khỏe mà hỏi sống hay chết, thành quen).

- Dậy đi... - Nó vừa bảo vừa đưa tay rút dây võng bắt tôi phải bật dậy.

- Bếp đâu, củi đâu? Tao nấu nước. Trà củ măng, thuốc Rubi chiến lợi phẩm – Tấn vừa nói vừa mở thắt lưng treo lên chạc ba cây.

- Rượu đế với khô sặt. Chiều nay tao ở đây với mầy.

- Khô sặt?

- Được không?

- Đâu mầy có?

- Bên vợ.

Tôi nói như hét:

- Mầy có vợ?

- Chẳng lẽ ở góa?

- Ai? Ở đâu?

- Ấy, từ từ rồi tao kể.

Thằng bạn anh hùng của tôi, nó vẫn như xưa, vẫn là thằng Tấn, vẫn xuề xòa, vẫn cởi mở, tôi ước gì có mấy thằng bạn cùng trường năm trước cũng có mặt ở đây. “Tao nói có sai đâu, nó rất điệu đời mà!”.

Sau một tuần trà, vừa ném cái tàn thuốc, nó xề lại bếp lửa, đặt con khô sặt lên than hồng.

Ôi, chẳng biết bao nhiêu năm rồi tôi mới nghe lại cái mùi thơm của con khô quê hương. Chúng tôi lại nhắc đến mùa nước nổi, mùa giăng câu, mùa đặt lọp đặt lờ trên đồng nước.

Hai đứa hai chiếc võng mắc song song, giữa là chiếc bàn nhỏ được trải bằng tấm ni lông màu lá. Trên bàn: bình toong rượu Tấn mang tới, hai cái chén mắt trâu, ba con khô sặt bằng bàn tay trên tờ bản thảo. Vài giọt nắng rơi qua kẽ lá, râm ran tiếng ve rừng, và tiếng rền rĩ ì ầm của phản lực quần đảo trên bầu trời.

- Mầy là nhà báo, nhà văn, tao nghĩ mầy không giận tao. Mới nghe sẽ được tuyển làm anh hùng, thằng nào không khoái. Khi được phong hiệu anh hùng rồi, tao thấy khổ hơn làm dâu trăm họ. Có lúc tao nghĩ, tao không còn là tao nữa, tao như thằng nào vậy!

Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #46 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2008, 09:22:18 pm »

NGƯỜI BẠN LÍNH (Tiếp)

Tấn dừng lại, mở tròn hai con mắt. Tôi bỗng nhớ hai con mắt học trò của nó ngày xưa.

- Ngày thường tao cười ha hả, thích thì cười, chẳng ai nói. Bây giờ cười như vậy thì có người nhắc nhở, anh hùng đừng cười như vậy. Vậy còn nhẹ, có người nói sau lưng: “Anh hùng gì mà cười nghe ha há”. Anh hùng phải cười ra sao, tao chẳng biết, nên có lúc tao chẳng dám cười. Trước đánh giặc xong cứ chẳng biết làm gì, rủ nhau đi săn, nhậu, nói chuyện đời. Bây giờ có người hỏi, anh hùng mà nhậu nhẹt kia à! Thèm rượu muốn chết. Mình thì ăn mặc xốc xếch, quen rồi, bây giờ anh hùng phải giữ quân phong, quân kỷ. Trước giận thì chửi thề, vui cũng chửi thề cho nó đã. Bây giờ – anh hùng mà sao mở miệng là chửi thề? Nhiều lúc, thèm chửi thề hơn thèm thuốc. Giận nhau thì mầy tao, bây giờ anh hùng rồi, nói năng, xưng hô phải gọi nhau là đồng chí. Đó, đại khái là vậy, cho nên lúc nào tao cũng cứng như cây củi. Nghĩ cho cùng chẳng qua là anh em thương mình, muốn cho mình bất cứ lúc nào, nhứt cử nhứt động là anh hùng. Thôi, cũng được đi. Chuyện này mới đau. Một hôm, một bầy trực thăng đảo qua chỗ đóng quân, thấy nó nghiêng cánh biết là nó sắp bắn, tao nhanh chân tọt xuống hầm. Sau đó tao nghe xì xầm: “Anh hùng mà nhát như cáy. Trực thăng mới liếc qua mà đã són đái trong quần!”. Mấy lần sau, nó bắn, tao kênh mình đứng, xoay xoay theo gốc cây, may, đạn nó tránh.

Nghe nói mà thương, tôi nâng ly:

- Thôi bỏ, tao hiểu. Nói chuyện vợ con nghe đi.

- Khoan, mầy cho tao cởi cái áo, mặc cái quần cụt cho nó đã.

Quần áo nó ném lên cành cây, ngồi lại võng vừa lắc tới lắc lui vừa xé một miếng sặt đưa cho tôi:

- Vô đi, rồi tao kể.

Hai đứa cạn ly.

- Chuyện vợ con cũng gian nan, tưởng cưới cô này, té ra lại cưới cô khác. Mầy biết, nói theo kiều miền Bắc, tao là con cả, lại là đứa con trai duy nhất. Ba má tao chỉ có cháu ngoại mà không có cháu nội. Năm rồi tao móc gia đình lên thăm, ba tao có dắt theo một cô gái cho tao coi mặt, tên Thảo, tuổi hăm hai, người cùng làng ở xóm Đình, nhưng hồi mình đi cô ta mới tám, chín, không quen không biết. Nếu hai người ưng nhau thì bên vợ cho phép làm đám cưới ngay tại rừng, không cần trở về hỏi han gì nữa. Mấy ngày ở chơi, Thảo lo cho tao đủ điều, lo cơm lo nước, vá quần vá áo. Tao ưng rồi, nhưng tất nhiên là phải báo cáo với đơn vị, với chi bộ. Không ai phản đối nhưng chi bộ có một đề nghị: cần thẩm tra lại lý lịch. Nếu tao là chiến sĩ thường thì chẳng có gì phải thận trọng đến vậy. Với lại, Thảo là người trong vùng địch kiểm soát, lại nhằm lúc địch đang tung chiến dịch Phượng Hoàng, cần cảnh giác Thiên Nga chui vào hàng ngũ mua chuộc cán bộ. Cũng vừa lúc đơn vị lên đường hành quân, tao mới có dịp xin hoãn. Nửa năm sau, chi bộ nắm rõ được lý lịch bên gia đình bên gái, mới đồng ý cho. Tao liền nhắn tin về. Mỗi lần đi là mỗi lần sống chết, cho nên cả bên cha mẹ đồng ý cho Thảo theo bà má giao liên, một mình đi lên rừng lấy chồng, và theo chồng ở lại chiến khu. Còn sui gia thì nhậu với nhau, coi như mời nhau ăn đám giỗ. Trên đường Thảo bị trực thăng bắn chết. Bà má giao liên về, vừa kể, vừa khóc. Bà má nhờ anh em trạm giao liên chôn cất cho.

Tôi bỗng nghĩ đến cô gái, tiếng là đã có chồng, nhưng lại đời đời nằm lại dưới nấm mồ giữa cánh đồng hoang.

- Rồi sao? – Tôi hỏi sau phút ngậm ngùi.

- Nghe chuyện, ai cũng thương. Còn mình thì lao vào chiến đấu. Coi như đã có một đời vợ, lý lịch mình cũng ghi: Vợ – Lê Thị Thảo, hy sinh. Bất ngờ, sau một trận đánh trở về, đồng chí trung tá bí thư Đảng uỷ gọi mình lên, bảo: “Đảng ủy đã lo vợ cho đồng chí rồi. Không đâu xa, cô mật mã, con gái của đồng chí hậu cần bên Bộ Tư lệnh. Mai đồng chí lên đường”. “Chào đồng chí anh hùng – Ông già vợ mình là người vui tính, chào mình như vậy – Lý lịch đôi bên không có gì phải lo, bây giờ chỉ còn có việc gặp mặt. Cứ tìm hiểu, ưng thì tuyên bố, không hợp nhau thì là đồng chí. Con gái của bác là Nguyễn Thị Nương Nương, nhưng cứ gọi là Nương cho gọn... Là nhân viên mật mã, suốt ngày trong rừng sâu, chẳng mấy khi được tiếp xúc với ai, hơn cả đi tu, đã ba mươi, cũng muộn màng như mình. Vưa mới gặp mình đã nghĩ ngay: đây đúng là cái bến của mình, cái bến của một tay chèo đường dài quá mệt mỏi. Cắm sào thôi. Mình ở đó một tuần để tìm hiểu. Một tuần nhưng chỉ gặp nhau đôi lần. Công việc của mật mã hầu như chẳng được ngơi nghỉ. Khi nào Nương rảnh, hai đứa mới dẫn nhau ra chòi ngoài trảng. Ở đó mới nhìn thấy trời, thấy trăng sao. Rảnh rỗi, không biết làm gì, mình trổ tài làm mộc, đóng cho mỗi cô một cái bàn, cái ghế, đóng cho cơ quan một bộ bàn dài để tiếp khách. Có một buổi chiều hai đứa ngồi ngoài trảng, trời vừa sụp tối, mình đưa tay choàng qua vai cô, mầy biết cô ta phản ứng ra sao không? Cô ta hất tay mình xuống: “Anh hùng mà làm vậy người ta cười!”. Khổ không? Tao chẳng biết tỏ tình thế nào cho đúng là người anh hùng – thế là tao ngồi nghiêm, mắt nhìn thẳng lên một vì sao. Hết phép, tao về, cô ta hứa sẽ trả lời sau. Một tháng sau, tao làm đám cưới. Anh em cất cho tao một ngôi nhà lợp lá trung quân, dưới bóng cây cầy, bên bờ suối, thật thơ mộng. Dưới thềm là căn hầm chống bom B52, gọi là hầm bảo vệ hạnh phúc. Cha ơi! Cái đêm đầu của vợ chồng, vừa háo hức, vừa bối rối, vừa hồi hộp, chẳng biết phải tỏ lòng thế nào cho phải. Cô ta nằm cuộn tròn trong tấm vải dù pháo sáng, nằm thẳng như một cái gối. Còn tao thì nằm nghiêng. Chẳng có đứa nào ngủ, cứ trằn trọc cũng chẳng biết nói năng gì, chỉ nghe hơi thở của nhau. Cho đến gần sáng, nghe tiếng rền của phản lực, nghe tiếng bom dội lại từ xa, mình bỗng chợt nghĩ, nếu bom B52 rớt xuống, thì mình mang tiếng là có vợ mà chẳng biết gì. Nghĩ vậy, tao liền bật dậy như một người lính xung trận, “lên cò nổ liền mấy phát”. Sau đó, tao hoảng, không biết sẽ bị vợ trách thế nào đây. Không ngờ, cô ấy ôm cổ tao, thì thầm: “Anh đúng là một anh hùng!”.

Tấn dằn ly rượu xuống bàn quay mặt, cười sượng sùng.

*

* *

Sau ngày giải phóng gặp lại, nó trách:

- Mầy làm hại tao quá Quang ơi!

- Chuyện gì?

- Cái bản báo công của mầy. Sau ngày vào thành phố, tao đang sắp xếp công việc để về quê thì ông già tao lên. Cha con gặp nhau tất nhiên là mừng nhưng mặt ổng lại hầm hầm, bảo tao: bà con lối xóm nếu không tận mắt đọc, không tận tai nghe cái bản báo công của tao qua đài thì cũng nghe người khác kể lại. Mấy bà dì ông cậu đến mắng vốn ông già tao: “Hồi nhỏ nó qua chơi, nó thích đi chăn trâu thì chăn trâu, có ai thuê, ai mướn, ai bóc lột nó, hiếp đáp nó, để cho nó căm thù!”. Ông già tao ổng đưa tay vỗ bồm bộp vào ngực: “Còn tao, thằng cha mầy, tao đâu có nghèo đến nỗi cho mầy ăn đói để mầy bị u bị nhọt. U nhọt thì thằng nhỏ nào không bị. Mầy nói thêm nói bớt để làm gì? Để làm anh hùng à? Đảng, Nhà nước nói, dân tộc mình là dân tộc anh hùng, mầy thấy chưa đủ sao? Thôi mầy đừng có về, mầy về, bà con không ai nhận mầy đâu!”. Nghe ông già nói, tao đau quá, tao có khóc bao giờ, vậy mà nước mắt tao cứ chảy. Chẳng lẽ mình bị mất hết dòng họ với quê hương?

Tôi ngồi lặng, không ngờ cái ngòi bút của tôi lại gây ra một hậu quả nặng nề đến như vậy.

Sau, tôi lại gặp người cậu của Tấn, một nhà giáo từ Hà Nội về, ông cho tôi thêm một bài học qua giọng mắng nhiếc:

- Khi anh viết văn, anh muốn cho người ta bay lên trời hay độn thổ, muốn cho người ta mọc ba đầu sáu tay cũng không ai nói, còn báo cáo, báo công thì phải thật chứ!

Chuyện đã qua bao nhiêu năm nhưng mỗi lần chợt nhớ mà mỗi lần thấy nhục cho ngòi bút của mình. Cái ngòi bút nhọn sắc như đâm vào tim tôi, nhói đau.

Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #47 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2008, 09:23:59 pm »

NGƯỜI BẠN LÍNH (Tiếp)

Nghe tin Tấn chuyển ngành, đang trở lại nghề cũ, đóng bàn đóng ghế, tôi chưa kịp đến thăm anh thì anh đến thăm tôi, báo tin đã qua thời gian nan.

Ngày vào thành phố, với cương vị là trung tá trong ban quân quản, trong tay anh không biết bao là nhà cao cửa rộng, nhưng anh lại chọn một căn nhà trong hẻm. Bây giờ bạn bè anh, người cùng cương vị anh hoặc thấp hơn anh, nhờ ở mặt tiền, nhờ ở villa, chỉ cần cho thuê, cho mướn cũng đủ sống. Còn anh, lương trung tá, vợ chuyên viên hai, hai đứa con, đứa sinh trong rừng năm 1972, đứa trong bụng mẹ về thành phố, những năm củi quế gạo châu không đủ sống, phải sống nhờ gạo “viện trợ” của hai bên cha mẹ dưới quê.

Từ chiến trường Campuchia trở về, mất sức anh xin chuyển ngành, về phụ trách tổ chức cho một xí nghiệp. Qua một năm, Tấn thấy công việc không hợp với mình. Anh tự thấy mình không đủ sức hiểu người trên, người dưới và người chung quanh. Họ không dễ hiểu dễ nhận như những người lính của anh. Người ta tặng quà, anh không dám nhận, được mời đi tiệc tùng cũng e ngại. Anh thấy đằng sau những buổi tiệc linh đình là một cái gì đó sẽ đến với anh. Có được một bữa nhậu tình nghĩa thật hiếm hoi. Đã đến cái tuổi muốn thảnh thơi, anh xin nghỉ hưu. Hưu sống sao đây? Vợ chồng anh sống sao cũng được, không đòi hỏi gì, chỉ thương hai đứa con bị thua thiệt, muốn xem ti vi màu phải xem nhờ hàng xóm, đi học thì nhờ bạn bè chở giúp. Vợ anh, thỉnh thoảng lại bị sốt rét rừng tái phát, vẫn xanh xao, mỗi ngày mỗi yếu, không xông xáo như chị em.

Cũng may nhà có được cái sân, anh che mát làm trại mộc. Khởi đầu là sửa bàn sửa ghế cho lối xóm, sau đóng bàn đóng ghế cho các quán cà phê, quán bia ở vỉa hè. Chỉ cần đóng ghế cóc thôi cũng đã có đồng ra đồng vào. Dần dần, khách đến đặt bàn, đặt tủ. Một mình làm không xuể, anh về quê, kéo lên những tay nghề đang thất nghiệp.

- Đến bữa nay thì vững rồi, tao muốn mày dẫn tao đi chơi một trận, xả hơi – Tấn vưa nói vừa đưa tay vỗ túi – Bữa nay tao có.

Nhìn cái vẻ hớn hở và xềnh xoàng của Tấn, tôi ướm:

- Đi bia ôm?

Tấn trợn mắt nhưng miệng lại tủm tỉm:

- Thì cứ thử xem. Nè, tao nghe nói nhà báo tụi mầy ở đâu cũng có mặt, thiệt bụng là đi chơi, nhưng nếu có ai bắt bẻ thì nói là đi lấy tài liệu, phải không?

Tôi cười.

- Như tụi mầy sướng thật!

- Dám đi không?

- Ừ thì đi, Đừng sợ tao hư!

Nói vậy chứ tôi đưa đến một quán khác, một cái quán quen, có cỏ cây thơ mộng, có máy lạnh rì rào, có nhạc lúc xập xình, lúc nỉ non, có các em son phấn tới lui, bưng rót, có khăn ướt ướp dầu thơm, một cái quán sạch sẽ và nhiều nghĩa.

Tình cờ gặp mấy anh bạn nhậu làm xuất khẩu, những người bạn làm ăn khá giả. Thế là chúng tôi quây thành một bàn. Tấn đưa tay xuống bàn quèo tôi, biết ý tôi giới thiệu anh, thằng bạn tôi, chủ một trại mộc. Anh bạn làm xuất khẩu của tôi, một người bạn trên dưới năm mươi, khỏe mạnh, đầu hớt “cua” cũng vốn là con nhà lính, liền bưng ly đưa thẳng lại Tấn:

- Một ly làm quen!

Cả hai đều cạn trong một hơi, hai cái ly vừa đặt xuống thì hai cái “bốp” nổ cùng một lúc, trong ánh đèn màu, hai cô em xuất hiện từ lúc nào, đã bật nút hai chai Heineken và những cái ly màu vàng lại đầy bọt. Sẵn đà tôi giới thiệu về cái xóm mộc của làng tôi và tay nghề cha truyền con nối của anh. Anh bạn xuất khẩu của tôi như bắt được của:

- Mình nghe tiếng cái làng mộc của mấy anh từ lâu mà chưa có dịp tới, sẵn đây, để gọi là làm quen, anh có thể đóng cho tôi một bộ ghế cổ, có cẩn ốc, có chạm rồng, được không?

- Đó là nghề của gia đình tôi.

- Vậy thì ta ký tắt. Sáng mai tôi đến trại mộc của anh. Nếu như đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, tôi sẽ đặt anh dài dài... Mời!

Ra khỏi khách sạn, Tấn vừa đi vừa bảo:

- Mình không ngờ do nhậu chơi mà được một hợp đồng ký tắt! – Tháng tới, thằng con tao có xe đi học rồi!

- Xe gì?

- Xe đạp.

- Tao tưởng mầy nói Honđa.

- Chưa, chưa đâu.

- Nếu đóng được hàng xuất khẩu dài dài thì ti vi màu cho con đâu có khó gì?

Tấn gật gù:

- Tao cũng đang nghĩ. Nói mầy đừng cười, đêm nay như là đêm đầu tiên tao bước vào đời. Tấn không say, có lẽ anh đang vui nhiều hơn. Anh đi như cái dáng đi ngày xưa lúc là anh lính chăn bò ở Ba Vì, sau vài ly rượu, đi hơi lắc lư.

- Mầy thấy đêm nay vui không? - Tôi hỏi.

- Đã.

 

 

 

N.Q.S
Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #48 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2008, 10:54:29 am »

CHUYẾN XE ĐÊM


Ông run hết cả người, cảm thấy mất hết tự chủ. Cảnh tượng trước mắt ông là sự thật mà như ác mộng. Tên phỉ thiện xạ nào đó bắn thật chính xác, ba viên đạn xuyên qua ngực người lái xe, phá chếch ở phía lưng anh. Anh gục xuống, lưng hơi cồm dậy, ở đó máu đã ứa ra đen thẫm. Vậy là hết rồi! Hết rồi! "Phát đạn đầu chúng dành cho người lái xe. Phát thứ hai là một quả B41". Bọn tàn quân vẫn giữ cái lối xử sự như thời chúng còn thống trị đất này: chúng không ưa bắt tù binh, không sử dụng trại giam. Chúng giết người ngay tại chỗ, gọn ghẽ và chóng vánh...  

Ma Văn Kháng


Chiếc xe lại hỏng.

Lần này là lần thứ mấy, kể từ lúc nó rời biên giới?

Ngồi ở băng ghế sau, người phụ nữ phương Tây xinh xắn không nhớ, nhưng khó chịu và buồn lo lộ ra mặt. Bởi vì lúc này trời đã tối. Trời tối ở một vùng đất xa lạ, còn ngổn ngang, bừa bộn vết tích của chiến tranh. Đất hoang lạnh, loang lổ những vết cháy. Cây xém, ủ rũ cạnh những đống vỏ đạn pháo lớn và những vòng thép gai bò loằng ngoằng gớm guốc. Đường đã vắng từ lúc chập tối.

Giờ thì chẳng còn sự sống trên mặt con đường gập ghềnh, lồi lõm hố đạn pháo. Không có xe đi ngược chiều và cùng chiều, kể cả những chiếc xe bò kéo, bánh xe to một cách cổ lỗ và như là vô lý của những người dân vừa ra khỏi cuộc chiến tranh đang tìm đường trở về quê cũ. Không còn tiếng nó lăn lọc cọc đều đều trong hành trình giống như trong một cuộc viễn du vô định.

Giờ, chiếc xe trở nên cô đơn.

Họ đã phải đổi xe ở biên giới. Chiếc Mazda sang trọng được thay thế bằng chiếc com-măng-ca cũ kỹ, mình đầy bụi, lam lũ, không có biển số. Trông nó đã nao cả lòng, nhất là khi nghe người sĩ quan dặn người lái xe: "Chú ý: gặp ai, không được nói cho họ biết xe chở ai, đi đâu. Dọc đường, không cho bất cứ ai đi nhờ xe".

Người phụ nữ hiểu ngay từ lúc đó: tính mạng của họ trên đất nước xa lạ này hoàn toàn phụ thuộc vào chiếc xe và anh lái xe, một chiến sĩ Việt Nam nhỏ nhắn hiền lành. Ôi chao! Chiếc xe thì quả là không tin cậy được. Giờ, nó lại chết giữa vùng đất mênh mang, nhìn đâu cũng chỉ thấy mờ mờ những cây thốt nốt cao lớn, chơi vơi trên vòm trời, chẳng có gì chơi vơi, chông chênh như loài cây ấy vào lúc này.

Thấy xe hỏng, người đàn ông phương Tây ngồi cạnh người phụ nữ, từ nãy vẫn lim dim như hoài niệm cái gì đó, choàng tỉnh, đẩy cửa xe, chui ra. Đó là một người đàn ông cao lớn, vạm vỡ, bụng xệ. Cái bụng xệ không gây ấn tượng chậm chạp, nặng nề. Vì cái quần gin bó tôn người ông cao lên, rất hòa hợp với cái áo bu-dông bó gọn thân trên và cái vẻ háo hức trẻ trung trên khuôn mặt dãi dầu, từng trải. Ông là phóng viên của nhiều tờ báo lớn trên thế giới, quen với những khung cảnh chiến trường, nỗi hiểm nguy và những sự kiện mới mẻ, sôi động của hành tinh.

- Rô-da, em cứ yên tâm.

Người đàn ông ghé mắt vào cửa xe, an ủi người phụ nữ. Cạnh ông, chị nhỏ bé, non nớt như một cô em út. Họ mới lấy nhau. Và người đàn ông đã thuyết phục được vợ mới cưới thuận theo cái ý muốn phản ảnh cái máu mê nghề nghiệp của mình: hưởng tuần trăng mật trên con đường thiên lý của nghề nhà báo, ở một đất nước xa xôi, đầy bí hiểm: "Em có biết không? Bọn cai trị ở nước ấy bắt đàn ông, đàn bà phải sống cách biệt trong các trại tập trung. Chúng chỉ định người đàn bà này lấy người đàn ông kia. Chúng cũng tổ chức cưới cho họ. Cưới hàng chục cặp ghép đôi như ghép gà, ghép lợn rồi ai lại về trại nấy. Không ai được phép có một cái gương. Ai soi mặt dưới bóng nước, bắt gặp chúng đập chết liền". Nghe người chồng nói vậy, người vợ rùng mình. Thật kinh khủng và quái gở. Làm sao có thể tin được? Tính tò mò được khơi dậy, chị bằng lòng. Và họ bay đến Việt Nam rồi bây giờ quá cảnh ở đây, vùng đất nước vừa mới thoát khỏi cái tai ương khủng khiếp vô nhân đạo nhất kia, mới có ít ngày.

Được sự an ủi của chồng, người phụ nữ yên dạ. Chị gật đầu hơi nũng nịu. Và người đàn ông hôn vợ rồi đi lên phía đầu xe lúc này nắp ca-bô đã mở, hất lên; ở đó, lúi húi bóng người lái xe bé nhỏ.

- Xe làm sao thế, anh người Việt? Người đàn ông hỏi, giọng cố tỏ ra không sốt ruột.

- Thủng két nước, ông ạ. Người lái xe đáp khẽ, nhưng lại chợt giật mình chồm lên, gào vào trong xe lúc đó ánh đèn vừa lóe dậy vàng đục; Tắt đèn! Tắt đèn đi, chị ơi!

Người đàn ông quay đầu lại. ánh đèn trong xe vừa bật - chắc là người phụ nữ định tìm cái gì đó - đã tắt ngấm. Người phụ nữ kêu len the thé chừng như bực bội.

Người đàn ông bước lại xe nhún vai. Trong xe, im thin thít. Cả hai đều tự hiểu một cách thật sâu xa rằng, ánh sáng lúc này là mục tiêu của bao điều hung hiểm. Tốt nhất là im lặng trong đêm và chờ đợi. Nhưng mà chờ đợi bao lâu nữa? Thủng két nước giữa chốn này!

Người đàn ông đứng tựa lưng vào cửa xe như chở che cho vợ, nhìn anh lái lúi húi ở đầu xe, chốc chốc lại thở dài vô vọng.

Nhưng bỗng, thình! Nắp ca-bô xe đập xuống. Người đàn ông bước nhanh lên đầu xe. Người lái xe đang lau tay.

Lát sau, ông quay lại, mở cửa xe, gieo mình xuống cạnh vợ, thở phào sung sướng:

- Thủng két nước! Nhưng, thật là kỳ diệu! Thật là kỳ diệu!

- Chữa được rồi. Bốp? Người phụ nữ níu vai chồng riu ríu: Chữa xong thật rồi à! May quá!

- Anh ta đã chữa. Bằng gì em có biết không? ở Cu-ba năm sáu mươi, anh cũng gặp một ca như vậy. ở Ăng-gô-la vừa rồi chiếc xe chở anh cũng rơi vào tình cảnh tương tự, người lái xe bít lỗ thủng bằng xà phòng. Còn ở đây, bây giờ, anh lái xe người Việt này chít các lỗ thủng bằng cứt trâu! Thật là kỳ lạ!

Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #49 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2008, 10:58:32 am »

CHUYẾN XE ĐÊM (Tiếp)

Thật là kỳ lạ! Lúc chiều tối, họ đã gặp những chiếc xe từ chiến trường về, đi ngược chiều với họ. Nhiều chiếc không kính. Có chiếc dùng đèn pin thay đèn pha và cả hai vợ chồng đều cười như nắc nẻ khi thấy một chiếc xe trên nóc buồng lái đặt một phuy xăng hỏng. Xăng đã theo vòi cao su rỏ thẳng xuống đầu máy, chắc là bơm xăng hỏng. Họ đã băn khoăn tự hỏi: những người chiến sĩ kia, vì lẽ gì mà vất vả thế? Họ đem thân họ đến đây nào có phải giải phóng cho đồng bào họ? Ai cũng biết người Việt đã trải qua hơn ba chục năm chiến tranh trên đất nước của chính mình rồi. Người phóng viên đã hỏi câu đó với một vị chỉ huy ở biên giới. Người chỉ huy nguyên là một thầy giáo dạy tiếng Pháp. Ông không trả lời thẳng vào câu phỏng vấn của nhà báo: "Theo chỗ tôi biết, trong ngôn ngữ tất cả các nước châu Âu, đều có chữ tình. Tình yêu, tình bạn, tình gia đình, tình thầy trò - Ông nói điềm đạm - Nhưng trong tiếng Việt chúng tôi, cạnh chữ tình còn có chữ nghĩa: nghĩa, về phương diện nào đó, là kết tinh của chữ tình, nghĩa vợ chồng, nghĩa bạn bè, nghĩa xóm giềng lân bang…". Đó là một điều mới lạ nữa đối với người phóng viên.

Và bây giờ thì xe đã chữa xong, tiếp tục lăn bánh, người phóng viên lại có cảm giác ngỡ ngàng, mỗi bánh xe lăn là một bước đi vào những điều chưa biết, từ cảnh quan tới không khí, cảnh trời.

"Mùa khô kéo dài sáu tháng. Người đàn ông nhớ tới một trang sách trong cuốn sách khảo cứu về đất nước này mà ông đã được đọc rất kỹ trước khi qua đây. Bạn có thể nhìn thấy cây thốt nốt xa tít ở chân trời chỉ còn nhỏ bé, đơn côi như ngọn cỏ, đứng chơ vơ như chứng nhân từ tiền sử. Đất phù sa cổ khô, chờ mưa xuống sẽ xuê ra, tơi tả. Lúc ấy người Khơ-me sẽ sạ lúa, cứ mỗi mẫu là 60 cân hạt. Cây lúa cao lên, họ sẽ bừa ào đi. Cây yểu tự chết. Cây nào sống sót thì sống mạnh mẽ, mãnh liệt, y hệt con người ở xứ sở này. Đất nước sống bằng gạo và khô cá này ngờ đâu đã có lịch sử từ 2500 năm trước Công nguyên, đã trải qua các vương quốc, vương triều…".

Bánh xe chạm đánh kịch vào gờ một chiếc cầu, cắt đứt dòng suy tưởng của người đàn ông. Cả hai vợ chồng cùng hơi bị xô về phía trước. Và họ cũng nhìn thấy lố nhố trong bóng đêm ba bốn cái mũ sắt cùng mấy ngọn súng tiểu liên. Người lái xe ngoảnh ra cửa, đưa tay lên chào những người gác cầu, nói cái gì đó và chiếc xe lại lăn đi ngay.

Sự gặp gỡ thỉnh thoảng một chiếc cầu và các trạm gác vừa làm cho vợ chồng người phóng viên yên lòng, lại vừa gây cho họ cảm giác phấp phỏng.

Xe cách cầu được một quãng, người lái xe trẻ tuổi quay lại, vẻ như bâng quơ:

- Không có bộ đội thì trong vòng một ngày, chiếc cầu sẽ bị bọn phỉ phá sập ngay.

Người phụ nữ co người lại sau câu nói đó. Nhất là lúc này đêm bỗng trở nên nhờ nhờ sáng, người đàn ông háo hức vì nghề nghiệp, đã chuyển lên ngồi ở ghế trước và không khí trở nên hắt hiu khác thường. Đêm mờ càng hiện ra sự vắng vẻ, cái vắng vẻ chứa chấp những bất trắc khôn lường.

- Một đất nước huyền thoại và trữ tình, Rô-da ạ. Người chồng quay lại, đắm chìm trong suy tưởng, thoát khỏi cái hiện thực lạnh lẽo ngoài kia. Người vợ đã bíu lấy cổ chồng, giọng lạnh run:

- Bốp. Lạy chúa! Sao chúng ta không đợi sáng mai hãy đi.

- ờ, nghề nghiệp của anh, Rô-da à, trong tĩnh lặng buổi đêm ta nhìn được chiều sâu của các sự kiện.

- Lạy Chúa! Em vừa đọc xong "Chùm nho uất hận" của Stenbéc. Sao em có cảm giác chúng ta đang ngồi trong chiếc xe Hudson của gia đình Tôm đi về miền Ca-li-phoóc-nia xa xôi, vô định quá.

- Đừng nghĩ u ám thế, Rô-da.

- Lạy Chúa, trong cuộc di cư tuyệt vọng ấy, thoạt đầu là ông nội Tôm chết, kế đó bà nội Tôm…

Người đàn ông lắc đầu, im lặng. Cái rùng mình từ người phụ nữ lan sang ông, lướt qua ông, để lại trong ông một cảm giác lửng lơ. Và khi thấy xe chạy gần một tiếng đồng hồ nữa mà không gặp lại một chiếc cầu nào thì ông thấy nỗi lo sợ của người vợ là hợp lý. Ông cũng thấy mình như đang chờ đón một cái gì đó như là sự may mắn, điều rủi ro, và các chức phận cảm giác của ông căng dần lên, làm ông khó chịu.

Thấm nhiễm khắp không gian là cơn tê giá của những hãi hùng tưởng tượng mà hết sức đáng sợ. Trời đất trống tuếch, nhưng dường như ở bất cứ nơi nào đó cũng có thể nẩy ra một cái gì đó rất bất ngờ, ở ngoài sự phỏng đoán của con người.

Sự tương phản tình cảm ở trong xe, đối cực với trạng thái tâm lý của người phụ nữ và phần nào của người đàn ông, là trạng thái tinh thần của anh lái xe. Anh còn rất trẻ trong bộ quần áo lính, những bộ quần áo lính không bao giờ mới, nhưng bao giờ cũng làm cho người mặc trẻ ra. Chỉ độ hăm mốt, hăm hai, anh có một khuôn mặt không thật đặc sắc, nhưng dễ mến, nhìn bán diện, cái trán hơi dô, gò mũi cao và cái cằm thon lẹm, nhỏ, hệt cằm con gái. Song đáng chú ý nhất là con mắt. Xe chạy không đèn. Nhưng mắt anh là ngọn đèn. Hình như nó phát ra hai luồng sáng. Và con người trẻ tuổi ấy lại diễn tả sự bình tĩnh đến mức người đứng tuổi vốn có ưu thế này, phải ghen tị. Sự bình tĩnh thuần thục và tự nhiên làm sao. Đó không phải là sự lên gân cố tình, hay thái độ vô tư lự, không hiểu biết. Cũng chẳng phải là sự phớt lờ, khinh bạc. Sự bình tĩnh vì từng trải, vì làm chủ được sự vật, hòa hợp một cách thật nhuần nhuyễn với cái gì đó như là một bản lĩnh chiến sĩ, có thể hiện lên thành hình hài cho một kiệt tác điêu khắc.

Người phóng viên phương Tây cảm nhận điều đó không thật rõ ràng, nhưng ông muốn ghi lại hình ảnh này trong ký ức và ông đang tìm từ ngữ, phong điệu để định hình sự diễn đạt. Nhưng, ông bị đột ngột.

- Ông nên ngồi ra ghế sau đi.

Người lái xe bỗng ngoảnh sang người phóng viên, nói khe khẽ, nét mặt không hề thay đổi, nhưng đó là một nét mặt khó miêu tả nhất vì đằng sau cái thần thái tự nhiên ấy là cái mênh mang, sâu thẳm của tinh thần. Người phóng viên dò doán, cố nắm bắt cái tinh thần ấy thì người lái xe đã thêm:

- Ngồi trên ghế trên này nguy hiểm đấy, ông ạ.

Lần này giọng nói của người lái xe có vẻ nghiêm trang. Lập tức, người phóng viên cảm thấy bị xúc phạm.

- Tôi đã từng ở mặt trận Pa-lét-xtin. Tôi đã ở bãi biển Hi-rôn Cu Ba khi bọn Mỹ bị đánh trả tơi bời. Tôi vừa ở Ap-ga-ni-xtăng về…

Người lái xe quay lại, hai con mắt thông minh chớp chớp. Anh hiểu ông nhà báo, nhưng hơi mỉm cười:

- Ở đây, bọn tàn quân Pôn Pốt nó ranh ma lắm, ông ạ. Phát súng đầu tiên nó dành cho người lái. Phát sau là một quả B41. Tháng trước có một ông bị vạ lây với tôi vì thế, may chỉ bị thương. Vả lại đừng nên để bà ấy ngồi một mình.

Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM