Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:53:40 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tuyển tập truyện ngắn về người lính  (Đọc 183617 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #70 vào lúc: 31 Tháng Năm, 2008, 09:06:54 pm »

NGƯỜI CÙNG SƯ ĐOÀN (Tiếp)

Tiền trong tủ nhà Khánh còn nhiều, nhưng mỗi lần rút ra cũng làm vợ Khánh thắt cả ruột. Thôi đã trót thì phải chét vậy. Chị đành giao tiền cho Hoán. Hoán mang đi trăm triệu đồng. Đi hết ba ngày. Hôm về Hoán trả lại cho vợ Khánh một nửa tiền. Không biết nửa tiền kia Hoán có giao cho ai không, nhưng chủ đầu tư công trình nhà thanh niên tỉnh S đồng ý thực hiện hợp đồng đã ký. Vợ chồng Khánh mừng thôi là mừng, tin thôi là tin. "Chú ấy tốt lắm chứ. Việc êm như thế chú ấy bảo hết cả trăm mình làm gì được nào?". Rồi từ cái sự tin đó Hoán được vợ chồng Khánh giao cho việc cai quản hai công trình đã nhận. Công trình đầu tiên là cho chủ tịch H. Nhà riêng nhưng quy mô cũng chẳng kém trụ sở một cơ quan Nhà nước. Hoán đã ngửi được mùi thơm ngậy của công trình này. Chủ tịch tỉnh thì tiền nặng túi lắm, thanh quyết toán sẽ rất nhanh. Càng mừng thầm trong bụng, Hoán càng thấy sự ra đi của Khoán là rất khờ dại.

*
*   *

Công trình nhà riêng của chủ tịch H. gần kết thúc, Hoán mới ngã ngửa ra rằng, giám đốc Khánh chỉ có thể là một công nhân xây lát. Một giám đốc không chỉ có cái nhìn bao quát mà còn phải rất cụ thể. Nhận một công trình phải tính ra được sự lời lãi thế nào? Phải bỏ vào đó bao nhiêu tiền. Và làm xong anh được bao nhiêu tiền. Đằng này nhờ vợ đi "xin" công trình, còn anh ta ký ào. Theo nhẩm tính sơ sơ của Hoán, ngôi nhà của chủ tịch tỉnh H. không những không có lời mà có thể âm. Công trình nhà thanh niên cũng chẳng mầu mỡ gì. Thật ra nếu giám đốc Khánh không tính toán được thì phải chọn tham mưu giỏi, chọn được kế toán, tài vụ dốc tâm, dốc sức vào công việc. Khốn thay, bộ máy hành chính của giám đốc là một loạt người không có công ăn việc làm, đến ôm lấy chân giám đốc xin xỏ công việc. Giám đốc rủ lòng thương nhận tuốt vào cơ quan. Có những người anh không biết bố trí làm gì. Giám đốc thích vui vẻ, thích đông người để công ty có bề thế. Vậy thôi! Lúc đầu, người ta chưa đòi hỏi lương lậu gì. Nhưng được vài tháng bắt đầu thắc mắc đủ kiểu. Tiền trong túi giám đốc cũng vơi rồi, vả lại còn bao nhiêu việc lớn lao hơn, ví dụ công trình đang xây dở kia. Thế là anh tìm cách lảng tránh. Những ngày này, thậm chí anh chui lủi ở đâu không ai rõ. Mọi việc giao hết cho Hoán. Hoán thành trung tâm của con nợ. Nợ cán bộ công nhân viên cơ quan, nợ khách hàng, nợ hàng xóm, nợ họ hàng nhà Khánh… Đủ thứ nợ.

Một năm cật lực làm việc cho công ty, Hoán cũng chỉ đủ tiền ăn xài, chưa gửi được cho vợ con đồng nào. Vậy nhưng bề ngoài anh lại mang tiếng là được vợ chồng giám đốc chiều chuộng, tiền lương thừa mứa. Anh biết Khánh không kẹt xẻn gì với anh. Khánh đã hứa khi xong công trình sẽ giao cho Hoán một "cục" gửi về nhà luôn thể. Không thể có cái "cục" ấy nữa rồi. Cán bộ công nhân viên có người gần cả năm nay chưa được giám đốc chi cho đồng nào. Họ ngao ngán trông đợi vào ngày bàn giao công trình. Biết công trình là con số không, họ sẽ bỏ đi, không nói là sẽ nổi loạn. Lẽ ra, Hoán phải gặp giám đốc bàn bạc. Nhưng ghét thay, vợ giám đốc lại không thích điều đó. Đến nhà, anh và giám đốc nói một thì bà giám đốc nói hai. Đi đâu, bà tính từng phút, từng giờ. Bà làm như thể ai gần chồng bà thì móc hết túi tiền hoặc xúi bẩy chồng bà làm những chuyện dại dột không bằng. Anh ít đến nhà giám đốc, ít bàn bạc với giám đốc là vì vậy. Anh vẫn ngỡ giám đốc không đến nỗi ất ơ đến thế. Khi anh biết thì mọi việc đã quá chậm. Không! Phải tìm cách lo liệu cái thân mình thôi.

*
*   *

Một mảng tường lớn ở tầng hai ngôi nhà đang xây của chủ tịch tỉnh H. mới sáng sớm tinh mơ đã đổ đánh "rầm". Các nhà bên cạnh hốt hoảng tưởng có bom nổ cạnh nhà. "Thôi rồi! Chắc khi làm không tính ngày tính tháng, không cúng bái tử tế…". Rất nhiều người đoán già đoán non như thế. Khánh, mặt, tóc, quần áo trắng bụi, chui ra từ đống gạch vữa lộn nhộn ấy: tay bóp vụn một nắm hồ rơi lả tả xuống đất: "Trộn cát với xi măng ẩu thế này không đổ sao được". Răng anh nghiến ken két, nước mắt dân dấn. "Thế anh Hoán đâu, anh Hoán đâu hả?". Khánh hỏi đám thợ. Họ cũng đang buồn nẫu ruột, trả lời nhát gừng: "Sao sếp lại hỏi chúng tôi? Cả tuần nay có gặp anh ta đâu?. Trời ơi! Lạ! Đúng lúc ấy bà xã ông chủ tịch tỉnh H. trong bộ áo váy sặc sỡ, xăm xắm bước thẳng tới trước mặt Khánh.

- Anh làm ăn thế đấy phải không? Thế mà nói thì ngọt như mía lùi. Bây giờ anh định sao! Để chúng tôi còn liệu!

- Chị cứ bình tĩnh, sẽ hoàn tất ngôi nhà cho chị là được chứ gì?

- Được là được làm sao? Thợ thuyền anh làm ăn thế mà bảo được. Các anh đang ở đây mà đã xảy ra thế này, các anh biến rồi chúng tôi níu vào đâu hử. Trời ơi! Thế mà có ít công nợ đến đòi chèo chẹo.

Khánh ngơ ngác. Ơ hay, đòi nợ là thế nào. Ngôi nhà này, công ty bỏ vốn ra đã lấy đồng nào đâu? Phải đến tận khi vợ chủ tịch dí tận tay Khánh tờ ghi nhận đã lĩnh tiền do Hoán ký nhận anh mới ngã ngửa ra. Đúng là anh đã phải cố gắng lắm mới khỏi đổ kềnh ra như bức tường kia. Cái thằng Hoán khốn nạn đã lạm dụng sự tin cậy của anh đến thanh toán số tiền xây dựng ngồi nhà này rồi. Lẽ nào nó biến như con mẹ hàng lươn. Sao lại có kẻ vô lương tâm đến vậy chớ? Sao lại có thằng phản bạn đến thế chớ!

Bây giờ thì không còn cách nào khác, chính Khánh phải tay thước, tay bay ra hiện trường làm việc. Anh chỉ huy trộn xi măng với cát theo tiêu chuẩn quy định, anh giăng dây rợ, hò hét thợ cùng làm với anh. Chỉ ở công trường, con người anh mới hiện nguyên hình là anh, hoạt, năng động. Nhưng đấy cũng chỉ là những lúc sự đam mê nghề nghiệp làm anh hứng chí. Còn ra, khi nghĩ đến công nợ phải trả, nghĩ đến món tiền Hoán đã cuỗm đi, chân anh lại run, tay loắng ngoắng, mắt mờ mịt, đất trời như chao đảo. Trời đất ơi! Thế mà lại còn một công trình nữa anh đã ký. Ai sẽ gánh vác với anh? Chia sẻ với anh trong cơn hoạn nạn này? "Roắc - đùng". Cùng với tiếng gãy đổ của giàn giáo, của bức tường đang xây, người ta nghe những tiếng "rầm rầm" tiếp theo là tiếng "ối, ối". Khánh có một cảm giác rất lạ. Đứng trên giàn giáo mà anh hẫng hụt chơi vơi. Thôi chết rồi, hình như chân móng ngôi nhà đang tụt, kéo theo cả mảng tường. Khi anh kịp nghĩ được như vậy cũng là lúc không thể nghĩ được gì nữa. Anh cùng ba người nữa đã rơi từ độ cao trên hai mét xuống đất, miên man, bất tỉnh. Công trường nhộn nhạo hẳn lên. Tiếng than khóc, tiếng bước chân rầm rập, tiếng xe cấp cứu rú còi. Lúc này thật là "Hoạ vô đơn chí" đối với gia đình giám đốc Khánh.

Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #71 vào lúc: 31 Tháng Năm, 2008, 09:08:18 pm »

NGƯỜI CÙNG SƯ ĐOÀN (Tiếp)

Trong căn phòng làm việc sang trọng của tổng giám đốc công ty Clê-xi-mếch, có ba người đang mang ba tâm trạng khác nhau. Thanh đi đi lại lại trong phòng, mặt đăm chiêu:

- Anh nói thật đi, anh Khoán, tôi hoặc công ty có lỗi gì với anh, có điều gì không đáp ứng được yêu cầu của anh?

- Anh đừng nghĩ như thế! Không đúng với bản chất của tôi và sẽ làm cho mọi việc nặng nề ra. Tôi vốn là một người lính, có gì tôi nói thẳng, nói thật. Anh rất tốt với tôi. Tôi không có gì phàn nàn về tổng công ty cả. Có điều Khánh cũng là bạn chiến đấu của tôi trước đây, bây giờ đang cơn hoạn nạn, tôi muốn giúp Khánh, vậy thôi.

- Còn tôi, không là bạn của anh chắc. Và ai bảo đảm rằng anh đi khỏi cái công ty xây dựng này, những công trình dang dở kia không sụp đổ như bên công ty của Khánh.

- Không có! Anh yên tâm đi. Công ty anh Khánh thế nào thì anh biết rồi. Anh nói đúng, cũng là bạn với nhau cả nhưng rõ ràng là Khánh đang gặp hoạn nạn, cần có bàn tay bạn bè hơn. Còn công ty xây dựng của tôi anh khỏi phải băn khoăn.

- Tôi biết, tôi biết. Công ty của anh đang có uy tín, đang có nhiều công trình, đang làm ăn phát đạt… - Thanh ngắt lời Khoán, giọng có chút hờn dỗi.

- Tôi không nghĩ như thế. Tôi muốn nói rằng hai phó giám đốc của công ty còn trẻ, có trình độ. Một trong hai người lên làm giám đốc thay tôi đều được cả. Và thú thật, cũng cần có chỗ để thử thách họ, để họ phát triển. Giám đốc chỉ có một cái ghế, mình ngồi miết, để họ đấy hở anh?

Trong khi Khoán cố khôi hài để không khí căn phòng không tràn ngập sự nặng nề buồn tủi thì chốc chốc vẫn có tiếng thở dài não ruột của tổng giám đốc Thanh và tiếng thút thít của vợ Khánh. Mới mấy ngày mà trông chị già đi đến sợ. Tóc trổ những mảng xám trắng. Mặt hốc hác, đuôi mắt lộ rõ những nếp nhăn. Quần áo không còn được chải chuốt như trước, mà xồ xệch, lếch nhếch. Hành động cử chỉ của chị đôi lúc như của người hoá rồ. Thì đó, chị đang chạy lại tổng giám đốc, quỳ xuống, tay vái lia lịa:

- Xin anh, cả nhà tôi, cả họ hàng nhà tôi cám ơn anh. Tôi chắc phải tự tử nếu anh Khoán không đến giúp chúng tôi. Chúng tôi đang sạt nghiệp vì nợ. Công trình thì tan nát thế kia mà không có ai lo liệu được… Anh hứa đi anh Thanh. Anh cho anh Khoán đi chứ. Các anh là bạn bè cũng từng sống chết với nhau cả…

Chính câu sau cùng rất tỉnh táo, rất khôn ngoan của vợ Khoán làm Thanh mủi lòng. Thật ra, chịu để cho người ta rước đi một giám đốc trung thực, giỏi giang như Khoán khỏi cơ quan mình chỉ có là điên. Nhưng anh biết làm sao trong hoàn cảnh thật đáng thương này. Dẫu thế, anh cũng chỉ có thể đáp ứng một phần nguyện vọng của vợ Khánh. Anh biết hai phó giám đốc mà Khoán đào tạo có thể thay được Khoán. Những công trình, công ty đang xây dựng là vững chắc nhưng không vì thế mà anh bỏ mặc Khoán. Khoán là bạn, là đồng nghiệp, là người khởi đầu gây dựng và đưa công ty xây dựng này lên. Biết bao công lao. Lúc này là lúc công ty đang gặt hái, Khoán lại bỏ đi để hứng lấy cái "cơ đồ" đang đổ nát của Khánh, anh yên tâm sao được.

- Tốt nhất là thế này - Thanh chậm rãi. - Tôi đồng ý cho anh Khoán qua đó, tính toán lại lời lãi cho công trình, xốc xách lại đội hình… Nhưng với điều kiện đi giúp thôi. Anh vẫn là giám đốc ở đây, hưởng mọi chế độ ở đây. Khi nào bên ấy yên ổn, anh lại về đây.

- Anh Thanh, rất cảm ơn anh, nhưng như thế tức là anh không hiểu gì về tôi rồi. Tôi không thể không làm gì mà lại hưởng tiêu chuẩn ở đây được, dù anh và công ty không phàn nàn gì. Tôi hiểu như thế, nhưng cũng phải biết ngượng, biết áy náy khi nhận những thứ không do công sức của mình làm ra chứ? Và tôi nói thật với anh, trước đây chính tôi bỏ công ty của Khánh là vậy. Với tôi, mọi việc phải rõ ràng. Mỗi người phải gắn trách nhiệm của mình vào một công việc cụ thể, sống chết với nhiệm vụ cụ thể đó… Ở nước mình, có quá nhiều người cái gì cũng làm, cái gì cũng biết, được cất nhắc lên vị trí nào cũng nhận. Thực ra cái gì cũng lơ mơ láng máng, bổng lộc thì hưởng quá nhiều. Cần phải có một cuộc cải cách. Khi nào chấm dứt được việc này, đất nước mới có cơ khá lên được. Công ty Khánh và cả Khánh sụp đổ anh biết vì sao không? Không có nền móng vững chãi.

- Ô hay - Thanh kêu lên. - Nhưng chắc gì bên ấy đã chấp thuận ý tưởng của anh? Chắc gì người ta để cho anh gây dựng một nền móng mới theo cách của anh?

Vợ Khánh không còn khóc nữa. Hình như chị cũng chỉ đợi đến lúc này để nói rành rẽ, khẩn thiết về những điều chị và chồng đã bàn, đã thoả thuận với nhau. Khánh đang nằm viện, chân bị gãy chưa biết lúc nào mới đi lại được. Mà có đi lại được thì Khánh cũng sợ cái chức giám đốc lắm rồi. Anh chị sẽ dành toàn bộ sự quyết định nơi Khoán. Khoán sẽ làm giám đốc mãi mãi, sẽ có quyền tuyển người, loại người khỏi công ty. Khánh sau này có sức khoẻ cũng chỉ làm anh thợ chính, anh đốc công, đó là sự công bằng, là công việc phù hợp với con người và khả năng của Khánh… Vợ Khánh dẫn giải những điều đó với Thanh và Khoán.

- Nên thế! - Thanh nói - Nếu cần một lời khuyên, tôi cũng sẽ khuyên Khánh nên thế!

- Có nghĩa là anh đồng ý cho tôi đi rồi đấy nhé. - Khoán phá lên cười. - Tối nay nếu anh không bận tôi và anh vào viện thăm Khánh.

- Hẳn thế rồi, nhưng đến đó tôi sẽ có một phương án, của riêng tôi. Phương án này vừa cứu vãn được Khánh, giúp sức được với anh, mà tổng công ty này lại không mất đi một người tài.

- Tôi cũng ngầm đoán ra phương án của anh rồi đấy.

Họ cười vui vẻ đi ra khỏi phòng.

N.B.

 

Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
trachvandung
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 747



« Trả lời #72 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2008, 10:03:51 am »

Nguồn : http://elib.quancoconline.com

Tôi và Cường không chỉ là bạn đồng niên, đồng học mà còn là đồng đội thời kháng Mỹ. Hết chiến tranh, hai đứa cùng về học Đại học Quân sự trên Vĩnh Yên, rồi tôi vào thành phố Hồ Chí Minh sống và làm việc.
 
Gửi phương xa - Tranh của Dương Bích Liên
Gần ba chục năm sau ngày ra trường, vợ chồng Cường mời tôi ra thăm Hà Nội.
Ở Hà Nội đã được ba ngày. Nhanh thật! Chiều nay ngủ dậy muộn, tôi rời khách sạn lững thững ra vườn hoa Hàng Đậu. Cứ thế bách bộ dọc đường Quán Thánh. Hồ Tây đây rồi, mặt hồ lấp lánh trong nắng chiều. Lần ra quán Bánh tôm Tây Hồ ngày xưa, vẫn còn đây gốc si già quen thuộc.
Tìm lại đúng vị trí thuở trước bọn tôi hay ngồi mỗi lần về phép, sau khi gọi một phần bánh tôm tôi còn nhắn theo: “Nhớ cho chú nhiều nước chấm đấy nhé!”. Cô bé phục vụ tủm tỉm cười mà chả hiểu cô cười vì cái nỗi gì?
Đang “gặm nhấm” những kỷ niệm cũ bỗng có tiếng phụ nữ: “Xin lỗi anh, hai chúng tôi có thể ngồi đây được không?”. Tôi ngẩng lên, trước mặt là hai phụ nữ, họ không còn trẻ nhưng đều đẹp. Tôi để ý cô lớn tuổi hơn có một nốt ruồi phía trên môi.
“Tôi chỉ có một mình. Xin mời hai chị!”, rồi kéo ghế mời khách. Họ cảm ơn. Sau khi đã yên vị, cô ít tuổi nói: “Chị Hạnh ơi, hôm nay em chiêu đãi nhé! Chị chọn món đi!”. Vừa nói cô vừa đưa thực đơn về phía bạn mình. (Chẳng hiểu sao hai người phụ nữ kia lại chọn đúng cái bàn mà tôi đang ngồi, trong khi những bàn khác gần đó còn trống? Chắc họ cũng có một kỷ niệm nào đó như tôi ở cái bàn này?).
… Ngay lúc đầu, nhìn người phụ nữ lớn tuổi với nốt ruồi trên môi tôi đã nhớ mang máng đã gặp chị ở đâu? Khi lục lọi trong bộn bề ký ức mà không thể nhớ đã gặp người phụ nữ này trong hoàn cảnh nào.
Họ chuyện trò tự nhiên. Tôi cố không chú ý đến câu chuyện họ đang trao đổi. Chỉ loáng thoáng, họ là hai người bạn cũ lâu ngày gặp nhau, một người vẫn ở Hà Nội, còn người kia hình như ở nước ngoài mới về.
Bỗng có tiếng chuông điện thoại, người phụ nữ ít tuổi xin lỗi bạn ra ngoài. Còn lại người phụ nữ lớn tuổi, chị quay sang phía tôi: “Xin lỗi nếu có gì phiền mong anh bỏ qua! Chúng tôi là bạn cũ lâu ngày gặp nhau. Ngày xưa chúng tôi thường hay ngồi ở đây. Hôm nay biết là phiền anh nhưng chúng tôi không muốn vị trí khác. Mong anh thông cảm!”.
- Không sao, chị đừng bận tâm!
Lúc này tôi mới có cớ để xen vào câu chuyện của họ:
- Xin lỗi, chị tên là Hạnh?
- Sao anh biết?
- Tôi thấy người bạn của chị gọi như vậy… À, mà hơi tò mò một chút, nếu không phải chị bỏ quá cho. Chị làm nghề giáo phải không?
- Ôi! - Chị ngạc nhiên - À… vâng, ngày xưa, tôi từng là giáo viên, dạy văn nhưng bỏ nghề lâu rồi.
- Có thời gian nào chị dạy ở Trường cấp III Quảng Yên?
- Trời! Sao anh biết? - Chị ta trân trân nhìn tôi.
Lúc này thì tôi đã nhận ra trước mặt mình là người đàn bà mà tôi quen biết hơn ba mươi năm trước. Đúng là cái tên Hạnh và nốt ruồi trên miệng đã làm tôi lờ mờ nhận ra thoạt đầu mới gặp.
- Chị Hạnh! Chắc chị không còn nhớ em? Phan đây.
- Trời ơi! - Người phụ nữ thảng thốt - Phan! Có thật Phan không? - Rồi hai tay đưa lên ngang ngực như cố kìm nén cảm xúc của mình.
Chị nhìn vào tôi với đôi mắt nước lồng quanh. Một khoảng lặng không ai nói một lời. Chờ cho xúc động vơi đi, chị mới nói:
- Hơn ba mươi năm rồi, Phan thay đổi thế này làm sao mà nhận ra? Nhiều năm qua chị đã cố tìm Phan mà không gặp. Bây giờ Phan ở đâu? Cứ tưởng chiến tranh đã cướp nốt Phan rồi…
Người bạn của chị cũng ngạc nhiên không kém về sự gặp gỡ của hai chúng tôi, cô cứ để cho chúng tôi trò chuyện. Vì chị đã có hẹn tối nay, còn tôi cũng không muốn để vợ chồng Phương phải đợi cơm chiều. Cho chị số điện thoại, địa chỉ khách sạn, hẹn gặp lại, chúng tôi chia tay nhau.
... Quen chị Hạnh vào đầu năm 1972 khi đơn vị tên lửa của chúng tôi cơ động về trận địa dự bị ở thị trấn Quảng Yên. Quảng Yên là một thị trấn nhỏ, cách Hải Phòng khoảng 30-40 km, trên đường đi Bãi Cháy.
Sau khi tốt nghiệp phổ thông năm 1971, tôi nhập ngũ và được tuyển vào bộ đội tên lửa cùng một số sinh viên. Đơn vị chúng tôi được lệnh gấp rút huấn luyện chuyển loại tên lửa mới.
Sau gần một năm huấn luyện, đơn vị được điều động về Hải Phòng, bảo vệ thành phố Cảng, chuẩn bị đánh trả lại chiến dịch tập kích của không quân Mỹ cuối năm 1972.
Trận địa nằm trên quả đồi nhỏ. Khi chúng tôi đưa khí tài về thì trận địa đã được chính quyền địa phương huy động nhân dân góp công sức làm xong. Chỉ còn việc triển khai đội hình và bắt đầu luyện tập các phương án tác chiến.
Ngày ấy, tôi là một chàng trai 18, cao 1m70, trắng trẻo đẹp trai, ham mê nhiều môn thể thao, lại thêm gần một năm ăn uống tập luyện đầy đủ theo chế độ đặc biệt nên càng vạm vỡ và sung mãn.
Bên trong cơ thể cường tráng ấy là một tâm hồn tươi trẻ, lãng mạn, đầy nhiệt huyết. Ngoài thời gian trực chiến, chúng tôi hay đá bóng và hoạt động văn nghệ. Tối tối vẫn có kẻ chong đèn làm thơ, đọc tiểu thuyết.
Tôi là ủy viên Ban chấp hành đoàn. Chi đoàn đơn vị kết nghĩa với chi đoàn Trường cấp III nơi chị Hạnh dạy học. Chị là Bí thư Đoàn trường, lúc đó khoảng 24 hoặc 25, đã có chồng và có một con gái nhỏ. Chồng chị tên Sơn, là hoạ sỹ, công tác ở Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Quảng Ninh.
Cơ quan mãi tận thị xã Hòn Gai, thỉnh thoảng vài tháng anh mới về thăm nhà. Cháu gái tên Hương, mới hơn một tuổi… Tôi cũng không mấy quan tâm đến đời tư của chị mà chỉ biết chị là người Hà Nội, là đồng hương.
Do quan hệ công tác nên hai chị em thân và quý nhau. Đơn vị có tôi và Cường là dân Hà Nội; ngày nghỉ chúng tôi thường ra nhà chị. Căn nhà cũ kĩ nằm bên trong thị trấn, mái lợp ngói âm dương, phía dưới là bếp và công trình phụ, phía trên có một căn gác xép đủ kê được một cái giường, một cái bàn làm việc và cái tủ nhỏ, sàn nhà lát bằng gỗ.
Trước nhà là khoảng vườn có cây dâu da to, bóng lá phủ kín sân. Chị nói nhà này là của một gia đình học sinh, không có ai ở. Cách đây hai năm sau ngày anh chị cưới, em học sinh nói với gia đình cho vợ chồng chị mượn.
Hàng ngày đi dạy học, chị gửi con cho bà cụ hàng xóm. Thường ra chơi với chị vào sáng Chủ nhật, khi thì giúp chị chẻ củi, khi thì giúp chị đi mua gạo, xách nước hay sửa chữa lặt vặt trong nhà.
Từ 16 tháng 4 năm ấy, chúng tôi bị cuốn vào những trận đánh. Suốt đêm 16, địch dùng nhiều loại máy bay, từ nhiều hướng đánh vào Hải Phòng, kể cả máy bay ném bom chiến lược B.52.
Đơn vị tôi bắn không biết bao nhiêu quả đạn nhưng hiệu quả rất thấp do bọn Mỹ sử dụng loại nhiễu mới, làm giảm khả năng phát hiện và điều khiển tên lửa.
Suốt một ngày một đêm mà đơn vị chỉ hạ được vài chiếc, trong khi đạn bắn lên với cơ số lớn. Đơn vị bị thiệt hại nhiều, một phần ba số trận địa bị đánh phá, có trận địa bị bom và tên lửa không đối đất san phẳng. Chưa từng thấy một chiến dịch tập kích nào của không quân Mỹ ác liệt và kéo dài đến thế.
Về cuối năm, mật độ máy bay Mỹ hoạt động trên không phận Hải Phòng thưa dần. Chúng tôi được phổ biến địch chuẩn bị lực lượng tập trung đánh lớn vào Hà Nội, tạo “quả đấm chiến lược” buộc ta thay đổi một số điều khoản trong “Hội đàm bốn bên” tại Pa-ri. Đơn vị tôi vẫn trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu cao.
Khoảng tháng 8 năm đó, vì đã lâu không ra thăm chị Hạnh, hôm ấy là Chủ nhật, Cường phải trực chiến tới 9 giờ mới hết ca, tôi hẹn: “Đã lâu rồi không ra thăm chị Hạnh. Chẳng biết mấy tháng qua bom Mỹ ác liệt thế, gia đình có sao? Chị còn ở chỗ cũ hay đi sơ tán theo trường? Tao ra trước, khi nào hết trực thì mày ra! Cứ tạt qua chỗ nhà cũ xem sao!”.
Qua đoạn đường nham nhở hố bom, một vài ngôi nhà bị bom làm sập và tốc mái. Thị trấn vắng vẻ quá. Hàng cây cơm nguội dọc hai bên đường đang mùa ra quả, những quả cơm nguội tròn nhỏ ly ty bằng đầu đũa chín đỏ, ẩn hiện trong vòm lá xanh. Làm tôi  nhớ lại tuổi thơ hay ngậm cơm nguội thổi bắn nhau bằng ống tre, ống trúc…
Logged
trachvandung
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 747



« Trả lời #73 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2008, 10:05:01 am »

Thật may khi ra tới nơi thì chị Hạnh có nhà. Thấy tôi, chị mừng lắm: “Thấy máy bay Mỹ đánh vào trận địa bọn em, chị lo quá. Trường thì sơ tán ở xa, vừa lo dạy vừa lo đảm bảo an toàn cho học sinh, chị không biết làm cách nào để tới thăm bọn em. Không biết có ai việc gì không? Chị mới về lại thị trấn tuần trước, đang định vào trận địa thăm bọn em”. Tôi nhìn quanh: “Bé Hương đâu hả chị? Anh Sơn có hay về?”. “Cháu chị gửi về Thuỷ Nguyên với bà nội. Còn anh Sơn đã nhập ngũ, đang huấn luyện ở Mai Sưu, Hà Bắc…”.
Thời gian trôi đi. Cuối năm 1972, vì có thành tích trong chiến đấu, tôi được chọn về tập trung tại Trường văn hoá của Quân chủng, ôn luyện chuẩn bị thi đại học vào tháng 7 năm sau.
Trước khi đi học, đơn vị cho nghỉ phép về thăm nhà trong dịp Tết. Mùa Đông năm ấy thật lạnh, mưa phùn cộng với gió mùa đông bắc làm cho da thịt thêm tê tái.
Nhận giấy phép buổi chiều, sau khi chia tay anh em trong đơn vị, Cường đạp xe đưa tôi ra bến  để đón xe về Hà Nội. Ra tới nơi, hỏi người trực bến thì được biết chỉ còn chuyến xe cuối ngày, khoảng 6 giờ tối mới chạy.
Tôi nói với Cường: “Thôi, mày về đi! Cứ yên tâm, tao sẽ đem thư và tới nhà thăm phụ huynh!”. Nhìn bóng Cường gò lưng đạp xe ngược gió, khuất dần sau dãy phố trong buổi chiều cuối năm u ám tự nhiên tôi thấy lòng mình buồn tê tái…
Đến 6 giờ rồi 7 giờ mà chẳng thấy chuyến xe nào. Bến xe vắng tanh. Phân vân xem có nên quay lại đơn vị rồi sáng mai đi sớm, tôi quyết định chờ thêm lúc nữa. Tới 9 giờ thì mọi hy vọng đều tiêu tan. Lòng bồn chồn phần vì đã lâu không được về thăm nhà, phần vì không hiểu trong đợt đánh phá của không quân Mỹ vào Hà Nội cuối tháng Chạp vừa rồi gia đình có làm sao?
Việc được chọn đi học cộng với cấp trên cho nghỉ phép Tết làm tôi xốn xang, hồi hộp. Nôn nao khó tả. Cho tới lúc này mới cảm thấy trống trải, cô đơn. Đang lang thang không biết nên ở lại bến xe hay quay trở về đơn vị, thì bỗng nhớ tới chị Hạnh. Việc quan trọng thế mà không báo cho chị, ít ra thì cũng xem chị có nhắn hoặc gửi gì về nhà. Thật chẳng ra làm sao, thế mà cũng mang tiếng chị em đồng hương thân thiết?! Tôi cảm thấy xấu hổ về sự bàng quan của mình.
Xốc lại ba lô, kéo cổ áo cao lên cho đỡ lạnh, tôi băng qua vài con phố nhỏ. Ánh đèn vàng hắt hiu. Đường phố thưa thớt bóng người, hai dãy phố cửa nhà đóng im ỉm, thỉnh thoảng một vài nhà có ánh điện le lói qua cánh cửa chớp khép kín. Từng đợt gió lạnh lùa những đám lá rụng trên đường nghe xào xạc. Chẳng mấy chốc tôi đã đứng trước nhà.
Thấy trong nhà có ánh điện, tôi gõ cửa. Tiếng chị Hạnh hỏi vọng ra: “Ai đấy?”. “Em đây, em Phan đây. Mở cửa cho em với!”, tôi nói qua khe cửa, rồi nghe tiếng bước chân gấp gáp. Vừa mở cửa chị vừa ngạc nhiên: “Sao Phan ra chơi muộn thế, có việc gì không em? Vào đi em!”.
Đỡ ba-lô cho tôi, chưa kịp nghe trả lời, chị đã hỏi: “Phan ăn cơm chưa, để chị nấu? Nhà có mì sợi, chị nấu mì với cà chua cho Phan ăn”. Trong khi chờ chị chuẩn bị đồ ăn, tôi nói rõ hoàn cảnh của mình. Chị nói: “Có gì đâu mà ngại. Cứ nghỉ lại đây, sáng mai ra bến xe cho tiện. Nhân thể chị gửi lá thư chúc Tết và ít tôm khô về cho bố mẹ chị”.
Ăn xong, chờ chị viết thư và gói quà, tôi cho tất cả vào ba-lô gọn gàng theo thói quen người lính. Định bụng sáng mai cứ thế “hành quân”, chẳng còn sợ quên gì. Trên giường, bé Hương đã ngủ từ chập tối.
Sau khi trải chiếu xuống sàn gỗ và lục tìm một hồi kiếm cho tôi chiếc chăn chiên, chị nói có phần ái ngại: “Thôi, Phan nằm tạm thế này nhé!”. Tôi nói: “Chị đừng lo, em mặc cả quần áo cộng với chiếc chăn này cũng ấm chán. Với lại bây giờ cũng đã hơn 10 giờ rồi, còn mấy tiếng nữa là sáng, chị cứ yên tâm!”. Chị giục tôi đi ngủ.
Lên giường với bé Hương, qua ánh sáng mờ mờ của ngọn đèn ngủ, chị còn nói chuyện mãi. Nghe chị kể mới biết anh Sơn đã vào chiến trường. “Thế là anh Sơn đã đi xa rồi, Phan ơi”, chị nghẹn ngào rồi im lặng.
Trong đêm nghe rõ tiếng chị thở dài và cả tiếng nấc. Từ lúc đó trở đi tôi không sao ngủ được, phần thì háo hức sắp trở về nhà, phần vì lạnh, phần nghĩ về hoàn cảnh của chị. Thương chị vô cùng. Ngoài trời từng đợt gió lùa qua tán lá của cây dâu da, nghe tê tái. Đâu đó tiếng chim đêm khắc khoải. Càng về khuya, trời càng lạnh, tôi trằn trọc không sao ngủ được.
Khoảng 1-2 giờ đêm đang thiu thiu, chợt nghe tiếng chị khe khẽ: “Phan không ngủ được à? Có lạnh lắm không? Hay… Phan lên giường ngủ với cháu cho đỡ lạnh?”. Vốn trong sáng và vô tư cộng với trời quá lạnh, tôi nghe theo chị. Trên giường, chị nằm trong, bé Hương nằm giữa, còn tôi nằm ngoài. Đang lạnh vớ được chăn bông ấm cộng với mùi thơm là lạ, đặt mình xuống chỉ mấy phút tôi ngủ như chết, chẳng còn biết trời đất là gì.
… Trong giấc ngủ, tôi mơ màng thấy đơn vị bị máy bay Mỹ tấn công. Bom và tên lửa bắn dữ dội vào trận địa. Cả trận địa ngập trong lửa và máu. Người tôi nóng bỏng. Tôi như bị thương. Cơ thể phía dưới bỏng rát. Hình như cả máu nữa. Thằng Cường ôm chặt lấy tôi, nó luồn tay lần sờ khắp cơ thể như muốn xem còn bị thương chỗ nào. Và, nó cởi hết quần áo tôi để cho cứu thương băng bó…
Giật mình tỉnh giấc trong cái cảm giác nửa tỉnh nửa mơ, mồ hôi vã ra. Rõ ràng trên cơ thể tôi là một cơ thể khác mềm mại và nóng bỏng đang ghì chặt. “Trời ơi, chị Hạnh!”. Chị vội đưa tay lên bịt lấy miệng tôi. (Tiếng kêu ấy trong tiềm thức hay vì ngạc nhiên, bối rối mà tôi kêu lên?). Chị hôn lên môi, lên má tôi, chị hôn khắp cơ thể tôi. Bàn tay chị mềm mại lướt trên da thịt tôi. Một cảm giác lâng lâng, bồng bềnh, lần đầu tiên trong đời tôi biết.
Lúc này lý trí hoàn toàn tê liệt, tôi chỉ còn hành động theo bản năng, làm theo bàn tay hướng dẫn, chỉ bảo của chị. Mò mẫm, ngập ngừng như một cậu học trò ngoan ngoãn. Dần dần chủ động hơn, tôi phản ứng lại mãnh liệt tình cảm của chị dành cho mình.
Tiếng chị rên khe khẽ. Chị cố kìm nén cảm xúc. Sợ bé Hương tỉnh giấc mà tự lúc nào con bé đã được chuyển vào phía bên trong. Dù với cái tuổi 18 đầy sung mãn, nhưng cũng bất lực trước cơn bão lòng dữ dội của người phụ nữ một con lại xa chồng trong một đêm đông đầy tâm trạng.
Đêm ấy không biết bao nhiêu lần tôi thức giấc. Mỗi khi tỉnh dậy thì mọi việc gần như đã an bài. Giống như trận địa sau khi giao chiến, tôi chỉ còn như người lính hậu cần đi phía sau làm nhiệm vụ dọn dẹp chiến trường. Chị chủ động tất cả. Rồi hai chúng tôi thiếp đi...
Mở mắt ra thì trời đã mờ sáng. Gỡ vòng tay chị đang ôm lấy mình, lồm cồm bò dậy, mặc vội bộ quần áo. Lúc này cảm giác tội lỗi dâng tràn. Qua ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn ngủ khuôn mặt thân quen ẩn dưới mớ tóc đen dày xoã trên gối, trông chị thật thanh thản. Tôi ôm vội chiếc ba-lô, nhẹ nhàng xuống thang gác. Lách mình qua cánh cổng, sau khi thò tay chốt lại khoá bên trong, tôi đi như chạy ra bến xe. May mắn vừa kịp chuyến xe sớm.
Mấy ngày nghỉ phép chóng vánh trôi qua. Trở lại đơn vị, giống như con chim non sợ cành cong, tôi trốn chạy không dám gặp lại chị, phải nhờ Cường đem thư và quà gia đình ra cho chị.
Trước khi đi học, tôi cũng không dám ra nhà để từ biệt. Sau khi tôi đi, đơn vị cũng được lệnh hành quân di chuyển... Từ cái đêm đông giá rét năm 1972 ấy cho tới hôm nay gặp lại chị vừa đúng 33 năm. Và chuyện ngày xưa tôi cũng đã quên, không còn nhớ nữa…
Tối nay, chị hẹn tới thăm. Đang chuẩn bị đồ uống để mời khách thì nghe tiếng chuông điện thoại. Đầu dây bên kia có tiếng cô bé tiếp tân: “Chú có khách. Cô ấy tên là Hạnh”. “ Đúng rồi! Cô ấy là khách của chú. Cháu mời cô lên!”. Có tiếng gõ cửa.
Chẳng kịp để tôi ra mở, chị đã ào vào phòng như một cơn bão. Chị nhào tới ôm lấy tôi. Chị gục mặt trên vai tôi mà khóc. Đôi vai chị rung lên trong tiếng nấc. Tôi vô cùng bối rối. Sự việc xảy ra quá nhanh làm tôi chẳng kịp phản ứng.
Phải mất đến mấy phút để cho những xúc động vơi đi, dìu chị ngồi xuống ghế, tôi lấy khăn lau nước mắt cho chị. Mãi sau chị mới khẽ nói: “Đêm nay, chị ở lại với Phan được không?”. “Chị ở đây cả tuần cũng được. Phan muốn nghe kể mấy chục năm qua chị đã sống ra sao?”.
Đêm ấy, chúng tôi không ngủ. Chị kể về quãng thời gian sóng gió, khó khăn và đầy biến cố của đời mình kể từ ngày anh Sơn vào chiến trường. “…Và sau cái đêm “giông bão” mùa đông năm ấy, rồi sau hiệp định Pa-ri về Việt Nam, miền Bắc trở lại sống trong hoà bình. Trường từ nơi sơ tán trở về thị trấn, chị tiếp tục dạy học. Cuộc sống ngày càng khó khăn.
Cuối năm 1973, chị sinh cháu trai, đinh ninh đó là giọt máu của anh Sơn để lại. Ngoài dạy học, chị làm thêm đủ nghề để sinh sống, hết trồng rau, lại nuôi heo. Chị học thêm cả nghề may để may gia công cho hợp tác xã.
Cuộc sống cứ thế trôi qua cho tới năm 1975, như bao người phụ nữ khác có chồng ra mặt trận chỉ mong ngày đón người chiến thắng trở về. Chờ mãi, chờ mãi cho tới đầu năm sau thì nhận được tin anh đã hy sinh. Chị đã khóc, khóc không còn nước mắt. Tinh thần suy sụp…”.
Chị nói thời gian ấy chẳng muốn sống nữa. Cũng may học sinh và anh chị em giáo viên trong trường động viên, an ủi. Nhất là khi nghĩ tới hai đứa con thơ còn bé dại mà chị đã vượt qua để sống và nuôi con.
Logged
trachvandung
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 747



« Trả lời #74 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2008, 10:05:51 am »

Cuối năm 1979, “sự kiện Nạn kiều” rộ lên khắp trong Nam ngoài Bắc. Nhất là ở Hải Phòng và Quảng Ninh có làn sóng người Hoa vượt biên. Trong trường có đồng nghiệp là người Hoa, thấy chị khổ quá, sau khi phân tích đã khuyên chị nên đi (nếu đi họ sẽ giúp vì họ cũng tổ chức ra đi cho cả gia đình).
Sau bao đêm suy nghĩ,  cuối cùng chị quyết định đưa hai con xuống tàu. Một năm sống tại trại tỵ nạn Hồng Kông, chị được tổ chức Di dân quốc tế đưa tới Canada.
Ở đấy gần ba chục năm, cuộc sống bây giờ đã ổn định. Hai cháu đã lớn. Hương đã lấy chồng và có công ty hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán. Cháu trai là chuyên viên của một công ty máy tính đa quốc gia, còn độc thân, sống với mẹ. Chị đã nghỉ việc, hưởng trợ cấp, hàng năm thường về Việt Nam thăm họ hàng.
Nhắc lại chuyện cũ, chị vô cùng ân hận đã để xảy ra chuyện ngày xưa giữa hai chúng tôi. Chị cũng không hiểu nổi vì sao lại có phút giây “điên loạn” như thế. Chị nói sau ngày ấy chị đã tìm tôi để giải thích và mong tôi tha thứ mà không làm sao tìm được.
“Còn bây giờ chắc chẳng cần phải giải thích nữa, phải không Phan? Vì chúng ta đều “đã lớn”, sự từng trải đã giúp chúng ta hiểu. Con người trong một hoàn cảnh cụ thể nào đấy có những phút giây yếu đuối, chúng ta có thể tha thứ cho nhau”. Giọng chị buồn buồn:
- Còn chuyện của chị và Phan ngày xưa, nó có những éo le riêng mà chị đã chôn chặt trong lòng cho tới tận hôm nay… Càng lớn Dũng, con trai chị, càng giống Phan. Và chị lờ mờ hiểu rằng Dũng không phải là giọt máu của anh Sơn.
Khi còn nhỏ và cho tới tận bây giờ, hai đứa con chị luôn tin rằng bố của chúng là một người anh hùng đã hy sinh cho Tổ quốc. Hai đứa rất yêu thương nhau và kính trọng chị. Chúng hiểu chị đã hy sinh tất cả cho chúng…
Có những sự thật khi nói ra, trái tim ta được giải thoát, trở nên nhẹ nhõm và thanh thản. Ngược lại có sự thật thời gian qua đi, ta không dám đụng chạm tới, cứ để yên như vốn dĩ từ trước đến nay và… phải thừa nhận nó.
Chị đã chọn cho mình cả hai giải pháp. Giải pháp thứ hai chị dành cho hai đứa con. Còn giải pháp thứ nhất chị dành cho Phan. Dù cho Dũng không phải là giọt máu của anh Sơn, một người anh hùng, thì nó cũng là giọt máu của một người lính đã dâng hiến và hy sinh một phần tuổi trẻ của mình cho Tổ quốc mà chị hết sức yêu quý.
Chị luôn cầu mong nếu như Phan còn sống, chị sẽ tìm gặp được Phan. Và điều mong ước ấy đã trở thành sự thực, một sự diệu kỳ như trong mơ. Cho đến bây giờ thì chị chẳng còn ân hận gì nữa khi gặp lại Phan và nói cho Phan biết sự thật về câu chuyện của hơn ba chục năm về trước.
Logged
trachvandung
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 747



« Trả lời #75 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2008, 10:07:58 am »

BỨC TRANH – NGUYỄN MINH CHÂU


Tôi là một họa sĩ. Tôi không phải là một người viết văn. Tôi phải tự giới thiệu như vậy ngay từ đầu, không hề có ý muốn mong chờ hay cầu khẩn nơi các bạn đọc một thái độ rộng lượng. Ngay từ đầu, tôi phải nói vậy để tự dặn mình, tự ra lệnh cho mình, tôi viết chuyện này ra đây là viết cho tôi, cho một bức tranh tôi vừa vẽ xong. Thứ nữa, tôi viết cho một người thứ hai. Viết cho tôi hoặc cho một người thứ hai, một người thợ cắt tóc, thì những điều tôi sắp viết ra đây cũng chỉ là những lời tự thú.

Không biết đã bao nhiêu tháng nay, từ cái hôm vô tình tôi đến cắt tóc ở cái hiệu đó và phát hiện ra anh thợ cắt tóc đó, tháng nào tôi cũng tự bắt buộc mình đạp xe hai ba cây số đến cắt tóc ở đó. Cũng đã không biết bao nhiêu tháng nay, tôi cặm cụi để hết tâm sức vẽ một bức tranh sơn dầu. Sơn dầu vốn là một chất liệu không phải thuộc sở trường của tôi, nhưng với cái nội dung đó, tôi không muốn dùng thuốc nước hay sơn mài. Thuốc nước, cái nghệ thuật chấm phá của thần bút cũng như không khí lấp lánh hư ảo của sơn mài không thỏa mãn tôi, - tâm trạng một họa sĩ muốn dùng ngọn bút vẽ để tự tìm hiểu mình, tự phán xét mình. Sáng nay tôi đã vẽ xong, và lúc này, tôi đang ngồi trước bức tranh tự họa của mình, tự đối diện với mình. Các bạn hãy thử tưởng tượng khuôn mặt của một người khách đang ngồi như bị đóng đinh vào chiếc ghế mộc của một cửa hiệu cắt tóc, với một tấm khăn choàng trắng buộc trùm kín ngực. Một cái mặt người rất lớn chiếm gần trọn bức tranh. Những luồng ánh sáng hàng nghìn nến từ phía trước và trên đầu chiếu thẳng xuống một nửa cái đầu tóc tốt rợp như khu rừng đen bí ẩn, và một nửa mái tóc đã cắt thoạt trông như một phần bộ óc mầu xám vừa bị mổ phanh ra. Khuôn mặt của người khách: một cặp mắt mở to nhìn trừng trừng vào luồng ánh sáng, một cái nhìn khắc khoải, bồn chồn, kinh ngạc và đầy nghiêm khắc. Phần bên dưới của khuôn mặt như vẫn đang được giấu kín dưới một cái mặt nạ: cái cằm hai bên mép bị phủ kín bởi bọt xà phòng. Không thấy rõ cái miệng, chỉ trông thấy một vệt lờ mờ mầu đen nổi bồng bềnh trên đám bọt xà phòng phồng to.

Cái khuôn mặt đó thoạt nhìn thật xấu xí và lạ lùng, nhưng càng nhìn lâu càng giống tôi. Đó là khuôn mặt của mình, khuôn mặt bên trong của chính mình, tôi tự nhủ thầm. Đó là khuôn mặt của tôi lúc ngồi trên chiếc ghế mộc, đầu kê trên thành chiếc ghế được lót bằng một khúc gỗ lõm có lót da và đang ngước nhìn lên, đối mặt với người thợ cắt tóc.

Để các bạn dễ theo dõi, tôi phải kể ngay rằng cách đây khoảng tám năm, tôi đang công tác ở một chiến trường cực kỳ xa xôi giáp biên giới miền Tây Nam Bộ.

Khi nhận được lệnh trở ra miền bắc để cùng các họa sĩ ngoài Hà Nội chuẩn bị một cái triển lãm ở nước ngoài, thì tất cả tranh và ký họa của tôi vẽ trong mấy năm đã chất lên đầy một cái sạp lán giữa rừng căn cứ. Tôi lọc lấy chỉ độ một phần ba, vậy mà trên đường tôi đi ra, các đồng chí phụ trách các trạm giao liên trên từng chặng từng chặng một, phải thay phiên nhau cử một chiến sĩ của trạm đi theo "thồ" tranh cho tôi.

Hôm đó, đoàn chúng tôi đi qua một vùng trên đất bạn nổi tiếng nhiều biệt kích, lại rất đói, cũng là cái "rốn" của bệnh sốt rét. Chúng tôi được nghỉ lại một ngày để dưỡng sức, lán của nhóm khách đi đường chúng tôi dựng ngay trên đầu một cái lán khác của anh em chiến sĩ trong trạm. Buổi trưa, tôi đang ngồi vẩn vơ ghi mấy cái dáng hòn đá, thân cây trước lán nghỉ của mình, thì trông thấy một người chiến sĩ nước da xam xám và cặp môi thâm sì đang leo mấy bậc dốc từ lán dưới đi lên. Người chiến sĩ đi thẳng đến trước mặt tôi ngồi xuống xem tôi vẽ. Rồi sau mấy câu chuyện làm quen, người chiến sĩ tha thiết thỉnh cầu tôi vẽ cho anh một bức chân dung.

Tôi bỗng thấy tự ái. Tôi là một họa sĩ, chứ đâu phải một anh thợ vẽ truyền thần (!) Tôi từ chối khéo bằng cái mặt lạnh lùng. Người chiến sĩ tỏ vẻ phật ý, anh nhìn vào cái mặt lạnh lùng của tôi một thoáng rồi lẳng lặng quay lưng lại tôi, chậm rãi đi xuống dưới những cái bậc dốc.

Sáng hôm sau, chúng tôi lại lên đường. Thật một điều không ngờ, chẳng biết ai xui khiến thế nào mà chính người chiến sĩ trưa hôm qua lại "thồ" tranh cho tôi, chính lại là anh chứ không phải một người nào khác. Thật là phiền cho tôi quá!

Vừa ra khỏi trạm, người dẫn đường đã báo cho khách biết trên dọc đường phải vượt thật nhanh khi leo một con dốc, sau đó là một con suối rất trống trải, đã có một vài đoàn bị bọn biệt kích bắn lén hoặc máy bay thám thính phát hiện. Cái nghề đi đường rừng nó là như vậy, nói một chữ chung chung là đèo, dốc, suối... nhưng ở thực địa mặt mũi chúng chẳng chỗ nào giống chỗ nào cả. Đi đến quá trưa, chúng tôi gập lưng lại, lội qua một quả núi đất không dốc lắm, mọc đầy cỏ tranh đang trổ bông rất đẹp và lác đác có những hòn đá tai mèo. Những vỉa đá tai mèo mọc lởm chởm giữa cỏ tranh mỗi lúc một dày, và khi quả núi đổ sang sườn dốc bên kia thì chỉ có rặt đá tai mèo đen kịt, chúng tôi vừa thở dốc ra cả bằng mũi, bằng tai, năm ngón tay bịt chặt lấy chỏm đầu từng hòn đá một mà lần xuống. ác thay cái bãi đá tai mèo nằm giữa khúc suối dưới chân núi. Có lẽ nó rộng đến năm trăm thước. Con suối chảy đến đấy thì phình rộng ra chảy lênh láng và réo lên ầm ầm trên một cái nền đá lởm chởm. Tuy đã được nghỉ một ngày nhưng sau khi leo qua được quả núi thì tôi đã thấm mệt. Tôi dò dẫm đi giữa khúc suối một cách vất vả quá, cứ dần dần bị tụt lại sau. Rồi chân tôi tự nhiên bị sỉa xuống một hẻm đá ngầm dưới nước. Tôi giơ hai tay lên trời chới với...

Người chiến sĩ "thồ" tranh cho tôi đang đi phía trước, cách một quãng khá xa, vội vã quay lộn lại. Nếu anh không đến kịp có lẽ là tôi bị dòng suối cuốn đi. Anh cởi chiếc ba lô sau lưng cho tôi, khoác vào trước ngực mình. Anh đỡ lấy tôi, giúp tôi rút cái chân lên. Rồi dìu tôi đi. Tôi thở dốc. Mồ hôi vã ra như tắm. Hai mắt đổ đom đóm. "Đồng chí cố gắng lên - Người chiến sĩ vừa đi vừa động viên tôi - Tôi dìu đồng chí đi nhanh qua bên kia suối sẽ nghỉ. Nếu thằng L.19 đến, chúng mình cứ ngồi xuống. Nó chẳng thấy gì cả đâu!".

Tôi không đủ sức theo kịp đoàn được nữa. Qua bên kia suối, người chiến sĩ lấy dầu con hổ bóp chân cho tôi, lúc ngồi nghỉ. Rồi bắt đầu từ đó, chỉ có hai người, anh và tôi, đi trong rừng. Tôi chỉ có thể đi người không. Người chiến sĩ vừa phải "thồ" đống tranh của tôi sau lưng (to và nặng gấp đôi một cái ba lô bình thường của khách đi đường) lại vừa phải mang thêm chiếc ba lô riêng của tôi trước ngực. Có lẽ tất cả đến sáu bảy chục cân. Mà người chiến sĩ có khỏe mạnh gì cho cam!

Tôi không nói thì chắc các bạn cũng biết, ngay từ lúc người chiến sĩ đến gặp tôi để nhận mang cái bó tranh, tôi đã khó xử đến thế nào? Thế mà bây giờ, trên dọc đường, không những riêng cái đống tài sản của tôi mà cả chính tôi cũng đã trở thành một gánh nặng cho anh. Xưa nay tôi vẫn cho mình là một kẻ cũng biết tự trọng, và cũng biết suy nghĩ. Giá người chiến sĩ tỏ thái độ lạnh nhạt hoặc mặc xác tôi nằm lại một mình, tập tễnh đi một mình giữa rừng, thì tôi cũng thấy là cái lẽ phải. Xưa nay tôi vẫn quan niệm rằng: sống ở đời, cho thế nào thì nhận thế ấy. Cái cách cư xử của người chiến sĩ đối với tôi chỉ có thể giải thích bằng lòng độ lượng. Độ lượng? Thế nhưng tôi nhiều tuổi hơn? Tôi lại là một họa sĩ có tên tuổi? Xưa nay tôi chỉ mới thấy lòng độ lượng của kẻ trên đối với người dưới. Bây giờ đây thì chính tôi, một kẻ bề trên, đang được một người dưới tỏ ra độ lượng với mình.

Tối ngày hôm đó, hai chúng tôi phải ngủ lại nửa đêm giữa rừng. Người chiến sĩ mắc võng cho tôi nằm rồi ôm súng ngồi gác bên cạnh. Nhưng làm sao mà ngủ được? Tôi đến ngồi bên anh, trên một phiến đá. Rừng đêm tối mò và đầy hăm dọa. "Tôi xin lỗi đồng chí về cái việc hôm qua... - tôi nói khẽ bên tai anh - Đến mai, thế nào tôi cũng phải vẽ đồng chí. Một bức, thật đẹp!".
"Giá có một chỗ nào có thể chụp ảnh thì tôi không dám phiền đồng chí nhiều vậy đâu! - Anh nói chậm rãi - ác một cái, ở trong rừng, chẳng có hiệu ảnh".

Ngừng một hồi rất lâu, anh lại mới tiếp:
"Vừa rồi tôi gặp cậu tân binh ở ngoài mới bổ sung vào. Mới biết, không hiểu sao gia đình tôi ngoài bắc lại nghe tin tôi hy sinh. Thư từ ở đây gửi về ngoài ấy mất một năm. Mấy năm nay tôi định gửi về nhà một cái ảnh theo cái điều ao ước của mẹ tôi từ lâu, mà không chụp ở đâu được!".
Tôi ngắt lời anh:

"Vậy thì tôi sẽ vẽ đồng chí một bức thật giống. Tôi sẽ trực tiếp mang theo ra. Đồng chí hãy viết một lá thư nữa và ghi địa chỉ gia đình cho tôi. Tôi sẽ trực tiếp mang thư và "ảnh" đồng chí tới tận nhà...".

Tôi sốt sắng bàn với anh kiếm củi nhen lửa để tôi vẽ ngay, nhưng anh ngăn lại.
"Đừng đốt lửa!" - Anh nói.
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Sáu, 2008, 07:14:01 pm gửi bởi hoacuc » Logged
trachvandung
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 747



« Trả lời #76 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2008, 10:08:43 am »

Sáng sớm hôm sau, anh đưa tôi đến trạm mới.
Tôi hoàn thành bức chân dung người chiến sĩ "thồ" tranh chỉ trong khoảng nửa tiếng đồng hồ. Tôi không thể có hoàn cảnh vẽ chậm chạp, rềnh ràng được. Bởi vì, ngay sau đó tôi lại phải theo đoàn lên đường đi chặng tiếp theo, và người chiến sĩ cũng đang có nhiệm vụ mang đồ đạc cho một đồng chí cán bộ cao cấp trong một đoàn khách đi vào trạm của anh. Cả hai chúng tôi đều vội, đến nỗi anh cũng chẳng kịp viết thư mà chỉ kịp ghi cho tôi cái địa chỉ. Rồi hai chúng tôi chia tay nhau.

Thành công của nghệ thuật có đôi lúc là một cái gì rất cầu ơ, điều này có lẽ chỉ có anh em chúng tôi trong nghề với nhau mới thấu hiểu hết được. Chắc các bạn sẽ lấy làm lạ - cũng có thể chẳng lấy làm lạ - nếu được biết rằng cái "bức ảnh truyền thần" người chiến sĩ mà tôi đã vẽ vội vẽ vàng trong cái buổi mờ sáng ở trong rừng đó, về sau, hoàn toàn ngoài cả dự định của tôi, đã nghiễm nhiên trở thành một tác phẩm hội họa nổi tiếng của tôi, không những ở trong nước, mà cả ở nước ngoài nữa. Thật thế, chính bản thân tôi cũng không thể nào lường hết được quy luật đào thải của thời gian. Một điều thật đáng buồn là tất cả số tranh và ký họa mà tôi đã tốn biết bao công phu mang từ trong chiến trường ra chuyến đó, chẳng có một bức nào còn lại được, mặc dầu một số lớn đã được bày triển lãm, đã được in rải rác trên báo. Trong khi đó, "bức ảnh truyền thần của người thợ vẽ" thì lại còn lại mãi mãi, như một cái "đinh" của sự nghiệp sáng tác của tôi, trong những năm chiến tranh.

Đáng lý ra tôi không bao giờ đến cắt tóc ở cái hiệu ấy. Nhà tôi cũng như cơ quan tôi làm việc đều ở phía cuối thành phố. Vậy mà cái hiệu cắt tóc chẳng có gì đáng phải chú ý đó ở tận đầu phía tây bắc thành phố, lại nằm trên một phố nhỏ khuất nẻo có lẽ là lần đầu tiên tôi đặt chân đến. Sáng hôm đó, một buổi sáng mùa hè, tôi có công việc đến một cơ quan, nhưng người tôi định tìm gặp chẳng may lại đi vắng. Tôi dắt xe ra, lượn vòng vèo quanh mấy khu phố cổ phía bắc để ngắm nhìn những mái ngói, những mảng tường. Tôi lang thang với con mắt nghề nghiệp khoảng vài tiếng đồng hồ. Buổi sáng đó, nếu trong túi tôi có một mẩu bút chì và cuốn sổ ký họa thì sau đó không bao giờ tôi nảy ra cái ý định đi cắt tóc. Tôi bước vào một cửa hiệu có hai ghế nhưng cả hai đều đã có khách. Tôi liền quay ra, dắt xe men theo một bức tường rất dài. Cuối bức tường, có một cái quán bán nước mở ngay bên một cái ngõ, một đám đông thanh niên đang ngồi nhẩn nha uống nước chè chén và hút thuốc. Bên cạnh quán nước lại thấy một cái hiệu cắt tóc khác. Chẳng có gì đáng có thể được gọi là "cửa hiệu" cả: kề sát bên mái là quán nước, một mảnh vải ni-lông tăng bộ đội che lấy một khoảng đất bằng bốn chiếc chiếu nằm hơi thụt sâu xuống vương vãi đầy những lọn tóc. Một chiếc ghế mộc cũ kỹ, có lẽ do người thợ cắt tóc tự đóng lấy, trên thành ghế vắt một chiếc khăn choàng trắng khá sạch sẽ. Quán cắt tóc vắng thợ. Chỉ thấy một bà cụ già đang cầm chổi quét những lọn tóc vun vào một góc. Tôi dựng xe đạp vào bức tường phía ngoài vỉa hè, bước vào. Cái quán cắt tóc thoạt trông vẻ ngoài chẳng có gì hấp dẫn nhưng điều khiến tôi có cảm tình ngay là trên bức tường, phía trên tấm gương soi, có dán bức tranh nổi tiếng của tôi. Đó chính là bức ký họa chân dung người chiến sĩ đã "thồ" tranh cho tôi tám năm về trước.

Lúc bà cụ già ngẩng lên, tôi mới biết đó là một người lòa. Nghe tiếng chân của tôi bước vào, bà cụ cầm chiếc chổi ngẩng lên, từ từ hướng cặp mắt trắng đục về phía tôi. Tôi nhận thấy một nét rạng rỡ, hoan hỉ đang từ từ lan ra trên khuôn mặt bà:
"Mời ông ngồi chơi một lát. Cháu nó uống chén nước xong là bắt tay làm cho ông ngay! Thưa, ông chỉ đợi cho mấy phút thôi ạ!".
Tôi đáp "vâng" và đến ngồi vào chiếc ghế. Bà cụ lại tiếp tục quét, nhưng có lẽ vẫn còn áy náy sợ khách bỏ đi mất nên lại ngẩng lên: "Có báo mới cháu nó để trên bàn. Ông coi đi!". Tôi giơ tay cầm tờ báo trên hàng chai lọ và giở ngay trang tư có đăng nhiều tin tức thế giới.

Tờ báo hàng ngày có một số tin mới. Tôi không phải loại người say mê môn bóng đá đến mức quá khích như một số người khác, nhưng cái bài tường thuật trận đấu bóng trên sân cỏ ở một thủ đô bên châu Mỹ La-tinh khéo quá, đã hấp dẫn tôi đến mức người thợ cắt tóc trở về lúc nào tôi không biết, tôi cứ để mặc cho người thợ cắt tóc quấn vào ngực chiếc khăn choàng, rồi dùng lược chải qua mái tóc, rồi bấm thử tông-đơ tanh tách bên tai, rồi hình như anh ta kêu tôi để tóc tốt quá lâu không chịu cắt. Cho đến lúc anh ta dùng hai bàn tay xoay cái mặt tôi cho thẳng và hất cái mặt tôi ngẩng cao lên hơn một chút, thì tôi mới chịu buông tờ báo.

- Bác cắt như cũ chứ?
- Vâng.

Trước mặt tôi, kề ngay sát, lúc bấy giờ là một anh thanh niên trạc ngoài ba mươi. Anh ta có một khuôn mặt mà hình như tôi đã từng gặp, nước da mai mái của người đã từng ở rừng. Một chiếc sơ mi bằng vải phin trắng ngả mầu cháo lòng và chiếc quần bộ đội cũ vá một vài miếng đang bốc lên một thứ mùi sin sỉn, mùi quần áo của những người thợ cắt tóc.
Tôi có thói quen không sửa được, thích trò chuyện:
- Anh làm ở tận trong cái ngõ này chắc ít khách?
- Cũng đủ lắm. Phần nhiều khách quen. Nhưng hồi này cái nghề chúng tôi làm ăn cũng khó khăn.
Tôi cãi:

- Khó khăn là những thứ nghề khác, những công việc khác, ví như những người mua gian bán lận, chứ như cái nghề của anh, thời nào mà sợi tóc chẳng mọc dài ra, người ta bao giờ mà chẳng phải cắt tóc?
- Nhưng bác tính, khi người ta làm ăn dư dả, có đồng tiền, thì mới năng trang điểm, tô vẽ cái răng, cái tóc chứ?
- Vậy thì tôi chịu anh. Anh làm nghề này lâu chưa?
- Đã gần mười lăm năm. Từ lúc tôi còn đi học và chưa đi bộ đội kia.

Tôi có tính hay lãng quên những việc không đáng quên một chút nào, nhưng ông trời vốn dĩ phú bẩm cho tôi một trí nhớ đôi lúc chớp lóe lên, có thể nhìn thấy rõ một ngày trong đời của tôi hồi sáu bảy buổi, như nhìn vào một bức ảnh cũ. Thế là tôi đã nhận ra được người thanh niên làm nghề cắt tóc đó. Đúng, chính là người chiến sĩ đã "thồ" tranh cho tôi, tám năm về trước. Ôi chao, lúc ấy, tôi chỉ muốn có một cái mặt nạ, hoặc bé xíu lại như một hạt đậu, trên cái ghế cắt tóc. Tôi biết nói thế nào để các bạn có thể cảm thụ được cái cảm giác phạm tội của tôi lúc ấy nhỉ? Có bao giờ bạn dọn nhà không? Khi người ta phải thay đổi chỗ ở, có những thứ đồ đạc tưởng mất biến từ lâu, lục lọi, tìm kiếm khắp vẫn không thấy, thì tự nhiên lòi mặt ra tận trong góc tủ, dưới gầm giường. Có những thứ đồ vật vô nghĩa. Có những thứ nhắc tới một chút kỷ niệm đẹp đẽ. Có những thứ gợi lên một câu chuyện chẳng hay ho gì, tưởng đã quên hẳn cái chuyện đó thì bây giờ cái đồ vật lại từ xó xỉnh, bụi bặm, từ trong xó tối từ từ bò ra, cái vật vô tri lại thủ thỉ nói chuyện với anh, khiển trách anh, lên án anh.

Tại sao ngày ấy tôi đã không đưa "tấm ảnh" đến cho gia đình anh? Tại sao tôi không giữ lời hứa? Mà tôi vẫn còn nhớ, tôi đã hứa với anh và cả với tôi nữa, đinh ninh và hùng hồn lắm, và cũng thực tâm lắm chứ? Trong cái đêm ấy, khi tôi ngồi bên anh trên phiến đá giữa khu rừng bên nước bạn, giá có phải chạy qua làn đạn của địch, hay băng qua ngọn lửa, thì tôi cũng quyết định sẽ vượt qua, để đưa tấm hình về trao tận tay những người trong gia đình anh, để đền đáp chút ít tấm lòng độ lượng quá lớn lao nhưng lặng lẽ mà anh đã đối xử với tôi. Lúc ấy, mắt tôi đã rưng rưng khi nghe kể chuyện ở ngoài này, bà mẹ anh đang nhầm tưởng anh đã hy sinh. Và buổi sáng hôm sau, lúc chia tay nhau, tôi lại còn hứa đi hứa lại, để cho anh trở về thật yên tâm và tôi lại còn nhớ, tôi đã nắm tay nhiều lần không nỡ rời, tôi ôm anh, rồi thật là giả dối chưa, tôi lại còn hôn anh nữa, trước khi lên đường đi chặng tiếp. Từ bữa đó, tôi đi bộ ròng rã gần ba tháng thì ra đến Hà Nội. Ngày đó, khi đặt chân về đến Hà Nội, tôi vẫn còn mang ý định đến thăm nhà anh ngay, và mang theo bức vẽ đến. Nhưng chỉ sau một tuần lễ, tôi đã thiết lập được với cái xã hội hậu phương chung quanh những mối quan hệ mới, cái không khí chiến trường tự nhiên nhạt nhòa đi, cái mối nhiệt tâm của lúc còn ở trong đó vơi bớt đi - không, đừng đổ lỗi cho hoàn cảnh! Tôi phải nhận rằng, chỉ sau một tuần lễ, được bè bạn sành sỏi nhất trong nghề đánh giá bức ký họa thật cao, tôi liền lờ quên cái người mẹ đang ôm ấp mối đau khổ vì ngộ nhận con trai đã hy sinh đang ở ngay trong thành phố, tôi liền đóng gói bức ký họa chung với những bức tranh đem đi dự triển lãm Việt Nam ở nước ngoài. ỷ vào ngày giờ đi quá cấp bách, tôi cũng không kịp nghĩ đến việc tới thăm bà mẹ anh nữa!

Có những lúc con người ta không còn chỗ trú nấp. Đó là cái lúc ngồi ngửa mặt lên chiếc ghế, tôi nhận ra anh một cách chắc chắn, biết không thể nào nhầm được nữa! Tôi chỉ còn mong anh không nhận ra tôi. Không, nhất định anh phải nhận ra chứ, khuôn mặt tôi gần mười năm nay chụp ảnh thấy ít thay đổi lắm. Mà cái mặt mình chỉ cách mặt anh có mấy tấc. Cặp mắt anh lại đang nhìn xói vào cái mặt tôi đang được bàn tay anh dằn ngửa ra. Da mặt tôi cứ dày lên. Tôi nhắm mắt, rồi mở mắt. Mỗi lúc mở mắt, tôi không thể nhìn đi đâu khác cặp mắt anh. Trời ơi, có lẽ tôi ngồi trên ghế cắt tóc ở cái quán này đã một nửa thế kỷ? Chốc nữa, sắp tới, anh sẽ làm gì tôi đây?
- Đồ dối trá, mày hãy nhìn coi, bà mẹ tao khóc đã lòa cả hai mắt kia! Bây giờ thì tấm hình tao đã được trưng trên các tạp chí hội họa của khắp các nước. Người ta đã trân trọng ghi tên mày bên dưới, bên cạnh mấy chữ: "Chân dung chiến sĩ giải phóng". Thật là danh tiếng quá!

- Tôi là một nghệ sĩ chứ có phải đâu là một anh thợ vẽ truyền thần, công việc nghệ sĩ là phục vụ cả một số đông người, chứ không phải chỉ phục vụ một người! Anh chỉ là một cá nhân, với một cái chuyện riêng của anh, anh hãy chịu để cho tôi quên đi, để phục vụ cho cái đích lớn lao hơn. Anh đã thấy đấy, bức "chân dung chiến sĩ giải phóng" đã đóng góp đôi chút vào công việc làm cho thế giới hiểu cuộc kháng chiến của chúng ta thêm!

"A ha! Vì mục đích phục vụ số đông của người nghệ sĩ cho nên anh quên tôi đi hả... Có quyền lừa dối hả? Thôi, anh bước khỏi mắt tôi đi. Anh cút đi!"

Giá lúc đó, sau khi cắt tóc xong, anh bảo tôi hãy ngồi lại để hỏi cái món nợ tám năm về trước, thì có thể sau đó tôi không trở lại cái quán cắt tóc ấy nữa, cũng nên. Thế nhưng anh vẫn làm như không hề bao giờ quen biết tôi. Khi tôi ra về, anh chào tôi một cách thân mật, nhã nhặn sau khi nhận tiền cắt tóc.

Đã gần một tháng rưỡi, tóc tôi dài quá, mà vẫn chưa cắt. ít hôm tôi lại đạp xe trở lại ngôi quán đó, nhưng vừa chớm đến nơi thì tôi đã cắm cổ đạp thật nhanh, cố giấu mặt đi. Mỗi lần đạp vụt qua khỏi cái quán cắt tóc ấy, tôi phóng hẳn sang một đoạn phố khác, cứ sợ đôi mắt người thợ cắt tóc nhìn theo, nhưng trong bụng lại cảm thấy thất vọng. Tôi lại mon men đạp trở lại, y như một kẻ đã trở nên lẩn thẩn, tôi đến ngồi ở một cái quán nước trước cổng một cái bệnh viện bên kia đường, cách cái quán cắt tóc một quãng. ở đấy, khách uống nước bao giờ cũng đông. Tôi ngồi lẫn vào. Tôi gọi một chén nước, vừa uống vừa nhìn sang. Lần nào tôi cũng trông thấy anh, nhưng có lần thấy bà mẹ anh, có lần không.
Một bận, đến hai ngày liền tôi không thấy anh thợ của tôi làm việc. Cái quán cắt tóc bỏ vắng hai ngày liền. Sáng ngày thứ ba vẫn thế. Và lại thấy một người đàn bà ra dọn dẹp, chứ không phải bà cụ già lòa như mọi ngày. Tôi chạy sang. Chiếc ghế cắt tóc không còn nữa. Chỉ còn chiếc gương và mấy cái chai lọ. Người đàn bà hỏi tôi:

- Bác đến cắt tóc?
- Vâng.
- Nhà em mấy hôm nay đang dọn cái chỗ làm mới ở phố ngoài kia. Ngày mai xong. Xin mời bác đến.

Vợ anh có vẻ trạc tuổi gần ba mươi. Một khuôn mặt đàn bà hiền lành. Chị vừa nói vừa bóc tấm tranh của tôi ra. Tôi gợi chuyện.
- Bức tranh đẹp đấy chứ, chị nhỉ?
Người đàn bà hơi đỏ mặt, cuốn tấm tranh lại một cách cẩn thận. Lâu sau mới đáp:
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Sáu, 2008, 07:15:06 pm gửi bởi hoacuc » Logged
trachvandung
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 747



« Trả lời #77 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2008, 10:09:19 am »

- Anh nhà tôi bảo: Anh bộ đội trong tờ tranh này chính là người ta vẽ anh ấy. Hồi anh ấy còn ở bộ đội trong B. Cho nên mới mua về treo.

- Anh ấy nói với chị thế?

- Vâng.

- Hôm trước tôi đến cắt tóc ở đây có thấy một bà cụ...

- Là mẹ anh nhà tôi. Thế ra bác là khách quen?

- Vâng. Bà cụ bị tật lâu chưa?

- Thưa đã lâu. Đã chín năm nay.

- Vì sao?

- Bà cụ lòa đi cũng vì anh nhà tôi. Ngày đó bỗng nhiên có tin ra nhà tôi hy sinh. Bà cụ đâm ốm. Anh ấy là con một. Bà cụ nhớ anh ấy, nửa đêm
cũng trở dậy đi lang thang. Cứ khóc hoài...

- Bà cụ lòa từ năm nào, chị biết không?

- Từ 69.

- Từ tháng mấy?

- Tôi cũng không nhớ thật rõ, có lẽ khoảng giữa năm.

Tôi ra đến Hà Nội vào đầu tháng ba năm ấy. Nếu tôi là một người tử tế ra thì không khéo bà cụ không bị lòa, không những thế mà tôi còn có thể làm cho bà cụ khỏe ra! Chính tôi đã làm cho bà mẹ anh trở thành mù lòa?

Mấy lần tôi đã bước vào một cửa hiệu cắt tóc sang trọng ngay trong phố nhà tôi mà trước đây tôi vẫn thường cắt, nhưng lại lấy cớ này cớ nọ, quay trở ra. Mấy lần tôi đã định "tẩu thoát". Nhưng chính tôi lại bắt giữ tôi lại. Tôi lại kiên nhẫn tự thuyết phục mình một cách xử trí êm nhất: đừng bao giờ đặt chân đến trước mặt người thợ cắt tóc và bà mẹ anh ta nữa. Người ta đã dời cái quán đến một phố khác. Lần trước, anh ta đã nhận ra cái mặt của anh rồi. Thì lúc này là cơ hội "tẩu thoát" êm nhất. Cái người săn đuổi mình đã rẽ sang lối khác thì mình lại cũng rẽ vào đấy làm gì? Nhưng anh có đuổi theo tôi đâu? Đấy là tôi muốn tự nguyện đến nạp mình, cho lương tâm.

Tôi lại tiếp tục dụ dỗ: sau hàng chục năm ở bộ đội, anh ấy lại trở về làm nghề cũ. Chắc hoàn cảnh kinh tế của gia đình cũng khó khăn. Tôi nghĩ đến việc hay là vay mượn gom góp một số tiền lớn, cái số tiền mà tôi đã thu được nhờ bức ký họa chân dung kia, bí mật gửi cho anh. Vẫn không được! Tôi vẫn không cho phép mình lấy đồng tiền để thay cái mặt mình.

Tôi lại đạp xe đến gần cái nơi anh mới dời đến. Chỗ đó là đầu một cái ngõ ăn ra một đường phố nhỉnh hơn phố cũ. Chỗ làm mới cũng xoàng xĩnh như chỗ cũ, chỉ hơn trước có một bức mành che. Thỉnh thoảng tôi lại đạp xe qua, đá cái mặt về phía bức mành, nghe tiếng tông đơ rỉa tanh tách, và liếc nhìn cái dáng người thanh niên đang đứng cắt tóc phía sau. Rồi lại phóng xe vút qua đi.

- Cái anh thợ cắt tóc ở đây dời chỗ làm rồi, phải không bà? - Tôi vờ hỏi bà chủ quán nước ở cái ngõ cũ trong khi ngồi chen giữa một đám đông khách uống nước, hút thuốc và kháo chuyện vặt.

- Anh ấy dời phố ra ngoài. Cách mấy ngõ thôi. Chắc ông là khách quen?

- Thưa vâng.

- Cái thằng T. Cắt tóc, số nó nhờ được con vợ! - Một người khách bình phẩm.

- Thì còn phải nói! - Bà chủ quán cũng nói xen vào - ngày xưa khi anh ấy còn ở bộ đội trong B, tuy chỉ là chỗ láng giềng thôi, nhưng cô ấy chăm sóc bà cụ lúc ốm đau chẳng khác con cái trong nhà. Về sau anh ấy trở về cũng vì cảm tấm lòng mà lấy.

- Ông trời sinh ra con người cũng lạ. Có người tốt vậy, có đứa đểu cáng lật lọng hết chỗ nói.

Cái đầu tóc tôi đã tốt quá, ngứa không chịu được! Mà tại sao cứ muốn giở chứng, cứ tự đem mình ra mà hành vậy? Tại sao lại cứ muốn tự dẫn xác đến cái quán ấy cơ chứ? Ngay buổi sáng đó, tôi đạp xe trở về dưới phố nhà tôi, lập tức đến cắt tóc ở cái hiệu quen đã mấy năm nay. Thật là thoải mái, dễ chịu. Trời lại nắng nhạt, cũng thật dễ chịu. Cái hiệu quen sạch sẽ, thơm phức. Bác thợ kêu ầm lên chắc hồi này nhà họa sĩ bận lắm, bận lắm, mấy lần đến rồi lại không có thì giờ cắt, để cho cái đầu trở thành một khóm rừng! Bác thợ quen lại còn khuyên tôi nên làm việc có điều độ. Tôi lại vui vẻ (đấu hót) với bác như mọi lần trước kia. Thật là vui. Phải nói đây là người thợ cắt tóc giỏi nhất thành phố, làm rất cẩn thận, lại rất quý tôi. Được cắt tóc cho một nhà ông họa sĩ! Bác cẩn thận, cân nhắc từng nhát dao, nhát kéo. Bác nâng niu cái đầu, cái mặt tôi. Những ngón tay sờ đụng vào cái đầu, cái mặt tôi như đang sờ đụng vào một vật rất quý.

Thế nhưng tôi cũng trở lại cắt ở đấy chỉ có một lần đó. Tôi quyết định phải trở lại cái quán kia. Tôi quyết định phải chường cái mặt mình ra, chứ không được lẩn tránh. Tôi không cho phép tôi chạy trốn. Tôi quyết định phải trở lại đấy vào buổi sáng, và đến thật sớm, lúc chỉ có tôi và anh. Để cho anh có hoàn cảnh thuận tiện chỉ vào cái mặt tôi mà hỏi: "Bác là cái nhà ông họa sĩ ngày xưa đấy ư? Bác đã làm cho bà mẹ tôi khóc hết nước mắt để trở thành mù lòa như thế kia? Được rồi, vậy thì xin mời ngồi vào đây!"

Bên trong bức mành vẫn chỉ thấy bày chừng ấy thứ đồ đạc: chiếc ghế mộc, chiếc khăn choàng sạch sẽ vắt trên thành ghế, chiếc bàn con để bánh xà phòng thơm và mấy thứ chai lọ, tấm gương soi mặt khách, phía trên tấm gương vẫn dán bức chân dung người thợ cắt tóc tám năm trước. Anh thợ của tôi ngồi quay lưng ra, một chân vắt lên thành ghế, đang ăn một vắt xôi gói trong cái lá bàng. Bà mẹ anh cũng có mặt, ngồi xổm cầm chiếc vồ đập những hòn gạch vỡ nèn chặt xuống nền đất. Bà cụ lại ngước mắt lên nhìn tôi như lần trước khuôn mặt đờ đẫn và hoan hỉ:

- Thưa ông đến cắt tóc?

- Vâng ạ!

Tôi có cảm giác hồi hộp của một anh bộ đội giữa trận đánh đồn vừa vượt qua lớp lớp hàng rào để bám được vào cái đột phá khẩu. Lúc ban nãy, khi đạp xe vừa chớm đến quãng đường phố ngang với bức mành, chỉ chút xíu nữa là tôi đã nhấn mạnh chân vào bàn đạp cho bánh xe lăn thật nhanh như mọi lần, "Thưa ông đến cắt tóc?", "Vâng ạ!" một lần nữa, nếu tôi gieo thêm một chút xíu yếu đuối trên cái mặt cân tiểu ly vô hình, tôi sẽ không đáp "Vâng ạ!" mà có thể trả lời: "Không ạ" rồi phóng xe đi thẳng như mọi lần.

Anh thợ cắt tóc nghe mẹ lên tiếng mới quay người lại. Tôi vừa kịp nhận ra được từ nơi cặp mắt vẫn còn trẻ của anh chiếu thẳng về phía tôi một cái nhìn ban đầu soi mói, ngạc nhiên, rồi hơi nghiêm mặt lại. Nhưng những diễn biến phản ứng trên cái mặt người thợ chỉ diễn ra nhanh như một cái chớp mắt. Ngay sau đó anh lại trở lại cái vẻ mặt và cử chỉ từ tốn, điềm đạm, ân cần của một người thợ cắt tóc đứng đắn và yêu nghề.
Da mặt tôi tự nhiên dày cộm lên.

- Mời bác ngồi!

Tôi cố trấn tĩnh để khỏi run lập cập, bước tới ngồi vào cái ghế gỗ như một cái ghế tra điện.

- Bác vẫn cắt như cũ?

- Vâng.

Bàn tay người thợ ấn cái gáy tôi xuống. Tôi trông thấy hai ống quần quân phục đã cũ kỹ và đôi bàn chân xỏ trong dép cao su. Bà mẹ anh vẫn ngồi bên cạnh cái ghế cắt tóc, bàn tay dăn deo vừa sờ soạng trên mặt đất, vừa cầm chiếc vồ nện lên những viên gạch chan chát, nhát trúng nhát trật.

Từng mảng tóc trên đầu tôi rớt xuống. Tôi có cảm giác tôi đang ngồi cho người thợ giải phẫu não, mà không đánh thuốc mê.

Rồi người thợ cắt tóc, một tay nâng ngửa cái mặt tôi lên, một tay cầm lấy con dao nhỏ sáng loáng. Tôi khẽ liếc mắt thấy lưỡi dao sắc lẹm, vậy mà anh vẫn đem mài đi mài lại trên một tấm da. Tôi khắc khoải nằm ngửa mặt chờ. Tôi khẽ thử động đậy cái gáy, nó như đã bị chốt vào miếng gỗ lõm có lót da. Ngay trước mặt tôi vẫn là cái bộ mặt thật của tôi vừa được lột khỏi ra cái mặt nạ hàng ngày, đang phản chiếu trong tấm gương.

"Hàng ngày anh vẫn nói đùa một cách độc đáo với bạn rằng: tạo hóa nặn ra muôn loài, mỗi loài bằng một thứ bột nhão riêng khác nhau. Xong rồi mỗi thứ thừa một tý, đem gộp chung tất cả lại, để nặn ra anh?"

"Có lẽ thật thế, trong con người tôi đang sống lẫn lộn người tốt kẻ xấu, rồng phượng lẫn rắn rết, thiên thần và ác quỷ?"
"Bây giờ trước mặt tôi, anh nghĩ thế nào về cái luật công bằng ở đời của anh: cho thế nào thì nhận thế nấy?"

"Tôi xin nhận đã gây nên đau khổ cho bà mẹ anh. Tôi đã lừa dối anh. Tôi đã thu thêm được tiền của và tiếng tăm trên sự đau đớn của anh. Bây giờ anh cứ trừng phạt tôi. Anh xử tôi thế nào cũng được!"

"Không bao giờ! Nếu tôi xử phạt anh, nếu tôi thực hiện cái quan niệm về luật công bằng ở đời của anh, thì cái hôm đó, tám năm trước đây, khi quay lại đón anh giữa suối, tôi đã xốc ngược anh lên rồi vứt tõm vào khúc suối giữa bãi đá tai mèo rồi!"

"Lần này anh lại đối xử với tôi như lần trước đây?"

"Phải".

"Anh cũng không trách mắng, chỉ trán chỉ mặt tôi?"

"Không! Anh cứ yên tâm. Trước sau tôi vẫn coi anh là một nghệ sĩ tài năng đã có nhiều cống hiến cho xã hội".

"Tôi vẫn thường gặp mặt anh ở ngoài đường luôn luôn đấy chứ! Một lần tôi đứng xem anh ký họa khu phố cổ. Một lần tôi đến xem phòng trưng bày tranh của anh. Một lần khác, tôi đi theo mấy người bạn làm xưởng vô tuyến truyền hình đến quay chỗ xưởng làm việc và gian phòng riêng của anh. Anh không nhận ra được tôi đấy mà thôi!

"Bây giờ anh nói với tôi một điều gì đi, khuyên tôi một nhời đi!"

"Không".

"Tôi có phải cút khỏi đây không?"

"Không. Anh cứ đến đây. Tôi cắt cho anh kỹ lắm, anh biết đấy!"

Phải, giá thử lần thứ nhất tôi đến, hoặc lần thứ hai trở lại, và các lần sau nữa, mà người thợ ấy nổi giận đuổi tôi ra khỏi ngôi quán, thì chắc chắn tôi không đủ thì giờ nhìn kỹ cái mặt mình đến như thế. Gần nửa năm, tôi đã để vào bức tranh sơn mài tất cả công sức và sự suy nghĩ, và trong suốt thời gian ấy, một đôi lần tôi cũng gợi lại chuyện cũ nhưng người thợ vẫn một mực cố tỏ ra chưa hề bao giờ quen biết tôi. Trở về làm một anh thợ cắt tóc cũng như lúc ở bộ đội, anh vẫn lẳng lặng sống như vậy để cho người chung quanh tự phán xét lấy những công việc đã làm.
Lời đề nghị rụt rè của anh: Xin mọi người hãy tạm ngừng một phút cái nhịp sống bận bịu, chen lấn, để tự suy nghĩ về chính mình.

Bây giờ thì cái tác phẩm mới của tôi đã hoàn thành. Tôi đang đối mặt với chính mình, để viết những dòng này, như những lời chú giải cho một tác phẩm hội họa thể hiện một cái mặt người rất lớn: những luồng ánh sáng hàng nghìn nến từ phía trước và trên đầu chiếu thẳng xuống một nửa mái đầu tóc tốt rợp như một khu rừng đen bí ẩn, và một nửa mái tóc đã cắt, thoạt trông như một phần bộ óc mầu xám vừa bị mổ phanh ra. Phần bên dưới khuôn mặt như vẫn đang được giấu kín dưới một cái mặt nạ: dưới cằm và hai bên mép phủ kín bọt xà phòng. Không trông rõ miệng, chỉ thấy một vệt mầu đen lờ mờ nổi bồng bềnh trên những đám bọt xà phòng. Và nổi bật trên cái khuôn mặt là đôi mắt mở to, khắc khoải, bồn chồn, đầy nghiêm khắc, đang nhìn vào nội tâm.
 
Hết 
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Sáu, 2008, 07:18:14 pm gửi bởi hoacuc » Logged
HienTM
Thành viên
*
Bài viết: 49


« Trả lời #78 vào lúc: 12 Tháng Sáu, 2008, 12:03:42 pm »

Với tất cả tấm lòng trân trọng.
Chuyện nhỏ xíu ở cái làng heo hút giữa núi rừng ấy.
Cái con Len của nhà ông Trungsỹ cuối làng [gọi lão là trungsỹ, không phải lão là trung sỹ, vì thật ra nghe đâu lão ấy cũng đã từng đến chức D trưởng, (chả biết dê đến mức nào!?) lão thích gọi mình là trungsỹ, thế thôi.] Theo dân làng đồn đãi, Lão ấy vốn dân Bình Dương, nghe đâu tên thật là Thọ (!?)
Con Len, từ 19 năm nay vốn gầy nhom, tóc cháy nắng, quanh năm suốt tháng luôn quấn mình trong bộ bà ba bạc thếch, cháo lòng. 19 năm nay ngày ngày nó quanh quẩn cùng cha mẹ mãi lo cái ăn cái mặt, nó không biết nhan sắc nó ra sao, chỉ nghe cha mẹ thường nói với nó, rằng nó đẹp như một bông hoa rừng khoe sắc, nó giỏi và nó ngoan như bất cứ cô con gái ngoan đáng tự hào nào khác của dân tộc Việt Nam này.
Bỗng một ngày, trong lúc đang cùng cha mẹ đào củ mỳ trên rẫy, nó bỗng muốn hát, những bài hát từ thuở thiếu thời mà đêm nào cha mẹ cũng hát thì thầm riêng cho nó nghe nay bỗng quyện lại, bỗng trào dâng. Thế là nó hát, hát bằng cả trái tim, bằng cả tâm hồn, với tất cả sự mộc mạc của một cô bé nông thôn hẻo lánh chưa từng học hát. Tiếng hát cất lên, vô tư, trong sáng và cao vút. Ôi chao ! như có phép thần thông, mỗi tiếng hát, mỗi tiếng ngân nga bao hình ảnh hiện ra, đây là những ngọn đồi xanh mướt, kia những nóc nhà sàn mái cong vút, nọ là những chiếc khăn càma, xa xa lại là bức lũy xiêu vẹo bằng thân cây, chông chênh, cao thấp giữa rừng biên giới…. Ôi, bài hát chưa từng có nhạc sỹ nào viết ra, khi âm trầm những giọt nước mắt, khi cao vút với tiếng đề pa đầu nòng, khi dập dìp như tiếng bước rón rén lúc lại dồn dập với nhịp quân hành…
Dân làng kéo ra rẫy đông lắm, ai ai cũng đều tấm tắc khen nhỏ Len, khen cái nhà của lão trungsỹ như “tiềm long phục hổ”. Len vẫn cứ hát, dân làng ngồi vây quanh nghe như uống từng lời hát của nó. Cũng phải thôi, trước giờ nghe nhạc trên Đài phát thanh, đài truyền hình toàn nghe nhạc sỹ chuyên nghiệp, có ai được nghe hát A capella như thế này đâu !! quả là rất hay, rất mộc !
Cứ thế cả cái làng này ai cũng tự hào về làng mình, vì làng mình có những gia đình như lão trungsỹ, vì có bé Len và bao cô bé khác đang ẩn mình. Đây là lần đầu tiên mà cả làng cùng chung 1 niềm tự hào, lần đầu tiên dân làng dẹp bỏ những tỵ hiềm, xích mích để mỗi ngày cùng ra rẫy chờ nghe bé Len hát.
Bé Len cũng thế, cảm nhận được sự yêu mến của dân làng, bé hát ngày càng hay, hát như rút ruột ra, cứ mãi hát những bài chỉ của riêng bé, mặc bao tiếng khen, tiếng vỗ tay đôi khi hơi lạc điệu của dân làng. Không chỉ hát hay, mà ngày nay dân làng còn nhận ra cô bé Len ngày nào lem luốt bây giờ đã lớn, đã là cô gái xuân thì mơn mỡn. đôi mắt đen láy như chứa cả Biển Hồ… ôi chao, cỡ hoa hậu Hoàn vũ Việt Nam coi bộ mà đặt chưng vô đây cũng không có cửa à nhe !
Con gái quê quả là đáng trân trọng, với ngôi sao như thế mà ở thành thị, chỉ vỗ tay sai nhịp 1 cái thôi là ngoe ngoẫy bỏ xuống sân khấu ngay… bé Len thì khác, Len hiểu cái tình mà mọi người dành cho mình, và vì thế Len luôn cố gắng hát thật nhiều, thật đều như một món quà của mình dâng tặng cuộc đời.
Và rồi một hôm, ông Trương - một nhà nho trong làng - sau một bài hát của bé Len, bỗng đứng lên… tay phủi phủi cái đít quần dính chút bụi đất do nãy giờ ngồi bệt dưới đất để nghe hát, tằng hắng mấy tiếng và..
-   Thưa bà con, cả cái làng này của chúng ta, từ ngày có tiếng hát bé Len dân làng ta ai ai cũng khâm phục, ai ai cũng tự hào về bé. Không chỉ bé Len hát hay mà bé Len còn rất đẹp.
Tiếng vỗ tay tán đồng như khích lệ, ông Trương tiếp lời.
-   Tui thấy như vầy, một tài năng tầm cỡ như bé Len, một nhan săn như bé Len mà để ngày ngày phải làm rẫy, phải hát giữa cái rẫy đầy cát, bụi này thử hỏi có phải hoan phí tài năng của nước nhà không ? Hơn nữa, bé Len là niềm tự hào của cả làng ta, vậy ta cũng nên tạo điều kiện, giúp đỡ bé Len ra mà đi thi ca sỹ, hoa hậu hoa hẹo với người ta.
Vậy mà bỗng nhiên thằng Gù nó trở chứng, cái thằng xưa nay ăn nằm ở Làng này cũng lâu rồi, chẳng ý kiến ý cò gì cả, vậy mà nay bỗng nhiên mở miệng… aha.. hay là nó mê con bé Len rồi đây ??
- Tui xin lỗi vì đã chen ngang câu chuyện. Nhưng tui thấy như vầy. Len là Len của làng mình, Len có hát hay, có đẹp như vậy là do Len ở làng mình, Len hít thở cái không khí trong lành của làng, Len cùng chơi đùa với mọi người trong làng, và cái mà Len hát là bài hát mà Len có được khi hát giữa nương giữa rẫy. Thử hỏi mọi người, nếu bắt Len hát cái bài hát mà ai ai cũng hát được thì Len còn cái tâm hồn để mà hát không ? Thử hỏi mọi người, nếu cho rằng Len thi xong rồi thì sẽ là hoa hậu, là ca sỹ, vậy rồi Len đó có phải là Len của làng mình nữa không ? theo tui, Len hãy cứ là Len, hãy để chính Len chọn con đường cho mình, dẫu biết ông Trương đây xuất phát từ ý tốt, nhưng tui nghĩ mình cũng không nên tạo áp lực cho Len làm gì ! Hơn nữa, nếu chúng ta tự hào về Len, muốn giới thiệu về Len, chúng ta chỉ đơn giản là mời mọi người phương xa về làng ta, cùng nghe Len hát những bài hát mộc mạc này, vậy không những ta giữ được Len mãi là cô thôn nữa đẹp mặn mòi mà làng ta còn có thể có thêm bao nhiêu người biết tiếng… chưa nói là còn làm được du lịch nữa à nghen !

Tiếng vỗ tay, cùng với đôi lời xì xào, nào là bé Len hát hay thật đó, bé Len hát lạ thật đó, nhưng đi thi là phải có bài bản, phải có biên tập, đạo diễn, phải có ông cố vấn, bà bầu này nọ… sợ bé Len khớp mà khó thi.
Mặc ! ông Trương vẫn tiếp lới với cái niềm tin cao cả rằng mình đang làm cái điều tốt đẹp nhất, cái ý tưởng tốt đẹp nhất cho bé Len, cho dân làng, mà cái lão trungsỹ ấy cũng chưa từng nghĩ ra
-   Mọi chuyện rất là đơn giản, bé Len sẵn có giọng hát, sẵn có sắc hương, chúng ta cứ chịu khó tập luyện cho bé hát mấy bài thu sẵn trên cakaôkê cho nó nhuầng nhuyễn, lo gì mà không đúng tiêu chuẩn. Vã lại, cái chính là chúng ta đi thi để phô diễn, để trưng bài cho mọi người biết làng chúng ta có bé Len. Chứ còn bà con mà muốn nghe bé Len hát, dễ ẹc, tui nói thiệt, nó hát như vầy làng ta thấy hay, thấy thích thì nó cứ hát với làng ta như vầy, còn khi nó thi ca sỹ, hoa hậu gì đó, thì chịu khó hát cho đúng khuôn khổ chút là yên thôi. Khéo lo !
Cái lý lẽ ấy xem ra cũng khó bắt bẻ, dân làng im lặng, dù sao thì mình cũng vốn dĩ nông dân, bíết gì đâu mà chen vô bàn, trong khi người ta ít ra cũng là nhà nho nhà bom, hay chữ hơn mình nhiều.
Đêm đó ông trungsy hỏi bé Len “hồi chiều con nghe ông Trương nói vậy, con nghĩ sao” bé Len im lặng hồi lâu… bỗng ngân nga câu hát… ôi mà cũng không giống câu hát.. nghe quen quen như cái lời thằng Gù hồi chiều…
“à ơi … Len thì vẫn cứ là Len
hãy Len chọn con đường mình đi…à ơi”
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #79 vào lúc: 08 Tháng Tám, 2008, 11:01:07 pm »


MẶT TRỜI BÉ CON CỦA TÔI

Thùy Linh

Tôi gặp cậu bé Nguyên lần đầu tiên ở nhà một người bạn. Tối hôm ấy đến chơi nhà Hà – đứa bạn thân nhất hồi tôi còn là sinh viên – thấy Hà đang ngồi chơi với một cậu thiếu niên mười bốn, mười lăm tuổi mặc bộ quần áo bộ đội rộng thùng thình. Chẳng hiểu sao tôi bị chú bé ấy thu hút suốt buổi nói chuyện. Có lẽ tại đôi mắt! Đôi mắt như mượn của người lớn lắp vào khuôn mặt còn đầy lông tơ, trông dè dặt và buồn mênh mang. Khi nó cười, thì khuôn mặt bị biến dạng đi, còn vẫn không xua được ánh buồn. Lúc nó về, tôi hỏi Hà được biết, năm Nguyên lên tám tuổi thì bố mẹ nó bỏ nhau. Thằng anh mười sáu tuổi ở với bố, Nguyên ở với mẹ. Được nửa tháng, thằng anh nhớ em quá nên đến xin bố cho hai anh em cùng về ở với mẹ. Vài tháng sau, mẹ đi lấy chồng. Theo yêu cầu của người chồng mới, người mẹ bỏ hai đứa con để theo ông ta. Không chịu theo mẹ về ở với bố dượng, hai anh em tự kiếm sống ở với nhau. Năm Nguyên mười ba tuổi, cậu anh bị bắt đi tù vì tham gia mấy vụ ăn cắp trong nhà máy. Từ đó Nguyên sống một mình.

Hà kể đến đây thì có khách. Khi về suốt dọc đường tôi cứ nghĩ về cậu bé đáng thương kia. Nhưng tình thương ấy cũng chỉ là cơn gió lạ tràn qua, khiến tôi có cảm giác se lạnh trong chốc lát nếu không có một buổi chiều…

Gần hết giờ làm, tôi xin phép trưởng phòng để đong gạo. Đầu tháng, lại sắp tết nên cửa hàng gạo khá đông. Trước tôi có khoảng bốn chục chỗ xếp lằng nhằng đủ thứ: bao tải, nón rách, gạch, làn… tôi ngao ngán xếp bao tải vào cuối hàng rồi lên trên đứng. Trước ô cửa bán người ta đứng túm tụm chẳng ra hàng lối. Ai ghi sổ xong phải lách mãi mới ra được chỗ lấy gạo. Tiếng cô bán hàng đang nói với người mua.

- Đong hết nhé, một cân gạo nếp, bảy cân gạo, năm cân mỳ, năm đồng tám.

- Chị cho em đong một nửa thôi – người mua là một chú bé.

- Hôm nay không có bao lẻ - Cô ta gắt gỏng.

- Dạ… nhưng… em không đủ tiền.

Hai bên đôi co, những người đứng phía sau nhao nhao:

- Đi đong gạo không mang đủ tiền thì làm sao?

- Thôi tránh ra cho người khác lên mua. Mấy ông bà phía trên xích lên cho, đừng để ai chen vào.

Chú bé không mua được gạo lách đám đông chui ra. Hóa ra là Nguyên. Mặt nó đỏ bừng, tay cầm cái bao tải bị rách mấy chỗ được buộc túm lại, giận dữ nhìn những người đứng sau vừa phản đối, nó lẩm bẩm câu gì đó rồi bỏ đi. Sau giây phút ngỡ ngàng, tôi chạy theo gọi giật lại:

- Nguyên, quay lại chỉ bảo.

Nhận ra tôi, đôi mắt dịu đi nó khẽ cười:

- Chị cũng đi đong gạo ạ!

- Em không mang đủ tiền hả? Chị có đây này, quay lại đong đi.

Nguyên lắc đầu, tôi nắm cánh tay nó lắc nhẹ:

- Tết đến nơi rồi, em còn định để đến hôm nào nữa?

- Dạ… - Nó ngập ngừng – Em hết tiền rồi… Vay chị lấy đâu mà trả. Em chẳng đong nữa đâu – Nó hất nhẹ tay tôi như giạn dỗi, bỏ đi. Tôi đứng nhìn theo cái dáng lòng khòng trong bộ quần áo bộ đội rộng thùng thình ấy, cái đầu ngẩng cao vẻ bất cần, tôi chợt hiểu: Nguyên đã khước từ sự thương hại của tôi.


*
*   *


Với hoàn cảnh riêng của mình tôi không mặn mà lắm trong việc đón năm mới. Sáng ba mươi tôi dậy sớm đi chợ, nấu nướng. Cả mấy ngày tết, tôi chỉ làm cơm có ngày này, trước là để cúng tổ tiên, ông bà, bố mẹ, sau là để ăn lai rai cả tuần lễ, khỏi phải lịch kịch.

Làm xong, ngồi ăn một mình thấy chán ngắt. Mời mấy đứa bạn nhưng chúng đều từ chối. Cũng phải, tết nhất nhà nào chẳng muốn sum họp đầy đủ, người nào không được may mắn ấy phải chịu. Ăn xong, tôi lấy đĩa thịt gà, đĩa xôi, một khoanh giò, hai cái bánh chưng, gói riêng từng thứ vào tờ báo để đem xuống nhà Nguyên. Sau buổi gặp nó ở cửa hàng đong gạo, tôi nảy ra ý định sẽ tìm đến nhà nó. Mục đích để làm gì tôi không nghĩ đến, chỉ biết Nguyên là đứa trẻ rất đáng thương. Thêm người bạn nhỏ tuổi ấy cũng tốt chứ sao!

Qua ngã tư Cửa Nam, tôi mua một bó hoa hồng trắng. Nhà Nguyên ở gần nhà Hà, nhưng tôi không qua rủ Hà vì sợ mối quan hệ láng giềng sẽ làm Nguyên ngại ngùng. Phòng bốn mươi nhăm, bốn mươi sáu, bốn mươi bảy – đây rồi! Tôi ngập ngừng gõ cửa. Liệu có bị chú bé đuổi ra với túi đồ này không nhỉ? Thái độ của nó hôm đong gạo làm tôi chờn chờn.

- Chị! Sao chị biết nhà em? – Nguyên mở cửa, cười rất tươi chào tôi. Chiếc áo bộ đội mặc vội vẫn chưa cài hết cúc.

Tôi bước vào giữa phòng và chưa biết phải làm gì. Căn phòng ngoài rộng chừng mười hai mét vuông, giữa nhà sát tường kê chiếc bàn nhỏ và bốn chiếc ghế. Trong góc nhà có một cái tủ con, cánh đã bị mọt thủng lỗ chỗ. Có thể đó là gia sản duy nhất của bố mẹ nó để lại. Nguyên vào buồng trong, lúc sau đi ra, thấy tôi vẫn đứng như trời trồng giữa nhà, nó kêu lên:

- Chết, chị ngồi xuống ghế đi. Đun bằng “tầu ngầm” đấy chị ạ, nhanh không? – Nó giơ ấm tích nước còn nghi ngút khói lên, rót ra hai chiếc chén để chỏng chơ trên bàn – Em chẳng có chè đâu, chị uống tạm nước trắng nhé!

- Chị đến chơi, mặc dù chưa được chủ nhân đồng ý. Đứng ngoài cửa lo bị lót lá dắt tay ra ngoài đường, ai dè được chiêu đãi món thanh thủy.

Nghe tôi nói nó cười, nhưng nụ cười ấy nhanh chóng biến mất. Tôi trách mình đã đùa quá sớm. Nguyên ngồi xuống ghế ỉu xìu:

- Cái hôm đi đong gạo em dở hơi quá phải không chị?

- Chuyện vặt ấy mà – Tôi gạt đi – Thế đã đong gạo được chưa?

- Hôm trước nhờ các cô bác xung quanh góp cho em hơn trăm bạc ăn tết. Em đã đong và vẫn còn nguyên đây – Nó móc túi lôi ra hai tờ năm mươi đồng, một tờ hai mươi đồng và mấy đồng bạc lẻ.

- Chiều nay chị làm cơm cúng ngồi ăn một mình buồn quá, định gọi em xuống nhà chơi luôn, nhưng ngại em… - Tôi hất hàm cười với nó.

- Chị ở một mình thôi à?

- Ừ - Tôi kể cho Nguyên nghe qua hoàn cảnh của tôi. Từ lúc đó câu chuyện giữa chúng tôi trở nên thoải mái hơn. Tôi bỗng thấy một chú bé Nguyên khác hẳn, hoạt bát, vui vẻ. Cũng phải thôi, cuộc sống có những nét giống nhau thì dễ đồng cảm và hòa hợp với nhau. Tôi thiếu thốn tình cảm của người mẹ từ bé nên rất hiểu sự mất mát ấy trong Nguyên. Nhưng Nguyên khổ hơn tôi gấp vạn lần vì có mẹ mà như không.

Tôi lấy các thứ mang theo từ nhà để lên bàn. Nguyên hấp tấp chạy vào buồng lôi ra hai chiếc bát con, một chiếc đĩa và một cái bát ô tô. Nó phân bua:

- Rổ bát nhà em chỉ vậy thôi!

Hà kể cho tôi nghe: một lần bà hàng xóm cho nó mấy miếng thịt kho nó bầy lên mâm nhưng để đấy và chỉ ăn muối ớt, ngày hôm sau cũng thế, đến ngày thứ ba mới ăn. Thấy tôi trầm ngâm nó hỏi:

- Chị làm sao thế?

- À… không!

- Chị xem, em ăn tết cũng đầy đủ các thứ đây này – Nó đứng dạy đi về phía buồng, vén tấm ni lông, bên trong là chiếc bảng hình chữ nhật. Nguyên kéo chiếc bảng ra giữa nhà, lấy cái ghế chặn phía sau. Trên bảng vẽ lọ hoa đào, mứt tết, bánh chưng, con gà ngậm bông hồng đỏ nằm trên đĩa… Toàn hương vị ngày tết, Nguyên cười:

- Em vẽ đấy, đẹp chứ chị? Giao thừa xong em sẽ kê ở chỗ kia, ai vào cũng thấy ngay.

Tôi không cười được. Sống mũi tôi cay xè như hít phải ớt bột. Tôi sức nhớ bó hoa mua từ lúc nãy vẫn còn để trong túi. Thấy hoa Nguyên chạy lại mừng rỡ:

- Loại hoa này em thích đấy. Để em kiếm cái cắm. Chà, tết năm nay em xôm thật!

Nguyên chạy ra ngoài sân, lúc quay vào mang theo ống bơ sữa bò đã gỉ. Nó đổ nước vào đấy rồi đưa cho tôi. Tôi giơ chiếc ống bơ lên ngắm nghía, còn đang ngần ngại thì Nguyên giục:

- Chị sợ nó xấu chứ gì? Không lo em đã có cách, chị cứ cắm vào.

Nguyên lấy hai tờ giấy xanh màu cẩm thạch dán liền lại. Loáng một cái nó đã gấp xong hình chiếc lọ, chụp ra bên ngoài ống bơ. Tôi và nó cùng lùi ra xa ngắm nghía. Tôi trầm trồ:

- Đẹp thật! Hoa trắng nền xanh trông rất nổi lại nhã.

Được khen, Nguyên cười gật gù có vẻ khoái chí. Nó kể cho tôi nghe chuyện lớp học, bạn bè như chưa bao giờ có người để nói chuyện. Tôi sống lại thời học sinh với đủ trò nghịch ngợm, khiến nhiều khi bố mẹ, thấy cô phải bực mình. Nỗi buồn man mác ám ảnh tôi suốt cả ngày hôm qua biến đâu mất. Đang kể, chợt nhớ ra điều gì, Nguyên chạy vào buồng, chui tuột xuống gầm giường lôi ra một khúc gỗ dài, một đầu gắn chiếc ống bơ sữa bò trắng tinh, phía trên có thanh sắt dài cong cong. Nguyên lấy tay phủi bụi trên đó như sợ bị đau. Nó khoe:

- Em có cái này nữa cơ. Đàn bầu em tự làm lấy đấy.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM