selene0802
Moderator

Bài viết: 2783
...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...
|
 |
« Trả lời #90 vào lúc: 31 Tháng Giêng, 2009, 09:30:17 pm » |
|
Chết thật, cô ta bị thương rồi ! Không biết Nguyệt bị thương loạt bom đầu tiên, lúc tôi nấp dưới khe, hay khi cô vùng chạy theo tôi trở về xe ? Thú thực, lúc ấy trong lòng tôi dấy lên một tình yêu Nguyệt gần như mê muội lẫn cảm phục. Nguyệt nhìn vết thương, cười. Khuôn mặt hơi tái nhưng vẫn tươi tỉnh và xinh đẹp. Từ đầu đến chân, cô ta ướt như một con công vừa tắm. Tôi rút chiếc mùi xoa đầy vết dầu mỡ trong túi, buộc ngoài lần áo xanh để cầm máu. Tôi đề nghị đưa Nguyệt sang bên kia ngầm về đơn vị, nhưng Nguyệt gạt đi : - Đây là giang sơn của em rồi. Anh đi đi, không trời sáng mất ! - Rồi Nguyệt lại cười : - "Anh cứ yên tâm, vết thương chỉ sướt da thôi. Từ giờ đến sáng, em có thể đi lên đến tận trời được !". Gà rừng đã eo óc gáy thưa thớt. Tôi không thể bỏ xe được. Tôi đành từ biệt Nguyệt, nắm bàn tay thấm ướt máu rất lâu, và tôi nói một lời hứa đinh ninh : - Ngày mai, tôi quay về, nhất định tôi vào... thăm Nguyệt ! Tôi lên xe, phóng như bay về phía tiền tiêu, với một tâm trạng vui sướng và rộn ràng rất lạ, và lại rất lo lắng cho Nguyệt, lúc nào cũng thấy trước mắt bóng một người con gái mặc áo xanh, một bên cánh tay buộc chiếc mùi xoa của tôi, với chiếc làn và chiếc nón trắng mới, cô ta đang đi trở lại về phía ngầm. Có lúc, tôi lại thấy cô quay lạ, khuôn mặt đẹp lộng lẫy đầy ánh trăng... -Thế nào, kể tiếp đi ! Ngày hôm sau sống chết cậu cũng phải mò tới cái đội nữ công nhân ấy chứ ? Những người nghe chuyện vẫn tỉnh như sáo. Có lẽ đã hai ba giờ sáng. Gà rừng gáy eo óc, thưa thớt. Nghe tiếng đôi chim trống mái gọi nhau đã gần hơn. Đêm ấy tôi chạy nhanh đến như vậy, nhưng lên đến tiền tiêu giao hàng cho kho xong, thì trời đã gần sáng. Thế là không kịp quay về rừng săng lẻ giấu xe nữa, đành đánh xe đi giấu ngay ở đấy. Và lại hí húi đi kiếm lá nguỵ trang, tháo xăng, nấu cơm ăn. Thật chán hết sức ! Thế là bay đi một ngày phép ! Đại đội trưởng lại bố trí cho tôi đi một chuyến nữa lên tiền tiêu vào ngay đêm sau. Lần này, tôi kịp ghé thăm chỗ hạt giao thông của chị tôi, cũng đóng không xa đội nữ công nhân phụ trách ngầm. Lán đội nữ công nhân giữa khu rừng săng lẻ rất đẹp. Con gái bao giờ họ cũng chu đáo và chăm chỉ chứ không tềnh toàng như chúng mình. Lán họ ở sạch sẽ, ngăn nắp, có nhà ăn, nhà câu lạc bộ... Thấy tôi đến, chẳng phải chị chị Tính, mà các chị em khác đều niềm nở, toàn là những tay ăn nói khiếp cả. Nhưng còn tôi lòng dạ nào mà đối đáp với họ ! Việc đầu tiên là tôi quan sát thần sắc của chị Tính ; hai ngày qua tôi đã tin chắc chắn không thể nào sai được rằng người con gái mình đang tìm gặp thì đã gặp, nhưng đến đây, tôi lại nghĩ Nguyệt có thể là người con gái đã anh dũng hy sinh từ cách đây ba, bốn tháng. Chị Tính dẫn tôi vào nhà, và trách : - Hôm kia, sao cậu không về ? Nguyệt nó chỉ tranh thủ lên được có một hôm, đợi cậu suốt ngày không thấy, cô ấy lại phải về dưới ty rồi ! Thế là trống ngực tôi không đánh nữa. Tôi tò mò hỏi : - Cô ấy về dưới ty làm gì !? - Cô ấy đang dở học lớp đảng viên mới ở dưới đó. Hai chị em chúng tôi đang dở chuyện thì một chị to béo, trạc gần bốn mươi, hai tay cắp hai cái bì đựng măng xồng xộc đi vào và hỏi: - Đâu, cậu Lãm, em trai chị Tính tới mà sao không đến trình diện với tôi hử ? Chị túm lấy tôi trong hai bàn tay hộ pháp : - Mặt mũi sáng sủi đấy chứ, lái xe à ? Tôi hỏi thế này nhé, anh đã biết tội của anh chưa ? Chị Tính cứ ôm miệng cười. Còn tôi thì chẳng hiểu gì cả. Lát sau, mới biết chị làm tổ trưởng nấu ăn của đội, đấy chính là chị Nguyệt "lão", một người bạn thân thiết của chị tôi từ lâu. Chị Nguyệt "lão" vui vẻ "mắng" tôi một hồi nữa, đầy những "cớ sao", "cớ sao" mấy năm trời để cho "cái Nguyệt" nó đợi đỏ mắt, có muốn "tìm hiểu" người ta hay không thì cũng phải bảo một câu chứ! Rồi chị kể : hôm nọ, "nó" trở lên đây, đi nhờ xe vận tải của một anh bộ đội, xe bị bom dọc đường, may mà chỉ bị thương rất nhẹ thôi. Chị hỏi : -Anh vẫn chưa biết mặt nó, hử ? Rồi kéo tuột tôi đến trước một hàng ảnh nhỏ xít dán chi chít trên tờ giấy bao xi măng giữa nhà câu lạc bộ. Chị Nguyệt "lão" chưa kịp trỏ, tôi đã nhận ra tấm ảnh của Nguyệt. Cách đây mấy năm, trông cô như một con chim non đang tập bay. Nguyệt đang đứng cheo leo giữa lưng núi, trên vai vác một chiếc máy khoan, đôi mắt đen láy ngây thơ nhìn ra xa. Nhìn bức ảnh ấy, tôi không khỏi nhớ những ngày rộn ràng xây dựng những chiếc cầu. Ngọn núi Nguyệt đang đứng chính là một ngọn trong dãy núi đá xanh cao sừng sững nằm bên trái bến ngầm. Ngày khởi công xây dựng chiếc cầu ở đây, đội đá của công trường có hang trăm cô. Tháng này sang tháng khác, với một sợi dây da bảo hiểm buộc ngang lưng, họ dũng cảm trèo lên những tầng đá cao, chọn những vỉa đá xanh đẹp nhất về xây cầu. Chiếc cầu làm trong gần hai năm mới xong, xanh biếc và đẹp như một giấc mộng, nhưng vừa khánh thành được mấy tháng thì máy bay Mỹ đã đem bom tới phá sập. Buổi chiều hôm đó, chị Tính và chị Nguyệt "lão" tiễn tôi ra đến bờ sông. Chị Nguyệt "lão" giơ nắm tay to lớn ra trước mặt tôi : -Khối anh cán bộ khá hẳn hoi muốn yêu nó. Nó chỉ chờ gặp anh đó thôi ! Coi chừng cứ phóng xe chạy biến đi, tôi không có dây tơ hồng nhưng đã có dây trói lợn trói anh lại ! Tôi vội vàng nhét vào trong chiếc túi cấp dưỡng nhọ nhem của chị một chiếc phong bì miên rất cẩn thận. Suốt buổi trưa, tôi đã mượn giấy bút biên cho Nguyệt lá thư đầu tiên. Ra đến rừng săng lẻ, tôi chưa về chỗ giấu xe vội, mà men bờ sông ra ngoài cầu. Con sông miền Tây in đầy bóng núi xanh thẳm, hai bên bờ cỏ lau chen với hố bom. Chiếc cầu bị cắt làm đôi như một nhát rìu phang rất ngọt. Ba nhịp phía bên này đổ sập xuống, những phiền đá xanh lớn rơn ngổn ngang dưới lòng sông, chỉ còn hai hang trụ đứng trơ vơ giữa trời. Tôi đứng bên bờ sông giữa cảnh một chiếc cầu đổ và lại tự hỏi : qua bấy nhiêu năm tháng sống giữa cảnh bom đạn và tàn phá những cái quý giá đó chính bàn tay mình xây dựng nên, vậy mà Nguyệt vẫn không quên tôi sao ? Trong tâm hồn người con gái nhỏ bé, tình yêu và niềm tin mãnh liệt vào vuộc sống, cái sợi chỉ xanh óng ánh ấy, bao nhiêu bom đạn giội xuống cũng không hề đứt, không thể nào tàn phá nổi ư ? ...Người kể chuyện tự nhiên ngừng bặt như đang lắng nghe tiếng trả lời đâu từ trong lòng mình. Những người bạn cũng không hỏi, không đòi kể tiếp và nói chuyện ồn ào như những lần trước. Hẳn đã gần sáng. Ngoài rừng sâu, đôi chim gọi nhau suốt đêm đã im tiếng, có lẽ chúng đã tìm thấy nhau. Chân trời phía rừng Tây bỗng ửng sáng. Rồi trăng đội chỏm cây từ từ nhô lên. Từng chiếc lá đùng đình trên nóc lán loé sáng như những mảnh bạc. ánh trăng khuya lặng lẽ soi đầy trên mái và đoạn đường đầy vết xe trước cửa. Người kể chuyện ngẩng lên ngắm mảnh trăng vừa lên rồi nằm xuống giữa những người bạn lái xe. Anh giục: - Ngủ thôi các cậu ! Mai còn chạy...
Nguyễn Minh Châu
|
|
|
|
|
Logged
|
...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
|
|
|
hoacuc
Thành viên

Bài viết: 1597
|
 |
« Trả lời #91 vào lúc: 21 Tháng Tư, 2009, 01:58:06 pm » |
|
Hồi ức của một binh nhì Nguồn: http://www.vannghequandoi.com.vn...Chỉ ba phút nữa Nụ sẽ ngả vào vòng tay tôi, mềm mại như một thiên thần bé nhỏ. Thú thực trong giờ phút nghiêm trọng nhất cuộc đời ấy, tôi có thoáng nhớ đến gia đình, đến kỷ luật quân đội, đến tòa án binh, nhưng tất cả đều nhanh chóng mịt mờ đi: Chỉ ba phút nữa thôi, tôi sẽ ôm đầy vòng tay một cơ thể ấm nóng và hôn nàng mà không sợ bị thép gai cào cấu... Hồi ấy, nghĩa là cách đây tròn hai mươi năm, tôi, hai mươi tuổi cùng các "chiến hữu" của tôi đang huấn luyện ở vùng trung du Vĩnh Phú, cách thị xã Vĩnh Yên 7 km về phía núi Tam Đảo. Chúng tôi thuộc số quân trung đoàn 207 xe tăng thiết giáp. Mới nghe đến đây thôi, hẳn có bạn thắc mắc sao đã gọi là "xe tăng" lại còn "thiết giáp"? Xin thưa đó là hai danh từ khác nhau để gọi hai loại xe khác nhau. Xin cung cấp với các bạn một định nghĩa rút gọn của xe tăng: "Là một loại xe chiến đấu chạy bằng xích có tháp pháo quay tròn 360 độ". Thế nghĩa là nó khác với thiết giáp là có pháo, lại không giống với pháo tự hành là pháo của nó có thể quay 360 độ trên xe. Câu chuyện của chúng tôi hai mươi năm trước trên vùng đồi trung du Vĩnh Phú có liên quan đến cái "tháp pháo quay tròn 360 độ" ấy. Thế là chúng tôi thuộc trung đoàn 207. Tiểu đoàn và đại đội mấy thì không nhớ nữa. Đơn vị huấn luyện mà lính đến rồi đi không mấy gắn bó - chỉ nhớ rằng tham mưu trưởng trung đoàn là ông Phùng Minh, một đại úy có phong độ rất "hắc xì dầu". Và ngay tại đây, trong mùa hè nóng bỏng năm 1972 khi tiếng nổ của đại pháo ở cổ thành Quảng Trị đang âm âm vọng về réo gọi, thì chúng tôi, trên những ngọn đồi trung du đầy bóng bạch đàn đã làm nên những chuyện tày đình, để lại những kỷ niệm "ác liệt" không kém gì trận mạc. Chúng tôi đóng quân trong làng, tất nhiên rồi "quân với dân như cá với nước", cá mà rời nước thì có mà ngáp. Nhưng có một điều thuộc về quân lệnh là cấm léng phéng với con gái chủ nhà. Vả lại, chúng tôi học lái suốt ngày, về đến nhà là mệt lử, đêm phải gác xe. Bãi xe lại là xe tăng, tất nhiên không thể để trong làng mà ở trên đồi. Đơn vị tôi chọn được một địa điểm rất hay. Số là, quả đồi bạch đàn ấy trước đó đã có một hàng rào kẽm gai. Hôm tìm địa điểm, ông đại đội phó bảo thằng Bá Hùng đi trinh sát. Trở về, hắn thì thầm với bọn tôi rằng bên kia hàng rào có rất nhiều "ami xinh tươi" mặc quân phục. "Mẹ kiếp! đóng bãi xe ở đấy thôi chớ đi đâu nữa". Sau đó, chúng tôi làm mặt lạnh kéo tới gặp đại đội phó, giơ tay chào theo kiểu quân sự và báo cáo rằng, đây là một địa điểm đóng quân mang tính chất chiến lược, chiến thuật, rằng có thể tiến công phòng thủ đều tiện lợi v.v... và v.v... Khi đại đội phó hỏi: Bên kia hàng rào là đơn vị nào thì thằng Hùng báo cáo mập mờ rằng: đó là đơn vị chiến thuật, kỷ luật nghiêm, có thể là hậu phương vững chắc cho đơn vị ta. Chao ôi! Chúng tôi đâu có biết rằng bên hàng rào kẽm gai kia là cả một thế giới riêng, một đơn vị cơ yếu đặc nhiệm của Bộ Quốc phòng có vai trò cực kỳ quan trọng trong cuộc chiến tranh của cả nước và những bóng "ami mặc quân phục" kia chính là những chiến sĩ báo vụ cơ yếu được bảo vệ hết sức nghiêm ngặt. Có lẽ đây là một trong ít lần ông đại đội phó được cái đám "giặc đầu bò" là chúng tôi đối xử nghiêm túc và kính cẩn, nên ông có phần cảm động mà chấp nhận đóng bãi xe ngay trên nửa quả đồi tai ương ấy. Và với quyết định đó, ban chỉ huy đại đội bắt đầu phải chịu đựng và trả giá cho những trò ba trợ của tụi tôi. Có lẽ cái lam sơn chướng khí của đất tổ Hùng Vương được tích lũy từ thời khai thiên lập địa đến năm 1972 đã xì hơi nhập vào chúng tôi mà sinh ra các chuyện nghịch ngợm ấy chăng. Ban ngày chúng tôi phải đi tập lái xe. Lái đủ các khoa mục: Hạn chế thẳng, hạn chế chữ Z, vách hụt, vách đứng, sống trâu, cầu vệt... Đã qua các thời kỳ tậm tọe: sang số, tăng ga, xuống số, vù ga... với cái bảng cầu chì dài dằng dặc: đuôi (cầu chì đèn đuôi), hồng (hồng ngoại), hông, còi, quạt-nhờn-đồng khởi-mù pha. Tóm lại, chúng tôi có vẻ là những chú chim ra ràng đang tập bay. Chiều chiều chúng tôi xin trợ giáo được tự lái xe ra bãi, cố ý đỗ sát hàng rào, vù ga thật mạnh, ngõ hầu gây được sự chú ý của "phía bên kia". Mất hơn mười ngày như thế mà chẳng nước non gì cả. Những bóng áo binh phục mầu nhạt bó sát những eo lưng tròn lẳn vẫn chỉ thấp thoáng sau bóng cây bạch đàn đằng xa. Một lần chúng tôi đến sát hàng rào đánh bạo gọi với vào: - Này! Các đồng chí ơi! ... Và mừng rơn khi thấy có người đi tới. Nhưng té ra là hai gã đàn ông có súng, mặt lạnh như tiền, hỏi: - Các đồng chí cần gì? - À, ờ... chúng tôi xin một tý xà phòng, à quên xin ngụm nước uống, khát quá. - Ở đây không có xà phòng và cũng chẳng có nước uống đâu nhé. Nói xong, hai gã đàn ông có súng quay đi. Chà thật là "phí rượu" mấy cha hách gớm! Nói thật chứ bọn tôi đâu có sợ mấy khẩu AK báng xếp nơi tay bọn hắn. Gì chứ súng thì bọn tôi cũng có, có điều là hơi to một chút. Khẩu pháo 100ly trên xe đó, tôi mà khạc một cái thì... Nhưng chúng tôi cũng thừa biết là không thể tấn công bằng cách ấy được, phải tìm mẹo khác, nhất định phải "móc nối" cho bằng được một số "ami" mới nghe. May thay, thằng Tuấn lại có một cái đàn ghi ta. Bọn tôi tất thảy đều qua vài năm ở trường đại học nên chơi đàn cũng khơ khớ, hát cũng đúng thanh nhạc, riêng tôi lại có cả cái giọng "ôpêrêt" tàm tạm. Vậy là, trăng trung tuần vằng vặc, đồi trung du lộng gió, lá bạch đàn xao xác rụng, chúng tôi ôm đàn ngồi trên tháp pháo xe tăng thả theo làn gió nam mát rượi qua bên kia hàng rào bài tình ca Nga rất "ác chiến". "Giờ này anh về đâu hỡi người lính cũ binh đoàn... Nếu giờ này bạn hiền còn thiếu một gia đình... Có nhiều cô đẹp như ca khúc ban chiều". Mất ba đêm như thế mà không thấy động tĩnh, chúng tôi nản quá. Ban đêm không nước non gì nên ban ngày chúng tôi vặc nhau luôn luôn. Mùa trăng đang qua, khóa huấn luyện sắp kết thúc, chúng tôi biết ngày lên đường vào Nam chiến đấu không còn xa nữa. Vậy mà! Ban đầu chúng tôi chỉ chơi đàn theo kiểu "gọi tình". Ai ngờ đến đêm thứ năm, tiếng đàn thằng Hùng nghe khác hẳn, cả cái giọng "ôpêrêt" của tôi cũng rà đi lúc nào không biết. Từ trên đỉnh núi Chi-ta xa vời, mưa tuyết vẫn rơi tuyết đầy trời. Chợt nghe tin đến chân tay rụng rời. Người lính em yêu ngã ngựa rồi. Không may gãy tay rồi còn đâu lấy tay lành vuốt tóc em dài... Tất cả chúng tôi gục đầu xuống, mơ màng nghĩ đến một điều gì rất xa, về một kỵ sĩ nào đó ngã ngựa, về khoa văn trường Đại học Tổng hợp Hà Nội mà tôi mới kịp gửi thân theo học hai năm, về ngày nhập ngũ, về chiến trường Quảng Trị đang đỏ lửa mùa hè, đêm trăng vàng, sương buông đồi trung du ớn lạnh. Bỗng có tiếng vọng nghe thảng thốt. - Hát nữa đi các anh! Lập tức chúng tôi ngẩng đầu lên, thằng Hùng buông rơi cây đàn xuống cỏ: Sát hàng rào bên kia tập hợp đủ một tiểu đội chiến sĩ gái thấp thoáng dưới trăng, huyền ảo như những nàng tiên vừa bay từ trên trời xuống... ... Các bạn cựu chiến binh thân mến! Tôi nói điều này chỉ các bạn mới hiểu và tin chúng tôi, rằng: Ngay trong đêm đó, cái đêm huyền thoại, khi tiếng đàn nức nở lặng đi và những cái bóng eo lưng mặc quân phục mầu cỏ úa nhạt hiện ra bên hàng rào. Chúng tôi đã đến, đã nói chuyện và dường như đã quen nhau từ lâu lắm rồi, đã tìm nhau lâu lắm rồi, dường như chúng tôi đã yêu nhau. Hai đội binh đều áp sát hàng rào kẽm gai, từng đôi một xoắn xuýt tâm sự - như chúng ta thường nói là không biết mệt mỏi. Tôi mạnh dạn cầm tay "người chiến sĩ gái" dành cho tôi. Mãi đến cuối buổi, tôi mới biết được tên thật của nàng là Nụ. Lạ lùng thay, Nụ không có ý định rụt tay lại. Cổ tay Nụ tròn và mát. Tôi nhìn rất lâu vào cái cổ tay ấy rồi ngước lên thấy Nụ cười, một nét cười hiền lành và say đắm, mà sau này suốt hai mươi năm qua tôi không hề tìm thấy bất cứ ở đâu dưới gầm trời này. Bên cạnh tôi lúc đó cũng đầy tiếng thì thào khe khẽ và cảm động của bọn thằng Bá Hùng, Hoàng Sâm, Quốc Tuấn. Trong ánh trăng vằng vặc diễn ra một cảnh tượng hết sức kỳ dị trông như một vũ điệu huyền ảo: Tám đôi trai gái cầm tay nhau qua hàng rào kẽm gai mắt cáo mà cứ trân trân nhìn nhau, không thể nhúc nhích được vì các vòng kẽm gai sắc nhọn như những chiếc vòng khóa chặt các đôi tay. Đêm ấy, khuya lắm chúng tôi mới rời nhau ra, không phải vì buồn ngủ hay mệt mỏi mà vì trời đang rạng dần. Cũng phải mười năm sau tôi mới hiểu vì sao các cô gái cơ yếu đó có thể chấp nhận tình cảm nhanh chóng và nồng nàn đến thế.
|
|
|
|
|
Logged
|
Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
|
|
|
hoacuc
Thành viên

Bài viết: 1597
|
 |
« Trả lời #92 vào lúc: 21 Tháng Tư, 2009, 01:59:12 pm » |
|
Hồi ức của một binh nhì (Tiếp) Các bạn có tin được không, cái cảnh cầm tay nhau như chuẩn bị khiêu vũ ấy tái diễn đến bảy đêm. Bọn chúng tôi, ban đầu do nghịch ngợm, đến thời gian sau nghe các cô kể chuyện mới thấy thương thương và mủi lòng thực sự. Chúng tôi hôn nhau qua hàng rào. Nụ của tôi nước mắt chứa chan. Tôi loay hoay xoay xở mãi mà không có cách gì ôm được nàng. Nụ cho biết, các cô phải làm việc dưới một chế độ kỷ luật rất nghiêm, vì như tôi nói từ đầu, đấy là một công việc cực kỳ quan trọng và tuyệt mật. Mỗi tháng các cô mới được ra khỏi hàng rào một lần và phải đi cùng nhau, hạn chế tiếp xúc với người ngoài, phải về trước giờ điểm danh buổi tối. Thường thì khi xuất ngũ hay phục viên các cô được giải quyết đồng loạt và ngay sau đó Bộ Quốc phòng thay mã khóa cơ yếu để đề phòng bị lộ. Đấy, tình yêu của bọn chúng tôi nằm trong tình thế nghiệt ngã như vậy đấy. Tôi thì không tin rằng sẽ còn đóng quân tại đó cho đến cái buổi mà Nụ của tôi được ra ngoài hàng rào. Tình hình chiến trường đang nóng như cơn sốt. ở Quảng Trị giặc đã phản công tái chiếm thành cổ. Bộ binh chiến đấu thiếu hỏa lực đột kích nên rất gian nan. Đơn vị hối hả hoàn thành các khoa mục cuối cùng. Đến những ngày cuối cùng tôi cuống lên. Tôi khao khát được một lần, một lần thôi ôm Nụ vào lòng, quàng tay vòng qua cái eo lưng mặc quân phục nổi lên đường cong đẹp như một thiếu nữ trong hội họa Phục Hưng. Tôi giống như chú nghé con bị nhốt trong chuồng vươn cái cổ khát khao với tới đám cỏ mới nhú lên sau những đêm mưa. Một lần thôi rồi chết cũng được. Tôi quyết định đột nhập doanh trại đơn vị cơ yếu đặc nhiệm. Nghe tin này thằng Hoàng Sâm và Bá Hùng xúm lại can, các hắn vẫn chưa quên được bộ mặt băng giá của hai gã đàn ông khoác súng dạo nọ. Nhưng chí tôi đã quyết, không ai có thể ngăn cản được. Chiều hôm ấy, tôi đánh xe về đậu sát hàng rào húc đổ một cây bạch đàn. Mặc, tôi không sợ, có húc đổ một cây chứ mười cây tôi cũng húc. Tôi hồi hộp chờ trời tối: Thằng Sâm và thằng Hùng hứa giúp tôi. Phần tôi, tôi tranh thủ xác định lại hướng tiến đến cái "ki ốt" mà đêm đêm Nụ vẫn trực ca từ 20 đến 21 giờ. Màn đêm buông xuống, lạy trời, đêm hạ tuần trời tối đen. Tôi đang đứng bên hàng rào dõi mắt về phía sâu trong doanh trại đến chỗ có mấy ánh đèn thắp ắc quy rồi. Trong đêm tối, cái tháp pháo quay chầm chậm nửa vòng trên xe rồi lặng lẽ gác cái nòng 100 ly đen trũi, lạnh buốt ngang qua hàng rào. Tôi lẩy bẩy ôm cái ống thép dài ngoằng ấy bò lên, vượt qua trên đầu hàng rào, rồi thả tay rơi xuống. Mọi việc đang tiến triển tốt đẹp. Tôi đang ở phía trong bờ rào, thuộc vùng cấm địa. Thằng Sâm đang quay cái nòng pháo trở ra. Chỉ ba phút nữa Nụ sẽ ngả vào vòng tay tôi, mềm mại như một thiên thần bé nhỏ. Thú thực trong giờ phút nghiêm trọng nhất cuộc đời ấy, tôi có thoáng nhớ đến gia đình, đến kỷ luật quân đội, đến tòa án binh, nhưng tất cả đều nhanh chóng mịt mờ đi: Chỉ ba phút nữa thôi, tôi sẽ ôm đầy vòng tay một cơ thể ấm nóng và hôn nàng mà không sợ bị thép gai cào cấu. ... Em ơi rất có thể
Anh chết giữa chiến trường
Đôi môi tươi đạn xé
Chưa một lần biết hônTiến lên, hỡi hiệp sĩ Tankistơ! Tôi thì thầm hô khẩu hiệu. Sau lưng tôi, cả hai thằng Sâm và Hùng đều áp người vào hàng rào giục: "Nhanh lên". Và tôi tiến lên đến gần chỗ có ánh đèn hắt ra. Trong đêm cái ki ốt trông rất kỳ lạ, ma quái. Tôi ghé mắt nhìn qua kẽ hở và chợt bàng hoàng: Nụ đang ngồi nhận mật mã giữa một vầng sáng trắng ánh điện và vô số những máy móc rất lạ mắt. Em ngồi đó như thiên thần mất ngủ! Tôi thì thầm nhẩm một câu thơ không biết của ai hay là tôi mới nghĩ ra, rồi thu hết can đảm gõ vào cánh cửa. Mọi việc diễn ra sau đó tôi không đảm bảo là nhớ hết, nhưng cái cảm giác thì bây giờ đã hai mươi năm trôi qua tôi vẫn còn nhớ, và mỗi lần nhớ đến tôi lại ớn lạnh. Đèn vụt tắt cánh cửa sắt bật mở nhanh và mạnh hơn tôi tưởng. Nụ xuất hiện trong bóng tối với bộ mặt đen thui cùng với khẩu súng nhỏ chĩa thẳng vào mặt tôi: - Ai? đứng im, giọng hô sắc nhọn như một mũi kim. Tôi cứng người hoảng hồn: - A... Anh đây... Tư... ờng. - Trời ơi, anh Tường. Chết mất thôi, anh chạy nhanh đi không người ta bắn chết bây giờ! Tôi lắp bắp: - Nụ, anh yêu em, cho anh... - Biết rồi, anh chạy nhanh đi, anh vào đây bằng lối nào, mẹ ơi, cứu anh ấy với! Tôi hoảng cả hồn, sợ gần chết, không biết trời đất là gì nữa. Nụ đút súng vào lưng quân phục dùng cả hai tay xô mạnh vào vai tôi, nhưng đã muộn: "Báo động". Phía đằng sau vang lên những tiếng thét giật giọng, tiếng AK lên đạn, tiếng con chó béc giê gầm lên. Tôi chạy cuống cả chân tay. Đây rồi hàng rào kẽm gai, cái nòng pháo đang quay rất chậm. Đã nghe tiếng bước chân rào rào, ánh điện đèn pin loáng thoáng. Tôi cuống cà kê định lao đầu vào hàng rào nhưng lập tức dừng ngay lại, hàng rào mắt cáo rất dày và là một thứ kẽm gai rất sắc. May thay, cái nòng pháo đã hạ xuống, tôi bật người đu lên nhưng lại buột tay. Đêm, sương xuống ướt đẫm khối thép, cái chỗ tôi đu tay vào lại dính một tý mỡ trơn nhẫy. Tôi nhảy hai lần và thở phào co người lên. - Đứng lại, giơ tay lên! - một ánh đèn pin chiếu thẳng vào lưng tôi, thốt nhiên cái "cần trục" ngưng lại. Tôi thét: - Quay nhanh lên Sâm. - Pằng! Tôi lạng người, mắt hoa đom đóm, trong tia chớp hiểm nghèo vừa vượt qua, tôi còn kịp nghĩ rằng mình đã chết và buông tay cho người rơi xuống ngay sát hàng rào. *
* * Nếu không có lệnh cấp tốc lên đường chiến đấu ngay sáng hôm sau, chắc chắn tôi đã phải ra tòa án quân sự và lãnh vài năm tù giam. Chỉ huy đã bảo vệ tôi và ký vào tờ cam kết với đơn vị bạn rằng, đó chỉ là trò trai gái thông thường. Mặc dầu vậy, trong vòng hai tiếng đồng hồ, quân báo đã lục tung cái sơ yếu lý lịch ba đời ăn củ chuối của gia đình tôi rồi mới tạm yên tâm cho tôi lái xe tăng vào Nam. Giây phút cuối cùng khi chuẩn bị lên đường, không cầm lòng được chúng tôi đã đến bám vào hàng rào gọi toáng lên, và các em đã đến. Cơn choáng "vượt rào" còn chưa qua, nghe chúng tôi thông báo lệnh đi chiến trường, các em bàng hoàng. Nụ, nước mắt đầm đìa cầm tay tôi khóc mãi điệp khúc: - Tha lỗi cho em, tha lỗi cho em... Giây phút ấy tôi có nhìn thấy những chiến sĩ cảnh vệ ban đầu. Họ ý tứ đứng xa nhìn lại. Mãi sau mới đến gần chào chúng tôi và nói lời thông cảm với vẻ mặt hết sức thân thiện. Thế là chúng tôi đi, khi lái xe lên tàu ở ga Vĩnh Yên chúng tôi mới nhớ ra rằng, chưa hề biết quê hương các em ở đâu và hòm thư của đơn vị các em. Cả một lời hẹn ngày về cũng không thằng nào kịp nói - thật là "ngu lâu" cả một bọn! ... Rồi, chiến trường đẫm máu cuốn chúng tôi đi... *
* * Hỡi các em Nụ, Quang, Lài, Bích, Lâm... hiện giờ các em ở đâu? Đang là một phụ nữ nông dân lo toan miếng cơm, manh áo cho chồng con, vui vầy với khói lam chiều, giàn mướp, mái gianh, đang là một chủ sạp hàng chợ Châu Long, Đồng Xuân nào đó hay đã trở thành mệnh phụ, phu nhân một bộ trưởng, thứ trưởng, cục, vụ, viện nào đó? Dù các em đang là ai, phục vụ đức ông chồng nào cũng xin các em một phút - một phút thôi như buổi chia tay năm nào lên đường vào Nam đánh giặc - nhớ đến chúng tôi, những chú lính lái xe tăng nghịch ngợm nhất dưới gầm trời này. Những người lính thuộc trung đoàn huấn luyện 207 đã cùng các em làm nên những chuyện động trời mùa hè năm 1972 trên đồi bạch đàn Vĩnh Phú. Chúng tôi, hai mươi năm qua như Hoa Xuân Toàn, Phùng Anh Dũng, Nguyễn Tự Chính đã ngã xuống ở chiến trường như những hiệp sĩ chết vì quê hương và người đẹp. Có người bị thương cháy hết mặt mày đã lui về làm vườn, vào hội chiến binh vùng sơn cước. May thay chưa có ai chết vì trụy lạc xa hoa. Chúng tôi vẫn là những Hoàng Sâm, Quốc Tuấn, Mạnh Tường, Bá Hùng tuyệt diệu của các em. Tuy đuôi mắt có nhiều nếp nhăn, râu ria có mọc ra rậm rạp, nhưng trái tim chúng tôi vẫn trẻ trung, vẫn nguyên vẹn đến hoang sơ những kỷ niệm ngọt ngào với các em, cả mùa hè đầy lo âu khi là Tankistơ trên đồi Vĩnh Phú. Vĩnh biệt những người bạn gái tốt nhất trên đời, hẹn gặp lại sau hai mươi năm nữa, như thể hai mươi năm qua chúng ta đã không thể gặp nhau. Nguyễn Thế Tường
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 21 Tháng Tư, 2009, 02:01:35 pm gửi bởi hoacuc »
|
Logged
|
Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
|
|
|
hoacuc
Thành viên

Bài viết: 1597
|
 |
« Trả lời #93 vào lúc: 21 Tháng Tư, 2009, 02:59:24 pm » |
|
Sợi tóc Nguồn: http://www.vannghequandoi.com.vnDoanh trại im lìm khuất sâu trong thung lũng. Phía tả là dòng sông Lục Nam, nước xanh biếc hờ hững trôi xuôi. Giữa dòng ngào ngạt hoa rừng, hoa từ thượng nguồn tung tẩy trên sông lấp lánh nắng chiều. Phía hữu non cao lấp ló trong mây trắng bồng bềnh in xuống những vạt rừng xanh thẫm. Hết mùa huấn luyện, đơn vị trầm u trở lại với núi rừng. Là anh lính vệ binh bồng súng huýt sáo suốt ngày, chán lại nghêu ngao nhạc vàng, nhạc đỏ, nhạc xanh, ca trù cũng i í được vài câu, ngày tân binh huấn luyện ở đây, đông đúc nhộn nhịp, tôi thường ra oai chấn chỉnh mấy chàng lính “cậu” ra vào qua cổng. Giờ mong họ lượn cho vui mắt cũng chẳng có. Ở đơn vị, tôi được mệnh danh là ông cụ non. Cái danh ấy có nhiều lẽ. Đầu tiên, bất kỳ chuyện gì tôi đã “xuất khẩu”, y như rằng có lớp, có lang, và nữa, dù là lính gác cổng nhưng nhiều khi cũng lên mặt lý sự ra phết. Vô luận đồng chí là cấp nào ra vào cổng không đúng tác phong, lập tức tiếng còi “toét” lên veo véo. Còn nhớ cách đây mấy tháng, có một thủ trưởng mang quân hàm thượng tá ngang nhiên phóng xe qua cổng, cứ như đơn vị là nhà riêng của mình. Toét một tiếng chẳng dừng, tôi buộc phải phải toét liên hồi báo động. Tiếng còi liên thanh khiến vị thủ trưởng giật mình phanh “két” xe trừng mắt nhìn tôi. Sau lần đó tôi được tặng giấy khen và quân hàm cũng được nâng lên một cấp, từ binh nhì lên binh nhất, oai ra phết. Nhưng cái danh ông cụ non ở trung đội cảnh vệ khó xoá đi được bởi một lý do nữa là tôi nghiện thuốc lào, nghiện từ khi học phổ thông. Ngày rời ghế nhà trường cũng là lúc biết đến thứ tiêu khiển quê mạc này. Lần đầu tiên bập vào lõ điếu, ho sặc sụa, dãi bắn tứ tung, nước mắt xối ra đỏ ngầu, đầu óc bung biêng xáo trộn. Thế mà đến ngày vào lính thì tôi đã trở thành dân chơi thuốc lào sành điệu. Cái điếu cày của tôi thường xuyên được thay nước, thông nõ bằng lông gà hàng ngày, đến nỗi cánh lính vệ binh biến thể câu “Súng là vợ…” thành ra “Điếu là vợ…” tặng tôi. Cái điếu cũng lạ, cũng biết giương oai diễu võ, mỗi lần bắn cứ tanh tách tanh tách như AR15 bật nấc liên thanh. Bạn thân nhất của tôi trong trung đội là một đồng hương, tuổi quân tuổi đời đều hơn tôi, đã có vợ. Những đêm tôi gác, lão không ngủ được, hay mò ra than thở: - Vợ tớ đẻ kém quá, hai lần đều “vịt giời!” - Nên động đến sách báo một chút, mẹo vặt đầy ở trong đó chứ ở đâu. Tôi động viên bạn. Kỳ thực lão thèm thuốc ê a câu chuyện làm quà, lão “rít” đỏ nõ không ngớt, chán rồi mới lần về chỗ ngủ. Có lần đứng gác, đúng lúc tôi đang nâng khẩu AR15 lên “bắn”, cũng là lúc các thủ trưởng qua cổng. Dí dỏm nhất là trung đoàn trưởng Ngô. Thấy tôi líu ríu từ trạm gác bước ra trong màn khói, chuyệnh choạng chân nọ đá chân kia, trung đoàn trưởng mỉm miệng cười: “Đồng chí nên bỏ thuốc, tớ có một đứa con gái mới thi đỗ đại học, nó đang khao khát một tình yêu với lính. Nếu cậu bỏ thuốc, tớ sẽ “xin nhau” cho”. Tôi cảm ơn nhưng trong bụng thầm nghĩ, trung đoàn trưởng ở tận xứ Thanh, sức đâu mình yêu xa thế. Cho đến một hôm. Trời chiều, nắng vàng hoe dội xuống sông Lục Nam. Còn vài giờ nữa hết ca gác, thường ca gác này rất nhiều cậu hoảng. Thứ nhất, nắng ấm dễ ngủ gật. Thứ hai, cũng là lúc các thủ trưởng ở thao trường về. Nhưng với tôi lại khá an toàn, hễ hai mí mắt đè díp xuống liền đưa tay vón ngay điếu thuốc bắn một phát là hết ngái ngủ. Đang ngồi rung đùi ngâm mấy câu Kiều bỗng một chiếc xe SUZUKI như từ trên giời rơi xuống xịch đỗ ngay trước mặt. Người đàn ông cầm lái từ từ nhấc chiếc mũ bảo hiểm ra. Ngồi sau là một cô gái mặt hoa da phấn khẽ cúi đầu chào. Tôi đang ngỡ ngàng, tâm trí đang dồn cả vào cô gái thì người đàn ông lên tiếng quát: - Đồng chí Thanh, nghiêm! Tôi giật bắn người nhìn sang. Ôi! Thủ trưởng Ngô. - Dạ… Dạ… Em chào thủ trưởng! Vừa nói tôi vừa chạy lại gỡ tấm ba-ri-e. - Dạ, thủ trưởng đội mũ bảo hiểm kín quá lại quần áo dân sự nên… - Tớ đùa cậu tí thôi - Giọng nhỏ nhẹ, vừa nói Trung đoàn trưởng vừa rút trong cốp xe ra một cái bọc được gói bằng giấy báo, tươi cười dúi vào tay tôi: - Này, quà của cậu đây! - Dạ… Tôi tròn mắt - Thủ trưởng mua quà cho em? - Lần này ở quê ra, duy nhất tớ chỉ mang quà cho cậu. Còn nữa, tối nay mời cậu lên phòng. Tôi ngây người, ngoái nhìn cô gái e thẹn ngồi sau xe, thầm nghĩ - Trung đoàn trưởng tâm lý ra phết - rồi thủng thẳng trở vào trạm gác. Lúc này, tôi mới bóc gói quà Trung đoàn trưởng vừa tặng mình. Hả? Thuốc lào! Khà… Khà… đúng thuốc lào Thanh Hoá. Thuốc lào Thanh Hoá có một ưu điểm rất đặc biệt, sợi nhỏ li ti, óng vàng, hút vào “phê” chết thôi luôn, không loại thuốc nào “nhái” được. Tôi lôi điếu ra hút thử luôn. Khoái chí “bắn” luôn mấy điếu. Khói chưa kịp chui ra hết khỏi miệng, hai mắt tối sầm ngã chúi về phía trước. Trời ơi! Thuốc ngon quá! Tỉnh dậy, miệng đắng ngắt. Thấp thoáng có bóng người vào ra qua cổng, mặc. Nhưng dù thuốc có ngon đến mấy vẫn không khoả lấp được hình ảnh xinh tươi của cô bé đi cùng Trung đoàn trưởng ban chiều. Cơm tối xong, tôi thay đồ, quần đen áo trắng, tóc chải rẽ ngôi rất phong lưu lững thững lên phòng thủ trưởng. Tới cửa phòng, tôi khựng lại, chút suy tư hiện trong đầu. Đích thị là con gái của thủ trưởng rồi. Mình đến một mình thế này mọi người cho là đánh quả lẻ. Nghĩ vậy, tôi liền quay về gọi thêm lão đồng hương. Lỡ xảy ra chuyện gì sẽ có đồng hương cùng gánh đỡ. Cửa phòng mở. Ánh điện từ trong hắt ra kẻ một đường sáng chạy xuống chân đồi. Thấy hai chúng tôi xuất hiện, Trung đoàn trưởng vẫy tay mời vào. - Chào các cậu, các cậu thấy đặc sản quê hương tớ thế nào? Chúng tôi khép nép ngồi vào ghế đối diện. Mắt sáng lên khi thấy cái điếu cày tre nhẵn thín nạm inox bóng loáng dựng ngay đầu bàn. Tôi nghĩ bụng, thủ trưởng đúng là một tay thuốc lào có hạng, lại cho lính cả bánh thuốc đủ thấy quý lính đến mức nào. Thấy hai chúng tôi ngắm nghía cái điếu, Trung đoàn trưởng Ngô khẽ mỉm cười. - Đồ xịn đấy! Mời các cậu! - Dạ! Chúng em dùng rồi, ngon lắm thủ trưởng ạ! - Tớ nói là nói cái điếu của tớ kia! Đồ gia bảo đấy. Vừa lúc ấy, từ phòng trong bước ra cô gái. Thấy tôi lúng túng, Trung đoàn trưởng nói ngay: - Con gái tớ! Ra chào các anh đi con, lính của cha đấy. Cô gái nhè nhẹ đi qua chỗ chúng tôi, hương thơm thoang thoảng, không phải hương quế cũng chẳng phải hương trầm mà là hương của hoa rừng ngất ngây lăn rơi trên da mặt đờ đẫn của tôi. Ôi! Em xinh quá, tôi khẽ thốt thầm nhìn vào ánh mắt nàng. Nàng cũng bạo dạn nhìn tôi, đôi mắt long lanh như chú nai ngơ ngác bên dòng sông Lục. Bỗng có tiếng điếu cày rít lên, tôi sực trấn tĩnh. Đó là thuốc mà Trung đoàn trưởng mời bạn tôi hút thử. Bạn tôi là người nghiền nặng nên một phát không đủ đô, phát thứ hai lại bắn tiếp. Trung đoàn trưởng phá lên cười, hai tay vỗ vào nhau bồm bộp. Tôi rất thèm nhưng đành phải ngồi im chấp nhận, vì cái nhìn sắc lạnh của nàng đang chĩa vào anh bạn đồng hương. Vốn dĩ anh đã có vợ nên không phải ý tứ hãi sợ gì nữa. Đang khi tôi ớ người ra đờ đẫn vì khói thuốc quện vào mắt, vào mũi, đánh thức các tri giác của tôi thì nàng đứng dậy xin phép ra ngoài. Tôi nhìn theo nàng thầm rủa ông bạn đồng hương vô ý cố đấm ăn xôi giải tỏa cơn nghiền. Khói thuốc đã khiến nàng không thể ngồi lâu thêm được nữa? Tôi như kẻ mất hồn khi nàng khuất sau cửa phòng khách. Nhưng cơ hội đã đến, nhân lúc vắng nàng, Trung đoàn trưởng ra hiệu và tôi hiểu ý ngay, liền véo một điếu rõ to thả vào nõ. Ngọn lửa bập bùng liếm từng sợi thuốc vàng ươm. Bỗng cổ họng tôi rát bỏng, có cái gì rất lạ xộc vào tim óc, khói quặn lên yết hầu khiến cuống họng như bị một vật cứng nhọn chẹn lại. Tôi vội buông điếu, chân tay đờ đẫn, mắt tối sầm, máu trong huyết quản sôi lên òng ọc và ngã vật xuống. Tôi cố vươn cái cổ ngẳng ra để thở, nước từ hai hố mắt trào ra, chập chờn phía trước là sếp và anh bạn chả hiểu gì đang huơ chân huơ tay cổ vũ cho một cầu thủ thuốc lào nghiệp dư tội nghiệp đo ván trên sân. Một lát sau lập cập bò dậy tôi khó nhọc nói: - Đặc sản của thủ trưởng có lẫn tóc. Em vừa phát hiện ra thì khói đã xộc vào rồi. Rồi chúng tôi uể oải xin phép ra về. Ngoài trời đen thui, cơ ngực vẫn co thắt dồn dập. Không biết từ đâu, nàng xuất hiện từ khoảng sáng bước đến. Nàng cười, ngước nhìn tôi, phía sau là những vạt rừng tối sẫm. Đứng bên nàng, chân tay tôi lóng ngóng, lại vẫn như còn mùi khét của khói thuốc lẫn tóc chết tiệt đang phả ra. Nàng thỏ thẻ: - Em sơ ý để rơi tóc vào thuốc. Em xin lỗi. Tôi ấp úng: - Không phải lỗi tại em. Có lẽ là tóc của người hái thuốc trên đồng. - Không! Nàng phụng phịu- Đó là tóc của em. Em không muốn bố em cũng như các anh hút thuốc. Em ghét mọi người hút thuốc… Với cả, bộ đội các anh… ai cũng thế… khờ lắm! Nói xong người con gái òa khóc chạy hút vào bóng đêm. Tôi nén tiếng thở dài, vậy là mình phải chia tay với thuốc?… Gói thuốc thủ trưởng tặng tôi gửi cho người bạn đồng hương. Cậu ấy là vầng trăng đã có nơi có chốn chẳng sợ mây sợ gió, còn tôi thân phận binh nhất phòng không phải nâng niu dù là đám mây thoảng qua. Nhưng sự đời thật quá đỗi bất ngờ. Không một ai ngờ được sau cú ấy, tôi trở thành con rể của thủ trưởng thật. Không biết do trời xui đất khiến thế nào lại bén duyên cầm sắt. Nàng thử thách tôi cũng kỳ lạ. Nếu thi đỗ sĩ quan thì cho bắn thuốc lào và yêu thoải mái. Ái chà chà! Đố nhà giầu húp tương. Bây giờ, mỗi khi lễ tết ngồi với bố vợ nay đã là đại tá sư đoàn trưởng, hai bố con vừa khề khà nhả khói bên cái điếu gia truyền vừa ôn lại câu chuyện sợi tóc duyên nghiệp và binh nghiệp. Chợt làn gió ở đâu thổi đến mang mùi hương hoa rừng đặc biệt chỉ tôi mới nhận ra. Và, một sợi tóc khe khẽ đậu xuống những ngôi sao trên đôi cầu vai thượng úy… Nguyên Thanh
|
|
|
|
|
Logged
|
Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
|
|
|
hoacuc
Thành viên

Bài viết: 1597
|
 |
« Trả lời #94 vào lúc: 23 Tháng Tư, 2009, 11:44:32 am » |
|
Anh Sức Nguồn: http://www.vannghequandoi.com.vnTrưởng phòng tổ chức của nông trường lật đi lật lại tập hồ sơ của tôi, rồi ông giương kính lên và bắt đầu đọc. Ông đọc rất say mê mặc dù tôi biết chắc chắn ông đã đọc tập hồ sơ của tôi ít nhất cũng dăm bảy lần... Cũng như mọi lần, sau khi đọc qua mỗi trang, ông cẩn thận thấm nước bọt vào đầu ngón tay rồi mới lật qua trang khác và điểm thêm bằng những tiếng khen "Được" hoặc "Cái này được". Cái kiểu đọc như vậy, dĩ nhiên khiến tôi rất sốt ruột. Như mọi lần, tôi chuẩn bị để nghe ông kết thúc bằng câu "Thôi được! Anh cứ để hồ sơ lại đây để chúng tôi xem lại đã". Cái cảnh đi xin việc, năm lần ra ba lần vào là chuyện thường. Nhưng lần này ông ta đọc có vẻ lâu hơn, bình tĩnh hơn, thỉnh thoảng ông còn dừng đọc, ngước lên nhìn tôi một lượt như để xem có cái gì không được khớp giữa tôi và những dòng chữ trong tập hồ sơ vậy? Cuối cùng, tôi thở phào, ông đã gỡ kính ra, tin cậy đặt nó lên tập hồ sơ của tôi. - Được! Được đấy. Lý lịch của anh thật là tuyệt. Chưa có một dấu vết gì cả. Nhưng này - Ông đột ngột nhô nửa người qua bàn - nghề nghiệp chính của anh là gì? Tôi sốt ruột nên đáp hơi sẵng giọng: - Nghề chính của tôi là… đánh giặc ạ. - Ái chà! Đánh giặc - ông bỗng cất tiếng cười vang - Khá đấy! Nhưng ở đây làm gì có giặc nhỉ? - Bỏ ngay cái giọng công thần ấy đi, anh bạn trẻ nhé. Tuy vậy, tôi thích anh, anh đại đội trưởng xe tăng ạ. Ban giám đốc đã đồng ý tiếp nhận anh rồi đấy. Nhưng… ở đây chúng tôi không có xe tăng cho anh chỉ huy, gay thế? - Tôi có thể lái xe xích, xe cần cẩu hay bất kỳ loại xe hơi nào. - Thế thì tốt. Ông trưởng phòng xoa hai bàn tay vào nhau - nhưng rất tiếc ở đây chúng tôi có vài cái xe rách thì xe nào cũng có ít nhất là ba anh tài xế rồi. Tuy vậy… chúng tôi đã quyết định giao cho anh phụ trách cả một đội xe, được chứ? - Dạ… tôi cũng có thể… - Nghĩa là được, phải không? Một đội hơn hai chục đầu xe chứ ít ỏi đâu. Nhưng là xe bò kéo, chứ không phải xe hơi đâu nhé! Nói xong ông lại cười vang và có vẻ thích thú ngắm nhìn bộ mặt ảo não của tôi. Vậy ra người ta giao cho tôi… lái xe bò? Thật chẳng còn ra làm sao. Nhưng chẳng lẽ cứ ăn không ngồi rồi mãi? Tôi là thương binh, được phục viên đã gần một năm nay rồi. Giá như tôi ở nông thôn thì mọi việc đơn giản hơn nhiều. Chỉ việc đến ban quản trị xin nhận vài sào ruộng khoán là ổn. Khốn nỗi tôi lại là dân thành thị, vườn tược chẳng có mà các nghề khác thì… tôi chưa kịp học một nghề gì trước khi đi bộ đội cả. Các đồng chí bên uỷ ban nhân dân thị xã có gợi ý mời tôi lên làm ở văn phòng uỷ ban. Nhưng tôi biết tôi không thể ngồi yên ở bất kỳ cái văn phòng nào lấy một tuần. Tôi thích làm việc ngoài trời, được đi lại, xê dịch hoặc đôi khi còn hò hét nữa. Tôi chỉ sợ nhận làm việc ở cái nơi cực kỳ nghiêm chỉnh ấy mà tính khí của tôi lại hơi bồng bột, không khéo dăm bữa nửa tháng tôi ngứa chân ngứa tay, rồi làm ăn cẩu thả hay nói năng không được chững chạc cho lắm, lại phiền cho những người cưu mang mình. Vậy nên tôi từ chối để vác hồ sơ đi xin việc ở khắp nơi, cho đến khi gặp cái ông trưởng phòng. - Thế nào? - Ông trưởng phòng lại hướng về phía tôi - Chắc là đồng chí sẽ không nhận việc này chứ gì? - Tôi biết mà… Cánh thanh niên các anh thì chỉ thích nơi nào tao nhã một chút. Cái nghề đánh xe bò… Nhưng thôi được!... Ưu tiên đồng chí là thương binh, tôi có thể xếp đồng chí làm việc ở bộ phận hành chính… - Không, tôi vội xua tay - Tôi xin nhận xuống đội xe bò. - Hả? - Bác cứ cho tôi xuống đội xe. - Nếu vậy thì hay lắm. Ông trưởng phòng xoa tay hể hả. Có thế chứ! Đúng là là… phẩm chất của giai cấp công nhân. Nếu đồng chí về đó thì chúng tôi yên tâm lắm. Xem ra phải hơi cứng đầu một chút thì mới cầm cương được cánh xe bò kéo. Chà… chà! Một ổ tiêu cực đấy! Đời thuở nhà ai họ dám bán cha cả bò của nông trường rồi vu cho kẻ trộm lấy mất. Dĩ nhiên là những kẻ như vậy là vào tù rồi. Nhưng… cũng chưa phải rồi mọi việc xấu xa ấy sẽ chấm dứt. Hừm… lạ thật! Táo gan thật! Về đó anh phải đặc biệt chú ý đến tay Nguyễn Văn Sức. Hừm… một tay đã từng lái xe bộ đội Trường Sơn. Cũng vào sinh ra tử cả đấy. Đến khi hoà bình, chuyển ra làm đội trưởng đội xe vận chuyển dân chính thì bắt đầu trở chứng. Quả là… Anh tính, đời thuở nhà ai anh ta dám bán gần hết cả một xe vải quý cho con buôn để lấy tiền chia nhau? To gan thế đấy! Dĩ nhiên rồi đến cái đoạn phải chịu kỷ luật, bị đuổi về. Không bị đi tù còn là may đấy. Ấy thế mà rồi thì… Về đây, anh ta làm cách nào đó, có giời biết, mà ông phó giám đốc nhà này cứ say như điếu đổ, rồi nhận anh ta vào làm ở đội xe. Tôi biết mà, hắn lại định nhắm vào cái khâu tiếp xúc với nhiều cơ sở vật chất nhất. Để làm gì, hả? Với những người như anh ta, thì không phải để làm cách mạng đâu, anh nhớ lấy điều đó! Mặc dù năm vừa qua anh ta được bầu là chiến sĩ thi đua hẳn hoi. Nhưng tôi vẫn ngờ lắm. Cái tay đội trưởng cũ ngu ngơ quá, bị chúng nó xỏ mũi cả. Anh thì phải khác, nhớ đấy! Vì anh là cán bộ, đảng viên lại xuất thân từ giai cấp công nhân. Nếu anh mà cũng lơ mơ thì… cứ cứ… coi chừng đấy! Ông trưởng phòng đe nẹt tôi một cách thân ái rồi trịnh trọng mở cặp ra lấy tờ quyết định tiếp nhận trao cho tôi. - Đấy… Việc của anh thế là xong. Anh làm nốt các thủ tục còn lại rồi nhanh chóng về mà nhận bàn giao công tác. Kể từ ngày hôm nay anh chính thức là… cán bộ của nông trường này rồi. Những lời huấn thị của ông trưởng phòng tổ chức không làm tôi bực mình lắm mặc dù nó thấm đậm chất gia trưởng. Có lẽ vì tôi đang vui. Dù sao thì mọi việc chạy xuôi chạy ngược cũng đã kết thúc. Từ nay tôi đã là anh đội trưởng một đội xe bò kéo của nông trường. Chứ đâu phải chuyện chơi?
|
|
|
|
|
Logged
|
Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
|
|
|
hoacuc
Thành viên

Bài viết: 1597
|
 |
« Trả lời #95 vào lúc: 23 Tháng Tư, 2009, 11:45:28 am » |
|
Anh Sức (Tiếp) Cũng như tất cả các vị thủ trưởng mới nhậm chức, sau khi nhận bàn giao tài liệu, sổ sách, bản thống kê tài sản v.v… tôi quyết định bỏ ra vài ngày để làm quen với công việc và anh em công nhân dưới quyền chỉ huy của mình. Tôi định tổ chức hẳn một cuộc họp để ra mắt và "ra tuyên bố" về "chính sách" của mình… Nhưng đã gần hết một tuần mà tôi không làm sao gom đủ quân về trụ sở để tổ chức cuộc họp ấy. Cuối cùng, tôi phải bãi bỏ ý định ấy và đành "nhập gia tuỳ tục". Nghĩa là tiếp tục dùng cái bảng thông báo ở đầu nhà để phân công công việc và ra những chỉ thị cần thiết. Sau đó tôi quyết định đi theo anh em chở hàng một vài chuyến để tìm hiểu công việc. Tuy chưa nói với ai, nhưng tôi định chuyến đầu sẽ đi với anh Nguyễn Văn Sức. Tôi chọn đi với anh là vì hai lẽ. Thứ nhất, vì những lời lưu ý đặc biệt của ông trưởng phòng tổ chức. Thứ hai, sau một tuần làm việc ở cơ quan, tôi đã có vài lần được tiếp xúc với anh Sức. Tự nhiên tôi lại có cảm tình với anh. Ở anh có một cái gì đó chững chạc, bền vững chứ không có những nét xộc xệch cẩu thả, tạm bợ như số đông anh em đánh xe ở đây. Tôi không nghĩ rằng người ta đã phạm kỷ luật, thậm chí phạm tội một lần thì không thể thay đổi được. Ông trưởng phòng có vẻ mê cái lý lịch của tôi. Nhưng, tất cả những sự tốt đẹp, trong sạch của quá khứ có bảo đảm để tôi mãi mãi là người tốt hay không lại là chuyện khác. Tôi đã từng biết không ít những người vẫn được coi là tốt, là trong sạch đã nhanh chóng hư hỏng như thế nào. Ngược lại, tôi từng biết những người phạm tội, xa xẩy đã vươn lên để trở lại với bản chất tốt đẹp của một con người chân chính như thế nào. Quá trình thứ hai, chắc chắn phải gian khổ, vất vả hơn quá trình thứ nhất. Vì thế, tôi muốn đi với anh một chặng đường. Khi tôi đến, anh em trong đội đang nhận hàng để chuẩn bị cho chuyến đi ngày hôm ấy. Một số anh em đã đóng hàng xong đang quây quần xung quanh bác Mạc, một người nhiều tuổi nhất trong đội. Cánh thanh niên vừa chuyền tay nhau cái điếu cày chạm khắc rất cầu kỳ của bác Mạc vừa cười nói ồn ào. Sức không ở trong đám đông ấy, anh vẫn đang loay hoay bên xe của mình. Thấy tôi tới, một thanh niên ở trần, mặc quần bò, đội mũ cối rộng vành liền la lên: - Thủ trưởng tới đấy… Chú ý! Bò bê… Tất cả nghiêm! Mọi người cười rộ cả lên. Tôi cố làm ra vẻ tự nhiên bước tới. - Chào anh em!... Mọi việc ổn cả rồi chứ? - Xong cả rồi đấy anh ạ. - Bác Mạc lên tiếng trả lời thay mọi người - Ba xe chở cỏ khô. Năm xe chở gạch và xi măng vào cho đội Sáu xây lò đường. Riêng xe của anh Sức và xe của tôi thì chở phân đạm và vào xóm Trại cho đội Mười hai bón thúc ngô. Sau đó hình như chở gỗ từ đó ngược ra Sơn Tây giao cho nhà máy đường để đổi lấy mắm ma-ri. Anh muốn đi với xe nào thì tuỳ. Ông thủ trưởng trước, dạo mới về cũng đã đi thử với tôi một chuyến! Nhưng chỉ được vài cây số thì ông ta bắt đầu ngáp, rồi gật, bập cả đầu vào thành xe. Tôi đành phải trải chiếu lên trên hàng cho ông ta ngả lưng. Nhờ giời, ông ta ngủ liền một mạch đến tận nơi trả hàng. Khi lay ông dậy, tôi nói đùa "Nếu tôi mà tiêu cực thì tôi bán quách cả thủ trưởng cho mấy con mẹ phe ngoài chợ Ba Trại rồi". Mọi người lại cười ồ lên. Tôi cũng cười theo rồi vỗ vai bác. - Thôi, thế thì tôi sẽ đi với bác và anh Sức. Nếu tôi ngủ dọc đường, hai bác cứ việc quẳng tôi xuống đường. - Lại nói cái chuyện ngủ - Bác Mạc hào hứng tiếp tục câu chuyện - Có lần đi chở than ngoài cảng Sơn Tây về đêm. Trăng thanh gió mát, xe cứ nhẩn nha lọc cọc lăn trên đường. Tựa lưng vào tải cỏ khô, tôi ngủ cha nó lúc nào chẳng biết. Đến khi mở choàng mắt ra thì… Quái! Đây là đâu thế nhỉ? Bỏ mẹ, đây đã tới gần đập Phùng rồi cơ à? Thì ra cái con mẹ này nó định kéo mình về Hà Nội chơi một chuyến chăng? Nghĩ đi nghĩ lại vẫn còn thấy may. Giá mà gặp thằng bợm nào nó trèo lên, xúc cha nó hết than có lẽ cũng chẳng biết. Vô phúc còn bị nó xịt ê-te cho mình lịm đi rồi tháo mất bò như ông Sáu Đỗ ngoài Sơn Tây thì cũng đành chịu chứ biết làm sao? - Năm ngoái anh Sức đã chẳng chơi cho cái bọn mất dạy ấy một vố ra trò ấy à? - Cậu thanh niên đội mũ cói rộng vành lên tiếng - Xe anh ấy chở phân đạm từ Sơn Tây về, đến quá dốc Đồi Thông, đang mơ mơ màng màng thì bốn thằng ập tới. Chúng dí dao găm vào cổ anh và đòi anh phải để cho chúng lấy vài tải đạm. Cưỡng lại thì chúng đâm chết ngay. Anh Sức rất khôn ngoan liền bảo chúng "Các ông đã định lấy thì cứ khuân tất cả xuống rồi trói tôi lại. Sáng mai có người đi qua, tôi sẽ kêu họ cởi trói lập biên bản. Chứ các ông chỉ lấy một vài bao rồi tha tôi thì về cơ quan tôi cũng đến chết". Bọn kia tưởng chuyến này "trúng quả", máu tham liền nổi lên. Thế là chúng bảo anh dừng xe, rồi ì ạch khuân hàng xuống. Chúng tưởng gặp phải anh chàng yếu đuối nên càng chủ quan chẳng đề phòng nữa, xúm cả lại bốc hàng. Thế là anh Sức lựa lúc chúng sơ hở, rút được cây gậy cài bên thành xe rồi nhảy bổ tới phang cho hai thằng gần nhất mỗi thằng một gậy gục ngay tại chỗ. Hai thằng còn lại hốt hoảng tháo chạy. Anh trói gô hai đứa bị đòn lại, quẳng lên xe rồi đưa vào giao cho một đơn vị bộ đội đóng quân gần đó. Mấy hôm sau công an tóm được nốt hai thằng còn lại. Hồi đó nhà báo chả về tận nơi phỏng vấn, rồi chụp ảnh, viết bài đăng trên báo là gì? - Có, tớ có đọc bài báo ấy - Một anh khác vội chen vào - Phải nói bài báo viết rất hấp dẫn ly kỳ. Nhưng… tớ không khoái cái đoạn anh Sức nghĩ. Lúc ấy thì làm quái gì mà nghĩ được nhiều thế? Thậm chí lại còn nghĩ đến cả mấy chục héc-ta ngô, lạc của nông trường đang chờ phân nữa? A… anh Sức đây rồi! Này, lúc ấy anh có nghĩ lắm như thế không anh Sức? - Nghĩ gì? - Sức vừa bước tới nên chẳng hiểu mô tê gì cả - cho mình mượn cái điếu. Chuẩn bị đi thôi chứ còn gì. Bò bê nó đang dậm chân dậm cẳng ầm ầm lên kia kìa. - Bọn tôi đang kể cho xếp mới nghe cái tích anh đánh cướp cứu tài sản xã hội chủ nghĩa đấy. Cậu thanh niên đội mũ rộng vành vừa nói vừa khẽ nháy mắt - Hôm nay thủ trưởng sẽ tiếp tục đi sâu đi sát để tìm hiểu đồng chí chiến sĩ thi đua của đội xế bò ta đấy. Sức quay lại, nhìn thấy tôi anh khẽ gật đầu thay cho câu chào rồi hỏi. - Anh định vào đội xóm Trại à? - Vâng, tôi muốn đi với anh một chuyến. - Được, xin mời anh - Sức trả lời sau khi rít một hơi thuốc lào - Anh lên xe tôi, bò của bác Mạc hôm nay không được khoẻ lắm đâu. Anh em đánh xe cũng vội vã trở về xe của mình. Tiếng giục bò vang lên. Tiếng bánh xe lăn trên con đường rải đá lọc cọc. Một hồi kẻng đổ rền báo giờ làm việc buổi sáng đã đến. Các cô trong đội trồng dừa từ ngôi nhà tập thể túa ra đường. Cô nào cô nấy nai nịt như thể sắp bay vào vũ trụ: Chân đi giày ủng, tay đeo găng bảo hộ lao động, khăn trùm đầu trùm cổ kín mít, chỉ có hai con mắt là các cô vẫn phải để cho nó lóng lánh, liếc ngang liếc dọc nhoay nhoáy. Chẳng bù cho lính của tôi, mười người thì tới sáu bảy người ở trần phơi ra những mảng lưng, mảng ngực đen cháy, những bắp thịt cuồn cuộn. Vậy mà cái duyên bóc trần ra ấy của "Lính xế bò" vẫn buộc các cô phải để mắt tới. - Ê… Này các em đội dấm dớ… A quên, đội giồng dừa chứ nhẩy! - Cậu đội mũ rộng vành ngồi ngất ngưởng trên chiếc xe chở cỏ khô vung roi hét lên. - Muốn ăn cơm tám với giò, lại đây mà ủn xe bò với anh. Nào…! - Anh Phong ơi! Cho bọn em ngồi ca-bin xe bò với nào. - Lên đây! Lên đây. Ca-bin của anh đây thì êm hết xẩy!. - Nhưng mùi nước đái bò… khai lắm!
|
|
|
|
|
Logged
|
Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
|
|
|
hoacuc
Thành viên

Bài viết: 1597
|
 |
« Trả lời #96 vào lúc: 23 Tháng Tư, 2009, 11:56:42 am » |
|
Anh Sức (Tiếp) Các cô cùng cười ré lên khiến anh chàng đội mũ rộng vành cứng họng, mắt đỏ phừng lên. Bị hố với các em, anh ta đâm cáu, hai cái mông bò bị vụt lia lịa một hồi. Nhưng… chỉ một lát sau đã thấy anh ta nằm ngửa trên đống cỏ khô, vừa dứ dứ cái roi lên trời vừa hát vang lên. Ra đến ngã ba, mấy chiếc xe chở cỏ khô rẽ lối khác. Xe của Sức và của bác Mạc nhằm thẳng vào hướng Ba Vì đi tới. Trước mắt chúng tôi là những đồi cỏ sữa của trung tâm bò giống Môn-ca-đa, thứ cỏ có sức sống mãnh liệt và có hương vị đặc biệt do nước bạn Cu-ba giúp ta gây giống và gieo trồng. Vào ban đêm, mùi cỏ bị nắng nung khô tái, suốt ngày toả ra mùi hương nồng say, thấm đậm trong không gian, khiến bất kỳ ai đi qua đây cũng thấy nao lòng. Buổi sớm, sương còn đọng long lanh trên những ngọn cỏ, hương thơm vẫn nồng nàn khiến ta cứ ngỡ chính những giọt sương kia đã toả ra cái hương vị lạ lùng ấy! Nhưng rồi mặt trời lên, sương tan. Sự hào nhoáng của những giọt sương mỏng manh tan biến ngay dưới ánh ắng mặt trời nhưng hương cỏ thì vẫn nồng đượm, vẫn lắng đọng, quanh quất đâu đây, êm dịu luồn lách vào tận da thịt, như nhắc ta đừng bao giờ quên cái hương vị diệu kỳ này. Nhưng làm sao có thể quên, dù chỉ một lần qua đây? - Buổi sáng thật tuyệt vời, phải không anh Sức? Tôi hỏi và đợi câu tán đồng của anh. Nhưng hình như anh không nghe tiếng, như quên cả sự có mặt của tôi trên chiếc xe này. Mắt anh nhìn đăm đắm như bị hút vào một điểm nào đó ở phía trước. Gương mặt anh lúc đó thật đẹp. Một vẻ đẹp đầy nam tính, khoẻ khoắn, góc cạnh và lộ rõ vẻ từng trải, dày dặn nhưng chưa hề chai sạn. - Anh có thuốc lá không? Anh hỏi khẽ và vẫn không nhúc nhích. - Có đây. Tôi trả lời rồi vội rút bao thuốc lá trong túi ra đưa cho anh. - Cám ơn! Anh nói khẽ khi điếu thuốc đã bắt lửa. Sau đó anh lại im lặng. Anh ngậm điếu thuốc trên môi và lặng lẽ hút, lặng lẽ nhả khói, không một lần nhấc ra khỏi môi cho đến khi điếu thuốc chỉ còn một mẩu nhỏ anh mới thổi phù một cái cho mẩu thuốc bay ra vệ đường. - Anh nghiện thuốc lắm, phải không? Tôi hỏi khi nhìn thấy cung cách hút sách lạ lùng ấy của anh. - Không. Tôi không nghiện bất cứ thứ gì. Nhưng thứ gì cũng chơi được tới cùng như bất cứ một kẻ nghiện ngập chính cống nào. - Anh đã từng là lái xe mà - Tôi nói như để thừa nhận sự sành sỏi của anh. Nhưng anh lại cười khẩy. - Chắc ông Phục trưởng phòng tổ chức đã kể cho anh nghe đủ điều xấu xa về tôi, phải không? Tôi gật đầu xác nhận điều đó vì tôi biết, trước những người như anh mà nói dối là một sự ngốc nghếch. - Nhưng anh có tin không? - Không. - Thế thì anh lầm rồi. Tất cả những điều ông ta nói về quá khứ của tôi đều đúng cả đấy. Ông ta biết rất kỹ và nhớ rất dai - Anh bỗng cười vang rồi sôi nổi nói tiếp - Có điều… chưa bao giờ ông ta hiểu đúng tôi cả. Ông ta là một người… Biết nói thế nào nhỉ? Có thể nói là một người trong sạch, tận tuỵ và rất nghiêm khắc. Ông ta có thể ngồi miệt mài bên đống hồ sơ ngày này qua ngày khác, bất chấp giờ giấc, thời tiết, ngày nghỉ hay ngày lễ… Và nếu anh đến xin việc chẳng hạn, vô phúc lại tưởng ông ta cũng giống như một số cán bộ tổ chức khác, mà định giúi cho ông ta một thứ gì đó, dù chỉ là một bao thuốc lá loại rẻ tiền thôi thì… anh sẽ hết đời! Ông ta sẽ liệt ngay anh vào danh sách những thằng vứt đi của xã hội. Chẳng thế mà, tuy đã từng là cán bộ tổ chức của một xí nghiệp vận tải, nghĩa là ngồi ở cái vị trí mà người ta có thể hái ra tiền, nhưng ông ta vẫn sống rất nghèo, rất thanh bạch, hàng ngày vẫn đi về bằng chiếc xe đạp mà ông cụ đẻ ra ông ra mua từ hồi còn thằng Tây kia. Về mặt ấy và về sự tận tuỵ với công việc, ông ta thật là một người đáng kính trọng. Nhưng ông ta có một cái lỗi, thậm chí là một cái tội nữa, là chỉ tin vào lý lịch, chỉ làm việc với những hồ sơ khô cứng chứ không tin vào con người với tất cả những cái tốt và cái chưa tốt của họ. Với ông ấy, chỉ có hai loại người, loại đã có tội, đã bị kỷ luật hoặc có lý lịch không trong sạch và loại hoàn toàn trong sạch, chưa có "phốt" gì bị ghi trong lý lịch hồ sơ. Với loại thứ nhất, ông ta coi như hoàn toàn khả nghi, không thể dùng được, phải lập tức tìm cách mà xéo đi cơ quan khác. Tôi cũng là người đã từng bị ông ta xếp vào loại này. Rất không may cho tôi là về tới tận cái xó xỉnh này tôi đã lại thấy ông ta lù lù ngồi đó rồi. Thực ra, sau khi bị kỷ luật, tôi cũng chẳng thiết tha trở lại làm một anh công nhân viên chức Nhà nước làm gì. Nhưng nhờ có ông phó giám đốc nhà này, ông Thức ấy mà, ông ta động viên, tạo điều kiện cho tôi vào làm việc ở nông trường, không phải vì ông ấy thấy tôi cần phải trở lại biên chế nhà nước để có miếng cơm manh áo. Ông ấy hiểu tôi, biết tôi hoàn toàn không phải người xấu, không có ích gì cho xã hội nữa. Được ông Thức khuyến khích, tôi làm đơn xin vào nông trường. Đến khi bước vào phòng tổ chức cán bộ, vừa nhìn thấy ông Phục, tôi đã phát ớn, định quay về. Nhưng tôi lại nghĩ. Thì đã sao? Nếu mình rút lui, chẳng hoá ra những ý nghĩ của ông ta về mình là vĩnh viễn đúng hay sao? Mình không thể trở thành người tốt, người có ích cho xã hội nữa hay sao? Nghĩ vậy, tôi cứ liều tiến tới. Dĩ nhiên ông ta ngạc nhiên, và ông ta kiên quyết không chịu chấp nhận tôi. Cuối cùng, có lẽ nể ông Thức nên ông ta tạm dẹp những nguyên tắc của mình qua một bên để hé cửa cho tôi trở lại làm anh công nhân. Nhưng… ông ta luôn luôn cảnh giác với tôi. Có lẽ ông luôn nghĩ rằng Sức này định tuồn vào để moi của Nhà nước một lần nữa đây. Ngay cả cái lần tôi đánh nhau với bọn cướp để cứu tài sản Nhà nước ấy mà ông ta vẫn nhìn hiện tượng ấy bằng cặp mắt cảnh giác. Tôi được anh em tín nhiệm bầu làm tổ trưởng, rồi chiến sĩ thi đua, ông ta cũng chưa tin, có lẽ ông ta nghĩ rằng tôi chuẩn bị một "cú" gì đây nên mới ra vẻ tích cực, liêm khiết đến thế? Anh thấy ông già ấy có kỳ cục không - Anh lại cất tiếng cười vang rồi kết luận - Tuy vậy, tôi không hề thù ghét ông ta. Vì, suy cho cùng, ông ta vẫn là một người tốt, một cán bộ tận tuỵ trong công việc và liêm khiết, trong sáng. Ông ta trong sáng ngay cả trong sự thành kiến một cách kỳ quặc với những người như tôi. Những lời kết luận của anh Sức về ông trưởng phòng tổ chức khiến tôi ngạc nhiên. Khi ngẫm nghĩ lại tôi hiểu và càng mến phục anh hơn. Tôi biết, trước mặt tôi là một con người có phẩm cách, có ý chí và nhân hậu. Cuộc đời của anh hẳn lắm thăng trầm, chỉ có sự từng trải mới tạo nên cho con người những phẩm chất ấy, mới giúp con người có khả năng để không ngộ nhận, để có thể phân biệt được những khoảng sáng và những vùng còn tối tăm trong mỗi con người. Tôi muốn biết về những thăng trầm ấy của cuộc đời anh vì tôi biết, ở đó những phẩm chất của anh đã được bộc lộ và thử thách. * * * Tuy vậy, tôi vẫn im lặng chờ đợi. Đã qua hết những đồi cỏ và bây giờ, trước mắt chúng tôi là những đồi dâu của nông trường dâu đồi. Ai là người đầu tiên đã mang cây dâu từ miền bãi lên vùng đồi cằn cỗi này nhỉ? Cũng là một cuộc cách mạng, một cuộc biến cải chứ đâu phải chuyện bình thường. Ấy vậy mà bây giờ cây dâu mọc xanh tươi ở đây, được chấp nhận ở đây một cách tự nhiên, như tạo hoá sinh ra vốn đã như thế. Người qua kẻ lại cũng coi sự có mặt của cây dâu kia ở đây là chuyện thường tình, chẳng ai biết tới sự trăn trở đau đớn của cây dâu và của những người lần đầu tiên đặt cây dâu xuống vùng đồi đá ong này. Anh Sức không phải là người sinh ra ở đây và cũng không phải vào đời bằng nghề đánh xe bò. Nhưng phải tới đêm hôm ấy, tôi mới được biết vì sao anh đã đến đây và trở nên gắn bó với vùng đất này. Lượt trở về xe chúng tôi chở gỗ ván xẻ. Chúng tôi gỡ mui xe ra, chất gỗ lên rồi trải chiếu nằm khểnh trên đó mà ngắm trăng, mặc cho đôi bò tận tuỵ và trung thành nhẩn nha kéo đi. Những lúc như thế này mới thấy nghề đánh xe bò cũng không phải tồi tệ gì. Có thể nói là thơ mộng ấy chứ. Suy cho cùng thì nghề nào mà chẳng có những lúc nhọc nhằn cay đắng và những lúc thảnh thơi nhàn hạ như những ông hoàng? Đêm nay chúng tôi là những ông hoàng. Ngửa mặt lên gặp một trời đầy trăng; xung quanh mặt đất ngạt ngào hương cỏ, hương cây, thuốc lá trong túi còn đủ hút tới sáng: nước chè đặc đầy hai bi đông và nếu đói bụng thì đã có một rổ khoai luộc chị em đội xóm Trại vừa biếu hồi chiều. Xe của bác Mạc nằm lại đợi sáng mai chở lợn về nông trường. Có lẽ vì thế mà tôi và anh Sức cảm thấy hoàn toàn được tự do. Chúng tôi có thể lang thang trên đường suốt cả đêm mà không bị ông già khó chịu và cẩn thận luôn miệng thúc giục. - Hồi còn lái xe ở Trường Sơn những đêm trăng như thế này thật quý vô cùng - Anh Sức bắt đầu câu chuyện khi xe chúng tôi ra đến đường lớn. Bọn mình có thể đàng hoàng chạy trên những con đường bị bom đạn địch cày xới tơi bời mà không phải dùng đèn. Bỏ nghề lâu rồi mà bây giờ cứ tới những đêm trăng như thế này tôi vẫn thấy nao nao cả người, cứ như sắp sửa nhảy lên xe mà phóng vù đi vậy. - Anh chuyển sang lái xe dân chính từ hồi nào? - Năm bảy mươi sáu - anh kể. Như anh biết đấy, sau chiến tranh, người lính nào cũng bắt đầu nghĩ đến cuộc đời mình, đến cái tổ ấm của mình. Đó là lẽ tự nhiên. Tôi cũng vậy. Những năm còn là bộ đội Trường Sơn, tiếng là ở phía trước nhưng năm nào tôi chẳng có dịp ghé qua nhà vài ba lần. Nhưng đi thì đi, về thì về, tôi nào có để ý nhiều đến cái gia đình riêng nbỏ bé của mình. Hình như mọi cái đều ổn cả. Cái nhà do bố mẹ làm cho, dù là nhà lợp lá, nhưng vẫn còn có vẻ chắc chắn. Vợ đẻ sòn sòn ba năm đôi, nhưng "giời sinh voi giời sinh cỏ" các cháu vẫn lớn đều, vẫn có cơm ăn áo mặc, chứ có đến nỗi nào mà phải lo. Tuy vẫn chưa hơn cuộc sống thanh đạm của ông cha xưa bao nhiêu nhưng thời chiến, đòi hỏi nhiều làm gì. Vợ ở nhà vẫn phải vo vo véo véo mới đủ ăn, đủ mặc thật đấy nhưng thỉnh thoảng chồng còn ghé thăm nhà được trong khi chồng con người ta vẫn đi biền biệt, thế là mình hơn người rồi. Đòi hỏi gì nữa? Mình cũng vậy, sau bao ngày vào sống ra chết, được ra nhận hàng một chuyến, được tranh thủ ghé về thăm vợ thăm con, thế là nhất rồi, hơn người rồi. Đòi hỏi gì nữa. Cứ nghĩ, có lẽ cuộc đời chỉ cần thế này là đủ, miễn là không còn chiến tranh, không còn nay sống mai chết. Nhưng rồi chiến tranh cũng đến lúc chấm dứt. Cả dân tộc vui mừng, hể hả vài ngày, vài tháng rồi mỗi người phải tiếp tục cuộc sống riêng của mình. Hoà bình rồi, cũng phải thu xếp đời sống sao cho kha khá hơn một chút chứ. Vợ bắt đầu nhắc tôi chuyện nhà đã dột, giá như có tiền xây lên, lợp ngói thì tuyệt. Hợp tác đưa điện về, hoà bình rồi phải dần dần điện khí hoá nông thôn chứ. Nhưng có điện thì có nhu cầu về đồ điện. Chí ít cũng phải có cái đài cho con nghe, có cái quạt đỡ ngày nóng bức cho những đứa bé… Trong xóm đã có nhà người ta khuân được ti vi, tủ lạnh về rồi kia kìa. Mà họ cũng là cán bộ, bộ đội cả đấy chứ? Bấy giờ về thăm nhà mới thấy cái nghèo của mình lòi ra. Vợ con mình sống vất vả quá. Nhà cửa của mình loang toàng quá. Không thể thế này mãi được! Là cái thằng đàn ông, để vợ con nhếch nhác, thua kém mọi người đủ đường thì còn ra làm sao? Mình là bộ đội, làm gì thì làm thế nào được? Nhưng hà cớ gì mình phải ở bộ đội mãi nhỉ? Mà làm lính suốt đời được à? Hoà bình rồi, mình đã hoàn thành nghĩa vụ với Tổ quốc. Còn nghĩa vụ với gia đình thì… Thế là tôi viết đơn xin chuyển ngành. Đúng dịp đó đơn vị cũng đang thu gọn đội hình nên tôi được chấp thuận ngay. Hồi ấy bộ đội lái xe Trường Sơn có giá lắm nên tôi dễ dàng được tiếp nhận vào một xí nghiệp vận tải của Bộ Nội thương và được giao phụ trách một đội xe chạy đường dài. Tất cả dễ dàng như được sắp đặt từ trước vậy.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 23 Tháng Tư, 2009, 07:28:58 pm gửi bởi hoacuc »
|
Logged
|
Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
|
|
|
hoacuc
Thành viên

Bài viết: 1597
|
 |
« Trả lời #97 vào lúc: 23 Tháng Tư, 2009, 07:27:01 pm » |
|
Anh Sức (Tiếp) Những tháng đầu chưa có chuyện gì xảy ra, tôi vẫn còn giữ được cái chất của một người chiến sĩ. Nói như cách nói của cánh lái xe dưới quyền tôi lúc bấy giờ là tôi vẫn còn "sặc mùi lính tráng". Tuy vậy thu nhập của tôi cứ tăng dần lên. Nhiều khoản phụ thu lạ lùng đến mức tôi không thể hiểu nổi, nhưng thực tình, cũng cố làm ra vẻ vô tâm, không tìm hiểu xem đồng tiền từ ngõ ngách nào mà cứ chảy về ngày một nhiều hơn. Có tiền tôi tiêu pha rộng rãi hơn, thỉnh thoảng gửi về cho vợ dăm ba trăm hoặc mua sắm một vài thứ cần thiết. Tôi cam đoan với anh rằng người ta làm quen với cái sự sung sướng, đầy đủ dễ dàng hơn làm quen với gian khổ, hy sinh rất nhiều. Chẳng bao lâu tôi đã không thể hút nổi một điếu thuốc rẻ tiền như chúng ta vừa hút và sáng nào không có một tách cà phê thì mồm cứ nhạt hoét và làm ăn sẽ chểnh mảng suốt cả buổi. Tôi càng khó tính trong ăn uống, hút sách bao nhiêu thì ngược lại, càng trở nên dễ tính hơn với những thói hư tật xấu của anh em trong đội bấy nhiêu. Bên tai tôi thỉnh thoảng đã vang lên lời khen ngợi của những người dưới thẩm quyền "Thủ trưởng của chúng ta dạo này chịu chơi lắm rồi!". Tôi cảm thấy yên tâm, khi lầm tưởng rằng mình đã hoà nhập được với môi trường mới. Nhưng rồi, cái ranh giới cuối cùng cũng phải đến. Một sợi dây mỏng manh đã giăng ra trên đường. Có bước qua cái sợi dây ấy hay không? Ở bên này có nghĩa là tôi vẫn ít nhiều còn là tôi. Còn nếu bước qua bên kia tôi sẽ trở thành một kẻ khác. Bấy nay, mặc dù có lờ mờ cảm thấy những khoản tiền "phụ thu" mà anh em trong đội thỉnh thoảng chia cho là tiền bất minh. Nhưng tôi vẫn lờ đi, coi như chưa biết gì. Đã đến lúc tôi phải đối mặt với chính tôi. Số phận đã định thế rồi. Lần ấy tôi trực tiếp đi với anh em một chuyến vào miền Nam với ý định sẽ kết hợp mua một vài thứ đồ điện về cho gia đình. Vào đến Vinh thì chúng tôi dừng lại nghỉ đêm. Tôi thấy mấy anh em lái xe thỉnh thoảng lại chụm đầu bàn bạc với cậu đi áp tải hàng. Họ bàn bạc có vẻ căng thẳng và thỉnh thoảng lại liếc mắt về phía tôi. Cuối cùng, một cậu đại diện cho họ quyết định trao đổi thẳng thừng với tôi. Sau khi rào trước, đón sau cậu ta cho tôi biết là trên xe "thừa ra" khoảng hơn chục kiện vải quý. Nghe mà kinh người! Tôi quyết định phải kiểm tra lại hàng và quả nhiên số hàng thừa trên xe hoàn toàn có thực. Mọi người đang chờ tôi quyết định "xử lý" số hàng thừa đó. Giá như nó chỉ có một ít thì họ có thể đủ gan để tự giải quyết rồi. Cái cậu được phân công vận động tôi không rời nửa bước. Cậu ta quả là có tài thuyết khách. Cậu ta vạch ra đủ mọi viễn cảnh khi chúng tôi có trong tay món tiền khổng lồ nếu đem "đẩy" số hàng ấy cho con buôn. Cậu ta hứa chuyến này vào Sài Gòn sẽ trực tiếp đi tìm mua cho tôi một tủ lạnh và một chiếc ti vi thật "nghiêm chỉnh". Cậu ta cũng không quên nhắc đi nhắc lại rằng với số tiền đó vợ con tôi có thể "tiến thẳng" từ cuộc sống còn chật vật thiếu thốn hiện nay lên một cuộc sống sung túc tiện nghi. Vả lại, có ma nào biết chứ? Hàng xuất ra khỏi kho rồi, chúng tôi cứ giao đủ cho nơi nhận theo hoá đơn, chứng từ là được rồi, ai biết đấy là đâu? Tôi đề nghị được suy nghĩ một đêm, sáng mai tôi sẽ quyết định. Tôi có biết đâu đó là cái đêm khắc nghiệt nhất, cái đêm tôi phải quyết định lấy số phận mình, nhân cách của mình. Cái đêm tôi phải quyết định có bước qua sợi dây ghê gớm kia không? Tôi nằm trằn trọc suy nghĩ. Đêm đó trong tôi có hai con người co kéo nhau, tranh cãi với nhau. Đó là cái người đích thực của tôi, và hắn, kẻ bấy nay còn xa lạ, mặc dù đã lảng vảng quanh tôi. Cuối cùng, hắn đã thắng. Tôi bước vào một ngày mới với bộ mặt hốc hác vì mất ngủ. Thực ra, không phải tôi đang bước đi mà hắn đã bắt được tôi làm tù binh và đang giải tôi đi. Trước khi hạ vũ khí, lý lẽ của tôi thật đơn giản. Thôi, ta chỉ làm một cú này thôi. Với số tiền ấy, ta đủ để xây cho vợ con cái nhà, mua sắm vài đồ dùng cần thiết và sau đó… sẽ không bao giờ ta làm bậy nữa. Nhưng thật không may cho tôi. Ở tổng kho, sau khi thấy mất hàng, họ đã rà lại tất cả các đầu mối đến nhận hàng và chú ý ngay tới đoàn xe của tôi, là đơn vị nhận hàng nhiều nhất ngày hôm đó. Ngay ngày hôm sau đoàn xe của tôi đã bị ách lại dọc đường để kiểm tra. Dĩ nhiên, người ta không thấy số hàng đó trên xe nữa. Nhưng… không hiểu sao tôi lại tin rằng cuối cùng người ta vẫn cứ tìm ra thủ phạm nên ngay sau khi các đồng chí công an và thanh tra của ngành ra lệnh cho đoàn xe của tôi tiếp tục chạy thì tôi đột ngột quyết định phải thú nhận tất cả. Tôi đã làm việc đó trước những lời xỉ vả của cánh lái xe. Mặc họ! Với tôi thế là hết rồi. Tôi được miễn truy tố vì hành động thành khẩn đó và… có thành tích trong kháng chiến chống Mỹ. Thật là điều nhục nhã! Tôi chỉ bị buộc phải thôi việc. Thế là… sau hơn chục năm làm chiến sĩ tôi đã trở về quê hương như một kẻ tội phạm. Ở làng, không hiểu vì sao mọi người cũng biết được chuyện ấy? Nhiều người nhìn tôi bằng ánh mắt khinh bỉ. Tôi cắn răng chịu đựng tất cả. Nhưng một hôm, tôi đang ngồi ở nhà buồn rũ rượi thì có một người lộc cộc chống nạng bước vào sân nhà tôi. Tôi sửng sốt kêu lên khi nhận ra đó là Thân, bạn chiến đấu cũ của tôi ở cuối huyện. Anh đã bị thương trong cái lần cùng tôi chở hàng vào Tây Thừa Thiên. Đã lâu lắm tôi không gặp anh, sao hôm nay anh lại tự lần tới tận nhà tìm tôi? Tôi chồm dậy, định chạy ra đón anh thì anh đứng sững lại, cầm cây nạng chỉ thẳng vào mặt tôi mà hét lên: "Đồ hèn! Sức dài vai rộng làm gì không nuôi nổi vợ con mà phải đi ăn cắp!". Tôi chết điếng người, chưa kịp định thần thì anh đã quay mặt, lộc cộc chống nạng đi thẳng. Tôi lao vội theo anh, rên rỉ "Anh Thân! Ở đây đã… tôi muốn… tôi muốn nói…" "Thôi im mồm đi! - Anh quay lại quát - Tao lặn lội đến đây chỉ để nói với mày một câu thế thôi. Để yên cho tao đi không tao phang cho một gậy bây giờ!". Nhìn thẳng vào đôi mắt bừng bừng lửa giận của anh tôi phát hoảng. Và, tôi không đủ sức để giữ anh lại nữa. Sau cú đó tôi gục xuống ốm một trận thập tử nhất sinh. Tất cả mọi thứ bệnh tật trong chiến tranh tưởng đã nằm yên trong người tôi bỗng ầm ầm trỗi dậy. Tôi nằm bẹp suốt hai tháng giời. Vợ tôi tất bật ngược xuôi chạy thuốc chạy thang. Những thứ tôi mua sắm về được lần lượt "đội nón ra đi". Thật là của thiên lại trả địa. Năm đó lại đúng vào năm mất mùa. Nhà tôi hết ăn ngay từ trước tết nhưng vợ tôi vẫn tần tảo chạy vạy ngược xuôi để bố con tôi vẫn có bữa rau bữa cháo. Ăn miếng cơm của vợ mà nước mắt tôi cứ trào ra. Lời xỉ mắng của Thân như một vết khắc bằng lửa vào tim tôi. Nhục nhã, ê chề quá phải không anh? Nhưng rồi tôi khỏi bệnh. Cùng với sự chiến thắng bệnh tật, một ý nghĩ lúc nào cũng thiêu đốt lòng tôi: "Ta phải tự tay ta làm nên tất cả. Phải chứng minh với mọi người rằng thằng Sức này không phải đã hoàn toàn bỏ đi, không phải chỉ ăn cắp mới sống được, mới nuôi được vợ con!" Bằng cách gì tôi chưa biết nhưng tôi quyết định phải chứng minh được điều ấy. Anh Sức đột ngột dừng câu chuyện ở đó rồi cho bò dừng lại nghỉ. Sau khi ném cho đôi bò một ít cỏ khô, anh lấy chiếc chiếu trên xe xuống, trải ra vệ đường rồi bảo tôi: - Ta lót dạ vài củ khoai chứ. Các cô đội xóm Trại nổi tiếng mát tay đấy. Khoai của họ ngọt lừ. Anh ăn thử vài củ đi cho vui. Chúng tôi ngồi bên vệ đường, vừa ăn khoai luộc, uống nước chè tươi đặc sánh, vừa ngắm trăng. Câu chuyện của anh Sức vẫn còn ám ảnh tôi nên tôi ăn uống không thấy ngon miệng nữa. Hình như biết tôi sốt ruột, một lát sau anh lên tiếng kể tiếp: - Sáng mai mời anh ghé thăm "trang trại" của tôi. Cái gì chớ sắn, khoai, lạc, đỗ thì chỗ nào trong nhà tôi cũng có. Cũng đã có lần ông Phục ghé thăm nhà tôi. Dĩ nhiên, ông đã nhìn cơ ngơi của tôi bằng con mắt ngờ vực. Sao cái thằng quái này lại giàu có thế này. Trông cứ như cơ ngơi của một thằng địa chủ vậy. Với ông ta, tôi chẳng thể giải thích gì được. Nhưng với anh thì… tôi muốn kể cho anh nghe để anh hiểu. Bởi vì, anh là đồng đội của tôi. Không gì có thể đáng buồn hơn là bị đồng đội nghi ngờ, phải không anh. - … Sau khi khỏi bệnh - anh Sức kể tiếp - tôi quyết định ra đi. Nhiều hôm tôi nằm trên chiếc chõng tre ngoài thềm, nhìn lên ngọn Ba Vì này và nghĩ rằng ở đây vẫn còn nhiều đất, hẳn tôi có thể bằng sức lực và trí thông minh của mình làm ra ngô lúa, sắn khoai, tạo dựng được cơ nghiệp. Tôi tin như vậy và quyết định ra đi. Trước khi đi tôi đến gặp Thân. Thấy tôi đến anh không nói một lời mà chỉ lẳng lặng đi pha nước mời tôi uống. Nhưng tôi không uống, mà cũng không ngồi xuống nữa. Tôi nói luôn: - "Anh Thân ạ. Tôi biết anh rất giận tôi. Nói cho đúng ra anh rất thương tôi, anh chỉ căm ghét những gì xấu xa trong tôi thôi. Vì vậy, tôi đến để gặp anh không phải để thanh minh mà yêu cầu anh giúp đỡ. Lúc này các cháu đang đói, tôi đang gặp khó khăn. Nhưng tôi sẽ nghe lời anh, sẽ bằng sức lực và trí tuệ của mình để làm nên cơm áo nuôi vợ nuôi con và trở thành một người có ích cho xã hội. Để có thể bắt đầu, tôi muốn anh đỡ đầu tôi ít nhiều làm vốn liếng! Tôi không đi buôn đâu. Nhà tôi sẽ lên núi - Tôi vừa nói chỉ lên Ba Vì - ở đó, với bàn tay này tôi có thể làm nên tất cả". "Nếu vậy thì được - Anh Thân gật đầu và dịu giọng - Tôi sẽ không tiếc anh bất cứ cái gì nếu tôi có. Vậy, anh cần gì". "Anh cho tôi vay đỡ hai chục cân gạo và hai trăm đồng bạc. Có vậy thôi. Tôi cũng nói trước rằng số tiền gạo này có thể còn lâu tôi mới hoàn lại cho anh được". Thân gọi vợ vào bảo xúc cho tôi hai chục cân gạo và đưa ngay cho tôi hai trăm đồng bạc. Tôi xin phép đi ngay mặc dù anh cố giữ tôi lại. Số tiền, gạo ấy tôi chia đôi, một nửa mang về cho vợ con, một nửa mang theo. Hành lý của tôi gồm hai bộ quần áo bộ đội đã cũ, một bộ tăng võng, một chiếc ca men bộ đội, một con dao và một cái cuốc. Ngoài ra còn phải kể đến chiếc xe đạp tồng tộc và một gói thuốc sốt rét nữa chứ. Tôi cũng không nói cho vợ con biết rằng mình sẽ đi đâu, làm gì. Vợ tôi vốn rất tin tôi nên cũng chẳng giữ, chỉ dặn tôi chú ý giữ gìn sức khoẻ và giúi cho tôi một hộp dầu cao sao vàng đề phòng khi cảm mạo, ốm đau. Thế là tôi đến với Ba Vì. Vùng này, như anh biết đấy, cũng không phải hoang vu gì. Đất đai đã được khai phá nhiều chỉ còn những nơi đất đã bạc màu hoặc ở thật sâu trong các khe núi, hoặc dưới trầm trũng. Tôi đạp xe đi "kiểm tra" suốt một lượt dọc theo các con đường mà chiếc xe tồng tộc có thể đưa tôi tới được. Sau đó tôi nghĩ, nếu một mình, với vốn liếng nhỏ nhoi này mà lao vào "làm ăn lớn" ngay thì sẽ gãy. Phải vừa làm vừa tự kiếm sống và thỉnh thoảng gửi được chút ít gì về để đỡ đần vợ con. Thế là tôi chọn được một phương án cực kỳ khôn ngoan. Tôi không lao vào núi mà lại đạp ngược trở ra tận ngoài dốc Đá Bạc rồi bắt đầu triển khai công việc. Cứ dọc theo hai bên đường từ đó vào tận chân núi, hễ nơi nào còn một vạt đất có thể đặt được trăm gốc sắn là tôi dừng lại, phát cỏ dọn dẹp qua loa rồi đi xin hom sắn về đặt. Những thẻo đất như thế thường còn rất nhiều ở hai bên đường, không ai chú ý tới vì chẳng bõ công. Nhưng với tôi thì lại khác. Nó đỡ tôi được bao nhiêu công sức trong việc khai phá. Hàng ngày tôi vừa trồng sắn vừa đi mót sắn được ít nào tôi cũng thái luôn rồi quẳng lên đường nhựa. Cứ như thế, hai ba tuần tôi cũng có được một hai tải sắn khô mang về cho gia đình ăn độn và chăn nuôi. Đồng thời, mỗi tuần tôi cũng đặt vào lòng đất được vài ngàn hốc sắn. Dọc theo đường quốc lộ và ven những triền đồi từ Sơn Tây vào Ba Vì nơi nào tôi cũng có sắn. Chỉ có điều không bao giờ có nương lớn cả. Ấy vậy mà trong năm đầu tôi đã có gần ba vạn hốc sắn chứ không ít ỏi gì đâu. Đôi khi gặp phải trằm bùn sụt tới bụng, đất rất tốt nhưng không ai nghĩ đến chuyện cấy lúa. Thế thì tôi làm. Tôi đi đẵn cây chuối về, ghép thành những cái bè rồi đi xin mạ. Tôi thả bè xuống mặt trằm rồi cứ ngồi trên đó mà cắm mạ xuống. Những người địa phương nhìn thấy tôi cấy lúa trằm, ai cũng lắc đầu le lưỡi. Nhưng trời ơi, lúa ở những nơi ấy mới tốt làm sao! Mà nào có phải phân gio, cỏ giả gì đâu. Có ai ngờ tôi đã thu được một tấn lúa ở những cái trằm như vậy.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 23 Tháng Tư, 2009, 07:29:35 pm gửi bởi hoacuc »
|
Logged
|
Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
|
|
|
hoacuc
Thành viên

Bài viết: 1597
|
 |
« Trả lời #98 vào lúc: 23 Tháng Tư, 2009, 07:27:45 pm » |
|
Anh Sức (Tiếp) Hàng ngày tôi làm việc say sưa. Tối đến, bạ đâu tôi ngủ đấy. Khi thì ngủ trọ trong nhà dân, khi thì treo võng nằm ngoài rừng. Dần dần, suốt một nẻo từ Đá Bạc vào Ba Vì ở đâu người ta cũng biết tôi. Lúc đầu người ta cứ nghĩ rằng tôi là một thằng ngớ ngẩn. Nhưng dần dần họ hiểu tôi và nhiều người đã coi tôi như bạn bè. Tôi có thể đi về, ăn ngủ, gửi thóc lúa sắn khoai ở nhà họ bất kỳ lúc nào. Những ngày lang thang, gối đất màn sương ấy với tôi thật đáng ghi nhớ suốt đời. Anh thử tưởng tượng những đêm tôi treo võng nằm ngoài nương một mình, buồn tới mức nào? Nhưng tôi không hề nản, vì tôi tin ở ý chí của mình, tin ở bàn tay và khối óc của mình. Tôi biết trước mắt, tôi chưa có ích cho xã hội, nhưng tôi đã có ích cho gia đình. Vợ con tôi đã đỡ chật vật hơn nhờ kết quả lao động của tôi. Tới vụ thu hoạch sắn anh có biết tôi làm thế nào không? Cũng là một thứ ranh vặt thôi. Tôi bán cứ một đồng một gốc, cho dân xe thồ. Sắn của tôi hầu hết ở bên vệ đường, nên rất dễ bán. Còn đâu chưa bán được tôi thái phơi khô gửi khắp nơi. Lúa cũng vậy, tôi chỉ gửi về cho các cháu vài ba tạ, còn gửi thiên hạ tất. Thế là chỉ một năm, tôi đã có một vốn bốn liếng đáng kể để có thể tiếp tục "sự nghiệp" của mình rồi. Nhưng có được như vậy thật gian khổ, đôi khi phải chịu nhẫn nhục, cay đắng nữa. Tôi đã vượt qua được tất cả. Tôi bắt đầu nghĩ đến chuyện đưa vợ con lên định cư ở vùng này. Quê tôi là một vùng đồng chiêm trũng, lụt úng liên miên, dân số lại quá đông nên làm ăn rất chật vật. Nhưng, chỉ mới hé răng nói ra một câu, vợ tôi đã gạt phắt đi. Rồi một dịp may tới, khiến tôi buộc phải quyết định một bước ngoặt lớn của cuộc đời. Tình cờ tôi làm quen được với ông chủ tịch xã cái xã mà hiện nay tôi đang ở. Trước ở đây ông ta đã từng chỉ huy một đội thanh niên xung phong của huyện ở hoả tuyến nên rất thông cảm với cánh lính Trường Sơn chúng tôi. Ông ta vận động tôi xin lên định cư ở xã nhà và hứa sẽ giúp tôi tạo dựng cơ nghiệp. Tôi đồng ý ngay và về xin phép xã để đưa gia đình đi định cư. Xã đồng ý, nhưng vợ tôi nhất định không chịu đi. Tôi quyết định bước đầu hãy đưa đứa con lớn lên trước. Khi bố con tôi dắt nhau lên trên này, chính quyền địa phương liền "cấp" hẳn cho một quả đồi. Ngày mai anh sẽ thấy các vị trong chính quyền địa phương ở đây hào phóng tới mức nào. Nhưng lúc đầu hai bố con tôi ra đứng ngắm khu đồi được chia mà ngao ngán cả người. Đồi trọc lóc, chỉ lơ thơ vài cây sim mua, đất đá ong trơ ra đỏ quạch. Nhưng tôi không ngán, vì tôi biết không có thứ đất nào lại là đất bỏ đi cả. Suốt mấy tháng trời hai bố con tôi xoay trần ra, đánh vật với quả đồi ấy. Trước tiên tôi đào một con hào chạy vòng quanh quả đồi để dẫn nước vào, bởi vì tôi biết muốn cải tạo đất, muốn phủ xanh đồi trọc thì trước hết phải có nước cái đã. Đào xong hào thì số đá ong vật lên cũng đủ để hai bố con tôi xây dựng cả một "lâu dài" rồi. Ngày mai anh tới sẽ thấy, mấy ngôi nhà của tôi đều xây bằng đá ong vật từ con hào quanh đồi lên cả đấy… Bây giờ con hào ấy vừa là nơi chứa nước, vừa là nơi thả cá thả lươn của gia đình tôi… Hai bên bờ hào tôi trồng dừa, trồng chuối và đủ các loại cây ăn quả. Ngày mai mời anh ghé qua, thưởng thức những thứ cây nhà lá vườn ấy với tôi cho vui… Nhưng thôi… ta đi chứ? Ngồi lâu quá có lẽ bò nó buồn ngủ rồi đấy. À, đôi bò này tôi cũng mua vào dịp ấy đấy. Hồi ấy không đắt như bây giờ. Khi bố con tôi dắt về năm sáu con bê một lúc nhiều người đã kêu ầm lên là bố con tôi giàu ngầm. Nhưng hồi đó có đáng bao nhiêu, chỉ dăm tạ lúa là đủ. Vậy mà khi bán lại hai chú này cho nông trường, tôi đã được lời gấp mấy lần rồi. Mà bán với giá rẻ chứ đâu có bán đắt như ngoài chợ. Nào các chú mày dứng dậy cả đi chứ! Gối mỏi chân chồn rồi hả! Đường còn xa đấy chứ đừng có tưởng giỡn nhé! Sáng hôm sau, trên đường từ Sơn Tây về tôi đã trở thành một vị khách quý của gia đình anh Sức. Tôi sững sờ đứng trước cái cơ ngơi rất khang trang mà gia đình anh đã tạo lập nên do bàn tay lao động của mình. Một ngôi nhà năm gian xây bằng đá ong rất cao ráo và thoáng đãng. Ngoài ra còn chuồng lợn, chuồng gà, chuồng bò và các công trình phụ. Toàn bộ quả đồi sau nhà anh đã được phủ xanh bằng chè, dứa, mía, và các loại cây ăn quả. Trước cửa nhà là khu vườn toàn là giống mận Lạng Sơn, có lẽ chỉ năm tới là bói quả. Khi tôi bước vào cổng, hai đàn lợn nái gần hai chục con, nghễu nghện diễu qua trước mắt như để giới thiệu với tôi sự chuyên cần của chủ nhà. Chỉ tính sơ số lượng ấy sắp sửa cho anh hơn chục ngàn bạc rồi. Anh Sức chỉ đàn lợn, rồi cười: - Giống của nhà bác Thân đấy, anh ạ. Năm kia lên thăm tôi, bác ấy phê bình kịch liệt tôi về cái chuyện không nuôi lợn nái trong khi ở đây thức ăn rất sẵn. Khi trở về, bác cho cậu em trai mang ngay lên cho tôi một đôi lợn giống. Bây giờ thì anh thấy đấy, hai đàn lợn ấy sẽ giúp tôi bao nhiêu việc. Trước hết tôi phải mua một cái máy bơm nước, phải có máy bơm thì mới có thể mở rộng diện tích cây ăn quả được, anh ạ. Suốt buổi sáng, tôi đi thăm vườn tược, cây cối, đàn gia súc của anh Sức. Gần trưa hai anh em tôi ra con hào đánh cá trắm cỏ về cho chị Sức làm cơm. Tôi không được biết vào cái đận anh Sức bị kỷ luật trở về, rồi lăn ra ốm, chị vất vả ra sao? Nhưng bây giờ chỉ nhìn qua cũng biết ngay rằng chị hài lòng với cuộc sống hiện tại của mình. - Tôi đi làm ở nhà cũng lấn bấn đấy, anh ạ! - Anh Sức nói khi chúng tôi đã ngồi xuống bộ bàn ghế sa lông còn thơm mùi gỗ - Việc nhà đã bận, lại còn việc hợp tác. Thằng cháu lớn thì vừa đi bộ đội. Cũng lại được đi học lái xe. Không khéo lại giẫm phải vết chân của bố thì chẳng ra làm sao. Trước hôm cháu đi, bố con tôi thức gần hết đêm. Tôi đã nói hết lẽ đời với cháu. Cũng chẳng giấu cháu điều gì về quá khứ của mình để cháu tự rút lấy bài học mà vào đời. Nhưng có lẽ cháu nó khá, anh ạ. Điều cơ bản là nó ý thức lao động, có ý chí, có lòng tự trọng và biết tôn trọng mọi người. Hồi mới vào bộ đội, tôi đâu có hiểu biết nhiều và chín chắn được như nó. Anh trông kia kìa - Anh chỉ lên một tấm ảnh lồng trong khung kính - Tôi với bác Thân chụp chung hồi vừa học xong khoá lái xe đấy. Nom cái mặt tôi mới ghét chứ, cứ câng câng ra ấy! Tôi chăm chú nhìn bức ảnh hai người lính mà nhận ngay ra anh Sức, mặc dù anh và người lính trong ảnh chẳng còn mấy nét giống nhau. Thời gian và những nỗi gian truân vấp váp trên đường đời đã biến anh lính vô tư có đôi mắt nhìn ngước lên như thách thức với tất cả kia thành một người từng trải, dày dạn và rất hiểu mình. Đôi mắt của người đang ngồi trước mặt tôi đã thoáng xuất hiện sự mệt mỏi như đôi mắt của một người vừa đi bộ qua một chặng đường nhiều đèo dốc. Tuy vậy, đôi mắt ấy vẫn ấm áp, nhân hậu, tự tin và đôi khi vẫn ánh lên những tia sáng của một nghị lực sắt thép mà chúng ta vẫn thường nhìn thấy trong ánh mắt của những người chiến sĩ. Khuất Quang Thụy
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 23 Tháng Tư, 2009, 07:30:22 pm gửi bởi hoacuc »
|
Logged
|
Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
|
|
|
|
trieumien
Thành viên
Bài viết: 3
|
 |
« Trả lời #99 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2009, 08:00:22 am » |
|
Truyện ngắn. TRIỆU MIỆN Đã bao nhiêu năm rồi tôi chưa có dịp về lại vùng căn cứ. Một dịp may đã đến, anh bạn làm ở ngoại thương muốn đến buôn Chư Đrăm nơi có những người đan hàng mỹ nghệ rất hấp dẫn. Nghe đến vùng buôn này có hàng mỹ nghệ tôi bị cuốn hút vào ngay. Với ý định xong việc của ông bạn, tôi ở lại vài ngày để thăm bà con quen biết đã cưu mang mình trong những năm tháng chiến tranh. Thế là tôi và anh bạn lên xe đi một mạch đến buôn Chư Đrăm. Vừa đến buôn Chư Đrăm bà con chỉ ngay đến nhà của nghệ nhân đan gùi. Trước mắt tôi không nhiều, chỉ ước chừng trên chục chiếc gùi các kiểu, các cỡ to nhỏ khác nhau, cái nào cũng có sức cuốn hút không thể dứt ra được. Sau khi chào chủ nhân, giới thiệu nhau về ý định của chúng tôi, chủ nhà là một người có tầm vóc cao to, chân trái cụt đến đầu gối, với một cái nạng anh đi lại nhanh nhẹn. Tuổi đã trên 50, rất khoẻ khoắn, cởi mở. Mời uống nước, anh bảo cô con gái chừng mười bảy, mười tám tuổi thân hình thon thả, mặc bộ váy áo có hoa văn mát dịu, rất nhã nhặn cầm từng chiếc gùi đến chỗ chúng tôi nói nhỏ nhẹ : “ Mời các ông xem”. Cô gái đã học kiểu tiếp thị ở đâu nhanh thế, cái miệng, đôi mắt mời chào dễ thương, không muốn xem cũng phải xem, không muốn mua cũng phải mua. Cả hai cha con đều có những nụ cười chào khách rất cuốn hút. Tôi và bạn tôi cùng một ý nghĩ, hai đứa nháy mắt cho nhau “cơ chế thị trường đã lan đến vùng buôn sâu, buôn xa này”. Vừa uống nước, tôi vừa nói bằng tiếng Êđê với chủ nhà. Chủ nhà vô cùng ngạc nhiên hỏi lại tôi bằng tiếng Êđê “anh cũng biết tiếng Êđê à ?” - “Vâng, trước tôi ở vùng này mà.” - “Anh ở đây mà tôi không biết?”. Tôi cười, nói lại “Xin lỗi, anh tên gì?” - “Tôi là Ama H’Lan.” - “Không, tôi hỏi tên chính của anh cơ.” - “À, tôi là Y Seng”. Quá mừng, tôi nắm chặt tay Y Seng lắc lắc “Ôi, Y Seng, Y Seng trước ở trại thương binh đây phải không?”. Đến lượt Y Seng vui mừng “Đúng rồi, đúng rồi.” Hai chúng tôi ôm nhau xúc động. Ông bạn tôi và cả cô gái ngồi ngây nhìn chúng tôi chẳng hiểu ra thế nào. Tôi kéo Y Seng ngồi xuống và giới thiệu với bạn tôi bằng tiếng phổ thông “Đây là anh Y Seng, một con người kỳ lạ, kỳ lạ đến khó có thể tưởng tượng nổi.” Bạn tôi thắc mắc “Kỳ lạ về cái gì ?’ - “Một câu chuyện ly kỳ và hấp dẫn.”, tôi quay về phía cháu gái “cả cháu cũng không biết được câu chuyện của Ama cháu đâu.”. Tôi nói với Y Seng “Anh Y Seng, à anh H’Lan này, hồi tôi ở cơ quan tuyên huấn tỉnh có nghe huyện đội 9 báo về có một cán bộ tiểu đội bị thương lạc giữa rừng 7 ngày mà không chết. Câu chuyện đó cách đây đã ba mươi năm nay mới được gặp con người kỳ lạ đó. Thôi thế này, tối nay chúng tôi ở lại đây muốn nghe anh kể lại câu chuyện của anh. Cơm nước khỏi lo, chút nữa cho xe ra chợ mua món ăn về anh em ta bù khú với nhau, anh đồng ý chứ ?”. Y Seng hơi lưỡng lự nhưng nét mặt hào hứng ngay “Đồng ý !” Thế là đêm hôm đó dưới ngọn đèn điện sáng trưng là một bàn rượu nhẹ hút từ ché rượu cần vào những cái chai con với vài đĩa lạc rang, mực nướng thơm lừng. Vừa nhấm nháp, Y Seng kể lại câu chuyện cách đây đúng 30 năm vào giữa những năm 1966, cả vùng nam đường 21 đã được giải phóng. Bằng tiếng phổ thông khá rành rọt và có chút văn hoa, tôi và bạn tôi lắng nghe chăm chú như hồi xưa nghe câu chuyện cổ tích: Không gian im ắng rất đáng sợ. Bây giờ Y Seng mới nhận ra đã qua một trận chiến đấu ác liệt ở đây. Nhè nhẹ hé đôi mắt nhìn cảnh vật chung quanh. Cả ta và địch đều lui quân hết. Y Seng từ từ nhỏm dây. Ôi! Cổ chân trái đã bị dập nát, máu chảy ướt đẫm cả vùng cỏ dưới chân. Không biết thời gian ngừng tiếng súng đã bao lâu, nhưng nhất định địch sẽ cho quân đến trận địa lấy xác. Nghĩ vậy Y Seng cởi chiếc áo túm chặt láy bắp chân trái không cho máu chảy ra. Xoay bao đạn và súng lên lưng, Y Seng lật sấp người lết lui xa trận địa. Lết đến đâu dựng lại đám cỏ tranh xoá dấu vết hướng đi, cứ thế lết đi. Tới gốc cây to, Y Seng dừng lại với ý nghĩ chờ đồng đội đến tìm. nhưng ở đó cảm thấy không an toàn, Y Seng lết vào trong bụi cà xơ có những lùm cây thấp ẩn nấp. Càng về trưa, nắng càng gay gắt. Máu vẫn rỉ, người vừa mệt, vừa khát. Y Seng đành phó mặc cho sự may rủi. May ra anh em tìm được đưa về. Mà nghĩ cũng dại, mình lết ra đây ai biết mà tìm. Rủi không ai tìm thấy, mình phải chờ chết tại đây....rồi Y Seng không biết gì nữa. Tiếng súng nổ chát chúa làm Y Seng tỉnh dậy. Đúng là địch đến trận địa, chúng nổ súng thị uy và bảo vệ cho quân lính lấy xác. Nhất định chúng sẽ lùng sục. Theo bản năng, Y Seng co người gọn lại, đã nằm sát gốc cây cà xơ mà vẫn cảm thây hở trên, hở cả hai bên. Y Seng nín thở, áp tai xuống đất nghe tiếng động. Bỗng một cơn mưa ập đến, những hạt mưa to xối xả đổ xuống. Cái lạnh bên trên ép xuống, cái nóng bên dưới bốc lên làm Y Seng rất khó chịu. Không nằm sấp nữa, Y Seng lật người lên, há miệng đón những hạt mưa. Cơn khát dịu hẳn, Y Seng cảm thấy mình khoẻ lên và an tâm vì mưa này chắc chắn địch rút hết. Giữa khu rừng bạt ngàn chỉ còn lại một mình Y Seng. Cơn mưa chỉ lướt qua vài chục phút nhưng cũng đã cứu sống được Y Seng. Lúc này Y Seng mới nhớ lại trận đánh. Địch ngạo nghễ tayđầy súng ống, đạn đeo đầy người đi đúng vào trận địa phục kích của đại đội. Tất cả đồng loạt nổ súng. Địch bị đánh bất ngờ, đứa ngã xuống, đứa tháo chạy, chưa đầy mười phút trận địa đã im tiếng súng. Đây là trận đầu tiên của Y Seng từ khi ra trường về đơn vị. Thắng lợi nhanh quá làm Y Seng mừng quá đỗi muốn nhảy lên hô to cho hả lòng nhưng không giám. Mải say sưa với chiến thắng, khi Y Seng ngoái lại sau không còn ai nữa. Vừa lúc đó từng chùm bom, pháo bắn chát chúa vào trận địa.Y Seng bị thương vào lúc này.... Đã trôi qua chừng mười tiếng đồng hồ rồi. Trời sắp tối. Không thể nằm đây được, phải tìm đường về vùng giải phóng. Vùng này hồi còn làm du kích đi phối hợp với bộ đội huyện Y Seng biết khá rõ. Không thể chần chừ được, còn mặt trời tranh thủ lết đi, một cái lết lúc trời sáng còn hơn mười cái lết vào ban đêm. Hướng về vùng giải phóng, Y Seng lết dần, lết dần... Trời sập tối, không lết nữa, Y Seng chọn một gốc cây to nằm nghỉ. Tuy rất mệt nhưng không sao ngủ được, Y Seng nằm nghĩ miên man, bao nhiêu ký ức hiện dần lên : Đây giòng Đăk Tuôr xanh thẳm, Y Seng cùng các trai làng làm những ống đàn t’rưng nước suốt đêm ngày vang lên những âm thanh rộn rã núi rừng, rộn rã buôn làng, làm cho H’Mai cô gái có đôi mắt sáng, giọng nói thanh thanh của âm hưởng Êđê nghe như chim cứ đòi Y Seng phải làm một chiếc t’rưng nước ngay con suối trước buôn H’Mai để H’Mai nghe tiếng đàn t’rưng là nhớ đến Y Seng. Y Seng hứa mà chưa làm được vì đã vào đơn vị bộ đội chiến đấu rồi.... Đây chiếc xe GMC của bọn ngụy, du kích và bộ đội tỉnh thu được nguyên ven trong trận đánh ở Giang Ré. Lần đầu tiên và cũng là người đầu tiên của buôn, Y Seng được đi trên chiếc xe ô tô to do anh bộ đội lái về vùng giải phóng. Càng nghĩ càng thấy quân giải phóng mình giỏi, cái gì cũng làm được. Đi qua buôn, đồng bào ùa ra bám lấy xe, thấy Y Seng ai cũng reo mừng, trầm trồ. Y Seng đứng trên xe hét to, gọi hết tên các chàng trai, cô gái đang vẫy tay đón Y Seng, cứ như Y Seng thu được xe và lái về buôn ấy. Vui quá... Còn trận chiến đấu sáng nay, lần đầu tiên Y Seng nhìn thấy rõ những tên giặc bị trúng đạn ngã đổ nhào, những tên hoảng loạn tháo chạy vứt cả súng... Rồi thực tại đã đánh thức cơn mơ mộng của Y Seng. Thôi đành đêm nay nằm đây, mai lết đi tiếp. Phải về được tới đơn vị. Cái mệt mỏi, tê dại đã kéo Y Seng vào giấc ngủ. Y Seng tỉnh dậy do tiếng rên rỉ của một con nai bị trúng mang cung, thỉnh thoảng ré lên tiếng kêu tuyệt vọng. Chắc chắn gần đây có rẫy của đồng bào buôn Knul. May mà đêm qua mình không lết tới đó, chắc chắn cũng bị vướng mang cung như con nai kia. Bây giờ sáng rồi, lết vào rẫy sẽ kiếm được cái ăn đỡ lòng rồi lết sang bên kia sông, đó là vùng giải phóng. Tới bìa rẫy, ôi những trái bắp non, bẹ xanh muốt, bẻ xuống Y Seng có thể nghiến ngấu đến chục cái bắp để bù lại hơn một ngày rồi chỉ nuốt nước mưa. Dưới đất nằm la liệt những trái dưa dòn, bớt cơn khát cháy bỏng cả môi. Y Seng bò nhanh vào giữa rẫy. Sẽ ăn một bữa no. Vừa đặt tay vào thân cây bắp, bỗng bên tai Y Seng văng vẳng tiếng nói của chính trị viên Hà nhắc nhở mọi quân nhân luôn luôn làm tốt công tác dân vận, nhất là đối với dân vùng địch, đừng để cho địch lợi dụng tuyên truyền nói xấu cách mạng. Đúng rồi, chỉ một cái bắp, một quả dưa cũng đủ cho địch nói xấu cách mạng, nói xấu quân giải phóng. Y Seng vội bỏ tay xuống và lết đi như bị ai đuổi. Rời khỏi rẫy một đoạn Y Seng mới dừng lại với lòng thanh thản, không luyến tiếc như mình đã làm được một việc to lớn. Mặc cho cái đói, cái khát cồn cào Y Seng vẫn lết đi tiếp, không nghĩ ngợi gì nữa. Suối Ea Kla đây rồi, Y Seng lòng mừng quá đỗi. Nhưng trước mắt Y Seng một suối nước mênh mông, chảy xiết, hậu quả của cơn mưa đầu nguồn chiều qua. Suối Ea Kla sao thấm được với sông Đăc Tuôr ở buôn mình khi nước lũ tràn về, Y Seng vẫn cùng trai buôn vượt qua lấy gỗ khô từ nguồn trôi về làm củi như một trò chơi thú vị. Nhưng bây giờ với một cái chân bị thương, làm sao đây. Ôi may quá, sát bờ bên này là một cành cây khô lớn nổi bồng bềnh đang bị kẹt ngay trước mặt Y Seng. Cách giúp ta vượt qua suối Ea Kla đây rồi. Bứt một sợi giây rừng gần đó. Y Seng buộc súng vào một đầu giây, đầu kia buộc vào cành cây khô, Y Seng từ từ lết xuống, chân bị thương gác lên thân cây nổi, chân còn lại dùng hết sức đạp vào bờ đẩy cành cây ra giữa dòng. Kết hợp cả tay và chân còn lại Y Seng đã lái sang bờ bên kia. Cởi giây, kéo súng lên, Y Seng tiếp tục lết tiếp về phía sau. Trời sắp tối. Vượt suối đã quá sức của Y Seng, bụng không thấy đói nhưng người quá mệt, về đến đây là an tâm rồi, Y Seng tìm chỗ nghỉ đêm. Lại một đêm nữa, đêm này Y Seng không thể chợp mắt được, vết thương sưng tấy, nhức nhối không chịu nổi, mỗi lần nhói buốt, Y Seng phải ngồi dậy, thấy đỡ lại nằm xuống. Lết đến thân cây to, tựa lưng vào cây, gác chân bị thương lên cành cây cong Y Seng thấy đỡ đau nhức hơn. Cứ thế nửa nằm nửa ngồi, thỉnh thoảng nghiến răng chống đỡ với những cái buốt thấu xương thấu tuỷ. Đêm dài quá, nhưng Y Seng không lo nữa vì ở đây là đất vùng giải phóng rồi. Bắt giác Y Seng chợt nghĩ đã có vài lần theo bộ đội ra khu vực này nhận hàng bà con vùng địch gửi ra lúc gạo, muối, xà bông, đường, sữa, lúc kẹo bánh, vải vóc, cả cá khô, lưỡi cưa sắt..., rất nhiều thứ, mỗi tuần vài lần. Nghĩ đến đó cơn đói trỗi dậy. Trong bụng chẳng còn gì, chỉ có ít nước chiều qua uống ở suối cho đỡ khát. Hình ảnh những bát cháo hiện lên cứ như diễu cợt. Kể cũng lạ, khi thèm muốn những thứ gì cứ như mình đã được ăn thứ đó. Thế là cứ ngồi ước, mơ đủ thứ trên đời, cứ tưởng đến khi trở về đơn vị, khỏi được vết thương mình chắc ăn khoẻ lắm. Sáng sớm mai phải lết ra tới đường. Chim rừng đã ríu rít, những tia nắng ban mai chiếu qua kẽ lá nhập vào màn sương đêm chưa tan thành những tia nắng kỳ diệu mà Y Seng chưa hề cảm nhận được bao giờ. Mầu sắc rực rỡ, không khí trong lành. Sao lại có một buổi sáng đẹp như thế. Đã bao giờ mình có thời gian ngắm cảnh ban mai giữa rừng già như thế này đâu. Cái không gian tươi đẹp đã kích thích được lòng hăng hái của Y Seng. Y Seng cảm thấy yêu đời, khoẻ khoắn hơn. Ngồi tận hưởng cảnh đẹp một chút, Y Seng lại bắt đầu lết, cứ cắm cúi lúc lết, lúc nghỉ, chẳng nghĩ đến thời gian, chỉ mong sao cho chóng ra tới đường. Phía trước rừng thưa hẳn, chắc đã tới đường, Y Seng lết nhanh hơn. Nhưng đến nơi lại là bãi xình lớn. Chỉ còn cách lết theo bờ mới thoát khỏi bãi xình quái ác này. Đã mệt lại mỏi, mệt về sức, mỏi về tinh thần, nhưng ước muốn ra tới đường thúc dục, Y Seng lại tiếp tục lết đi.... Văng vẳng có tiếng xe ở phía sau, Y Seng dừng lại định hướng. Thôi chết, mình lạc rồi, cái xình lớn kia đã làm cho Y Seng lạc hướng. Lập tức Y Seng quay lại lết rất nhanh, bất chấp gai góc, đất lồi, đất lõm. Cách mép đường chừng 5 mét Y Seng nhìn thấy chiếc xe lừ lừ đi tới. Không có cách nào, Y Seng hét lên, nhưng còn hơi đâu mà hét, tiếng máy nổ lớn hơn, số người ngồi trên xe không hề hay biết gần chỗ mình có một người đang cần cấp cứu. Xe lướt qua, nỗi thất vong ập đến làm cho tinh thần, nghị lực Y Seng suy sụp. Y Seng nằm vật xuống, đầu gối vào cây súng không đạn. Cả thân hình như miếng đất nhão gắn chặt xuống đất, chỉ có hơi thở phập phồng yếu ớt chứng tỏ đó vẫn còn là một sinh linh. Chiếc chân bị thương sưng to, bắp đùi tím lịm. Cái đau nhức của vết thương không đánh thức được Y Seng nữa. Y Seng thiếp đi.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 09 Tháng Năm, 2009, 08:44:45 pm gửi bởi hoacuc »
|
Logged
|
|
|
|
|