Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 03:07:32 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trận chiến Điện Biên Phủ  (Đọc 69822 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #20 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2008, 08:36:59 pm »


Cogny đã rời khỏi sở chỉ huy của ông ở Hà Nội, nhảy lên một chiếc Dakota và dẫn Berteil cùng đi với mình. Ngồi trên máy bay, ông đưa mắt ngắm nhìn hồi lâu rặng núi, trên đỉnh rặng núi ấy là một giải bờm dày những cây cối và lớp cỏ cao, viền quanh khu lòng chảo kéo dài mầu xám. Về phần mình, Berteil mơ tới một Nà Sản khác, vững mạnh hơn, là miếng mồi câu ghê gớm ném ra cho quân Việt để thu hút họ kéo đến đông đảo và nghiền nát họ. Ở độ cao này, người ta không nhìn thấy những người chết đã nằm gục ở đó rồi, mặt quay lên bầu trời và những huyền thoại phồng to lên như những đám mây.

Bữa ăn trưa, các viên tướng và những bộ óc của cuộc hành binh Castor gặp nhau ở Lai Châu, cách tám mươi kilômét trên phía bắc trong giải sóng lừng màu xanh của rặng núi cao khá dài tới tận Trung Quốc. Từ nơi đó, một con đường mòn chất lượng xấu bám theo dòng chảy của những con suối, nước chảy xiết và xuyên qua những đoạn đèo gấp khúc đưa du khách đến Điện Biên Phủ một cách chật vật.

Ở Hà Nội, người ta tiếp xăng đầy cho những chiếc Dakota quay trở về các căn cứ. Không một ai được phép rời xa máy bay, những bữa ăn lót dạ được mang ra tận máy bay cho các phi hành đoàn. Lúc 14 giờ, đợt thả tiểu đoàn dù thuộc địa số 1 diễn ra ở bãi nhảy dù Natacha, ở đó Bigeard đã bắt đầu thấy bối rối, một nửa tiểu đoàn của anh rơi vào tình thế bị cô lập và hiện vẫn chưa có một khu vực nào để cho các máy bay trực thăng hạ cánh chở thương binh đi. Những trận đánh rất dữ dội gây ra tâm lý hoang mang lớn.

Vào khoảng 16 giờ, quân Việt rút xuống phía nam, tới phía hữu ngạn con sông và do vì việc liên lạc với binh đoàn cùng sở chỉ huy trên không bị trục trặc cho nên đã ngăn trở việc chặn đường rút lui của họ. Lúc 17 giờ 30 khi trời đã sẩm tối Bigeard đã bố trí được sở chỉ huy của mình ở trong khu vực Điện Biên Phủ, và từ đó tiếp xúc với bốn đại đội thuộc tiểu đoàn. Tiểu đoàn của Bréchignac, từ phía tả ngạn con sông, tiến vào và đứng chân trên những quả đồi gần nhất ở phía đông. Tiểu đoàn dù thuộc địa số 1, hai khẩu đội pháo 75 không giật, một đại đội súng cối 120 li và một trạm giải phẫu được thả xuống buổi chiều, tất cả nằm lại trên bãi nhảy Natacha. Viên đại úy - bác sĩ André, lần đầu tiên nhảy dù, đã bị chết. Tiểu đoàn 910 và đại đội 226 của Việt Minh đã bỏ lại tại chỗ chín mươi xác chết và bốn thương binh.

Lúc 16 giờ 15, bức điện gửi chính thức, thượng khẩn và được mã hóa, báo tin cho chính phủ biết về cuộc hành binh Castor, được chuyển đi cho Paris. Và mặc dù ngài Jacquet lúc này đang có chuyến đi thăm các nhà ăn hoàng gia ở Lào và Căm bốt, bức điện được gửi một cách hình thức cho ngài quốc vụ khanh phụ trách quan hệ với các quốc gia liên hiệp, trên phố Lille, ở đó có cơ quan cơ yếu.
Trên giải đất viền quanh ngôi làng Điện Biên Phủ, bầy trẻ con đầu đội những chiếc mũ nồi cáu bẩn, đám cụ già và phụ nữ, khuôn mặt tròn hiền hậu, đôi mắt den, vốn không kịp bỏ chạy, ngồi sát bên nhau, dưới chân những ngôi nhà sàn bằng gỗ mái lợp tranh của họ, trong lòng đầy sợ hãi và tò mò, quan sát những người lính đang nói trước ống nói của các cỗ máy vô tuyến, có những chiếc ăngten trông như bộ râu của những con dế. Tuy chẳng hiểu được tí gì trong ngôn ngữ của đám binh lính ấy nhưng những người phụ nữ hiểu rằng cái đám người vũ trang này không hề mang lại hạnh phúc cho giải thung lũng.

Khắp nơi, các tiểu đoàn sục sạo vào các ngôi nhà phần lớn vắng người, ở đó sặc sụa mùi vị của những gian chuồng trâu được bố trí ở dưới nhà sàn trong dãy cột chống nhà. Một đoạn thang rộng đưa người ta lên khoảng hiên, dẫn vào ngôi nhà tranh, sàn nhà là những mảng tre đan, mỗi bước đi lại võng xuống. Các lính dù kéo những tấm rèm che cửa các gian buồng, những gian buồng này được ngăn cách bằng các tấm liếp đan bằng mây. Họ đốt những tờ giấy bạc ngay tại bếp lò trong nhà, nơi mà lớp tro hãy còn nóng, ở phía dưới chiếc nồi bắc trên chiếc kiềng ba chân. Lũ mèo sợ hãi trốn lên trên xà nhà. Ở dưới sân, đàn chó vàng, lông dựng lên tua tủa, cất tiếng sủa ầm ỹ; đàn lợn tìm cách quay về chuồng và những chú ngựa nhỏ của người Thái, bờm và lông đuôi rậm rạp, nhúc nhích trong những ngăn riêng của chúng, giống như một chiếc lồng ở trên cao, mũi thở phì phò ghếch trên đoạn máng ăn trống không, được làm bằng một thân cây khoét rỗng.

Đêm xuống, yên tĩnh trở lại. Những tiếng chó sủa giận dữ chào đón vầng trăng tròn đầy đang dâng lên phía bên trên rặng núi.

Ở Paris, lúc này là giữa trưa. Được giải mã ở phố Lille, bức điện từ Sài Gòn được viên chánh văn phòng của ngài Jacquet chuyển tới ngài chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, ông này thông báo với tổng thống, ông bộ trưởng quốc phòng, các vị bộ trưởng và các viên tham mưu trưởng. Bức điện gây ra một sự ngạc nhiên to lớn. Những người đọc bức điện ấy nhìn lên tờ lịch của họ. Do vì múi giờ của Đông Dương sớm hơn múi giờ của Paris sáu tiếng đồng hồ cho nên bức điện tựa như đã tới nơi ngay cả trước khi được đánh đi, ngay trong ngày hôm ấy; nhưng mà quả thật, Paris có vẻ như đi chậm hơn Đông Dương mấy năm trời.

Nếu như người ta lục tìm lại những tập báo chí lưu trữ của thời kỳ đó, vào thời điểm cái ngày thứ sáu 20 tháng mười một 1953 ấy, người ta sẽ thấy rằng có khả năng Gaston Dominici đã có một kẻ đồng lõa và rằng chiếc máy bay thử nghiệm của người Mỹ Sky Rocket đã đạt tốc độ hai nghìn kilômét mỗi giờ. Vấn đề chính trị lớn lúc này là khối phòng thủ chung châu Âu. Cho đến tận năm giờ sáng, đường bay tới Orly đã phải chuyển sang để hạ cánh ở tận sân bay Le Bourget do vì có sương mù. Trời chưa có băng tuyết nhưng mùa đông đang tới gần: từ mười lăm ngày nay, trời đầy sương mù trên khắp nước Pháp, ngoại trừ trên dãy núi Alpes và vùng Provence. Ở nhà hài kịch nước Pháp người ta diễn một vở của Philipe Hériat, “Những đám cưới chạy tang", một âm mưu đã được toan tính để chống đối lại vở diễn này. Ở rạp T.N.P. vở Lorezaccio cùng với Gérard Philippe; ở rạp Madeleine, vở "Hélène hay là niềm vui được sống" của André Roussin.

Vào thời điểm mà người ta tự hỏi vì sao Navarre lại đã mở màn một trận đánh với quy mô lớn như vậy ở cách xa các căn cứ của ông ta đến như thế, thì ngài Maurice Dejean, nguyên đại sứ ở Tokyo, được bổ nhiệm làm cao ủy ở Đông Dương nhờ vào ngài Paul Reynaud được giao phó cùng với ngài Jacquet, gánh đỡ gánh nặng các công việc ở Đông Dương cho chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Ngài Maurice Dejean hầu như buổi nào cũng vậy đều tổ chức tại lâu đài Norodom, nơi ông ta trú ngụ một cách sang trọng, bữa tiệc ăn tối mà đô đốc Cabanier được mời tham dự, hoặc là ông ta tham dự ở Nôngpênh một bữa tiệc tối chào mừng ngài bộ trưởng nhân dịp bộ trưởng đi qua đây. Thêm hay bớt một bữa ăn tối, ở nơi này hay ở nơi kia, điều đó không quan trọng. Người ta không lãng phí thời gian để tập hợp những biến cố loại như thế: trên khắp xứ Đông Dương, người ta tổ chức những bữa tiệc đứng, tiệc ngồi, mỗi khi buổi tối đến là để thoát khỏi nỗi lo ngại đang ngày càng dâng lên trên mảnh đất đối nghịch này. Cái ngày hôm ấy, thử hỏi có ai lại đi phán xét rằng người ta đã không mở sâm-banh để chào mừng trận Điện Biên Phủ ở một bàn tiệc chính thức nào đó? Ngài Dejean hiểu lờ mờ ý nghĩa của trận đánh trên bình diện quân sự. Còn về phần tướng Navarre, ông phân tích tỉ mỉ các vấn đề của cuộc tranh chấp mà ông không dám đương đầu và chơi trò ú tim với họ. Là con người kín đáo, ông né tránh mọi ảo tưởng đối với công vụ của đô đốc và đô đốc thì tự bằng lòng để ghi nhận lại niềm lạc quan mà bộ chỉ huy cao cấp tỏ rõ trước ngưỡng cửa của một chiến dịch mới mở; trong tất cả các văn phòng dân sự và quân sự, người ta nhìn nhận tương lai trong niềm tin tưởng. Việc đánh chiếm Điện Biên Phủ bùng nổ như một dẫn chứng mới về sức mạnh và tính cơ động chiến lược của đạo quân viễn chinh.

Duy nhất, tướng Navarre biết rằng chính phủ có thể trách cứ ông vì đã không xin ý kiến chính phủ trước khi có một quyết định như vậy. Bởi lẽ ông đã cân nhắc tất cả những hậu quả chiến lược của trận Điện Biên Phủ, vậy thì làm thế nào mà ông lại có thể để cho mình bị sa vào một cái bẫy được? Với những đầu óc loại như thế này, điều nguy hiểm chính là không bao giờ, chẳng có thứ gì, cũng như chẳng có bất kỳ ai có thể thuyết phục được họ là họ phạm sai lầm. Ngay cả khi ở dưới đáy sâu vực thẳm, họ vẫn khẳng định rằng họ đã cứu vãn tất cả, và rút cục người ta sẽ phải tự hỏi rằng nếu như họ đã không thể nào thuyết phục được chính họ, thay vì thuyết phục người khác, thì họ là những người duy nhất nắm được sự thật.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #21 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2008, 08:40:32 pm »


Ngày 21 tháng mười một 1953


Cùng với đợt nhảy dù buổi sáng, Gilles lao xuống bãi nhảy Natacha, cùng một lúc với trung tá Langlais, người đã nhận được quyền chỉ huy binh đoàn. Ông tiếp đất một cách chính xác trong tư thế cuộn tròn người, nằm sấp bụng một lát và quan sát khu đất. Con mắt giả mà lần nhảy nào ông cũng tháo ra, ông-nắm chặt nó trong một túi áo vét. Ông rơi xuống một chỗ gần bên một đống rơm cao, trông giống như một chiếc bánh ngọt, những bó lúa vừa gặt được xếp chồng lên nhau ở đó, một hàng rào bằng thân cây tre không cho trâu bò động chạm tới. Khắp bốn phía, đoàn người rơi xuống như mưa. Phía xa hơn, những chiếc máy bay B.26 lượn tròn trên không, Bigeard điều hành những chiếc máy bay ấy yểm trợ cho những trung đội vẫn còn đang đánh nhau với quân Việt trên các dốc núi gần nhất. Ngôi làng, vùng xung quanh và phía nam khu lòng chảo cách đây năm kilômét, nơi có một tiểu đoàn nhảy xuống bãi nhảy Simone, đều đã nằm chắc trong tay quân dù. Ngày hôm ấy, cuộc hành binh Castor giống như một cuộc thao diễn thường lệ.

Gilles chậm chạp đứng dậy, kéo chiếc dù về phía mình, cuộn tròn lại rối vo viên như một khối bột mềm, nhét vào trong chiếc túi xách, trên miệng túi ông xếp bộ đồ nai nịt của lính dù; tiếp đó ông tháo bỏ chiếc mũ da và đội chiếc mũ nồi mầu đỏ lên đầu. Ông vác túi xách lên vai và tiến về địa điểm tập họp. Các phóng viên nhiếp ảnh của cơ quan thông tin vốn đã nhảy xuống cùng với hai cha tuyên úy, chĩa ống kính về phía ông. Một vài giải sương mù mỏng tang hãy còn bám vào bên sườn dãy núi, ở đoạn đầu rất xa của cánh đồng sáng loáng, đến nỗi tựa như những giải sương mù ấy bồng bềnh trên bờ một hồ nước. Trên lớp đất lúc này đã khô và nứt nẻ, những đoạn gốc rạ cao trong ruộng lúa kêu sột soạt khi chạm vào lớp vải cứng của những chiếc quần dài bó chẽn ở đoạn mắt cá chân. Gilles ưỡn bộ ngực ở đó lóng lánh hai ngôi sao bạc. Ông muốn quát to khi nhìn thấy một lính dù chuẩn bị tiếp đất quá cứng nhắc và đành chỉ gầm gừ trong miệng. Nào, ở cái tuổi bốn mươi chín và bất chấp thân thể đau ê ẩm, lão già Gilles mới chỉ tốt nghiệp khóa đào tạo quân dù năm năm trước đây, vẫn còn chưa kết thúc cuộc đời mình? Điều đó không hề ngăn cản Gilles có lời chúc mừng may mắn cho ai đó sẽ nắm quyền sở hữu khu lòng chảo này. Bởi lẽ ông cũng sẽ không ở lại đây với bất cứ giá nào.

Một chiếc xe máy nhỏ chờ đón ông. Gilles mắc chiếc túi xách lên xe, cầm tay lái và mở ga. Ông vội vã tìm gặp Bigeard, với khuôn mặt kiêu căng cùng những câu nói lễ phép đầy khiêu khích của anh ta và nhất là viên tham mưu trưởng mà ông rất quan tâm và khó có thể thiếu được con người ấy, trung tá Fourcade. Cái mà ông yêu thích, nhà quý tộc Gilles ấy, đó là cái cảnh náo nhiệt nhộn nhịp trên không và trên mặt đất, cái tiếng động ồn ào, cái bẫy người đông đúc cùng với khối trang thiết bị. Langlais do lúc tiếp đất khó khăn đã bị rạn một mắt cá chân: xấu hổ, bực tức, ông ta im lặng. Cho chuyển về hậu phương.

Buổi chiều, trong dòng thác từ trên trời trút xuống, bao gồm đoàn người, những khẩu pháo, những hòm thực phẩm và những cuộn dây thép gai, những cuộn dây này khi tiếp đất lại nhảy chồm lên và được người ta mệnh danh là những chiếc gối đầu của phù thủy, đột nhiên xuất hiện một chiếc xe ủi nặng bảy tấn, vọt ra từ chiếc bụng há toác của một chiếc Packet, và chui sâu xuống ba mét đất. Người ta san lấp đầy những đoạn giao thông hào trên đoạn đường băng cũ của sân bay, ở đó có tới một nghìn hai trăm hố sâu phải lấp kín.

Trong khoảng một trăm ngôi làng của khu lòng chảo và trên những sườn núi và vì sợ hãi họ bỏ chạy tới đó, mười nghìn người Thái, ngửa mặt lên trời, lẳng lặng ngắm nhìn quang cảnh diễn ra trước mắt. Trong đoạn thung lũng Điện Biên phủ, những chiếc dù mà người ta chưa kịp thu gom, trông giống như một đống quần áo giặt khổng lồ, đổ tung tóe giữa đám xác trâu chết. Một vài ruộng lúa chín bị tàn phá bởi trận bão xoáy này. Mặc những bộ váy áo mầu đen dài xuống tới tận mát cá chân, những người phụ nữ gọi lũ trẻ con quay lại mỗi khi chúng định rời xa mình và ôm chặt lấy những đứa trẻ mà họ địu trong một cái địu đeo bên sườn. Trong số họ, ở những người khá giả hơn, một băng vải thêu chạy dọc mép tà áo mở giữa ngực, từ cổ áo khép kín xuống đến giải thắt lưng bằng lụa, bằng da hay bằng dây rừng. Các bà già chùm kín mái tóc trong một loại khăn quấn tròn, những phụ nữ đã có chồng búi một búi tóc hình trụ trên đỉnh đầu, các thiếu nữ thì để tóc xõa xuống sau lưng. Trên nét mặt mọi người lộ rõ vẻ lo lắng và những người Thái không hề nghĩ rằng chính bản thân tổ tiên của họ cũng đã từng là những kẻ xâm lược. Ở cái xứ sở không có điện năng này, không một người nào có được chiếc đài thu thanh chạy điện và đài bán dẫn thì chưa lên được đến nơi này. Tuy nhiên tin tức vẫn lan truyền đến tình cờ qua những cuộc gặp gỡ trên các nẻo đường núi, đến bằng nhiều kênh kỳ lạ làm biến dạng chúng đi. Lần này, những nỗi bất hạnh mới nào sắp đổ xuống đây và nếu như phải rời bỏ nhà cửa, thì sẽ sống ở đâu và bằng cách nào đây? Những gia đình người Mẹo đã dắt đàn ngựa chạy vào ẩn nấp trong các hang động. Bắc trên một bếp lò xây gạch, trong lòng bếp người ta đốt cháy các thanh tre, là chiếc xanh rộng miệng trên đó có để một chiếc nồi đột nhiên trở thành một vật báu không gì thay thế nổi.

Buổi tối hôm ấy, tướng Cogny vui vẻ cười phá lên trước mặt đám nhà báo. Cogny vốn có nhược điểm ấy. Ông nói đến rất nhiều chuyện, gợi lại vấn đề chiến tranh du kích, các đội biệt kích, một địa điểm thả neo. Có thể là, như sau này ông ta khẳng định, với ý định đánh lừa đối phương chăng? Vì sao ông ta đã nói ư? Người ta nhớ mãi, nhất là câu ông tuyên bố: "Nếu như tôi có thể, cách đây năm tháng, ngay khi tôi nắm được quyền chỉ huy, thì tôi đã bốc trọn gói Nà Sản chuyển lên Điện Biên Phủ”.

Cogny ngồi chỉ huy ở Hà Nội, cách Sài Gòn một ngàn năm trăm kilômét, nơi mà Navarre ngồi chỉ huy. Cách đó một vạn hai ngàn kilômét về phía tây, ở Paris, ngày hôm đó, ủy viên thư ký của hội đồng quốc phòng, vốn đã họp lại trong ngày 13 tháng mười một, đệ trình lên ngài Marc Jacquet, vẫn chỉ là về hình thức, bản quyết nghị của hội đồng liên quan đến đường lối của cuộc chiến tranh ở Đông Dương. Ngài Jacquet đã nắm được quyết định đó và vốn đã không dám nói cho Navarre biết, cho nên đã không tiếp nhận bản quyết nghị của hội đồng. Ông tiếp tục chuyến viếng thăm các thủ đô láng giềng và theo dõi diễn biến của cuộc chiến tranh mà thậm chí không biết rằng đô đốc Cabanier đã được giao phó một công vụ đi gặp viên tổng chỉ huy.

Không một ai có thể chống lại cuộc phiêu lưu ấy, kể cả ông bộ trưởng tài chính, người mà sau khi trả lời về kế hoạch Navarre: "Không một xu” đã nói thêm: "Ít nhất là..." cùng với ngài chủ tịch hội đồng bộ trưởng lúc đó, ông ta dã đưa ra một kế hoạch nham hiểm. Để nắm được cơ may cho kế hoạch Navarre, cần phải nhận được từ nước Mỹ khoản tiền một trăm tỷ đô la, đó là cái giá của kế hoạch này. Nếu không, xin chào, ta bỏ rơi nó. Một cuộc mặc cả vô sỉ mà các vị đứng đầu chính phủ thường biết cách đưa ra. Đối với Eisenhower(1), đó là vấn đề nắm lấy hay buông tay; khi mà đạo quân viễn chinh lên đường, nước Mỹ tự thấy đứng trước những trách nhiệm của bản thân, và đứng trước một cuộc chiến tranh phải tiến hành không lâu sau hiệp định đình chiến ở Triều Tiên. Ngược lại, nếu như nước Mỹ chịu chi tiền, thì ngài Laniel sẽ đề nghị với ổng thống Hợp chủng quốc một cuộc hội kiến và sẽ kết thúc bằng một bản tuyên bố kiểu sau đây: "Ở Đông Dương, nước Pháp và nước Mỹ cùng có chung một mục đích và thật là vô ích nếu hy vọng chia rẽ hai nước đó. Đứng trước một sự thật, hai nước đó yêu cầu đối phương tiến tới một giải pháp hòa bình cho cuộc tranh chấp".

Cuộc hội nghị trên các hòn đảo Bermudes, chỉ diễn ra vào tháng chạp, nhưng ngay từ tháng chín, nước Mỹ đã xuất chi. Với niềm thích thú thỏa mãn, ông bộ trưởng tài chính rót vào kho bạc rỗng của quốc gia số tiền một trăm tỷ đô la của kế hoạch Navarre. Cái kế hoạch này, bây giờ ông ta không chống lại nữa, việc thực hiện kế hoạch ấy bị đe dọa bởi Bộ Quốc phòng là nơi phải cung cấp nhân lực. Cuộc chiến tranh Đông Dương, chẳng những không phải tốn kém gì mà ngược lại đã có lời và máu của các binh sĩ đã được hoàn lại bằng đô la. Người được lợi nhất trong việc buôn bán đó là chính phủ Pháp chính là bởi vì nước Việt Nam không được nhận khoản hoa hồng mà họ kháng nghị.

Buổi sáng, một lễ tang đã diễn ra trên khu ruộng lúa để chôn cất những người chết của tiểu đoàn dù thuộc địa số 6, những chiếc dù được dùng là vải khâm liệm họ. Việc đó diễn ra ở đâu vậy? Không còn biết được nữa. Không cách xa ngôi làng nhiều lắm. Những chiếc thập tự bằng gỗ được quét sơn trắng và những vòng hoa được xếp trên các ngôi mộ, xung quanh ngôi mộ là một vòng dây thừng như thường lệ. Khu nghĩa trang, chính giữa có một chiếc cột cờ, có thể rồi sẽ được mở rộng hơn.
_____________________________________
1. Eisenhower: Lúc đó là tổng thống nước Mỹ. - N.D
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #22 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2008, 08:43:41 pm »

Ngày 22 tháng mười một 1953


Từ trong khoang của một chiếc máy bay Beaver bước ra, tướng Cogny thân hình cao to, cử động một cách khó khăn; ông duỗi thẳng người ra và đứng dậy tay chống vào chiếc gậy leo núi, cổ áo mở phanh ra trên lớp da thịt nhăn nheo, đồ sộ của khoanh cổ. Thu mình lại trong bộ trang phục mầu da báo, thái độ cau có, Gilles trông thật nhỏ bé và co quắp khi đứng bên cạnh Cogny. Cogny chào lại, bắt tay thân thiện và nheo đôi mắt vì ánh nắng. Ông đưa mắt quan sát bốn xung quanh, cái xí nghiệp dùng để chế tạo ra những chiến thắng và những người chết, lúc này đang hoạt động hết cỡ, và ông mỉm cười. Ý nghĩ của ông đối với tất cả những việc đó, Gilles biết rõ.

Gilles dẫn ông về sở chỉ huy của mình, báo cáo với ông những biện pháp đã được thực thi để bảo vệ cứ điểm trước mọi cuộc lấn công, vị trí và nhiệm vụ của các cụm pháo binh, chi tiết kế hoạch trinh sát đã được thực hiện. Cogny tán thành, ông lại tiếp tục cuộc chất vấn nội tâm mà ông vốn không ngừng đeo đuổi từ năm tháng nay. Ông không thể nào không nghĩ đến cái tổ ong bò vẽ Nà Sản mà ông đã rút chân ra được một cách kịp thời. Để rồi chui vào đây ư? Đôi lúc ông rướn cao người lên, nhìn xuống đất, đưa cái đầu bọc sắt của cây can gại gại lớp đất, giống như con bò tót đưa móng guốc gãi đất và tấm thân cao lớn của ông tựa như sụm hẳn xuống.

Ông không mong mỏi gì ở Nà Sản, vốn có nguy cơ lần lượt nuốt chửng từng tiểu đoàn trong số các tiểu đoàn của vùng đồng bằng, ấy vậy mà, ngày hôm qua, ông đã nói cái câu mà người ta đã trách cứ ông trong thời gian dài: "Nếu như cứ điểm mạnh Nà Sản lúc trước được lắp trên các bánh xe lăn, thì tôi đã chuyển nó tới Điện Biên Phủ...". Ở Nà Sản người ta cảm thấy bị vây chặt; nằm trong tầm súng của quân Việt người ta không thể bước đi một bước mà không bị theo dõi. Ở đây, ít nhất là... Những vách núi gần nhất, vả lại những chỗ đó người ta sẽ không để cho quân Việt đứng chân được, về phía đông cũng như phía tây đều cách xa năm hay sáu kilômét. Những đỉnh núi thực thụ, cách tám kilômét; trên hướng bắc, mười kilômét; dưới hướng nam còn cách xa hơn nữa. Người ta thở được, người ta cảm thấy thoải mái. Người ta sắp hành động. Cogny ưỡn lồng ngực. Những điểm cao xa xăm kia, nơi mà đối phương sẽ đứng chân, phải chăng nằm ngoài tầm với của các nòng đại bác 105 và 155 li? Trong trường hợp đó, không quân sẽ ném bom để bổ khuyết.

Gần năm nghìn con người bận rộn trên giải đất Điện Biên Phủ, đào hố chiến đấu, rải dây thép gai, xúc đầy đất vào trong các bao tải, tắm gội dưới sông, bố trí lều trại trú quân và bếp ăn, thu gom số dù, tháo mở các hòm đồ. Một vài trái phá bắn vào trong dãy núi để hiệu chỉnh xạ kích. Khói và bụi bốc lên bên trên khu cứ điểm trong lúc đó các máy bay trút các khối tải trọng xuống như mưa. Các văn phòng thuộc cơ quan tham mưu của Gilles truyền đi các điều chỉ dẫn, máy điện thoại réo chuông, đài thông tin vô tuyến nổ lép bép. Đó là không khí vui vẻ của những hoạt động thành công. Chẳng bao lâu nữa, chính những người chết cũng sẽ trở về Hà Nội bằng máy bay.

- Dù sao, Gilles nói với Cogny trong một lần gặp riêng, với âm sắc vùng Catalan(1) cộng thêm vào vẻ hiền từ vốn có của ông, tôi sẽ rất sung sướng khi mà anh tìm được cho tôi người kế nhiệm.

- Đang nghĩ đến chuyện đó.

Gilles, tuy nhiên là con người phải phép. Bản thân ông cũng là một con bò tót, nghiền ngẫm nhiều ngày liền cùng một bài toán, bám chặt vào những lí lẽ của mình, bướng bỉnh, thận trọng hay gào thét, nét mặt cau có khi không có được cái mà mình mong muốn. Kinh nghiệm đã thu lượm được, sắp tới không có ích gì hay sao? Gilles không còn cảm thấy sức khỏe bình thường và đôi lúc chịu khuất phục trước những cơn mệt lỏi đột ngột. Quả tim không ổn và bắt buộc ông phải hạn chế hoạt động. Ông đã thấy chán và đánh hơi thấy mối nguy hiểm cận kề.

- Ở Nà Sản tôi đã sống sáu tháng trời như một con chuột. Xin sử đụng tôi ở chỗ nào thoáng đãng.

- Xin hứa, Cogny nói. Đây chỉ là vấn đề ngày một ngày hai. Nếu như Cogny nài ép, Gilles hẳn là đã khuất phục và dòng chảy các biến cố đã thay đổi.
_____________________________________
1. Catalan: vùng đông bắc Tây Ban Nha. - N.D
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #23 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2008, 08:49:47 pm »


Cách không xa con đường, ở đó nhiều đoàn dân công mang vác và những chiến sĩ của sư đoàn 316 hành quân đi qua, dưới một túp lều mà mái lá hòa lẫn vào với cành lá ven rừng, một con người lẳng lặng nghiên cứu tấm bản đồ lớn tỷ lệ bốn trăm nghìn, mở rộng treo thẳng đứng trước mắt ông. Qua những báo cáo mà ông nhận được, ông cố gắng xác định tầm cỡ của biến cố mà Navarre gây ra ngày 20 tháng mười một ở Điện Biên Phủ. Không rời mắt khỏi tấm bản đồ, ông hỏi các sĩ quan trong Bộ Tổng Tham mưu và rồi lại im lặng. Không một ai ở xung quanh ông lại tỏ ra sốt ruột. Người ta biết rằng ông có khả năng nhiều ngày liền ở trong tư thế cầu nguyện như vậy để rồi bất ngờ chợt tỉnh lại vào một buổi sáng. Lúc đó ông gọi các trợ lý lại và vừa đọc các mệnh lệnh vừa, đôi khi, nắm tay đấm xuống mặt chiếc bàn dài kê trên chân niễng mà ông thường đi vòng quanh.

Cái người đàn ông tầm vóc trung bình này, vừa qua trạc tứ tuần, cử chỉ chậm chạp, dáng điệu nặng nề, thái độ có phần lịch thiệp, mặc một chiếc quần cắt xấu và một chiếc áo va-rơi cổ cao, trên vai và ngực áo không hề đeo cấp hiệu cũng như huân huy chương, đó chính là Võ Nguyên Giáp, Tổng tư lệnh quân đội nhân dân. Giống như Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông sinh ra trên những giải cát rộng lớn miền Trung Việt Narn, gần biển, ngày mồng một tháng chín 1910, ở An Xá trong tỉnh Quảng Bình. Vào cái thời kỳ người ta gọi ông là Võ Giáp, ông đã theo các khóa học náo nhiệt về triết học và luật học trong một trường đại học ở Hà Nội. Ngay sau khi một ý nghĩ tỏa sáng trong tâm trí ông thì niềm tự tin hiện lên trên khuôn mặt này thật lớn lao. Niềm tự tin ư? Nói đúng hơn đó là trí thông minh: cái trí thông minh gây tai tiếng đã giúp cho một - nguyên giáo sư sử học trường tư thục - dám dũng cảm đương đầu với một quân đội của châu Âu được trang bị vững mạnh, nắm trong tay mọi phương tiện cho phép dắt dẫn cuộc chiến tranh đến bất kỳ nơi nào và vào bất cứ lúc nào, trong lúc các đơn vị của chính ông thì phải di chuyển bằng đôi chân mang theo vũ khí, đạn dược và lương thực, thực phẩm. Theo gương người thầy của mình, tướng Giáp sử dụng các phương tiện mà ông có trong tay và mảnh đất mà ông thông thạo hơn đối phương, bởi lẽ đó là mảnh đất quê hương, tổ quốc của ông. Cái mà dưới con mắt của các nhà chiến lược kinh điển tạo thành một thế yếu kém không thể vượt qua nổi, dần đà trở thành một ưu thế đã khiến cho đối phương chịu thất bại. Trong phần lớn các trường hợp, thử hỏi có ích gì khi nắm được những vũ khí nghiền nát đối phương nhưng đối phương đó lại chuồn mất. Làm thế nào để truy đuổi đối phương ấy nếu như nó "lai vô ảnh, khứ vô hình"? Kể từ khi ông thành lập quân đội nhân dân trong các chiến khu, Võ Nguyên Giáp đã nghiền ngẫm về địch thủ cũng như về lực lượng của chính mình. Học viện Chiến tranh của ông là rừng rậm. Cho đến tận lúc này ông không tính đếm bằng con số hàng nghìn tấn, mà là bằng mấy chục kilôgam cho một người mang vác. Các tiểu đoàn của ông đã đi qua nhiều nghìn kilômét, nhưng mà là chia thành nhiều chặng đi của bộ binh và do vì ông biết rằng quân địch có thể chụp xuống đầu ông bất cứ lúc nào, ông sống ẩn dật và sẵn sàng biến mất nếu bị phát hiện.

Dần dà, ông đã tôi luyện công cụ của mình, mở rộng ảnh hưởng của Đảng, áp đặt học thuyết bằng cách thuyết giáo đối với những phần tử trung thành và giải tán những phần tử thờ ơ, biến đổi quân đội nhân dân thành vô số những tế bào gắn kết với nhau và sẵn sàng hi sinh thân mình vì chiến thắng của cuộc cách mạng. Là nhà sử học, ông đã biết được rằng không có bất kỳ điều gì là bất khả thi đối với những ai dám làm và đã đặt nền móng cho chiến thuật và chiến lược của ông: khi người ta không thể đánh bại kẻ địch được trang bị vũ khí mạnh hơn vũ khí của bản thân mình thì cần phải vô hiệu hóa các vũ khí đó và chờ đợi khi có cùng những thứ vũ khí ấy, lúc đó sự xuất hiện của chúng sẽ nhân đôi hiệu quả. Không bao giờ để cho mình bị bất ngờ, ngụy trang kín đáo, chỉ tấn công khi có ưu thế rõ rệt và tin chắc ở chiến thắng, tiến hành các công việc chuẩn bị một cách chậm chạp và tỉ mỉ, thực hành đòn đánh một cách vũ bão, khẩn trương, tướng Giáp đã kiên trì vận dụng thích hợp cho mình những nguyên lý chiến tranh của vua Alexandre Đại đế và của Napoléon và rút ra những bài học từ những thất bại của mình. Thậm chí người ta còn tự hỏi, liệu ông ta có học hỏi ở hoàng tử Ligne và ở đại tá Ardant du Picq chăng? Còn về kinh nghiệm của Mao Trạch Đông, ông đã rút ra những gì có ích cho mình: bỏ khoảng rộng xung quanh các cứ điểm mạnh nếu như chúng khó đánh chiến, quan tâm đến việc né tránh những trận đánh không nắm chắc thắng lợi, không ngừng lẩn tránh khi kẻ địch mạnh, tấn công địch khi chúng rút lui, động viên nhân lực và tinh thần chống lại kẻ địch vì một lý tưởng đơn giản và rõ ràng. Các binh sĩ của ông chiến đấu vì những truyền thống của cha ông họ.

Về lòng căm thù, tướng Giáp không khó khăn gì để nuôi dưỡng trong con tim mình những tình cảm cần thiết: bà vợ ông bị bắt và bị tòa án quân sự đặc biệt của Hà Nội kết án tù khổ sai chung thân, đã chết trong một nhà tù của Pháp do bà cũng giống như ông, đấu tranh vì nền độc lập của tổ quốc. Phải chăng ông đã nói: "Mỗi một phút đồng hồ, hàng trăm nghìn người chết trên mặt đất này. Cuộc sống và cái chết của hàng trăm, hàng nghìn, hàng vạn con người, phải chăng họ là đồng bào của chúng tôi, điều đó không nói lên điều gì hay sao?" ông đã tỏ vẻ bất bình để tự bảo vệ trong câu chuyện đó khi tôi đặt ra cho ông câu hỏi. Cái câu nói tàn nhẫn ấy tuy nhiên không hề có vẻ ầm ĩ từ cửa miệng của ông và tôi thấy hình như, nếu ở vào địa vị của ông, có lẽ tôi đã phải hét lên để thuyết phục chính những người anh em của mình rằng chiến thắng chỉ có thể giành được bằng cái giá ấy. Khuôn mặt hiền từ và đôi khi đầy nét hài hước mà tôi đã nhìn thấy ở những nơi vẫn còn ám ảnh những bóng đen của nhà vua Jean(1) cùng các tướng lĩnh của ngài, tôi có thể hình dung ra khuôn mặt ấy từ ánh sáng của những biến cố đã nhào nặn ra ông dưới những tác động của nỗi đau khổ và lòng ham muốn trả thù.

Cái khuôn mặt nở nang đầy nét thông minh ấy, cái vầng trán cao rắn rỏi dưới một mái tóc đen và cứng ấy, tính quyết đoán hiện ra rõ rệt. Lần lượt lộ ra tính thích diễu cợt, sự mưu trí. lòng tốt, và một sức mạnh không có gì đè bẹp nổi. Nếu như trong cái trận đánh mà chủ tịch Hồ Chí Minh mô tả với David Schoenbun ở Fontainebleau ngày 11 tháng chín năm l946, Navarre nắm trong tay một khối sức mạnh áp đảo thì tướng Giáp là con mãnh thú chuẩn bị sẵn sàng để nhảy chồm lên người ông ta: "Đây sẽ là một cuộc chiến tranh giữa một con hổ và một con voi. Nếu như có lúc nào đó con hổ dừng lại thì con voi sẽ dùng đôi ngà để chọc thủng bụng con hổ. Duy có điều con hổ sẽ không dừng lại. Nó ẩn nấp trong rừng rậm lúc ban ngày và chỉ xông ra lúc ban đêm. Nó sẽ nhảy chồm vào con voi, cắn xé từng mảng thịt trên lưng voi rồi lại biến mất vào bóng tối, và con voi sẽ chết vì kiệt sức và mật máu”. Navarre lẽ ra phải luôn luôn giữ lại bức ảnh của tướng Giáp ở trước mắt, trong phòng làm việc của mình, giống như Montgomery(2) giữ lại bức ảnh của Rommel(3) trong chiến dịch Ai Cập. Có lẽ, phải chăng ông ta nghĩ rằng làm như vậy sẽ là quá đề cao một con người vốn đã không trải qua những khóa học quân sự cao cấp và người ta chỉ gọi là đại tướng trong ngoặc kép. Mao Trạch Đông cũng vậy, ông ta không phải là một nhà quân sự chuyên nghiệp, nhưng mà trong mọi nghệ thuật, ông ta có những năng khiếu muộn mằn.

Vào thời kỳ này, tướng Giáp không còn ở trong giai đoạn chập chững nữa. Đối với một người nghiệp dư, ông đã thành công, ngay từ chính những thất bại của mình, trong việc tôi luyện một đội quân chiến đấu bao gồm không phải là một vài đội quân du kích nữa, mà là sáu sư đoàn bộ binh, mỗi sư đoàn có ba trung đoàn, một sư đoàn pháo binh và công binh và các đơn vị vận tải và pháo phòng không. Với một công cụ như vậy, làm thế nào ông lại không chấp nhận tác chiến nếu như ông bắt chước các quân đội của châu Âu? Chắc chắn, Navarre chính là tính tới cái cơ hội này khi tuyên bố với Salan, lúc ông ta nghĩ tới Việt Minh: "Nếu thế, họ sẽ toi mạng...". Phải, nếu như tướng Giáp ném các xe tải và các khẩu đội pháo binh ra các con đường, thành từng đoàn lộ liễu, thì ông ta thất bại. Nhưng Navarre đã lầm khi ông ta giả định là vị giáo sư sử học có thể rơi vào cái bẫy đó. Con hổ Giáp chỉ tiến lên từng bước một, không một giây phút rời mắt khỏi con voi mà nó muốn tiêu diệt, đưa chân thăm dò mặt đất và chỉ đặt xuống đó toàn bộ thân hình khi nó thấy sức đề kháng đã đủ mạnh.

Tướng Giáp đã biết được mọi chi tiết của cuộc hành binh Castor với một cảm giác vừa vui thích, vừa lo ngại: rất không coi thường Navarre và Cogny, ông không giả định là các viên tướng này có thể mạo hiểm một cách tùy tiện và tự hỏi liệu công trình này là một đòn đối phó với việc di chuyển của sư đoàn 316 lên hướng tây bắc, hay là nó nằm trong ý định muốn chặn con đường của ông tiến sang phía Lào.

Sự thực, ông không sợ gì giả thuyết này cũng như giả thuyết kia: 316 sẽ tới được mục tiêu của nó, bất chấp sáu tiểu đoàn mà Navarre vừa ném xuống khu lòng chảo nhưng 316 phải tăng cường gấp đôi các biện pháp để tránh bị phát hiện và bị oanh tạc bởi những máy bay khu trục và máy bay ném bom, có thể đặt căn cứ ở Điện Biên Phủ, như vậy là chỉ cách khu vực hoạt động có mấy phút cất cánh. Ngược lại, nếu như Navarre chịu đứng chân ở đó… Các sĩ quan cơ quan tham mưu của tướng Giáp tán thành kết luận của thủ trưởng họ: "Navarre đã bị tóm chặt".
_______________________________________
1. Jean: Bí danh của tướng De Latre de Tassigny. - N.D

2. Montgomery: Thống chế của quân đội Anh.

3. Rommel: Thống chế của quân đội Đức trong Đại chiến thế giới 2 đối chọi nhau trên chiến trường châu Phi - Trung Đông. - N.D
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #24 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2008, 08:55:15 pm »


Ngày 23 tháng mười một 1953


Ở Điện Biên Phủ, cái vòng tròn lớn tiếp tục và thả xuống những cuộn dây thép gai, những phuy ét-xăng, những hòm đạn dược, thực phẩm và rượu vang ướp lạnh; những khối đạn pháo và phương tiện đủ loại rơi xuống ầm ầm như cơn mưa đá của những trận bão, rải rác trên vùng ven của thành phố nhỏ bé, ở đó, những chiếc dù đôi khi còn bám lơ lửng trên các cành cây và trên các mái nhà tranh. Những chiếc máy bay Morane 500 đã cất cánh từ đường băng sân bay để bay trên vùng lân cận khu lòng chảo và thả pháo sáng soi đường cho các đội trinh sát đi sục sạo lần lượt từng ngôi làng và tiến đến những dốc núi gần nhất để truy tìm đám quân Việt tản mát vào trong dãy núi mà các nhân viên quan sát thường nhầm lẫn với đám cư dân quá sợ hãi trong thung lũng.

Hôm qua, các cha tuyên úy đã tổ chức lễ thánh trên những bàn thờ dã chiến, bởi lẽ đó là ngày chủ nhật. Người ta đốt các bụi rậm phía trước mặt các khu xạ giới của những điểm tựa đầu tiên, và mùi khói khét lẹt bị gió đè xuống thổi lan ra khắp cứ điểm. Người ta đốn hạ cây cối, chặt ngắn để làm xà ngang, cột chống.

Từ bụng sau há hoác của một máy bay Packet, một khối khổng lồ đột nhiên nhảy nhót. Hai mươi mốt chiếc dù đủ các màu, được cột chặt vào nhau, nở bung và tỏa rộng phía trên chiếc máy bay, giống như một bông hoa uy nghi. Trong lúc tiếng hoan hô vang dội bay lên không trung, chiếc xe ủi đất mới đung đưa đi lại ở đầu sợi dây néo và nhẹ nhàng đặt mình xuống ruộng lúa, thẳng đứng trên đoạn bánh xích của nó. Lần thả đầu tiên thất bại hẳn là do một tính toán sai lầm, trongviệc chuyển đổi số đo trọng lượng của người Mỹ. Lần này, cỗ máy tì lên một mặt phẳng bằng kim loại, được mở rộng bằng một loạt các phiến gỗ, vươn dài ra ngoài như những tay đỡ, không cho chiếc xe lật nghiêng. Những thỏi chì lớn đã hạ thấp trọng tâm của chiếc xe. Mọi người tiến lại, sờ nắn chiếc xe, lắc đầu: "Cái anh này, có ai đó nói, chắc chắn anh ta sẽ ở lại đây…”

Những anh lính dù ngồi trên mình những con ngựa Thái nhỏ nhắn vừa được lôi ra từ các gian chuồng, đi nước kiệu. Khẩu tiểu liên treo trước ngực, chạm vào một tay lái bằng sắt thô, hai chân kẹp chặt lấy những chiếc xe máy Vétspa hai bánh nhỏ xíu, những người lính thông tin chạy đi chạy lại trên những đoạn đường mòn ngoằn ngoèo. Gần bên lá cờ hiệu của Gilles cắm trước một túp lều, giữa những dàn ăngten thu thanh, bày trẻ con thích thú ngắm nhìn những thứ đồ chơi nổ ròn rã ấy, nhưng khuôn mặt những người phụ nữ lộ rõ sự sợ hãi mỗi ngày một thêm căng thẳng. Rất nhiều người đàn ông vẫn còn lang thang trên núi, không biết đi về đâu? Nhiều đồ chơi khác sẽ còn rơi xuống như mưa, đáng sợ hơn những thứ đã rơi xuống bởi lẽ những con người của đạo quân viễn chinh có vẻ ở lại đây lâu dài. Thử hỏi ai sẽ trả tiền cho những cây ăn quả mà người ta đã chặt hạ? Ai sẽ thu hoạch mùa màng? Ai sẽ ngăn cản không cho phá hoại lúa má còn chưa gặt được về? Ai sẽ đền bù cho những con trâu bị giết chết?

Bigeard và Bréchignac đã thấy buồn chán. Cú đánh mạnh đã kết thúc và phải chờ nhiều tháng mới có một cú khác, nếu có một cú nữa. Một cách máy móc, những người phụ nữ lại bắt tay vào quay chiếc cối xay lúa, và cử chỉ của họ mang một ý nghĩa vừa cao cả vừa đáng buồn cười. Những ngôi nhà vẫn đứng vững trên hàng cột, giữa hàng cột ấy chen chúc đám gia cầm, đàn lợn con và bầy trâu. Phía trên là nơi trú ngụ của các gia đình, trong một gian buồng rộng, sàn nhà ghép ván được cột lại xộc xệch, bên trên trải những tấm chiếu, những tấm vách ngăn bằng tre hoặc những tầu lá lớn đan vào nhau; che cho một mảnh sân ở đó những đêm mùa hè người ta nằm ngủ, là một mái lợp bằng gianh kéo dài với những đường chạm trổ chữ thập trên những thanh rui mè.

Ở Sài Gòn, trên trang điểm báo của Paris mà viên sĩ quan tùy tùng đưa cho ông xem, Navarre đọc được tấm áp phích lớn của tờ Nước Pháp buổi chiều: "Bắc Kỳ: cơn mưa lính dù trút xuống Điện Biên Phủ". Người ta có thể giả định là khuôn mặt của Navarre ngay lập tức cau lại; trên hai cột báo đầu tiên, lồ lộ hàng chữ đậm lời tuyên bố của Cogny: "Đây không phải là một trận đánh như ở Lạng Sơn mà là bước mở màn của một cuộc tiến công". Nào có ai đã thúc ép Cogny phải tuyên bố bất kỳ chuyện gì và ai đã cho phép ông ta làm việc đó?

Về phía mình, Navarre đã im tiếng và không một ai trong căn phòng của ông nói điều gì. Người ta không thể điện thoại từ Sài Gòn ra Bắc Kỳ, ít nhất khi người ta không phải là nhà quân sự nhưng mà cánh báo chí, họ biết cách tìm được Cogny. Có thể là được Cogny báo trước, tay phái viên đặc biệt của tờ Nước Pháp buổi chiều hẳn đã mò ra Hà Nội và từ đó điện về tòa soạn. Là con người kín đáo, Navarre không thích những lời bình luận về một cuộc hành binh chỉ vừa mới mở màn mà lẽ ra phải gây bất ngờ cho chính phủ cũng như cho đối phương. Bức điện tín của ông gửi cho ngài quốc vụ khanh phụ trách các mối quan hệ với các quốc gia liên hiệp thế là đủ và Paris là người duy nhất có quyền cho giới thông tin biết tầm quan trọng, nếu như Paris thấy đó là điều thích hợp. Trong tâm trí của Navarre, Cogny đã khôn khéo ôm về mình thắng lợi của trận Lạng Sơn. Câu quảng cáo rùm beng ấy nhằm mục đích gì, bởi lẽ không phải Cogny là người đã quyết định có trận Điện Biên Phủ, mà chính là tổng chỉ huy? Cái từ ngữ "bước mở màn một trận tấn công" có nguy cơ làm cho công luận và chính phủ lo ngại. Phải, Cogny chen chân vào đâu đây? Những đánh giá về chiến lược không phải là nhiệm vụ của ông ta. Về phần mình, nếu như Navarre đã có thể dắt dẫn cuộc chiến tranh như ý ông muốn, kể cả không cho cánh báo chí biết được những gì mà ông dự định, thì việc đó ông đã làm. Bởi lẽ tất cả những gì tự nói ra sẽ làm cho đối phương nắm được và giúp ích cho họ trong khi người ta vẫn còn phải mò mẫm phán đoán những phản ứng của họ trước những thực tế rõ ràng nhất.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #25 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2008, 08:57:17 pm »


Ngày 25 tháng mười một 1953


Ở Điện Biên Phủ, ngày hôm ấy, vào khoảng 11 giờ 30, chiếc Dakota đầu tiên hạ cánh xuống đường băng phủ kín những tấm ghi sắt. Công binh đã đi trước kế hoạch của họ một tuần lễ, và các máy bay vận tải sẽ đổ bộ những phương tiện trên không thích hợp để thả dù xuống. Một đài thông tin dẫn đường, hoại động từ ngày hôm qua, cung cấp cho các phi công vật chuẩn để xuyên qua lớp mây. Những thương binh và những chiếc dù có thể được chuyển về Hà Nội, và nhất là các tiểu đoàn thuộc binh đoàn của Gilles có thể được thay thế bởi những đơn vị khác không quý giá bằng. Quân dù sục sạo các vùng lân cận và áp tải về, dưới áp lực của những khẩu tiểu liên, những người đàn ông tìm cách chạy vào trong núi, đám người này bước đi, đầu cúi gằm. Họ bị nghi ngờ và người ta nhốt họ lại. Các sĩ quan trinh sát hỏi họ, để tìm cách biết được các tiểu đoàn quân đối phương bị quân dù đánh bất ngờ hiện nay ẩn nấp ở đâu. Những người Mẹo quay về tìm kiếm đàn gia cầm gia súc và một vài thứ của cải mà họ bỏ lại ở nhà lúc vội vã bỏ chạy.

Trên rặng núi cách xa chừng hai chục kilômét tôi đã phát hiện một cựu du kích thời kỳ đó ở giữa một vài gia đình đang gặt lúa gần một đoạn đèo. Ngồi bên khẩu súng trường mà anh ta nắm trong tay, nòng súng chĩa lên giời, báng súng đặt trên mặt đất, anh ta có vẻ như đang bảo vệ những người phụ nữ mặc những chiếc áo dài bằng vải bông, hai ve áo nhuộm đủ mầu sắc, đang vừa gặt vừa líu lô trò chuyện; trong số họ, những người khá giả hơn đeo những đôi hoa tai hình lưỡi liềm và những chiếc vòng cổ bằng bạc. Tên anh ta là Vừ Doa Dính. Vũ khí của anh ta, một khẩu hỏa mai thì đúng hơn là một khẩu súng trường, không có đường ngắm, dài hơn rất nhiều tấm thân người lùn tè của anh ta. Năm 1953 anh ta hai mươi sáu tuổi. Hiện nay cậu con trai của anh ta cũng đi săn, không bao giờ hạ mình làm công việc đồng áng, cũng giống như anh, được trang bị như một chiến binh thời cổ đại, một chiếc sừng trâu đựng thuốc súng đeo ở thắt lưng, và một chiếc túi dết chứa đầy đạn sắt vụn. Treo lủng lẳng ở cổ họ, một chiếc vỏ đạn cũ đựng các kíp nổ. Cả hai che giấu mái tóc dưới một chiếc mũ bịt kín hai tai, trong khi đó một tấm khăn quấn bịt kín một nửa mái đầu của những người phụ nữ cạo trọc, để lại một túm tóc trên đỉnh sọ. Khuôn mặt Mông Cổ của anh ta đầy mưu mẹo, nhăn nheo, đôi mắt đen ti hí của anh ta không ngừng nhìn tôi rồi nhìn phong cảnh xung quanh, anh ta sục sạo để tìm kiếm chim chóc mà anh ta phải đến thật gần để giết chết, những con bò rừng thì phải tới cách mười mét, hươu nai thì cách hai mươi nhăm mét.

Chúng tôi cùng nhau đi bộ về cái xóm kề bên, nằm lọt giữa những tảng đá, gần một dòng suối nhỏ và một mái nhà gianh đang bốc khói, nền nhà bằng đất nện. Trong số những dụng cụ thô kệch dùng để chế tạo vũ khí, có một chiếc cốc của cơ quan hậu cần quân sự nằm chỏng chơ trên mặt bàn, và tôi có thể đọc thấy ở đó, phía trên một ngày tháng đã bị xóa đi, một dòng chữ khắc bằng mũi dao trên vỏ kim loại "Louise thân yêu". Một chiếc bếp lò để rán đã cũ nằm đó, được biến thành chiếc đàn ghi-ta. Chín năm về sau, những mảnh vài dù được phơi khô cùng với quần áo và đám trẻ con chơi trò đánh quăng bằng những quả đạn súng cối 60 vứt đi. Tôi hốt hoảng tránh ra xa lũ trẻ. Ngồi thu lu im lặng, một bà già nhét những củ khoai vào trong một chiếc túi. Trên những vì kèo bàng tre của khung nhà, treo lủng lẳng những miếng da có dính mỡ và một con diều hâu đã vặt lông mà một người thợ săn vừa bắn được.

Chính tại đây, nơi Vừ Doa Dính quay về để tìm kiếm đàn lợn và bầy gà có mầu lông sặc sỡ của anh ta thì vừa lúc một chục dân binh ăn lương của người Pháp đã bắt anh ta đi theo về Điện Biên Phủ. Ở đó anh ta gặp lại ba người đàn ông và ba phụ nữ của các bộ tộc láng giềng, mà người ta sử dụng cũng như anh, để làm lao công. Anh ta nghĩ là đã vĩnh viễn phải xa rời những người thân, rặng núi và khu rừng của anh ta; lòng anh ta tràn đầy tuyệt vọng và căm thù.

Trong khu phố cũ của Điện Biên Phủ, đám trẻ con mạnh bạo hơn, đến gần những người lính đang đào hố chiến đấu gần các ngôi nhà và xin họ sôcôla. Chúng không biết rằng bản thân những ngôi nhà cuối cùng cũng biến mất trong tiếng kêu răng rắc, giống như cây cối và chúng sẽ bám vào váy mẹ chúng hoặc là được mẹ chúng cõng trên lưng, đi ẩn nấp ở cách nơi đây nhiều kilômét để nhường chỗ cho những con người của chiến trận.

Những khu trú quân dã ngoại hình thành và ban đêm mọi người nằm ngủ trong những mái lều nhỏ hình thù như chiếc mũ cảnh sát. Ban ngày cái khu trại mênh mông này mang dáng vẻ vui tươi của một chuyến cắm trại ở nông thôn. Người ta tắm rửa trong dòng nước trong xanh của sông Nậm Rốm, con sông không sâu lắm, khôn khéo chảy giữa đôi bờ màu đỏ son, người ta giặt quần áo dưới sông và phơi lên đám dây thép gai. Người ta hâm nóng các xuất ăn trong những chiếc sanh, nồi mượn được, đặt trên những bếp lò khoét vào lòng đất.

Những chuỗi dù màu trắng và màu ka ki phấp phới tung bay, từ những chiếc Dakota rơi xuống, và khi khối hàng chạm đất đổ nằm xuống mặt đất và ngọn gió thổi phồng chúng lên đột ngột trước khi hất ngửa chúng ra. Những kíp tháo dỡ khối hàng ra khỏi dù, chuyển hàng về những khu kho ngày càng chất đống. Mỗi lần gói buộc đòi hỏi mười phút lao động của những người tiếp vận và yêu cầu có hai mươi mét dây thừng.

Những tiếng đại bác nổ đanh. Những nòng súng cối hạng nặng kêu vang trong giây lát như tiếng chuông, trước khi đạn ra khỏi nòng, những chiếc Moranne vo vo bay lượn trên không kiểm soát đường đạn tới mục tiêu.

Ở Hà Nội, tướng Cogny trán nhăn lại, lắng nghe viên trưởng phòng Nhì của mình, thiếu tá Levain, báo cáo với ông về hiện tình của đối phương. Levain là một sĩ quan đẹp trai, tác phong tỉ mỉ, bình tĩnh, chỉ xây dựng những dự đoán của mình trên những thông tin chắc chắn. Điều mà Levain thông báo có vẻ ở mức độ nghiêm trọng đặc biệt; cũng vì vậy anh ta tránh mọi bình luận: đêm qua, bộ phận thám không theo dõi mạng thông tin của Việt Minh đã bắt được mệnh lệnh di chuyển mà tướng Giáp điện cho sở chỉ huy của các sư đoàn 308, 312 và 351. Theo những dự đoán của Levain, sư đoàn 316, lúc này đã trên đường hành quân sẽ tới Điện Biên Phủ vào ngày 6 tháng mười hai, sư đoàn 308 ngày 24, sư đoàn nặng 351 ngày 26 và cuối cùng sư đoàn 312 vào ngày 28. Đối với Levain, điểm đến của các đơn vị lớn này mà người ta theo dõi ngày và đêm chưa phải là chắc chắn nhưng mà là một khả năng cực kỳ nghiêm trọng.

Cogny lập tức gửi cho Navarre một bức điện mà ở Sài Gòn người ta tiếp nhận trong trạng thái bi quan. Người ta trách cứ kíp của Cogny đã trưng ra một chủ nghĩa lạc quan giả tạo để phóng đại tầm quan trọng của xứ Bắc Kỳ và cảnh báo kíp của Navarre chớ có động đến, dù cho là chỉ tí chút, những đặc quyền mà kíp của Cogny đã giành được. Người ta chăm lo đến vấn đề thám không để thu lượm thông tin. Nhiều đài thám không đặt dưới sự chỉ huy của một sĩ quan trinh sát cao cấp thường xuyên dò bắt những mệnh lệnh của đội quân chiến đấu của Việt Minh và chuyển những tin tức đó về Sài Gòn và Hà Nội, ở đó người ta giải mã chúng. Ấy vậy mà, Việt Minh sử dụng một mật mã chính trị, một mật mã tác chiến (phòng Nhì và phòng Ba) và một mật mã cung cấp (phòng Một và phòng Bốn). Bộ chỉ huy Pháp nắm được mật mã cung cấp và như vậy có thể giải mã ngay lập tức những mệnh lệnh liên quan đến vấn đề quân số và phương tiện, vũ khí của đối phương. Nhưng mà, nếu như cơ quan tham mưu của Cogny chỉ giải mã riêng những gì mà các đài thám không của ông ta thu được, thì công việc của cơ quan tham mưu của Navarre phải mở rộng trên tất cả số đài thám không ở Đông Dương. Từ đó suy ra, Navarre thấy rằng dù cho có nắm được thông tin đến đâu, Cogny cũng có thể phạm phải một vài sai lầm trong việc phân tích và tổng hợp. Không bao giờ Navarre, ở con người này việc thu thập và khai thác các thông tin gần như đã trở thành một bản chất thứ hai, chịu chấp nhận một giá trị chắc chắn cho những chẩn đoán của người khác. Ngoại trừ những sự thật đã quá hiển nhiên, còn thì Navarre chỉ có tin tưởng vào những cơ quan của chính mình và nói cho cùng vào chính bản thân mình. Thậm chí ông không thèm hỏi viên trưởng phòng trinh sát của xứ Bắc Kỳ.

Một sĩ quan Việt Minh hồi chính thời gian rất lâu sau này, đã nói về phía họ như sau: “Trận nhảy dù đánh chiếm Điện Biên Phủ đối với bộ chỉ huy của chúng tôi là một bất ngờ may mắn. Cuộc chuyển quân đầu tiên của sư đoàn 316 có mục đích khiến cho bộ chỉ huy quân Pháp giảm nhẹ áp lực ở vùng đồng bằng và phân tán lực lượng của họ. Chính là cuộc hành binh ở Điện Biên Phủ đã dẫn tới quyết định chuyển lên hướng tây bắc những sư đoàn khác".

Trở về Paris, đô đốc Cabanier báo cáo nhiệm vụ của mình với tổng thống và chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Cái tên Điện Biên Phủ vẫn còn chưa mang ý nghĩa gì lớn dưới những lớp gỗ mạ vàng của điện Élysés và điện Matignon. Đô đốc chỉ có thể mô tả không khí lạc quan tràn ngập trong bộ chỉ huy cao cấp của đạo quân viễn chinh và rằng ngài Vincent Auriol, ngài Josep Laniel và tướng Ely ghi nhận với một vẻ hài lòng thận trọng. Trong chuyến đi, đô đốc không hề gặp ngài Jacquet và không một ai, kể cả tướng Navarre đã nói cho ngài Jacquet biết là đô đốc đã được Paris cử đi công vụ. Ngài Jacquet chỉ biết được chuyện này ba tuần lễ sau đó và là chính từ bản thân tôi mà mười năm về sau ông biết được hoặc giả bộ biết được, mục đích chuyến công vụ của đô đốc, mục đích đó, ngoại trừ tướng Ely còn thì các viên tham mưu trưởng cũng không bao giờ được thông báo.

Viên cố vấn kỹ thuật của ngài Jacquet đã bỏ quên chiếc cặp sách tay của bộ trưởng trên giá để đồ đạc trong khoang chiếc máy bay Constellation khi quá cảnh ở Karachi và tìm kiếm vô hiệu khi máy bay đã cất cánh - Chiếc cặp nhỏ đã biến mất. Đến Beyrouth, ngài Jacquet đã yêu cầu viên đại diện ở đó mở cuộc điều tra. Người ta chỉ tìm lại được chiếc cặp nhỏ ba tháng sau đó thông qua đại sứ quán Pháp ở Londres - Trống rỗng.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #26 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2008, 08:58:49 pm »


Ngày 28 tháng mười một 1953


Đột nhiên, Cogny tính toán đến mức độ rộng lớn của mối đe dọa đang hình thành. Từ pháo đài của mình ở vùng đồng bằng, ông có thể tung ra những đòn đánh, quấy rối hậu phương và các tuyến giao thông, bám đánh một bộ phận đội quân chiến đấu và có thể buộc họ phải quay lại. Từ những căn cứ nằm ở xung quanh Hà Nội hoặc Hải Phòng, không quân có thể ồ ạt vào trận. Các máy bay khu trục mỗi ngày có thể thực hiện hai hay ba cuộc oanh tạc bằng bom và đại liên vào các đội hình hành quân.

Navarre nghi ngờ những kết luận của Cogny vừa từ Điện Biên Phủ trở về, hai ngày trước đây. Cogny đánh giá và Berteil đồng ý với ông rằng đây không phải là các sư đoàn của đối phương đang kéo lên mà chỉ là các bộ phận của những sư đoàn đó, rằng có thể thậm chí đây là những mệnh lệnh điều động giả tạo và tạm thời lúc này không thể rút ra kết luận gì. Ông ta muốn giữ nguyên vẹn tiềm lực tấn công của mình để có thể sử dụng khi cần thiết. Các sĩ quan vây quanh ông thậm chí hết sức phấn khởi trước thực trạng. Họ cam đoan là máy bay sẽ nghiền nát các sư đoàn đang di chuyển và chặng đường hành quân của họ không ngừng bị cắt đứt, sẽ không thể nào vượt qua được.

Cuối cùng tướng Navarre tuyên bố rằng ông thấy những khả năng di chuyển và đứng chân của các sư đoàn Việt Minh, có vẻ đã được đánh giá quá cao. Tướng Giáp, ông đã có lời đảm bảo của tướng Salan về việc này, không có các phương tiện để nuôi sống bốn sư đoàn ở nơi cách xa đến như thế bên ngoài các căn cứ tự nhiên của họ trong thời gian dài đến như vậy Không một ai cãi lại ông: lời đánh giá này có sức mạnh của một giáo lí ở khắp mọi nơi.

Không một ai tin vào tính cơ động chiến lược và khả năng hậu cần của Việt Minh. Không một ai hoặc gần như vậy, trong quân đội Pháp lại quá giàu trí tưởng tượng để coi thường tinh thần và tài khôn khéo của đối phương. Salan, người vừa rời khỏi cương vị tổng chỉ huy đạo quân viễn chinh, vẫn còn coi tướng Giáp như một học sinh - sĩ quan đang tập sự điều khiển các trung đoàn và cho là ông ta đáng sợ vì những cái mà ông ta nắm trong tay hơn là hiệu quả mà ông ta có được từ những thứ đó. Navarre chưa nắm chắc được đối thủ và tìm cách khám phá chiến thuật và chiến lược của đối thủ, bằng cách nghiên cứu những báo cáo của phòng Nhì và nghe ngóng ý kiến của các viên chỉ huy trưởng khu vực. Mối lo ngại duy nhất của ông nằm trong vấn đề sự chi viện của Trung Quốc mà ông đã đánh giá quá cao, một cách sai lầm, những tác động chiến lược, hoàn toàn giống như ông đã lầm lẫn khi gán những thắng lợi nhỏ mới đây cho tài năng của bản thân ông.

Tuy nhiên, bốn tháng sau khi hiệp định đình chiến ở Triều Tiên được ký kết, để thực hiện tốt kế hoạch của mình, Navarre có mong muốn là sự chi viện của Trung Quốc không tăng lên. Và, quả thật, nếu như sự chi viện của Trung Quốc gây trở ngại cho các kế hoạch của bộ tổng chỉ huy của Pháp, lúc đó mọi ván bài kinh điển sẽ hỏng hết. Nếu như các máy bay và xe tăng Trung Quốc đứng lên đối chọi với các máy bay và xe tăng của Pháp thì bộ tổng chỉ huy có thể tuyên bố là mình thất bại. Nhưng mà, do vì Navarre không tin chắc vào thiện ý của đối phương, ông cam đoan, đúng là cái từ mà ông đã dùng, rằng sự chi viện của Trung Quốc sẽ y nguyên như hiện nay. Trong con người mọi viên tướng đều có một tay chơi bài poker: khoản đặt cược được trả bằng máu.

Tại sao Berteil vốn không phải là một người ngớ ngẩn, lại không nhắc nhở vị tổng chỉ huy chú ý đến đường cong tăng trưởng của sự chi viện của Trung Quốc đối với Việt Minh? Tại sao cái đường cong này lại đã đột ngột đi xuống trong lúc mọi điều kiện đều thúc đẩy nó phải đi lên? Bộ tổng chỉ huy quân Pháp cũng biết rằng chiến dịch của Việt Minh trong mùa thu 1952 đạt tới diện rộng một trăm kilômét kéo đài trong hai tháng và số người tham chiến là ba mươi nghìn người; chiến dịch mùa xuân 1953 mở rộng trên hai trăm kilômét, thời gian cũng kéo dài trong hai tháng và con số người tham chiến là bốn mươi nghìn người. Một viên hạ sĩ cũng có thể dự đoán là chiến dịch tiếp theo sẽ còn rộng hơn nữa và sử dụng những phương tiện cao cấp hơn.

Trong đại bộ phận các cơ quan tham mưu của đạo quân viễn chinh, người ta còn đánh giá kế hoạch tập trung bốn sư đoàn Việt Minh là chuyện không tưởng: để nuôi sống năm vạn chiến binh, năm vạn dân công sẽ phải liên tục vận chuyển gạo ăn. Việc tiếp tế phương tiện và vũ khí đạn dược bắt buộc phải sử dụng các tuyến giao thông mà máy bay sẽ chụp được và tiêu diệt các đoàn xe. Kể cả nếu như người ta giả định một nỗ lực như vậy là khả thi, thì do chính bởi khối lượng và quy mô vĩ đại của nó, nỗ lực đó cũng không thể vượt quá một thời gian khá là hạn chế. Người ta đặt căn cứ Điện Biên Phủ đứng trước nguy cơ một cuộc tấn công tổng lực nhưng cuộc tấn công đó không thể kéo dài hơn một tuần lễ, bởi lý do tổn thất mà nó gây ra và nhịp điệu tiếp tế sẽ tăng lên gấp bội trong những mức độ mà đoàn dân công không thể chịu đựng được. Còn về phần không quân, lực lượng này sẽ đảm nhiệm việc tiêu diệt các phương tiện hạng nặng vốn buộc phải lăn bánh lộ thiên.

Lập luận có vẻ như không có thiếu sót. Quả thật, cho đến lúc này đây chính là cách thức mà quân đội của Việt Minh vào trận. Đội quân đó hành quân bộ và nếu như giữa Hà Nội và Điện Biên Phủ theo đường chim bay là ba trăm kilômét, thì có tới năm trăm kilômét đường rừng núi dẫn tới Điện Biên Phủ và ít nhất sáu trăm kilômét từ các căn cứ của các sư đoàn tới Điện Biên Phủ. Thật biện chứng khi nghĩ rằng các đơn vị của đối phương sẽ không thể tới nơi trong trạng thái còn sung sức cho phép họ tham chiến.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #27 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2008, 09:01:44 pm »


Ngày 29 tháng mười một 1953


Đó là ngày chủ nhật đầu tiên của lễ Avent. Các cha tuyên úy của đạo quân viễn chinh sáng nay đã đọc những câu khai lễ nhà thờ: "Deus meus, in te confido, non erubescam neque irrideant me inimici mei. Thượng đế, con tin tưởng ở Người, cầu mong con không phải xấu hổ vì việc đó, và rằng những kẻ thù của con không chế nhạo con". Và những lời của thánh Paul nói với những người La Mã trong cuốn Êpitre: "Hora est jam nos de tommo surgere. Đã đến lúc chúng ta phải tỉnh giấc". Trong tòa Nhà thờ Lớn Hà Nội xây dựng theo kiểu kiến trúc cổ lỗ, dễ thương bởi gian chính điện được sơn màu đỏ chói và màu vàng và bởi mối bận tâm của nó để giống với một Nhà thờ Đức Bà ở Paris thu nhỏ, toàn bộ trát thạch cao, mặt trời chiếu thẳng vào các ô cửa kính và tiếng guốc gỗ của bầy trẻ con vang lên lóc cóc. Như thường lệ, các linh mục đọc Kinh thánh bằng tiếng Pháp và tiếng Việt.

Thời tiết tốt vẫn còn kéo dài. Ở Điện Biên Phủ cũng như ở Hà Nội, trời nóng. Lúc 13 giờ 45, một chiếc Dakota chỉ huy hạ cánh. Navarre cùng với Cogny bước ra. Cả hai gắn các huân chương chữ thập cho các binh sĩ, sĩ quan dù có thành tích nổi bật trong cuộc hành binh Castor. Một số người được truy tặng.

Ngồi trên máy bay Navarre nhắc Cogny cần tìm một người thay thế Gilles.

- Anh chọn ai làm ứng viên? - Ông hỏi Cogny như vậy.

- Tôi cũng đã dự kiến một người...

- Có thể là chúng ta nghĩ giống nhau - Navarre nói. - Thử xem nào.

-  Vanuxem không thật xuất sắc. Tôi nghĩ đến Castries. Một kỵ binh sẽ được đánh giá cao ở Điện Biên Phủ, tình thế ở đó rất biến động. Chúng ta cần có ở đó một con người năng động và đẩy lùi được quân Việt.

- Đó cũng là ứng viên của tôi. Navarre nói. Anh có thể chỉ định Castries lúc nào tùy ý.

- Thưa tướng quân, Cogny nói, tôi muốn là tự tướng quân thông báo cho ông ấy.

Trước việc bổ nhiệm này. Gilles tỏ vẻ hài lòng. Trước hết là ông được ra đi. Nói cho đúng, Gilles chưa hề nghĩ đến Castries, một kỵ binh, đối với tình hình như ở đây nhưng mà bởi lẽ Ducournau đi rồi, còn đại tá Vanuxem, một trong số tướng lĩnh của De Lattre, vốn đã nổi tiếng là một chỉ huy binh đoàn cơ động nhưng lại là người không thật biết tiết kiệm quân số. Castries, người vừa cùng với Vanuxem tốt nghiệp Học viện Quân sự cao cấp, đã biết sử dụng các đơn vị thiết giáp của mình ở vùng đồng bằng và nắm vững kiểu chiến tranh mà người ta tiến hành ở đó. "Một kỵ binh, Cogny vừa nói vừa đưa chiếc can chỉ vào địa giới rộng lớn của khu lòng chảo để tranh thủ một lời tán đồng, ông ta có thể phi nước đại ở trong khu đó". Gilles mỉm cười, tin là một câu nói hóm hỉnh. Phi nước đại ư? Bằng cái gì và bằng cách nào đây? Castries sẽ chỉ có những chiến binh hạng hai để luồn lách vào rừng rậm và các tiểu đoàn quân dù sắp cùng với Gilles trở về hậu cứ.

Cogny có một lí đo khác để phấn khởi nhìn thấy Castries bay lên hướng Điện Biên Phủ: Không thể nào hòa giải được với viên tướng vừa mới từ Amiens đến để nắm quyền chỉ huy khu vực phía nam vùng đồng bằng, người đã đòi hỏi việc chào đón mình phải có mười tiêu binh đi xe mô tô, tay đeo găng trắng và một buổi lễ long trọng. Castries vốn không bao giờ không tranh thủ cơ hội để tỏ ý với ông chủ mới của mình rằng ông ta là người thừa. Việc bổ nhiệm là chỉ huy trưởng Điện Biên Phủ sẽ dàn xếp mọi chuyện. Thực tế, chính Vanuxem sẽ là người kế nhiệm Castries và viên tướng tốt bụng sẽ không đứng vững được lâu trước một con mãnh thú.

Còn về phần Navarre, ông đã nghĩ tới Castries người mà ông biết rõ. Khi còn là trung úy, Castries đã từng ở dưới quyền của ông với cương vị quản trị trưởng đại đội, là thiếu úy khi anh ta là đại đội trưởng của đơn vị thiết giáp số 16 ở Saint Germain, và sau này là chỉ huy phân đội thiết giáp thuộc tập đoàn quân số 1, khi mà Navarre chỉ huy trung đoàn kỵ binh người Ma rốc số 3, trung đoàn mà tất cả sĩ quan và binh sĩ đều quấn chiếc khăn cổ màu đỏ ghê gớm, chiếc khăn đã khiến cho De Lattre buồn cười rũ rượi. Trong cái xứ sở vây quanh ông là những con người không đáng tin tưởng, Navarre bám lấy tất cả những ai mà ông tưởng có thể nhờ cậy được.

Theo Navarre,vốn biết rõ con người ấy, Castries là một sĩ quan nổi bật, bị chê trách nhưng có thể nói chuyện được, thường có thái độ khinh khỉnh nhưng mà là một kỵ binh đáng khen ngợi, có năng khiếu chiến trận. Dưới thời của Napoléon, Castries hẳn sẽ là Lassalle, viên tướng tiên phong ưu tú của Đạo quân Lớn. Và ở đây đúng là cần có một kỵ binh, lúc này Navarre không nghi ngờ gì nữa khi ông ngồi trên chiếc xe Jeep do Gilles lái chạy ngoằn ngoèo trên những nẻo đường đầy bụi trong giải thung lũng. Những khoảng đất rộng này, cần phải phi nước đại để phát quang, làm cho khu vực tiếp cận được quang đãng. Một thứ men say dần dà làm cho đầu óc ông chếnh choáng; ông hít thở làn gió ấm áp, ông hơi nheo mắt trước ánh nắng, trừ phi là những lúc ăn mặc dân sự, còn thì không bao giờ ông đeo kính dâm. Để nhảy chồm từ đầu này đến đầu kia khu lòng chảo và quét sạch các đỉnh núi, Castries vốn là người chỉ huy đi đầu của ông trong việc Karlsruhe(1) sẽ làm việc tuyệt vời với những chiếc xe thiết giáp mà người ta sẽ tháo rời từng bộ phận để chuyển tới đây. Những đỉnh núi cao chế ngự toàn bộ khu vực, trên mọi hướng, nằm ngoài tầm mắt thì sao đây? Navarre có không quân để giã gạo những điểm đó. Cái giải đất hành động này ở Điện Biên Phủ, Castries sẽ dùng hỏa lực của các khẩu đại bác và vũ khí tự động để quét sạch, nếu như Việt Minh mạo hiểm bước vào đó. Điều bất hạnh đối với xứ Đông Dương, có lẽ đó chính là việc các kỵ binh chưa bao giờ được bộc lộ hết tài năng của họ: giờ đây là Navarre và Castries, người do ông lựa chọn.

Làm thế nào mà Navarre lại không tin chắc rằng mình chiến thắng? Lúc 16 giờ 50, chiếc Dakota chở các viên tướng và đoàn tùy tùng cất cánh. Navarre chìm đắm trong một nỗi sung sướng im lặng. Những con quái vật của Điện Biên Phủ, cõng ông trên lưng, phi nước đại.
_____________________________________
1. Karlsruhe: Thành phố của nước Đức - Thủ đô của xứ Bade, nằm dưới chân khu rừng Đen. - N.D
« Sửa lần cuối: 06 Tháng Tư, 2008, 01:17:28 pm gửi bởi chuongxedap » Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #28 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2008, 01:18:36 pm »


Ngày 30 tháng mười một 1953


Ở Thái Bình, trên vùng cửa sông Hồng, nơi Navarre đã đi qua hai tháng trước đây, niềm vui được gặp lại Castries đã biến đổi Navarre. Dưới cánh chiếc máy bay Beaver, ở đó Castries giơ tay chào ông, khuôn mặt Navarre rạng rỡ vì được gặp lại một đồ đệ trung thành: tâm trạng ông ngời sáng niềm hạnh phúc, những ý tưởng gần như hài hước. Con người của Navarre có năng khiếu thổ lộ tâm trạng ấy một cách lịch thiệp trước đôi mắt sững sờ của Cogny; với Cogny, chiếc quần sóc đôi tất ngắn của lính dù và chiếc gậy lớn leo núi bỗng nhiên tạo ra một ngoại hình giả tạo. Lần này, đây là một sự bổ nhiệm quan trọng mà Navarre mang tới cho người cấp dưới cũ của ông: Chỉ huy trưởng tập đoàn cứ điểm Điện Biên phủ. Castries không biểu lộ một niềm vui quá trớn. Những ngôi sao cấp thiếu tướng, người ta đã hứa hẹn trao cho ông, cũng như cho Vanuxem, vào mùa xuân tới. Phải chăng ông sắp chui vào một câu chuyện rối rắm?

- Nếu như ngài có ý định xây dựng một trận địa phòng ngự, ông nói với Navarre như vậy, thì đó không phải là sở trường của tôi. Tôi đề nghị ngài chỉ định một người nào khác.

- Gilles muốn tái diễn lại Nà Sản, Navarre đáp lại. Tôi không nhất trí với cách ấy. Điện Biên Phủ phải trở thành một căn cứ tấn công. Chính vì vậy mà tôi đã chọn anh.

Để thuyết phục hoàn toàn Castries, Cogny nói thêm:

- Ở đó, cần có một ky binh vùng núi. Anh sẽ là người kỵ binh đó và anh xây dựng đài chiến thắng trong những không gian rộng lớn của vùng thượng du.

Đầu đội chiếc mũ ca lô đỏ, quấn khăn cổ chiếc khăn quàng của đội kỵ binh số 3, chiếc khăn gợi nhớ cho Navarre một thời kỳ may mắn, cầm trong tay chiếc gậy có nhiều đốt của trường đua ngựa, luôn luôn có anh cần vụ người Ma rốc theo sau, đại tá Christian Marie Ferdinand de la Croix De Castries, sĩ quan chỉ huy của đội lê dương danh dự, mười sáu lần được tuyên dương, đại diện cho lớp sĩ quan quý tộc mà tính chất, tên gọi, quá khứ tham chiến và truyền thuyết có thể dắt dẫn, bất chấp mọi chông gai, tới những cương vị cao nhất trong quân đội. CON NGƯỜI mang thanh gươm phải là con người vĩ đại của Tây Ban Nha và là kỵ binh. Castries có cụ ông là thống chế của nước Pháp và bộ trưởng hải quân dưới thời vua Louis XV, một cụ ông khác là đồng sự của La Fayette(1), trung tướng và công khanh của nước Pháp. Toàn bộ tổ tiên ư? Một thống chế, một đô đốc, bốn vị phó toàn quyền, năm hiệp sĩ của thánh Esprit, tám trung tướng, những bức chân dung của các vị này hẳn là có mặt trong khu thái ấp nam tước được tậu vào năm 1495 trong vùng lân cận Montpellier(2). Dáng vẻ sắc sảo với một chiếc mũi diều hâu, đôi mi mắt nặng nề dưới hàng lông mày đen và rậm, khuôn mặt tư lự, thoáng nét buồn bã của nhân vật của Greco(3), kết thúc với chiếc cằm nhỏ và một cái miệng của người tiếp tân quyến rũ của những bữa tiệc ngoài trời. Thân hình gầy gò, mềm mại, căng thẳng; giọng nói có phần lúng búng, gay gắt một cách kỳ lạ trước máy điện thoại. Là trung úy trong đơn vị thiết giáp số 11, trong cuộc đua ngựa của Lâu đài Lớn, ông đã vô địch thế giới về nhảy cao trong năm 1933 với con ngựa "Bay trước gió" và về nhảy xa hai năm sau đó với con “Bền bỉ". Người ta đi xem ông tập luyện ở khu phố Dupleix để khâm phục ông. Hồ sơ lý lịch của ông đầy những tật xấu của tuổi trẻ và những khoản nợ nần bài bạc. Một con ngựa để cưỡi, một địch thủ để vung kiếm, một cô gái trong giường ngủ, đó có thể là lẽ sống của ông. Nếu không quá xét nét những chuyện kia thì mục đích ấy nhanh chóng chiếm được cảm tình của mọi người. Đó là một con người của thế kỷ khác mà chiến tranh, đàn bà và bầy ngựa đã gắn kết vào thế kỷ của chúng ta. De Lattre đã thích ông bởi vì ông liều lĩnh, có tên tuổi, hay tranh cãi và đã mang ông đi theo sang Đông Dương cùng với kíp của mình. Dưới chiếc mũ ca lô đỏ với năm vạch lon vàng, người ta không thể tin là ông bất tài. Đó là một anh hùng và một thủ lĩnh. Huyền thoại của ông đã được tạo dựng. Ông uống rượu thành thần và những người Mỹ bị kích động đã hôn lên môi ông trong các quán rượu. Người ta nhận thấy ở ông tính giản dị của một nhà quý tộc lớn. Để xử lý những vấn đề nghiêm trọng, ông tự nguyện tỏ vẻ coi thường, ngược lại xem xét cẩn thận khi gặp những vấn đề ít quan trọng hơn. Cái kiểu diễu cợt ấy, có nghĩa là đùa rỡn, mà ông áp dụng nhiều khi khiến cho những ai không hiểu thấy phân vân. Sự thật, ông là con người như thế nào đây? Những tấm gia huy mầu xanh da trời với chiếc thập tự mạ vàng của ông, nhà thờ ở Albi đã cho gắn lên những chiếc đàn ống đồ sộ do dòng họ Castries cung tiến.

Việc mình được bổ nhiệm làm chỉ huy trưởng căn cứ Điện Biên Phủ chỉ làm cho Castries ngạc nhiên một phần. Chính Navarre là người đã đề nghị ông quay trở sang Đông Dương giữa lúc ông đoạt được một chiếc cúp mới trong cuộc đua ngựa ở Saumur(4). Ông không phản đối nữa, bởi lẽ ý định của Cogny là tiến hành một trận đánh phòng ngự -tấn công sẽ diễn ra trên khu tam giác Điện Biên Phủ - Lai Châu - Tuần Giáo, dựa vào Điện Biên Phủ, căn cứ để phòng ngự. Phần còn lại của bản chỉ lệnh, người ta đưa cho ông một bản sao, thử hỏi Castries có thể có suy nghĩ gì khi chưa được tận mắt quan sát thực địa? Ông sẽ nghiên cứu vấn đề này ngay sau khi nắm quyền chỉ huy. Nhưng mà chưa nắm chắc được địa hình khu vực giống như ông đã nắm tình hình vùng đồng bằng, ông tự cảm thấy mơ mộng khi nghĩ tới một trận vận động chiến trên khu tam giác rừng núi mà Cogny nhắc tới, đường huyền của khu tam giác là tám mươi kilômét và chiều cao là bốn mươi. Trên khu vực này chỉ có những đoạn đường mòn xấu và hiếm hoi, một vài con đường dành cho những người chăn lừa và một con đường tỉnh lộ số 41(5) mà người ta biết là bốn bề bị đối phương chiếm giữ. Đã thấy hình như những khả năng hoạt động thực sự chỉ dành cho những đơn vị trang bị rất gọn nhẹ.

Ở Nà Sản, nơi mà địa hình không khá hơn, người ta đã hành động. Gilles đã cố gắng nhúc nhích. Hai lần, một binh đoàn bao gồm hai tiểu đoàn quân dù đã tiến ra hướng đông nam, gần Mộc Châu và về hướng tây đến tận Tạ Khoa. Một lần khác, một tiểu đoàn đi về Sơn La và tiến đến ngoại vi của Tạ Bú. Người ta quên mất rằng đạo quân viễn chinh còn lâu mới chỉ bao gồm toàn những nhà vô địch.
____________________________________
1. La Fayette: Là tướng và chính khách của Pháp (1757 - 1834) tham gia tích cực vào cuộc chiến tranh Độc lập ở Mỹ. Thuộc phái bảo hoàng tự do ở Pháp trong Cách mạng 1789 -1830.

2. Montpellier: thủ phủ quận Hérault tây nam Paris 746km. vùng công nông nghiệp giàu có.

3. Greco: Họa sĩ gốc Hi Lạp (1541 - 1614) - sống ở Ý sau đó sang ở hẳn Tây Ban Nha. Tác phẩm tranh hiện thực huyền bí, độc đáo, táo bạo. - N.D

4. Saumur: Thủ phủ quận Maine ét Loire bên bờ sông Loire. Có trường huấn luyện kỵ binh và xe thiết giáp, thành lập 1825. - N.D

5. Là đường số 6 theo cách gọi của phía Việt Nam
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #29 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2008, 01:27:24 pm »


Ngày 3 tháng mười hai 1953


Navarre ban bố bản chỉ lệnh riêng và bí mật về phương hướng tác chiến mang số 949 mà ông đã soạn thảo kể từ khi quay về Sài Gòn; bản chỉ lệnh này đã bị sở chỉ huy không quân tìm mọi cách để huỷ bỏ mà không có kết quả. Bản chỉ lệnh sắp đè nặng lên số phận của Đông Dương và của đạo quân viễn chinh. Ngay từ đoạn thứ nhất, sau những thủ tục buồn tẻ và việc giới thiệu tình hình, ông đột ngột thể hiện ở đó ý định của mình là chấp nhận trận đánh trên hướng tây bắc bằng cách tập trung phòng ngự tại căn cứ Điện Biên Phủ, căn cứ này phải được bảo vệ bằng mọi giá. Chấp nhận trận đánh giữa lúc một trong những căn cứ chủ yếu ủng hộ kế hoạch Navarre dựa trên mối quan tâm muốn tránh né trận đánh ấy, cho đến khi nào đạo quân viễn chinh tìm lại được sức mạnh và bộ não của nó, có nghĩa là phải một năm sau ư? Chắc chắn, phải chăng tháng bảy vừa rồi, ông đã viết đúng là ông chỉ muốn tránh né trận đánh tổng lực và lần này phải chăng ông chỉ nói trận đánh trên hướng tây bắc. Mà nếu như ai đó có thể nhầm lẫn khi đọc bản chỉ lệnh này thì chắc chắn đó không phải là bản thân Navarre, người đang dự định mở một cuộc tấn công ở phía nam, chiến dịch Atlante và quyết định đương đầu với tướng Giáp ở Điện Biên Phủ, trong lúc không có chuyện gì bắt buộc ông phải làm việc đó và rằng ông biết rõ, ngay từ ngày 20 tháng mười một, rằng ông sẽ không nhận được những tăng viện mà ông yêu cầu. Liệu có một giây nào đó ông đã nghĩ là một nguy cơ như vậy không nên đánh giá quá lớn chăng? Để cho một con người thận trọng và bình tĩnh như ông, bị lôi cuốn vào một chuyện may rủi lớn đến như vậy thì đúng là cái cảm hứng muốn mở trận đánh trong khu lòng chảo đó đã nảy sinh trong tâm trí ông vào cái ngày ông đi thăm Điện Biên Phủ. Và rằng không một ai trong văn phòng của ông đã cảnh báo ông về một quyết định như thế, thậm chí không hề gợi ý cho ông về những hậu quả của quyết định ấy. Dù cho có chiều theo những hoạt động của trí tưởng tượng và của con tim đến đâu, ông vẫn đối mặt với niềm tin chắc chắn, được chia sẻ nếu không phải được gợi ý bởi những người xung quanh, rằng các sư đoàn Việt Minh không thể nào tự do hành động trên vùng rừng núi ấy và sẽ không bao giờ có chuyện tranh giành với ông để chiếm lấy căn cứ đó. Điện Biên Phủ đối với ông là một tia sáng đột ngột, chói loà, quét sạch mọi ý kiến phản bác. Ông biết đâu là sự thật.

Sẽ là ngây thơ khi mà trong giây lát nghĩ rằng Cogny có vai trò nào đó trong quyết tâm của Navarre. Mối ác cảm sâu sắc giữa hai con người đã bộc phát theo bản năng, riêng bản thân nó cũng đã gạt bỏ mọi sự can thiệp của Cogny. Nếu như, tình cờ, Cogny có đòi hỏi quyền tác giả của kế hoạch Điện Biên Phủ thì Navarre sẽ vội vã kéo ông ta ra một cách có lý: thắng lợi thì chia đôi, nhưng không một ai lại đi đòi hỏi cái phần thất bại của mình và Navarre biết rằng trong trường hợp này, mình là người duy nhất bị buộc tội. Ấy vậy mà, ông thích gánh lấy trách nhiệm để có thể áp đặt ý muốn của mình mạnh mẽ hơn. Sự thực, Navarre bị hấp dẫn bởi kích thước của cái thung lũng ở đó các xe thiết giáp có thể nghiền nát mọi kẻ dám mạo hiểm tới đó cũng như ở khoảng cách xa với những ngọn núi lớn, sẽ bắt buộc một "lực lượng pháo binh bất ngờ" của đối phương phải đứng chân trên những sườn núi dốc đứng. Tình trạng đó cũng sẽ đặt ra đối với một lực lượng phòng không muốn vây hãm khoảng không trung phía bên trên sân bay. Theo ý kiến của mọi pháo thủ, các khẩu đội pháo binh đối phương sẽ phơi mình ra trước ống kính của các đài quan sát bố trí dưới lòng chảo trong lúc họ đưa pháo vào chiếm lĩnh vị trí hoặc lúc họ nổ súng. Họ sẽ bị bịt miệng ngay lập tức bởi những đòn phản pháo hoặc bởi máy bay ném bom.

Điều mà các pháo thủ khẳng định với Navarre, hiển nhiên là tất cả đều tin chắc như vậy. Bản thân Cogny cũng là pháo thủ. Nếu như ông có nêu ra ý kiến nhỏ nhặt nào đó để phản bác cứ điểm phòng ngự ở Điện Biên Phủ thì ý kiến đó không thể dựa vào mối đe dọa đến từ pháo binh của dối phương. Cùng với nỗi bất lực của Việt Minh trong việc nuôi dưỡng lâu dài các sư đoàn của họ ở xa khu căn cứ, ở điểm đó người ta đã động chạm đến chính học thuyết quân sự của đạo quân viễn chinh. Đó chính là lý do vì sao Navarre tham chiến. Đó chính là làm thế nào mà ông chỉ vạch kế hoạch các trận đánh dựa trên những giả thiết mà từ đó ông rút ra được những kết luận mang sức mạnh của những giáo lý: sân bay sẽ luôn sử dụng được và nếu như trận tấn công vào Điện Biên Phủ diễn ra thì nó chỉ kéo dài trong thời hạn đủ để cho đối phương phải rút lui tiếp sau một thất bại. Tuy nhiên, từ ba ngày nay, thung lũng Điện Biên Phủ chìm trong màn sương mù, chỉ tan hết vào cuối buổi sáng và người ta chưa tìm được phương sách để thả trang thiết bị xuống, dù là mò mẫm. Còn về chuyện máy bay hạ cánh, thì không thể được vì không có phương tiện dẫn đường tại chỗ. Ấy vậy mà đó lại là một thắng lợi vang dội mà Navarre đang chuẩn bị. Chưa bao giờ người ta lại thấy một vị tướng khi lựa chọn một địa hình để mở trận đánh lại không tin rằng, dù chỉ trong giây lát, mình sẽ hạ gục đối phương tại đó. Cogny dự đoán đến cuối tháng sẽ có hai sư đoàn đối phương ở Điện Biên Phủ, nhưng Navarre ngờ là ông ta bôi đen sự thật và Navarre không chịu chui vào bẫy - bởi ông cho đó là một cái bẫy. Về phần mình ông cho là ông chỉ phải đối phó với một sư đoàn, được tăng cường tương đối mạnh, điều đó thì ông thừa nhận: có nghĩa là khoảng hơn một chục tiểu đoàn cộng thêm một số vũ khí hạng nặng. Không có gì phải khiếp sợ. Ở thời điểm nắm quyền chỉ huy, Navarre đã tuyên bố như thế này: "Chiến thắng là một người đàn bà chỉ dâng hiến cho những ai biết cách giành lấy". Ngày hôm đó, vấn đề bảo vệ nước Lào lùi xuống hàng thứ yếu và được sử dụng để che giấu cái lí do thật sự của trận Điện Biên Phủ: cũng như tất cả các cơ quan tham mưu của đạo quân viễn chinh, Navarre tin là đã tìm thấy cơ hội bất ngờ để đánh bại quân Việt một cách ngon lành.

Về phía họ, các sĩ quan trong bộ tham mưu của tướng Giáp cũng đi đến kết luận như của Navarre: cần phải tham chiến ở Điện Biên Phủ. Nhưng mà đối phương quyết định như thế nào đây? Tất cả bọn họ đều nắm vững tình hình khu vực, chính bản thân họ cũng đã quá vất vả trước những trở ngại là rừng núi và sự thiếu vắng những con đường giao thông thuận tiện, cho nên họ cũng chẳng nghĩ là đạo quân viễn chinh có thể là người duy nhất thấy thoải mái ở đó. Trong trường hợp này, kinh nghiệm của Nà Sản sẽ có ích: chỉ cần đưa đội quân chiến đấu đến, sẵn sàng hoạt động và tồn tại. Trước câu hỏi đạt ra cho ông ta, vị chủ tịch hội đồng cung cấp(1) không chút do dự trả lời: sẽ gay go nhưng nhiệm vụ không vượt quá những khả năng có thể. Cần phải động viên toàn dân và kêu gọi mọi ý chí của các cá nhân: ba mươi, bốn mươi và nếu cần, năm mươi nghìn dân công, nam và nữ, nhiều ngàn con ngựa, mỗi con tương đương sức tải của bốn dân công, hàng trăm con thuyền xuôi ngược trên các dòng sông lớn nhỏ trở theo nhiều tấn gạo và đạn dược, những chiếc ôtô tải kéo pháo, một số lượng to lớn những chiếc xe đạp Peugeot, mua được từ nhiều năm trước trong các cửa hiệu ở Hà Nội, chỉ cần sửa sang cho thích hợp là đủ để cho mỗi chiếc thồ được ba trăm ki lô, vận chuyển nhiều tấn gạo và đạn dược ở những đoạn đường được phân công trước.

Đối với một quyết định quan trọng đến như vậy, cuộc họp của Ban chấp hành Trung ương Đảng lao động Việt Nam sẽ xác định phương châm tác chiến, trong vài dòng đơn giản, phương châm này sẽ quyết định đường lối chính sách của đất nước và cuộc cách mạng. Tướng Giáp và các cấp phó của ông tìm đến khu làm việc của chính phủ. Tiếp đón họ ở đó có đồng chí Chủ tịch Hồ Chí Minh, đôi mắt lanh lợi, thân hình mảnh khảnh trong bộ quần áo bà ba bằng vải bông màu đen, chòm râu thật ấn tượng và quyết đoán; đồng chí phó thủ tướng Phạm Văn Đồng, gầy gò và lịch lãm, với giọng nói âm vang như tiếng đàn viôlông xen và đôi mắt sâu thẳm, tràn đầy niềm tin thắng lợi; đồng chí Tổng bí thư Trường Chinh, trong bộ quần áo nghiêm chỉnh mầu xanh lá cây. Đồng chí Giáp trình bày tình hình và những khả năng có thể xảy ra: việc cơ động của sư đoàn 316 đã làm phân tán các đơn vị của đạo quân viễn chinh; vấn đề là quyết định những trận đánh sắp tới. Một mối đe dọa đối với Điện Biên Phủ sẽ bắt buộc Navarre phải tăng viện cho đội quân đồn trú ở đó mà người ta có thể tiêu diệt. Sau một cuộc nghiên cứu tỉ mỉ mọi chi tiết, đồng chí tổng tư lệnh được giao nhiệm vụ tập hợp các phương tiện cho hành động.
_____________________________________
1. Lúc đó bên ta có thành lập Hội đồng cung cấp Mặt trận với nhiệm vụ đảm bảo mọi yêu cầu tiếp tế cho mặt trận do đồng chí Phạm Văn Đồng là chủ tịch, và nhiều uỷ viên thuộc quân đội, cơ quan chính phủ, chính quyền địa phương v.v...- N.D.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM