Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:53:28 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trận chiến Điện Biên Phủ  (Đọc 69795 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #30 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2008, 01:44:09 pm »


Ngày 4 tháng mười hai 1953


Nhà văn nào, trong bốn mươi năm đã được tiếp xúc với kho tư liệu bí mật của quốc gia để viết cuốn lịch sử của trận chiến Điện Biên Phủ sẽ buộc phải dừng lại ở cái ngày mà Navarre giả bộ tiếp nhận được lời cảnh báo do chính phủ gửi cho ông ta.

Tuy nhiên, lá thư do viên tổng thư ký thường trực của hội đồng quốc phòng gửi cho ngài Marc Jacquet, người chịu trách nhiệm trực tiếp truyền đạt cho Sài Gòn những quyết định của uỷ ban ngày 13 tháng mười một, hai tuần lễ nay đã nằm im trong két sắt của vị tổng chỉ huy. Thế thì người ta tự hỏi vì sao Navarre lại muốn tỏ ra bị bất ngờ khi đọc được một văn bản mà đô đốc Cabanier mang tới cho ông và lại chỉ đến tay ông theo con đường công văn thứ bậc trên dưới.

Phải chăng ông không tin là đô đốc Cabanier đã chuẩn bị cho ông cú sốc ấy vào ngày 20 tháng mười một? Thậm chí ông không ngờ vực xem liệu đô đốc có thể sẽ nói gì với ông khi mà ông tỏ ý muốn tránh cho đô đốc, khỏi phải vất vả để ra Hà Nội? Như vậy phải chăng ông không thích được chủ động để mở màn trận đánh mà mình đã quyết định và gạt bỏ mọi áp lực hay sao? Duy có điều, lúc đó liệu ông có tính toán đến sự khiển trách nặng hay nhẹ sẽ rơi xuống đầu ông, tính đến sự suy đoán đi trước việc đó? Dù cho luôn luôn tỏ ra là con người tự chủ cao độ, sự kinh hoàng mà ông thoáng cảm thấy, vào cái ngày 4 tháng mười hai ấy, trong các hồi ức của ông có vẻ phù hợp với lịch sử chứ không phải với sự thật: ông không thể bị bất ngờ bởi lẽ ông đã biết. Nhưng ông là người duy nhất biết được. Là con người kín đáo, ông vẫn luôn luôn dấu kín đối với mọi người xung quanh cái lý do đích thực của chuyến đi của đô đốc Cabanier. Những phản ứng của ông, như vậy phải được coi như những phản ứng bề ngoài. Vả lại, không một nhà sử học nào lại có thể tin rằng một quyết định quan trọng đến như vậy, được Navarre chờ đợi từ nhiều tháng nay lại được đi bằng một con đường bình thường. Giá tiền một tấm vé khứ hồi hạng nhất dành cho một sứ giả theo đúng lôgíc phải tiết kiệm một khoản đáng kể nhiều tỷ đồng, nhiều máu và nước mắt. Dù cho ngài Jacquet không biết một tí gì, chuyện đó cũng không thay đổi được gì, với giả định chuyện đó là có thực. Ngài Jacquet chịu trách nhiệm về phương châm của cuộc chiến tranh một cách dập khuôn. Ông ta chẳng hiểu tí gì và chẳng làm điều gì. Nhưng người ta phải tôn trọng sự thật để nói rằng một số nhân vật của nền Đệ tứ cộng hoà đã hiểu rằng cần phải thông báo với Navarre càng sớm càng hay về một quyết định lẽ ra đã tránh được cuộc phiêu lưu ở Điện Biên Phủ.

Phản ứng đầu tiên của Navarre có vẻ là trong sáng: ông có ý định từ chức. Người ta tự hỏi vì sao ông không có ý định ấy vào ngày 20 tháng mười một. Có lẽ ông đã soạn thảo nội dung bức điện mà ông sắp gửi cho chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, rồi gạch xoá và xé đi. Liệu ông có thổ lộ nỗi lòng với tham mưu trưởng của mình, tướng Gambiez nhỏ nhắn, tròn chĩnh và dễ mến chăng? Liệu ông có nghe được từ cửa miệng của Gambiez rằng lúc đó ông sẽ được thay thế bởi ai đó mềm mỏng hơn và rằng bài toán không vì thế mà không được giải đáp? Cái cảm giác rằng ông vừa mới giành được thắng lợi sau lưng người khác và sẽ vứt miếng mồi ngon ấy lên mặt bàn của uỷ ban tối cao bị kinh ngạc liệu có giúp cho ông chiến thắng được cái cử chỉ đầu tiên của ông chăng?

Tại sao, lúc đó, đứng trước một tình thế như vậy ông lại không xin từ chức ngay từ ngày 20 tháng mười một, khi đô đốc Cabanier truyền đạt cho ông lời phủ nhận của chính phủ? Đó là câu hỏi mà Navarre tự đặt ra cho mình trong cuốn sách của ông nhưng mà là vào ngày 4 tháng mười hai. Ông trả lời câu hỏi ấy bằng những câu chung chung. Cái điều rõ ràng, đó là những con người có cá tính như Lyautey(1) hoặc De Lattre sẽ không quá bối rối với những điều đắn đo trung thực nhiều như vậy và sẽ biết cách nói "Không" ngay lập tức, trong khi đó Navarre thì chỉ bằng lòng phân vân suy nghĩ. Là tham mưu trưởng xuất sắc, ông thường nhường bước trước những ai mà hoàn cảnh đặt vào các cương vị cao hơn ông: đó là phẩm chất tuyệt vời đối với con người phục vụ một ông chủ, nhưng là dấu hiệu mềm yếu đối với bản thân người thủ trưởng vốn không được phép khuất phục và lại càng không được nuôi dưỡng cho mình những hy vọng và ảo tưởng của một ván bài chính trị.

Ngoài ra Navarre đã chịu đi tới một lời thú nhận mà ông không nắm được tầm quan trọng và vốn đè nặng trong tâm trí ông: "Chắc chắn tôi sẽ làm việc đó (việc xin từ chức) tuy nhiên, nếu như tình hình thực tế được cung cấp cho tôi đầy đủ rõ ràng trước khi trận đánh quyết định được mở màn". Điều đó chứng tỏ, vào thời kỳ đó, ông không hề có một ý nghĩ nào về những mối nguy hiểm mà ông đặt đạo quân viễn chinh vào thế phải đối mặt. Kể cả trong trường hợp này, đáng lo ngại là việc tướng Navarre tìm ra được một lý do khác để tự bào chữa trước LỊCH SỬ về việc đã chấp nhận quyền tổng chỉ huy và một lần nữa nhớ lại câu nói của thống chế Juin: "Cần phải có ai đó hi sinh thân mình". Những câu nói kiểu ấy đưa ta đi xa. Ngoài ra Navarre còn nói rằng ông không đụng đầu vào một bức tường mà là một "tấm chăn lông vịt". Tấm chăn lông vịt ấy, nếu như không phải ông mà là những người khác thì họ đã chém đứt bằng một nhát gươm và rũ hết đám lông vịt của nó.

Dù sao, Navarre vẫn còn có thể điện cho Paris nói rằng ông huỷ bỏ bản chỉ lệnh của mình, mới chỉ đề ngày hôm trước, cốt để đặt chính phủ trước những trách nhiệm của bản thân chính phủ. Ông chỉ đành lòng đánh điện tựa như đô đốc Cabanier chưa bao giờ tới chỗ ông: "Tôi sẽ ghi nhận lời từ chối này trên bảng thống kê đã dài về những giải pháp tạm bợ đã được áp đặt cho tôi, những giải pháp đã làm suy yếu tiềm lực tác chiến của tôi". Trong cuốn sách của mình, ông nói thêm rằng giọng điệu của câu nói đó đã làm cho ông hết sức hối hận và kết luận những suy nghĩ đã tỉnh ngộ của mình bằng câu sau đây: “Công văn này không mang lại kết quả gì cụ thể''. Phải, thử hỏi một vị tổng chỉ huy đang phải có những quyết định quan trọng và khẩn cấp, có thể chờ đợi gì ở một bản công văn đây? Phải chăng ông ta không hiểu rằng thủ tục lịch sự, lễ phép và vô bổ của những câu văn chính thức giờ đây không còn cần thiết, rằng ông không thể nào còn là một cấp dưới ngoan ngoãn nữa mà là một con người trên hai vai đang đè nặng trách nhiệm đối với máu và danh dự của cả một đạo quân và rằng, nếu ông đúng, thì ông phải nhảy lên máy bay để đi Paris, xuất hiện trong những phòng khách mạ vàng của điện Élysée và điện Matignon và đòi hỏi những mệnh lệnh rõ ràng! Sự thực ông đã quá tin chắc vào thắng lợi.
_____________________________________
1. Lyautey: Thống chế Pháp (1854- 1934). Từng tham chiến ở Đông Dương, Madagascar, Marốc - Bộ trưởng Chiến tranh 1916 - 1917. - N.D
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #31 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2008, 01:49:49 pm »

Ngày 5 tháng mười hai 1953


Trong ban ngày, theo từng chặng ba mươi kilômét và ban đêm, từng chặng năm mươi kilômét, các sư đoàn Việt Minh tiến về Điện Biên Phủ, bước chân khẩn trương, bám theo hai bên vệ đường. Không có gì phân biệt giữa các sĩ quan và các chiến sĩ bình thường. Vả lại, ở đây không có các sĩ quan mà chỉ có những con người được giao các chức vụ: trung đoàn trưởng, tiểu đoàn trưởng, đại đội trưởng hoặc cụm trưởng pháo binh, trung đội trưởng, tiểu đội trưởng hoặc khẩu đội trưởng. Nếu như họ không làm tròn nhiệm vụ, họ sẽ nhận được kỷ luật cảnh cáo. Không có lời cảnh cáo thứ hai. Không có một ai, giống như ở trong quân đội Pháp, có được cấp hàm bởi lẽ chưa có hệ thống cấp bậc. Trong trường hợp tái phạm, trung đoàn trưởng sẽ được biết là anh ta bị cách chức, trung đội trưởng thì biết rằng mình trở thành anh lính trơn. Thôngthường, việc tự phê bình đủ để phát hiện các khuyết điểm và sai lầm. Trong quân đội nhân dân, người ta thừa nhận sai lầm ngay cả khi chúng chưa có biểu hiện công khai.

Mỗi một chiến sĩ mang theo vũ khí cá nhân, đôi khi là một khẩu pháo không giật hay một bàn đế súng cối, một túi dết, một bao gạo mười lăm ki lô khoác qua vai, đồ dùng cá nhân, một bi đông nước và một ít muối đựng trong một ống tre. Người ta hành quân từ bình minh cho tới hoàng hôn hay ngược lại, mỗi giờ nghỉ chân mười phút. Ban đêm, những chặng hành quân thật nhọc nhằn. Tới nơi, người ta đào các hầm hào để ẩn nấp và nằm ngủ tại chỗ, sau khi ngâm chân trong một chậu nước nóng có pha muối. Các chiến sĩ không phải ai cũng đi giầy; rất nhiều người giống như các dân công, chỉ có những đôi dép với những sợi quai được cắt bằng săm lốp cũ đôi khi làm cho họ bị sứt sát cả bàn chân. Để xua đuổi cơn buồn ngủ và nỗi mệt nhọc, người ta ca hát những bài hát cổ, trong đó không bao giờ có những câu hát phóng túng. Nếu trời mưa, lẽ tự nhiên là bài hát về cơn mưa với đoạn điệp khúc:

Trời mưa, ướt áo ướt quần
Nhưng không ướt được tinh thần chúng ta.

Đi cắt ngang hoặc vượt lên trước một đoàn dân công là tất cả tràn ngập một không khí vui vẻ cao độ. Lúc đó, người ta gọi nhau, người ta sáng tác ứng khẩu những câu thơ, người ta pha trò. Các cô thiếu nữ hỏi to: "Chồng em có ở đây không?" và giơ tay chỉ trỏ vào các chiến sĩ, vui mừng kêu lên: "Anh ấy kia kìa?...". Rồi làm ra vẻ bực bội, buồn bã bước đi trong những tiếng cười ròn rã. Khi những chặng đường giao nhau, một không khí ngây thơ lúng túng làm náo nhiệt các bãi tắm bên sông, các khu trú quân, những cuộc gặp gỡ trong đêm tối. Người ta tưởng đâu là một cuộc dạo chơi của đám học sinh chủng viện gặp gỡ các nữ tu sĩ nhỏ tuổi. Tòa chủng viện của họ đó là một sức hi sinh cả thể xác và tinh thần cho tổ quốc, mục đích duy nhất của những cuộc gắn bó. Ngôn ngữ của người lính, về bản chất là giản dị, ít có khuynh hướng thanh cao hoá lý tưởng chiến đấu, ở trong quân đội nhân dân giống như ngôn ngữ của đám trẻ con chơi trò đánh nhau; những tình cảm duy nhất thể hiện trong đó là một ý thức kỷ luật tuyệt đối và một nhiệt tình mang hình ảnh của Épinal.(1) Nếu như mỗi một nhóm dân công mong muốn được ghi tên trên bảng danh dự thì mỗi một nhóm chiến binh có tham vọng được hi sinh. Qua thời gian dài chế diễu chuyện đó, cuối cùng người ta đến phải ngạc nhiên vì kết quả của kiểu thuyết giáo này.

Theo từng tổ ba người ở trong mỗi đơn vị, mọi người được gắn kết thành những tế bào không thể chia cắt. Thử hỏi, những tư tưởng nào còn có thể che giấu được đây? Làm thế nào những tâm tư thầm kín nhất có thể kháng cự lại cái sự thúc ép chúng bộc lộ diễn ra từng giây từng phút? Các mệnh lệnh không phải là chỉ được thực hiện: mỗi người tuyên thệ luôn luôn sẵn sàng để hoàn thành vượt mức yêu cầu.

Cái cỗ máy mà Navarre sắp đụng đầu vào thật là ghê gớm, ông ta không biết điều đó. Những cổ vật gây ấn tượng nhất trong nhà bảo tàng Điện Biên Phủ không phải là các loại vũ khí, cũng chẳng phải là những chiến lợi phẩm thu được từ những kẻ chiến bại, trước những cổ vật ấy, những giọt nước mắt đã chảy vì đau khổ hay vì nhục nhã. Thử hỏi bây giờ liệu người ta có còn khóc nữa ở Waterloo(2) hay không? Tình bạn đã gắn kết những con người lại với nhau, cuối cùng một ngày nào đó nó sẽ bao trùm lên trái đất, bất chấp họ thuộc về chính phủ nào. Ở Điện Biên Phủ, cần phải tìm kiếm ý tưởng của những người khởi xướng là ở đó trong các tủ kính mọi vật không hề gây sự chú ý, và đều quan trọng như nhau. Tuy nhiên tôi nghĩ rằng hai hiện vật chủ yếu đó là một đôi dép đã mòn vẹt đế và đồ dùng trong gian lán gồm chiếc chân bàn đẽo gọt thô kệch từ cành cây và đôi niễng kê chiếc giát giường tre, nơi ông Võ Nguyên Giáp đã làm việc và nằm ngủ ở cách đại tá De Castries chỉ có vài kilômét. Về sau này, khi một nhà bảo tàng có tầm cỡ nhân loại, sẽ trưng bày những dấu vết của mọi sự hiểu lầm đã chia rẽ các dân tộc, cần phải bổ sung công khai chiếc máy điều hoà không khí trong văn phòng của tướng Navarre và chiếc ghế bành trên chiếc máy bay của ông, để chứng minh rằng có những sức mạnh đã nâng bổng các tâm hồn và đột nhiên tạo ra cái điều kỳ diệu vĩ đại nhất trong mọi điều kỳ diệu: lúc đó, trong số tất cả những sinh thể, những con người nhút nhát nhất do vì họ là những người thông minh nhất, sẽ tiến tới chỗ coi thường hai kẻ thù ghê gớm nhất của họ, đó là nỗi đau khổ và cái chết.

"Đôi chân của chúng tôi là đôi chân thép", các chiến binh của quân đội nhân dân có thói quen nói câu ấy để vui đùa. Con tim của họ cũng như vậy. Nếu như họ không muốn xua đuổi ra khỏi đất nước họ những con người mà người ta gọi bằng cái tên chung là những người phương Tây, những "ông Tây", thì làm thế nào họ lại chấp nhận cuộc sống gian khổ đến như vậy và đương đầu với đại bác và máy bay của quân địch? Khắp nơi người ta đã thuyết giảng rằng cuộc kháng chiến sẽ lâu dài, gian khổ và ác liệt và rằng phải đợi nhiều năm mới có các vũ khí cần thiết và phải học hỏi để sử dụng các vũ khí ấy để giành thắng lợi. Nhưng mà, kể từ ngày 26 tháng mười một, bản nhật lệnh đầu tiên của tướng Giáp đã khởi dậy một niềm hi vọng khác thường. Chính là ở Điện Biên Phủ có thể sẽ diễn ra trận quyết chiến. Nếu như mỗi chiến sĩ của quân đội nhân dân sẵn sàng đổ máu và mỗi một dân công nam giới và phụ nữ sẵn sàng sử dụng đôi chân và đôi vai của mình phục vụ cuộc chiến tranh giải phóng, thì sự nghiệp giải phóng đã ở trong tầm tay. Thật là một thời cơ quý giá. Những "ông Tây" không mảy may ngờ vực và tỏ vẻ hết sức coi thường tất cả những gì liên quan đến việc di chuyển và tồn tại của quân Việt. Từ khi tin mới lan truyền tới các trung đoàn và lần lượt lan truyền tới từng thôn xóm, niềm vui làm giảm nhẹ gánh nặng trên vai, và rút ngắn các khoảng cách; tiếng hát vang lên trên các nẻo đường và các khu trú quân trong rừng sâu. Sự hối hả đến được nơi đó và được tham chiến nung nấu tinh thần của đạo quân, với đạo quân này cần phải nhắc lại rằng công tác chuẩn bị sẽ khó khăn hơn bao giờ hết.

Chính là ở trong khu vực tỉnh Thanh Hoá, một trong những vựa lúa của đất nước này, mà viên tham mưu trưởng của trung đoàn 57 thuộc sư đoàn 304 biết được tin về sự kiện đó Trong số ba trung đoàn hợp thành sư đoàn này, trung đoàn thứ nhất sắp tham dự chiến dịch ở Trung bộ, trung đoàn thứ hai nằm mai phục ở gần vùng đồng bằng; một trung đoàn duy nhất sẽ lên Điện Biên Phủ, đó là trung đoàn của ông ta. Và chính là thông qua những suy diễn kế tiếp, nhờ vào địa danh nơi trú quân trước khi xuất phát và thời hạn tới được nơi tác chiến mà tôi xác định được vấn đề đó. Mười năm về sau, chuyện đó vẫn còn được coi là một bí mật quốc gia và những bí mật nhỏ nhoi ấy đã làm cho tôi thấy khó chịu cho mãi tới lúc tôi hiểu ra rằng người ta đã không công khai chuyện đó cho bất kỳ ai. Bản thân tướng Giáp cũng đã không muốn khẳng định tấm sơ đồ phân bố lực lượng mà cơ quan phòng Nhì của Pháp đã xây dựng một cách chính xác. Chắc hẳn, bởi vì cuộc chiến đấu để thống nhất nước Việt Nam vẫn còn chưa kết thúc cho nên ông Giáp không cho là mình được tự do công khai hoá các kế hoạch vẫn đang tiếp tục được thực hiện.

Viên tham mưu trưởng trung đoàn 57 đi cùng tôi trong chuyến tôi trở lại thăm Điện Biên Phủ. Mười hai ngày chung sống đã giúp cho tôi hiểu được ông ấy. Được giao nhiệm vụ bảo đảm cho chuyến đi được tốt đẹp cũng như mối quan hệ của tôi với các nhà chức trách địa phương, ông nhanh chóng thể hiện một tình bạn với tôi và tôi đáp lại tương ứng. Mong muốn của tôi nắm được mọi vấn đề lúc đầu làm cho ông ấy ngạc nhiên. Ngoài ông ta, những người khác cũng không giấu nổi một sự ngờ vực khi thấy một kẻ thù cũ đến tìm hiểu chiến trường cũ. Nhưng khi sự hiện diện của tôi được thừa nhận là xuất phát từ một mối quan tâm khách quan, việc tiếp đón trở nên nồng nhiệt hơn và dần dà, những câu chuyện tâm tình cởi mở hơn.

Viên tham mưu trưởng của trung đoàn 57 trước đây, lúc này mang quân hàm đại úy ở trong quân đội. Ông tên là Nguyễn Hiền. Là con trai người nông dân vùng Phủ Lý, khu đồng bằng, ông đã đi học ở Hà Nội và biết tiếng Pháp. Ngoại hình của ông mảnh mai từ thời nhỏ. Ông đã bị thương vào mắt ngay sau khi vào quân đội và ít lâu sau, bị thương vào vùng cột sống, một mảnh đạn cối nằm lại gần quả tim và người ta không gắp ra được. Từ vết thương đó, ở hõm vai ông còn một vết sẹo hình ngôi sao. Được các bác sĩ cứu chữa tận tình, ông đã sống sót và giữ cương vị chỉ huy trong một đơn vị bộ binh. Mọi người giúp đỡ ông hành quân bằng cách đeo giúp ông bao gạo mỗi khi ông bị các vết thương hành hạ.

Khi tôi quen biết ông, ông cân nặng chưa tới năm mươi ki lô, đôi tay và đôi chân của ông khẳng khiu như những đôi dùi trống. Thời kỳ trận Điện Biên Phủ ông hai mươi bốn tuổi và còn gầy yếu hơn. Trên khuôn mặt dài và linh lợi của ông, với đôi mắt hơi xếch, khuôn mặt hơi có nét của người Tây Ban Nha do nước da, vầng trán và chiếc mũi, những niềm vui và nỗi buồn của ông hiện ra một cách thoáng qua, ở đó có thể đọc thấy những nét ngây thơ và nhiệt tình kiểu của dân tộc ông. Trước hết, trung đoàn của ông đã hành quân đi bộ một nghìn kilômét trước khi nhận được lệnh tiến lên Điện Biên Phủ.
____________________________________
1. Épinal: Thủ phủ tỉnh Vosges, tây nam Paris 366km. Có nhà thờ, nghề làm ảnh, nghề dệt. - N.D

2. Waterloo: Địa danh ở Pháp nơi Napoléon đại bại. - N.D
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #32 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2008, 08:44:23 pm »


Ngày 6 tháng mười hai 1953


Chấp hành một quyết định của Ban chấp hành Trung ương Đảng, tướng Giáp ban bố lệnh động viên. Tài liệu quan trọng mà các đài thám không không bắt được bởi lẽ chắc hẳn nó đã được phát đi một cách bí mật và rằng không một ai trong các cơ quan tham mưu của đạo quân viễn chinh đã từng xác định hay muốn xác định là có tài liệu đó, nếu không là bằng một cách rất mơ hồ, có thể do vì tài liệu đó chưa hề tìm thấy được trên bất kỳ một tù binh hay một xác chết nào. Tướng Giáp nói rõ trong đó mục tiêu phải đạt được và xác định nhiệm vụ của mỗi người: "Các đồng chí phải sửa chữa đường sá, chiến thắng mọi trở ngại, vượt qua mọi khó khăn, chiến đấu không ngừng nghỉ, vượt qua cái rét và cái đói, mang vác nặng đi xuyên qua rừng núi và thung lũng, và chọc thẳng cho tới trận địa của quân thù để tiêu diệt chúng và giải phóng cho đồng bào của chúng ta... Các đồng chí, hãy tiến lên!".

Người ta có thể giả định rằng những biện pháp đặc biệt đã được áp dụng để tránh cho tài liệu đó rơi vào tay quân địch, một bản tài liệu mà khi đọc nó thì sẽ không còn chút nghi ngờ gì dù là nhỏ về ý định của bộ chỉ huy Việt Minh.

Ở cách sở chỉ huy của tướng Giáp hai chặng đường, và sống cuộc sống cũng như ông, trong những mái nhà gianh ẩn trong rừng và cách xa các xóm làng, Ban chấp hành Trung ương dẫn dắt cuộc chiến tranh. Còn về vấn đề sự có mặt hiển nhiên của Bác Hồ hay tướng Giáp, thì tính kỷ luật được tôn thờ đã chứng minh tác động hiệu quả của nó đối với những con người mà mười năm sau vẫn còn giả bộ không biết mình thuộc về trung đoàn nào. Ngoài ra, người ta tuyệt nhiên không bao giờ dùng các tên Giáp hay Điện Biên Phủ mà chỉ dùng các mật danh đã quy định: Ngọc, dành cho ông Giáp và Trần Đình, dành cho Điện Biên Phủ.



Ngày 7 tháng mười hai 1953


Chỉ mãi tới buổi tối hôm qua, quyết định của tổng chỉ huy về việc chấp nhận trận đánh mới tới được Hà Nội. Trong một bức điện dài Cogny báo cho biết việc nhận được quyết định đó muộn mằn: trong bản chỉ lệnh của mình, do vì Navarre yêu cầu một cách đúng đắn rằng người ta duy trì càng lâu càng tốt một đội quân đồn trú ở Lai Châu, cho nên Cogny trình bày những lí do đã buộc ông phải vội vã rút bỏ thị xã này. Cogny nói thêm là những hoạt động trên bộ mà Navarre muốn thấy ông tiến hành trên đoạn Sơn La, Tuần Giáo, Thuận Châu, có nghĩa là trung bình cách Điện Biên Phủ bảy mươi kilômét, là vượt quá khả năng của ông kể từ khi đối phương cắt đứt con đường tỉnh lộ số 41. Điều đó, một tay hạ sĩ cũng có thể nói được, bởi lẽ anh ta nắm được những con đường mòn mà tướng Navarre và viên phó tư lệnh tác chiến của ông nhìn từ trên máy bay rất cao; người ta không thể thấy, kể cả nếu như không có mặt đối phương ở đây, làm thế nào mà đội quân đồn trú ở Điện Biên Phủ, vốn lúc này hầu như không có một phương tiện cơ giới nào lại có thể mở rộng hoạt động trên bộ ra một bán kính năm mươi kilômét được. Năm mươi kilômét, trên tấm bản đồ tỷ lệ bốn trăm nghìn, đối với một sĩ quan tốt nghiệp trường tham mưu thì chỉ là một đoạn một trăm hai mươi nhăm mihmét. Đối với một tay hạ sĩ thì đó là sáu mươi nghìn bước chân, có nghĩa là hai ngày đi bộ trên đoạn đường phẳng và dễ đi. Nhưng khi là khu vực Điện Biên Phủ thì những cách nhìn như vậy làm sai lệch các con tính nhẩm. Hãy để những chuyện đó cho các đầu óc linh hoạt tính toán.

Cogny cũng báo tin rằng Việt Minh đã đứng chân rất vững trên con đường Pavie, cắt đứt dứt khoát đường liên lạc giữa Lai Châu với Điện Biên Phủ nơi mà hai trung đoàn thuộc các sư đoàn 308 và 312 đang hướng tới. Huyền thoại về căn cứ tấn công vững mạnh đã bắt đầu bong lớp vỏ ngoài, tách nứt, và những vết nút dài đã lượn ngoằn ngoèo trên khoảng mặt tiền.

Ấy vậy mà thực tế chỉ mới chạm lướt qua huyền thoại ấy chưa đầy vài ngày. Những bức điện, từng giờ một, dồn dập rơi xuống mặt bàn của Navarre chứng tỏ là tình thế đang đi xuống. Nếu thế, tại sao lại ngoan cố trong sai lầm?

Nếu như Navarre tin chắc là nhìn thấy toàn bộ lực lượng tác chiến của đối phương được huy động tới Điện Biên Phủ, chắc chắn Navarre đã không phạm phải hành động thiếu thận trọng là khiêu khích đối phương ở đó giữa thời điểm mà cuộc tấn công Atlante sắp thu hút nỗ lực chủ yếu của ông ở cách đó sáu trăm kilôtmét; nhưng ông không tin vào tình hình mà viên trưởng phòng Nhì ở Hà Nội trình bày với ông ngày 28 tháng mười một. "Đứng trước các tấm bản đồ, trên đó có đánh dấu hoạt động di chuyển của các sư đoàn Việt Minh, sau này Cogny nói như vậy, tôi có cảm tưởng là ông ta không hiểu”. Một bản nhạc mà ông không nghe chăng? Navarre chỉ tin vào chính mình, biểu lộ một thái độ nghi ngờ về nguyên tắc đối với tất cả những thông tin đến với mình bằng một kênh khác ngoài kênh của bản thân và đặc biệt là đối với xứ Bắc Kỳ, ở đó ông thấy hình như Cogny ngày càng muốn xây dựng một lãnh địa của mình và chơi ván bài riêng rẽ. Ngày 3 tháng mười hai, Navarre bám vào điều mà ông nghĩ: một sư đoàn có mặt trong vùng. Nó có thể được tăng cường chứ không phải có nhiều sư đoàn như Cogny phán đoán. Tuy nhiên, Lai Châu thất thủ như một quả chín rụng kể cả trước khi người ta kịp lay chuyển huyền thoại. Nếu vậy, Navarre sẽ buộc tội Cogny là đã hành động không đúng lúc. Trò chơi thông minh và ngây thơ mà Cogny là nạn nhân đầu tiên khi ông ta chạm vào ý tưởng của những hoạt động lớn trong một khu vực mà đường sá tắc nghẽn và địa hình thì gập ghềnh, nghẹt thở, thuận lợi cho những trận mai phục của một đối phương không biết mệt mỏi. Ở các đơn vị của đạo quân viễn chinh, chỉ có một vài tiểu đoàn quân dù là thông thạo với những cuộc chiến tranh rừng rậm gian khổ. Các đơn vị khác không thể vượt qua những chặng đường quá xa bằng những phương tiện thô sơ của bản thân, còn không quân, nếu không vận chuyển được họ, thì phải mở đường và tiếp tế cho họ.

Ấy vậy mà chính cái ngày Cogny cho rút bỏ Lai Châu một cách đúng đắn thì Navarre. chẳng những không hủy bỏ chỉ lệnh đầu tiên của mình, mà tiếp tục ban bố một chỉ lệnh thứ hai càng gia tăng những mối nguy hiểm của bản thứ nhất. Ông đã quyết định mở trận đánh ở Điện Biên Phủ, ông biết rằng ông sẽ không nhận được những tăng viện mà ông yêu cầu và có nhiệm vụ tính toán hành động phù hợp với khả năng của ông, nhưng mục tiêu chủ yếu ông muốn đạt tới đó là xóa bỏ khu vực đối phương hoạt động trên những cao nguyên rừng núi ở Trung Kỳ. Chính cuộc hành binh này vốn không liên quan gì đến Điện Biên Phủ nếu không phải là làm tăng thêm nguy cơ ở đó, là cuộc hành binh mà ông muốn mọi việc phụ thuộc vào nó. Vượt qua gió bão và bùn lầy, người ta sẽ thực hiện kế hoạch.

Nhắm mắt trước mọi việc diễn ra ở khu vực Điện Biên Phủ, bịt tai trước những ý kiến phản bác của những con người xứ Bắc Kỳ, Navarre và Berteil bám vào ý tưởng vĩ đại của mình. Có gì mà họ phải sợ nào? Ý kiến lan truyền trong mọi cơ quan tham mưu, đó là quân số của Việt Minh đã đạt đỉnh cao nhất. Nếu như đối phương tấn công Điện Biên Phủ, họ sẽ làm như ở Nà Sản: cuộc tấn công không thể kéo dài quá vài ngày. Sau đó, việc khai thác thắng lợi sẽ bắt đầu. Đấy, đó chính là điều Navarre tán thành và thuyết giáo.

Ngày hôm đó, bắt đầu từ không giờ, đại tá De Castries nắm quyền chỉ huy Điện Biên Phủ, mà trong ngôn ngữ quân sự người ta gọi là Binh đoàn tác chiến Tây Bắc. Gọi tắt là Gono, một tên gọi của sinh viên y khoa mà sau này tôi thấy ngờ vực.

Castries vốn là một chiến binh xuất sắc hẳn không để cho mình sa vào cái bẫy đó. Chắc chắn Castries sẽ nói với Cogny: "Thưa tướng quân, xin thay đổi nhiệm vụ cho tôi: tôi không thể hoàn thành được". Bởi lẽ Castries không được phép thử hoàn thành nhiệm vụ, hoặc là từ vựng quân sự không còn có nghĩa nữa. Castries phải hoàn thành nhiệm vụ đó. Tám kilômét đường kính hoạt động xung quanh đường băng sân bay, như vậy là một hình tròn năm mươi kilômét chu vi, mà người ta chỉ có thể chiếm giữ bằng một quân số bốn hoặc năm sư đoàn. Hoặc là, lúc đó, để ngăn cản đối phương tiếp cận trận địa không dưới tám kilômét thì Castries buộc phải hành động. Ấy vậy mà Castries lại không thể hoạt động được. Bigeard đã báo cáo cho Castries điều đó, Bigeard đã thử đi ra bất cứ chỗ nào mà anh ta có thể, bằng những phương tiện cá nhân và bây giờ thấy mình bị vây chặt ở mọi nơi. Bigeard không phải là kỵ binh. Anh ta từ trên trời rơi xuống và vượt qua các chướng ngại, đi bộ quay về, chui xuống các vực sâu và chạy lên các đỉnh núi. Ở đây, ngay khi người ta gặp những dốc núi gần nhất, cần phải dùng dao phát rừng để mở một con đường chui qua dưới đám dây leo bám dày đặc trên cây cối hoặc là chúi giữa đám cỏ cao và những mảnh rừng thưa. Bầy ngựa cũng như đoàn xe tăng không bao giờ có ích tí gì trong giải rừng rậm này.

Castries không phản đối. Hẳn là ông ta chưa nắm được đầy đủ vấn đề. Ông ta cho rằng viên tiểu đoàn trưởng Bigeard phóng đại và rằng những cuộc trinh sát bình thường, được hoả lực pháo binh và không quân yểm trợ, hoặc là những cuộc trinh sát bằng sức mạnh và những trận đánh mạnh sẽ có thể phá huỷ các loại vũ khí ở trước mặt, trong lúc đó những chiếc Bearcat đã có thể tấn công bổ nhào ngay trong khu lòngchảo. Có lẽ, cũng như mọi người, Castries tin rằng đối phương không bao giờ có trong tay những vũ khí hạng nặng và nếu như nhờ vào điều thần kì họ có thể kéo những thứ đó đến đây thì đại bác của chính chúng ta sẽ nhanh chóng nghiền nát. Cogny đã không biết bao lần nhắc lại rằng Castries là chàng kỵ binh miền núi, bay trên các đỉnh cao, hai lỗ mũi của con ngựa phun ra lửa, câu nói ấy Castries không dám nghi ngờ gì.

Nhưng mà, qua vài ngày, cái quan điểm hấp dẫn về những hoạt động trong khu tam giác nổi tiếng đã sụp đổ. Lai Châu biến mất, không còn vấn đề mạo hiểm dù là mười kilômét ra hướng đông. Không còn một ai tin vào điều đó nữa. Cái đó cũng không hề gì. Người ta muốn để mặc cho mọi người nghĩ rằng trong tư tưởng người ta tin vào chuyện đó, rằng có lẽ rồi sẽ có một người điên có thể thực hiện những trận trinh sát bằng sức mạnh ấy, cùng những trận đánh với tốc độ của một đội quân rừng núi thiện chiến, những hoạt động tấn công chỉ có sức mạnh bằng những từ đánh ra trên máy chữ. Không một ai muốn thừa nhận rằng Điện Biên Phủ do vậy đã bị thu hẹp để đóng vai trò của một siêu - Nà Sản, và rằng đám dân binh mà người ta giao phó những hành động quấy phá sẽ chịu chung số phận cùng với đám dân binh của Lai Châu: những đội quân dự bị Việt Minh đánh úp trên các đoạn đường mòn, những xác chết tả tơi rách nát, những con ngựa nằm phơi bụng dưới bộ yên cương...

Gilles sung sướng là đã rút chân ra khỏi tổ ong bò vẽ và nhường lại quyền chỉ huy cho De Castries. Cuộc chia tay đã không diễn ra xúc động: chẳng bao lâu nữa Gilles sẽ gặp lại các tiểu đoàn của cuộc hành binh Castor mà người ta sắp nhấc đi từng đơn vị một để tái lập lực lượng tổng dự bị. Gilles thấy Castries có vẻ tin tưởng vào tương lai. Dù sao Gilles cũng tự thấy mình được phép có lời khuyên với Castries: "Hãy cẩn thận, ông nói với Castries như vậy. Nếu cậu để mất một tấc đất, cậu sẽ toi mạng...".
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #33 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2008, 08:50:31 pm »


Ngày 10 tháng mười hai 1953


Ngày hôm ấy, cứ điểm Béatrice được thiết lập.

Chính là bằng con đường tỉnh lộ số 41 cũ, đi qua dưới chân đám di tích của Béatrice và chạy ngoằn ngoèo dọc theo con sông Nậm Rốm, mà người ta đến Điện Biên Phủ bằng đường bộ khi từ Hà Nội lên. Chính là bằng con đường này, tôi đã tới nơi đây vào ngày 19 tháng mười một 1962. Thuộc lòng các địa danh vì đã nghiên cứu chúng trên các tấm bản đồ và các bức không ảnh, ấy thế mà tôi vẫn ngạc nhiên khi thấy mình có mặt ở Điện Biên Phủ tuy rằng từ khá xa, tôi đã nhận ra đường nét của những đỉnh núi nhưng chưa bao giờ nhìn bao quát được khu lòng chảo. Thực tế, con đường chạy xuôi xuống, dốc thoai thoải, giữa những quả đồi, và người ta chỉ có thể phát hiện ra khung cảnh kì vĩ khi ở dưới thấp.

Từ ngay vị trí của Béatrice, ở đó một tượng đài khiêm tốn đã được dựng lên, nếu như người ta nhìn về hướng đông bắc, người ta sẽ bao quát được những dốc núi phủ đầy cây cối dốc xuống và ngay gần đó, những thửa ruộng vây quanh bản Him Lam. Ngược lại, từ hướng đông, lẩn khuất vào những ngọn núi cao hơn, đồ sộ hơn, nằm ở phía bên kia con đường, kẻ tấn công có thể tiếp cận dễ dàng.

Như vậy Béatrice có lẽ là một cứ điểm mạnh với điều kiện được bảo vệ bởi một số điểm cao khác. Bị cô lập, nằm ở cách khu phòng ngự trung tâm một cự li như vậy, Béatricẹ bị phó mặc cho đối thủ muốn đánh chiếm nó bằng mọi giá. Để tin rằng người ta có thể từ cứ điểm đó, ngăn chặn lâu dài bước tiến của những đơn vị xung phong đầy quyết tâm, thì cần phải để mình bị huyễn hoặc bởi vài câu chuyện hoang đường: năng lực vượt trội của đội công binh quân Pháp, niềm tin mù quáng ở các phương tiện hoả lực và tính vô địch của đội quân lê dương.

Công binh của quân Pháp chỉ có giá trị khi nó trội hơn các đội công binh khác, các phương tiện kỹ thuật luôn luôn có thể bị nghiền nát bởi những phương tiện vượt trội hơn và dù cho rất anh dũng, đội quân lê dương, giống như mọi đội quân ưu tú, không thể thay thế mọi thứ.

Hai tiểu đoàn quân dù, trong vòng hai ngày đã bảo vệ cho việc bố trí đơn vị III/13 bằng cách tiến về bản Nà Loi cách đây sáu kilômét rồi rút về sau vài trận đánh. Sẽ khó khăn nếu tiến xa hơn nữa mà không tổ chức những cuộc hành binh lớn mà lúc này quân số của Điện Biên Phủ không còn đủ khả năng cung ứng nữa, bởi lẽ nghệ thuật của Việt Minh là không để cho họ bị bám đánh bao giờ và thu hút các đơn vị nặng nề của đạo quân viễn chinh ra khỏi tầm yểm trợ của pháo binh trong căn cứ.

Nhưng cái ảo tường rằng có thể hoạt động được vì việc đó là cần thiết sẽ còn kéo dài. Mỗi một cố gắng vô ích để di chuyển, mỗi một ngày lãng phí thử tiến lên các ngọn núi, lấy mất đi hàng nghìn cánh tay trong các công việc củng cố vững chắc khu lòng chảo. Vả lại, làm thế nào mà người ta có thể khắc phục được nỗi chán ghét cố hữu của bộ binh phải đào hầm hào để chui rúc xuống đó trong khi mọi người đều tin chắc là Việt Minh không có pháo binh? Ngoài ra, do vì Điện Biên Phủ chỉ là vùng đất thuần chất nếu muốn có đá thì phải đi xa mười lăm kilômét vào trong những khe vực của sông Nậm Rốm hoặc đi về phía nam, tới những khe lũng của sông Nậm Nưa. Một trận lở đất đơn giản, một gốc cây duy nhất đổ ngang xuống đường mòn thế là hết đời những kẻ bạo gan dám mạo hiểm mò mẫm tới đó. Không, không có lấy một tảng đá? Không có lấy một hòn sỏi. Chi tiết này có tầm quan trọng to lớn: từ thực tế này người ta sẽ không xây được một thứ gì, sẽ không đổ được bê - tông và riêng chuyện gỗ lạt, những đoạn thân cây được sử dụng làm hầm hào, sẽ đầy những mấu và vặn vẹo, khiến cho người ta không thể nào cấu trúc được những công trình nghiêm túc. Những phiến gỗ, những tấm ván và những đoạn rui mè cần thiết cho việc xây dựng một cây cầu đường bộ cũng đã buộc phải chở bằng máy bay từ Hà Nội lên. Mặc kệ! Các đơn vị kỹ thuật được tổ chức là để chiến thắng những khó khăn xuất hiện do những tình thế chiến thuật, nhưng Navarre cần phải biết rằng đạo quân mà ông ném xuống khu lòng chảo này đã rơi vào cảnh bị vây hãm.

Cái xí nghiệp lớn đã bắt đầu hoạt động. Sáu mươi chiếc Dakota mỗi ngày thả dù hoặc hạ cánh đổ xuống một trăm rưỡi tấn đạn dược, thực phẩm, dây thép gai, những đôi giày đế cao su hoặc những đôi săng - đá đế đinh, những tấm bạt lều, dụng cụ y tế hoặc phương tiện thông tin. Hàng chục máy bay khu trục và máy bay B.26 xuyên thủng lớp mây để phát hiện và tấn công đối phương. Hàng ngàn người lao động để cột các khối đồ vào những chiếc dù, gấp gọn dù lại, chất đầy các xe tải và giải phóng đồ đạc ra khỏi các máy bay, vần đẩy những quả bom, lắp đầy các băng đạn đại liên và đại bác liên thanh, đổ đầy các bình xăng, bình dầu dự trữ, và lập các bản danh sách và số liệu.

Từ xa người ta có thể nghe thấy cỗ máy chiến tranh gầm gừ, nhưng người ta có thể dừng nó lại khi người ta biết là nó khởi động không trơn tru, rằng nó có nguy cơ nghiền nát quá nhiều sinh vật và lăn xuống nấm mồ chung, giữa những chiếc hố xí ô nhiễm, quá nhiều thanh niên lẽ ra không phải gánh chịu cái số phận ấy.

Ngày 17 tháng sáu năm 1647, lúc bình minh, Condé lúc này đang vây hãm thành Lérida(1), tập hợp các tướng tá của mình và tóm tắt với họ tình thế: sức mạnh của hệ thống phòng thủ đã làm chậm trễ các công việc vây hãm, dịch bệnh đã tấn công vào đạo quân, cái nóng dữ dội và những dòng sông tràn bờ do tuyết tan bổ sung thêm vào những khó khăn chồng chất, tình trạng đào ngũ tăng nhanh trong các trung đoàn tuyển mộ ở phía nam. Vì tất cả những lí do đó, Condé vĩ đại(2) cho rằng mình đang đứng ở vị trí bất lợi. Mở trận tấn công vào những phòng tuyến nằm dưới chân một quả núi đá, với những đơn vị suy kiệt, đối mặt với một đội quân đồn trú mạnh được ứng cứu bởi một đạo quân bao gồm một vạn bộ binh và ba nghìn kỵ binh sẵn sàng phi tới, đó sẽ là thất bại chắc chắn, có thể là tan rã hoảng loạn. Condé quyết định rút ra xa trong lúc ông biết rằng triều đình nước Pháp đang chờ đợi ở ông tin báo mừng thắng trận.

Ngày hôm đó, nhìn bề ngoài công việc của các chiến binh không có gì khác trước. Buổi tối, toàn bộ đạo quân được lệnh báo động; trong ban đêm, người ta tháo dỡ các khẩu pháo và ngày hôm sau, cuộc rút quân bắt đầu. Một văn thư gửi cho Mazarin được mở đầu bằng những câu sau đây: "Ngài sẽ không ít ngạc nhiên, tôi tin chắc như vậy, sau tất cả những hi vọng mà tôi đã mang tới cho ngài; khi được biết là tôi đã rút bỏ cuộc vây hãm thành Lérida; ngài hiểu tôi khá rõ để tin rằng không phải không nhọc lòng và đau đớn, và rằng hi sinh danh dự của tôi trong việc phục vụ đức vua, tôi đã không có chút cố gắng vượt qua bản thân... ". Lần đầu tiên kể từ khi ông chỉ huy quân đội đối mặt với kẻ thù, vượt qua nỗi bất bình của tướng tá, vượt qua những lời diễu cợt và nhục mạ, Condé vĩ đại đã rút lui để cho đạo quân của mình không phải gánh lấy một sự mạo hiểm mà ông đánh giá là quá mức. Bản thân Mazarin đã lợi dụng việc này để gièm pha ông. Nhưng mà, sự thực chẳng bao lâu sau được mọi người biết đến, chiến thắng mà hoàng tử vừa mới giành được với chính bản thân mình khi không sợ bị coi như một kẻ hèn nhát đã làm cho thắng lợi của ông càng to lớn hơn.

Navarre cũng vậy, ông ta có thể dừng lại. Rất nhiều các vị đại tá và các viên tướng muốn đánh bại Việt Minh sẽ la lên rằng người ta đã tước bỏ mất của họ một trận thắng, nhưng những người khác cuối cùng sẽ tán thành ông. Chính phủ vốn để cho ông tự do điều khiển tác chiến theo ý ông, sẽ khen ngợi sự khôn ngoan của ông. Tiếp theo cái quyết định tham chiến dũng cảm của ông, việc rút bỏ này sẽ được coi như là một trong những hành động dũng cảm nhất mà từ trước đến nay chưa một vị tư lệnh nào thực hiện được. Ông được làm chủ các hành động của mình, khá kiêu ngạo để áp đặt việc ấy và khá mạnh để biến nó thành chiến thắng. Nếu muốn, ông ấy có thể đợi thêm vài ngày nữa cốt để cho các sư đoàn đối phương lao sâu vào các con đường của vùng thượng du, rồi rút dù giống như ông đã làm ở Nàsản. Ông sẽ cứu vãn được nước Lào nếu như ông buộc được tướng Giáp phải quay lại và nếu như, dựa chắc chắn vào các căn cứ của mình ở Hà Nội, ông mở màn những trận tấn công càn quét vào hậu phương của mình.

Ở Avaricum, gần thành phố Bourges, trong cuộc chiến tranh của những người Gaules, đơn giản do vì đối thủ đứng chân trên một quả đồi, bao bọc bởi những bãi lầy và vật chướng ngại, César đã cho các đội lê dương của mình lùi lại và cũng hủy bỏ cuộc tấn công. Ấy vậy mà các binh sĩ của ông vốn ham muốn đánh thắng đến mức họ tỏ ý bất bình rằng chỉ nhìn thấy họ quân địch cũng đã đủ thấy sợ hãi. Tất cả đòi hỏi phát lệnh xung phong. Bỏ ngoài tai những tiếng la hét của họ, César hạ lệnh cho đạo quân quay đằng sau, tin chắc là những điều kiện xấu của trận tấn công không đáng để phải hi sinh những mạng sống mà chính những con người đang phản đối mình sẽ phải trả giá.

Tạm thời, mọi việc đều chống lại Navarre, ngoại trừ niềm tự tin của các đơn vị. Ngày hôm đó, người ta đã phát hiện, ở vùng lân cận Điện Biên Phủ, sự có mặt của sư đoàn 316 và các vũ khí nặng của nó. Ai đã ngăn cản các lực lượng đó tới nơi? Không một ai. Phòng Nhì đã thu thập được rất nhiều thông tin khác cực kỳ rõ ràng và đã thông báo rằng một bản phác thảo tình hình: trung đoàn công binh 151 đã nhận được lệnh mở thông đường cho ôtô trên con đường tỉnh lộ 41 cho đến ngoại vi Điện Biên Phủ và được yêu cầu mở rộng đoạn đường vòng Tạ Khoa - Cò Nòi để cho các xe cộ của sư đoàn 351 thông qua; sở chỉ huy tiền phương các đơn vị chiến đấu và hậu cần khu vực Tây Bắc đặt ở Mường Phăng, bản thân tướng Giáp ở lùi lại phía sau một chút, ở Thuận Châu, ông đã gửi cho bộ đội một bản nhật lệnh. Đó là bản mệnh lệnh động viên ngày 6 tháng mười hai mà dù thế nào, các cơ quan mật vụ không thể không nắm được nội dung và rằng không thể nào Navarre lại coi đó như một lá thư chết. Bản thân Navarre cũng đánh giá quân số di chuyển của đối phương là mười nghìn người. Trưởng phòng Nhì của ông dự đoán rằng nếu như tất cả các bộ phận dịch chuyển của các sư đoàn 304, 308 và 312 là nhằm vào hướng Tây Bắc thì đối phương có thể tập trung vào cuối tháng, hai mươi hai tiểu đoàn ở Điện Biên Phủ, điều này xoá sạch mọi đánh giá lạc quan ngày 3 tháng mười hai. Uỷ ban Quốc phòng đã lạnh lùng nhắc lại với vị tổng chỉ huy là ông phải tính toán các kế hoạch sát với những phương tiện có trong tay và cái quyết định tham chiến của ông vừa mới đến được Paris, làm cho người ta lo ngại. Nếu như ông ta thất bại, người ta sẽ đổ mọi chuyện lên đầu ông. Chính phủ chỉ có ý nghĩ duy nhất, chấm dút chiến tranh này, nếu cần bằng thương lượng. Trận đánh chiếm Điện Biên Phủ này sẽ là một cuộc thực tập tuyệt vời đối với đạo quân viễn chinh, không quân và các bộ tham mưu, và tướng Giáp luôn luôn sẽ tự hỏi rằng Navarre muốn gì và ông ta giăng chiếc bẫy nào cho mình đây. Ở chỗ đối phương, do vì khuôn mặt của Navarre dài và nhọn và đôi mắt của ông ta sắc lẹm, người ta mệnh danh ông là "con cáo". Nhưng mà ông, Navarre, lúc này biết rằng trong mọi việc ông sắp xếp đều là sai lệch. Trên một tấm bản đồ tham mưu, những cái đó đứng vững nhưng đứng trước thực tế của giải đất, của thời tiết, của phương tiện và con người, mọi thứ đã rạn nứt.

Nếu như ý nghĩ rút bỏ lởn vởn trong đầu Navarre thì ai sẽ khuyến khích ông chịu nghe theo ý nghĩ ấy? Xung quanh ông, chẳng có một ai. Castries có lẽ là người duy nhất mà Navarre tin tưởng, bởi lẽ Castries ở tại chỗ, tự mình nắm vấn đề, thì im lặng. Castries nắm quyền chỉ huy chưa được bao lâu. Trước khi đưa ra những gợi ý hay cảnh báo nhà cầm quyền tối cao chống lại cái có thể là một quan niệm sai lầm, Castries phải chờ đợi, phải thử nghiệm, bản thân phải tin chắc trước khi thuyết phục những người khác. Nếu như Castries đã lựa chọn thì chính là Castries phải kiên quyết giành thắng lợi bất chấp mọi khó khăn. Còn về Cogny, tất cả những lời cảnh báo của ông ta, trước con mắt của Navarre vẫn đáng ngờ, Navarre cho rằng ông ta mong muốn mình thất bại. Vả lại, Cogny ngày hôm qua vừa đến Điện Biên Phủ đã không nghi ngờ gì về thắng lợi của trận đánh. Điều ông ta muốn, đó là Navarre đừng có nhấc đi bất kì lực lượng nào mà ông ta có ở vùng đồng bằng.

Trong khung cảnh tiện nghi sang trọng của ngôi biệt thự, ở đó Navarre bố trí sở chỉ huy của mình, cách xa cái nồi dã chiến des Mares, ở đó bộ tham mưu hoạt động sôi sục, mọi thứ toát lên vẻ trật tự, hài hoà, sức mạnh. Không có bất kỳ chuyện gì có thể ảnh hưởng đến bộ não đang làm việc ở đó, trong gian phòng nhỏ có máy điều hoà. Không khí bên ngoài chỉ tới đó sau khi đã được lọc qua, mát lạnh. Tiếng ồn ào và cảnh náo nhiệt không chạm tới đó. Còn lại là trí tưởng tượng, chứng tỏ rằng ở đó những con người có khả năng làm những việc lớn khi người ta bắt buộc họ làm. Điều đã dẫn dắt Navarre đi tới mở trận Điện Biên Phủ luôn luôn giữ nguyên giá trị trên bộ mặt chính trị của nó: chặn con đường Việt Minh tiến sang nước Lào. Tuy nhiên Navarre tự hỏi mình, với một sự thành thật mà không một ai nghi ngờ, trong khung cảnh cô quạnh thống thiết của những người chỉ huy. Nếu như câu chuyện không giống như với César hay hoàng tử Condé vĩ đại, thì đó không phải là vì ông thiếu dũng khí, mà là thiếu sự hiểu biết xứ sở và đạo quân của mình, bởi lẽ ông không phải là con người không dám gạt bỏ chuyện ngớ ngẩn. Ông thiếu một ngọn đèn rọi sáng. Kể cả một thiện ý, bởi lẽ không một ai, trong bộ tham mưu của ông đã nhắc nhở ông chú ý đến những mối nguy hiểm mà ông lao tới, và ông đã quá tin cậy vào trí thông minh của các cộng sự và quá tôn thờ những nguyên tắc mà ông học được dưới những mái nhà vòm của Học viện Quân sự. Berteil nhắc lại với ông rằng người ta sẽ bẻ gãy quân Việt ở Điện Biên Phủ như đã bẻ gãy họ ở Nà Sản. Đó là quyền của Berteil. Lỗi lầm của Navarre là đã tin vào điều đó
______________________________________
1. Lérida: Thành phố của Tây Ban Nha, bị hoàng tử Condé vây hãm năm 1646. - N.D

2. Condé le Grand: Hoàng tử nước Pháp (1621-1686) một trong số tướng giỏi triều vua Louis XIV. Đánh thắng nhiều trận, vây hãm thành Lérida của Tây Ban Nha năm 1646. - N.D
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #34 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2008, 08:53:53 pm »


Ngày 15 tháng mười hai 1953.

Trong đêm, trung tá Langlais quay trở lại Điện Biên Phủ, đã dẫn được theo mình về trại toàn bộ ba tiểu đoàn quân dù, trước đó, từ năm ngày nay đã thử tìm cách tiến về đồn Mường Pồn, nằm trong đoạn khe vách đứng, con đường mòn Pavie, bám theo khe núi này, ở cách mười sáu kilômét về phía bắc. Ba tiểu đoàn quân dù, tuy nhiên không phải là một dàn đồng ca trẻ con. Tiểu đoàn 8 xung kích, trước tiên ra đi theo từng đội xung kích độc lập để chi viện đón những dân binh cuối cùng của Lai Châu, tới được các điểm cao, sau khi thoát được các trận phục kích và tiêu diệt, tiểu đoàn 8 đã bị bao vây. Hai tiểu đoàn khác, tiểu đoàn 5 người Việt Nam và tiểu đoàn 1 ngoại quốc lên đường tiếp viện. Một trận chạm trán đã làm cho hai đơn vị đó mất đứt một ngày ở cách sân bay bảy kilômét, ở chỗ mà con đường Pavie bắt đầu đi sâu vào dãy núi. Cuối cùng gặp được nhau, cả binh đoàn buộc phải rút lui sau khi đã tổn thất nặng và bố trí tiểu đoàn 1 ngoại quốc đi đoạn hậu. Với khoảng mười hai chuyến bay, mỗi chiếc trực thăng chuyển đi được sáu mươi sáu thương binh. Còn về những người chết, người ta chôn cất họ tại chỗ cùng với lời cầu nguyện của một cha tuyên uý râu rậm trông giống một chiếc trống cái của đội lê dương, và mặc bộ trang phục dã chiến loang lổ như da báo. Trong một khu nghĩa địa tạm thời nằm trên một đỉnh núi, giữa đám lau lách, những tảng đất lớn mầu đỏ đánh dấu các ngôi mộ; mấy tấm ván hòm đạn đóng đinh vào mấy chiếc cọc được dùng làm bia mộ. Một trung đội lính người Việt Nam nhỏ bé bồng súng chào, lưng đeo lựu đạn, mặt nhăn nhó dưới ánh nắng chói loà. Để phân biệt họ với những con người đội những chiếc mũ đan bằng nan tre, chỉ có hình thù chiếc mũ sắt của Mỹ, trông tựa như đè gí họ xuống bởi khối hình to lớn và trọng lượng của nó.

Khi mà giữa ban đêm Langlais tới được những ngọn núi nơi diễn ra các trận đánh, qua máy vô tuyến ông chỉ nghe được những mệnh lệnh và những báo cáo rối loạn. Tảng sáng, bộ phận còn lại của tiểu đoàn từ trong rừng bước ra, với những bộ mặt xanh xao hốc hác, râu đâm ra tua tủa. Langlais nghĩ đến câu của Castries nói với mình lúc đi: "Bắt cho tôi vài tù binh".

Dù cho đắt giá đến đâu, bài học kinh nghiệm sẽ không vô ích nếu như những ảo tưởng được bong ra khỏi đôi mắt của các viên tướng. Kể từ lúc này người ta biết cần phải nhìn nhận những khả năng thâm nhập của các trục giao thông trong vùng: những hẻm núi ở đó, cỗ máy của đạo quân viễn chinh không thể triển khai được; muốn tiến lên, phải bố trí bảo vệ mọi hướng trên các điểm cao. Con đường Pavie chỉ là một đoạn đường núi chạy theo thung lũng vách dựng đứng của sông Nậm Cố. Các đại đội tách ra hai bên sườn, hành tiến nhọc nhằn qua địa hình nhô lên, tụt xuống cùng với lớp cây cỏ, và khi mà mệt mỏi sau cuộc hành quân xuyên rừng, nặng nề vì các trang bị dã chiến tiến lên các đỉnh núi ở đó đám cỏ cao hoặc cây cối che khuất tầm nhìn, họ sẽ hứng lấy làn đạn bán gần của một đối phương nấp kín trong các hầm hào. Mọi chỗ đều là ổ phục kích, ảo ảnh, lừa dối và cái chết. Đám cỏ cao đang lay động, người ta không rõ đó là vì gió hay là vì có đội du kích nào đó động chạm tới. Khi các máy bay khu trục tấn công bằng bom napan, đối phương tản ra, bỏ lại một vài xác chết cháy đen, và bố trí ở xa hơn trước khi quay trở lại, khi mà mối nguy hiểm từ máy bay đã không còn nữa.

Các sĩ quan tham mưu ở Sài Gòn đã hết sức tức tối khi bước ra khỏi vòi tắm hoa sen và giận dữ gõ tay vào điếu thuốc lá để đọc các báo cáo; sự thật mạnh hơn trí tưởng tượng của họ: Việt Minh mệt nhoài có khả năng sống và chiến đấu trên vùng thượng du, không có chuyện thả dù lương thực và đạn dược, và là bậc thầy trong nghệ thuật nguỵ trang, còn đạo quân viễn chinh thì không sao hoạt động được. Castries, tay kỵ binh sôi sục, bị chặn đứng ở khắp mọi nơi phía trong khu lòng chảo, liệu có nói là mình không thể hoàn thành nhiệm vụ mà người ta giao phó chăng? Castries vẫn còn hi vọng. Có lẽ Castries nghĩ rằng chuyện sắp thay đổi cùng với sáu chiếc xe tăng mà người ta hứa cho ông.

Castries mở rộng trên hướng tây bắc một điểm tựa thứ hai mang tên Anne Marie. Anne Marie, đó là nữ anh hùng của một bài hát Đức mà đội lê dương hát khi diễu binh:

Anne Marie, em đi đâu trên thế giới này?
Em đi tới thành phố có những người lính ...

Do vì hai tiểu đoàn người Thái rút từ Lai Châu về có vẻ chất lượng quá kém cho nên Cogny đồng ý cho Điện Biên Phủ mười một liều đoàn thay vì chín. Ngay lập tức, ông đề ra việc xây dựng một trung tâm phòng ngự nữa, mang tên Isabelle, ở cách năm kilômét về phía nam, để bố trí ở đó một cụm pháo yểm trợ, không phụ thuộc vào hoả lực của khu phòng ngự chủ yếu; nằm trong tầm bắn của những khẩu pháo để yểm trợ hướng bắc, Isabelle cố định ba tiểu đoàn để bảo vệ cứ điểm. Được xem xét để bảo đảm tuyệt đối, ngày 2 tháng mười hai, tướng không quân Bodet, phó tướng của Navarre phê chuẩn một quyết định là trong ngày 12 và ngày 13 tháng mười hai ở Mường Sài, mở một tuyến liên lạc về hướng tây nam với nước Lào bằng cách bố trí các nhóm dân binh trong vùng Sốp Nao cách Điện Biên Phủ bốn mươi kilômét và một số nhóm khác, ở giữa đường, trong dãy núi đá vôi của bản Na Tí.

Cogny phản đối việc này. Ông tuyên bố, kể cũng đúng, rằng không cần thiết để phân tán ba tiểu đoàn trong tám ngày trời để bố trí các đội trinh sát vốn tự họ có thể đi vào vùng núi. Ngược lại, Cogny những muốn thành lập một binh đoàn vệ tinh, có thể được tăng cường bằng thả dù, hoạt động ra vùng xung quanh Điện Biên Phủ để quấy rối hậu phương của Việt Minh. Toả ra xung quanh ư? Castries không phản đối. Ông không kêu la rằng người ta bơi trong ảo tưởng và rằng cách xem xét của cơ quan tham mưu là những ý kiến vớ vẩn. Con đường đi về Sốp Nao không khá hơn con đường Pavie, những chướng ngại cản trở việc hành tiến cũng giống nhau và trang bị của bộ đội không có gì thay đổi. Người ta không thể giải toả được những dân binh ở cách vài kilômét về phía bắc, và người ta ngoan cố muốn tổ chức các hoạt động khác xa hơn ở phía nam, xuyên qua những địa hình mấp mô. Không một ai phản đối. Bigeard đã đi Hà Nội, công việc của anh đã xong, và tiểu đoàn của anh sắp tới chỗ anh. Navarre và Cogny yêu cầu trong số mười một tiểu đoàn của Điện Biên Phủ thì bốn tiểu đoàn thường xuyên tham gia vào các hành động tiến công. Thực tế vẫn còn chưa làm cho một ai phải ngạc nhiên.

Ngày 14 tháng mười hai, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi toàn dân Việt Nam. Ông tuyên bố rằng nếu chính phủ Pháp muốn đi tới một hiệp định đình chiến, chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà sẵn sàng tiến hành những cuộc thương lượng. Ngài Nguyễn Văn Tâm, thủ tướng Chính phủ Việt Nam(1), đã trả lời rằng ông ta nhìn thấy ở đây một hành động tuyên truyền nhằm reo rắc tư tưởng chán nản trong hàng ngũ các lực lượng quả cảm đang chiến đấu chống lại chủ nghĩa cộng sản và chính phủ Pháp, về phần mình, được Navarre bảo đảm là tình thế vào mùa xuân tới sẽ tốt hơn, đã nhắc lại rằng không thể xem xét các lời tuyên bố thông qua trung gian của báo chí và đài phát thanh. Tám năm về trước, đã có một quả bom nguyên tử trên bầu trời Hiroshima, nhưng mà trong hội đồng bộ trưởng người ta vẫn bám theo chủ nghĩa hình thức không suy giảm. Chỉ có những văn bản ngoại giao, được chuyển giao không phải bởi những thông báo nhỏ mọn mà là bởi các vị đại sứ, trong những chiếc cặp da mềm, mạ vàng là đáng kể.
____________________________________
1. Tức chính phủ ngụy quyền Việt Nam. - N.D
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #35 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2008, 09:01:02 pm »


Ngày 17 tháng mười hai 1953


Hôm qua, tướng Navarre đã hạ cánh giữa cơn mưa ở Hà Nội và đã có cuộc hội kiến dài với Cogny. Chậm hơn thời tiết thường lệ, cái rét đã bao trùm lên dải đồng bằng xứ Bắc Kỳ từ một chục ngày nay. Đàn ông và đàn bà đã khoác những chiếc áo len dài tay cũ hoặc những chiếc áo bông ra ngoài những chiếc áo sơ mi hoặc áo lót. Người ta đội cho đám trẻ con những chiếc mũ bịt kín hai tai. Mưa phùn xuất hiện ngày 14 tháng mười hai. Navarre và Cogny vốn biết rằng cuộc hành binh về phía Mường Pồn đã phải trả giá cho nên nghiên cứu cuộc hành quân tới Sốp Nao. Cogny nhăn nhó. Ông bào chữa cho vấn đề hệ thống vệ tinh của mình.

Sự thật, hệ thống vệ tinh này, ông đã hình dung khác với những gì ông mô tả trong các văn bản chính thức của mình. Ông những muốn hành động, xung quanh Điện Biên Phủ, bằng những đơn vị nhẹ, không lao vào những trận đánh mạo hiểm, không ngừng quấy rối đối phương rồi tản mát vào rừng sâu để rồi quay trở lại khi mà đối phương không chờ đợi nữa, sẵn sàng để được tăng cường vào thời điểm thuận lợi bởi một binh đoàn đáng sợ hơn. Tổng thể tạo thành không phải là một vệ tinh mà là một đám mây hay là một cụm những tiểu hành tinh. Cogny nghĩ rằng lúc đó quân Việt sẽ phải phân tán một bộ phận quan trọng lực lượng đang bao vây khu vực để tiêu diệt lũ quấy rối ấy hoặc nếu như họ coi thường thì vào thời điểm bất lợi họ có nguy cơ phải chống đỡ một trận đánh bất ngờ.

Thật vậy, một tổ chức kết hợp quân chính quy và dân binh, dập khuôn theo kiểu tổ chức của đối phương, đối với Cogny có vẻ là một công thức lý tưởng và hấp dẫn. Sao chép kết cấu tổ chức của Việt Minh và các phương thức tác chiến của họ, cho đến lúc này, chỉ có một vài người chỉ huy các đội xung kích là nghĩ tới và làm được. Bằng chuyện thần kỳ nào mà đột nhiên thực hiện được cái điều vốn không phải là chuyện quen thạo? Bị hấp dẫn bởi ý tưởng của Cogny, đại tá Crèvecoeur đột nhiên chỉ định một trong số các sĩ quan người Lào của ông để dắt dẫn trò chơi khó khăn này, nhưng tướng Navarre thì không để mình bị thuyết phục là trong việc này có cơ may thắng lợi. Như vậy là Cogny sẽ không bao giờ cung cấp cho chính mình dẫn chứng rằng dự án của ông ta là không tưởng và cho những người khác là ông ta nắm bắt được thực tế.

Liệu có khả năng, về phần mình, ông cũng cưỡi trên những ảo tưởng vĩ đại chăng? Cogny vốn đã kêu ca rằng tiềm lực không quân đã bị Điện Biên Phủ nuốt chửng, liệu có sẵn sàng sử dụng không quân để thả dù và chi viện giữa rừng rậm những người lính dù của đội vệ tinh của ông và sau đó thu gom về như thế nào? Và, ngoài ra, tôi không thật tin chắc là Cogny tin vào việc đó: đầu óc phức tạp và thậm chí xảo quyệt dưới vẻ bề ngoài nhiệt tình, được áp dụng để đạt được mục đích bằng những con đường vòng vèo, liệu Cogny có thật sự nghĩ rằng một hoạt động như vậy lại có cơ may thắng lợi trong một vùng rừng rú và bị quấy phá, ở đó những tuyến giao thông duy nhất là những con đường dành cho lừa ngựa? Quen thạo với những không gian rộng lớn, bằng phẳng của những ruộng lúa, con người của vùng đồng bằng ấy vốn thích thú nhắc đi nhắc lại rằng đôi chân ông ta bám trên mặt đất và chỉ chịu nghỉ ngơi khi mà Nà Sản được rút bỏ, liệu ông ta có mất trí hay không? Thắng lợi của trận đánh Lạng Sơn liệu có làm cho ông ngây ngất? Liệu ông có nghĩ rằng ông đòi hỏi quá nhiều, trong nhiều tuần và có thể nhiều tháng, ở những con người chỉ có thể cống hiến hết mình nếu như nỗ lực diễn ra trong thời gian ngắn? Bằng những chiếc xe tải ông sẽ thu gom họ lại bởi lẽ đường sá, xe tải không đi lại được? Những xe thiết giáp nào sẽ yểm trợ họ? Những máy bay nào sẽ thả dù lương thực và đạn dược cho họ và nếu nguy kịch thì chi viện cho họ? Ai sẽ mang vác các khối nặng trang thiết bị cho họ giữa rừng sâu? Tất cả những câu hỏi ấy không có lời đáp. Không bao giờ có câu trả lời giữa giấc mơ: mọi việc chỉ diễn ra ở đó bằng phép lạ.

Người ta tìm thấy lời giải thích cho những trò chơi trí tuệ ấy trong kinh nghiệm may mắn nhưng chưa hoàn chỉnh của trận Nà Sản, trong trận đánh đó nhiều tiểu đoàn đã mạo hiểm tiến ra ngoài căn cứ hơn năm mươi kilômét. Cùng với thời gian, và nhờ những ảo tưởng giúp sức, người ta quên mất rằng trước sau vẫn là cùng những con người ấy, Bréchignac và Bigeard, là những người duy nhất có khả năng giống như quân Việt, hành quân năm mươi kilômét trong một đêm, đi chân không, vận dụng các mưu mẹo như đối phương, sống như họ và quay trở về dẫn theo tù binh để rồi ngủ thiếp đi hai mươi bốn tiếng đồng hồ dưới hố cá nhân. Điều mà Bigeard và Bréchignac đã làm, đôi khi bị dắt dẫn bởi những cơ quan tham mưu không quen thạo với nhiệm vụ của họ, tại sao những người khác lại không thể thực hiện thành công? Ai là người nhớ lại những điều kiện giống như những kinh nghiệm đã qua? Ai nghĩ được rằng xung quanh Nà Sản, lực lượng đứng chân của đối phương kém hùng mạnh hơn bây giờ? Bigeard và Bréchignac, nếu như họ hãy còn ở đây, hẳn sẽ dũng cảm để nói rằng họ không thể lặp lại ở Điện Biên Phủ những gì họ đã dám làm ở Nà Sản. Điều mà người ta cũng quên đó là năm tháng, mệt mỏi và những thử thách đã làm xói mòn nhiệt tình và ý chí chiến đấu của đạo quân viễn chinh và rằng giờ đây, trước trận địa mở, đương đầu với một tiểu đoàn Việt Minh, phải cần tới hai hay ba tiểu đoàn thuộc các lực lượng đã suy yếu và phân tán của tướng Navarre. Thực tế Navarre bám vào cuộc hành binh Sốp Nao, bác bỏ ý tưởng về hệ thống đội vệ tinh và một lần nữa từ chối Cogny về những trận tấn công vào Thái Nguyên và Chợ Chu,. những trận đánh này hợp lý hơn và một trận tấn công khác, ít tốn kém hơn, vào phủ Đoan Hùng. Những trận này, Navarre không tin là bởi vì ông cho rằng chúng không đủ mạnh để phá vỡ hệ thống của đối phương. Con người bí hiểm Navarre, đó chính là sự hoà trộn mật thiết giữa cái hợp lí và bất hợp lí.

Ngày hôm đó, còn một hi vọng nữa: giữa cơn mưa, Navarre bay lên Điện Biên Phủ, cùng với Cogny trên chiếc Dakota của tướng Lauzin, tư lệnh không quân của đạo quân viễn chinh. Castries, nhân dịp này, đeo đầy đủ các cuống huân chương, đã làm đúng thủ tục. Khi máy bay hạ cánh, lúc 11 giờ 30, một trung đội lính Marốc, đầu quấn khăn và đi những đôi ghệt mầu trắng của Tây Ban Nha, bồng súng chào. Trên vùng thượng du, trời đẹp. Navarre, người không thích những bữa ăn trưa kéo dài trong nhà ăn đã cùng chủ nhà chia vui trong một bữa ăn nguội mà ông cho mang từ Hà Nội lên. Sau đó, ông ngồi trong chiếc xe Jeep có tấm kính chắn gió lật ngửa xuống mũi xe, do Castries lái, cây gậy đua ngựa, đầu nhọn có mấu, dựng phía sau lưng. Đoàn người đi thăm các ngọn núi đã phát quang của Béatrice, ở đó trung tá Gaucher, chỉ huy bán lữ đoàn số 13 ngoại quốc, tiếp đón họ. To béo, hay càu nhàu, ít nói, dưới chiếc mũ kê pi lê dương, Gaucher trưng ra một khuôn mặt rộng của ông thầy tu hay soi mói. Những vách núi dốc đứng đã được bao bọc bởi hàng rào thép gai, người ta khống chế toàn bộ thung lũng, ở đó con sông Nậm Rốm trải dài những đoạn uốn khúc sáng loáng dưới chân những quả đồi tròn nằm ven sông về phía đông. Ở phía tây bắc, phía bên kia một dãy lô nhô những gò đống mà đội quân đồn trú không chiếm giữ, người ta nhìn thấy đoạn đồi dài mầu tím của Gabrielle. Ở đó người ta sắp cho đốn hạ cây cối, đốt hết bụi rậm, bởi lẽ người ta quyết định bố trí một điểm tựa mới với hơn một tiểu đoàn. Đối diện với sườn dốc nhộn nhạo, phủ đầy cây cối từ phía dưới dốc lên, nơi đó sẽ diễn ra các trận tấn công, tầm nhìn thoáng đãng hơn, nhưng địa hình bị chia cắt bởi những đoạn khe và lô nhô những đỉnh đồi hình chóp nón, xanh rờn chạy ngược lên đến tận những đỉnh núi cao nhất, địa hình ấy thuận lợi cho các cuộc thâm nhập và tiếp cận. Không hề gì? Trước khi nhảy chồm lên bộ ngực của Điện Biên Phủ thì cần phải chiếm được cái khoảng vai đất đỏ ấy, từ nơi đó đội lê dương sẽ khạc lửa và vãi đạn ra. Gaucher không phải là một nhà trí thức mà là một con lợn lòi tựa lưng vào những trận địa phòng ngự rắn chắc. Quân Việt sẽ không nuốt trọn anh ta mà không bị tắc cổ và những gì mà các khẩu liên thanh không hạ gục được thì đường đạn cầu vồng của súng cối và các nòng pháo 155 sẽ giải quyết.

Navarre dừng lại trong tư thế quen thuộc của ông, đầu hơi ngửa ra phía sau, hai tay chống lên hông, thân hình gói gọn trong bộ trang phục dã chiến bằng vải dầy, cắt xấu và đã nhàu nát trên đường đi. Các sĩ quan theo sau ông, đứng im lắng nghe những lời giải thích của Gaucher. Mũi hếch lên, đại tá Revol hít hà những mùi vị mà cơn gió từ hướng đông mang tới, ở hướng đó con mồi đang trú ngụ. Dưới chiếc mũ kê pi hơi hất ngửa về phía sau, Navarre mỉm cười, nhưng nụ cười chua cay này giống như một nét nhăn, còn lâu mới làm cho ông thư giãn, mà khiến cho khuôn mặt "con cáo" của ông co rúm lại. Ở đây vai trò của ông dừng lại ở chỗ nói ra điều ông muốn và không đi sâu vào những chi tiết. Thực tế Cogny giữ cương vị của một tư lệnh quân đoàn. Theo chương 412 của bản chỉ thị về cách sử dụng có tính chiến thuật các đơn vị lớn, Cogny phải xác định trận địa phòng ngự và chỉ rõ những phần đất nào phải giữ được bằng mọi giá. Castries, trên thực tế được coi như một sư đoàn trưởng: nhiệm vụ của ông ta là xây dựng kế hoạch phòng ngự. Navarre chỉ cần bổ khuyết những thiếu sót mà không phải lên lớp nghiệp vụ cho các cấp dưới. Ông đã quyết định đơn giản là giúp đỡ họ bằng cách cung cấp cho họ những chiếc xe tăng.

Một thông tin có tầm nghiêm trọng đặc biệt đã làm ông chú ý khi ông ở Hà Nội: sư đoàn 308 vượt qua năm mươi kilômét chỉ trong có hai ngày. Với tốc độ đó, sư đoàn này sẽ có mặt ở Điện Biên Phủ trong khoảng một tuần lễ. Liệu có ai còn nghi ngờ rằng đó là nơi tiến đến của sư đoàn ấy? Nhưng mà ai có thể khẳng định rằng đó là toàn bộ sư đoàn đang di chuyển chứ không phải là một bộ phận của nó? Trong trường hợp này, dựa vào những đánh giá đó, ngày 3 tháng mười hai, Navarre đã đi đến quyết định công nhận trận đánh vẫn luôn luôn đúng đắn và không có điều gì cho phép thay đổi, dù là nhỏ nhất, những biện pháp được áp dụng để đối phó với một sư đoàn duy nhất của đối phương, sư đoàn 316, kể cả nếu như nó được tăng cường tương đối lớn.

Giả thử số tiểu đoàn của đối phương có gấp đôi lên, và điều giáo lý vẫn tồn tại, người ta không thể rút bỏ mà không bị buộc tội là mất tinh thần: đối phương không thể tiến lên, và không một lực lượng pháo binh nào có thể yểm trợ cho họ mà không bị tiêu diệt. Mười hai tiểu đoàn của tập đoàn cứ điểm, không có chỗ cho những ai có dấu hiệu nao núng tinh thần. Mười hai tiểu đoàn này được bảo vệ bởi những khẩu đại liên và đại bác có thừa thãi đạn dược, phải chăng không đủ khả năng quét sạch và vô hiệu hoá mười hai tiểu đoàn Việt Minh? Không phải là nếu họ muốn đến được khu lòng chảo sẽ phải phơi mình ra trước hoả lực của quân đồn trú hay sao? Nếu thế, ai dám phản bác Navarre nào? Tay pháo thủ Cogny có thể phản đối điều gì nào? Bản thân Castries sẽ phản đối điều gì đối với cuộc phiêu lưu mà người ta buộc ông phải tiến hành trong vùng Sốp Nao, trong lúc thậm chí ông chưa đến được Mường Pồn? Ông phải là người kỵ sĩ vượt qua những khoảng rộng lớn của vùng thượng du, cái định nghĩa lãng mạn của một vai trò khó mà gánh vác nổi, cái định nghĩa mà Navarre khẳng định tầm quan trọng bằng cách gạt bỏ những ý kiến phê phán của Castries.

Một phi công hỏi liệu người ta có nhận thấy những ngọn núi khống chế Isabelle hay không? Người ta trả lời rằng đã cử một đội trinh sát, đội này đã phải mất hai mươi bốn tiếng đồng hồ để tới được những đỉnh núi gần nhất và bằng ấy thời gian để quay về. Ở trên cao đó, có lớp cỏ voi che khuất hoàn toàn mọi tầm nhìn. Không. Không có mối nguy hiểm nào đến từ phía đó.

Ra đi lúc 17 giờ, Navarre đã không xem xét bất cứ ý kiến nào của Cogny, còn Cogny thì vẫn không rời bỏ cái ý tưởng về hệ thống vệ tinh của mình, cái ý tưởng sẽ "du cư hoá" cuộc sống ở xung quanh Điện Biên Phủ (động từ này đã được ưa thích trong bảng từ vựng quân sự). Ông này cũng như ông kia vẫn luôn nghĩ là mình có khả năng hoạt động. Các viên tướng không bao giờ bước xuống khỏi những con quái vật mà họ đã cưỡi lên một cách dễ dàng đến như vậy.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #36 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2008, 09:06:24 pm »


Ngày 23 tháng mười hai 1953


Tuyến liên lạc về hướng Sốp Nao, Bigeard đã đánh giá là: "Trò lừa bịp". Và thực tế mãi mãi không một ai hiểu được nó nhằm mục đích gì. Tiểu đoàn lê dương ngoại quốc số 3 đã đến được Mường Khoa sau hai mươi mốt ngày đi bộ xuyên qua các con đường mòn của nước Lào và cô gái dũng cảm Brigitte Frang, người đã nhảy dù xuống đầu họ, đã mô tả họ với những bộ mặt của những người sống trong trại tập trung. Viên thầy thuốc trẻ tuổi của họ sụt mất mười ki lô. Nhiều người sốt thương hàn đang hấp hối.

Cùng với họ, Brigitte Friang đã tiếp tục tiến lên qua những đêm trăng tròn, vượt qua những con sông bằng thuyền độc mộc giữa bầy ngựa thả cho bơi sông, ngụp lặn trong những khe sâu, trượt xuống những dốc núi nhớp nháp bùn nước, dùng điếu thuốc lá đốt cháy những con đỉa để chúng nhả ra, nằm ngủ trong những túp lều bỏ hoang hoặc trên nền đất đen kịt của những đám cháy rừng. Né tránh những bản làng, các thung lũng mà quân Việt có mặt ở đó, các tiểu đoàn của Vaudrey cuối cùng đến được những túp lều của Sốp Nao nằm lọt thỏm trong vòng tròn núi đá.

Buổi chiều ngày hôm đó, họ bắt gặp bộ phận của Langlais. Langlais, một bên mắt cá chân bị đau, và Vaudrey vừa bắt tay nhau vừa nâng cốc uống một ngụm rượu "Rum" trước ống kính quay phim. Brigitte Friang tiếp tục đi cùng các bạn mình ở đội xung kích số 8 do đại úy Tourret, đồ đệ trung thành của Bigeard, dẫn đầu, vượt qua những con suối lớn lội nước đến ngang bụng, những đoạn đường mòn sũng nước và lớp cỏ cao nghẹt thở. Viên thầy thuốc của tiểu đoàn, trung úy đẹp trai Patrice de Carfort, bản thân anh ta cũng bị sưng một mắt cá chân, bình tĩnh phân phát cho những người đổ gục những mũi tiêm, những viên thuốc muối và dầu thơm. Buổi tối, người ta tìm cách hong khô quần áo bằng những đống lửa nhỏ, không dám thổi cho bốc to. Có một phóng viên nhiếp ảnh Mỹ mới đến hôm qua tên là Dixie Reds, bằng máy bay Morane mà Castries đã cho đến chở thương binh. Anh phóng viên tiếp tục đi, một cách ngang tàng, với đôi giày da bóng lộn, chiếc quần dài thành phố và cà vạt trong cuộc hành quân nhọc nhằn, chiếc xà-cột của anh ta chất đầy những cuộn phim và một chai rượu Bourbon đã uống cạn.

- Cái đó chứng minh điều gì? Langlais đã bảo tôi. - Không có tuyến liên kết nào được thực hiện. Cuộc hành binh Sốp Nao là cuộc hành binh để đưa tin. Chuyện vớ vẩn. Cần phải để cho người ta nghĩ là Điện Biên Phủ không bị bao vây. Tôi đã rất vất vả để phát hiện trong tất cả những người Thái và người Mẹo của chúng ta một người dẫn đường tồi cho một nghìn hai trăm con người, trong lúc lẽ ra cần phải có ai người dẫn đường tốt cho một đại đội. Trong cơ quan tham mưu ở Sài Gòn, người ta không hiểu vì sao tôi không sử dụng những con đường đẹp đến vậy được vạch màu đỏ trên các tấm bản đồ. Đây không phải là vùng Beauce(1). Thiếu những cột chỉ đường. Nếu như phải tác chiến, tôi sẽ bỏ một tiểu đoàn phiêu lưu mạo hiểm. Tôi chọn cách chơi trò ú tim với quân Việt và né tránh những đoạn đường hẻm núi vì ở đó đoàn ngựa thồ vất vả mới qua được sẽ bị chẹn cổ; tôi đã chọn việc mở đường mòn bằng dao phát rừng. Vả lại Castries không đồng ý là tôi đi mở tuyến liên lạc đó với nước Lào nhưng ông đã phải tuân lệnh. Rừng rậm ư? Trong toàn bộ đạo quân viễn chinh chỉ có hai tiểu đoàn đã thực hành tác chiến ở đó: các tiểu đoàn của Bigeard và Bréchignac. Chúng tôi đã mệt lử ở đó và đã không thể nào khiêng đi theo trên cáng dù chỉ là một người. Nếu nắm vững cuộc chiến tranh trong vùng này hẳn ai đó đã không thể ra những chỉ lệnh như vậy...

Đám mây mù của Cogny, người đã có thể tạo ra nó, khuấy động nó, làm cho nó trở nên đáng sợ ư? Quân việt sẽ quét sạch đám mây mù ấy trong vài ngày. Điều này cũng vậy, than ôi, chắc chắn là như vậy, đây là một cách nhìn không tưởng. Bản thân Langlais cũng quên rằng ông đã từng có thời điểm định quay trở về thông qua dãy núi đá vôi của bản Na Tí để tuân theo những mệnh lệnh nhận được. Và rằng ông đã tranh cãi gay gắt với Tourret vốn kiên quyết thuyết phục ông quay về theo đường thẳng, lên núi và xuống đồi.
_________________________________________
1. Beauce: thuộc ngoại ô Paris là vùng đồng bằng phẳng có một sổ ngọn đồi thấp. - N.D
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #37 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2008, 09:11:08 pm »


Ngày 24 tháng mười hai 1953


Tin lớn của cái đêm hôm mà Navarre đã thông cảm ngủ lại ở Điện Biên Phủ không phải là tin tốt lành. Viên trưởng phòng Nhì của Cogny, người đã báo tin bi quan đó cho cơ quan tham mưu của Sài Gòn, thậm chí cũng không thể tự khen mình là đã nhìn đúng: sư đoàn 308 đã có mặt ở đây, và sự có mặt của nó ở phía nam khu lòng chảo treo lơ lửng mối đe dọa một cuộc chặn đứng hai tiểu đoàn từ Sốp Nao quay về.

Có đại tá Revol im lặng đi bên cạnh, Navarre đến đây lúc chiều với vẻ mặt "chua như dấm" cùng tiểu đội lính dù bảo vệ. Những người hiểu ông khen ông về tính giản dị và dễ dãi, nhưng nhất trí với nhau về nỗi vất vả mà ông cảm thấy khi phải tỏ ra tự nhiên trong các mối quan hệ đám đông tạo ra ở ông một sự nhút nhát vụng về nào đó, làm cho ông lúng túng. Navarre chui vào sở chỉ huy cùng với Castries và người ta đã không trao đổi với nhau những ý kiến dễ chịu. Rõ ràng, giữa Castries và ông không có sự hoà hợp, và người ta tranh cãi thẳng thừng về cuộc họp các chỉ huy đơn vị và các sĩ quan đã được quyết định triệu tập vào lúc sẩm tối. Những ý nghĩ nào nung nấu trong ông vào cái giây phút mà ông phải truyền cho những người lắng nghe mình một bầu nhiệt huyết nào đó? Có lẽ ông không muốn biết đến những ý nghĩ nào khác ngoài những ý nghĩ ông đã thổ lộ ở khách sạn Caravelle: "Những điều kiện quân sự của chiến thắng đã hội đủ!". Ấy vậy mà, ông biết rằng sư đoàn 308 đang tiến về phía ánh sáng của tập đoàn cứ điểm. Theo Castries, có lẽ ông nói: "Các bạn chiến đấu vì Điện Biên Phủ..." điều đó có vẻ không thật rõ ràng.

Điều còn nhớ được từ bài phát biểu của đại úy Capeyron thuộc bán lữ đoàn lê dương số 13, đó là cuộc chiến tranh sắp chấm dứt nếu như chính phủ giữ lời hứa đã nói với Navarre. Đại úy Capeyron và rất nhiều các sĩ quan cùng với anh sẽ cảm thấy hơi bị thương tổn, nếu như trận Điện Biên Phủ chỉ là một trận thắng có tính chiến lược, giành được trong những lĩnh vực cao cấp của các cơ quan tham mưu, bởi những bộ óc tinh tế, mà không có việc những con người trực tiếp chiến đấu đã băm nát đối phương giữa hàng rào dây thép gai. Các đồng đội và bản thân anh sẽ cho là mình bị tước đoạt quyền sở hữu bởi cái kết cục bất thường của cuộc chiến tranh lạ lùng này. Capeyron sẽ phải trở về nước Pháp vào tháng năm sang năm. Nếu vậy, tháng tư anh sẽ đi Hà Nội, ở đó mười lăm ngày trước khi xuống tầu thuỷ. Đây là một con người giản dị, sáng suốt và không thiếu tính hài hước. Anh đến với đội lê dương sau một thời tuổi trẻ phiêu lưu. Anh ba mươi chín tuổi, một giọng nói dịu dàng và đôi mắt xám dưới một mái tóc rậm màu nâu. Anh vừa mới trở về tiểu đoàn, tay chống gậy vì anh bị thương khi tham chiến ở vùng đồng bằng.

Khắp nơi, trong những giao thông hào và những căn hầm, tiếng hát cất lên. Đội quân lê dương biết cách ăn tết Noel: theo truyền thống, mỗi binh sĩ nhận được quà tặng từ tay đại đội trưởng hay trung đội trưởng; mỗi sĩ quan nhận được quà tặng từ tay anh em trong đơn vị.

Lúc mười giờ tối, buổi lễ cầu nguyện diễn ra gần sở chỉ huy, ở đó một cây thông Noel đột nhiên rực sáng lên trong bóng tối. Một bàn thờ được dựng lên trước mặt mái lều tròn của nhà nguyện, dưới những chiếc dù lớn đủ màu sắc, xung quanh bàn thờ là những bó đuốc lửa bập bùng trước gió. Trăng chưa lên nhưng ở phía đông, sau lưng mảng tối sẫm của rặng núi, bầu trời đã mờ sáng. Đầu cúi xuống, đôi mắt tư lự môi hơi trễ xuống, Navarre đứng thẳng trên hàng đầu, hai bên là Castries và Revol, một chiếc áo varơi vải dầy khoác ra ngoài báo bludông, bởi vì trời lạnh. Tóc cắt ngắn, đôi mắt long lanh dưới hàng lông mày rậm, cằm và mũi đều nhọn, đối với Castries chỉ còn thiếu một chiếc áo choàng khoác vai là hoàn toàn giống một anh lính thày tu. Nhìn thấy họ đứng im trong giây phút để cầu nguyện, vây quanh một ông chủ lớn cay nghiệt và quá tỉ mẩn, có dễ người ta nghĩ đến những hiệp sĩ dòng Temple thô thiển và lắm mồm nếu như Paule Bourgeade, nữ thư ký xinh đẹp của Castries không đứng ở đầu hàng đằng kia, đôi môi tô son đỏ, mặc bộ quân phục thô kệch. Phải chăng cô ta là một trong số những thiên thần mà những con người cần đến? Hai cánh tay bắt chéo, mặt hướng lên phía bàn thờ, cô ta không lường được phạm vi rộng lớn của cuộc phiêu lưu đang bắt đầu.

Một bài hát cất lên, Stille Nacht, heilige Nacht, mà những người tốt giọng nói tiếng Đức tung vào màn đêm, giữa những tiếng đạn súng cối vang lên phía xa xa, tựa như những tiếng trống lễ thiêng liêng.

Nếu như người ta có thể nghĩ là mình đang sống trong vương quốc đích thực của Jérusalem, đây là một buổi lễ nguyện của các hiệp sĩ nước Đức, bởi lẽ bài đồng ca O Tannenbaüm nối tiếp bài Stille Nacht. Lúc dâng bánh và rượu lễ, trong khung cảnh im lặng uy nghi, hai loạt đạn liên thanh nổ giòn và một chuỗi những vệt lửa đỏ vọt lên phía các ngọn đồi. Sau lễ chúc phúc, cử tọa tản ra. Navarre nói lộ ra là chẳng bao lâu nữa chiến tranh có thể sẽ kết thúc. Vị tổng chỉ huy chủ trì bữa ăn đêm ở chỗ Castries. Gaucher đến chậm, hơi chếnh choáng, và kể lại các trận đánh của mình. Navarre, khó chịu, rút lui nhanh. Trong nhà ăn tập thể của sĩ quan đội lê dương, bốn người uống cạn một chai sâm banh. Giọng trò chuyện cao lên, khắp nơi người ta hát các bài Lily Marlène và Anne Marie. Một đám sĩ quan tràn vào sở chỉ huy của Castries, lúc này mặc chiếc áo gilê màu đỏ, có hàng cúc mạ vàng. Castries mời họ uống rượu. Một tay tiểu đoàn trưởng cao lớn, hơi ngang tàng, tiến về phía Castries.

- Anh biết không, quân lê dương vốn không thích gì lắm đám kỵ binh, nhưng mà anh, người ta hiểu anh. Thế thì...

Anh ta tháo chiếc huy hiệu của bán lữ đoàn số 13 trên ngực mình và gài vào vùng trái tim của Castries trong tiếng vỗ tay rào rào.

- Thế đấy, thưa đại tá! Không thể nói gì hay hơn với đại tá.

Người phóng viên được chứng kiến quang cảnh này đến từ Hà Nội trên một chiếc Dakota, chở đầy những chiếc quan tài của cơ quan hậu cần, bao gồm những tấm ván gỗ rời, sẵn sàng để ghép lại.

Cách đó hai mươi kilômét, giữa rừng rậm, Langlais và Tourret ăn tết Noel bằng một ca cà phê hâm nóng, trên ngọn lửa của một ngọn nến, dưới gầm một nhà sàn đổ nát, với hi vọng ngày hôm sau sẽ quay về được Điện Biên Phủ, thoát khỏi đối phương mà những dấu vết còn mới toanh họ chỉ nhìn thấy ở khắp nơi.

Trong tất cả các nhà nguyện và các ngôi nhà thờ ở Đông Dương, các giáo sĩ Pháp và các linh mục Việt Nam chuẩn bị các máng cỏ, đặt vào đó những bức tượng thánh nhỏ, rắc lên những cây thông và chiếc mái gianh một chút tinh thể đường ngọt. Buổi đêm, một đám tín đồ công giáo khiêm tốn và nhiệt thành, chen đầy trong các nhà thờ, lầm rầm cầu khấn, van xin, hát nguyện, xen giữa tiếng hét của đám trẻ con; những người lính lê dương, lính dù mặc bộ quần áo rằn ri, các sĩ quan của đạo quân viễn chinh, họ cũng thế, tiến lại gần bàn thờ Chúa. Chiến đấu cho thế giới phương Tây ở đó một con người đã được dạy dỗ phải có tình thương, công bằng và tình yêu, họ cần có niềm động viên này bởi lẽ cuộc chiến tranh xa xôi này đôi khi bao trùm lên đầu họ những câu hỏi mà họ không dám hoặc không biết cách trả lời ra sao: đối phương không hề biểu lộ tình thương, mọi cử chỉ của chính họ bị rình mò, mọi ý kiến của họ bị lặp lại, mỗi bước chân của họ đều có thể dẫn họ tới cái chết. Trong cái cộng đồng đột nhiên gắn kết họ với một dân tộc mà họ không hiểu được ngôn ngữ, có một lúc họ không còn cái cảm giác cay đắng là những người ngoại quốc, trong cộng đồng ấy có số ít người không mong muốn họ ra đi: chính bản thân phần lớn tâm lý những người công giáo, quá ư sợ hãi vì mình đã đến gần chủ nghĩa cộngsản, biết rằng nước Pháp rồi sẽ ra đi và mong muốn rằng nước Pháp không bị bắt buộc phải làm việc đó sớm hơn thời hạn người ta nghĩ.

Trong các nhà ăn tập thể và trong lời thầm kín của các lễ xưng tội, các ý kiến chuyển theo một chiều hướng khác với thói quen. Mỗi người có cảm tưởng rằng ở Điện Biên Phủ đang chuẩn bị diễn ra một trận đánh quyết định số phận của cuộc chiến tranh. Bầu không khí bao trùm toàn bộ xứ Bắc Kỳ nói rõ điều đó, không còn gì phải nghi ngờ: Cỗ máy mà hai bên tung ra vượt quá tất cả những gì mà cho đến lúc này người ta chứng kiến, và các nhà báo lên thăm trận địa về đều nói như vậy. Điều làm mọi người kinh hãi, đó là chặng đường ba trăm kilômét giữa Hà Nội và Điện Biên Phủ và rằng cần phải chuyển lên đó qua chặng đường ấy, những con người, những khẩu đại bác và kể cả những bao thuốc lá và lượng máu dự trữ. Ấy vậy mà, mùa thời tiết sắp đến sẽ không thuận lợi cho việc sử dụng không quân. Vị tổng chỉ huy đã có sự lựa chọn này không chiếm được lòng tin: cho đến giờ phút này, ông ta chưa có gì nổi bật trong cuộc đời binh nghiệp; người ta thấy ông lạnh lùng, xa cách, vụng về trong việc điều khiển con người, không biết nói những câu mang tới niềm hy vọng hay kích thích năng lực của mọi người. Ông ta không bám vào được Người ta còn chưa dám thú nhận rằng ông ta đã ôm lấy gánh nặng quá sức, tuy nhiên, nếu như chiến thắng mỉm cười với ông thì ông sẽ trở thành người chỉ huy có uy tín nhất Đông Dương; lúc đó, mọi khuyết điểm sẽ giúp cho ông trở nên hấp dẫn và người ta tha thứ cho ông tất cả nếu như, con cáo biết cách đánh bại con hổ, ông bắt buộc tướng Giáp phải quỳ gối.

Buổi tối hôm đó, có bài nói nào dành cho những con người mà Navarre quyết định ném vào một khu lòng chảo, khu lòng chảo mà các sư đoàn của Việt Minh cũng đang lao tới. Nói chuyện hoà bình với những con người đang buộc phải tiến hành chiến tranh, nói chuyện rút bỏ với những người mà nghề nghiệp là không lùi bước và hiện không có được sự lựa chọn nào khác, thử hỏi có ai làm được việc đó. Ấy vậy mà những ngôi sao, những người chăn cừu, đàn cừu của xứ Bethléem(1) không khác gì lắm đàn trâu, những người Mẹo vùng núi và những ngôi sao của Điện Biên Phủ. Tất cả cần có một đấng Cứu thế. Những cánh cửa vĩnh cửu trên trời, chúng chỉ mở ra cho một ông vua của sự thật và công bằng.
___________________________________
1. Bethléem: Thành phố của Palestine (Jordanie) nơi sinh của chúa Jêsus - N-D
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #38 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2008, 09:35:24 pm »


Ngày 25 tháng mười hai 1953


Liệu đây có phải là một hậu quả của chuyến thăm cuối cùng Điện Biên Phủ của ông chăng? Đột nhiên, ở Navarre, giọng điệu thay đổi. Người ta phát hiện thấy trong giọng điệu đó những rung động của một sự nghiêm trọng mà không có dấu hiệu gì báo trước. Liệu có phải ông bị bất ngờ vì tính chính xác của những dự đoán của phòng Nhì của Cogny về những di chuyển của các sư đoàn Việt Minh? Ý tưởng rằng mình có thể mắc sai lầm liệu có nảy sinh trong ông? Đối với Navarre, quyết tâm của đối phương cuối cùng đã lộ rõ trong bản báo cáo về tình hình mà trưởng phòng Nhì của chính ông đệ trình lên: tướng Giáp tập trung quân số và các phương tiện quan trọng, và cụm từ “những phương tiện cơ giới" xuất hiện cả trong những bản thông báo được giải mã.

Mối đe doạ này, đây là lần đầu tiên Navarre nhận biết được tiếng vang sấm rền của nó. Vào thời điểm này, ông đã phải thừa nhận là căn cứ không - lục quân ở Điện Biên Phủ đã bị bao vây tứ phía. Lính Tabor của cứ điểm Isabelle không còn tới được bờ sông Nậm Nưa nữa, cũng như quân lê dương của cứ điểm Béatrice đã không còn có thể mạo hiểm trên con đường dẫn ngược lên bản Nà Lòi, và trung tá Louis Guth, tham mưu trưởng của Castries đã bị giết chết, ngày 28 tháng mười hai, bởi một phát đạn trong một khe núi, trong cuộc trinh sát địa hình vùng xung quanh Gabrielle, lúc sẩm tối. Các tiểu đoàn ở Sốp Nao may mắn thoát khỏi được sư đoàn 308. Điện Biên Phủ, giống như đã bị bao vây. Liệu có ai còn dám tin vào điều trái ngược? Thậm chí người ta không còn thấy có cách nào để đánh bật các vũ khí nặng mà người ta phát hiện được trong vùng ven các dốc núi gần nhất. Với hệ thống bố trí có chiều sâu của đối phương, sẽ là sai lầm nếu nghĩ đến việc tung một đội quân xuyên qua rừng rậm để tiến công một cụm pháo binh.

Việt Minh không chỉ bằng lòng với việc tràn ngập vùng thượng du. Họ triển khai về vùng giữa sông Mékong tựa như họ có ý định chia cắt nước Lào làm đôi. Thái lan đã ban bố tình trạng báo động trên chín tỉnh phía bắc và đông bắc, Thà Khẹt bị quân ta rút bỏ và cuộc hành binh Atlante, được dự tính từ tháng sáu, hình như tỏ ra đúng đắn để ngăn chặn cuộc tiến công của đối phương. Điện Biên Phủ, tạm thời lúc này, được ưu tiên số một trong nỗ lực, nhưng những lực lượng dự bị quan trọng sẽ được rút đi ở khắp nơi để đương đầu với tình thế chung. Cũng như các vùng khác, xứ Bắc Kỳ sẽ phải cung cấp phần đóng góp và Cogny lo lắng vì chuyện đó.

Khai thác các thông tin có trong tay, Navarre cho tấn công vào các tuyến giao thông. Ngày 25 và 26 tháng mười hai, hai mươi ba máy bay khu trục ném hai mươi ba tấn bom xuống một trong những nút giao thông được dự kiến, nút Mercure. Ngày hôm sau, việc thông thương của đoạn đường đó được tái lập.

Từ Sài Gòn, nơi ông quay về vào ngày Noel, sau một chặng dừng chân ở Séno, ở đó ông xuất hiện trong cảnh hoảng loạn, Navarre đã gửi cho Cogny những ý kiến nhận xét qua một bức điện. Ông đã nhận thấy một hệ thống bảo vệ quá yếu chống lại hoả lực pháo binh, hệ thống hàng rào dây thép gai không đủ dày và quá ít mìn và bẫy sập. Ông thấy ngạc nhiên vì điểm tựa phía bắc Gabrielle được coi là cần thiết lại vẫn chưa được bắt đầu xây dựng và cuối cùng tình hình chính trị tạo ra bởi việc lập lại chính quyền của Đèo Văn Long đã có những tác động xấu tới việc tuyển mộ dân binh.

Thực tế, nếu như một số căn hầm chất lượng kém, lỗi đó vừa do tư tưởng coi thường đối phương và cách làm cẩu thả cũng như vừa do vật liệu xấu mà người ta sử dụng. Để chịu đựng được thử thách của một quả đạn pháo 105, một căn hầm phải được chống đỡ bởi hai xà ngang bằng thân gỗ tròn đường kính mười lăm xăngtimét, nằm dưới một lớp đất dày một thước, và trên lớp đất là một lớp đá để kích cho đạn nổ. Do vì không có đá ở trong thung lũng, người ta thay thế chúng bằng những mảnh ghi sắt sân bay, những viên gạch thu gom được hoặc những bó cành cây, những thứ này dù sao có cũng hơn không, giúp cho việc thoát nước. Gỗ tươi của các thân cây tạo thành lớp bảo vệ rất kém vì tình trạng thiếu an ninh thường ngăn trở việc đốn hạ cây trong rừng. Về sau, Cogny khẳng định là đã cố gắng tối đa, tính đến các phương tiện và thời gian: có nghĩa là đã làm hết sức.

Liệu Cogny có mong muốn trận đánh ở Điện Biên Phủ, như ông đã tuyên bố ngày 30 tháng mười hai với đặc phái viên của hãng United Press, hay là ông muốn đánh lừa đối phương bằng cách làm ra vẻ mong muốn nó. Sau khoảng cách mười năm, nói như thế nào đây? Điều bất hạnh, đó là không có một ai đã từng yêu cầu Cogny có những tuyên bố và rằng những tuyên bố duy nhất mà người ta có được từ miệng ông vào thời kỳ đó đều ủng hộ trận đánh này. Cái mà người ta có thể giữ lại như một tài liệu hoàn toàn không có tính sao chép, đó là bản báo cáo sai lệch của viên tướng thanh tra của pháo binh thuộc đạo quân viễn chinh, hai hôm trước đi cùng Cogny lên Điện Biên Phủ; báo cáo này là lời khẳng định dành cho Castries rằng khối lượng pháo binh ở Điện Biên Phủ là đủ và lời kết luận rằng đối phương không thể nào nã pháo vào ban ngày và lúc thời tiết quang đãng.

Đây là điều khoản chủ yếu trong bản hợp đồng được thông qua, ngày 29 tháng mười hai, gần như là trước mắt công chứng viên, với sự hiện diện của viên phó tướng của Navarre, cùng Cogny, giữa đại tá De Castries và viên tướng tư lệnh các lực lượng không quân. Không quân yêu cầu duy trì hoàn hảo tình trạng của đường băng và bảo vệ nó chống lại những phát đạn bắn thẳng khiến nó không thể sử dụng được. Việc củng cố trên hướng bắc cứ điểm Gabrielle vốn đảm bảo trục cất cánh và những đường lượn tròn thả dù, việc ngăn cản tuyệt đối không cho đối phương bố trí các cụm pháo cao xạ trên các ngọn núi hay trong lòng chảo là cần thiết. Không quân yêu cầu người ta buộc phải tấn công các khẩu pháo đối phương, nếu như có và rằng người ta phải bảo vệ khu đỗ các máy bay khu trục và các đài thông tin của không quân. Đổi lại không quân cam kết mỗi ngày chuyển lên Điện Biên Phủ ít nhất một trăm tấn bom đạn, sẽ yểm trợ hệ thống phòng ngự bằng hoả lực trực tiếp và gián tiếp của mình, bằng những chuyến bay trinh sát và hệ thống đài quan sát của mình. Cuối cùng không quân nhận được lời đảm bảo rằng, nếu như có sự cố làm cho đường băng không sử dụng được, sự cố đó sẽ chỉ kéo dài trong vài ngày. Lo lắng đến việc giúp đỡ Castries phát hiện những cụm pháo của đối phương, tướng Lauzin đã đề nghị sử dụng một quả bóng quan sát, hình thù như chiếc dồi lợn mà người ta sẽ chi phí lớn để mang từ Versailles đến; quả bóng này được thả lên trên lớp mây đôi khi che kín cả khu lòng chảo. Cái chiến cụ thời tiền sử chắc chắn sẽ nhanh chóng bị bắn rơi này, sẽ kiểm soát các ngọn núi khi các máy bay không thể cất cánh được. Ý tưởng này không được thực hiện.

Trong bản chỉ lệnh ban bố ngày hôm đó, Navarre cố gắng không để lộ ra chút gì tâm trạng bi quan đang xâm chiếm tâm tư ông. Ông đã chấp nhận trận giao chiến trên vùng thượng du; nếu như lúc này ông thấy hối tiếc về chuyện đó, ông không phải là con người lúc nào cũng tranh cãi về các trách nhiệm của mình, lại càng không phải là người chối bỏ những trách nhiệm ấy. Suy nghĩ lại cái quyết định mà ông bắt đầu tin là nó bất hạnh, ông tự khen mình về việc đó và nhắc lại rằng ông muốn thắng cuộc. Không phải ông không biết rằng, trong những hoàn cảnh đôi khi bắt buộc các vị tướng phải giao chiến phần lớn đều có chuyện rủi ro, nhưng mà không có cái gì mất đi khi toàn bộ còn chưa mất và những biến cố bất ngờ hoặc những việc làm liều lĩnh đôi khi lật ngược thế cờ.

Do ông có nghĩa vụ phải dự kiến mọi chuyện và rằng cái tốt nhất đã được xem xét đến còn cái xấu nhất là vấn đề còn phải nghiên cứu. Vậy là ông nêu ra giả thiết rằng trận đánh, mắc sai lầm do bởi những phương tiện rất mạnh mà đối phương lần đầu tiên tung ra, không biến chuyển theo chiều hướng thuận lợi cho ông vì pháo binh chặn đứng không cho máy bay hạ cánh và rằng pháo cao xạ bóp nghẹt căn cứ. Ông bèn yêu cầu Cogny và đại tá Crévecoeur hết sức bí mật, để cho những người tình cờ sẽ thực hiện kế hoạch đó không biết được, soạn thảo một cuộc hành binh mà ông đã đặt tên là Xenophon, để trường hợp mà đội quân đồn trú trong cứ điểm có vẻ sắp bị tiêu diệt, người ta sẽ phải tiến hành sơ tán họ.

Như vậy, mọi việc đã rõ. Không một ai còn có thể cho là mình nhầm hoặc nhận được thông tin sai lệch. Đối với xứ Đông Dương, năm mới sắp bắt đầu có tất cả những cơ may giống như hiệp đấu cuối cùng của một trận đấu quyền Anh, hạng cân trung bình: sau rất nhiều cú tránh đòn, cả hai đối thủ đã lần lượt bước ra khỏi tấm thảm và lấy lại hơi thở trong góc đứng của mình, chuẩn bị để lại nhảy chồm vào nhau một lần nữn. Cho đến lúc này, các trọng tài cho điểm không. Hiệp đấu cuối cùng sắp kết thúc trận đánh.

Cần phải thừa nhận cho tướng Henri Navarre một việc làm đáng khen kỳ lạ: đó là việc không sợ lời phản cung của các cấp dưới trực tiếp khi họ nhìn thấy trước thất bại. Ông còn đi xa hơn nữa tới đâu đây? Chắc chắn, ông viết rằng ông chỉ chịu rút bỏ các đơn vị ở Điện Biên Phủ vào giây phút cuối cùng, nhưng không một ai trong số người vây quanh ông lại có thể tán thành cách nhìn bi quan ấy. Càng có lí do hơn, không một ai có thể tin vào những cách nhìn đã bị gạt bỏ, kể từ khi việc sư đoàn 308 có mặt đã chặn đứng mọi ý định rút chạy. Giống như César ở Avaricum, giống như Condé vĩ đại đứng trước Lérida, Navarre nghĩ rằng tình thế có nguy cơ xoay chiều về hướng thảm bại. Rằng phải chăng ông đã không có đủ can đảm để thách thức nhiều hơn nữa những con người đang cho rằng, đối với tướng Giáp, họ chỉ ngoạm một miếng là xong, những con người tỏ ra bất bình rằng người ta thậm chí dám nghi ngờ thắng lợi? Rằng phải chăng ông không quyết định để rút chạy? Sự có mặt của sư đoàn 308 đã làm rắc rối mọi việc và việc rút chạy các tiểu đoàn sẽ diễn ra không phải không có tổn thất, nhưng mà pháo binh đối phương vẫn còn chưa vào vị trí và nó sẽ bị dập đầu nếu để lộ các trận địa của mình. Ngày 10 tháng mười hai rút lui thì cũng còn chút ít cơ may không rụng lông gẫy cánh, nhưng dù sao vẫn là còn. Duy có điều, cuộc hành binh sẽ là một cuộc tháo chạy tán loạn, uy tín của Navarre vì thế sẽ bị lu mờ và nhất là, cái dẫn chứng rằng trận thắng là một miếng mồi nhử đối phương kéo tới sẽ không bao giờ có được.

Navarre chắc chắn sẽ không nghe theo lập luận này. Ông chỉ có lòng tin rất hạn chế đối với ý kiến của Cogny và trái ngược với tất cả những ai coi thường nó, ông nể sợ pháo binh của đối phương. Nếu như ông quyết định không rút chạy, đó là vì, bất chấp tâm trạng bi quan làm cho nét mặt ông u ám, ông tin vào thắng lợi. Vả lại, sẽ là không hiểu gì về những con người và những ý nghĩ đang chế ngự họ khi giả định là mọi việc sẽ diễn ra đơn giản đến thế. Không có chuyện gì thay đổi bởi con số của một năm mới chao đảo trong tiếng lốp bốp nhỏ của những nút chai sâm-banh làm yên lòng mọi người. Dù cho đôi khi mù quáng và ngớ ngẩn đến đâu, những con người vĩ đại trông bề ngoài như đang xem xét, suy nghĩ và đám tùy tùng đặt lòng tin vào họ. Khi mà nỗi bất lực của người chỉ huy trở nên hiển nhiên, lúc đó chỉ cần có chút ít sự việc để khiến cho các biến cố, tựa như dòng nước tìm kiếm độ dốc của nó, chảy về hướng của số mệnh hay của nỗi bất hạnh.

Ở Điện Biên Phủ, chưa có con bài nào tung ra. Sự thông minh tỉnh táo vẫn còn nằm trọn ở hai phía, giống như ở những võ sĩ quyền Anh trong tư thế cảnh giác, rình đợi giây phút mà đối thủ sơ hở.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #39 vào lúc: 09 Tháng Tư, 2008, 05:56:47 pm »


III

CÁI BÔ


                                               Pháo binh của cứ điểm, ngược lại, được bố trí
                                               bên trong chiều dày của lớp vỏ bọc, lớp này sẽ cực kỳ dày và
                                               ở khắp nơi đều nằm thành hai tầng. Cần phải bắn thật thẳng mới
                                               phá huỷ được nó, và đó sẽ là việc bất khả thi, bởi lẽ chỉ có miệng
                                               nòng pháo là nhô ra ngoài bức tường thành...


                                                                                               Hoàng tử De LIGNE


                                               Đã chứng minh được rằng một đội quân có thể đi qua
                                               nơi mà một con dê đi qua; thậm chí với những sợi dây thừng người ta
                                               có thể chuyển các khẩu đại bác lên những ngọn núi cao nhất, bố trí ở
                                               đó những trận địa bằng phẳng và đốn hạ những cây cối che phủ đỉnh
                                               núi từ thời sáng tạo ra thế giới, tiêu diệt một khu trại quân địch vốn
                                               không chờ đợi một trận mưa đạn từ trên mây trút xuống.


                                                                                               Hoàng tử De LIGNE




Ngày 1 tháng giêng 1954


Khi Cogny tới Điện Biên Phủ ngày 29 tháng mười hai, ông đã phải lượn tròn hơn một tiếng đồng hồ trên khu lòng chảo rồi mới có thể xuyên qua lớp mây và hạ cánh: vùng trời bay đã bị cản trở. Một cơn mưa phùn nặng hạt đã bao trùm vùng đồng bằng. Nước mưa làm bóng loáng mặt đường, chảy xuống từ các mái nhà, làm mờ mịt mảng kính chắn gió của xe tô và giải ven bờ hồ Hoàn Kiếm ở Hà Nội. Trên các căn cứ không quân, các phương tiện kỹ thuật dẫn đường thiếu thốn đến nỗi mỗi lần cất cánh phải cách quãng mười lăm phút. Với nhịp điệu này, nếu như trời không hửng lên một chút vào khoảng giữa trưa thì cần tới mười tiếng đồng hồ để cho cất cánh được bốn mươi chiếc Dakota cần thiết cho việc duy trì cuộc sống ở Điện Biên Phủ. Ngày hôm ấy, các phi công đã có thể chuyển tới chỗ mà kể từ nay phải gọi là trận địa hầm hào chứ không còn là một căn cứ tác chiến tấn công và phòng ngự, đơn vị bộ binh cuối cùng mà ở đó người ta chờ đợi: tiểu đoàn số 5 của trung đoàn bộ binh người Algérie số 7, đơn vị cuối cùng được chỉ định để chiếm giữ Gabrielle cách đây bốn kilômét, nằm trên trục đường bay cất cánh, trên sườn thoai thoải của một quả đồi dài có cây cối, có phần nào chế ngự cửa ngõ hướng bắc. Cách đó bốn hay năm trăm mét, dưới chân vài thửa ruộng lúa, một số quả đồi khác rộng hơn chạy ngược lên những đỉnh núi dựng đứng, được che phủ bởi một thảm thực vật rậm rạp, ở đó một kẻ tấn công khéo léo có thể đưa vũ khí tới gần. Người ta sẽ đến được đó tuỳ thích, từ dãy núi sẫm màu, trong dãy núi đó, đạo quân của tướng Giáp phân tán mà không có dấu hiệu gì có thể phát hiện ra được: không một chuyển động, không một hầm hào, không một ngọn khói. Những vết nham nhở duy nhất trên sườn núi là những đám cháy mà những người Mẹo, mùa vừa qua đốt nương để trồng cây thuốc phiện.

Cái cứ điểm mạnh Gabrielle có tầm quan trọng lớn đến mức chính bản thân các phi công đã yêu cầu phải bố trí, chỉ có hi vọng được yểm trợ bởi hỏa lực pháo binh của khu phòng ngự chủ yếu: Béatrice và đội lê dương của nó ở cách hai kilômét rưỡi về phía đông nam, ngăn cách với Gabrielle bởi những khúc sông và những quả đồi khác; Anne Marie và đội quân người Thái của nó ở cách hai kilômét phía tây nam. Với Gabrielle và người chỉ huy của nó, không chỉ cần có đại liên và súng cối để chống giữ mà còn phải có một ý chí thép, bởi lẽ ở đó người ta sẽ cảm thấy đơn độc; thậm chí người ta không có được những điều dễ chịu của cuộc sống trong khu phòng ngự chủ yếu: dòng điện do các nhóm công binh cung cấp, đồ tiếp tế được thả dù ngay tại chỗ, cái cảm giác an tâm trước số đông người và khối vũ khí tích trữ chất đống. Một vài sĩ quan chỉ huy đội quân người Algérie sẽ tự hỏi người ta giành cho mình số phận nào đây nếu như họ có thể đọc được tài liệu mà ngày hôm đó tướng Bodet giữ chặt trong chiếc cặp da trên máy bay bay về Paris.

Đó là một lá thư dài của tướng Navarre đánh số một trong các công văn chính thức của năm mới, một năm đầy u ám với những viễn cảnh mà bản chỉ lệnh bí mật ngày 31 tháng mười hai làm nảy sinh. Mặc dù nội dung lá thư trong khi kế hoạch nêu lên là lôgíc và được xây dựng chặt chẽ, thì việc phân tích có vẻ mờ nhạt và hình như thiếu sáng sủa trong tư tưởng của người cộng sự đã soạn thảo lá thư. Nhưng mà điều đó là thứ yếu. Điều chủ yếu là cơ bản, và điều cơ bản khiến cho nhữngngười tiếp nhận tài liệu ấy chìm đắm trong cảnh lúng túng, không biết làm thế nào thoát ra khỏi cảnh phân vân khó hiểu.

Làm thế nào mà họ hiểu được rằng cách đây năm tuần lễ, cũng con người đó vốn đã trả lời một câu “Không" dứt khoát đối với những đề nghị rụt rè để tiến hành các cuộc thương lượng, giờ đây lại cân nhắc sự thất bại của một công trình mà người đó đã lao vào thực hiện mà không xin ý kiến hoặc bất chấp ý kiến của chính phủ.



Ngày 2 tháng giêng 1954

Từ Hà Nội, đặc phái viên thường trực của hãng tin A.P. truyền đi lời tuyên bố mới của tướng Cogny như sau: "Bộ chỉ huy quân Pháp tin chắc sẽ giáng cho Việt Minh một đòn thất bại nặng nề ở Điện Biên Phủ. Chúng tôi chờ đợi những trận đánh ác liệt kéo dài. Chúng tôi sẽ thắng cuộc ".

Ở Cogny cũng thế, giọng điệu đã thay đổi và niềm tin tưởng hạ thấp xuống vài độ. Cogny là người đầu tiên đã nói rằng Điện Biên Phủ, trên con đường đi sang Lào, có giá trị như một chiếc bánh được niêm phong nhưng Cogny nghĩ một cách có lý rằng đây là một chuyện khác, rằng những con súc sắc vẫn còn đang lăn tròn và rằng chuyện tướng Giáp bị thua cuộc là câu chuyện không phải dễ dàng gì. Đối với ông ta, Cogny không thể ngăn cản được điều gì cả.

Navarre có thể làm mọi chuyện. Tại sao ông ta đã không quyết định rút lui khi mà sư đoàn 308 còn chưa ở trong trạng thái tham chiến. Không chỉ có César ở trận Avaricum hoặc Condé ở trước mặt thành Lérida.1 Trong lịch sử quân sự, những tướng lĩnh khác đã từ chối tham chiến khi đối phương không xuất hiện như họ mong đợi và nếu như chưa từng có tấm gương nào thì Navarre lẽ ra sẽ nêu một tấm gương vì niềm vinh quang của ông ta. Trước khi gặp khó khăn, De Latrre đã không chút do dự để lại đưa vào cuộc mười hai tiểu đoàn ấy vốn là khoản đặt cược của ván bài poker, để tung chúng vào hậu phương của đối thủ ở gần Hà Nội, quấy rối ở đó và tuyên truyền rùm beng rằng đã chơi cho quân Việt một đòn đáng kể.

Giờ đây nếu Navarre nghĩ đến chuyện đó thì đã quá muộn. Mưa phùn lại sắp trùm lên vùng đồng bằng và các máy bay vận tải sẽ vất vả để bốc đi được mỗi ngày một tiểu đoàn. Kể cả nếu như ông quyết định rút đi thì Navarre cũng không thể làm được việc đó nữa và ở Đông Dương, không một ai sẽ tha thứ cho ông nỗi nhục đó. Ông không có đủ uy tín để được người ta tin ngay lập tức và phục tùng. Ông sẽ ngã gục trước những tiếng la ó.

Từ trên các đỉnh núi khống chế khu lòng chảo mầu xám Điện Biên Phủ, nhiều nghìn các chiến sĩ đội những chiếc mũ nan tre hoặc mũ lá, ngắm nhìn những cuộn khói của tập đoàn cứ điểm và không chút nghi ngờ là họ sẽ còn sống để tiến vào dải thung lũng. Nhưng họ không phải là những người mà tướng Giáp dám coi như một khoản đặt cược trên bàn đánh bạc: họ là đoàn quân giải phóng của nước Việt Nam và họ biết rằng họ chiến đấu vì nền độc lập của tổ quốc chống lại một chế độ thuộc địa đang trên con đường biến mất ở bề mặt quả địa cầu. Nếu như họ chết thì sẽ là với tiếng hô vì tự do, thốt ra từ cửa miệng.
_________________________________
1. Xem chú thích ở chương II. - N.D
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM