Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 06:15:16 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trận chiến Điện Biên Phủ  (Đọc 69971 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #40 vào lúc: 09 Tháng Tư, 2008, 06:01:42 pm »


Ngày 3 tháng giêng 1954


Đối với Navarre, không có cái gì bị mất nếu như ông từ chối việc đó, bởi lẽ ông biết rõ những nguy hiểm mà ông đang đương đầu. Trước những quân cờ mà đối phương dịch chuyển bất ngờ đối với ông, Navarre đã nhìn thấy kế hoạch của chính mình bị đảo lộn: trận đánh tổng lực mà ông muốn né tránh đã áp đặt lên ông và ông không còn có thể thoát ra nữa, bị vướng víu trong tấm lưới mà chính ông đã muốn tung ra. Tuy nhiên, cũng như ông, tướng Giáp không có khả năng tổ chức và huấn luyện những sư đoàn mới để tung vào bãi chiến trường hiện tại; dù cho các phương sách để nuôi dưỡng các đơn vị của tướng Giáp về gạo, về vũ khí nặng và đạn dược có phát triển phong phú đến đâu thì thời gian và sức mạnh để chiến thắng được khoảng cách xa, cuối cùng sẽ thiếu hụt đối với tướng Giáp. Đặt giả thiết xấu nhất, Điện Biên Phủ có thể cùng số phận với Nà Sản, cứ điểm mà tướng Giáp đã không nuốt nổi bởi vì ông không có hàm răng đủ chắc cũng như cái bụng đủ rỗng. Ở Điện Biên Phủ cũng thế, sẽ đến thời điểm mà những trận mưa làm gián đoạn các trận đánh: nếu như Điện Biên Phủ kháng cự được, lúc đó tướng Giáp sẽ phải cho các sư đoàn của ông rút về phía sau, băng bó các vết thương trong các khu trú quân mùa hè; đội quân đồn trú trong tập đoàn cứ điểm lúc đó có thể chuồn đi, giống như ở Nà Sản, và chui qua dưới mũi của tướng Giáp. Navarre vẫn còn có thể tự do hành động để mang tới trận đánh này, dù cho chuẩn bị không tốt đến đâu, những phương tiện vượt lên trên rất nhiều những phương tiện của đối thủ.

Navarre sắp sửa đặt trọn gói vào Điện Biên Phủ, điều này không một ai nghi ngờ, ngoại trừ một số rất ít sĩ quan. Cogny không thuộc trong số đó, ông đã đọc được lá thư ngày 1 tháng giêng gửi cho chính phủ. Đây này, Navarre bám giữ kiên quyết vào kế hoạch tuyệt vời của mình. Atlante, cuộc tấn công mà ông muốn tung ra ở Nam và Trung bộ, ông coi đó như vở diễn chủ lực của mình, tuy không tin chắc thắng cuộc bởi lẽ, nhắc đến nó, ông đã viết: “Nếu như trận đánh thành công". Trong trường hợp đó, nó sẽ có giá trị đối với ông như một tấm thẻ chiến tranh. Ngược lại, nếu như trận đánh Điện Biên Phủ thất bại, Navarre không hiểu rằng mình sẽ bị đánh bại. Về phía mình, tướng Giáp không hề cảm thấy điều gì ngờ vực. Cuộc tấn công của Navarre trên những cao nguyên núi rừng ở phía nam chỉ là một miếng mồi nhử. Tướng Giáp biết rằng ván bài sẽ diễn ra ở Điện Biên Phủ và chính là ở cách đó mấy kilômét, trong khu rừng Mường Phăng kể từ một tháng nay, ông đã bố trí sở chỉ huy của mình để điều khiển trận đánh.

Vào cuối buổi sáng, ở Hà Nội, trời hửng. Cogny bay lên Điện Biên Phủ, ăn bữa trưa ở nhà ăn tập thể của Castries. Lúc 13 giờ 05, Navarre tới cùng với viên cao uỷ, ngài Dejean. Người thợ máy bắc chiếc thang để bước xuống. Trong khung cửa mở rộng, chiếc mũ calô đỏ của Castries xuất hiện trong ánh nắng. Quân sĩ thì tươi tỉnh và món súp rất ngon. Phải ba ngày nữa, người ta mới tổ chức lễ Hiện thân của Chúa, nhưng giờ đây đã có các "pháp sư” hạng nhất. Ngài đại sứ cao uỷ và vị tổng chỉ huy đi duyệt một trung đội của tiểu đoàn dù người Việt Nam số 5. Ngài đại sứ tay cầm chiếc mũ, vừa bước đi vừa nhìn xuống chân đội quân danh dự. Navarre mỉm cười. Bên ngoài chiếc áo bludông, ông khoác thêm chiếc áo vét bằng vải mới láng bóng, khiến cho ông có dáng vẻ giả tạo. Loại người hùng ác chiến vốn không phải là sở trường của ông. Ông cầm trong tay cây gậy chỉ huy nhẹ bằng sậy. Bộ quân phục không hợp với người ông, không che giấu được cái bụng hơi to và lẽ ra phải thu gọn nó lại thì vạt áo đã lượn phồng theo hình tròn. Chiếc quần dài, hai ống bay phất phơ xung quanh đôi cẳng chân ông. Khi bước đi, ông có khuynh hướng cúi đầu xuống tựa như gánh chịu sức nặng của các ý tưởng riêng tư và nhìn trộm những người đối thoại với mình, hoặc là, đột nhiên dừng lại ngửa đầu ra phía sau, vẻ diễu cợt và khiêu khích. Đi bên cạnh ông, Cogny khó khăn mới che giấu được nỗi khó chịu. Cổ áo để hở, quân phục nhầu nát, chiếc gậy leo núi nắm trong tay, đôi mắt lo ngại, trong thâm tâm Cogny đã chuẩn bị bản buộc tội chống lại trận đánh Atlante.

Đứng trước mặt ngài Dejean, người ta im lặng: một quan chức dân sự dễ có thể hiểu lầm một từ trong ngôn ngữ quân sự. Người ta đưa ông đi dạo trong cứ điểm. Có phần hơi lặng lẽ, viên cao uỷ thực thi một nghĩa vụ khi đi thăm cứ điểm. Cái vầng trán trơn bóng này, cái vẻ mặt bề ngoài toát ra tính dễ dãi hay tính cứng rắn này, tuỳ theo người ta đặt vào đó câu chuyện gì, là của một nhà ngoại giao không hiểu gì nhiều lắm các vấn đề quân sự và có nghĩa vụ thu xếp sao cho các kế hoạch phù hợp với đường lối của chính phủ. Chỉ đạo cuộc chiến tranh ư? Nếu muốn vậy thì người ta phải trao cho ông quyền hạn. Lúc đó, có thể, ông sẽ tự buộc tội mình. Ông tiếp tục tổ chức các bữa ăn tối, tiếp đón các vị bộ trưởng, các hoàng tử và các quốc vương. Trên bàn ăn, phép lịch thiệp thu xếp các câu chuyện mà các văn phòng khuấy động lên, nhưng bầu không khí vẫn luôn luôn nghiêm túc và khi mà các cuộc trò chuyện kéo dài sau bữa ăn tối, nếu như thiếu rượu uýtski, người ta phục vụ món bia để nói rằng thời gian đã dài. Bức thư Navarre gửi cho chính phủ ngày 1 tháng giêng đã đưa vị cao ủy vào một trạng thái phân vân sâu sắc, bởi lẽ, ở Sài Gòn ông cũng không biết gì hơn ngài Jacquet ở Paris. Mối bận tâm chủ yếu của ông là nắm được những ý đồ của các viên tướng mà không làm cho họ quá khó chịu và từ đó rút ra những vấn đề để đánh điện gửi về cho bộ của mình.

Dù sao, ông cũng không đến nỗi quá ư bất tài như các nhà quân sự giả định và đã lên tiếng hỏi chuyện gì sẽ xảy ra nếu như pháo binh đối phương bố trí trên các đỉnh núi hoặc trên những sườn núi dốc xuống. Người ta trả lời ông rằng quân Việt có thể đã rất khó khăn để chuyển tới đó một lực lượng pháo binh quan trọng và vận chuyển đạn dược đi xuyên qua rừng rậm của vùng thượng du, máy bay kiểm soát các con đường tiếp cận tới đó và rằng các khẩu đội có nhiệm vụ phản pháo sẽ tiêu huỷ những khẩu pháo nào bắt buộc phải lộ mình ra khi nhả đạn. Pháo binh đối phương chưa bao giờ được sử dụng với một hoả lực mạnh và có tầm xa. Nó chỉ được sử dụng để can thiệp trong vài dịp hiếm hoi bằng hoả lực bắn thẳng, trên vùng đồng bằng và những đồn bốt gần đường biên giới với Trung Quốc. Các nòng súng đã được sử dụng là cỡ 75 của Nhật, cỡ 75 và 57 của trung Quốc. Các khẩu 105 chưa bao giờ được dùng đến.

Ngài Dejean, có lẽ nhớ lại câu ngạn ngữ cổ: "Thung lũng thu hút những quả đạn tròn" cho nên hình như không thấy mình được thuyết phục. Người ta nhắc lại với ông rằng quân Việt không có các pháo thủ có khả năng bảo đảm hàng rào phòng không có hiệu quả hoặc gây trở ngại cho hoạt động của cầu hàng không. Cho đến tận năm 1953, pháo phòng không các cỡ nòng nhỏ chỉ gây trở ngại cho các máy bay trinh sát hoặc vận tải ở những vùng gần các bãi nhảy dù trên núi. Tuy nhiên, ở Hoà Bình, người ta đã ghi nhận được những phát đạn trúng đích đầu tiên. Viên cao uỷ chịu thua. Lúc 15 giờ 30, ông lại bay đi Viên Chăn và Sài Gòn trên chiếc Dakota riêng.

Bức thư của Navarre gửi cho chính phủ, tuy nhiên, lại đã khiến cho ngài Maurie Dejean hiểu rằng những nỗi bất hạnh mà ông không chuẩn bị đón nhận có thể chụp xuống dải đất mà người ta đã giao phó trách nhiệm cho ông. Những gì ông đã nhìn thấy, khoảng rộng lớn của khu lòng chảo, số lượng các đơn vị được bố trí, những khẩu đại bác nằm trong các hầm bảo vệ như các lỗ tổ ong vây tròn, những chiếc máy bay khu trục cất cánh từ đường băng trước những cụm mây bụi dày đặc, những chiếc xe tải, những công việc tổ chức trận địa, những khoảng cách mà ông ngồi trên xe Jeep băng qua từ điểm tựa này sang điểm tựa khác, mạng lưới hàng rào dây thép gai, tư thế của các sĩ quan, tất cả mọi thứ làm cho ông tin là đối phương, nếu dám mạo hiểm tới đây, cũng sẽ không bao giờ tới gần được sở chỉ huy của De Castries, người chỉ huy ghê gớm có đôi môi bĩu ra một vẻ khinh khi và chiếc gậy chống đẹp, đầu nhọn bịt bạc.

Hai hôm sau, viên cao ủy báo cáo cho bộ trưởng của mình biết rõ ý định của bộ chỉ huy tối cao ở Đông Dương bằng một bức điện làm cân bằng tác động khó chịu của bức thư ngày 1 tháng giêng: "Bộ chỉ huy chúng tôi đánh giá là trận đánh nếu như do đối phương tung ra sẽ rất ác liệt nhưng mang đến cho chúng ta những cơ may nghiêm chỉnh giành thắng lợi. Cho đến nay, đạo quân của tướng Giáp chưa hề đứng trước một nhiệm vụ đáng sợ bằng việc mở trận tấn công Điện Biên Phủ".

Đây là lần đầu tiên trong một tài liệu chính thức, cấp hàm tướng được dành cho ông Võ Nguyên Giáp thậm chí không còn dùng đến những dấu ngoặc kép khiếm nhã. Cách nhìn đi đôi với sức nặng của vũ khí.

… “Trận đánh nếu như do đối phương tung ra...” viên cao ủy điện như vậy. Trước đây, cách khoảng thời gian một năm, ở Nà Sản người ta tự hỏi nhau. Người ta hầu như đã chắc chắn là tướng Giáp sẽ không tấn công, bởi lẽ ông ta không tốt nghiệp Học viện Chiến tranh. Trong nỗi ngờ vực, người ta còn dựa vào một chương trong bản giáo lí của đạo quân viễn chinh nói rõ rằng quân Việt không bao giờ tấn công khi mà họ tự thấy vũ khí được trang bị ngang sức với kẻ địch hoặc là họ đứng trước những khó khăn quá ư nghiêm trọng. Tướng Salan đã có yêu cầu tôi sửa đổi một vài đoạn trong bài tường thuật mà tôi gửi từ Nà Sản về để khỏi làm nản lòng tướng Giáp. Được bổ sung về nguyên tắc rằng tướng Giáp không có pháo binh và nếu như có, ông ta cũng không thể hoặc không biết cách sử dụng, và rằng những phương tiện và quan điểm biện chứng của ông ta cũng không cho phép ông ta cầm cự hơn một tháng trời ở trên vùng thượng du, cái chương sách nằm lòng này nằm trong học thuyết của các sĩ quan chỉ huy và quân sĩ.

Thử hỏi, cái con người nghiệp dư bốn mươi hai tuổi này, đem so sánh với các tài năng mà người ta đào luyện ở quảng trường Joffre, con người này có thể nghĩ rằng mình là một bóng đen nguy hiểm đối với các tướng lĩnh thực thụ, được bổ nhiệm bởi hội đồng các bộ trưởng và đối với một đại tá vừa mới tốt nghiệp các lớp cao học quân sự, trường đào tạo thống chế hiện đại hay sao? Ấy vậy mà vào thời kỳ Nà Sản, người ta đã có thể nghĩ một cách hợp lí rằng tham vọng đánh chiếm cứ điểm vững chắc sẽ cung cấp cho tướng Giáp cơ hội kết thúc chiến tranh có lợi cho ông ta bằng việc chấp nhận một sự hi sinh to lớn trong những trận đánh liên miên và trong một cái chết ở cấp độ vi mô. Một chiến thắng giành được trong nhữngđiều kiện như vậy trước đạo quân viễn chinh, hẳn sẽ thừa nhận trong tư tưởng mọi người thắng lợi vẻ vang của chế độ Việt Minh và thúc đẩy nước Pháp thương lượng. Lần này nữa, câu hỏi duy nhất đặt ra với tướng Giáp chịu trách nhiệm chấp hành các mệnh lệnh của Đảng, là câu sau đây: “Ta cần có những gì để nuốt gọn được Điện Biên Phủ”. Không quân cản trở ông ta bởi lẽ không quân nhìn thấy, phá huỷ và tiếp vận. Miễn sao nó bị bịt mắt, rằng các đòn đánh của nó rơi chệch mục tiêu hoặc tác động phá hoại của nó hạn chế, và rằng nó bị bẻ gãy ngay ở trên không và tại các căn cứ của nó, thế là bài toán được giải đáp. Đội quân đồn trú Điện Biên Phủ sẽ chết ngạt. Giả định rằng tướng Giáp có thể trong giây lát, không bị hấp dẫn để nhảy xuống một miếng mồi như vậy là chuyện điên rồ.

Tuy nhiên, cũng như ông ta đã từ bỏ Nà Sản sau khi hiểu được rằng không thể làm được đến tận cùng thì ông ta cũng có thể từ bỏ Điện Biên Phủ nếu như ông ta thấy Điện Biên Phủ có vẻ như nằm ngoài tầm với. Như vậy công việc dành cho Navarre là biết được ông Giáp muốn gì; với Cogny và Castries là làm sáng tỏ điều muốn đó của tướng Giáp. Cho đến nay: quả thật là tướng Giáp chưa bao giờ đứng trước một mạo hiểm lớn đến vậy, nhưng mà, mỗi năm qua đi lại tăng cường lực lượng của ông ấy, mở ra cho ông ta những con đường thông sang Trung Quốc. chở thêm xe cộ đến các bãi xe, chất đầy trong các kho dự trữ của ông ấy các khẩu đại bác và đạn dược. Tại sao lại coi ông ta là một người ngớ ngẩn? Tại sao lại tưởng tượng rằng ông ấy sẽ không biết sử dụng pháo phòng không? Và hai nghìn chiếc xe đạp mà một thông báo thu nhận được đã pháp hiện, vào khoang lễ Noel, trên các đường mòn ở Điện Biên Phủ, chúng dùng để làm gì vậy? Liệuchúng có giống như chiếc xe đạp mà nhà truyền giáo ở Lai Châu trở thành cha tuyên úy trong cứ điểm Isabelle: đạp đi thăm các con chiên trong các thôn bản chăng?
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #41 vào lúc: 09 Tháng Tư, 2008, 06:03:01 pm »


Những chiếc xe đạp ở cơ quan phòng Nhì từ ba năm nay, người ta đã biết chúng dùng để vận chuyển. Người ta ước lượng một chiếc xe đạp có thể chở từ gấp hai lần đến hai lần rưỡi trọng lượng của người đẩy nó đi. Nhưng những người đẩy xe ấy nặng không bao nhiêu. Thực tế, trọng tải của một chiếc xe đạp lên tới tận ba trăm ki lô, hơn cả sức tải của một con voi. Những đoạn đòn bằng gỗ để củng cố vững chắc khung xe và cổ phuốc đằng trước, những thanh tre để nối dài tay cầm cần lái và các tay nắm của dây phanh là thành phần chủ yếu của khối thiết bị mà mỗi người thồ xe mày mò tìm cách hoàn thiện. Được phân bổ thành nhiều khối hàng và được ngụy trang, tải trọng được nhân lên bởi mười hay mười hai dân công và hàng nghìn chiếc xe đạp đi lại ngày đêm. Khi mà những chiếc xe đạp vào cuộc, giờ đây không còn là phải tính đến hàng ki lô mà là hàng tấn. Người ta nói chuyện đó với Navarre, ông không thèm quan tâm đến. Đối với ông, nếu như ông không bảo vệ được nước Lào hoặc nếu như kế hoạch của ông bị đảo lộn bởi những biến cố ông không biết lường trước, tại sao ông không đánh điện xin các chỉ thị hơn là xin các tăng viện mà người ta chưa bao giờ hứa hẹn với ông? Khi mà đây là vấn đề an toàn của đạo quân viễn chinh và mạng sống của quân sĩ của chính ông, có ai bắt buộc ông phải gánh lấy những trách nhiệm về chính trị ở cấp độ của chính phủ nào?
 
Ngày hôm đó chắc chắn Navarre đã xác định với Castries những thông tin về đối phương mà ông nắm được. Castries được biết rằng mình phải sẵn sàng đứng trước việc các máy bay bị bắn rơi và các phương tiện cơ giới bị lật nhào xuống dốc núi. Liệu Cogny có quan tâm đến những sơ hở tồn tại trong hệ thống phòng ngự và về hai điểm tựa cô lập ở cách khu phòng ngự trung tâm nhiều kilômét? Hay là, người này kẻ kia, liệu người ta có vững lòng với những ý nghĩ trọn vẹn, những câu nói ngớ ngẩn hoặc những cái bĩu môi khẽ của cấp trên ngay mỗi khi động đến vấn đề các phương tiện của đối phương chăng?

Navarre có thể được tha thứ bởi vì đã không hiểu biết một đối phương hành quân đi bộ, giống như vào thời của tướng Annibal. Ông không phân vân để nắm quyền tổng chỉ huy mặc dầu ông đã nhận nhiệm vụ đó mà không tự thấy là mình quá không xứng đáng, nhưng mà không phải ông là người sẽ nhận được các trái phá của quân Việt, nếu như chúng rơi xuống. Liệu Cogny và Castries có năn nỉ để nói với ông rằng tổng thể các pháo đài sẽ không đứng vững nổi trước những gì sắp diễn ra? Tôi không biết mảy may, nhưng tôi tự nhủ nếu như có chuyện đó thì hẳn là người ta không giấu giếm tôi. Ấy thế mà, hình như đúng là nếu như người ta có nghiên cứu các bài toán đó thì người ta đã không giải chúng. Có lẽ, do bởi vì Navarre thậm chí không xem xét đến việc từ bỏ cuộc hành binh Atlante chăng? Tuy nhiên, ông là người đầu tiên được báo cho biết điều gì chờ đợi mình ở Điện Biên Phủ. Nếu như lúc đó ông là nạn nhân của ý tưởng mà Castries và Cogny hình dung về sức mạnh của tập đoàn cứ điểm thì lần này ông có thể được tha thứ vì đã tin tưởng ở một người khác, không phải là bản thân mình. Ở Paris, ngài Jacquet, vừa mới từ Đông Dương trở về, đọc lá thư của Navarre do tướng Bodet mang tới và đột nhiên sửng sốt, vừa nhồi đầy một cối thuốc mới vào tẩu vừa được biết rằng vị tổng chỉ huy có những mối ngờ vực.

Lúc 17 giờ một trung đội khác bồng súng chào danh dự để Navarre quay trở về Hà Nội. Khung cảnh gây ấn tượng. Xưởng máy kêu ròn. Các khối hàng từ trên trời rơi xuống như mưa. Lớp bụi đất tiếp tục bám phủ các khuôn mặt và quần áo. Cogny bước lên ngồi bên cạnh Navarre, ở phía trước khoang lái, bên một chiếc bàn làm việc. Xa hơn, ở phía sau, đám sĩ quan tuỳ tùng thăm dò lẫn nhau. Tiếng động cơ át tiếng trò chuyện.

Cogny lễ phép hỏi Navarre xem liệu ông có định mở màn cuộc hành binh Atlante, việc chuẩn bị cho trận đánh này đã hút kiệt dòng máu của đạo quân viễn chinh. Khi người ta hiểu Navarre, một câu hỏi như vậy lẽ ra không được đặt ra. Navarre trả lời ngắn gọn, với tư thế một con người tự tin: cuộc hành binh Atlante, do ông mong muốn và xếp đặt, là hành động tấn công duy nhất có tầm cỡ một chiến dịch hướng vào hệ thống phòng ngự; nó sẽ diễn ra. Lúc đó, lần lượt từng lý lẽ một, Cogny chứng minh tất cả những lập luận chống lại cuộc hành binh đó: địa hình đòi hỏi những quân số lớn, những đòn né tránh của đối phương không chịu để cho bị bám đánh, lực lượng tăng viện sẽ thiếu vắng ở Điện Biên Phủ nếu cuộc tấn công xảy ra. Cogny không nói với Navarre rằng tập đoàn cứ điểm không đủ vững chắc, rằng mình sẽ phải bố trí nhiều vật chướng ngại khác trước mặt quân tấn công và rằng ông sẽ cần đến các tiểu đoàn mà Navarre đang lấy đi của ông đưa vào trận Atlante. Nói gọn lại, và chắc chắn do vì bản thân ông không sợ nhiều lắm, về cuộc cãi cọ, cho nên ông không dọa dẫm Navarre, con người, tuy nhiên kể từ lễ Noel có vẻ cảm nhận được những mối đe dọa đang tích tụ lại. Vả lại, tại sao ông lại đi dọa dẫm về vấn đề Điện Biên Phủ, đối với một con người vừa mới ra lệnh cho ông nghiên cứu kế hoạch Xénophon và đã dự kiến trước mọi việc?

Thu mình trong chiếc áo đi mưa giống như chiếc áo choàng rộng, Navarre giữ vẻ thản nhiên và xa cách. Ông thông cảm lắng nghe Cogny phác ra trước mặt mình một bài học về chiến lược, ông để cho Cogny nói hết, nhắc lại, trở lại ý tưởng về "hệ thống vệ tinh" của Cogny rồi chỉ cho Cogny thấy rằng Atlante sẽ giảm thiểu sự tự do hành động của Cogny ở Điện Biên Phủ, và ông đột ngột dừng lại.

- Nếu như tôi không thể chơi ván bài Atlante như tôi muốn, tôi sẽ xin chính phủ bãi nhiệm tôi, ông nói để chấm dứt câu chuyện.

Cogny im lặng nhẫn nhục. Tấm thân cao to làm ông thấy vướng víu. Ông hơi thu mình lại trong chiếc ghế bành. Navarre ngoảnh đầu về hướng chiếc cửa sổ gỗ tròn, qua đó quang cảnh nhấp nhô của vùng thượng du diễu qua, đó là lãnh địa của các sĩ quan cấp dưới, của quân sĩ và của đám quân Việt đang chiến đấu vì đất nước của họ. Số mệnh của ông là bay trên các đoàn quân và áp đặt ý chí của ông. Đối với con người lạnh lùng và bướng bỉnh này vốn đã không ngừng thoát ra khỏi mọi chuyện rắc rối và luôn luôn từ chối tất cả, đối với khuôn mặt nhìn nghiêng sắc nhọn này, mái tóc mầu xám và nhẵn mượt này, ở đó vành mũ kêpi đã để lại một đường tròn hằn rõ, Cogny cảm thấy một thứ gì đó giống như sự ghê tởm. Ông cảm thấy đơn côi và luyến tiếc tay Salan mưu mẹo, với những cái nhìn sắc lẹm, với hàm răng ác độc của con dã thú. Bản thân Salan cũng có thể phạm phải những sai lầm, nhưng mà người ta có thể tiếp cận ông ta, nắm lấy ông ta và thuyết phục được ông ta. Navarre có vẻ như không có chỗ nào để bấu víu vào được. Đối với tình bạn lại càng kém hơn.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #42 vào lúc: 09 Tháng Tư, 2008, 06:13:59 pm »


Ngày 5 tháng giêng 1954


Graham Greene, ngày hôm đó, có dịp đi qua, được mười dự bữa án trưa ở nhà ăn tập thể của Castries, người mà Graham so sánh khuôn mặt xương xẩu với khuôn mặt của diễn viên kịch Ernest Milton. Ở bàn ăn, khi đại tá Piroth nói về Nà Sản thì đại tá De Castries ngắt lời người bạn và nắm tay đấm xuống bàn, hét lên với giọng điệu mà Graham gọi là một kiểu cuồng nhiệt của kịch Shakespeare.

- Im đi! Tôi không muốn nghe thấy ở đây một tiếng nào về Nà Sản, vốn là một trận địa hầm hào. Chúng ta đang ở trên một căn cứ tấn công.

Câu nói này, Graham kể thêm, được nối tiếp bởi một khung cảnh im lặng ngượng nghịu mà một sĩ quan cấp phó của Castries, Séguins Pazzis chắc là muốn phá vỡ, cho nên đã hỏi nhà văn rằng ở Paris ông đã xem vở Christophe Colomb của Claudel chưa.

Trong cuộc thăm viếng các điểm tựa tiếp sau đó, Graham Greene hỏi người dẫn đường:

- Đại tá có ý gì khi nói đến "căn cứ tấn công"?

Đưa tay khoát rộng, viên sĩ quan chỉ vào dãy núi:

- Để cho chúng tôi có khả năng tấn công, thì không phải cần đến một binh đoàn xe tăng mà là một nghìn con lừa.

Theo lời tướng De Castries, thì câu hét to vừa rồi của ông ta có mục đích đánh lừa đối phương, thông qua Graham Greene.



Ngày 15 tháng giêng 1954


Về những gì liên quan đến mình, Cogny hình như không cảm thấy chút ngờ vực nào. Ngày hôm đó, trở về sau khi đi kiểm tra hệ thống phòng ngự trên phía bắc và phía nam tập đoàn cứ điểm, ông tuyên bố với phóng viên ở Hà Nội của hãng U.P: "Tôi mong chờ cuộc tấn công ở Điện Biên Phủ. Chắc chắn, pháo binh Việt Minh sẽ có thể gây trở ngại cho chúng tôi trong một thời gian, nhưng chúng tôi sẽ bắt họ câm miệng. Do vì ông ta không thể dùng sức mạnh tiến sang Lào trong nỗi lo sợ xuất hiện sau lưng mình một vật chướng ngại, tướng Giáp sẽ đứng trước tình thế bắt buộc phải tấn công. Tôi sẽ làm tất cả để ông ta phải ăn bụi và nhường cho ông ta niềm ham muốn mạo hiểm trong vấn đề chiến lược lớn".

Những câu nói mà ở thời đại chúng ta, cơn gió không còn cuốn theo đi nữa, và giống như những lời thách thức xưa kia được ném ra từ các thành luỹ. Ở đây, do vì người tấn công chiếm giữ các điểm cao và kẻ bị vây hãm nằm ở dưới vùng trũng, cách nhau một khoảng cách khá xa, lời thách thức buộc phải vay mượn những kiểu thức khác so với lời thách thức của Hector1 trên các bức tường luỹ của thành Troie.2 Qua các chặng đường, toàn bộ những lời tuyên bố của các tướng lĩnh và chính khách về Điện Biên Phủ, cuối cùng cũng về tới bàn làm việc của tướng Giáp. Để tranh thủ thời gian, đại tá De Castries, với sự đồng ý của bộ chỉ huy, sử dụng một phương tiện đơn giản và trực tiếp hơn: ông cho các máy bay tới rải truyền đơn xuống các trận địa của đối phương và xuống các con đường, hoặc là cho tung vào làn sóng vô tuyến của mạng lưới chỉ huy đối phương những thông báo có nội dung khiêu khích quân Việt: ''Các anh còn chờ đợi gì mà chưa tấn công, nếu như các anh không phải là những kẻ hèn nhát? Chúng tôi chờ đón các anh". Hay nữa: ''Chúng tôi đã sẵn sàng. Bởi lẽ các anh mạnh như vậy, xin các anh kéo tới đi". Rút cục, xưa kia Hector gọi Achille là “tên đồ tồi khốn khổ", mà ngày nay chúng ta chuyển sang một từ ngữ cụ thể hơn, và Achille đã chửi Hector bằng việc gọi Hector là "đồ chó".
__________________________________
1. Hector: Người dũng cảm nhất trong các thủ lĩnh thành Troie- Con cả của vua Priam- Bị Achille giết.

2. Troie: Thành phố vùng Tiểu Á. Theo truyền thuyết bị người Hi Lạp vây hãm mười năm. Hiện có những vết tích ở Hissarlik. - N.D
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #43 vào lúc: 09 Tháng Tư, 2008, 06:16:09 pm »


Tôi đã không thể tìm thấy dấu vết tương tự của những lời thách thức ấy, nhưng mà tinh thần của chúng là tinh thần đó. Ở đây có vấn đề hèn nhát. Theo lời một tù binh người Việt, việc rải số truyền đơn này đã gây ra trong hàng ngũ quân đội nhân dân một trận cười vui nổ trời và tướng Giáp kêu to: "Họ ở lại. Lần này, tôi nắm chắc được họ". Tôi đã nhìn thấy chiếc máy chữ in rônêô của Castries: nó nằm trong nhà Bảo tàng Điện Biên Phủ. Cách chặng đường đi bằng xe Jeep một hay hai đêm, trong một túp lều hoà lẫn hoàn toàn vào với cây lá khu rừng, một người đàn ông vừa lật ngửa một chiếc mũ cối nội địa, vừa thò vào bên trong lòng mũ một bàn tay gầy guộc đến mức người ta tưởng như bàn tay trong suốt: "Quân Pháp ở đây..." và người ấy đưa một ngón tay lướt quanh vành mũ rồi nói thêm: “Chúng ta ở đây". Đó là Chủ tịch Hồ Chí Minh còn có tên gọi Nguyễn Tất Thành, hay Nguyễn Ái Quốc. Người cha ông, một quan lại cấp tỉnh của triều đại phong kiến ở Việt Nam, bị cách chức do vì từ chối không chịu học liếng Pháp và vì đã truyền bá “Huyết thư từ hải ngoại" của nhà lãnh tụ dân tộc Phan Bội Châu. Dưới vầng trán mờ rộng và túm tóc râu muối tiêu, cái nhìn lúc thì cháy bỏng lúc thì giễu cợt, chiếc mũi thẳng, đôi tai nở nang và chòm râu hào hiệp, ông trông như không còn biết là ở tuổi nào, cùng với thân hình của ông quá ư gầy gò, đó là nơi trú ngụ mỏng manh của một tâm hồn kiên cường và không khoan nhượng. Ông đã từng phục vụ như một người hầu bàn trên các con tàu thuỷ, người rửa bát đĩa trong các khách sạn lớn ở Paris, người quét tuyết thuê ở Londres. Xen kẽ vào những thời kỳ ở tù là những thời kỳ hoạt động bí mật và đấu tranh chính trị, cuộc đời đã dẫn dắt ông sử dụng mọi phương sách để đạt tới mục đích: nền độc lập của nước Việt Nam. Là người độc thân dày dạn, giờ đây đóng vai trò ông già chia kẹo cho trẻ con, và nhà thông thái mơ mộng đứng trước các quả đồi, tuy nhiên đó là một nhà cách mạng không thoả hiệp và không thể mua chuộc được, suốt cả năm mặc cùng một bộ quân phục không có cấp hàm. Ỏ con người ông, như Jean Lacouture đã ghi nhận, có người cộng sản trung thành, có diễn viên xiếc Auguste, có người môi giới Trung Quốc, có ông Gandhi của dòng thánh FanÇois, hoà trộn với nét duyên dáng có tính toán của sự vụng về của ông để tạo thành nét dịu hiền, đột nhiên biến mất bởi một giọng nói bất bình, nhanh chóng bị khỏa lấp bởi một nụ cười mềm mại độ lượng: đó là một trong số các nhân vật độc đáo nhất của nền chính trị thế giới.

Ở với ông, chúng tôi ở cách xa các vị cao uỷ đang mỗi buổi tối tổ chức một bữa tiệc ở lâu đài Norodom. Ở ngoài tầm nhìn của họ tuy nhiên lại đứng trước mặt họ, ở cách xa mười hai hay mười lăm nghìn kilômét rừng rậm, khuôn mặt đầy nếp nhăn và chòm râu dài thưa của cái người đàn ông nhỏ nhắn, gầy gò tựa như đang bay trong bộ quần áo ngày nghỉ của người lái xe lửa: Bác Hồ, người đã quên tên thật của mình và tất cả những gì tạo thành cá nhân mình để hoá thân vào với đất nước mình. Được chi viện bởi cái nhìn long lanh dưới vầng trán rắn rỏi của mình, ông sẽ dùng một ngôn ngữ vang lên bên tai dân tộc của mình và biết cách kêu gọi dân tộc đó đứng lên tự vũ trang, dân tộc mà ông muốn giành lại quyền sống và danh dự. Nhưng mà theo gương của rất nhiều những người khác, sau này ông trở thành mẫu mực và người dẫn dắt cho những tấm gương đó, ông đã từng có lúc mơ tưởng tới một sự hợp tác với những gì ông hiểu về nước Pháp, ở đó ông đã biết phân biệt những kẻ tham lam và nguy hiểm với những người sáng suốt và hào hiệp. Đối với ông, Leclerc là một “tay xoay xở", Sainteny là một con người ông tin tưởng được. Hạn chế chủ yếu của ông là đã muốn đi trước thời gian, khi mà, ở châu Âu chưa một ai nghĩ rằng thời kỳ của chế độ thuộc địa đã chấm dứt và rằng các đế quốc sẽ lần lượt tan rã nếu như họ không muốn giải thoát cho các thuộc địa cũ. Theo gương nước Anh, các nước lớn phải áp đặt sức mạnh của mình bằng cái ý tưởng có được về chế độ thuộc địa nhiều hơn là bằng cái ý tưởng mà các đạo quân viễn chinh và những đội hải quan gieo rắc.

Cái thế giới ngăn cách Bác Hồ với những người đại diện của nước Pháp đó không chỉ là một cách thức để phát biểu hay để lắng nghe, một ngôn ngữ hay một nền văn minh, bởi lẽ nền văn minh của Bác Hồ, nếu như còn chưa phải là nền văn minh cơ khí, thì cũng không có gì tiếp thụ từ nền văn minh của ngài Letourneau hay ngài Dejean. Đó cũng là cái thế giới sau này ngăn cách ngài Lacoste với Belkacem Krim: thế giới của những con người chiến đấu không phải vì những chiếc ghế bộ trưởng, những tờ ngân phiếu, hoặc những vùng lãnh thổ, mà là vì nền tự do của dân tộc họ. Cũng như người ta tìm thấy họ ở chỗ chúng ta trong những hoàn cảnh lớn, vào thời điểm của cái nghèo, cái đói và cái chết cùng xuất hiện.

Vào thời điểm đó, người ta được biết một cuộc họp hội đồng bộ trưởng sắp diễn ra ở Thái Nguyên. Người ta nắm được ngày và giờ của cuộc họp, nhưng thị xã Thái Nguyên bao gồm một số lớn những ngôi làng và các xóm nhỏ. Các thành viên Ban chấp hành Trung ương Đảng sẽ họp ở trong ngôi nhà gianh nào đây? Để có thể nghiền nát toàn bộ dưới những quả bom, cốt để không ném trượt Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp và Phạm Văn Đồng thì cần phải có hàng trăm chiếc máy bay B.26, nối tiếp nhau thành nhiều đợt, mỗi đợt cách nhau vài phút. Người ta đã không có số máy bay ấy. Để không đốt cháy đầu mối đã cung cấp thông tin mật người ta đành bỏ cuộc. Cũng còn vì, tướng Giáp đã bố trí sở chỉ huy của mình ở ngoài các khu dân cư, trong những đáy khe sâu vách dựng đứng, giữa những tảng đá đổ ngổn ngang. Những tấm bản đồ trải rộng trên những khối đá được dùng làm bàn viết, vây xung quanh là một cơ quan tham mưu toàn những thanh niên, tướng Giáp trong bộ quần áo sẫm màu, đầu để trần, mái tóc chải ép xuống thái dương bên trái và để lộ vầng trán cương nghị, phân tích các sai lầm của Navarre, dự kiến câu trả lời của mình, và ra quyết định.

Cogny đã gửi cho Navarre, với danh nghĩa bản báo cáo, tờ sao của bản chỉ lệnh mà ông ta đã gửi cho Castries, tiếp sau bản chỉ lệnh u ám của tổng chỉ huy. Ông ta đã sử dụng màn pháo hoa của những ý định tiến công mà ông tưởng có thể chấp nhận được trong khuôn khổ, nếu như có thể nói như vậy của cái hệ thống vệ tinh và che giấu kế hoạch rút chạy đội quân đồn trú Điện Biên Phủ thành hành động tích cực tiến sang nước Lào, cốt để không giáng một đòn tệ hại vào tinh thần của người chấp hành chủ yếu, viên đại tá chỉ huy binh đoàn Gono. Chà, rõ ràng: cái tên thật hay, cái tên Gono ấy! Và biết bao là sự thận trọng! Cái gì vậy! Cái vị anh hùng truyền thuyết này, cái viên sĩ quan sôi sục cổ quấn chiếc khăn đỏ này vốn đã biết trước Bigeard rằng mình bị bắt buộc phải chết vì tổ quốc bởi vì mình tham gia chiến tranh, cái tay kỵ binh này đã từng biết bao lần chứng tỏ lòng dũng cảm và sự hăng hái trong việc tấn công đối phương hẳn sẽ phải đập rộn con tim khi được biết là công việc của mình không ổn? Nhưng mà lúc đó, nếu như người hậu duệ của một dòng dõi các thống chế và là người con trai của một trong những vị tướng vĩ đại nhất của nước Cộng hoà, không còn sinh khí nữa, thì người ta sẽ thay thế anh ta bằng Vanuxem, nếu như người ta muốn bằng mọi giá tôn trọng con số vạch lon, hoặc thay thế bằng Bigeard, nếu như người ta muốn có một viên chỉ huy có khả năng nhấc bổng những con người và những trái núi. Trên thế gian này không có chuyện gì có thể làm mất tinh thần Bigeard bao giờ, con người mà dòng máu chứa sẵn chiến trận và có một năng khiếu hiếm hoi về cái xứ sở này và về cuộc chiến tranh mà người ta tiến hành ở đó. Nhưng mà Bigeard chỉ có bốn vạch lon, và trong cái quân đội kinh điển này vốn kêu ca vì nó quá nhiều những kẻ bất tài chỉ huy mình, kinh nghiệm thực tiễn thu được không có ích gì: thâm niên bao giờ cũng đáng kẻ hơn tài năng. Bigeard hoặc Vanuxem có một ưu thế khác: cả hai đều để vợ ở lại nước Pháp, không có những bà vợ đi theo để sở hữu ở Hà Nộinhững toà biệt thự theo chức vụ. cùng với xe tô, lái xe, công vụ và máy điện thoại, để bộc lộ tâm trạng và ầm ĩ can thiệp vì lợi ích của những ông chồng mình.

Bằng quyền hạn nào mà người ta đã che giấu sự thật đối với đại tá De Castries? Tại sao người ta không nói cho Castries biết điều gì đang chờ đợi ông ta? Còn lâu mới bị khiếp sợ vì chuyện đó, nếu như ông ta là con người tất nhiên phải như thế, thì ông ta sẽ được cổ vũ vì chuyện đó. Ông ta sẽ hiểu ra, bởi lẽ vây quanh ông ta chỉ bao gồm những sĩ quan đọc thuộc lòng những chương trong cuốn giáo lý của họ, rằng Gabrielle và Béatrice không đủ sức để bẻ gẫy những đợt sóng giận dữ của đối phương, khi ở cách cứ điểm trung tâm nhiều kilômét. Các viên tiểu đoàn trưởng mà ông đã giao phó việc phòng thủ một vài điểm tựa không phải đã không nói với ông điều đó và ông nhớ lại câu nói của Gilles: "Nếu cậu để mất một tấc đất, cậu sẽ toi mạng". Ít nhất, liệu ông có biết rằng bộ chỉ huy tối cáo của Việt Minh đã yêu cầu mọi điểm vượt qua con đường tỉnh lộ 41 đều phải chịu được trọng tải mười hai tấn hay không? Để vận chuyển qua đó loại xe cộ cỡ nào đây? Với những câu hỏi này, câu trả lời là có. Castries hiểu mọi chuyện về đối phương. Cogny gửi cho ông mọi bản tổng hợp tình hình của phòng Nhì của mình. Nhưng mà người ta không muốn mạo hiểm làm ảnh hưởng đến tinh thần của ông khi một hôm nào đó nói với ông rằng, có lẽ... Người ta trông cậy vào ông, hoàn toàn đơn giản vậy thôi, khi thời khắc điểm, sẽ đánh bại Việt Minh.

Vậy là Cogny yêu cầu Castries nghiên cứu những giả thiết về một cuộc can thiệp về phía tây nam hướng tới Mường Khoa và một cuộc truy kích về hướng Sơn La bắt liên lạc với một binh đoàn sẽ được thả dù ở Nà Sản, việc này có thể, trái ngược với mục đích mà người ta bí mật nhằm tới, khẳng định trong tư tưởng Castries là ông ta đang nắm ưu thế.

Castries cũng gọi cả Langlais tới.

- Cậu biết nắm lại những con đường mòn mà theo đó, cậu đã đi tới Sốp Nao chứ?
- Tại sao? - Langlais sửng sốt hỏi lại.
- Rất có thể cậu sẽ quay lại đó trong một ngày sắp tới.

Cái lực lượng không quân này, trái ngược với những gì ông nghĩ, ngày 28 tháng mười một, đã không thể ngăn cản các sư đoàn Việt Minh ào ạt kéo tới, làm cho Navarre nổi giận. Phó tướng của ông, tướng Bodet đánh giá là trận đánh của không quân được chỉ huy kém nhưng mà thực tế phương tiện trinh sát và tấn công các phi công có trong tay bị hạn chế, khí tượng gây trở ngại cho họ và đối phương lợi dụng đêm tối và mây mù che phủ để tiến hành các bước di chuyển. Hơn nữa, họ chỉ di chuyển khi được ngụy trang, hoặc gần được như thế. Hàng chục nghìn dân công, đòn gánh trên vai, vận chuyển gạo, muối hay cá khô, thực phẩm nuôi sống bộ đội và cán bộ, những quả đạn súng cối, những băng đạn đại liên hoặc đẩy những chiếc xe đạp của họ, những người nông dân được huy động sửa chữa các đoạn đường bị trúng bom hay mở những tuyến đường mới dưới sự chỉ huy của các chiến sĩ công binh, đều tản ra mỗi khi có tiếng báo động máy bay và những vòng lá ngụy trang được móc trên trang thiết bị của họ, hoà lẫn họ vào với cây lá xung quanh. Những chiếc xe tải lăn bánh ban đêm. Ban ngày họ chui sâu, không để lại dấu vết, vào những đoạn đường hầm dưới lá rừng, ở đó ẩn náu những xưởng máy, những nhà ăn tập thể và những phòng nghỉ. Không một sợi khói nào bay lên bởi vì chiến sĩ anh nuôi Hoàng Cầm, sau trở thành anh hùng quân đội, đã có sáng kiến đắp bếp lò không có khói. Để ra đòn thì phải nhìn thấy, và không quân thì mù tịt.

Navarre tỏ ra bi quan và nghĩ rằng mình có phần trách nhiệm. Ông yêu cầu Cogny ghi một dấu ấn cá nhân vào trận đánh và buộc tội về tính thiếu hiệu quả của trận đánh trong việc liên lạc giữa ông với bộ chỉ huy không quân.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #44 vào lúc: 09 Tháng Tư, 2008, 06:20:35 pm »


Ngày 19 tháng giêng 1954


Bất chấp những cuộn mây phủ kín các thung lũng vùng thượng du và cánh đồng vùng đồng bằng, các phi công của không quân và không quân của hải quân tấn công các con đường và các kho tàng. Vào thời điểm đó một trăm hai mươi bảy tấn bom đã được ném xuống một điểm duy nhất mang tên Mercure. Chậm nhất là bốn mươi tám tiếng đồng hồ, sau mỗi lần đoạn đường bị cắt đút, những chiếc xe tải của đối phương lại tiếp tục lăn bánh và thời tiết mỗi lúc một xấu hơn đã hủy bỏ các cuộc ném bom. Kể từ tháng mười một, khoảng hai tá máy bay loại đó đã phải rất vất vả để bảo dưỡng, để cuối cùng có một kết quả thật là rẻ mạt.

Việt Minh đã áp dụng một phương pháp sửa đường: xung quanh những điểm xung yếu, họ tập trung cư dân của các ngôi làng lân cận hơn mười nghìn người trên con đường tỉnh lộ 13b và con đường tỉnh lộ 41. Sau khi những chiếc máy bay ném bom bay qua, đoàn quân của họ, khi cần sẽ làm nhiệm vụ trung chuyển, kéo từ trong các khu rừng ra, mang theo xẻng, cuốc, thúng mủng, sọt tre. Để trục xuất những quả bom nổ chậm còn chưa nổ, người chính trị viên kêu gọi những người xung phong tình nguyện. Những người nhỏ bé nhất trong số họ trườn mình xuống các hố bom và buộc chiếc móc sắt ở đầu một sợi dây thừng vào các cánh bom. Sau đó, người ta dùng sợi dây kéo quả bom lên và vần ra xa làm cho nổ. Để vô hiệu hoá những trái bom “bướm", chỉ nổ khi chạm mặt đất người ta dắt đàn trâu đi qua đi lại khu vực có bom.

Trong các cơ quan tham mưu của đạo quân viễn chinh, người ta được tin bộ chỉ huy tối cao Việt Minh vừa mới hạ lệnh dành ưu tiên tuyệt đối cho việc vận chuyển bằng mọi phương tiện những quả đạn pháo 105 và đạn súng cối 81.


Ngày 20 tháng giêng 1954


Ngày hôm ấy, nhờ việc thu được và giải mã một số thông báo mới, người ta hiểu được ý nghĩa của cái mệnh lệnh về cung cấp đó: cuộc tấn công vào Điện Biên Phủ sẽ diễn ra trong đêm 25 rạng ngày 26, tận dụng ánh sáng trăng trung tuần. Một cơn sốt sung sướng xâm chiếm tâm tưởng các sĩ quan tác chiến ở Hà Nội và ở Sài Gòn, và Navarre đón nhận tin đó một cách bình thản. Cũng không vì thế mà ông huỷ bỏ việc mở màn giai đoạn đầu của cuộc hành binh Atlante; giai đoạn đó phải kéo dài hơn một tháng và sử dụng hai mươi nhăm tiểu đoàn trong khu vực tỉnh Savanakhet, ở đó Navarre muốn tiêu diệt các lực lượng đối phương nằm trong vùng giữa sông Mékong và bờ biển. Việt Minh lùi ra xa sông Mékong và ẩn nấp trong giải rừng nội địa và các cao nguyên núi non. Một mặt trận mới được hình thành mà Navarre sẽ phải tiếp tế bằng máy bay.

Ở Điện Biên Phủ, trung tá Langlais, chỉ huy trưởng hai tiểu đoàn dù thuộc lực lượng dự bị, tiếp tục nghiên cứu kế hoạch phản kích nhằm để giành giật lại những khu vực mà đối phương sau này có thể đánh chiếm được. Có quá nhiều những giả thiết đến nỗi người ta phải hết sức khẩn trương: trước hết chiếm lại Gabrielle hoặc Béatrice, những cứ điểm nằm ở xa nhất. Cần phải đi vào chi tiết các hành trình, sử dụng những sườn dốc đối diện, vòng qua các vật chướng ngại, hàng rào dây thép gai và các khúc sông, áp dụng hoả lực bảo vệ vòng ngoài, tính toán tỉ mỉ thời gian cần thiết để phát triển, xác định hoả lực yểm trợ của các đơn vị bạn kề bên. Có điều đã biết chắc chắn là sẽ không thể có một cuộc phản kích nào diễn ra trong ban đêm, bởi lẽ các đơn vị trong cứ điểm không quen thạo việc tác chiến trong bóng tối. Giống như trong một kịch bản rất trơn tru, cần phải lặp đi lặp lại việc thực tập với những cuộc bắn đạn thật, đủ thấy người ta đã phát hiện được nhiều sai sót trong việc thực hành tác chiến.


Ngày 23 tháng giêng 1954


Cogny đã chuyển cho Navarre bản dự thảo kế hoạch hành binh Xenophon có nội dung sơ tán đội quân trong tập đoàn cứ điểm trong trường hợp có thảm họa. Ông không giấu giếm Navarre để nói rằng kế hoạch quá ư liều lĩnh đến nỗi nó có vẻ bất khả thi. Đại tá Crèvecoeur về phía mình cũng nói như vậy. Từ hai bản dự thảo, không bao giờ Navarre thèm thông báo lại cho các cấp dưới của mình biết ý kiến tổng hợp hay kết luận mà ông rút ra được từ những dự thảo kế hoạch đó. Đối với Cogny, cuộc bao vây Điện Biên Phủ của đối phương sẽ dày đặc đến mức phải cần đến những phương tiện lớn để mở được một lối thoát, qua đó chỉ những đơn vị nhẹ mới có thể luồn ra được. Lần đầu tiên viết cái từ "thảm họa", cuối cùng Cogny nói rõ sự thực của một tia sáng giờ đây đã không còn mang tới hi vọng cho các quan điểm trong công tác tham mưu nữa, những quan điểm mà bản thân ông đã để cho mình bị lôi cuốn trong thời gian dài: "Bên ngoài các đường mòn, ông đã viết, không thể nào tổ chức hành tiến cho những đoàn quân lớn". Ông gợi ý sử dụng con đường cũ từ Điện Biên Phủ đi Sốp Nao, ở đó các xe bánh xích có thể đi được, với điều kiện trong quá trình hành tiến phải mở thông một vài đoạn. Tuy nhiên địa hình chưa hề thay đổi kể từ khi người ta mơ tưởng biến địa hình đó thành một bãi chiến trường tấn công, và đúng là người ta đã bố trí vào đó một tay kỵ binh.

Như vậy là Cogny nhấn mạnh làm sao để cho mười ba nghìn năm trăm con người, quân số lúc đó của đội quân đồn trú, không bị bắt giữ khi tìm cách tháo chạy và để cho Điện Biên Phủ được bảo tồn bằng mọi giá. Để làm yên lòng Navarre, ông nói thêm rằng không một ai ở Điện Biên Phủ biết được ý định thực sự của kế hoạch. Nhưng mà liệu có ai lại có thể hiểu nhầm về cái tên gọi mà người ta đặt cho kế hoạch ấy được? Xenophon.1 là tác giả của cuốn Anabase, và Anabase đó là cuốn sách nói về trận rút lui của mười ngàn người trong lịch sử.

Dự kiến về cuộc tấn công được chờ đợi, Navarre phác ra hai giả thiết trong mộc bản chỉ lệnh mới bí mật: hoặc là đối phương sẽ nhảy vào tập đoàn cứ điểm với toàn bộ sức mạnh của họ, hoặc là họ bằng lòng với việc vô hiệu hoá nó và chuyển đi hướng khác một bộ phận quân số của họ. Trong trường hợp thứ hai này Navarre cho rằng chỉ có khoảng một chục tiểu đoàn Việt Minh có thể xâm chiếm nước Lào, bởi lẽ tất cả những tiểu đoàn khác sẽ bị cầm chân do sức kháng cự mạnh mẽ của tập đoàn cứ điểm, những đòn quyết liệt của đội quân đồn trú sẽ tiêu diệt các đơn vị tấn công và các khẩu pháo. Thậm chí ông còn dự kiến, nếu như so sánh lực lượng cho phép, sẽ phải mở trận tấn công vào căn cứ Tuần Giáo.

Người ta có thể nhận thấy một khoảng cách lớn lại đột nhiên ngăn cách những quan niệm về tác chiến của hai viên tướng. Navarre cùng các cộng sự tiếp tục vạch những mũi tên lên các tấm bản đồ tham mưu, trong lúc đó những cuộc trinh sát gần như không vượt qua khỏi đường viền quanh của trận địa phòng ngự. Tấn công căn cứ Tuần Giáo bằng đường bộ là câu chuyện nằm mơ; tưởng tượng ra rằng các tiểu đoàn của Langlais sẽ có thể xung phong lên các đỉnh núi để tiêu diệt các cụm pháo của đối phương ở đó, điều này chứng tỏ rằng người ta chưa hề hỏi han Langlais về những khó khăn của ông ta, hoặc là người ta coi Langlais như một kẻ bất tài. Trong trường hợp đó, thì phải cách chức ông ấy.

Về phần mình, Cogny ý thức được việc đối phương và địa hình. Đến lượt mình, chỉ thị mà ông đề ra cho Castries và sau này ông coi như bản hiến chương của việc phòng ngự không đi chệch sang những cái nhìn không thực tế: ngày hôm trước, ông quay trở lại Điện Biên Phủ. Ông điểm lại các phương tiện chiến đấu, xác định nhiệm vụ của trận địa phòng ngự, tỏ ý với mọi người rằng thắng lợi không phải là không có khả năng và rằng phải giành lại từng mẩu đất bị đánh chiếm. Nhưng mà rõ ràng hình như, trong tư tưởng của ông, Béatrice và Gabrielle đã bị thất thủ ngay từ bây giờ bởi lẽ chúng không nằm trong bản liệt kê các điểm tựa phải giữ được bằng mọi giá. Trongtrường hợp này, làm thế nào ông có thể tưởng tượng rằng dù sao ông cũng là người chiến thắng nếu như đường băng sân bay trở nên hư hỏng hoàn toàn. Nhờ vào pháo binh của ông ta, không có một giây phút nào mà chàng pháo thủ Cogny lại nghĩ rằng pháo binh quân Việt có thể trụ nổi dưới hoả lực của những khẩu đại bác của đại tá Piroth. Đối với Cogny cũng như đối với mọi pháo thủ của đạo quân viễn chinh, tướng Giáp không thể nào sử dụng các khẩu pháo bố trí ở phía bên kia các ngọn núi do bởi đường đạn cầu vồng sẽ vướng víu và tầm bắn quá xa, cũng như không thể bố trí các khẩu pháo ở phía bên này các ngọn núi bởi vì, khi nhìn thấy họ bắn, người ta sẽ tiêu diệt họ. Về phần mình, không có giây phút nào, Castries lại nghĩ rằng bộ binh quân Việt có thể tiến lên dưới làn đạn pháo và đứng chân được trên những vị trí chiếm lĩnh.
___________________________________
1. Xenophon: Sử gia và triết gia. Một tướng của thành Athènes (Hi Lạp) (427 - 355) - TrCN. Tác giả cuốn Anabase. - N.D
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #45 vào lúc: 09 Tháng Tư, 2008, 09:37:18 pm »

Ngày hôm đó, người ta cũng biết là một trung đoàn thuộc "sư đoàn thép", sư đoàn 304, mà người ta biết là đã xuất phát đã tới Điện Biên Phủ. Đó là trung đoàn 57, mà viên tham mưu trưởng tên là Nguyễn Hiền, ông này hành quân với một mảnh đạn súng cối nằm trong ngực bên cạnh quả tim.

Đối với ba tiểu đoàn của trung đoàn này, từ Yên Bái lên Điện Biên Phủ, trên bốn trăm năm mươi kilômét đường mòn là cảnh sống địa ngục. Ngày và đêm, tiếng hét "máy bay"... vang lên và các hàng quân vội tản vào rừng để tránh khỏi con mắt của máy bay. Mọi người có gì ăn này: phần lớn một nắm cơm nguội lạnh giữ lại từ bữa ăn hôm trước, gói trong một mảnh lá cọ; nghiêm cấm không được nhóm lửa, ngoại trừ những chặng nghỉ, trong những bếp lò không khói sau vài tiếng đồng hồ hành quân, với vũ khí và đồ đạc nặng trĩu.

Đoạn đường gay go nhất là giữa Thuận Châu và Tuần Giáo, đoạn đi qua đèo Pha Đin, ngọn đèo này có tên như vậydo vì các điểm cao của nó, thường là chui trong lớp mây, trông như chạm tới trời. Trên các ban đồ tham mưu đèo này có tên là đèo những người Mẹo. Do vì ở đó luôn luôn bị đe dọa bởi một cuộc oanh tạc của máy bay, mặc dầu đã có các khẩu đội cao xạ được bố trí, cho nên đơn vị phải hành quân một mạch, gần như chạy bộ, trong một đêm, bất chấp pháo sáng do máy bay thả xuống vượt qua ba mươi kilômét đường chữ chi, trên sườn một quả núi trọc ở trong vùng. Một vài đoạn trên dốc hành trình, hàng ngày bị ném bom, bị hư hại đến mức đi bộ qua đó cũng vất vả và rằng từng đoàn xe tải bị tác nghẽn trong đó nhiều giờ liền. Đôi khi công binh cũng phải bạt lở từng đoạn núi đá để san phẳng thành đường đi.

Khi tôi hỏi đại úy Hiền, liệu máy bay có gây khó khăn cho đơn vị của ông ta không, ông trả lời rằng chỉ có những ai chưa tham gia chiến tranh trong hàng ngũ của ông ta mới có thể ngờ vực điều đó. Nhưng ông nói thêm, dù cho máy bay có mạnh gấp trăm lần, cũng không thể ngăn cản được đơn vị của ông vượt qua. Càng bước tới gần bao nhiêu, thì một nỗi căm giận thiêng liêng càng tràn ngập tâm hồn các chiến sĩ và dòng người như nước chảy, bao gồm nam nữ, cùng xe cộ tiến về Điện Biên Phủ trên con đường tỉnh lộ 41 bị máy bay cày xới, hoặc là từ Điện Biên Phủ quay về để đi chở những chuyến hàng khác.

Trong cái đêm trung đoàn 57 hành quân qua đèo Pha Đin, may sao sương mù dày đặc và giá buốt. Để cho ấm người, tham mưu trưởng Nguyễn Hiền móc một nhúm thuốc lá sợi ra khỏi chiếc túi ni lông cuộn thành điếu thuốc và lần lượt mỗi người hút một hơi. Tuy rằng báo động có máy bay là thường trực vậy mà những ngọn đèn pha một chiếc xe tải vẫn rọi sáng loà mảng bóng tối và làm tung tóe trên không trung những cành cây, lá cây bị đốt cháy. Có ai đó dừng xe lại.

- Cậu làm như thế mà hòng thoát khỏi được máy bay à?
- Vâng, thưa bố, người lái xe vừa nói vừa cười. Khi máy bay ở trên đầu tôi, tôi dừng xe và tắt máy. Bố bảo như vậy, ở trên cao ấy, nó làm được gì nào?

Trung đoàn cũng gặp một đoàn xe Molotova, vừa từ mặt trận quay về, thùng xe rỗng không, đang chờ thông đường ở một đoạn đường tránh.

- Các anh ở sư đoàn nào đấy? Còn các anh, các anh là ai? Những người lái xe hỏi vậy.
- Bộ binh, ông Hiền trả lời, cắt đứt mọi chuyện tò mò.
- Này các bạn bộ binh, một người lái xe kêu lên. - Đây là phần cho các cậu.

Và trong tiếng vỗ tay hoan hô, anh ta đưa cho họ gói bánh bích quy và một gói thuốc lá Gaulois lấy được trong một gói hàng được thả dù xuống trên tuyến lửa.

- Lần này thì mình cho các cậu đấy, anh lái xe nói thêm. Lần sau thì các cậu tự xoay xở tại chỗ nhé.

Chỉ mãi đến một tiếng đồng hồ sau khi trời rạng, họ mới đến được chân đèo và như thường lệ, họ đào hầm hố để nằm ngủ. Trước khi đi nghỉ, các trung đội trưởng kiểm tra xem màn của anh em có được dắt cẩn thận hay không. Ở Tuần Giáo, nơi người ta đảm bảo phân phối đồ tiếp tế, do phải kiểm tra trọng lượng các khối hàng phân phối cho nên đã xảy ra những cuộc cãi cọ dữ dội, một số phải rọi đèn để xem mã cân và một số khác thì sợ rằng dù cho chỉ le lói, những tia sáng đó cũng có thể thu hút lũ máy bay ném bom.

Từ căn cứ Tuần Giáo đến Điện Biên Phủ phải hành quân ba đêm liên tục để vượt qua quãng đường tám mươi kilômét: quãng đường từ Paris đi Chartres. Con đường đầu tiên chạy dọc theo một thung lũng mà tôi thấy là tươi sáng khi tôi đi qua đó, ban ngày, chín năm về sau. Những vành bánh xe lớn, có guồng cối xay múc nước dưới sông đổ vào các kênh thuỷ lợi; những đàn trâu, thân mình bóng loáng lớp bùn, gặm sồn sột trong những mảnh ruộng rạ và đằm mình trong những vũng nước; người ta đập lúa bên những đống rơm. Những người nông dân đi ngang qua trước mặt chúng tôi, ngồi trên lưng những con ngựa nhỏ, bờm dài mầu vàng nâu.

Từng chỗ, từng chỗ lớp đá vôi xuyên thủng lớp da ngoài mầu xám của những ruộng lúa, nhọn hoắt và đột ngột chặn ngang đường đi, chỉ để lại một khe nhỏ năm giữa những vách đá đen kịt. Rồi thì, thung lũng thu hẹp lại, các ngôi làng xa nhau ra và biến mất, quang cảnh trở nên hoang dại và ngạt thở, dòng sông chảy xiết dưới một vòm cây tre. Đột ngột, dưới chân một tảng đá lớn con đường mà trên suốt hành trình người ta tìm cách mở rộng, giờ đây mang một dáng vẻ đáng sợ. Suy ngẫm thì thấy là cũng chẳng khác gì, không hơn cũng không kém tất cả những con đường trên vùng thượng du mà các vị tướng muốn sử dụng để hoạt động. Những kỹ sư cầu đường táo bạo đã vạch ra những con đường ấy vào một thời kỳ mà các nhà cầm quyền di chuyển không có đoàn hộ tống, đi qua một xứ sở hoà bình. Sụt lở, đầy rãnh sâu, chúng chỉ còn giữ lại cái tên là con đường và được thể hiện bằng những nét vạch trên các tấm bản đồ. Trèo lên và tụt xuống các khe rãnh: lội qua các dòng sông suối, bên cạnh các tác phẩm nghệ thuật bị phá huỷ những con đường đó làm cho động cơ xe máy gầm réo, bẻ gãy các lò so, làm sụn lưng người ngồi trên xe. Những chiếc xe đi trước làm bốc lên một màn bụi đất bám dính vào mặt người. Chúng lại còn xấu hơn nữa khi các đoàn xe tiến lên, dưới mối đe dọa bị máy bay tấn công, xuyên qua cái ổ gà khổng lồ với những đoạn đứt gãy được sửa chữa tồi, khi trời mưa thì lõm bõm lớp bùn dính nhớp nháp, các bánh xe làm bắn toé bùn lên người các anh lính bộ binh. Do vì các đoàn xe chỉ có thể gặp nhau ở một số điểm, những đoạn đường này lại hẹp cho nên người ta phải móc những chiếc xe bị “pan" vào những chiếc đi trước cho đến tận đoạn đường bánh tiếp sau.

Cách Điện Biên Phủ khoảng hai chục kilômét, nhiều nhánh đường rẽ đột nhiên mở ra chạy vào rừng. Người dẫn đường đưa trung đoàn 57 rẽ lên hướng bắc, bám vào những con đường khác thuộc mạng lưới giao thông do tướng Giáp cho làm để kéo các khẩu pháo tới và bố trí trong hệ thống hoả lực pháo binh của ông. Được phủ kín bằng những cành lá cũng như các xe tải kéo chúng, bản thân chúng cũng giống như những bụi cây dày đặc, những nòng pháo 105 thuộc sư đoàn nặng 351 đã đi qua đây và còn tiếp tục đi qua nữa. Ban ngày được che giấu trong những đường hầm là rừng cây, chúng đã tới được những điểm cao của Điện Biên Phủ, nhờ vào những đoạn hào khổng lồ, khoét vào dãy núi đá vôi. Trong phần lớn các trường hợp chỉ cần mở rộng những con đường nhỏ của người Mẹo hoặc những con đường lâm nghiệp thời kỳ thuộc địa, đủ để cho xe tải đi qua được.

Công việc quá sức bởi những phương tiện thời nguyên thuỷ của công trình! Để thu ngắn khoảng cách, người ta đã tấn công các dốc núi theo những góc độ chóng mặt. Không cần nghĩ đến nặng nhọc vất vả, những thân cây lớn dùng để bắc cầu, được chuyển đi trên lưng người và những con đường chạy ngược lên, men theo sườn vách đá, không có rào chắn và khi trống trải, hai vệ đường được trồng những cây chuối dại và những cây tre, thân dài uốn cong xuống, những cây này được đào lên, mang tới trồng có cả rễ. Những công trường không ngừng xuyên thủng núi đồi. Hàng trăm người đàn ông, đàn bà và những thiếu nữ dùng cuốc cuốc đất, san phẳng vách núi, bốc đất chuyển đi bằng những chiếc thúng tròn, những chiếc xe cút-kít đẩy tay và những chiếc xe ba gác có hai bánh, họ lựa chọn kỹ càng lọc ra những viên đá dùng để lát mặt đường hoặc đôi khi đi tìm kiếm đá lát đường ở cách chỗ đó nhiều kilômét.

Đoàn người của trung đoàn 57 cất tiếng hát. Họ không còn cảm thấy sức nặng của vũ khí trên vai nữa. Họ chào hỏi, nói chuyện bông đùa với những nhóm người đã sống nhiều tuần lễ trong những khu rừng với những bụi rậm bám đầy những con vắt, chỉ chờ đợi có người đi qua để bám chặt vào lớp da của họ. Ngày và đêm, khu rừng không ngừng vang lên tiếng cuốc xẻng, hoà trộn với tiếng hót của chim chóc lúc thì lanh lảnh, lúc thì trầm trầm, tiếng mổ ám ảnh của con chim gõ kiến và tiếng gầm của những con dã thú sợ sệt. Cuộc tổng động viên cả một dân tộc này, được mở màn bởi quyết định của Ban chấp hành Trung ương Đảng để giành lấy chiến thắng bất chấp mọi khó khăn trở ngại, đã gạt bỏ mọi khó khăn của chính họ. Họ mơ hồ cảm thấy rằng họ tham dự vào một biến cố ghê gớm, đột nhiên ngấm vào con người họ đến tận xương tuỷ, mang tới cho họ niềm tin vững chắc là họ sắp chiến thắng và rằng điều mà cho đến tận lúc này đòi hỏi biết bao cố gắng, mù mịt sẽ mở ra một khung cảnh chói loà. Từng bước một, ngày tiếp ngày và đêm nối đêm, trận đánh biết bao hi vọng đã nằm trong tầm tay và thắng lợi của trận đánh đó chỉ còn tùy thuộc ở lòng dũng cảm của họ.

Trên sườn một quả đồi ở gần đó, một giọng hát khác có vẻ như để đối đáp với tiếng hát của họ, truyền tới với nhịp điệu hùng mạnh, lúc thì hoại bát lúc thì nghiêm trang, cơn gió đưa tiếng hát rõ mồn một tới trước mặt họ:

Hò dô ta nào!
Kéo pháo ta vượt qua đèo!

Người ta không trông thấy nhóm người đang kéo khẩu pháo ở đầu những sợi dây thừng và những chiếc tời, từng xăngtimét một, khẩu pháo nhích dần về chiếc hầm khoét sâu vào núi đá và có thể phải chăng là để chào mừng khẩu pháo đã chui vào hầm, công việc đã hoàn thành mà tiếng hát ấy cất lên. Khi mà, sau một giai điệu chậm rãi hơn, tiếng hát dừng lại ở đoạn ngắt thì một tiếng hét dài bung ra từ các lồng ngực. Các chiến sĩ dừng chân trong giây lát, tay giương cao khẩu súng về phía có tiếng hét nẩy sinh từ nỗi nhọc nhằn và niềm tin của con người. Khi viên tham mưu trưởng Nguyễn Hiền quay lại để kiểm tra cho đoàn quân tiếp bước hành quân, ông nhận thấy là đồng đội của ông đã biến đổi. Ông không biết nói là vì sao, nhưng đôi mắt ông, đột nhiên nhoà lệ, đã nói rõ điều đó.

Chỉ mãi đến tám giờ tối, đêm đã xuống, ở cuối chặng đường, sau khi đã đào hầm hố, mọi người mới có thể chui xuống đó, cuộn tròn mình trong những tấm nilông để nằm ngủ. Viên tham mưu trưởng trung đoàn 57 người cuối cùng tham gia vào các lực lượng bao vây Điện Biên Phủ, lúc đó mới biết đến một chuyện mà với tính hay bông đùa, ông ta gọi là một tình thế khó xử. Từ ba ngày nay, ông đã không có dịp tắm rửa và muốn đi tắm. Cuối cùng bản thân ông cũng thế, ngã vật xuống một cái hố và nhắm mắt lại. Ông vẫn còn chưa nhìn thấy ánh sáng đèn trong sân bay là cứ điểm, nhưng mà ông cảm thấy nền đất êm dịu, tựa như một mảnh đất hứa.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #46 vào lúc: 09 Tháng Tư, 2008, 09:43:17 pm »


Ngày 25 tháng giêng 1954


Trở lại Đông Dương từ một tuần lễ nay, ngài Jacquet, cùng với viên tham mưu trưởng lục quân sang trước ông tám ngày, ngồi ở Hà Nội lắng nghe tướng Cogny phác thảo bức tranh các mối đe dọa đang tích tụ lại trên đầu tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Navarre có mặt ở đây, và Cogny không sợ là ông có gây trở ngại gì.

Đã có phần lo ngại, ông bộ trưởng đột nhiên dỏng tai nghe. Thân hình vuông vức, cử chỉ mềm mại, mái tóc hoa râm cắt ngắn càng làm nổi bật khuôn mặt thô kệch, ông lẳng lặng nhét đầy một cối thuốc mới vào chiếc tẩu rồi đột nhiên hỏi Navarre xem liệu Navarre có đủ tin chắc sẽ giành chiến thắng hay không. Hôm qua, một khối chất nổ, dấu trong một chiếc cặp da suýt nữa đã nổ tung trong buổi lễ cầu nguyện của các sĩ quan một đơn vị vận tải. Đó là ngày chủ nhật thứ ba sau lễ Hiện thân mà kinh thánh nhắc lại câu chúa Jésus nói với một trăm người: "Tôi không xứng đáng để các bạn bước vào dưới mái nhà của tôi, nhưng xin các bạn chỉ nói cho một lời , và kẻ đầy tớ của tôi sẽ khỏi bệnh. Bởi lẽ tôi phải phục tùng các cấp chỉ huy, tôi có các binh sĩ dưới quyền chỉ huy của tôi và tôi nói với một trong số họ: "Đi đi” và anh ta ra đi…”

Navarre đầu tiên làm ra vẻ không biết đến Cogny, nhưng mà thân hình to lớn của Cogny đứng cứng đơ tựa như một lời phản bác câm lặng, sau đó ông cau có trả lời. Ông nhắc lại một cách khô khan những lập luận làm cơ sở cho kế hoạch của mình, nhận mạnh đến sự cần thiết ông cảm thấy phải bảo vệ nước Lào, nhắc lại những áp lực ông phải gánh chịu khi đánh chiếm Điện Biên Phủ và kết luận bằng việc nêu lên con số gây ấn tượng về các lực lượng của tập đoàn cứ điểm đối mặt với một đối phương bị chặn lại trên bước đường tiến sang Lào và không có phản ứng gì ở vùng đồng bằng. Ngài Jacquet không thấy bản thân mình có tư cách để phản bác. Vả lại, thử hỏi nhân danh ai mà ngài Jacquet nêu ra ý kiến phản đối đây? Tuy nhiên ngài vẫn hỏi Cogny.

- Các lực lượng ở Bắc Kỳ sẽ đón nhận tin thất bại ở Điện Biên Phủ như thế nào?
- Sẽ đón nhận, Cogny đáp. Nhưng còn Paris thì sao?
- Tôi hi vọng là Paris sẽ không phải đứng trước sự kiện bất ngờ ấy, ngài Jacquet nói câu đó trước mặt Navarre nín lặng.

Khắp nơi người ta hi vọng chờ đợi cuộc tấn công được thông báo. Mỗi buổi tối, trong các đường hầm ở Điện Biên Phủ, ở đó lớp bụi đất màu vàng mà các máy bay khi cất cánh, các loại xe cộ và bánh xích của những chiếc xe tăng bốc tung lên, lại rơi xuống và bám dầy khắp nơi, người ta lau chùi vũ khí sau khi những khẩu đại bác nhả những loạt đạn đầu tiên, gây ra những đám cháy trên rặng núi. Những cuộc báo động liên tiếp làm căng thẳng thần kinh. Tất cả đám thanh niên ấy vốn buồn chán, mơ tưởng tới nửa cốc rượu sủi bọt trên mảnh sân phẳng của tiệm cà phê, tới những vòi tắm hoa sen và đàn bà, và thả mình vào những trò kỳ quặc của đám học sinh trung học bị trầm uất. Thứ nước lã của dòng sông Nậm Rốm và thứ rượu mạnh sẫm màu mà cơ quan hậu cần thả dù xuống dưới cái tên vang ướp lạnh làm cho họ trở nên buồn bã. Đôi khi với vẻ trào phúng đen tối người ta cất giấu rượu bia trong những chiếc quan tài để chuyển lậu tới Điện Biên Phủ. Sự xuất hiện của những phụ nữ hộ tống trên máy bay, cô nữ thư ký xinh đẹp của Castries, Brigitte Friang mà người ta sốt sắng tiếp nhận những điếu thuốc lá nhuộm đỏ, khuôn mặt bôi phấn hồng của các cô gái Ouled Naïl1 của nhà thổ quân sự ở Lai Châu, được di chuyển đồng thời với đội quân đồn trú, và của một nhà thổ khác từ Hà Nội chuyển lên, làm cho họ nghĩ đến chuyện làm tình. Ở cứ điểm Béatrice, thậm chí người ta đã đào những căn hầm bố trí khéo léo cho các phụ nữ ấy, tất nhiên có cách xa đối phương hơn một chút.

Bệnh viện của tập đoàn cứ điểm đã làm được vai trò của nó là vì người ta sơ tán được các bệnh binh, thương binh và những người chết. Chỉ trong một tháng, người ta đã chuyển về Hà Nội hai trăm thương binh, bảy mươi nhăm người bị tai nạn và ba trăm năm mươi tư người ốm. Trạm xá chỉ có bốn mươi hai giường. Chỉ có bảy giường trong phòng hồi sức. "Không sao, Castries bảo Brigitte Friang, trong trường hợp có cuộc tấn công, người ta sẽ để thương binh ở khắp nơi...". Để đi tìm kiếm họ, chỉ có một xe cứu thương và hai xe Jeep. Nhà xác đã được đào ở gần bệnh viện. Năng suất của trung đội khử trùng nước không đủ và tất cả các đơn vị không có xe bồn chứa. Người ta thiếu màn chống muỗi cá nhân và bệnh sốt rét tồn tại trong tất cả các ngôi làng trong vùng xung quanh.

Vào thời điểm một màn đêm mới buông xuống, bắt đầu cảnh chờ đợi. Một chiếc Dakota đom đóm bay lượn trên trận địa, sẵn sàng thả bom chiếu sáng. Mười ngày có trăng. Trăng mọc trước lúc mặt trời lặn, một khối màu vàng to lớn trên bầu trời. Không một ai biết được nếu như nó xảy ra, cuộc tấn công sẽ mở đầu như thế nào, đêm hôm đó. Chắc chắn, giống như ở Nà Sản, bằng một hoả lực súng cối tập trung vào Béatrice và Gabrielle hai điểm nhô ra của pháo đài năm mươi hay một trăm nòng cối cùng một lúc nhả ra các trái phá cỡ 81 li. Trên hướng bắc hoặc đông bắc, màn đêm đột nhiên xé toang ra, sắt thép chụp lên đầu mọi người, nền đất há toác ra dưới đòn nện mạnh của một kẻ vô hình. Phía sau các lỗ châu mai của các căn hầm, các xạ thủ bóp cò các khẩu súng liên thanh. Rồi thì pháo binh của tập đoàn cứ điểm sẽ bước vào hành động và cái chết đổ ập xuống các đỉnh núi, ở đó các đơn vị của đối phương đang tập trung lại để xung phong. Trong tất cả các thôn bản vùng xung quanh, người ta ra khỏi các túp lều và ngắm nhìn những vầng sáng của trận đánh. Bầy trẻ con bắt đầu khóc lóc. Những con vật trong rừng rậm bỏ chạy. Lúc đó bốn hoặc mười tiểu đoàn Việt Minh sẽ lao tới các đỉnh đồi của Béatrice hay ngọn đồi tròn của Gabrielle, hết lớp sóng này đến lớp sóng khác, đi trước là các nhóm đánh bộc phá có nhiệm vụ mở các đột phá khẩu trong hệ thống rào dây thép gai và phá huỷ các lô cốt, những người này chết cùng với khối bộc phá nổ. Hàng nghìn chiến sĩ đầu đội mũ lá cọ hoặc mũ đan bằng nan tre, chân đi những đôi dép làm bằng săm lốp ôtô, lưng đeo từng chùm lựu đạn sẽ bị nghiền nát dưới quả đấm thép của đại tá Piroth hoặc dưới những loạt đạn của Béatrice và Gabrielle.

Cầu mong cho đòn đánh diễn ra và chấm dút cảnh chờ đợi không sao chịu đựng nổi đối với một biến cố có thể sẽ quyết định số phận của cuộc chiến tranh. Trí tưởng tượng của những con người thuộc đạo quân viễn chinh đưa họ bay đi xa nhiều nghìn kilômét, tới nơi những người vợ, một bầu trời êm dịu, những mái nhà và một mảnh đất không giống những thứ ở đây đang chờ đợi họ.

Trong căn hầm, với những mảng vách chất đầy những bao đất và những tấm chiếu, đại tá Castries ngồi trước bàn làm việc, vầng trán tì vào bàn tay phải, lắng nghe tiếng động của đêm trường. Trong bàn tay trái của ông, một điếu thuốc lá kẹp chặt giữa đốt cuối ngón tay trỏ và ngón tay cái đang cháy dần; ông sẽ hút điếu thuốc ấy cho tới lúc bỏng môi. NGƯỜI ĐÀN ÔNG mang thanh kiếm mơ màng, đôi mắt trống rỗng mơ hồ nhìn ngắm phía trước mặt mình một tờ giấy trắng ở gần chiếc gạt tàn và một chiếc bàn thấm, một cây thước trong suốt có khắc vạch, mấy chiếc bút chì màu, hai chiếc đèn pin cầm tay. Ánh sáng toả ra từ những bóng đèn không có chụp, mắc trên trần hầm. Một chiếc máy chữ kêu lách tách trong khoảng sâu của căn hầm, khoảng sâu tựa như bóp nghẹt những tiếng động và tiếng chuông run rẩy của một máy điện thoại. Choán gần hết một mảng vách hầm, tấm bản đồ tỉ lệ lớn của tập đoàn cứ điểm, được phủ ngoài một lớp nilông trắng trên đó người ta đã vẽ bằng nét bút chì đậm những dấu hiệu theo quy ước.

Thật kì lạ cái số phận như số phận của người kỵ binh này, trải qua các đêm và một phần các ngày của mình dưới lớp đất sâu hai mét, bị quây tròn. Một chiếc xe Jeep đứng đợi ở đầu một cửa hầm, bước ra đó trên một sàn hầm dốc nghiêng. Nếu như đêm nay quân Việt tấn công có lẽ Castries sẽ biết được cuộc phiêu lưu này sẽ dẫn tới đâu, có thể là niềm vinh quang hay nỗi nhục nhã. Bản thân ông, ông chiến đấu vì hai ngôi sao bạc trên cấp hàm, những ngôi sao lẽ ra ông sẽ có được mà không cần đến cuộc phiêu lưu này và được tăng thêm một cấp trong đội LÊ DƯƠNG danh dự.

Ông hoạt bát lên. Không thể nào thất bại khi có không quân yểm trợ, mười hai tiểu đoàn vùi sâu trong khu lòng chảo, hai mươi tám nòng đại bác và mười sáu nòng súng cối hạng nặng của ông sẵn sàng nhả đạn. Cogny từ Hà Nội luôn luôn quan tâm đến ông, và với Cogny ông có thể nói chuyện bất kỳ lúc nào ông muốn, rõ ràng, nhờ vào một máy bộ đàm khi phát đi làm nhiễu các sóng khác và khử nhiễu khi tiếp nhận. Lúc cuối ngày các máy bay đã sục sạo các ngọn núi, tìm kiếm những dấu hiệu, phát hiện những cuộc chuẩn bị tấn công. Không có hoặc gần như không có gì: những chuyển động mà pháo binh đã giải quyết, và không có ý nghĩa gì lớn, không có những thông tin là một cuộc tấn công sẽ diễn ra.

Tuy nhiên Castries biết rằng đối thủ của mình mạnh và vũ khí lợi hại nhất của họ là giữ bí mật: người ta không trông thấy họ đến và họ biến đi với cùng một nghệ thuật, một khi trận đánh kết thúc, cốt để tránh những đòn đánh bồi. Đối thủ tung ra hành động chớp nhoáng, giữa màn đêm tối. Khi bình minh ló ra, họ đã ở xa hoặc tan biến vào giữa rừng rậm, trong những ruộng lúa, bãi lầy hoặc trong những đường hầm bí mật nằm trong lòng đất các thôn bản. Dưới vùng đồng bằng mà ông thông thạo, Castries đã hơn một lần quây kín đối thủ và tiêu diệt họ cùng với đoàn xe thiết giáp. Ở đây, Castries đã tìm kiếm họ một cách vô hiệu. Hầu như mỗi ngày ông đã bay trên rặng núi. cùng với Piroth, chủ nhiệm pháo binh, trên một chiếc máy bay quan sát để tìm cách phát hiện những dấu vết và nơi bố trí của đối phương. Castries muốn tự thuyết phục rằng quân Việt sẽ bắt buộc phải lộ mình ra. Lúc đó các lòng súng đại bác sẽ nghiền họ thành tro bụi.

Ông hơi nới rộng chiếc khăn quàng mầu đỏ và dụi điếu thuốc lá vào chiếc gạt tàn. Đối với ông, nếu như trận tấn công diễn ra, ông cầu mong là nó mạnh mẽ và kéo dài không lâu. Tạm thời, ông sẵn sàng chơi bài bridge nếu như tìm được thêm ba người: chẳng hạn, viên tham mưu trưởng mới, thiếu tá Keller, người duy nhất cùng với ông có thể được đọc những bản tổng hợp của phòng Nhì của Cogny, viên trung tá đội lê dương Gaucher chỉ huy phân khu trung tâm, với cái mồm của lũ cướp biển và Langlais, mà sở chỉ huy cũng không ở xa, người đã nắm hai tiểu đoàn quân dù được dự trữ cho những trận phản kích. Dự trữ ư? Không hoàn toàn như vậy. Lúc bình thường, các đơn vị này bảo vệ một mặt cứ điểm Claudine và người ta tính có thể nhanh chóng tập trung họ lại. Castries bấm chuông gọi cô thư ký riêng, Paul Bourgeade, cô gái hai mươi tám tuổi đời, với đôi mắt mầu hại dẻ mà ông đã gặp ở vùng phía nam khu đồng bằng, ở đó cô đã phục vụ trong năm năm với một tinh thần dũng cảm mà rất nhiều người đàn ông có thể phải ghen tị với cô.

Giống như cô gái duyên dáng và mảnh mai Brigittle Friang, cô thuộc về loại những phụ nữ mà người ta ngạc nhiên khi gặp thấy ở trong các đạo quân và họ thấy thích thú cuộc sống đó bởi lẽ ở châu Âu, họ đã trải qua những thử thách mà họ tìm cách quên đi, họ thấy thoải mái hơn khi được sống bên cạnh những người đàn ông đang mạo hiểm cuộc sống hơn là trong cảnh sống tư sản hèn nhát. Dù cho cuộc đời của họ đã gặp những bi kịch, giống như cuộc đời của những cô gái khác đi sang vùng Viễn Đông, không một ai nghi ngờ gì điều đó và không một ai tìm cách để phát hiện. Đối với các cô gái ấy, đạo quân viễn chinh là biểu tượng của những gì mà đoàn quân lê dương cống hiến cho những con người mà một câu chuyện thất tình hay một lệnh quản thúc của xã hội, một ngày nào đón đưa tới văn phòng tuyển mộ. Cô gái này, Castries thấy mến, và người ta hiểu ông. Ông dẫn cô đi theo trên xe Jeep khi ông đi kiểm tra các điểm tựa; cô ghi các nhận xét của ông vào trong cuốn sổ tốc ký của mình, và để lại sau lưng cô những giấc mơ và một mùi hương thoảng nhẹ của nước hoa Dior, thứ đồ trang sức duy nhất mà cô có, giống như Brigitte Friang nhảy dù xuống cùng với lủng củng hộp phấn, những lọ nước rửa mặt và thỏi son môi. Hơi khó gần, một cô thư ký thuộc thứ hạng ấy chăng? Ở Đông Dương, kể từ thời De Lattre, tinh thần táo bạo là câu chuyện thường xuyên. Cuộc chiến tranh này chẳng phải có chút hơi hướng câu chuyện hòn đảo Atlantide2 hay sao?

Paule Bourgeade xuất hiện trong bộ quần áo nặng nề và đôi giày nhà binh, mang thêm nét duyên dáng đầy ý vị cho khung cảnh. Cô mỉm cười. Cô xinh đẹp, khác thường, và hẳn rất nhiều các đội viên lê dương và lính dù phải ngoái đầu lại nhìn... Xứng đáng với một thống chế trên mặt trận.

- Một ván bridge, Castries bảo, cô thử tìm cho mấy tay chơi.

Cô nàng Bourgeade bước đi. Cô yêu cuộc sống này và thích mạo hiểm. Đó là quyền của cô và thậm chí tính cao thượng của cô. Sai lầm duy nhất của cô là đã để cho mình được tặng thưởng tấm huân chương chữ thập chiến tranh ở Điện Biên Phủ, trên mặt trận của quân đội.
________________________________________
1. Oulet – Naïl: một số bộ lạc sống ở miền nam Algérie du canh, du cư trên dãy núi Ouled - Naïl. - N.D

2. Atlantide: Một hòn đảo, theo truyền thuyết phương Tây, ở vùng Đại Tây Dương, nơi có nhiều chuyện lạ. - N.D
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #47 vào lúc: 09 Tháng Tư, 2008, 09:48:12 pm »


Ngày 26 tháng giêng 1954


Trận tấn công đã không diễn ra và đây là lần đầu tiên một thông tin có giá trị như vậy có vẻ bị cải chính. Có thể là cái lệnh hủy bỏ đã được uỷ thác cho các phương tiện thông tin khác chắc chắn hơn là máy vô tuyến.

Ngài Jacquet hạ cánh xuống Điện Biên Phủ lúc 13 giờ 50, cùng đi có ngài Dejean, tướng Blanc, các tướng Navarre và Cogny.

Đội nghi lễ quen thuộc có mặt tại vị trí. Trang phục của một nhà quý tộc nông nghiệp vốn có thói quen bước đi giữa các luống cày, ngài Jacquet cao lớn che giấu nỗi lo lắng của mình dưới những cuộn khói của một tẩu thuốc lá cắn chặt trong hàm răng, phía bên trên chiếc cằm béo hai nấc. Đi bên ông, ngài Dejean, áo sơ mi trắng và cà vạt sáng mầu, tựa như cải trang trong một bộ áo liền quần mầu dịu có khóa kéo của hãng Eclair khiến cho ông giống như một nghệ sĩ xiếc. Ngay sau khi xuống khỏi máy bay, để tiện chào đại tá De Castries, ông đã đội một chiếc mũ cao bồi loại sang, một bên vành mũ gấp lên thật kĩ, và dây mũ buộc qua cằm. Do vì ông thấy vướng víu cho nên ông nhanh chóng nhấc mũ ra và gần như suốt cuộc viếng thăm ông cầm chiếc mũ kỳ lạ ấy trong tay. Khí trời mát mẻ và tướng Blanc quấn quanh cổ một giải khăn mỏng, phất phơ bay trên đôi vai ông nổi bật cấp hàm năm ngôi sao. Cũng ngậm trong miệng chiếc tẩu thuốc, ông lắng nghe, vẻ mạt khô khan, hào hiệp, chiếc gậy leo núi cầm trong tay, cương vị của ông đã rõ ràng.

Castries mời Jacquet lên chiếc xe Jeep do mình lái, theo sau là đoàn tuỳ tùng quen thuộc, xe cộ đi cách nhau khá xa để tránh bụi. Castries đưa Jacquet đi thăm trận địa, bắt đầu bằng cứ điểm Béatrice, ở đó những người lính công binh râu rậm của đội lê dương mang tới cho quan khách cái cảm tưởng đặc thù của họ: Béatrice, nếu cần, sẽ là một trận Camerone1 mới. Ở đây có một đài quan sát, tầm nhìn rộng lớn bao quát toàn bộ tập đoàn cứ điểm và những ngọn núi khống chế khu lòng chảo. Những chiếc ống nhòm hai tròng được cố định trên giá đỡ, đặt trên mỏm đồi của sở chỉ huy. Ngài Jacquet trèo lên chỗ đó và đùng một cái, thụt chân vào một lớp đất mới đào đến tận đầu gối. Trung tá Gaucher đỡ cho ông đứng lên. Minh bạch, tinh tế, lặng lẽ, luôn luôn chờ đợi, viên trưởng phòng thông tin của cao uỷ mỉm cười:

- Này, ông trung tá, ngài Jacquet nói, anh em chui ở dưới ấy ư?
- Ồ, Gaucher trả lời. Trên đầu họ có năm mét dầy các vật liệu và thân cây tròn. Xin bộ trưởng yên tâm, hầm hào ở đây chịu được.

Thử hỏi, liệu ai có thể nghi ngờ được đây? Một tiểu đoàn lê dương, bám chắc vào ba mỏm đồi ở Béatrice, mười một tiểu đoàn khác, vây quanh các khẩu đại bác của họ, trong đoạn thung lũng, từ dưới đó bốc lên những cuộn khói của các bếp ăn tập thể và giải rừng rậm mà người ta vẫn còn đang đốt cháy, cái đó có thể “ra trò" đấy chứ. Để kết thúc chuyến viếng thăm và làm cho các quan khách phải ngạc nhiên, khâm phục, người ta dẫn họ tới sở chỉ huy của Piroth, chỉ huy toàn bộ pháo binh. Piroth đã bị mất một cánh tay trong trận đánh ở Italie, ống tay áo bên tay bị cụt, ông gài vào thắt lưng. Chiếc mũ ca lô rộng của ông chờm ra ngoài mảng sọ cạo trọc. Chiếc mũi to tròn, đôi mắt ẩn sâu dưới vầng trán, đôi môi mỏng, chiếc mụn cóc trên một bên má, tất cả tạo thành cái đầu của một đấu sĩ môn vật tự do hoặc một cầu thủ bóng bầu dục. Bằng một cái vẫy tay, ông cho các khẩu đại bác khạc đạn vào bất cứ chỗ nào ông muốn và khẩu đội pháo 155 bắn cầu vồng của ông sẽ phá huỷ những khẩu pháo đối phương nằm phía sau các đỉnh núi. Khuôn mặt đỏ bừng và cơn giận dữ của ông làm cho người ta yên tâm. Người ta yêu quý ông vì sự nổi tiếng của ông. Thắng lợi tuỳ thuộc vào những đòn phản kích sấm sét của ông, ở sự sáng suốt, ở những đài quan sát, ở tính cứng rắn của ông. Là đại úy phi công dự bị, ngài Jacquet nghĩ đến các đường băng sân bay và thấy lo ngại cho chúng. Dù sao, nếu như đối phương có thể chạm tới những đường băng ấy, dù cho chỉ bằng những quả đạn cối cỡ lớn, mọi việc sẽ rắc rối. Hai mươi bốn đại bác 105, một khẩu đội 155, mười sáu súng cối cỡ lớn, cái đó ông thấy cũng không thật ghê gớm. Ở Triều Tiên, quân Mỹ tập trung hàng nghìn đại bác ở phía sau phòng tuyến của họ.

- Này ông đại tá, ngài Jacquet nói khi rút lui, tôi được biết ở Hà Nội còn hàng trăm khẩu đại bác chưa dùng tới. Ông phải lợi dụng có chuyến viếng thăm của một bộ trưởng để yêu cầu cung cấp bổ sung cho ông một số khẩu đấy.
- Sao cơ! Piroth kêu to, tức tối. Thưa bộ trưởng, xin ngài xem kế hoạch hoả lực của tôi đây. Đại bác ư, tôi có quá ư thừa thãi, vượt quá mức mà tôi cần.

Với tướng Blanc, một kỹ sư bách khoa và một pháo thủ được đào tạo cơ bản, đã từng là cấp trên của Piroth và cũng từng hỏi liệu có đủ những gì mình cần hay không, Piroth trả lời:

- Nếu như tôi được báo trước ba mươi phút thì trận phản pháo của tôi sẽ có hiệu quả.

Thế nếu như ông ta không được báo trước thì sao? Nếu như ông ta không bao giờ được báo trước? Người ta biết là quân Việt đã kéo tới đây hai mươi bốn khẩu pháo 105 mà không một ai xác định được vị trí của chúng. Kiên trì, người ta chờ đợi chúng tự bộc lộ để tiêu diệt chúng.

Khi buổi chiều sắp hết, Navarre đến gần ngài Jacquet.

- Chúng tôi có cảm giác là chúng sắp tấn công trong đêm nay, ông nói nhỏ với bộ trưởng. Tôi rất không muốn để cho bộ trưởng phải mạo hiểm.

Những chiếc Dakota của đoàn tuỳ tùng cất cánh lúc 16 giờ 45 bay về Hà Nội. Ba tiếng đồng hồ là quá ngắn ngủi để đánh giá một tình thế như tình thế ở đây, kể cả với tướng Blanc. Về những gì thuộc phạm vi của mình, như vậy tuy nhiên cũng đã đủ để cho ông lo ngại đến chuyện xấu nhất. Đối với ông, đây không phải là trận Verdun như người ta đã bảo ông mà là trận Somme và pháo binh sẽ quyết định số phận của trận đánh. Nhưng còn Navarre thì mỗi nét dè dặt khó chịu nhỏ nhất cũng bộc lộ sự tự tin lạnh lùng đến mức biến thành giễu cợt và hơi khinh khi, khi ông ta tìm cách chỉnh đốn những sai lầm trong cách đánh giá hay khi trả lời những câu hỏi mà ông ta cho là trẻ con. Ngài Dejean đã đội lại chiếc mũ đẹp của mình. Nếu như ông muốn bắt chước những con người của chiến trận thì vì sao ông không theo gương Chủ tịch Hồ Chí Minh và khoác lên người một chiếc áo ngắn thuộc đồ cung cấp? Bên ngoài một toà lâu đài thử hỏi ông ta nhìn thấy gì trong đám cộng sự không phỉnh nịnh ông? “Tôi đã đưa ra cho các vị quan khách của tôi nhiều câu hỏi về vấn đề Điện Biên Phủ, sau này ngài Dejean đã viết như vậy. Tôi không nhận thấy ở mọi người cùng một niềm phấn khởi như nhau. Hai trong số họ những muốn là Điện Biên Phủ không bị tấn công. Một trong số họ liên tưởng đến những điểm bất lợi của một vị trí bị đối phương khống chế. Nhưng không có một ai phát biểu ý kiến là vị trí này nguy hiểm và cần phải rút bỏ trong thời hạn sớm nhất. Không một ai tỏ ra lo ngại thật sự. Trước cuộc tấn công của đối phương vài ngày, nỗi lo sợ chủ yếu của bộ chỉ huy của chúng ta ở Đông Dương vẫn là lo sợ Việt Minh từ bỏ cuộc tấn công tập đoàn cứ điểm”.

Một bức điện từ Paris báo tin một phái đoàn sắp sang Đông Dương cùng với vị bộ trưởng quốc phòng để nghiên cứu tình thế về quân sự.
___________________________________
1. Camerone: Trận đánh trong cuộc chiến tranh Mexique, 30/4/1863. Ngày này trở thành ngày truyền thống của đội lê dương ngoại quốc của quân đội Pháp. - N.D
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #48 vào lúc: 09 Tháng Tư, 2008, 09:52:46 pm »


Ngày 27 tháng giêng 1954


Ngay từ sáng sớm ngài Jacquet đã điện thoại cho tổng chỉ huy Navarre.

- Thế nào?
- Không thấy họ tấn công, Navarre trả lời, giọng ngượng ngùng.

Hình như đã xác định được là ông Hồ Chí Minh đã triệu tập Ban chấp hành Trung ương Đảng vào hôm trước cuộc tấn công để có một quyết định tập thể. Lợi dụng hệ thống phòng ngự của tập đoàn cứ điểm còn chưa hoàn thiện để thâm nhập vào toàn bộ hệ thống theo nhiều đường trục, chia cắt thành nhiều mảnh và lần lượt tiêu diệt từng khu đề kháng, đó là mong muốn chung. Sẵn sàng chuyển sang hành động nếu như nhận được lệnh, tuy nhiên tướng Giáp nêu ý kiến là ông không thể đảm bảo thắng lợi vì những tổn thất to lớn có thể phải gánh chịu và do các đơn vị còn thiếu kinh nghiệm trong những trận tác chiến quy mô lớn đến như vậy. Ngoài ra, tất cả các vị trí của pháo binh chưa được hoàn toàn ưng ý, một số khẩu còn chưa tới được hầm bảo vệ, một số khẩu khác phải thay đổi trận địa, kế hoạch hoả lực còn phải điều chỉnh. Một thắng lợi nhanh chóng theo ông là mạo hiểm; ông muốn tiếp tục công tác chuẩn bị và tiến bước vững chắc. Quyết đánh để đánh thắng đó là câu khẩu hiệu của quân đội nhân dân. Ban chấp hành Trung ương tán thành nguyên tắc chiến tranh cách mạng này và sửa lại như sau: chỉ tấn công khi nắm chắc thắng lợi, nếu không thì thôi. Như vậy là hành động dự kiến trong đêm 25 rạng ngày 26 bị huỷ bỏ.

Người ta đi xa hơn. Người ta quyết định là trận đánh Điện Biên Phủ không chỉ được coi như một trận tấn công vào tập đoàn cứ điểm mạnh, được xây dựng trong thời hạn tương đối ngắn, mà phải như một chiến dịch dài ngày, kéo dài đến tận mùa mưa, và bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau, kết thúc bằng việc tiêu diệt hoàn toàn quân địch. Để chiếm giữ toàn bộ vòng ngoài khu lòng chảo, trước tiên người ta sẽ tấn công hai cứ điểm Béatrice và Gabrielle, tiếp đến là khu phòng ngự trung tâm, bằng một loạt trận kế tiếp bao gồm các trận cường tập và các trận đánh lấn dần, trong lúc đó sẽ cô lập cứ điểm Isabelle. Mỗi trận cường tập, được tiến hành mạnh mẽ với một khối lớn hoả lực và bộ binh sẽ nhằm mục đích chế áp toàn bộ quân địch ngay trong đêm thứ nhất. Các đơn vị xung kích sẽ được thay phiên trước khi bị hao tổn và lần lượt rút ra nghi ngơi bên ngoài khu vực tác chiến. Trong thời gian người ta hoàn thiện hệ thống đường xá xung quanh Điện Biên Phủ và tích trữ đồ tiếp tế đủ loại, sư đoàn 308 được tăng cường hai tiểu đoàn của trung đoàn 148 sẽ rời khỏi vùng lân cận tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ để đánh lừa tướng Navarre và di chuyển về hướng tây nam. Còn về không quân, người ta sẽ gây trở ngại cho những cuộc thả dù của chúng và sẽ bắn phá các máy bay bằng việc cắm vào những sườn đồi gần nhất sau đó kéo xuống tận thung lũng những khẩu pháo cao xạ được ngụy trang khéo léo. Trái ngược với điều người ta khẳng định sau này từ phía người Pháp, quyết định lùi hoãn cuộc tấn công được đề ra không hề có mặt bất kỳ một cố vấn Trung Quốc hay Liên Xô nào. Nếu như có, với danh nghĩa giúp đỡ về kỹ thuật, thì các cố vấn nước ngoài có mặt trong hàng ngũ quân đội nhân dân cũng không có quyền lực gì.

Điều mà Navarre và Cogny không nắm được, ngày hôm đó, đó là phần lớn lực lượng pháo binh Việt Minh đã vào vị trí. Trung đoàn pháo hạng nặng 105 thuộc sư đoàn nặng 351 đã bố trí phần lớn trong số hai mươi bốn đại bác 105 thành các khẩu đội nằm trong hầm núi đá dày hàng mét mà không một ai phát hiện được. Tướng Giáp thậm chí còn chơi sang, cho xây dựng những trận địa giả để thu hút hoả lực. Nếu như Cogny biết điều đó, ông ta sẽ vội vã hạ lệnh chôn sâu các khẩu pháo của tập đoàn cứ điểm, lúc này bố trí ngoài trời bắn về mọi góc phương vị, và Piroth sẽ không còn trả lời ngài Jacquet là mình có quá nhiều đại bác: ông ta sẽ đòi thêm gấp ba lần. Castries cảnh giác, nhưng chủ nhiệm pháo binh của ông đã xua tan mọi nỗi lo sợ của ông. Không một giây phút nào, người ta lại chịu để ý tới giả thiết là quân Việt có thể bố trí pháo binh của họ trên những sườn núi dốc xuống thung lũng: việc này kể từ thời Napoléon cũng đã không còn tiến hành nữa. Người ta bố trí các khẩu đội ngoài tầm nhìn trên mặt đất của đối phương, ở sườn núi phía bên kia, từ đó chúng sẽ nhả đạn nhờ vào những cách tính toán kinh điển. Trong trường hợp Điện Biên Phủ, các pháo thủ của đạo quân viễn chinh thống nhất thừa nhận rằng chiều cao của các đỉnh núi hoàn toàn không cho phép đường đạn với tới trung tâm thung lũng. Vậy là quân Việt bắt buộc phải bắn thẳng, từ những sườn núi dốc xuống thung lũng đối mặt với Điện Biên Phủ. Trong trường hợp đó, người ta sẽ nhìn thấy họ và sẽ tiêu diệt họ. Ngoài ra, người ta tiếp tục tỏ ý lo ngại nhiều nhất về khả năng đối phương có thể vượt qua một địa hình mấp mô lộn xộn và không có đường mòn để kéo tới đây những thứ gì ngoài các khẩu súng cối và pháo 75. Vả lại, chính là những khẩu sơn pháo 75, đêm hôm qua vừa nã đạn vào các vị trí. Không một giây phút nào, người ta không nghĩ rằng tướng Giáp lại không muốn đánh đòn nghi binh. Theo ý kiến các chuyên gia kỹ thuật người Pháp, loại pháo đó không có khả năng thực hành các trận tập trung hoả lực và các căn hầm chống đỡ một cách dễ dàng các đòn đánh của nó. Để có được những ngờ vực về những kết luận đó, phải có đầu óc thực tiễn của Gilles hoặc của Bigeard. Còn như tướng Navarre, ông bắt đầu cảm thấy hết sức ngờ vực sự phán đoán của các cấp dưới đến nỗi không có điều gì làm ông ngạc nhiên, nhưng không vì thế mà ông thay đổi kế hoạch của mình. Trường hợp Navarre đặc biệt phức tạp hơn.


Ngày 31 tháng giêng 1954


Nói về trận đánh vừa mới diễn ra để tìm cách phá huỷ một khẩu đội pháo binh, và về những trận mà ông từng chỉ huy, Langlais nói: "Những trận thất bại đẫm máu”. Tuy nhiên: "Ta sẽ cho họ thấy...". Câu nói này Robert Gillain nghe thấy ở mọi nơi. ''Người ta sắp cho họ thấy chúng ta là những ai: cho quân Việt và những kẻ khác thấy”. Đó là lời giải thích mà đặc phái viên tờ báo Le Monde nêu ra về vấn đề này. "Những kẻ khác" nào đây? Các nhà quan sát của Paris và những nơi khác.

“Kéo quân Việt xuống khu lòng chảo" đó là giấc mơ của đại tá De Castries và toàn thể bộ tham mưu. "Nếu chúng xuống, thì chúng nằm trong tay chúng ta". Trận đánh lớn có thể gay go, "nhưng chúng ta sẽ chấm dứt nó. Và cuối cùng chúng ta sẽ có cái mà chúng ta thiếu: một mục tiêu tập trung mà chúng ta có thể nện đòn". Robert Gillain đã phản ánh những ý kiến từ nơi đó mà tính xác thực không có gì phải nghi ngờ. Anh đã nói với Castries về nỗi ngạc nhiên của mình khi thấy Castries bỏ mặc các đỉnh núi cho đối phương.

- Anh không hiểu tí gì về chiến thuật hiện đại, người chỉ huy binh đoàn Gono đã trả lời anh như vậy, cắt đứt cuộc trao đổi với một cái bĩu môi khinh khi, và sau này nhắc lại rằng ông ta muốn thông qua các nhà báo để đánh lừa đối phương.

Trước khi lên đường đi Paris, một sĩ quan cao cấp thuộc một cơ quan tham mưu ở Sài Gòn đã bảo cho Robert Gillain biết là tình thế chưa bao giờ tốt hơn hiện nay và Robert đến đó là đúng lúc.

Sư đoàn 308 đột nhiên kéo quân sang nước Lào, gây ra nỗi ngạc nhiên to lớn trong các nhà chiến lược, sư đoàn đó nếu như bị quấy rối, chỉ có thể là do những đơn vị mà nó gặp phải trên đường hành quân. Làm thế nào mà người ta đuổi theo nó và bằng những phương tiện gì được? Việc chiếm đóng Điện Biên Phủ chẳng giúp ích gì cả. Navarre vội vàng củng cố Luang Prabang bằng hàng rào dây thép gai và xe bọc thép, ở đó có vị vua già bại liệt nằm trong giường và trong lúc mà trên sân khấu thế tấn công của cuộc hành binh Atlante dậm chân tại chỗ thì tướng Giáp phản kích bằng đòn tấn công trên các cao nguyên Trung bộ.

Đây là một ngày quan trọng đối với viên hạ sĩ Sammarco, thuộc bán lữ đoàn số 13. Anh được biết rằng mình được đề bạt trung sĩ và tuy rằng việc đề bạt chỉ bắt đầu tính từ ngày 1 tháng hai, anh vẫn đính các vệt lon lên quân hàm trên hai vai. Do vì anh có phần nổi trội trong đại đội, cho nên người ta sử dụng anh vào những công vụ khác nhau. Mỗi buổi sáng, anh đi tới khu trại giam giữ một nghìn hai trăm tù binh và phạm nhân quân sự mà người ta chuyển từ Hà Nội lên, chọn ra ba mươi người lao dịch để thu gom các bọc hàng rơi từ trên trời xuống rồi chất lên các xe tải. Đôi khi, anh chỉ huy đội hộ tống của lính lê dương theo sau trung tá Gaucher trong các cuộc đi kiểm tra của ông ấy. Sammarco là một chàng trai hai mươi sáu tuổi, bình thản và tự tin, nước da nâu mai mái. Anh cao và rắn rỏi. Bố đẻ anh là người Ý, anh sinh ra gần Salon de Provence và hay nói: "Peuchère..." với một âm sắc miền Nam rất rõ rệt. Nói về tình thế, anh có những ý nghĩ giống như trung tá Gaucher, thủ trưởng và Thượng đế của anh. Gaucher bảo anh rằng đại bác 105 của quân Việt làm bằng gỗ và anh tin như vậy. Vì vậy anh chẳng có chút lo lắng gì khi nằm ngủ trong căn hầm, chắc chắn không chịu nổi một quả đạn cối 81: những vật liệu tốt, những thân cây, đoạn gỗ tròn được dành để cấu trúc hầm sở chỉ huy. Nhưng mà thử hỏi liệu quân Việt thậm chí có biết sử dụng súng cối của họ hay không?
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #49 vào lúc: 09 Tháng Tư, 2008, 09:55:17 pm »


Ngày 3 tháng hai 1954


Trên khắp nước Việt Nam, người ta ăn tết, tết năm mới theo âm lịch và tuần trăng đầu tiên của tháng giêng. Ở Sài Gòn, Hà Nội và khắp đất nước, người ta trao tặng quà cho nhau, người ta trang hoàng nhà cửa bằng những con rồng và con cá chép lớn làm bằng giấy, các Táo quân cưỡi cá chép lên chầu giời, người ta đốt pháo. Thông thường, đây là ngày giá lạnh nhất trong năm; nhưng mùa xuân đã tới gần và trên phía bắc các cây đào nở hoa.

Trong đêm 30 tết, chiến sĩ liên lạc của bộ chỉ huy mang tới cho tham mưu trưởng trung đoàn 57 một mệnh lệnh di chuyển lên phía bắc khu lòng chảo. Đêm tối như mực, không còn nhìn thấy đường đi. Trên sườn núi dốc đứng, bàn chân trượt dài và vấp phải những tảng đá nhọn hoắt mà đại úy Hiền gọi là đá tai mèo. Nửa đêm, máy bay đom đóm thả pháo sáng ngăn trở cuộc hành tiến. Người ta đi mỗi giờ chưa đầy năm trăm mét.

Giữa trưa, chào mừng ngày tết, những phát đạn pháo 75 bay ra từ những sườn núi gần nhất phía đông bắc, nhằm vào các máy bay đang sử dụng đường băng. Một khẩu đội duy nhất, được bố trí và ngụy trang trong những chiến hào đào sẵn, bắn 103 quả đạn trong ba mươi phút với những khẩu pháo 75 Mỹ có bánh lốp thu được từ chiến dịch Hòa Bình. Một trong ba khẩu đội trưởng tên là Nguyễn Minh Tư. Đây là một chàng trai ghê gớm, có hàm răng trắng, một tay thích bông đùa và có khổ người khác thường trong quân đội nhân dân, vốn phần lớn là những người nhỏ nhắn. Cao to như một pháo thủ của thành phố Metz1, thích đàn bà và rượu vang ngon, khẩu đội trưởng Tư chắc chắn có thể một mình di chuyển cả một khẩu pháo. Giọng nói của anh khoẻ khoắn, tiếng cười ròn tan.

Hoả lực của ba khẩu pháo, cách nhau mỗi khẩu năm mươi mét, thực hành bắn trực tiếp vào mục tiêu ở cách xa bốn kilômét, mỗi loạt chín phát đạn. Sau loạt đạn thứ hai, pháo binh của Piroth trả lời, được điều chỉnh từ một đài quan sát của cứ điểm Eliane, nhưng các quả đạn rơi xuống các trận địa giả, ở đó có hai chiến sĩ cho nổ bộc phá, làm giả như đạn ra khỏi nòng. Pháo của Piroth bắn tổng cộng 1.650 quả đạn 105. Các máy bay khu trục và máy bay B.26 thả 158 quả bom xuống các trận địa giả, sau đó là các trận địa thật; đạn rốc két làm bị thương nặng ba người và một số bị thương nhẹ, bắn trúng một bếp nấu ăn. Xe tăng lại gần và bắn vào những chỗ họ cho là lỗ châu mai của các khẩu pháo. Ở sở chỉ huy của De Castries, người ta tin là đã phá huỷ toàn bộ.

Buổi chiều, mọi người ca hát, khiêu vũ, thổi sáo và thổi kèn ácmônica bên các dòng suối kín đáo không ai nhìn thấy. Các dân công kéo tới hoan hô các pháo thủ, tướng Giáp gửi điện biểu dương khẩu đội trước toàn sư đoàn. Dân công và bộ đội chia nhau những chiếc bánh chưng truyền thống có hạt tiêu và những khoanh giò cùng kẹo bánh ngày tết.

Giống như mười lái xe trong tiểu đội, anh lính Trần Văn Tha, nhanh nhẹn như con thỏ, đã lấy đầy bình xăng cho chiếc xe tải của mình, lúc 5 giờ chiều, lại xếp năm can xăng hai mươi lít vào trong thùng xe và thay thế những cành lá tươi vào lưới ngụy trang. Tha là hình ảnh trái ngược của khẩu đội trưởng Tư: trong gia đình anh, không có ai cao lớn và anh chỉ cao có một mét năm mươi. Thân hình bé nhỏ không gây trở ngại gì cho anh, ngoại trừ việc lái chiếc xe G.M.C, và anh để một chiếc gối đệm sau lưng để ngồi cho vừa và xích gần lại các cần điều khiển.

Ban đêm, cùng với cả đoàn, anh chạy xe không về Tuần Giáo, trên xe xếp chỗ cho các dân công cùng ngồi, bởi lẽ anh thích trò chuyện, trao đổi ý kiến. Chạy xe không, chiếc xe G.M.C anh thấy nặng hơn chiếc Molotova nhưng khá dễ điều khiển và theo hướng đó, đường dễ đi. Anh đến Tuần Giáo lúc một giờ sáng, dừng lại hai mươi phút ở căng tin để uống trà và ăn một bát cháo đường và chỉ về tới Sơn La lúc 9 giờ sáng khi sương mù đã tan, sau khi vượt qua đèo Pha Đin không khó khăn, bật sáng toàn bộ đèn xe vì trời đầy mây. Anh nhớ lại cái đêm anh lăn bánh trong trạng thái ngủ gà ngủ gật, không một ai báo cho đoàn xe biết có máy bay, thì vừa lúc tiếng nổ ầm ầm và những vầng sáng của bom nổ làm anh giật mình. Lúc đó, theo như quy định bắt buộc, người lái chiếc xe đi đầu phải mở hết tốc độ, bật các đèn pha và những chiếc xe khác thì hãm phanh và tắt hết đèn.

Ở Sơn La, anh dừng chiếc xe G.M.C của mình ở trong khu rừng là căn cứ của cơ quan hậu cần, rút hết xăng trong bình dự trữ để cho nếu có bị ném bom, xe không bị cháy, kiểm tra mức dầu và nước làm nguội động cơ, đi ăn chút gì đó và nghỉ ngơi. Trong thời gian đó, người ta chất hàng lên chiếc xe của anh, với những khối hàng mà đoàn xe đến từ Yên Bái chở tới.
____________________________________
1. Metf: Thủ phủ của tỉnh La Moselle ở phía đông bắc Paris 312km. - N.D
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM