Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 12:43:03 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trận chiến Điện Biên Phủ  (Đọc 69803 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #60 vào lúc: 11 Tháng Tư, 2008, 07:37:44 pm »


Ngày 12 tháng ba 1954


Đó là một ngày thứ sáu giống như mọi ngày thứ sáu khác đối với trung sĩ Sammarco và đại úy Capeyron. Trời đẹp đến nỗi người ta tràn trề niềm hạnh phúc được sống. Trung sĩ Sammarco đợi những chiếc Dakota đầu tiên cùng với đội tù binh khổ sai. Những chiếc xe tải sẵn sàng chở các đồ tiếp tế về các khu kho. Ngay từ tám giờ, guồng máy bắt đầu; những chiếc dù đôi khi rơi vào hàng rào dây thép gai, bị rách và người ta tốn thì giờ để tháo dỡ các gói hàng. Sammarco đi tới đài kiểm tra không lưu của đường băng ở gần cái xác còn bốc khói của chiếc máy bay Packet và phàn nàn. Các phi công hiểu rằng họ cần tránh cho các đội thu gom phải thêm phần mệt nhọc như vậy, nhưng đôi khi chỉ cần thả dù hơi non hay có cơn gió giật là các chiếc dù buộc hàng đã bị tản mát. Ý thức được trách nhiệm, viên sĩ quan nắm lấy ống nói:

- François Hector của Torri Rouge, anh ta nói, chú ý điểm thả dù. Anh vượt hơi quá đấy.

Grauwin nhận được thuốc men, quần áo dã chiến và những đôi giày vải mới. Những chiếc Dakota hạ cánh, nhả ra những người hết phép và những người dưỡng bệnh mà không tắt động cơ và lại cất cánh. Một trong số đó đứng vào chỗ quy định, tắt máy. Cogny nặng nề từ trên đó bước xuống, đôi mắt ẩn sâu dưới hàng lông mày, chiếc áo và khuôn mặt nhàu nát, và ngồi lên chiếc xe Jeep của đại tá Castries phóng đi. Rạp xiếc tròn hoạt động hết công suất, gầm lên, thổi từng trận cát bụi, nhả đạn pháo, đạn liên thanh, mở những hộp cá trích và uống thứ vang ướp lạnh pha với nước của sông Nậm Rốm.

Ở cứ điểm Isabelle, tiểu đoàn 8 xung kích và đội lê dương tiến hành cuộc trinh sát về phía nam khu lòng chảo mà không gặp sức kháng cự nào. Ngược lại, người ta phát hiện ra tám trăm mét giao thông hào đã được đào trong khu ruộng lúa, cách một kilômét về phía đông. Được yểm hộ bởi ba chiếc xe tăng của trung úy Préaud, các binh sĩ Algérie của tiểu đoàn bộ binh số 1 lấp kín đoạn hào ấy không gặp sự cố gì.

Đại úy Capeyron không phải là một nhà chiến lược. Anh không tốt nghiệp Học viện Chiến tranh và tuyệt nhiên không muốn vào học ở đó: đội lê dương đối với anh là đủ. Những tin đồn lan truyền từ buổi sáng thì đã lan truyền trong suốt tháng giêng vừa qua, lúc đó hết báo động này đến báo động khác mà chẳng có chuyện gì: nếu tấn công, quân Việt hẳn là đã bị điên, và họ thì không phải như vậy. Việc bắn trúng và phá huỷ chiếc máy bay Packet mà bộ khung cháy đen nằm sừng sững ở đầu vào đường băng như một chiếc giá treo cổ, chỉ là một phát đạn ăn may. Làm thế nào mà quân Việc lại không bị hấp dẫn bởi một tấm bia khiêu khích đến như vậy? Họ vẫn còn trụ lại đó bởi vì chắc hẳn họ chỉ có hai hay ba nòng pháo 75.

Cogny tới đây để có thể an tâm về việc sử dụng hai tiểu đoàn dù mà ông dựa vào để tiến hành các trận phản kích. Vấn đề này đã ám ảnh ông kể từ khi ông từ chối tăng cường thêm cho đội quân đồn trú: phản ứng của các lực lượng cơ động của De Castries chứng minh cho lập trường của ông. Nếu như cứ điểm Béatrice, mà người ta biết đang bị vây hãm, sẽ thất thủ thì trận phản kích để giành lại nó sẽ xuất phát từ đâu? Hỏa lực nào sẽ yểm trợ? Cogny trèo lên cứ điểm Béatrice, ở đó lúc 13 giờ, nhiều quả đạn súng cối rơi xuống dồn dập và ông yêu cầu báo cáo mọi chi tiết của đòn đánh trả được dự kiến. Tưởng tượng ra tình huống bất ngờ như vậy có nghĩa là tỏ ra cực kỳ bi quan nhưng mà Cogny muốn dự kiến tình huống xấu nhất. Ông biết rằng hai tiểu đoàn dành cho các trận phản kích, trong thời gian bình thường, Castries sử dụng để bảo vệ một vài hướng của cứ điểm Claudine, và khi cần hai đơn vị này không tập trung được ngay tức thì. Cần bao nhiêu thời gian để tập trung được và đưa hai đơn vị đó vào vị trí. Mấy tiếng đồng hồ - Bao nhiêu tiếng đồng hồ? Không biết. Cogny yêu cầu Castries đảm bảo vấn đề đó nhưng không thấy lo ngại: cuộc tấn công sẽ mở màn trong đêm và cần phải đợi trời sáng mới hành động được. Nếu câu chuyện xấu đi trong ban đêm, như vậy người ta sẽ có thời gian thay đổi kế hoạch hành động. Cogny yêu cầu chỉ cho ông thấy nơi bố trí lực lượng dự bị: lực lượng này có vẻ dễ dàng tập trung lại. Khi quay lại chiếc Dakota vội vã để trở về sở chỉ huy của mình ở Hà Nội, ông cảm thấy bình tâm. Vùng đồng bằng làm ông lo ngại bởi lẽ đó vẫn là chiến trường chủ yếu đối với ông, nguồn cung cấp vật lực và nhân lực cho tướng Giáp, người chỉ đạo các trận đánh theo nguyên tắc có đủ nguồn tiếp tế về mọi mặt. Trái ngược với vẻ bề ngoài, những chiến dịch mở ra trên vùng thượng du chỉ nhằm để thu hút đạo quân viễn chinh và làm hao mòn đạo quân ấy ở bên ngoài vùng đồng bằng. Mỗi đêm, tuyến đường sắt nối liền Hà Nội với Hải Phòng bị phá hoại bởi những quả mìn, chúng nổ tung khi có những đoàn tầu đi qua. Tướng Masson, phó tướng của Cogny có nhiệm vụ hàng ngày, bất chấp những vụ trượt bánh phải thông đường được sáu đoàn tàu trên tuyến đường rải rác những toa hàng bị lật đổ. Để cho đạn dược, étxăng và đồ tiếp tế đến được Điện Biên Phủ thì trước hết phải đưa được đến Hà Nội. Bigeard, người vừa tới thủ đô của xứ Bắc Kỳ, cùng với tiểu đoàn của mình, đã đi dọc theo các ngôi làng và các khu kho dự trữ bốc lửa.

Sắp đến 15 giờ 30. Cogny nắm chặt hai bàn tay và trèo lên chiếc Dakota của mình, từ nãy đến giờ động cơ vẫn nổ. Từ khoang cửa sổ tròn, ông vừa giơ tay vẫy lần cuối cùng với Castries thì cũng vừa lúc các đạn pháo nổ tung trên bãi đỗ, ở đó mọi người đều nằm rạp xuống đất. Một chiếc Morane bốc cháy, một chiếc khác sườn bên trái bị vỡ. Viên phi công của Cogny tăng ga và cất cánh. Sau lưng anh ta, những chiếc khu trục bốc lên khỏi đường băng và xả súng đại liên vào các đỉnh núi một cách vô ích. Những phát đạn pháo 105 ấy ở đâu bắn đến vậy, lần đầu tiên nhằm vào một chiếc máy bay đang đứng đợi, dấu hiệu về sự có mặt của một nhân vật quan trọng? Trong căn hầm điều hành sân bay, một mảnh đạn pháo bổ sung thêm vào bộ sưu tập các mảnh đạn đính trên một tấm bảng gỗ. Kể từ ngày mồng một tháng hai đây là mảnh đạn thứ bảy.

Lúc 17 giờ 30, một chiếc Bearcat bị trúng đạn pháo cao xạ. Trong cuộc họp buổi tối, tập hợp xung quanh mình thủ trưởng các cơ quan và chỉ huy trưởng các phân khu cùng các điểm tựa, Castries đọc bức điện do tướng Lauzin, tư lệnh không quân gửi cho các phân đội dưới quyền: "Tình thế của Điện Biên Phủ tuỳ thuộc vào hoạt động của không quân ngày hôm nay. Tôi chấp nhận những nguy cơ đặc biệt". Người ta bèn cười ồ lên, quay về phía viên chỉ huy căn cứ không quân của tập đoàn cứ điểm - "Những nguy cơ đặc biệt", các phi công đã gánh chịu những nguy cơ ấy từ lâu rồi... Castries kết thúc cuộc họp bằng câu sau đây:

- Thưa các vị, việc đó sẽ là ngày mai, lúc 17 giờ.

Đại uý Noël, trưởng phòng Nhì của tập đoàn cứ điểm vừa được tin là việc tản cư dân chúng trong các thôn bản được ấn định vào buổi sáng ngày kia, thứ bảy. Thông thường, những trận đánh quan trọng của quân Việt mở màn vào một chiều thứ bảy. Giờ giấc dự kiến có vẻ là thuận lợi nhất: trời hãy còn đủ sáng để hiệu chỉnh hoả lực và không quân sẽ không còn có thời gian để can thiệp nữa. Trăng non sẽ có trong tám ngày và phần lớn buổi đêm, trời sẽ tối đen.

Lúc chia tay nhau, các sĩ quan trao đổi những suy nghĩ vỡ mộng. Phần lớn họ vẫn còn tin là chưa xảy ra cuộc tấn công. Rất nhiều người, vẻ mệt mỏi đã hiện rõ. Những tổn thất gánh chịu trong các trận đánh trinh sát đã gây ra những lỗ hổng trong các đơn vị, và tin báo về trận tấn công không còn mang tới niềm thích thú trong các đại đội như vào tháng giêng nữa. Đại úy Capeyron tự nhủ, muốn ra sao thì ra, nhưng nếu như quân Việt tiến xuống khu lòng chảo, thế thì... Khi triệu tập các trung đội trưởng đến gặp mình, Capeyron cảm thấy họ quyết tâm bắt đối phương phải trả giá đắt về hành động dại dột đó. Cuối cùng họ sắp tóm được cái đám người luôn luôn thoát khỏi tay họ lúc tảng sáng, sau khi đã nện nhừ đòn một đồn bốt nào đó và mang các tử sĩ cùng thương binh của họ đi theo? Bằng những loạt đạn dài của súng bộ binh. họ sắp bắt được các tiểu đoàn ấy nằm xuống như ngả rạ, những tiểu đoàn này trước đây, ngay khi trên các nẻo đường bốc lên lớp bụi đất của những chiếc xe GMC đều biến mất vào các ruộng lúa và các rặng núi. Lúc đó, họ sẽ không chỉ trả thù cho các đồng ngũ bị phục kích mà là cả cho những trận thất bại, những trận đánh vô ích trong những ngôi làng bốc cháy, ở đó không một ai có thể tóm giữ được những kẻ cắt đứt đường sắt, những tên đặt mìn và những kẻ siết cổ các thân hào, nhân sĩ.

Kể từ ngày 20 tháng mười một, bảy sĩ quan, mười chín hạ sĩ quan và một trăm hai mươi nhăm người đã bị chết; hai sĩ quan, chín hạ sĩ quan và bảy mươi bảy người đã mất tích, hai mươi chín sĩ quan, gần một trăm hạ sĩ quan và sáu trăm bảy mươi lăm người bị thương. Vì cái gì và vì ai? Trực diện, người ta không đặt ra câu hỏi này. Trong bản nhật lệnh của mình, tướng Giáp thậm chí không nhắc đến cái chết đang chờ đợi rất nhiều những người đang chuẩn bị đương đầu với hoả lực đại bác, máy bay và những vũ khí tự động của tập đoàn cứ điểm: việc đó là tự nguyện. Ở trong quân đội nhân dân, mọi người đều sẵn sàng hi sinh thân mình vì Bác Hồ và vì tổ quốc. "Bác Hồ muôn năm!... ". Họ, họ là những hạt cát của bãi cát, những chiếc lá của cây rừng, những mẩu đất nhỏ của cánh đồng lúa của cả một dân tộc đang hồi sinh và cần đến xương máu của họ để tạo dựng số phận của mình. Họ chấp nhận chết đi và làm phân bón cho những vụ thu hoạch tương lai, những vụ thu hoạch không còn là tài sản của mấy viên quan lại nữa mà là của nhân dân. Chỉ riêng khu vực Thái Bình -Nam Định đã nằm trong tay mười ba đại địa chủ. Muôn năm Bác Hồ, người giải phóng dân tộc.

Ở Sài Gòn, Navarre im lặng, chắc hẳn bởi vì ông ta không hiểu là số phận của Đông Dương tùy thuộc vào trận Điện Biên Phủ và bởi vì ông ta nghĩ rằng ông ta đã nói hết trong những lá thư của mình mà người ta đọc ở khách sạn Caravelle không một chút tin tưởng: ở đó, người ta thưởng thức tốt hơn những bức tranh phóng đãng dành cho việc thư giãn tâm hồn của người chiến binh.

Ban đêm, một đội đặc công Việt Minh thâm nhập vào khu sân bay Điện Biên Phủ, phá hoại đường băng và cho nổ mấy quả bộc phá dưới các tấm ghi sắt và rải truyền đơn trong vùng lân cận. Trên một số truyền đơn, người ta đọc được câu sau đây bằng tiếng Pháp và tiếng Đức: "Điện Biên Phủ sẽ là nấm mồ chôn các người ". Trên một số truyền đơn khác, có bức phác họa thô thiển vẽ bàn tay của Navarre đang đẩy lưng các binh sĩ của đạo quân viễn chinh tiến về phía những mũi dao găm.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #61 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2008, 03:24:18 pm »

IV
TRẬN ĐẤU

Dù cho đó là điều gì, dễ chịu hay kinh khủng, thì càng ít tính trước đến nó bao nhiêu, nó lại càng mang tới sự thích thú hay nỗi khiếp sợ nhiều hơn bấy nhiêu. Điều đó không ở đâu thấy rõ hơn là ở trong chiến tranh, nơi mọi nỗi bất ngờ khiến những người cứng cỏi nhất cũng phải khiếp đảm.

Xénophon1
 

Có những người nói rằng một người cầm quyền không bao giờ được mạo hiểm bản thân mình và đặt vấn đề nếu như người đó chết, mọi việc sẽ hỏng hết. Tôi rất muốn là người đó không mạo hiểm bản thân trước mọi chuyện và mọi va chạm như một ngườỉ chỉ huy bình thường, nhưng mà bởi lẽ ở đây có câu chuyện mọi việc hỏng hết, vậy thì các vị cầm quyền và các sĩ quan tuỳ tùng của nhà vua, các vị sẽ ra sao, và rằng sẽ có biết bao tranh cãi về danh dự và tiếng tăm của các vị? Liệu các vị có vô can khi nói rằng: “Tôi không muốn mạo hiểm bản thân trong trận đánh vì lo sợ, rằng khi tôi chết, sẽ hỏng hết mọi việc, hoặc tôi không muốn liều mình để chi viện một pháo đài hay một thành luỹ bởi lẽ tôi phải bảo vệ thành phố”. Điều đó cũng sẽ không cứu được các vị. Vệc đánh chiếm một pháo đài dẫn tới một hậu quả to lớn đến mức tựa như kẻ địch đã đặt một chân chẹn lấy cổ họng của các vị. Cần phải chết thì đúng hơn hoặc là chiếm lại cái gì mà các vị đã mất giống như tôi đã làm, đã khép kín cánh cửa về phía tôi cốt để cắt đứt mọi hi vọng rút lui của chúng ta, với quyết tâm hoặc là chết hoặc là đẩy lùi được kẻ địch. Bởi lẽ, để mặc cho chúng đứng tại chỗ, thì chính tôi là kẻ thua cuộc... Tôi muốn cảnh báo các vị về một vấn đề, đó là khi mà đối thủ thúc ép các vị, tuyệt nhiên các vị không được nấp kín trong văn phòng của mình; mà các vị phải xuất hiện trước các sĩ quan và các binh sĩ; có nghĩa là trước quần chúng, với một khuôn mặt bình tĩnh: chỉ riêng sự có mặt của các vị đã nhân đôi tinh thần chiến đấu của họ.

Hồi ức của Montluc2, cuốn III




Ngày 13 tháng ba 1954


Ngay từ rạng sáng, pháo binh đối phương lại tiếp tục bắn phá. Bất chấp tấm màn khói mà người ta tìm cách mở rộng để che giấu địa hình trước mắt quân Việt, một chiếc Dakota bị phá huỷ trên đường băng chính và một chiếc khác trên đường băng phía nam, gần cứ điểm Isabelle. Phi hành đoàn do cơ trưởng, đại úy Maurel dẫn đầu đi bộ về Điện Biên Phủ, bị lạc đường và khó khăn lắm mới về được sở chỉ huy không quân. Lúc 8 giờ 30, chiếc Curtiss Commado của công ty Aigle Azur, vốn phải thay thế một động cơ và đã có một phi công tới để lái về Hà Nội, bị trúng đạn lúc người thợ máy cho khởi động và bốc cháy. Chính trên chiếc máy bay này, trước đây ngài Bidault đã chở quốc vương Maroc đi thăm đảo Corse. Các phóng viên Martinoff và André Lebon thuộc cơ quan thông tin đang chụp ảnh đám cháy thì bị một loạt đạn súng cối hạ gục. Martinoff bị chết - André Lebon một chân gần như bị đứt rời. Bác sĩ Grauwin cưa đứt hẳn chiếc chân đó và cho chuyển người bị thương về Hà Nội. 11 giờ, chiếc Dakota thứ ba bị hư hại nặng.

Lúc 15 giờ, tiểu đoàn trưởng Phúc nhận được lệnh chuẩn bị cho đại liên 12 li 7 bắn vào các máy bay. 15 giờ 30 phút, anh bắn cháy chiếc Bearcat đầu tiên, chiếc này rơi xuống gần cứ điểm Béatrice. Pháo binh trong căn cứ phản kích vu vơ, bởi các đài quan sát không xác định được các hoả điểm của đối phương lúc nhả đạn. Mưa phùn giữ chân phần lớn các máy bay khu trục và máy bay ném bom ở vùng đồng bằng. Trên đường băng sân bay Điện Biên Phủ, năm chiếc Morane, một trực thăng và sáu chiếc khu trục không thể cất cánh được: étxăng trong bình dự trữ của chúng bị trộn lẫn nước mưa.

Castries thường xuyên nhìn đồng hồ đeo tay. Trước 17 giờ, ông ngồi vào bàn làm việc trong sở chỉ huy, sẵn sàng gọi bộ đàm cho Cogny. Ông hút thuốc. Mọi việc yên ổn. Nếu bạo gan, ông đã có thể bắt đầu một ván bài bridge. Phóng viên nhiếp ảnh Daniel Camus đã trông thấy ông ăn mặc cầu kỳ và lịch sự chẳng khác gì vừa bước ra khỏi một cuộc họp mặt của giới thượng lưu.

Đã đến giờ. Castries lắng tai nghe. Tiếng ì ầm của máy bay vọng tới, hoà trộn với giọng nói của cô thư ký riêng Paule Bourgeade, cùng những tiếng cười trong căn phòng bên cạnh. 17 giờ 5 phút - Không có gì! Trên dãy đồi, làn hơi nước của một màn sương mù dày đặc bay lơ lửng mà ánh mặt trời khó khăn mới xuyên qua nổi. Ông châm một điếu thuốc nữa. Cái đám quân Việt tệ hại vẫn không tấn công. 17 giờ 10 phút. Hay rồi? Bọn họ chắc đã hủy bỏ kế hoạch. Ông thấy muốn gọi đại úy Noël và bảo anh ta: "Láo toét, anh bạn. Các anh đã bị nhầm".

Tiểu đoàn trưởng Phúc nhận được cú điện thoại khen khu anh đã bắn rơi chiếc Bearcat. Anh không tin vào đôi tai mình nữa: chính là tướng Giáp ở rất gần, đang nói với anh. Những quả đạn pháo rơi trúng chỗ các chiến sĩ tiếp đạn, ẩn nấp dưới những chiến hào sâu. Một tiểu đoàn cao xạ khác đã nổ súng từ bản Na Tân: khẩu đội trưởng Hoàng Đại Hưng, người nông dân có vầng trán cao và chiếc mũi tẹt, nhằm bắn máy bay bằng những khẩu pháo 37 Mỹ, chuyển từ Triều Tiên đến, nhưng không có kết quả.

Langlais đang tắm dưới vòi hoa sen mà người ta bố trí trong đoạn hào nối liền các sở chỉ huy thì một tiếng sấm rền và một tia chớp xé rách bầu trời làm cho ông phải lao vội về hầm của mình. Ông mặc nhanh bộ trang phục dã chiến. Nền đất dưới chân ông rung lên, đất bụi trên trần hầm ào ào rơixuống. Đạn nổ làm rung chuyển các vách hầm và tiếng động giống như tiếng động của một con tàu thuỷ vỡ làm đôi gục xuống và chìm nghỉm. Đèn điện tắt ngấm. Langlais không còn nghi ngờ gì nữa: quân Việt đã nổ súng, và đó là tiếng nổ dữ dội của các loạt đạn pháo cỡ lớn. Các sĩ quan cấp phó của ông, theo bậc thang chui xuống hầm chỉ huy, tay cầm đèn pin.

- Chuyện đó đến rồi ư? -Langlais hỏi.

Các sĩ quan quay máy điện thoại. Các đường dây bị cắt đứt Không còn có thể liên lạc được với tiểu đoàn trưởng các đơn vị dự bị.

- Vô tuyến, Langlais bảo.

Một trong số sĩ quan đi tới đài thu phát, xoay một núm vặn.

- Pierrot của chàng trai Pierre, Pierrot của chàng trai Pierre, các anh nghe thấy chúng tôi không?
- Chàng trai Pierre của Pierrot đây, tôi nghe thấy các anh rõ và khoẻ. Chờ ý kiến của anh.


Giọng nói của Tourret, chỉ huy đội xung kích số 8, bình tĩnh trả lời Langlais. Giọng của Giraud, tiểu đoàn dù ngoại quốc số 1 cũng thế. Anh em yên lành. Mọi việc tốt. Langlais tắt máy phát. Liệu có phải là máy bay bị nổ tung hay là bầu trời cùng với toàn bộ màn sao của nó đổ ụp xuống nóc hầm làm đứt ngang hơi thở của mọi người: không phải toàn bộ màn sao trời đổ xuống, bởi lẽ qua khe hở của những đoạn gỗ tròn trơ ra khỏi lớp đất, người ta nhìn thấy mấy ngôi sao giữa màn đêm vừa buông xuống. Một quả đạn 105 khác không nổ, rơi xuống vách hầm, phía trên vai của viên trung úy cấp phó, tựa như một nhát rìu ghê gớm, trong lúc đó vang lên tiếng chuông của một máy điện thoại được một tia sáng đèn pin rọi vào: đường dây trực tiếp với Castries.

Ở một trong bốn căn phòng họp thành sở chỉ huy của trung tá Gaucher, trung úy De Veyes, trưởng phòng 3 của phân khu trung tâm, đang đeo ống nghe nhận thông tin từ cứ điểm Béatrice. Đứng gần bên anh là thầy tu Trinquand, linh mục giáo phận Meaux, đến phục vụ ở Đông Dương với chức trách cha tuyên úy của bán lữ đoàn lê dương số 13. Đó là một người cao to ba mươi tám tuổi, thông minh và tốt bụng, có khuôn mặt đẹp của người La Mã, mái tóc thưa và đôi môi mỏng. Cũng giống như quân Việt, anh có thói quen thích thống kê và đếm các quả đạn pháo mà anh nghe thấy tiếng rít và tiếng nổ: mười lăm đến mười tám quả trong một phút. Đột nhiên, một giọng nói rung lên trên một chiếc loa. Không nghe được thật rõ, nếu không phải là tiếng "chết".
_____________________________________
1. Xénophon: Sử gia, triết gia và vị tướng của thành Athènes (427 - 355 trước C N. Tác giả của nhiều tập thơ, văn. - N.D

2. Montluc: Thống chế Pháp (1494 - 1577). Tác giả cuốn. "Những lời bình luận" quý giá. - N.D
« Sửa lần cuối: 15 Tháng Tư, 2008, 03:27:11 pm gửi bởi chuongxedap » Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #62 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2008, 03:29:44 pm »


Trung úy De Veys báo động với trung tá Gaucher. Đang cầm ống nói trong tay, Gaucher bèn quát hỏi người đối thoại với mình và yêu cầu người đó bình tĩnh lại và dùng cách nói theo quy ước thông dụng: Thiếu tá Pégaux, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 3 thuộc bán lữ đoàn 13 cùng các sĩ quan tiểu đoàn phó vừa bị chết trong căn hầm của họ. Nói với những người của mình, Gaucher, giận dữ vừa bước đi vừa gầm lên:

- Tôi vẫn luôn luôn nói là những căn hầm ấy quá mỏng mà?

Một trong số các đại đội ở Béatrice không thấy trả lời nữa và toàn bộ điểm tựa chìm trong biển lửa. Sau một loạt đạn pháo 105 mới, làm rung chuyển nền đất, đèn điện tắt ngấm. Dưới vầng sáng của một chiếc đèn pin, một bóng ma trắng, tay vịn vào một cột chống, hiện ra trong khung cửa hầm: lờ mờ, nhợt nhạt, áo quần rách tướp, đầu óc bù xù và khuôn mặt đầy đất bụi, Vadot giống như người canh đền từ địa ngục bước ra.

- Trung tá bị thương, Vadot nói.

Cha tuyên úy Trinquand thử gọi điện thoại cho đại úy - bác sĩ Le Damany nhưng các đường dây bị cắt đứt. Ông bước ra khỏi hầm, tìm tới căn hầm của bác sĩ ở cách đó vài chục mét và thấy ông bác sĩ đang đọc sách. Trung tá Gaucher bị đứt cả hai cánh tay và mất hết máu. Gaucher bảo cậu cần vụ:

- Lau hộ cho tôi cái mặt và cho tôi uống nước...!

Langlais khạc đám đất bắn vào mồm, dứt mình ra khỏi vách hầm lúc nãy ông dựa vào, đeo ống nghe vào tai.

- Langlais đấy phải không?
- Phải.
- Gaucher vừa bị chết. Cậu thay thế cậu ấy chỉ huy phân khu trung tâm ngay lập tức. Giao quyền chỉ huy lực lượng dự bị cho Pazzis.

Một tiếng cạch nhỏ: Castries đã tắt máy. Langlais chui ra khỏi căn hầm đổ vỡ, lên được tới đoạn hào bị sập tới một nửa. Nhìn qua khe hở giữa các khúc gỗ tròn rách tướp, thấy bầu trời đêm run rẩy, ầm vang trong một trận búa máy khổng lồ nện xuống khu trung tâm tập đoàn cứ điểm, ở đó các sở chỉ huy và nhóm giải phẫu chen chúc bên nhau, chỉ cách nhau vài chục mét. Phía sau ngọn đồi tối sẫm của cứ điểm Dominique, những vầng sáng đột ngột cày xới vùng trời đỏ rực phía bên trên cứ điểm Béatrice. Quân Việt đưa ở đâu ra những khẩu pháo ấy vậy? Từ đâu vọt ra trận sấm rền tối mắt tối mũi và khối thép đang rít lên như búa bổ vậy?

Phía đối diện, trong những đoạn chiến hào được đào dành cho giờ xung phong, hàng nghìn con người đang không biết nên nín thở lại hay cứ để cho niềm vui bung ra: cái giờ phút này, họ đã chờ đợi nhiều năm trời. Lúc này các khẩu pháo của Piroth trả lời nhưng không có cái uy lực mạnh mẽ đường hoàng và đáng sợ như đã có trong những ngày vừa qua. Từng chuỗi đạn dài đỏ lừ vạch đường ngược lên các ngọn núi. Phía đường băng sân bay, những cột lửa đột nhiên bốc cao, soi sáng cái bụng của khu lòng chảo giống như một miệng núi lửa. Ở đó, bất thình lình, kho xăng và kho napan nổ tung giữa những tia lửa vọt lên như những mạch nước ngầm. Trong màn đêm tối, các đơn vị xung kích tiến bước được soi đường bởi những vầng sáng chợp chờn.

Tạm thời lúc này, Langlais thấy hình như chỉ riêng Béatrice bị tấn công, trong lúc đó quân Việt cô lập khu phòng ngự trung tâm bằng hoả lực. Langlais bình tĩnh phân tích tình hình, qua máy thông tin lần lượt gọi từng chỉ huy trưởng điểm tựa, hạ lệnh chỉnh đốn việc nổ súng bừa bãi lộn xộn do bị bất ngờ vì như vậy lãng phí đạn dược, lấy lại bình tĩnh; được biết là một cơ trưởng máy bay Dakota đã cất cánh giữa làn đạn pháo để thoát khỏi cuộc oanh tạc mà không ai ngờ tới.

Trong khu giải phẫu, thương binh đột ngột ùn ùn kéo về gian phòng sơ cứu, đầy ứ nhà ăn tập thể và nhà ngủ; bác sĩ Grauwin cùng một lúc với cha tuyên úy Heinrich cúi xuống tấm thân gầy nát của Gaucher đang hấp hối, rồi đứng dậy phủ một tấm chăn lên người Gaucher và cho chuyển xuống nhà xác, ở đó những người chết đã dồn đống.

Cuối cùng có những thông tin từ Béatrice: từng điểm tựa chiến đấu một cách đơn độc; sáu tiểu đoàn quân Việt tràn lên theo ba đường trục, từ tây bắc, bắc và đông bắc, đã đứng chân được trong những công sự đầu tiên. Langlais yêu cầu Piroth cho pháo bắn chặn vào giữa hệ thống hàng rào dây thép gai đã đứt tung vì hỏa lực đối phương, nhưng các trận địa của Piroth, nằm dưới hỏa lực của đối phương đã bị tổn thất kinh khủng.

Để quét sạch các vật chướng ngại, những đội viên xung kích bộc phá quân Việt đi trước các đợt tấn công đầu tiên. Lần lượt từng người một, dưới sự yểm trợ của các loạt đạn đại liên, tiến vào đặt những ống tre dài chứa đầy thuốc nổ, và dùng bật lửa châm ngòi. Mỗi ống bộc phá mở một đột phá khẩu rộng bốn mét vuông. Tổn thất lớn đến mức phải yêu cầu sư đoàn cho công binh tăng viện. Mũi tấn công đến từ hướng tây bắc thất bại. Chính lúc đó người tiểu đội phó trẻ tuổi Phan Đình Giót, sau khi phá tung những mét rào thép gai cuối cùng đã bò tới chiếc lô cốt đang chống cự, nhảy lên lỗ châu mai và lấy thân mình bịt kín lỗ châu mai đó. Đơn vị lại tiếp tục tiến lên. Chỉ cách nhau có mười phút, hai ngọn đồi của Béatrice thất thủ, bị tràn ngập bởi các chiến sĩ bộ binh vây chặt cứ điểm lại và vừa la hét vừa băng qua các chiến hào. Thảm họa xuất hiện.

Thảm họa giảm đi một nửa, khi người ta không muốn chấp nhận nó. Hai ngọn đồi của Béatrice không còn trả lời qua máy vô tuyến nữa nhưng chắc chắn vẫn còn kháng cự và ngọn đồi trung tâm còn đứng vững. Năm trăm lính lê dương của một bán lữ đoàn mà lá cờ mang tên Bir Hakeim1 không gục ngã nhanh đến thế. Một quãng ngừng chiến sắp cho phép họ lấy lại hơi thở. Tới khoảng 21 giờ, hoả lực thưa dần. Ngọn đồi trung tâm có lẽ đã chặn được cuộc tấn công. Nếu như hết đêm, hai tiểu đoàn của Giraud và Tourret vào lúc rạng sáng sẽ tiến xuống sườn dốc phía bắc của cứ điểm Dominique cùng với xe tăng và sẽ bước vào trận đánh giành lại trận địa đã mất. Thiếu tá De Séguins Pazzis, mà Castries giữ lại ở bên cạnh mình, nghiên cứu việc bố trí các đơn vị phản kích và hoả lực yểm trợ mà họ cần để tiến đánh.

Lúc 23 giờ, đột nhiên, trận xung phong lại tiếp tục, và ngọn đồi trung tâm đến lượt nó thất thủ sau lúc nửa đêm mười lăm phút. Quân Việt sờ nắn cứ điểm Gabrielle và tiến tận sát dưới chân cứ điểm Dominique. Qua vầng sáng trắng của pháo sáng mà chiếc máy bay đom đóm thả trên vùng trời trận địa, người ta thấy họ đang đào hố chiến đấu. Để đánh bật họ ra khỏi nơi đó và tiến được tới cái nghĩa địa vốn là cứ điểm Béatrice trước đây, Castries biết ràng lúc này hai tiểu đoàn là không đủ. Hai mươi tám đại bác cũng thế. Ở khu trạm phẫu, Grauwin, mình cởi trần, xử lí các vết thương ở bụng, các chân tay bị gẫy, các lồng ngực và các hộp sọ. Một trăm năm mươi thương binh nằm vây quanh anh.

Chính người chiến sĩ Nguyễn Hữu Oanh đã cắm lên cứ điểm Béatrice lá cờ chiến thắng mầu đỏ có ngôi sao vàng do Bác Hồ trao cho đơn vị của anh.

- Anh không thấy ngạc nhiên hay sao, tôi đã hỏi tiểu đoàn trưởng Lê Hồng Đức, khi thấy một đơn vị lê dương ngã gục nhanh đến như vậy?
- Chúng tôi đã gặp nhiều đơn vị như thế, trước đơn vị này, anh đã trả lời tôi như vậy. Chúng tôi đã quan sát toàn bộ và nghiên cứu tỉ mỉ địa hình, qua nhiều đêm chuẩn bị tấn công và nghiên cứu trên sa bàn. Mỗi buổi tối, chúng tôi bò vào gần và lợi dụng thời cơ đó để cắt hàng rào dây thép gai và gỡ các quả mìn. Vị trí xuất phát của chúng tôi được đẩy lấn dần cách cứ điểm Béatrice có hai trăm mét và pháo binh của các ông không biết chúng tôi ở chỗ nào, điều này làm chúng tôi ngạc nhiên. Cuối cùng, số binh lính người Thái đào ngũ đã cung cấp cho chúng tôi rất nhiều thông tin.

Bàn tay trái của tiểu đoàn trưởng Lê Hồng Đức chỉ còn lại một mẩu cụt, nhưng anh mỉm cười và môi trên của anh cong lên để hở cả răng và lợi. Một chòm tóc hoe vàng dựng đứng trên vầng trán cao làm cho anh có dáng vẻ một diễn viên hề bi kịch.

Liệu có chuyện, như anh Đức khẳng định với tôi, một sĩ quan lê dương, rạng sáng hôm đó đã đến trình diện với một vọng gác tiền tiêu trên ngọn đồi phía bắc Béatrice và nói với một chính trị viên là mình ra hàng bởi vì đã chán ngấy đánh nhau? Tôi không tin chuyện đó chút nào: một lính lê dương có thể đào ngũ vì những câu chuyện đàn bà, nhưng một sĩ quan lê dương thì không đào ngũ. Có khả năng là một anh lính bị bắt trong một trận phục kích và muốn mạo nhận mình là sĩ quan và người ta tưởng là như vậy; anh ta hẳn sẽ khuyên quân Việt chớ nên tấn công để tránh khỏi thất bại. Tiểu đoàn trưởng Lê Hồng Đức hẳn sẽ trả lời anh ta: "Chúng tôi sẽ tấn công và sẽ bắt làm tù binh toàn bộ sĩ quan và binh lính trong cứ điểm Béatrice". Khi việc này đã kết thúc, người lính lê dương ấy đã phải kêu lên:

- Nếu vậy, các ông sẽ nhổ được Điện Biên Phủ.
_____________________________________
1. Bir Hakeim: Địa danh của Libye 6/1942 quân Pháp đã chống cự trong 16 ngày đêm với quân của thống chế Đức Rommel và cuối cùng phá được vòng vây. - N.D
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #63 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2008, 03:35:23 pm »


Ngày 14 tháng ba 1954


Không có giây phút nghỉ ngơi giữa hai buổi ban ngày, không có giây phút yên ắng trong cái đêm đầy những tiếng la hét và tiếng nổ, với bó đuốc khổng lồ của khu kho xăng và napan bốc cháy và ném vầng lửa đỏ nhảy nhót lên tận các đỉnh núi. Hai chiếc máy bay Bearcat khác đã bị phá huỷ trong hầm chứa kiểu tổ ong của chúng. Tháp kiểm soát đường băng đổ nát, khung đo góc bị phá huỷ, các ăngten gục xuống, trạm cấp cứu của các tiểu đoàn chật ních người chết và bị thương. Ở khu trạm phẫu, nơi trung úy - bác sĩ Gindrey cưa cắt chân tay; gian phòng hồi sức tung toé những vết máu; phần lớn các căn hầm đã bị đổ sập và mọi người chen chúc nhau trong những chiếc hố lộ thiên. Grauwin điện khẩn yêu cầu mười lít máu, năm mươi nghìn đơn vị Pênixilin, năm trăm gam Stréptômixin.

Khi tiến hành buổi lễ nguyện Reminiscere ngày chủ nhật, cha tuyên úy Trinquand bỗng nhiên nhớ đến đoạn sách của nhà tiên tri Daniel mà mình vừa đọc hôm qua, nói về ba thanh niên Hébreux1 ở trong lò thiêu, vẫn sống nguyên vẹn giữa những ngọn lửa. Những ngọn lửa, chúng đây rồi.

Sáng sớm, người ta khiêng ra khỏi các căn hầm, những xác người rách nát vì đạn pháo được phủ bằng những tấm vải lều; ba phi công cố gắng bứt được những chiếc Bearcat mà đám thợ máy cố gắng sống chết phục hồi ra khỏi đường băng và bay về Hà Nội giữa màn mưa phùn dày đặc. Những người thoát nạn từ Béatrice kéo về, ngơ ngác, quần áo rách tướp. Một trung úy bị thương báo với Grauwin rằng quân Việt đã thả anh về với một lá thư quan trọng mà cần mang tới cho đại tá De Castries. Castries gọi cho viên tham mưu trưởng của Cogny lúc 7 giờ 45.

- Quân Việt đề nghị dành cho tôi một thời gian ngưng chiến từ 8 giờ đến 12 giờ để thu gom những người chết và bị thương của tôi. Tôi có phải chấp nhận không? Điều tôi quan tâm trước hết đó là việc thả dù một tiểu đoàn tăng viện.

Trong cuộc liên lạc ban đêm, Castries đã có vẻ suy sụp và chán nản. Cogny báo động với tướng Gambiez, ở Sài Gòn và được biết tổng chỉ huy đồng ý.

- Thế còn trận phản kích của anh thì sao? Cogny hỏi.

Qua tiếng động xung quanh và tiếng rít của sóng liên lạc giọng nói của Castries như có vẻ the thé hơn:

-Đối phương chiếm được Béatrice từ lúc nửa đêm. Đã sử dụng hết cơ số đạn dược. Pháo binh của tôi đã bắn sáu nghìn phát 105. Giờ đây tôi còn chưa quá hai mươi nghìn viên và với thời hạn các anh có, các anh sẽ chuyển cho tôi bao nhiên viên, nếu như cũng gửi cả một tiểu đoàn tới? Các đơn vị dự bị đã bị đạn pháo bắn thẳng vào mặt suốt đêm, trở nên đờ đẫn. Các anh muốn tôi làm thế nào đây?
- Tốt, Cogny nói. Chấp nhận ngưng chiến. Phần tôi, tôi đồng ý. Sau đó, anh sẽ tung trận phản kích với lực lượng được tăng viện.

Ở Hà Nội, thời tiết xấu đến mức phải áp dụng khoảng cách xuất phát cho những chiếc Dakota, là ba mươi phút để tránh cho các phi công khỏi phải lượn vòng quá lâu trên các căn cứ, chờ đến lượt mình hạ cánh.

Trong khu vực các sở chỉ huy, bao trùm một không khí rụng rời và căng thẳng cao độ. Castries không bước ra khỏi căn hầm của mình nữa. Viên tham mưu trưởng của ông, ngồi trong căn hầm làm việc cũng đội mũ sắt, đi tiểu vào những vỏ đồ hộp, việc này làm cho mấy người lính dù cười gằn. Langlais cho rỡ căn hầm của mình và lấp lại dưới hai mét đất dầy và các đoạn gỗ tròn. Các đội thông tin cố định trên vách các giao thông hào những sợi dây điện thoại mà người ta chưa chú ý bảo vệ.

- Thu dọn ba lô của cô đi, Castries bảo Paule Bourgeade, người suốt đêm qua vừa mỉm cười vừa phân phát cà phê giữa khung cảnh lộn xộn và những tiếng quát tháo. Cô đi cùng với chiếc máy bay đầu tiên.

Và do vì cô phản đối, ông nói thêm:

- Đây là mệnh lệnh!

Nhưng mà, làm thế nào một chiếc máy bay có thể hạ cánh giữa lửa đạn được? Đường băng bị đào xới, rải rác những hố sâu, lởm chởm những tấm ghi sắt bị xé rách và nhô lên như những mũi dao găm hoặc lưỡi răng cưa. Hệ thống cố định các mảng lớn như thế nào đó khiến người ta không thể thay thế riêng từng bộ phận mà phải sửa chữa chúng tại chỗ bằng cách dùng đèn xì cắt rời ra rồi hàn lại bằng điện. Ấy vậy mà nhu cầu đòi hỏi có một số máy bay tới để chuyển số thương binh đang ngắc ngoải và mang tới số máu mà người ta không thể thả dù xuống. Thiếu tá Claude Devoucoux, chỉ huy trưởng đội thông tin không quân số 53, xin tình nguyện thực hiện cái nhiệm vụ đòi hỏi tính táo bạo, dũng cảm và sức khỏe. Lúc tám giờ, anh hạ cánh xuống Điện Biên Phủ một chiếc máy bay hai động cơ Siébel cùng với sáu lít máu dành cho Grauwin; đưa lên máy bay bốn thương binh, cô Paule Bourgeade và lại cất cánh dưới làn đạn pháo.

Chín năm sau, về phía Việt Minh, người ta không còn nhớ đến cuộc ngưng chiến này nữa. Phần lớn các sĩ quan trong cuộc tấn công cứ điểm Béatrice, mang tên ngôi làng ở kề bên là Him Lam, thậm chí phủ nhận, là đã không có cuộc ngưng chiến ấy.

- Tại sao, lúc đó chúng tôi lại phải cho phép có một cuộc ngưng chiến? Chúng tôi đánh thắng ở Him Lam và chuẩn bị nhảy lên chiếm cứ điểm Độc Lập (Gabrielle) ngay trong đêm hôm đó. Đã tấn công là chúng tôi tấn công cho đến thắng lợi cuối cùng. Tác chiến và đề nghị ngưng chiến, đó không phải là cách tác chiến của chúng tôi.

Tuy nhiên, đã có cuộc ngưng chiến này. Như vậy đây là sáng kiến của cơ quan chỉ huy khu vực.

Ở Điện Biên Phủ và ở Hà Nội, người ta nghĩ tới mưu kế của Việt Minh mà mỗi giờ đồng hồ ngưng chiến là có mục đích: chấp nhận ngưng chiến thì việc đánh bật họ ra khỏi cứ điểm Béatrice sẽ trở nên bất khả thi. Về phía họ, liệu có hình dung ra sức mạnh tấn công của tập đoàn cứ điểm? Ngay từ rạng sáng, hai tiểu đoàn quân dù của Tourret và Giraud, bị hàng nghìn viên đạn pháo 105 từ các khẩu đội của tướng Giáp nện cho tối mắt tối mũi, thậm chí không thể vượt qua khoảng cách giữa họ với căn cứ xuất phát cũng như giữa họ với những chiếc xe tăng thọc ra ngoài hàng rào dây thép gai để yểm trợ họ. Chủ nhiệm pháo binh Piroth đã không còn có thể tạo ra và chỉ huy được một màn hoả lực; rồi thời tiết xấu đã ngăn cản máy bay xuyên qua mây. Phải chăng đã có một trận phản kích yếu ớt với hai đại đội mà sau này tiểu đoàn trưởng Đức đã nói với tôi rằng hai đại đội đó đã bị tiêu diệt ngay khi vừa ló đầu ra? Chuyện này hình như được công nhận.

Cha tuyên úy Trinquand tới thăm viên trung úy bị thương, người đã mang về bức thư đề nghị cho ngưng chiến. Trong bộ dạng lúc đó, quân Việt đã nhầm cha tuyên úy như mọi quân lê dương khác. Do vì ở đó chỉ có mình viên trung úy nói tiếng Pháp, họ đã bảo anh ta: "Anh mang bức thư này về đơn vị các anh và anh có thể quay lại tìm kiếm thương binh của các anh mà người ta đã không thể mang đi theo". Theo sau có chiếc xe cứu thương trên đó cha tuyên úy Trinquand ngồi và một chiếc xe tải Dodge chở hai mươi lao công cáng thương, đại úy - bác sĩ Le Damany, đầu đội chiếc mũ kê pi vành mũ bằng vải nhung màu đỏ, ra đi trên một xe Jeep quân y, lá cờ hiệu chữ thập đỏ bay phấp phới trước kính chắn gió. Khoảng 11 giờ, đoàn xe nhỏ đi xuyên qua một quang cảnh hoang vắng đầy đe doạ và đến cứ điểm Béatrice không gặp trở ngại gì. Dưới chân mỏm đồi gần nhất hướng đông nam, cách không xa ngôi nhà gianh, được dùng làm nhà nguyện, lúc này vẫn còn nguyên vẹn, hai miệng phễu khổng lồ há rộng. Một đội tuần tra do một sĩ quan Việt Minh đi đôi ủng da chỉ huy tiếp đón đại úy - bác sĩ Le Damany và hộ tống ông ta đi tới mỏm đồi phía tây giữa một khung cảnh tan hoang bi thảm. Trong lúc đó cha tuyên úy Trinquand đi thăm đỉnh dốc cao, nơi có con đường mà đội quân đồn trú ở Béatrice dùng để đi ra sông Nậm Rốm lấy nước; ở đó cha tuyên úy cứu được một lính lê dương đang hôn mê, rồi ông đi tới mỏm đồi phía bắc.

Từ một trong số các lô cốt vỡ nát thò ra đôi cẳng chân của một chiến binh phòng thủ. Qua đôi giày kiểu đặc biệt và qua màu sắc chiếc quần dài, cha tuyên úy nhận ra xác của trung úy Carrière, chỉ huy một đại đội. Rõ ràng là người ta đã chiến đấu nhưng cha tuyên úy ngạc nhiên khi nhìn thấy cái tư thế quá ư thảm hại mà ông không thể ngờ tới. Mười hai lính lê dương, phần lớn ở trong trạng thái tuyệt vọng, và ba người chết được chuyển lên xe. Phần còn lại của tiểu đoàn đã biến mất, không kể khoảng một trăm người đã trốn thoát, khi họ thấy là đã hoàn toàn thất bại và lúc rạng sáng trở về phòng tuyến cùng với viên thiếu uý Makowiak, họ đi qua cứ điểm Dominique, ở đó họ đã khai báo để được thừa nhận. Tổn thất của phía tấn công, không còn nhìn thấy dấu vết gì trong hàng rào dây thép gai, vừa lúc đó, ở đầu một đoạn giao thông hào mà Việt Minh đã đào lên tận đỉnh của chiếc khe sâu hẹp ngăn cách hai mỏm đồi, cha tuyên úy phát hiện được, lẫn lộn giữa một vài vũ khí hạng nhẹ bỏ lại có vài phần xác người mà đội thu gom tử sĩ bỏ sót. Một trong số lính lê dương trong đoàn xe, trung sĩ Kubiak, cho rằng quân Việt sẽ không quay lại sờ soạng vào tập đoàn cứ điểm sớm đến thế.

Đầu giờ chiều. Navarre bay ra Hà Nội cùng với tướng Lauzin để nghiên cứu quy mô lực lượng tăng viện phải thả dù xuống. Trước khi rời Sài Gòn, đại tá Revol tuyên bố với các phóng viên báo chí rằng bộ chỉ huy đã đồng ý cho Việt Minh có một cuộc ngưng chiến, do họ yêu cầu. Đó chính là điều ngài Bidault sau này nhắc lại trên diễn đàn của quốc hội.
__________________________________________
1. Hébreux: Người Do Thái. - N.D
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #64 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2008, 03:37:19 pm »


Tôi đã hỏi tướng Giáp về chuyện này. Đây là một câu hỏi mà tướng Giáp né tránh, giống như rất nhiều câu hỏi khác, và trả lời tôi bằng một văn bản viết tay mơ hồ: “Nói cho đúng, đã không có cuộc ngưng chiến cục bộ ngày 14 tháng ba, sau khi Him Lam bị đánh chiếm. Với tinh thần nhân đạo, ngày hôm đó, chúng tôi đơn phương cho phép bộ chỉ huy tập đoàn cứ điểm, được thu gom thương binh của họ".

Vậy thì ai nói dối đây? Tất cả? Ngoại trừ những nhân chứng đã đi lên cứ điểm Béatrice hôm ấy.

Cũng trong buổi sáng hôm ấy, Grauwin gặp Piroth trong đoạn hào ở sở chỉ huy.

- Anh còn nhớ Thái Bình không? Piroth vừa hỏi Grauwin vừa đưa bàn tay độc nhất ra bắt tay vị bác sĩ. - Tôi lúc nào cũng dính vào những vụ tồi tệ.

Ở Thái Bình, vào lúc Castries chuyển lên Điện Biên Phủ, sở chỉ huy hành binh của sư đoàn đã bị một đội đặc công tiến đánh trong đêm 3 rạng ngày 4 tháng mười hai, trận ấy Grauwin, Paule Bourgeade và Piroth đã thoát ra được một cách thần kỳ.

- Khoẻ chứ? Langlais lúc ấy cũng đi qua, hỏi.

Piroth không đáp lời và quay người đi một cách đột ngột đến nỗi chiếc mũ ca lô rơi xuống để lộ ra cái đầu cạo trọc và cái cổ với những nếp da nhăn nheo như da rắn. Piroth cúi xuống nhặt mũ và Langlais nhận thấy dòng nước mắt chảy trên má viên chỉ huy trưởng pháo binh. Rồi đứng thẳng người dậy. Piroth giữ Langlais lại bằng cánh tay duy nhất:

- Hỏng hết rồi. Piroth nói. Tôi đã báo với Castries là phải dừng tất cả lại. Người ta bước vào cuộc tàn sát, và đó là lỗi tại tôi.

Và Piroth đột ngột bỏ đi, với những bước chân gấp gáp của một người máy.

Một nỗi sửng sốt vô bờ bến đè nặng lên tập đoàn cứ điểm. Việc Béatrice thất thủ một cách tàn nhẫn, việc đại tá De Castries không có phản ứng gì và cái chết của Gaucher giáng một đòn kinh khủng vào tinh thần, tư tưởng của đội quân đồn trú. Trung sĩ Sammarco cùng với bốn lính lê dương mang súng đứng cạnh chiếc quan tài của viên trung tá chỉ huy đơn vị mình, ở phía sau bên trên chiếc hố nhà xác; dưới hố các xác chết đã bắt đầu xếp chồng chất lên nhau, đôi khi được gói buộc trong một tấm chăn hay một chiếc dù. Anh ta cũng nghĩ rằng Béatrice sở dĩ bị thất thủ là vì bị bất ngờ và rằng quân Việt sẽ phải trả giá đắt cho vụ này. Khi một loạt đạn pháo rót xuống khu vực các sở chỉ huy, Sammarco cùng đội gác nhảy xuống một đoạn hào. Rồi khi yên tĩnh trở lại, họ lại tiếp tục phiên trực canh ở bốn góc chiếc hố sâu, đứng trên mặt đất. Ngày hôm ấy, lần đầu tiên, trung sĩ Sammarco cất cao giọng tự hỏi mình cái câu hỏi ám ảnh anh từ lúc rạng sáng: "Liệu cuối cùng người ta không ăn trưa hay sao nhỉ?..." Anh vội vã đưa mắt nhìn xung quanh. Không có một ai nghe thấy anh nói.

Ở Hà Nội, Brigitte Friang xin phép được nhảy dù cùng với tiểu đoàn đang đợi lệnh để lên máy bay. Một phụ nữ ở Điện Biên Phủ ư? Viên chánh văn phòng của Cogny, chỉ huy toà nhà đỏ, kêu to lên. Đây không phải là lúc. Người phụ nữ duy nhất ở đấy, Castries vừa trả về kia kìa.

Ý kiến không chính xác. Vẫn luôn luôn có những cô gái nhà chứa của Lai Châu và của một nhà chứa khác từ Hà Nội đến để giải trí cho lính lê dương của khu trung tâm. Cha tuyên úy Trinquand thi thoảng vẫn còn nhìn thấy những khuôn mặt trát phấn hồng và những tà áo tím của họ.

Không gập chiếc dù mà anh bỏ lại trong cả đám dù nằm rải rác trên bãi chiến trường, thiếu uý Jean Claude Thélot, người vừa cùng nhảy với cả tiểu đoàn lính dù Việt Nam, tập hợp trung đội của mình và tiến vọt nhiều bước về một điểm tựa. Một người của anh, lúc tiếp đất bị một quả đạn pháo nhấc bổng lên, chết, một chân bị đứt rời. Một người không thể đi nổi nữa. Thélot cõng người ấy trên lưng, thi thoảng dừng lại để thở, đưa người ấy tới tận một xe cứu thương. Không có người dẫn đường, vất vả vì số bị thương và số tụt lại phía sau, cuối cùng bằng chiếc xe Jeep anh tới được cứ điểm Dominique, ở đấy, anh gặp lại mọi người trong đơn vị giữa những binh lính Algérie đang phòng thủ ngọn đồi. Anh bố trí người của mình vào trong các hố chiến đấu, và không hề làm khách để ăn bữa ăn tối do viên tiểu đoàn trưởng chiêu đãi trong căn hầm của ông ta. Những cơn giông nổ ra và nhấn chìm tập đoàn cứ điểm trong lớp bùn. Lúc 16 giờ Navarre hạ cánh ở Hà Nội, Cogny tiếp đón ông. Hai viên tướng chỉ nói với nhau có vài tiếng ngắn ngủi.

Cuối buổi chiều, báo động ở cứ điểm Gabrielle mà quân Việt gọi là Độc Lập, "Kẻ đơn độc"; quân Việt trèo lên những sườn dốc trước mặt. Lúc 17 giờ 30, đợt pháo hoả chuẩn bị của đối phương lại tiếp tục. Một chiếc Morane bốc cháy trong căn hầm tổ ong của nó và những ngọn lửa từ đó thoát ra, bay lên trong màn đêm vừa buông xuống. Dưới trận đại hồng thủy sắt thép nghiền nát mặt đất, những xạ thủ các loại vũ khí ở Gabrielle bị kìm giữ dưới hỏa lực của đại bác 75 không giật và những khẩu cối tiến vào rất gần, do vậy không gì có thể phản kích lại. Lúc 13 giờ 30, thiếu tá De Mecquenem, người mà tướng Ely không nghe trình bày nguyện vọng, báo tin là mình bị tấn công: do vì đã sắp hết nhiệm kỳ phục vụ, anh đã giao lại chức vụ cho thiếu tá Kah, người vừa mới tới Đông Dương. Trận xung phong đầu tiên diễn ra lúc 20 giờ và màn pháo hoả lại tiếp tục. Castries đã hạ lệnh cho Séguins Pazzis chuẩn bị ngay một trận phản kích. Cứ điểm Gabrielle, mà căn hầm sở chỉ huy, giống như căn hầm sở chỉ huy của Béatrice ngày hôm qua, giờ đây đến lượt nó đổ sập vì một phát đạn pháo 105, đột ngột im tiếng. Quân Việt trèo lên xung phong trên sườn dốc đứng lởm chởm dây thép gai do đại đội số 4 thuộc tiểu đoàn bộ binh người Algérie phòng thủ. Và lớp người bị các súng liên thanh bắn gục được thay thế bởi lớp người khác, tựa như lớp người vô hình đột nhiên xuất hiện. Qua ống nghe trên bước sóng dài của mạng thông tin nội bộ của tiểu đoàn, Castries nghe thấy tiếng gọi của các chỉ huy đại đội: "Quân Việt bám vào đỉnh đồi… Súng cối bắn vỡ mặt tôi nhưng tinh thần đơn vị là tinh thần của mãnh hổ. Bắn nhanh đi!". Vầng trăng, chiếc máy bay đom đóm và tia chớp của đạn nổ soi sáng khu vực phía bắc khu lòng chảo, ở đó cứ điểm Gabrielle canh giữ cửa sông Nậm Cố và con đường mòn Pavie. Tuy nhiên, lúc 22 giờ, trận tấn công có vẻ bị chặn lại.

Cứ mỗi tiếng đồng hồ lại thay phiên, một chiếc B.26 xả đạn liên thanh và ném bom hú họa vào quân tấn công, kể từ lúc sẩm tối.

Langlais, vốn nhớ lại những dòng nước mắt ông đã trông thấy, lúc buổi sáng, trong đôi mắt của Piroth, đã nhiều lần hỏi viên chỉ huy trưởng pháo binh.

- Anh có nắm được các khẩu đại bác của quân Việt ở đâu không?
- Có thể chúng ở đây, Piroth đáp lời, vừa đưa tay chỉ vào một khu vực trên bản đồ. Hoặc là đây...
- Anh có thể bắt chúng câm miệng không?

Piroth nhún vai. Chắc chắn, ông sắp bắt chúng im tiếng, không bao giờ có chuyện ngược lại. Trong cuộc họp ở đó Castries trách cứ Piroth là đã tự buộc tội cho mình mọi vấn đề và đã làm mất tinh thần mọi người, rồi bảo Piroth về đi nghỉ, Piroth vùng vằng bỏ ra ngoài. Trông bộ dạng của ông lúc này chẳng khác gì một tấm áo rách và ông bỏ ăn. Castries cho mang thức ăn đến căn hầm của Piroth và yêu cầu cha Heinrich chăm sóc ông. Cha tuyên úy đã đến báo cáo: Piroth có vẻ khá hơn. Kể từ hai mươi bốn tiếng đồng hồ nay, Piroth nhắc đi nhắc lại tất cả những câu mà ông đã nói: "Chúng ta nắm được số lượng pháo mà họ có, sát đến từng khẩu. Chúng ta sẽ thắng bởi vì chúng ta có những khẩu 155 bắn từ trên chúc xuống. Chúng ta sẽ bắn tới họ ở bên kia các đỉnh núi, ở đó họ buộc phải bố trí pháo thành từng cụm, bởi lẽ họ không thể bố trí pháo trên những sườn dốc...". Và với bộ trưởng Jacquet, người đã bảo Piroth nên xin thêm pháo, câu trả lời của Piroth là: "Tôi đã có thừa số pháo cần thiết". Thậm chí Piroth đã không muốn đưa pháo của mình vào hầm để có thể bảo vệ được các xạ thủ. Ai có thể chạm tới họ nào? Để có thể bắn được theo mọi góc phương vị, cần phải bố trí pháo lộ thiên. Vừa may là Piroth đã đồng ý bố trí các khẩu pháo của mình nằm vào trong các hầm tổ ong có tường vách hẹp bao bọc, gồm những túi đất để tránh được những mảnh đạn súng cối Piroth nhắc lại những cuộc tranh cãi đã qua với Bigeard, người cứ lặp đi lặp lại rằng quân Việt có khả năng làm được mọi chuyện và một hôm, Piroth đã hét thẳng vào mặt Bigeard, để cắt đút câu chuyện: "Bigeard này, những gì cậu nói thật đáng xấu hổ? Người ta không có quyền ca ngợi đối phương..." Piroth, người gần như đã không mảy may nắm được các trận địa của đối thủ và với các khẩu 155 của mình chưa bao giờ có thể phá hủy dù cho chỉ là một chiếc xe tải, giờ đây thừa nhận là Bigeard và Castries đã nói đúng và tự cảm thấy mình có trách nhiệm về việc Béatrice thất thủ, về cái chết của Gaucher và những người khác. Và ông, Piroth con người trung thực, người đã không muốn như những người khác, lấy lại tinh thần bằng những cốc rượu cô nhắc đầy. Thử hỏi ông còn có quyền được sống hay sao? Chui vào đáy căn hầm của mình, ông giật một trái lựu đạn đeo ở thắt lưng, dùng răng cắn chốt và áp chặt trái lựu đạn vào trước ngực, nơi gần quả tim của mình.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #65 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2008, 03:44:49 pm »


Ngày 15 tháng ba 1954


Khi trăng sắp lặn, cuộc xung phong tiếp diễn vào lúc 3 giờ 30. Những người bảo vệ cứ điểm Gabrielle yêu cầu sở chỉ huy cho bắn pháo lên đầu mình. Sau khi tất cả các đội dự bị đã được tung ra hết, thiếu tá De Mecquenem bị thương và thiếu tá Kah, nằm bên cạnh, bị đứt lìa một chân. Một bộ phận lực lượng của cứ điểm rút về hướng nam: người ta đã biết là Séguins Pazzis tới cứu viện và ông ta đã không thể nào đánh bật được quân Việt, quá đông và quá mạnh.

Tay cần vụ người Sénégal của Piroth xuất hiện như một người điên trong phòng làm việc của các sĩ quan phó tư lệnh và cầu cứu.

Trong hang ổ của mình, Piroth nằm dài, đầu và ngực nát nhừ, bàn tay cuối cùng còn lại đứt rời. Hành động tự sát này sẽ có tác động ra sao? Castries quyết định che giấu chuyện này. Các cha tuyên úy và đại úy - bác sĩ Le Damany, tự tay đào một cái hố dưới gầm chiếc giường dã chiến của Piroth, rồi cùng với vài lời cầu nguyện lén lút, chôn cái xác mà người ta thấy hổ thẹn, và lấp kín căn hầm lại. Người ta sẽ nói rằng, cũng như Gaucher, Piroth là nạn nhân của một quả đạn pháo trúng đích. Một sĩ quan không tự sát hay sao? Khi mà anh ta tưởng rằng việc thất thủ một pháo đài là do lỗi của mình và rằng không thể nào sống được với nỗi ân hận lớn đến như vậy, hành động đó là cao cả. Những sai lầm của mình, Piroth không muốn trút lên đầu những người đã cho phép mình phạm phải những sai lầm ấy. Piroth đã trả giá các lỗi lầm ấy bằng mạng sống của mình, như một ông hoàng. Một bức điện được đánh về Hà Nội: "Đại tá Piroth ngã xuồng trên nền danh dự". Navarre gửi bức điện ấy về Paris, không một lời bình luận.

5 giờ 30, lúc tảng sáng, trận phản kích khởi động với hai đại đội của tiểu đoàn dù ngoại quốc số 1, sáu xe tăng và tiểu đoàn dù người Việt Nam số 5, đơn vị này dề dà, chậm chạp, không thật sự muốn xông lên. Séguins Pazzis phải vượt qua hơn bốn kilômét trong mạng lưới nhằng nhịt dây thép gai của hệ thống phòng ngự, đi theo một hành trình bị hai dòng suối chặn ngang. Khi anh tới được sườn dốc phía nam cứ điểm Gabrielle, trời đã sáng bạch. Người ta nghe thấy quân Việt hét to: "Đừng bắn, đừng bắn, hỡi quân Pháp, hàng đi". Ở cách những chiếc xe tăng năm mươi mét, họ nã đạn vào những phân đội định gia nhập trận phản kích. Bệnh xá của cứ điểm đã bị đánh chiếm. Tay bác sĩ hôm qua bị thương đã phải đưa về phía sau và thay thế bằng một trung sĩ người Áo của đội lê dương, nguyên là sinh viên y khoa.

Thiếu tá Thélot đã mất hai tiếng đồng hồ rưỡi để vượt qua một nghìn năm trăm mét dưới làn đạn pháo. Những người lính lê dương đã ùn ùn quảy trở lại, bước đi chậm rãi, người nọ dìu đỡ người kia, trong tiếng rít của những quả đạn 105 khi nổ làm đất vọt lên tung toé. Một viên tiểu đoàn trưởng bước đi, bộ mặt rách nát, thái độ thất thần. Hai chiếc xe tăng gầm lên và mở hết tốc độ, quay về hướng khu trung tâm, lớp vỏ thép đỏ mầu máu của những người bám trên tháp pháo, bộ mặt rách nát, đôi chân không giày. Thélot cho các thương binh uống nước rồi nhảy xuống một đoạn hào, ở đó anh nghe thấy những tiếng rên hấp hối. Những chiếc xe cứu thương lăn bánh, tựa như vô hình. Mệnh lệnh trở về vị trí xuất phát đã chuyển tới. Một trăm bảy mươi lính người Algérie đã thoát về được Người ta điều họ lên cứ điểm Isabelle. Mecquenem bị bắt làm tù binh. Một trong số dàn ăngten lớn của sở chỉ huy bị bắn gẫy.

Làm thế nào, Séguins Pazzis có thể chiếm lại được Gabrielle, khi mà hoả lực bắn quét giờ đây đã chặn đứng mọi bước phát triển và rằng đối phương, nhờ vào các lùm cây nhô cao, đã có thể tiến thêm thậm chí vài trăm mét để đối mặt với họ? Trận phản kích mà người ta không thể yểm trợ từ cứ điểm Anne Marie, ngay từ trước lúc khởi phát, có vẻ đã rơi vào tình trạng không có kết quả, bởi lẽ những sai lầm phạm phải trong quan niệm và trong công tác chuẩn bị đã mang trong mình chúng mầm mống của thất bại. Giống như đối với cứ điểm Béatrice, lực lượng tăng viện dành cho việc đánh trả và không được che chắn tốt, chỉ được sử dụng để bịt các lỗ hổng: một sai lầm chiến thuật không sửa chữa nổi. Không một ai, trong các cơ quan tham mưu, đã có thể sửa chữa được sai lầm đó bởi lẽ không một ai đã ngờ tới sự sụp đổ chỉ trong một đêm của những pháo đài nhìn bề ngoài vững mạnh đến như vậy, như Gabrielle hoặc Béatrice. Người ta bao giờ cũng chỉ nghĩ đến việc chi viện đối với các cứ điểm ấy mà không nghĩ đến việc giành lại trận địa mà quân Việt bám chắc vào sau mỗi khi đánh chiếm được. Các kỵ sĩ không phải sinh ra là để vật lộn với các chướng ngại vật mà là để phi thẳng về phía trước mặt họ. Khẩu hiệu của họ là khẩu hiệu của Murat1 nhảy lên lưng ngựa trước mặt các phân đội và hét to: "Thẳng tiến, bám theo sát tôi...". Tiến ra khỏi trận địa và mạng lưới rào thép gai của nó đã là một vấn đề. Trong tháng giêng, lần đầu tiên, lúc tảng sáng, Langlais khi thực tập việc tiến đến cứ điểm Isabelle đã làm cho hai tiểu đoàn của ông lúng ta lúng túng trong hệ thống phòng ngự. Lực lượng chi viện duy nhất mà thiếu tá De Mecquenem có thể trông mong, đó là pháo binh. Mà pháo binh thì lại đã suy yếu.

Trên làn sóng máy thông tin của Việt Minh, người ta nghe thấy tiếng một trung đoàn trưởng nói bằng tiếng Pháp xin lệnh cấp trên cho phép tấn công cứ điểm Anne Marie. "Tôi chỉ ngoạm một miếng là xong! Ông ta nói - Mười lăm phút, tôi chỉ cần mười lăm phút...".

Dưới hoả lực bắn phá liên tục, những dấu hiệu tan rã đầu tiên đã xuất hiện ở cứ điểm Anne Marie, do tiểu đoàn người Thái số 3 chiếm giữ; binh lính của đơn vị này đã lợi dụng đêm tối và tâm trạng nao núng chung để bỏ trốn vào trong núi hoặc chạy sang phía đối phương.

Quá thông minh cho nên cũng chẳng thích gì đi đánh nhau với cương vị những người lính trơn, quá khôn khéo để đâu đến nỗi không có cách nào xử lý khi nhu cầu thúc ép quá mạnh, quá thông thạo địa hình để biết rằng có thể luồn lách, ẩn nấp được, nhưng binh lính người Thái, vốn không phải tất cả đều là những ông hoàng hay ông quan, nhưng gần như tất cả đều xứng đáng như vậy, đã không thể nào thích ứng được với một tình thế tất yếu dắt dẫn họ một cách tàn nhẫn đi đến cái chết hoặc nỗi bất hạnh. Họ không giống như cái khối hàng nghìn người khốn khổ, rút lui từ Lai Châu về, một bầy đàn sợ sệt và dao động mà Langlais nhanh chóng gọi bằng cái từ "nhóm vô lại ở Bordier"; đám người này được người ta sử dụng như những nô lệ, trong mọi công việc lao dịch, giống như những tù binh đưa từ Hà Nội lên mà mỗi buổi sáng, viên trung sĩ Sammarco đến để nhặt ra một mẻ. Thân hình nhỏ nhắn, khuôn mặt toát lên vẻ đẹp và sự lịch thiệp, sinh ra vì nền hoà bình, vì nghệ thuật và các thú vui, chỉ lao động khi nhu cầu thúc ép, những binh lính được sắp xếp vào tiểu đoàn số 3 có khả năng phục vụ cho những công việc to tát với điều kiện họ phải được bảo vệ chắc chắn. Trong một số vùng của người Thái, khi một người đàn ông chết đi, anh em của người đó chỉ cầy cấy một nửa diện tích thửa ruộng anh ta được thừa kế, còn nửa kia là để tưởng nhớ đến người đã mất và để cho cuộc sống êm đềm. Việc Béatrice thất thủ và sau đó, Gabrielle cũng thế, là một thử thách vượt quá sức chịu đựng của họ.

Khi cứ điểm Anne Marie bị đánh chiếm, người ta thu nhặt được hàng nghìn người chết và bị thương, quân Việt ùa vào các kho thực phẩm, thu gom các khẩu phần ăn của ngành hậu cần, các hòm rượu vang ướp lạnh và rượu anis. Một tù binh sĩ quan đòi có một bác sĩ.

- Không có.
- Tại sao? - Anh ta hỏi.
- Thưa ông, ông nên biết là ở chỗ chúng tôi, người ta không có thói quen đưa ra những câu hỏi.

Ở Hà Nội, trước những cú điện thoại của đại tá Castries, từng giờ một báo về tin thảm họa, người ta thất kinh, chứng kiến sự tan rã của tập đoàn cứ điểm. Nhân tố đáng ngạc nhiên và đáng sợ nhất, đó là lực lượng pháo binh đã không đánh trả lại được và tự thân chịu cúi đầu với một trận phản pháo mà nó cũng tiến hành nhưng là vào khoảng trống không; lực lượng pháo binh có nguy cơ nhanh chóng rơi vào trạng thái bất lực hoàn toàn. Máy bay trinh sát bị phá huỷ hoặc bị bắn đuổi, khiến cho pháo binh như bị mù: hai chiếc Morane nữa là một chiếc Bearcat vừa mới bị phá huỷ trên bãi đỗ, và trong những khoảng thời gian hiếm hoi máy bay có thể thoát khỏi hỏa lực của súng phòng không để bay lượn trên các đỉnh núi thì màn sương mù khô khốc từ một tuần lễ nay bao trùm lên cả vùng thượng du khiến cho tầm quan sát rất kém. Đạn dược tiêu hao đến mức việc tiếp tế không còn kịp nữa.

Ở bộ tham mưu, trong một văn phòng nằm trong khu thành cổ Hà Nội, nơi đó Navarre rất hiếm khi đến thăm bởi lẽ giống như ở Sài Gòn, ông làm việc tách biệt tại toà biệt thự riêng, cực kỳ đơn lẻ, các sĩ quan nhìn nhau và nói: "Thế là ván đã chơi và thế là đã thua". Trong căn phòng nhỏ, Navarre chỉ có một mình, rất bình thản, gần như câm lặng, ngồi trước bản sao một bức điện của Castries: "Tôi nghĩ rằng chúng tôi có thể bị tan rã và trong trường hợp đó, tôi dự kiến hạ lệnh cho cứ điểm Isabelle rút chạy bằng những phương tiện riêng của nó ". Và điện trả lời của Cogny: “Có lý khi dự kiến những giả thiết thảm họa nhất, nhưng trước hết cần nghĩ đến việc đứng vững tại chỗ. Mặt khác tôi nghiên cứu việc rút đi một bộ phận của đội quân đồn trú tùy theo tình huống. Ngày mai, gửi cho anh một tiểu đoàn dù".

Với một niềm thoả mãn cay đắng, Navarre nghĩ rằng mình đã có lí khi không mong muốn có cuộc tấn công của tướng Giáp, trái ngược với Cogny, Castries và mọi người trong tập đoàn cứ điểm. Điều mà ông không tha thứ cho mình, đó là đã để cho bọn họ đánh lừa. Thậm chí ông không dùng cái từ "bọn tồi tệ". Cái từ đó, ông cho là quá nhẹ. Từ “bất tài" ông thấy có vẻ đúng hơn. Việc đánh giá đối phương của bọn họ bao giờ cũng tỏ ra là sai lầm: hoặc là quá cao hoặc là quá thấp, so với thực tế. Sai lầm duy nhất mà Navarre tự thừa nhận là đã không chú ý đầy đủ đến ý kiến của bọn họ. Tay pháo thủ Cogny đã đánh lừa ông, viên chỉ huy trưởng pháo binh của Điện Biên Phủ đã tự đánh lừa mình, các phi công đã không sao cắt đứt được đường giao thông, phá huỷ được các kho dự trữ, thậm chí đã không phát hiện được vị trí của các cụm pháo. Thời gian ư? Các điều kiện khí hậu ư? Navarre nhún vai: những lí lẽ đó sẽ không bao giờ thuyết phục được ông. Khối lượng chi viện cho Việt Minh chảy ào ào như nước, không chút trở ngại, kể từ khi có thông báo về Hội nghị Genève. Salan, người đầu tiên, đã nhét vào dưới chân ông chiếc vỏ chuối khổng lồ Điện Biên Phủ và đã ru ngủ ông với những dự kiến, những suy diễn và kế hoạch của ông ấy. Phải, mọi người đã đánh lừa Navarre, kể cả những người Trung Quốc. Nếu như không có sự chi viện của Trung Quốc, Navarre tự nhủ rằng mình không thể nào bị đánh bại bởi tay cử nhân luật học Võ Nguyên Giáp. Ông không muốn chấp nhận là tướng Giáp đã quyết định tấn công Điện Biên Phủ ngay từ tháng mười hai vừa qua và rằng kinh nghiệm của trận Nà Sản đã giúp ích cho ông ta. Sự chi viện của Trung Quốc, và việc các chính khách đã không ủng hộ các kế hoạch của vị tổng chỉ huy, theo Navarre đó là những nguyên nhân dẫn tới thất bại tạm thời này. Ông không tự nhủ là người ta không mong chờ ở ông những cuộc phiêu lưu cũng như những lời cam kết mà là sự thận trọng. Ông mỉm cười khinh khỉnh trước cái thắng lợi quân sự mà "chú” giáo sư Giáp muốn có, cốt để cho chính phủ của ông ta đến Genève với hài bàn tay đầy. Những thông tin thu lượm được từ mạng lưới của Việt Minh đã cho thấy điều đó và giờ đây ông tự trách mình đã không nhấn mạnh đủ mức thực tế đó với phái đoàn Pléven. Nhưng thắng lợi quân sự, đối với ai mà không cần thiết? Có vị tướng nào mà không mong muốn cái đó? Đối với Navarre, sự chi viện của Mỹ không thiếu và nhiều nghìn tấn trọng lượng xe tăng và đại bác nằm gỉ sét trong các kho chứa. Với đại tá Fleurant, cục trưởng Cục Trinh sát, đến gặp ông, ông bảo:

- Chúng ta không nên ảo tưởng: thế là hỏng. Tôi rất muốn là quân Việt không tiếp tục tấn công tối nay. Cần phải tìm kiếm biện pháp khác.

Chắc chắn ông cũng đã nói chuyện điện thoại theo cùng một hướng đó với ngài Dejean, người được báo động một cách tệ hại, đã điện cho bộ trưởng của mình nói về những viễn cảnh u ám đang xuất hiện và quyết định bay ra Hà Nội.
____________________________________________
1. Murat: Thống chế Pháp (1767 - 1815) là em rể Napoléon đệ nhất. Vua xứ Naples (1808 - 1815). - N.D
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #66 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2008, 03:46:17 pm »


Làm thế nào Navarre lại bị tác động bởi những thất bại mà ông đã nhìn thấy trước trong lúc trình bày ý tưởng lớn trong hành động của chiến dịch mà ông đề ra? Đối với ông, việc tướng Giáp nhảy vào Điện Biên Phủ là một lời thú nhận yếu kém: tướng Giáp không thể nào tấn công bất kỳ mục tiêu nào khác trước mùa mưa đang đến gần. Và một thất bại cục bộ có nghĩa lí gì nếu như xứ Nam Kỳ vẫn được bảo vệ trước một cơn lũ tràn ngập của Việt Minh và nếu như vùng Trung phần loại bỏ được những kẻ quấy rối? Giai đoạn hai cuộc hành binh Atlante được mở màn ngày hôm đó: nó tung ra ba mươi ba tiểu đoàn của đạo quân viễn chinh chống lại với mười bảy tiểu đoàn Việt Minh, trong đó chỉ có chín tiểu đoàn quân chính quy. Không một điều gì có thể thuyết phục được Navarre rằng số phận của Đông Dương đang được thử thách ở Điện Biên Phủ và rằng đòn đe dọa ở Trung phần chỉ là một mưu mẹo. Ông sẽ không bao giờ thoảng qua nỗi ngờ vực và sẽ không hề tự hỏi liệu mình có bị sa chân vào một cái bẫy. Đứng trước những con người đang hoang mang lo sợ, ông tự khen mình đã nhận được những thông tin không quan trọng soi đường cho ông trên những cao nguyên hoang vắng vùng Boloven, ở đó đang diễn ra cuộc hành binh Atlante, nay đã trở thành chiếc la bàn cho chiến lược của ông.

Ai dám nói với Navarre rằng ông đã phạm phải một sai lầm khổng lồ? Ai dám khuyên ông một lời khi mà mọi lời khuyên đã dẫn ông tới sai lầm đó? Sự thật, đối với Navarre, đó là việc kể từ lúc này chỉ có tin ý kiến của riêng mình. Không phải ông không biết là đối thủ sống còn của ông, tướng Giáp, hiện đang ở Điện Biên Phủ và ông ta đã trực tiếp chỉ huy các đơn vị tấn công, điều này hình như chứng tỏ là ông ta muốn ném vào trận đánh tất cả những gì có trong tay nhưng mà đúng là Navarre lại suy từ đó ra rằng tướng Giáp bị hạn chế trong hành động của ông ta. Trong lúc đó ông, Navarre, ông có thể tung ra những đòn ở nơi khác. Thống chế Joffre, năm 1916 đã không để cho mình bị che mắt bởi trận Verdun và tung ra một đòn tấn công trên vùng sông Somme, đòn này Verdun có lẽ phải chống giữ. Navarre không chịu lùi bước trước cảnh náo loạn đang lan ra trong các cơ quan tham mưu và hơn bao giờ hết kiên trì chiến dịch Atlante của mình, ngược lại với tất cả bọn họ. Ông không tha thứ cho bất kỳ một thiếu sót nào; ông sẽ bẻ gãy những ai tranh cãi với các mệnh lệnh của ông. Đối diện và chống lại tất cả những ai thúc ép Navarre giao chiến ở Điện Biên Phủ, chiến dịch Atlante sẽ diễn ra. Và trong lúc mà De Lattre, khi mọi chuyện đổ vỡ và rã rời, đã lao vào trận đánh, tự thân chỉ huy các binh đoàn cơ động, hò hét, thúc giục quân sĩ và bố trí sở chỉ huy của mình ở giữa trung tâm trận đánh thì Navarre vẫn ở lại Hà Nội và quay trở vào Sài Gòn trong vài ngày.

Một công văn tham mưu của Cogny gửi Navarre chỉ rõ rằng cần thiết xem xét đến khả năng một thất bại ở Điện Biên Phủ và việc tổn thất số quân đã tung vào đó. Công văn ấy thử rút ra những hậu quả: nếu như Việt Minh khuếch trương kết quả, họ có thể, việc này sẽ làm thay đổi tương quan lực lượng hiện có, trong vòng mười hai ngày đưa một sư đoàn xuống vùng đồng bằng, ở đó, ngay trong buổi sớm hôm nay, họ đã có trận đánh trên trục đường Hà Nội - Hải Phòng. Lại một lần nữa Cogny yêu cầu tăng viện.

Cogny gửi công văn cho Navarre, mặc dù Navarre lại đang ở Hà Nội. Muốn gặp nhau, chỉ cần người này hoặc người kia bước xuống một tầng gác hay đẩy một cánh cửa nhưng mà hai người đã không nói gì với nhau nữa hoặc là gần như vậy. Họ trao đổi với nhau bằng giấy tờ và thông qua các viên tham mưu trưởng. Khi Navarre cho gọi Cogny tới, những ý kiến trao đổi không chọc thủng được độ dày của mối ác cảm chia rẽ họ. Trận thua không dàn xếp được mảy may: họ sắp tìm cách, cả hai người, tự nhận lấy trách nhiệm về mình. Navarre buộc tội Cogny là đã giữ lại những đơn vị tốt nhất cho vùng đồng bằng, xây dựng tồi hệ thống phòng ngự với những đơn vị không có khả năng phản kích ban đêm và đã từ chối sự góp ý mà ngày 4 tháng ba Navarre đưa ra là thiếu những đơn vị thạo tác chiến. Thoáng nhìn qua, những lời trách cứ đó là đúng. Khi đem sàng lọc, phân tích kỹ lưỡng, người ta thừa nhận là Cogny đã không thể nào thay đổi được các công cụ đang cầm trong tay. Ở Đông Dương, không có lấy một tiểu đoàn duy nhất nào gồm toàn quân sĩ người Pháp trăm phần trăm: bản thân đội lê dương cũng đã bị "da vàng hoá". Ở Điện Biên Phủ, người Việt Nam chiếm tới một nửa quân số, với đại diện của mười bảy dân tộc. Và như vậy, ai làm người đã dần dần mang tới cho cuộc hành binh hạn chế tất cả những điều kiện dẫn tới sự đương đầu với khối chủ lực của đối phương? Ai mà không hiểu rằng trận Điện Biên Phủ đã vượt quá giới hạn một trận đánh địa phương để mang tính chất nghiêm trọng và kinh khủng của một hiệp đấu không thương tiếc, từ hiệp đấu ấy bắt buộc sẽ phải bước ra một võ sĩ thắng cuộc và một võ sĩ thua cuộc. Ai đã do dự không giao cho Cogny trách nhiệm chỉ đạo trận đánh theo ý của ông ta? Ai đã không hiểu rằng số phận của toàn bộ đạo quân viễn chinh được thử thách trong một khu lòng chảo?

Ở Điện Biên Phủ, một chiếc Bearcat của không quân do trung sĩ Sahraoui lái đã bị bắn hạ và lúc 12 giờ 45, một chiếc Hellcat của không quân thuộc hải quân do trung úy hải quân Lespinas lái, đã gẫy tan tành ở phía bắc Gabrielle. Bị một phát đạn pháo trúng đích, đài kiểm soát không lưu đổ sập xuống như một toà lâu đài bằng giấy và chỉ còn hoạt động bằng những phương pháp ứng phó. Ngược lại, một chiếc trực thăng, hôm qua bị hư hại đã cố gắng cất cánh được. Năng suất thả dù bị hạn chế do thiếu những tấm dù cần thiết cho những khối hàng lớn. Một phần các bọc hàng thả dù đã rơi ra ngoài khu phòng ngự, rơi sang phía đối phương. Thương binh chen chúc giữa các chiến binh mà người ta không sao cứu chữa cho họ kịp. Tình trạng khủng hoảng thiếu đạn dược và thực phẩm đóng gói xuất hiện trong công việc tiếp tế của Hà Nội mà Cogny không dự tính trước được bởi vì các hạn ngạch của căn cứ tác chiến ở Bắc Kỳ tuỳ thuộc trực tiếp ở vị tổng chỉ huy.

Buổi chiều, cuộc vây hãm cứ điểm Dominique bắt đầu. Những chiến hào từ Béatrice chạy ngoằn ngoèo xuống, toả rộng, chia tách ra để có thể bố trí các loại vũ khí tự động, luồn lách từ Gabrielle tới Anne Marie. Khắp nơi, xẻng và cuốc đào vào những khe sâu và sườn dốc dẫn tới khu lòng chảo.

Một đêm nữa đang tới, hứa hẹn điều gì đây? Đại tá Castries triệu tập các tiểu đoàn trưởng ở gần mình. Liệu quân Việt có còn khả năng mở một trận xung phong đắt giá như vậy không? Chiến thắng làm cho người ta thêm táo bạo và tướng Giáp, ông ta có khả năng tận dụng đêm tối và thời tiết xấu để cho bộ đội nghỉ ngơi, trong lúc đó các đơn vị trong tập đoàn cứ điểm không có lấy một giây phút nào ngơi nghỉ. Tiểu đoàn dù thuộc địa số 6 ngày kia sẽ nhảy xuống. Những khẩu pháo 105 đã được ném xuống để thay thế những khẩu bị phá huỷ.

Tại cửa ra vào các trạm cấp cứu, chất đống những núi bông băng bốc mùi lộn mửa. Trang phục rải rác giữa những đôi giày đế đinh, những đôi giày đi rừng và những chiếc mũ sắt lộn ngửa, chẳng khác gì những con rùa nằm ngửa lưng. Một số bị thương lê lết về tận bệnh viện của khu phòng ngự trung tâm, ở đó người ta tưởng đâu tìm được sự giải thoát. Những người lính Algérie và Marốc vác trên vai những người lính Việt Nam nhỏ bé, khuôn mặt nhăn nhó vì đau đớn. Lao công và chiến binh chen chúc nhau trong những đoạn hầm tiếp cận, xin xỏ lấy một chỗ ngồi trong những hầm mộ của nhóm phẫu thuật, ở đó người ta thấy ngạt thở. Người ta dẫm đạp lên những chiếc dù đáng giá một trăm nghìn France, người ta sử dụng dù làm chăn đắp, làm gối, làm vải khâm liệm. Những tiếng rên rỉ thoát ra từ những chiếc giường nằm đóng xộc xệch và chồng lên ba tầng bằng những ống kim khí. Huyết tương chảy từng giọt một vào các tĩnh mạch, râu ria xồm xoàm trên các khuôn mặt. Gần gian phòng thông tin đổ sập, nửa thân trên cởi trần được bảo vệ bởi một chiếc tạp dề bằng cao su, hai tay đi găng, không đeo khẩu trang, Grauwin và Gindrey mổ các ổ bụng, rạch các bắp đùi để gắp ra các mảnh đạn pháo, các viên đạn súng trường hoặc bó lại các đoạn xương gẫy. Mùi vị ngang ngang của máu chẹn ngang cổ họng. Các y tá hút thuốc để khỏi nôn mửa. Grauwin phải tiến hành năm mươi ca hồi sức và anh chỉ còn có hai lít máu; cần thiết ba trăm triệu đơn vị Pênixilin và anh chỉ còn có năm mươi. Những chiếc hàm gẫy nát, những con mắt bị thủng, những cẳng chân đứt lìa, những mảng vai há toác, những tiếng rên la và những cú điện thoại khiến cho anh xúc động. Đứng thẳng giữa đống đổ nát, con người khổng lồ này hầu như không chịu được nữa. Không còn là một trận đánh mà là một bước xuống địa ngục. Vốn là một tín đồ, Grauwin cầu xin Thượng Đế đến cứu giúp. Với những con người, anh đề nghị van xin một cuộc ngưng chiến.

Xa hơn, chiếc hố nhà xác đã đầy tràn, ở đó trung sĩ Sammarco và bốn lính lê dương của anh vẫn còn đang canh giữ chiếc quan tài của Gaucher. Người ta chuyển thêm về đó những người chết, được gói buộc trong một tấm chăn như một gói đồ, một chiếc lọ nhỏ đựng lí lịch, cổ lọ được buộc chặt vào gói đồ. Đôi khi thậm chí người ta không còn có thời gian hay khả năng tiến hành một cuộc tắm rửa tang lễ và người ta đành lòng để người chết nằm dài, ngay trên mặt đất, nửa trần trụi, ở đó đạn pháo vẫn còn có thể nghiền nát họ. Một vài người trong số họ tựa như đang ngủ, một bàn tay vắt lên trán và lũ ruồi háu ăn đậu xuống các vết thương của họ.

Phải chăng đây chỉ là những chuyện kinh khủng của chiến tranh hay là chuyện thảm họa? Vấn đề đó, Cogny cũng tự đặt ra với mình, lòng đầy lo ngại. Những tiểu đoàn mà Navarre cung cấp cho mình, làm thế nào mà mình lại nhét họ vào một trận địa ở đó, giờ đây người ta đã chết bẹp rồi? Cogny biết rằng sức mạnh quyết định của Điện Biên Phủ, không khác gì sức mạnh của một trận địa khác, không phải là chỉ nằm trong việc phòng ngự mà là trong việc phản kích. Ấy vậy mà, đây lại chính là vấn đề làm ông lo ngại: dưới đòn đánh bất ngờ, Castries tỏ ra đờ đẫn và tựa như không hiểu một tí gì về những điều mà Cogny đã trao đổi và nhắc lại ngày 4 tháng ba. Cái tay kỵ binh này vốn nắm trong tay những đòn đánh trả như sấm sét, giờ đây bị tê liệt, ông ta sử dụng các đơn vị dự bị của mình một cách dè dặt để bịt các lỗ thủng, vá víu, khâu mạng lại chứ không phải là ra đòn. Sự thực là Castries đã không thể tập trung các đơn vị dự bị bởi lẽ người ta đã không dự kiến có những căn hầm rộng cho các đơn vị đó và rằng hoả lực của pháo binh đối phương đã gây tổn thất cho các đơn vị đó ngay tại các vị trí mà họ chiếm giữ, đội xung kích số 8 trên mặt bắc, tiểu đoàn dù ngoại quốc số 1 trên mặt tây của khu trung tâm Điện Biên Phủ. Castries đã không có thời gian để huấn luyện họ tác chiến ban đêm, mặc dầu ông biết rằng Việt Minh chỉ hành động khi lợi dụng được đêm tối; trái ngược với những gì người ta tưởng, ở đó chưa bao giờ có những cuộc diễn tập phản kích, mà chỉ có những buổi thực tập của cán bộ chỉ huy. Những cuộc diễn tập ấy, làm thế nào người ta có thể tiến hành được bởi lẽ hàng ngày người ta đã sử dụng các tiểu đoàn dự bị vào những trận trinh sát, sau những trận đó, họ buộc phải băng bó các vết thương, lấp đầy các tổn thất và lấy lại hơi sức? Séguins Pazzis chỉ có thể đủ sức đến đầu các sườn dốc phía nam ngọn đồi của Gabrielle, ở đó số người trong đơn vị thoát nạn chạy ra gặp đơn vị chi viện để thoát chết hoặc là khỏi bị bắt làm tù binh. Nhận xét đáng ngạc nhiên: những bức không ảnh do một máy bay trinh sát chụp được ngay trong buổi sáng hôm đó, cho thấy phần lớn các công sự của Gabrielle còn nguyên vẹn, trong lúc các công sự của Béatrice đã bị đạn pháo cầy xới, điều đó có vẻ chứng minh rằng đội quân phòng ngự lẽ ra có thể chống cự được thời gian dài hơn nếu như pháo binh của tập đoàn cứ điểm yểm trợ cho họ tốt hơn.

Trên cứ điểm Claudine 5, trong sở chỉ huy của mình bố trí ở giữa khu ruộng lúa, nơi đại đội đã xây dựng những căn hầm chắc chắn và đào các giao thông hào, đại úy Capeyron không thể nào hiểu nổi chút gì về việc thất thủ của Béatrice. Anh nghĩ rằng cần phải co cụm lại và chờ đợi lực lượng tăng viện sẽ tới ngay khi thời tiết khá lên. Ở chỗ anh, mọi chuyện ổn định. Anh tự hỏi tại sao quân dù chưa thấy xuất hiện và tại sao khoảng giữa Béatrice và các mỏm đồi của Dominique lại im lặng đến như vậy. Anh cũng tự hỏi làm thế nào mà các điểm tựa của Eliane có thể kháng cự được, các điểm tựa này nằm quá gần các ngọn đồi khác mà đối phương có thể biến thành các trận địa hoả lực. Tất cả những câu hỏi đều không tìm ra được lời giải đáp. Anh tự nhủ rằng anh chỉ là một sĩ quan cấp dưới và rằng trí thông minh để xử lý tình huống này phải để dành nhiều cho các cấp trên. Anh cũng không thể nghĩ được rằng người ta lại đã không tìm cách, ít nhất là đánh bật quân Việt ra khỏi những vị trí mà họ chiếm được. Anh không ngờ vực gì cả: chuyện phải đến sẽ đến. Chuyện đó không thể nào không xảy ra. Xung quanh anh, không một ai tự hỏi bất cứ điều gì. Cách chỗ đó tám trăm mét, ở đầu vào của đường băng hạ cánh có những bộ khung máy bay vẫn đang còn bốc cháy.

Màn đêm vừa mới buông xuống thì cơn sấm sét của trận hoả lực tập trung đã đổ ập xuống cứ điểm Dominique. Cơn bão lửa trút xuống đó, ngọn núi giống như một miệng núi lửa đang hoạt động, từ các sườn núi những dòng nham thạch sôi sục chảy dài.

Lúc 21 giờ, ngài Dejean đến Hà Nội. Navarre có vẻ ít đăm chiêu hơn buổi sáng và Cogny báo cáo tình hình với cao uỷ.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #67 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2008, 03:47:37 pm »


Ngày 16 tháng ba 1954


Ở Điện Biên Phủ, lợi dụng một đêm tương đối yên tĩnh, những người Thái trong cứ điểm Anne Marie đã đi thành từng đám đông ồ ạt bỏ về nhà, xuyên qua phòng tuyến của đối phương, họ bỏ lại vũ khí, đạn dược và đồ tiếp tế. Trong số họ, những ai không dám bỏ đi vì khiếp sợ Việt Minh hơn là các khẩu đại bác, bèn kéo đến hầm chỉ huy để ấn nấp; cả một đại đội kéo nhau rút về cứ điểm Huguette. Do vì điểm tựa này không còn giữ được nữa, người ta điều số quân còn lại sang cứ điểm Isabelle.

Đứng trước tình hình bi thảm của bệnh viện, theo yêu cầu bác sĩ Grauwin và theo lệnh dứt khoái của tổng chỉ huy, đại tá De Castries đưa ra một lời đề nghị ngưng chiến. Lo sợ rằng đối phương có thể đọc thấy ở đây một lời thú nhận yếu kém, ông ta trao trả cho Việt Minh những tù binh bị thương của họ. Một thông báo được phát đi nhiều lần trên sóng vô tuyến: "Gửi bộ chỉ huy quân đội nhân dân đang vây hãm. Chúng tôi báo cho các ông biết rằng hai mươi thương binh của các ông sẽ được khiêng trên cáng tới bản Ban, tối nay, lúc 22 giờ. Các nhân viên cáng thương sẽ không mang theo vũ khí. Sẽ không có bất kỳ hoạt động nào, bất kỳ hỏa lực nào trong khu vực này cho đến tận nửa đêm". Trên đài phát thanh của chính phủ, Việt Minh trách cứ viên tổng chỉ huy và Paris về cuộc ngưng chiến giả tạo ngày 14 tháng ba nhưng sẽ tới địa điểm đã hẹn và tiếp nhận số thương binh của mình.

Đứng bên trên căm hầm sở chỉ huy, Castries nói với phóng viên nhiếp ảnh Daniel Camus:

- Này chú bạn nhỏ của tôi, anh đến đúng lúc đấy. Nếu như họ lại tấn công đêm nay, tất cả sẽ đi tong.

Daniel Camus, mới hai mươi tuổi đầu, hốt hoảng. Anh đã thổ lộ chuyện này với các đồng nghiệp, nhưng liệu ai có thể tin anh? Có lẽ Camus đã không hiểu hoặc đã nghe lầm một câu nói đùa gở của De Castries. Đại úy Noël, trưởng phòng Nhì của Castries nghĩ rằng quân Việt đã tiêu hao tất cả số đạn dược của họ và rằng vụ việc đang kết thúc. Đi tong, làm thế nào người ta có thể đi tong với tiểu đoàn dù số 6 mà bốn mươi hai chiếc Dakota thả xuống khu vực cứ điểm Isabelle cùng một lúc với lực lượng tăng viện cho tiểu đoàn dù ngoại quốc số 1 và đội xung kích số 8. Tiểu đoàn dù thuộc địa số 6 tiếp đất giữa làn đạn súng cối, đó là Bigeard, cái tên này vang lên trên tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Bigeard có mặt, đội quân đồn trú ngẩng đầu lên. Tiểu đoàn của anh đã nhảy dù xuống lúc 15 giờ, tại cứ điểm Isabelle. Bước đi tập tễnh, bởi lẽ anh bị rách bắp chân trong trận Séno, tay cầm một cây gậy to tướng, anh bước vào cứ điểm Isabelle, xin một chiếc xe Jeep để chạy về Điện Biên Phủ. Vết thương tạm thời này làm anh tức tối. Đầu đội mũ sắt, theo sau có cơ quan tham mưu bé nhỏ của mình, anh tới trình diện với trung tá Lalande, người đội mũ sắt tiếp anh trong căn hầm. Một xe Jeep ư, vào lúc chẳng một ai thò đầu ra ngoài? Theo Bigeard, phóng xe sẽ tránh được đạn súng cối tốt hơn là đi bộ. Bằng cách đó, chạy ngoằn ngoèo từ đại đội này sang đại đội khác, anh tới khu trung tâm vào lúc 17 giờ để chào đại tá De Castries.

- Chú Bruno của tôi, Castries bảo anh, tôi hài lòng được gặp chú.

Bruno, đó là mật danh tác chiến của Bigeard lần đầu tiên anh sử dụng khi anh nhảy dù vào tháng tám năm 1944 ở vùng Ariège, và anh giữ cái mật danh đó kể từ lúc ấy. Ở trong Sở chỉ huy, Bigeard nhăn mặt. Ở đây, bao trùm một khung cảnh u ám, cau có, điệu bộ, mà anh không ưa. Cuộc gặp gỡ với Langlais lạnh nhạt: hai viên sĩ quan không quen biết nhau và ngay cái nhìn đầu tiên đã không thích nhau. Bigeard lại trèo lên xe Jeep của mình phóng tới tận chân ngọn đồi Eliane 4. Tin đồn nhanh chóng lan truyền là Bigeard có mặt; một vài người đã thoáng nhìn thấy khuôn mặt nhìn nghiêng sắc nhọn và đã nghe thấy những tiếng quát mắng và những câu nói thô tục của anh. Đại úy Capeyron và tất cả số sĩ quan cấp dưới, trung sĩ Sammarco và tất cả số hạ sĩ quan nhắc lại với nhau là công việc sắp đổi sang một chiều hướng khác. Đêm nay, nếu đối phương tấn công, Bigeard sẽ trả lời.

Trên toàn xứ Đông Dương người ta biết Bigeard là ai. Người ta biết vầng trán cao, mái tóc hoe vàng cắt kiểu bàn chải, khuôn mặt nhìn nghiêng của con chim mồi, tính độc lập hay ngờ vực, đôi bàn tay thợ cứng cáp, bao giờ cũng có vết xước của anh. Người ta có thể ghét anh, nhưng mọi người đánh giá cao anh. Nóng nảy và sôi sục dưới một vẻ bề ngoài bình thản, anh không thể nào ngồi im một chỗ. Trong xứ sở của anh, ở đó người ta nói rằng mỗi người đều tự tin, anh trở thành một ông hoàng mà tâm hồn thép và tình cảm yêu thương được biết đến: ở con người còn giữ lại từ nguồn gốc của mình cách nói có phần dân dã, tính cao thượng đó là không bao giờ bỏ mặc các đồng ngũ.

Trong mỗi câu chuyện huyền thoại, thật khó mà tách bạch được sự thật của chuyện hư cấu với tính xác thực của ảo ảnh; nhưng mà những huyền thoại chỉ gắn liền với những cuộc phiêu lưu lớn và những con người vĩ đại. Với dáng điệu của một con mãnh thú trong chiến trận, Bigeard là một huyền thoại. Có những lúc, Bigeard từng nói về mình với người thứ ba. Đó là vấn đề anh tồn tại và nhìn thấy anh là ai, không hề khiêm tốn một cách giả tạo. Tính khiêm tốn chưa bao giờ là vũ khí của những người chiến thắng cũng như của những quái vật linh thiêng. Để giúp ích được cho anh, cần phải trở thành con tốt mà anh dịch chuyển tuỳ thích và phục tùng anh mà không sợ bị anh dẫm đạp dưới chân, khi mà cơn giận giữ trong việc chỉ huy khiến cho anh bước qua những nấc thang trung gian. Nhưng mà sau thắng lợi, phần thưởng mới to lớn làm sao?

Botella, chỉ huy tiểu đoàn dù người Việt Nam số 5 đã lao vào tay Bigeard và lập tức đặt mình dưới quyền chỉ huy của anh. Anh bảo Botella ngồi xuống chiếc ghế đẩu làm bằng gỗ hòm đạn, tại đó Bigeard, chân phải tháo khỏi chiếc ủng nhảy dù, qua máy bộ đàm chỉ huy một cách công khai bước di chuyển của các đại đội trong tiểu đoàn. Botella mang tới cho anh một bát súp nóng và buồn bã kể lại trận phản kích vào Gabrielle ngày 15 tháng ba, trong trận này Botella đã phải dùng chân đá để lôi từ các hố lên hàng trăm lính Việt Nam đã không còn muốn chiến đấu và rúc đầu xuống những chiếc hố đó. Buổi chiều Botella đã triệu tập các sĩ quan của mình và chỉ định những người mà anh giữ lại. Anh cũng yêu cầu họ làm như vậy đối với cán bộ và binh lính trong các đại đội của họ. Rồi anh bảo những người khác: "Các anh cút đi đâu thì đi. Tôi không muốn nhìn thấy mặt các anh nữa... ".

Lạnh lùng dưới làn đạn pháo, người ta không còn biết chính xác đó là sự chăm chú, nỗi lo ngại hay là vẻ diễu cợt đã kéo căng khuôn mặt dài của anh, Bigeard đăm chiêu: Những gì anh trông thấy làm anh vô cùng sửng sốt. Một cái khe khá rộng, hai bên là ruộng lúa, chạy vòng quanh mỗi mỏm đồi của cứ điểm Eliane, nhưng phần lớn tầm nhìn về hướng nguy hiểm, hướng đông và đông bắc, bị che khuất, với khoảng cách tương đối ngắn bởi những mỏm đồi tròn mà giờ đây người ta gọi là núi Trọc và núi Ảo: đội quân đồn trú không chiếm giữ những mỏm đồi đó và quân Việt đang biến chúng thành các ổ đại liên. Không một người lính bộ binh nào nắm vững nghề nghiệp của mình lại chấp nhận bố trí gần các vật chướng ngại đến như vậy, không thể dùng hỏa lực của mình kiểm soát các điểm tiếp cận.

Giờ đây Bigeard hiểu được điều gì đã thúc đẩy bộ chỉ huy bỏ trống các đỉnh núi: người ta muốn thu hút đối phương vào đó, với niềm tin chắc rằng, nếu như đối phương dám bố trí ở đó, người ta sẽ nghiền nát họ dưới những trận mưa lớn trái phá. Trong tư tưởng của tướng Cogny và đại tá De Castries, đó là nấm mồ chung người ta dành cho đám quân Việt nào dám mạo hiểm đến đó. Trái ngược với những dự đoán, quân Việt đã kéo đến, đã xây dựng hầm hào và không thật tin là đã hủy diệt được họ ở đó, lãng phí chỉ trong một ngày toàn bộ số đạn dược dự trữ để mong đuổi được họ ra khỏi chỗ đó. Niềm tin mù quáng về những khả năng phổ biến của pháo binh đã tạo ra những khoảng không gian rộng lớn trống trải nằm giữa Béatrice, Gabrielle và khu phòng ngự trung tâm, những khoảng trống trải đó, đối phương ào ạt kéo tới như một dòng thác lũ mà không một ai ngăn chặn nổi, chủ quan khinh địch đã đưa bộ chỉ huy đến chỗ lựa chọn những quan điểm siêu hình hơn là những tư tưởng sáng suốt.

Trên cứ điểm Eliane 4, mọi việc đều phải làm. Binh lính người Marốc đã không đào hầm hào. Tiểu đoàn dù thuộc địa số 6 bắt đầu bằng việc đào hầm hào để chui xuống đó ở mặt tây của quả đồi, mặt này khống chế dòng sông và để lại sườn dốc phía đông cho Botella. May thay, đêm hôm đó yên tĩnh.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #68 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2008, 03:51:28 pm »


Ngày 17 tháng ba 1954


Navarre ban bố một bản nhật lệnh cho không quân để động viên nhiệt tình của họ. Nhưng những bản nhật lệnh dứt khoát nhất cũng không làm êm dịu được những điều kiện khai thác, chẳng làm thay đổi được gì về cự li, các hoàn cảnh thời tiết và các đặc tính của máy bay.

Không quân Mỹ, không quân mạnh nhất thế giới, sẽ không bao giờ chấp nhận lao mình vào một cuộc phiêu lưu tương tự với một hạ tầng cơ sở không có đủ khả năng dẫn đường cho các máy bay, từng chiếc một, để hướng họ tới các đường băng. Phía bên trên khu địa hình phức tạp của vùng đất ngăn cách Hà Nội với Điện Biên Phủ, thường xuyên bị các cơn giông phủ kín, không có bất kỳ phương tiện chỉ đường nào. Trên khoảng hai trăm kilômét, các phi công bắt buộc phải dựa vào những phán đoán của bản thân họ, thậm chí không có một đài ra đa hay một cọc tiêu vô tuyến nào để bám theo hay điều hành chúng. Nếu như Navarre không biết là cả một hạm đội không hoạt động như một con tàu riêng lẻ, điều dốt nát đó là có tội và nếu như ông biết vấn đề đó thì việc coi thường, không sử dụng không quân gần như là hành động điên rồ. Để tiếp tế cho một khu lòng chảo, ở đó mỗi phi công, quá thường xuyên, buộc phải nhắm mắt lao xuống thì việc vật lộn với những đám mây trong một khoảng không gian bão hoà, riêng nó đã đòi hỏi nhiều sức lực. Ấy vậy mà, không thấy có việc viên phó tướng của Navarre, mặc dầu là phi công, đã bao giờ nêu ra ý kiến nhận xét dù là nhỏ nhất đối với những ý tưởng vĩ đại của ông chủ cũng như việc viên tư lệnh không quân ở Đông Dương chưa bao giờ nghĩ tới việc phản đối một nhiệm vụ mà phương tiện của mình không thể nào hoàn thành. Khi đã dám, người ta chỉ đành lòng nêu ra ý kiến để đề phòng. Như vậy là biểu hiện yếu đuối của các cấp dưới và nỗi bận tâm của họ không làm mất lòng những con người vĩ đại mà họ phục vụ đôi khi dẫn đến những sai lầm không sao sửa chữa nổi. Nếu thế, thử hỏi Navarre có thể mong muốn động viên mức độ nhiệt tình nào đối với mạng lưới không quân nếu như ông không biết rằng máy bay, cũng giống như các đoàn xe lửa cần phải có đường ray để tiến lên.

Ngày hôm đó, trên vùng đồng bằng. thời tiết khá lên và các máy bay ùn ùn kéo tới Điện Biên Phủ, ở đó một chiếc Morane cuối cùng, cho đến giờ đã thoát được cuộc tàn sát, bốc cháy. Trên những căn cứ hoả lực mới của quân Việt và trên những vị trí của Béatrice và Gabrielle, bom trút xuống như mưa và những cuộn mây đen của napan cuộn lên không trung. Nếu có tình huống một chuyến bay hạ cánh, nhân viên không quân giải tỏa đường băng và sửa lại các tấm ghi sắt bằng những phương tiện gặp chăng hay chớ. Một chiếc trực thăng, được sửa chữa để bay được, cất cánh. Từ rạng sáng những chiếc Dakota thả đạn dược và thực phẩm xuống.

Những hình chữ thập đỏ to tướng sơn trên vỏ ngoài, được các thông báo nhắc đi nhắc lại trên mạng vô tuyến của Việt Minh, một phi công máy bay cứu thương thử tìm cách đỗ xuống, nhưng hoả lực súng cối dữ dội tiếp đón anh ta buộc anh ta lại phải tăng ga. Trong khu bệnh viện, đạn pháo nổ tung trước mặt các căn hầm, trong gian phòng sơ cứu và trên cái đống khổng lồ xác người của nhà xác. Những mẩu thịt thối rữa bắn vung khắp nới. Giữa hai loạt đạn, các thương binh lấy hết can đảm trèo lên các xe cộ tới thu gom họ. Chiếc Dakota quay lại, lăn được bánh trên đường băng và lúc người ta chưa dở hết những hòm huyết tương được chuyển tới, thì đạn pháo lại bắn. Ba mươi hai con người chen chúc trong khoang máy bay, nữ chủ nhân trên máy bay đã giúp họ leo lên. Một số khác tuyệt vọng bám vào cánh đuôi máy bay, và trong lúc máy bay lao lên, bị luồng gió cánh quạt gạt ngã và ném xuống mặt đất. Được đại úy Cornu, lúc này đã ngồi vào trước các cần điều khiển, giúp đỡ, trung úy De Ruffray cất cánh được bảy trăm mét thì một quả đạn pháo bắn trúng khu vực tập trung hàng hoá ở dưới đất. Quá nặng, khó vượt qua được các đỉnh núi, máy bay bèn bay tới Mường Sài, trút bớt lại một bộ phận đồ tiếp tế không đổ xuống được Điện Biên Phủ và lại cất cánh bay đi Hà Nội, nhưng các thương binh nặng nhất đã không được chuyển đi và chỉ những người gần như khoẻ mạnh là có thể dùng hành động vũ lực để trèo được lên máy bay.

Ngay lúc tảng sáng, Castries đã cho chiếm đóng lại phần còn lại của Anne Marie. Những mỏm đồi phía bắc đã bị mất và thiếu tá Clémençon, chỉ huy tiểu đoàn ngoại quốc số 2 trên cứ điểm Huguette, nhận cả các trận địa phòng ngự phía nam và mở rộng về hướng tây đến tận cứ điểm Françoise. Trên cứ điểm Gabrielle, giám sát trục đường cất cánh, Việt Minh vội vã bố trí các cụm pháo cao xạ và ken đầy các khẩu pháo 37 và các khẩu đại liên vào các vị trí mà binh lính Thái bỏ lại. Người ta thừa nhận rằng các loại máy bay kể từ nay chỉ có thể hạ cánh và cất cánh ở Điện Biên Phủ vào ban đêm, với khả năng gặp nhiều nguy cơ trúng đạn. Ba ngày sau khi trận tấn công mở màn, và ngược với mọi dự kiến, Điện Biên Phủ bị tước mất cây cột chống đỡ tốt nhất.

Từ 11 giờ 30 phút đến 12 giờ 10 phút, Cogny bay lượn trên tập đoàn cứ điểm bằng chiếc Dakota riêng, nhưng đạn pháo bắn phá đường băng và viên phi công của ông không chịu hạ cánh. Cogny không thấy mình có tư cách để bắt anh ta làm việc đó và quay về Hà Nội. Ông gạt bỏ ý nghĩ mượn một máy bay mang ký hiệu "Hồng thập tự”, mà đề nghị tướng Dechaux dành cho ông một máy bay có thể quay lại Điện Biên Phủ trong đêm và thông báo với Castries việc ông sắp tới đó.

Buổi chiều, tướng Dechaux từ chối cung cấp máy bay cho Cogny, người đã có lúc nghĩ phải tìm con đường khác và đề nghị Navarre áp đặt cái lệnh đó. Nhưng mối lo ngại bị tắc nghẽn ở Điện Biên Phủ, cách xa vùng đồng bằng mà ông chịu trách nhiệm, đã nhanh chóng thúc đẩy Cogny từ bỏ dự định đó. Lòng dũng cảm của Cogny chưa có một ai nghi ngờ, người ta thường nhìn thấy ông có mặt ở nơi mà các viên tướng không có thói quen đi tới và ông hình dung ra điều mà sau này người ta có thể trách cứ ông. Ông phải tìm được cách đến với đội quân đồn trú bị vây hãm, để lên dây cót tinh thần cho nó, khắc phục những sai lầm phạm phải, và động viên Castries, có vẻ cũng bị hốt hoảng như viên tham mưu trưởng của mình. Nếu như Điện Biên Phủ, như người ta lo sợ, bị thất thủ trong vài tiếng đồng hồ, liệu có nên cung cấp cho đối phương cơ hội để bắt sống được viên tư lệnh các lực lượng ở Bắc Kỳ chăng? Ngày hôm đó, Cogny biết đến một hoàn cảnh tâm lý khiến cho ông đau xé lòng đến rơi nước mắt. Nhưng nước mắt làm cho người ta mù quáng và những hoàn cảnh tâm lý chỉ có giá trị khi chúng được giải quyết. Cogny giải quyết hoàn cảnh của mình: mọi người đều nhắc ông rằng vị trí của ông không phải là ở Điện Biên Phủ nên cuối cùng ông cũng tự thuyết phục về chuyện đó và như vậy, nghe theo điều có lí, ông đã bỏ lỡ cơ hội đẹp nhất trong cuộc đời binh nghiệp. Phải, rằng như thường lệ ông đã vi phạm kỉ luật và những lời nhắc nhở để nhảy dù ở Điện Biên Phủ cùng với người thay thế đại tá De Castries? Điều đã không thúc ép ông lao xuống Điện Biên Phủ đó là Điện Biên Phủ không phải là tác phẩm của ông, mà là của Navarre. Nếu là tác phẩm của ông thì ông đã bảo vệ nó một cách điên cuồng, trong lúc đó ông do dự mạo hiểm tính mạng vì Navarre và cứ mặc cho người ta giả định rằng có lẽ ông tự cho là mình phải chịu trách nhiệm. Về phía mình, Navarre còn đợi gì mà không nhảy lên một máy bay, bay lượn trên tập đoàn cứ điểm và trực tiếp ra các mệnh lệnh cho Castries và Langlais, giống như De Lattre đã từng làm? Số phận của Điện Biên Phủ đã không bị nguy khốn. Thất thủ do những sai lầm trong việc đánh giá phân tích của một viên tướng, Điện Biên Phủ có thể được cứu vãn bởi đòn đánh tài năng của viên tướng khác - Cogny trở thành người anh hùng và thủ trưởng duy nhất.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #69 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2008, 03:53:22 pm »


Ngày 18 tháng ba 1954


Tách ra khỏi đội ngũ những chiếc Dakota đang lượn vòng từ lúc tảng sáng, trung úy Biswang bổ nhào xuống đường băng, tiếp nhận hai mươi ba thương binh và cất cánh dưới màn hoả lực, len lỏi giữa các hố đạn pháo. Phía sau anh, thiếu tá Drake thử làm tương tự; ông ta đã hạ cánh được thì vừa lúc cuộc bắn phá lại tiếp tục, bắt buộc các xe cứu thương phải lùi ra xa, và thiếu tá đành cất cánh chiếc máy bay trống rỗng, đạn súng cối bao bọc xung quanh. Viên bác sĩ đi theo nữ chủ nhân của máy bay bị thương nặng, và máy bay bị thủng lỗ chỗ đến hai mươi chỗ. Tuy nhiên trên những chiếc Dakota có sơn ký hiệu "Hồng thập tự” chỉ có phi hành đoàn, các nữ y tá hộ tống và các hộp huyết tương.

Vả lại không chỉ có các thương binh tìm cách nhảy lên máy bay mà còn có cả một nhà báo quân sự, lạc lõng đến đây, các phi hành đoàn của những chiếc máy bay bị phá hủy và số sĩ quan mà Castries buộc phải cách chức vì bất lực. Cho đến lúc này, chỉ có Việt Minh là quen thạo với hoả lực. Trước mối đe dọa của thần chết, nỗi khiếp sợ làm người ta tê liệt,những khuôn mặt tái mét, những thân hình run rẩy, tinh thần và thể xác đều rã rời. Duy nhất, những ai có tinh thần cứng cỏi thì đề kháng được với sự hoảng loạn và không để lộ ra ngoài tâm trạng sợ hãi mà họ cũng cảm thấy như những người khác. Kể từ ngày 13 tháng ba, thời gian trôi qua ở Điện Biên Phủ là thời gian của sự thật: con người bộc lộ rõ thực chất của mình, chứ không phải là vẻ bề ngoài giả tạo và những cá tính đối chọi với nhau.

Trên đồi Eliane 4, Bigeard gặp một sĩ quan của mình được Langlais gọi tới. Anh bảo người kia quay lại rồi tay cầm cây gậy chống, chân đi cà nhắc, Bigeard vất vả đi xuống chân đồi, về tới sở chỉ huy, mặt tái đi vì tức giận. Langlais can thiệp vào cái gì đây? Phải chăng ông ta không biết rằng chính Bigeard là người chỉ huy tiểu đoàn dù thuộc địa số 6? Hai viên sĩ quan va chạm với nhau dữ dội đến mức Langlais nắm tay đấm vào thanh xà ngang đỡ trần hầm và nói:

- Hãy đập đầu chúng ta vào đây này. Rồi để xem trong hai chúng ta ai là người có hộp sọ rắn hơn!

Lúc đó cả hai cười phá lên và bắt tay nhau. Gầy gò, xương xẩu, căng thẳng, khuôn mặt khô khan và như tạc bằng đá phiến, mái tóc cắt ngắn, đôi mắt dữ dằn, những đứa con trai của bà mẹ DŨNG CẢM, giống như rất nhiều những người đang đánh nhau ở đây, họ cảm thấy những vấn đề bạo lực và những tình cảm thương mến đột ngột của những con người sẵn sàng chết cho những lý tưởng cao cả. Langlais dẫn người bạn mới Bigeard đến bệnh viện, ở đó bác sĩ Grauwin tiêm cho Bigeard một liều thuốc tê mạnh vào động mạch đùi để giảm đau cho anh.

Đứng vững, giờ đây không chỉ còn là chuyện có ý định hay là tuyên bố đứng vững, mà là trước các đòn đánh, không hề nao núng. Trung sĩ Sammarco được thay phiên canh gác chiếc quan tài của Gaucher, miệng không ngớt chửi thề trong lúc đi thu nhặt những hòm đạn pháo và hòm thực phẩm rơi lạc vào hàng rào dây thép gai. Sống bên cạnh những xác chết mùi hôi đã lan toả khắp trận địa, cuộc sống đột nhiên trở nên vô giá và để ngăn chặn việc chất đầy những tử thi trong một khu nhà xác mà người ta đã dự tính diện tích một cách đáng nực cười, cũng như mọi việc khác, Castries ký một công văn, ngắn gọn và tàn nhẫn: "Kể từ nay, những người chết trong chiến đấu sẽ được chôn tại chỗ". Những khu nghĩa địa, ở đó những bọc hàng được thả dù xuống như mưa, không còn có ý nghĩa gì nữa, những chiếc quan tài thậm chí giờ đây không chỉ còn dành riêng cho các sĩ quan và không có vấn đề hi vọng rằng các máy bay một lúc nào đó có thể chuyển những xác chết không còn cấp hàm về Hà Nội, khi mà những thương binh thiếu thốn đủ mọi thứ và rằng tình thương không còn đủ để cứu chữa cho họ nữa. Những quả đạn pháo 105 đã chôn vùi những thương binh nằm trong những căn hầm tạm bợ của gian phòng sơ cứu. Cha tuyên úy Heinrich vuốt mắt cho các tử thi và đọc những lời xá tội. Nếu không có cây thánh giá bằng bạc đeo trước ngực, người ta đến phải nhầm đức cha là một sĩ quan lê dương bởi vầng trán hẹp, mái tóc cắt ngắn kiểu cua, khuôn mặt có phần đầy đặn của một người sống khá giả. Grauwin muốn phát khóc. Khung cảnh đáng sợ của những thân hình gẫy nát và những đầu người đứt lìa làm cho anh vừa ghê sợ vừa tức giận. Để quay về căn hầm của mình nghỉ ngơi vài tiếng đồng hồ, anh phải bước qua từng đống tay chân đã cưa cắt. Không chịu chấp nhận cái số phận người đời, anh động viên các y tá của mình, rồi đề nghị và được các cơ quan công binh làm cho những căn hầm mới mà sở chỉ huy từ chối, anh yêu cầu có thêm máu và thuốc Pênixilin mà các máy bay thả dù xuống cho anh. Cùng với anh bạn Gindrey, Grauwin mổ xẻ, cưa cắt các đoạn xương, gỡ rối nhiều mét ruột, khâu kín các vết thương lồng ngực, cho sơ tán hàng trăm xác chết đã đầy ứ trong hố nhà xác và cho ngụy trang khu bãi đỗ của trực thăng, các mái nhà ăn và phòng ngủ. Những chuyến xe tải với những gói hàng rùng rợn, vo ve từng đàn nhặng xanh to tướng, mang các xác chết đó đi chôn trong những chiếc hố do xe ủi đào lấp.

Việt Minh vô nhân đạo và dã man ư? Ai tôn trọng các luật lệ chiến tranh và ai vi phạm chúng đây? Thật dễ dàng để giữ bộ mặt thản nhiên, lạnh như đá khi các máy bay khu trục nã đại liên trong rừng, nhằm vào những đoàn dân công và y tá khiêng những chiếc cáng tre, trên có phủ những tấm nilông đang chuyển các thương binh của họ về các bệnh viện ở hậu cứ; nhưng trong con tim lại dâng lên nỗi ghê tởm các pháo thủ quân đội nhân dân mỗi khi có máy bay mang ký hiệu "Hồng thập tự” bị trúng đạn. Trước mặt tôi, tướng Giáp đã nói rằng không bao giờ hạ lệnh như vậy, nhưng ông cũng không nói là đã ban bố cái lệnh ngược lại. Ông tiến hành chiến tranh. Và Langlais, chính bản thân ông ta cũng thú nhận nếu như người ta cho ông lựa chọn giữa việc đưa một tiểu đoàn tăng viện tới với việc sơ tán thương binh thì ông cũng sẽ lựa chọn việc sơ tán.

Những chuyện ghê tởm cộng vào đó là những việc làm bỉ ổi trong chiến tranh vốn cam đoan rằng quân Việt đã sai lầm khi giả định là chúng ta có thể xuyên tạc những công ước quốc tế nhằm vào những mục đích của chiến tranh? Tướng Cogny, vì danh dự bản thân, đã từ chối không trèo lên một máy bay cứu thương khi mà sân bay Điện Biên Phủ đã bị pháo binh đối phương phong toả. Điều đó chứng tỏ rằng cái phương sách này người ta đã nghĩ tới. Người ta ép buộc bác sĩ Grauwin phái chở lính lê dương và vũ khí trong những xe cứu thương của anh ấy. Nếu như quân Việt, những đài quan sát của họ vốn ghi chép mọi động thái bên trong tập đoàn cứ điểm, tự bản thân họ trông thấy là viên thiếu tá Keller, tham mưu trưởng của đại tá De Castries, được bốc đi khỏi Điện Biên Phủ trên một chiếc trực thăng có sơn ký hiệu "Hồng thập tự" và người kế nhiệm ông ta tới Điện Biên Phủ cũng bằng cách ấy, cũng giống y như trung tá Lemeunier, người đã tình nguyện đến thay thế Gaucher, thì chúng ta có thể nghi ngờ những lời viện dẫn ở trên. Không phải là từ phía Việt Minh mà là từ chính phía chúng ta. Tôi biết được những câu chuyện đó mà cương vị và nhân cách của những người cung cấp thông tin cho tôi không có gì phải bàn cãi, nếu không tôi đã không chú ý đến vấn đề này. Điều còn lại là quân Việt đã có những lý do để không dành cho chúng ta một lòng tin tuyệt đối bởi lẽ đánh lừa đối phương là quy luật đầu tiên của chiến tranh.

Tại sao lại né tránh vấn đề những cuộc tấn công các máy bay cứu thương? Trong mọi cuộc chiến tranh, ở cả hai bên đều có những người quân tử và những kẻ tiểu nhân và việc cần thiết để cứu vãn người quân tử đó là tố giác những kẻ tiểu nhân. Bản thân Langlais thú nhận rằng trách nhiệm gây ra nỗi đau đớn của các thương binh, ít thuộc về một đối phương không chịu mềm lòng mà phần nhiều là thuộc về một bộ chỉ huy đã không biết tổ chức cơ quan quân y của mình cũng như không dự kiến những khó khăn mà cơ quan quân y ấy có thể gặp phải.

Điều gì vẫn còn bị che giấu thì nó sẽ tố cáo sự thật và chính là để bào chữa mà cần phải nói cho hết. Tướng Giáp muốn gì đây? Phong toả đường băng sân bay để bóp nghẹt tập đoàn cứ điểm; ở Stalingrad cũng thế, quy tắc này cũng không bị ngoại trừ. Hoàn toàn không có tác dụng bảo vệ nào cả, khi quân Việt về phía họ, giương lá cờ Hồng thập tự lên, lá cờ ấy vẫn cứ bị bắn phá. Giáo sư Tôn Thất Tùng, người chỉ huy cơ quan phẫu thuật của Việt Minh kể lại với tôi rằng một thương binh cao lớn mà người ta không kịp sơ tán khỏi bệnh viện ở Thiện Hòa đã bị trung đội của Kergavérec ném xuống sông. Đối với tôi, tôi không lấy làm hổ thẹn về những điều người ta kết tội chúng ta nếu như ở Điện Biên Phủ đột nhiên không còn những sĩ quan dũng cảm không hề biết trách móc ai và những thầy thuốc anh hùng cùng với những con người khốn khổ, mà họ chẳng có gì trên đời ngoài cuộc sống và danh dự của một con người.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM