Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:25:17 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trận chiến Điện Biên Phủ  (Đọc 69916 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #80 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2008, 07:13:53 pm »


Ngày 6 tháng tư 1954

Hội đồng Chiến tranh thu hẹp, một lần nữa họp lại ở Paris như từ trên trời rơi xuống đất khi nhận được bức điện mà ngài Forter Dulles vừa mới gửi cho viên đại sứ Mỹ ở Paris. Trăm con voi không được một bát nước sáo: hành động duy nhất có thể diễn ra ở Đông Dương, ngoài ba nước lớn của phương Tây, cần phải tập hợp được các nước Australie, Newzelande, Xiêm và Philippines. Những đề nghị ầm ĩ của đô đốc Radford, sẵn sàng huỷ diệt tất cả những gì không cùng chung ý nghĩ với ông ta, sẵn sàng tiêu diệt những người cộng sản mà ông ta từng giao chiến ở Triều Tiên, và tiến hành một cuộc thập tự chinh nguyên tử chống lại Trung Quốc bằng cách lợi dụng bàn tay của bộ đã vấp phải những mối lo sợ của quốc hội và bị chôn vùi trong những luật lệ quốc tế. Tổng thống Eisenhower đành lòng nhanh chóng nhấn chìm tất cả trong một mớ bòng bong những ý kiến khác nhau.

Londres, được hỏi ý kiến, yêu cầu có thông tin bổ sung. Gần như đã chắc chắn là nếu chẳng may, cuộc can thiệp diễn ra thì những quả bom A cũng sẽ không được sử dụng. Không một ai dám thực hiện một sai lầm không sửa chữa nổi trước khi diễn ra cuộc hội nghị Genève khai mạc ngày 8 tháng 5 và trong mọi hoàn cảnh, một đa số lớn những con người thận trọng luôn luôn lựa chọn việc chứng kiến khối thương mại xuất khẩu của họ được mở rộng hơn là đi cứu vãn những kẻ điên rồ. Nước Anh đã bị mất đế chế của nó ở Ấn Độ. Tại sao người ta lại đi mạo hiểm một cuộc tranh chấp để ủng hộ những kẻ rồ dại đang cố bám lấy vùng Viễn Đông? Nếu như công việc ngoại giao có thể giúp ích được gì, thì đó là tận lực để nhốt vào chuồng con "Chim kền kền" mà đô đốc Radford đã tế nhị đặt lên trên đôi vai của tướng Ely.

Liệu Navarre về phần mình có hi vọng là một cuộc can thiệp từ bên ngoài sẽ cứu vãn được Điện Biên Phủ chăng? Không có điều gì giúp đỡ cho ông ở nơi đó. Bức tượng nữ thánh Anne mà ông đã đặt đứng trên ngọn tháp cao nhất trong khu thành cổ Hà Nội không nhìn thấy có chuyện gì xảy tới. Ông quyết định, trong mọi trường hợp, tung ra trong thời hạn chừng mười ngày một cuộc hành binh yểm trợ với bốn tiểu đoàn ở bên Lào của Crèvecoeur và ba tiểu đoàn dù được thả xuống gần Điện Biên Phủ. Nói tóm lại đây là nhóm vệ tinh mà Cogny từng đề ra, nhưng thiếu tính cơ động mà người ta mơ ước, và rằng người ta sẽ tung ra vào giây phút cuối cùng.

Đã từ lâu Navarre nghĩ tới một giải pháp quyết định. Cơn mưa nhân tạo. Một sĩ quan chuyên gia về các vấn đề khoa học từ Paris đến cùng với những túi đựng than gỗ có tẩm chất iốt bạc. Anh ta đã buộc vào đầu một cái dù những chiếc rổ, trong đó người ta đã đốt lửa, lớp than gỗ cháy xèo xèo và toả ra lớp khói hoà trộn vào những đám mây lớn chưa đông đặc lại ở một vài chỗ đã có những cơn mưa đá.

Navarre đã mơ tưởng bằng cách làm tắc nghẽn những con đường gập ghềnh mà các đoàn xe của đối phương sử dụng và nhờ vậy ngăn chặn được việc tiếp tế đạn dược của tướng Giáp. Bất chấp những kinh nghiệm thực tiễn đáng thất vọng, Navarre vẫn cố bám lấy những kế hoạch đã dự định. Nhưng mà người ta không thể chỉ huy được mây được gió và đây nữa, kỹ thuật đã bị đánh bại bởi những con mối có một tâm hồn và một lòng tin.

Để cứu vãn Điện Biên Phủ, lúc này Navarre biết rằng chỉ còn có những quả bom nguyên tử do các máy bay B29 của Mỹ ném xuống. Lực lượng không quân ở Philippinnes, từ sân bay Clark, thẳng ở hướng đông, đó là những con ngựa có đôi cánh, kéo dài theo sau đuôi chúng tia sáng và uy lực của vầng mặt trời. Khi chúng xuất hiện, bầu trời đột ngột biến thành một vầng lửa và sẽ nghiền thành tro bụi những người chiến binh mà không có bất kỳ thứ vũ khí kinh điển nào chống đỡ nổi. Những ngôi sao sẽ vẫn dính chặt trên vai Navarre nhưng còn Langlais thì sẽ trông thấy những ngôi sao khác rơi xuống trên dãy núi và bật trở lại cho đến tận nơi đâu? Liệu thế giới sẽ chấp nhận cho vụ Hiroshima mở rộng ra như thế nào? Nỗi ghê tởm như thế nào sẽ bám chặt vào cái quốc gia đã đốt cháy thành than một trăm nghìn con người đàn ông và đàn bà ngay trên mảnh đất của cha ông họ, với mục đích sửa chữa sai lầm trong việc đánh giá tình hình của một viên tướng. Phải chăng đó chính là điều đè nặng lên tâm trí của Navarre vì đầu tiên ông từ chối các máy bay B.29? Hay là Navarre cố bám giữ vào các chức vụ tổng chỉ huy, cái chức vụ sẽ tuột khỏi tay ông nếu như ông chấp nhận số máy bay đó.

Navarre quay trở về Sài Gòn, ở đó ông theo dõi được bước tiến triển của tình hình chính trị rõ hơn là ở Hà Nội.



Ngày 8 tháng tư 1954

Đại sứ Pháp ở Washington cho ngài Forter Dulles thấy rõ nỗi thất vọng của chính phủ Pháp.

- Không có một sự chi viện trực tiếp, và hẳn là có tính quyết định, được dự kiến cho Điện Biên Phủ, ngài Bonnet nói, không có lợi ích gì khi xây dựng vội vàng một liên minh, dù thế nào cũng sẽ diễn ra sau khi kết thúc trận đánh. Liên minh này, trước con mắt của dư luận nước Pháp có thể tác động xấu đến những cơ may kí kết ở Genève một cuộc dàn xếp có thể chấp nhận được.
- Không sao hình dung được, ngài Dulles trả lời, bởi lẽ họ không trực tiếp tham chiến và do không có một hành động khiêu khích công khai mới nào từ phía đối phương mà nước Mỹ lại có thể có sáng kiến về một hành động chiến tranh như vậy, vốn cần được sự cho phép tiên quyết của quốc hội.
- Trong trường hợp này, ngài Bonnet đáp lời với một giọng nói ngoại giao mềm dẻo còn đáng sợ hơn là thái độ giận dữ, tôi xin bày tỏ với ngài niềm hối tiếc là giả thiết ấy đã được đưa ra xem xét và rằng mềm hy vọng này, giờ đây đã biến thành nỗi thất vọng.
   


Ngày 9 tháng tư 1954.

Những cơn giông vần vũ suốt đêm, hoà lẫn tiếng sấm rền với tiếng nổ của đạn pháo. Khẩu pháo có khẩu đội trưởng tên là Hoàng Vũ Hưng, mỗi loạt đạn cả bốn nòng pháo tung ra năm hay sáu viên đạn đã bắn trúng chiếc Helldiver của phi đội 3F, do một phi công hải quân lái, viên phi công này cao lớn, điềm tĩnh, hai mươi tư tuổi là trung uý hải quân Laugier, con trai của một công chứng viên thành phố Orléans. Vào lúc anh ta nhẩy dù, những sợi dây néo dù mở ra quá sớm đã quấn vào cánh đuôi máy bay và anh ta rơi xuống cùng với chiếc máy bay ở gần cứ điểm Claudine 5. Một trung đội thuộc đại đội 3 tiểu đoàn I/13 lao ra cứu anh ta, do đại úy Capeyron dẫn đầu và khiêng về cái xác đã rách nát của viên phi công. Trung uý hải quân Laugier là một trong số những người chết cuối cùng được chôn cất trong một chiếc quan tài.

Suốt cả ngày, dưới những mái nhà gianh của trạm phẫu số 1 nằm trên núi cách Điện Biên Phủ chừng mười kilômét về hướng đông bắc, ở phía bên kia đỉnh núi Phu Phạ xanh rì, giáo sư Tôn Thất Tùng mổ xẻ cho các thương binh bị thương ở hộp sọ. Ngày 27 tháng 3, tại Trường đại học Y bố trí trong khu rừng ở Tuyên Quang, ở đó ông đang đào tạo khoảng một trăm bác sĩ ngoại khoa trẻ tuổi, giáo sư Tùng nhận được một mẩu giấy nhỏ, có chữ ký của tướng Võ Nguyên Giáp, lệnh cho ông khẩn cấp tới với đội quân TRẦN ĐÌNH với tư cách cố vấn quân y của tổng tư lệnh. Một chiếc xe cứu thương Molotova phải để ra ba đêm để tới được tổng hành dinh. Xe chạy trên những con đường rất dễ bị sa lầy khi lên dốc; bất chấp những trận bom nổ và bom napan, không một ai cảm thấy nguy hiểm. "Việc đó dễ dàng". giáo sư nói với tôi như vậy. “Chiến thắng động viên tất cả chúng tôi". Là bạn đồng học với tướng Giáp ở Đại học Hà Nội, giáo sư Tùng có khuôn mặt nở nang, tươi trẻ, đầy vẻ thông minh.

Tình trạng sức khoẻ của quân đội nhân dân cũng nghiêm trọng. Sáu bác sĩ phụ việc không kịp có những chăm sóc đầu tiên cho bẩy trăm thương binh mà người ta cho các dân công khiêng cáng thành từng đoàn chuyển về các bệnh viện ở hậu phương, sau khi đã sơ cứu các vết thương và bó bột các chi. Nhung nhúc những ấu trùng của lũ ruồi vàng đã đẻ trứng vào các vết thương, thậm chí biến thành lũ giòi, là vấn đề nghiêm trọng nhất. Giáo sư Tùng bắt đầu tiến hành các thực nghiệm, với tất cả những dược phẩm có trong tay, ngoại trừ chất ête được phản chỉ định. Mặt khác phải thu gom các thương binh nhẹ để gửi họ trở lại chiến đấu, làm liền và lên sẹo các vết thương, dù cho chỉ là tạm thời. Cuối cùng là những vết thương sọ não do thiếu mũ sắt và do cuộc chiến trong các hầm hào rất nhiều và rất nghiêm trọng. Bản thân giáo sư Tùng tự tay mình mổ xẻ. Ông đã học cách loại bỏ các vật lạ bằng cách hút ra rồi khâu kín hộp sọ lại và trong vòng tám ngày đã đào tạo được một vài bác sĩ ngoại khoa trẻ tuổi. Do thiếu dụng cụ làm đông máu bằng điện, ông đành thay thế bằng một sợi dây bạch kim đốt nóng đến hết mức để động chạm vào các mạch máu. Tuy nhiên, có một tai họa mà không ai làm gì được cả: đó là thứ gió Lào. Khi thứ gió này thổi, nó làm cổ họng khô khốc đến mức gây ra chảy máu cam và tức thở khắp vùng ngực.

Ngày hôm đó, đứng bên bàn mổ suốt từ sáng, mặt đeo khẩu trang bằng gạc, trán đẫm mồ hôi chảy ròng ròng, giáo sư Tùng cố gắng thở một cách bình thường, mặc kệ những mũi đốt đau điếng của lũ ruồi và lũ ve tấn công vào hai mắt cá chân. Cơn giông lại nổi lên lúc giữa trưa và nhấn chìm rặng núi trong những đám mây khiến cho họ không lo ngại bị máy bay đánh phá. Cũng như trong ban đêm, người ta khó khăn mới phân biệt được tiếng sấm mưa với tiếng đạn pháo. Giáo sư Tùng ít nói, và những lúc vội ông nói tiếng Pháp. Mối quan tâm vận dụng tiếng Việt vào nghệ thuật giải phẫu, kể từ khi ông tham gia cách mạng, đã làm ông gắn bó với việc tạo dựng một khối từ vựng khoa học, nhưng những từ nước ngoài tự phát bật ra khỏi miệng như vậy không làm cho ông thấy ngượng ngùng. Cũng là ngay trên lĩnh vực này mà ông muốn đánh bại nước Pháp, kể từ khi một đạo quân viễn chinh kéo tới thay thế các giáo sư và nền văn hoá mà nhờ có các giáo sư ấy trở nên sáng láng và vẫn còn toả sáng trong tâm trí mọi người. Giống như người bạn là tướng Giáp, giáo sư Tùng vẫn còn nhớ mãi những bài học của cuộc cách mạng Pháp, cuộc cách mạng vẫn chưa kết thúc việc reo rắc những mầm mống của tư tưởng tự do ra khắp thế giới, cuộc cách mạng mà đôi lúc cả hai người cảm thấy mình là những đứa con nhiều phần hơn là những viên tướng trong quân đội của mình và những đại diện cao cấp trong các chính phủ của mình.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #81 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2008, 10:00:25 pm »


Ngày 10 tháng tư 1954

Vào khoảng nửa đêm, được thả dù cùng với đại đội thứ nhất của tiểu đoàn 2 B.E.D1 do Lisenfelot chỉ huy, viên hạ sĩ trưởng Antoine Hoinant, người gốc Bỉ vừa mới từ chiến dịch Atlante quay về, chiến dịch mà anh gọi là "giầu ý nghĩa", có mặt trên cứ điểm Claudine giữa những lính lê dương của bán lữ đoàn số 13. Anh cho rằng mình may mắn bởi lẽ rất nhiều bạn đồng ngũ của anh đã ngã xuống dưới dòng sông, trong hàng rào dây thép gai hay là trong các trận địa pháo. Trong lần nhẩy dù đầu tiên, anh đã thất bại, những viên đạn vạch đường vây xung quanh chiếc máy bay và khi người ta mở cánh cửa của chiếc Dakota, trung đội trưởng của anh, trung uý Pétré bảo: "Họ bắn vào mõm chúng ta..." gần như chỉ bao gồm toàn những lính Việt Nam, đại đội của anh đã cố gắng hết mức để tập họp nhau lại và cùng với đơn vị xung kích số 8 bố trí ở đọc bờ sông, tại cứ điểm Epervier. Vốn là một chàng trai hai mươi tám tuổi, bình tĩnh, có những đánh giá điềm đạm, điều làm cho viên hạ sĩ trưởng Hoinant ngạc nhiên, đó là cái vị trí mà anh đang có mặt hoàn toàn thiếu tổ chức. "Những giao thông hào thường chỉ được đào sâu ngang đầu gối, anh đã nói với tôi như vậy. Chẳng có hầm, chẳng có lô-cốt, chẳng có gì cả".

Đã từ hai ngày nay, Bigeard quyết định đánh lừa quân Việt. Qua máy thông tin người ta điều động một số rất lớn các đơn vị tưởng tượng làm cho các ống nghe của đối phương bị lầm lẫn và người ta dùng cái từ “tiểu đoàn" để chỉ những đại đội ma.


Trước lúc tảng sáng, quân sĩ của bốn đại đội thuộc tiểu đoàn 6 B.P.C, tim đập mạnh, chờ đợi hoả lực mở màn của 20 nòng pháo 105 và 12 khẩu súng cối 120 được phối hợp tỉ mỉ sẽ yểm trợ trận đánh. Lúc sáu giờ, trong vòng mười phút, 1.800 phát đạn pháo rót xuống đồi Eliane 1 trong lúc các điểm cao xung quanh bị bịt mắt bởi những quả đạn khói và các ngọn núi Ảo và núi Trọc bị vô hiệu hoá bởi 40 khẩu súng cối 81 của khu trung tâm, bởi hoả lực bộ binh của tiểu đoàn 1 B.E.P, đơn vị xung kích số 8 và tiểu đoàn 5 B.P.V.N; cùng những khẩu trọng liên 4 nòng. Mấy chiếc xe tăng nã pháo bắn thẳng vào Eliane 1. Ba mươi phút sau, dưới những viên đạn vạch đường của các khẩu trọng liên, những đợt sóng đầu tiên của đại đội Trapp lao lên sườn phía tây và bám được vào đó bất chấp phản ứng của các cụm pháo của Việt Minh dựng lên một hàng rào chắn hoả lực kinh khủng giữa hai mỏm đồi. Một đại đội thứ hai, đại đội của trung úy Le Page được tung ra cùng với một đội súng phun lửa, từ xa đã nhìn thấy ánh lửa của họ. Được báo động ở trên cứ điểm Eliane 10, nằm dưới chân các mỏm đổi, tiểu đoàn Bréchignac ở tư thế sẵn sàng can thiệp. Trong ống nghe của các đài thông tin, giọng nói gay gắt của Bigeard chỉ huy trận đánh, tám đài thông tin vây quanh anh, và đài quan sát của anh trên đồi Eliane 4 báo tin quân Việt Minh rút lui. Lúc 14 giờ, Le Page gọi Bigeard qua micrô "Đã tới mục tiêu”. Trung uý Le Page sung sướng. Đánh chiếm lại được toàn bộ Eliane. Về sau anh sẽ nói "Đã sở hữu”. Anh thú thật là, buổi sáng anh nghĩ tới vị trí ấy cũng như nghĩ tới tất cả những vị trí có những cái tên lãng mạn bao trùm giải thung lũng và các ngọn đồi, với một nỗi thèm khát mà người ta cảm thấy trước một cô gái đẹp nhìn thấy trên đường phố hay trên mảnh sân của một quán rượu nhỏ. Đối với Lilly mà đội lê dương đã bố trí gần vị trí ấy, giống như người ta đánh nhau bằng dao găm trong một nhà thổ.

Khắp nơi máu chảy. Trong cái nóng nực mà màn sương mù càng làm tăng lên gấp bội, lơ lửng một mùi vị của dầu lửa của thịt cháy và của những xác chết với những vết thương bám đầy lũ nhặng xanh. Những loạt súng tự động quất mạnh. Đạn súng cầy đất, tung lên những đám bụi bay bổng được hiệu chỉnh chính xác, những quả đạn cối 120 nghiền nát mọi vật. Dưới bộ trang phục dã chiến, mồ hôi đầm đìa thân thể những người còn sống. Để gọi cho Langlais và báo với ông: "Chàng trai Pierre của Bruno đâu, nhiệm vụ đã hoàn thành", Bigeard đợi cho các đại đội đã hiệu chỉnh kế hoạch hỏa lực phía trước mặt họ, và tích trữ hàng ngàn trái lựu đạn trên vị trí để sẵn sàng bịt chặt các đoạn đường nguy hiểm. "Tôi đi đến suy nghĩ coi việc phản kích là một nhiệm vụ được ưu tiên", trung úy Le Page nghĩ như vậy khi tiếp đón các đại đội của tiểu đoàn II thuộc R.C.P số 1 đến thay thế trên cứ điểm Eliane 1 cũ nay đã biến thành một khu nghĩa trang há hoác: quân dù đã phải trả giá cho trận đánh một trăm người chết, quân Việt thì gấp hơn nhiều lần, viên chỉ huy trung đoàn chịu trách nhiệm đánh chiếm Eliane 1 (theo phiên hiệu của đối phương là đồi D3) bị kỷ luật cách chức.

Đức vua Bảo Đại lên tầu đi sang Pháp, ở đó ông ta muốn chứng minh mình là hiện thân của toàn bộ sức mạnh của đất nước. Người ta có thể cười ồ lên, nếu như màn hài kịch chính trị không dẫn tới vở bi kịch và tới cái chết. Chỉ có vị cao ủy của một nước Pháp, chính phủ và bộ tham mưu của nhà vua cảm thấy hay làm ra bộ cảm thấy, coi trọng Bảo Đại. Kể từ khi có tin cuộc hội nghị Genève, quân đội Việt Nam2 đã bước vào trạng thái tan rã. Những lệnh gọi nhập ngũ không được chấp hành. Duy nhất gia nhập quân đội là những thanh niên không trốn chạy được hoặc những sinh viên vốn tin chắc sẽ trở thành sĩ quan, hi vọng có được một vị trí có lợi lộc sau này. Trong số 94.000 lệnh gọi nhập ngũ cá nhân tung ra chỉ trong một năm, với lời đe dọa phải đưa ra toà án binh đối với những kẻ chống lệnh, chỉ có hơn 5400 lệnh được chấp hành. Để lấp đầy các khoảng trống, người ta tổ chức các cuộc vây ráp khắp nông thôn và các thành thị, bị các toán lính sen đầm quây xung quanh, đám tân binh được các xe tải chở tới các trung tâm huấn luyện, binh sĩ và cán bộ khung không bao giờ có chung tiếng nói và không xuất thân từ những tầng lớp xã hội như nhau. Riêng trong tháng tư năm 1954, quân đội Việt Nam thú nhận có 3848 người đào ngũ. Trong các trận chiến đấu, tỷ lệ người mất tích gấp năm lần số người chết và bị thương. Mặc dù ở trong đạo quân viễn chinh số lính Việt Nam có 63.000 người mà tỉ lệ này chỉ chiếm có mười phần trăm. Sáu tháng sau khi xây dựng thành các tiểu đoàn, một phần tư quân số của các đơn vị này đã biến mất. Các đơn vị quân đội Việt Nam đi chết cho ai đây?

Là viên sĩ quan nổi trội khi ông ta phục vụ trong không quân Pháp, trung tá Nguyễn Văn Hình, được ông bố Nguyễn Văn Tâm lúc đó là thủ tướng chính phủ, vội vã bố trí làm tổng tham mưu trưởng quân đội Việt Nam, đã phủ kín trên người mình những ngôi sao, những tấm huy chương và mở ra bước đường tiến thủ của gia đình xứng đáng với ông. Các viên tướng Việt Nam ngồi trong những chiếc xe ô tô Mỹ và mở những bữa tiệc đứng mà không nghi ngờ rằng số phận tổ quốc của họ đang nghiêng ngả. Lòng hận thù của họ đối với chủ nghĩa cộng sản bắt nguồn từ những lợi lộc mà chủ nghĩa tư bản mang tới cho họ: đồn điền chuối, đùi đàn bà, đồng bạc Đông Dương.

Một trong số sĩ quan người Việt Nam hiếm hoi biết được vì sao phải chiến đấu, đó là đại tá Leroy, con trai một thôn nữ và một nông dân xứ Beauce đến đây chiến đấu chống lại giặc cờ đen. Thời thơ ấu, ông đã đi chăn trâu. Là người đứng đầu vương quốc công giáo nhỏ bé ở Bến Tre, vùng đất nằm ở phía nam Sài Gòn, giữa hai nhánh của con sông Mékong, vùng đất này ông đưa quan khách đi thăm bằng thuyền, vừa đi vừa nghe ca nhạc. Ông tổ chức những lễ hội tôn giáo lớn, theo tư tưởng đa thần giáo rộng rãi, đọc câu nói của Pascal3 và Montesquieu4 và binh lính của ông mang thanh kiếm có khắc dấu một chiếc thập tự. Là kẻ thù đã thề nguyền với ngài Tâm, ông thử nghiệm xây dựng một chính quyền liêm khiết, tố giác những viên tỉnh trưởng ăn hối lộ, những điền chủ lợi dụng đám dân binh bắt họ cầy cấy ruộng đất của mình, những viên sĩ quan ăn cắp của nhà nước, ông tố giác chính quyền đã chuyển đổi nhiều triệu đồng tiền, vốn dành để trả lương cho binh sĩ hoặc đã khai tăng con số nhân khẩu định mức để làm những dự án hậu cần giả tạo. Vị bộ trưởng duy nhất đã không xoay xở ngân sách của bộ mình để gửi vào tài khoản cá nhân ở nhà băng thú nhận với một sĩ quan cấp tướng người Pháp: “Tôi đã quá chán ngấy với cái việc mình là một người thật thà".

Phải, ngoài các viên cao uỷ Pháp ủng hộ cái chính phủ do mình tạo dựng và muốn tự thuyết phục là mọi chuyện trôi chảy còn thì thử hỏi có ai dám tin là người ta có thể đi chết cho đức vua Bảo Đại? Có người lính nào của đội quân này có thể chiến đấu để làm giàu cho những đại điền chủ và những viên tỉnh trưởng, có sự quên mình nào đòi hỏi những viên trung sĩ, do nguồn gốc dòng dõi, trở thành đại tá trong vòng mười tám tháng? Và những người ưu tú, nếu như họ không có những tài sản phải giấu giếm ở châu Âu, tại sao họ lại tự làm hại thanh danh của mình để phục vụ những ông "Tây”, trong nỗi ngờ vực rằng những ông Tây sẽ chiến thắng. Khi Cogny viết rằng người ta phát hiện những dấu hiệu yếu kém nghiêm trọng trong số ba mươi tiểu đoàn lính Việt Nam ở Bắc kỳ, ông ta đã sử dụng một lối nói uyển chuyển: ông muốn nói đến những chuyện nổi loạn, những cuộc bỏ ngũ hoặc không chịu đi chiến đấu, trong lúc đó đạo quân viễn chinh đôi khi phải đổi mặt với những đội du kích của quân Việt Minh tuổi từ mười ba đến mười tám chiến đấu cho đến chết. Có một lúc, tin đồn lan truyền rằng người ta sắp tàn nhẫn quét sạch hết dân chúng ở vùng đồng bằng và di cư họ vào dưới vĩ tuyến 16.

Lúc đó, kể từ khi tướng De Lattre chết, thử hỏi người ta còn tìm thấy niềm danh dự nào của nước Việt Nam trong các hàng ngũ của đức vua Bảo Đại, người đã được người Pháp dạy dỗ và được người Mỹ trả lương? Thử hỏi người ta gánh chịu những nỗi vất vả và đau đớn vì sự vĩ đại của tổ quốc nào đây? Ai là hiện thân của cái dân tộc bị áp bức từ nhiều thế kỷ nay bởi đám quan lại và những kẻ xâm lược và luôn luôn khao khát sự công bằng? Đức vua Bảo Đại hay là Bác Hồ, tướng Võ Nguyên Giáp hay là tướng Hình?

Khi tới Paris, ngài Bảo Đại trơ trẽn tuyên bố rằng việc tập hợp dân chúng vừa được hoàn thành xung quanh ông ta chứng tỏ rằng thời điểm của sự thống nhất đang tới gần. Nó tới gần, chắc chắn như vậy. Nhưng không phải là cho ông ta.
_____________________________________
1. B.E.D: Viết tắt có nghĩa tiểu đoàn dù ngoại quốc - N.D
2. Chỉ nguỵ quân Việt Nam - N.D
3. Pascal: Nhà toán học, vật lý, triết học, văn học của Pháp (1623 - 1662)
4. Montesquieu: Nhà văn Pháp (1689 - 1755) nổi tiếng về cách nhìn phong phú, thực tiễn, chủ trương tam quyền phân lập, ảnh hưởng đến cải cách của Quốc hội 1789
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #82 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2008, 10:18:19 pm »


Ngày 11 tháng tư 1954

Đêm hôm đó, những trận phản kích dữ dội đã diễn ra trên đồi Eliane 1. Tảng sáng, như thói quen, Langlais tới thăm hai đại đội thuộc R.C.P1 số 1 đã chống giữ được. Cùng với tay vệ sĩ, ông bước qua những xác chết không thể chôn cất được. Một người hấp hối, đưa đôi mắt van xin ông, ngực người đó vỡ toác, phập phồng những bong bóng đỏ máu. Không thể khiêng người ấy đi được nữa và trong các căn phòng sơ cứu, các bác sĩ ngoại khoa đã không thể cấp cứu kịp cho mọi người. Đã có tình trạng là khi bác sĩ Grauwin phải mổ xẻ ba mươi cái bụng, anh chọn lấy mười cái còn có thể cứu được và bằng những mũi tiêm giúp cho số còn lại chết đi. Một vài người trong số đó, vốn biết tình thân mà bác sĩ dành cho viên chỉ huy đội xung kích số 8 đã bám vào chân anh van nài: “Đừng để tôi phải chết. Tôi thuộc về tiểu đoàn của Tourret..".

Langlais khi biết chuyện này bèn quay đầu đi chỗ khác. Ông trèo ngược quả đồi, ở đó một bọc đạn cối 120 được thả dù xuống, nặng tới một tấn mà không một ai thu nhặt, đã nằm dài từ nhiều tuần nay, cùng với chiếc dù khổng lồ rách tướp và bẩn thỉu. Mỏm đồi Eliane 1 nơi con người sinh sống trong những chiếc hố, thành hố bị sụp đổ, giờ đây chỉ còn là một đống hỗn độn khổng lồ những đám bùn lầy và mảnh vụn. Langlais im lặng, siết chặt hai bàn tay. Từ một kho đạn vừa cháy hết, một cuộn khói bốc lên trong không trung yên tĩnh và nóng bỏng. Nét mặt rầu rĩ, gần như hổ thẹn vì cuộc sống tiện nghi người ta vẫn còn được hưởng thụ trong khu vực trung tâm các sở chỉ huy, Langlais biết rằng người ta không đứng vững lâu được nữa dưới hoả lực của pháo binh đối phương nó hạ gục mọi ý chí trước khi nghiền nát các thể xác.

Do vì không có các đường hào nối liền các mỏm đồi của Huguette cho nên mỗi khi chuyển nước uống và thực phẩm tới đó là một trận đánh thực sự. Vì vậy Lang lai quyết định rút bỏ mỏm Huguette 6 để tập trung tốt hơn lực lượng của mình. Liệu ông có nghi ngờ không bao giờ còn có thể chiếm lại những gì mà lúc này ông đã không còn đủ sức để chống giữ? Mất Huguette 6, chuyện thả dù, may rủi càng tăng lên. Những người rơi xuống sông và dây thép gai thì có thể thoát ra được nhưng đồ tiếp tế thì sẽ bị mất.

Buổi sáng của cái ngày chủ nhật cuối cùng trước lễ phục sinh, cha Guidon, cha tuyên úy của Isabelle, hái vài cành lá trong bụi rậm và đến làm lễ trong sở chỉ huy pháo binh. Buổi chiều, ông đợi mục sư Tissot, cha tuyên úy đạo tin lành duy nhất đã nhẩy dù xuống tập đoàn cứ điểm. “Đám trai trẻ, mục sư thường nói, họ không nhớ chủ nhật là ngày của Chúa. Cần phải nhắc nhở họ". Hai người cùng nhau đi thăm thương binh.

Một trận pháo đạn dày đặc gầm lên trên đồi Isabelle. Từ trong gian hầm nhỏ mà hai người lính lê dương đã cho ông ẩn nấp để buộc ông rời bỏ cái hố có mái che dầy vài xăngtimét đất và xà tre của mình, cha Guidon nhìn những căn hầm bên cạnh bị pháo đạn lật nhào và tự nhủ là người bạn sẽ không tới, vừa lúc đó ông nghe thấy có tiếng chân người. Khuôn mặt hiền hậu và cái bóng hơi gù của mục sư hiện ra trong khung cửa hầm:

- Ta đi chứ?
- Tốt hơn nên xuống đây, cha Guidon bảo. Ít nhất ông cũng tránh được những mảnh đạn. Ông đã nếm trải cái này khá đủ rồi.

Và cả hai người ngồi xuống chiếc giường dã chiến và hát những bài đồng ca của Bach2 trong lúc pháo đạn nổ tung, làm rung chuyển mặt đất.

Chúng ta ngợi ca Thượng đế hùng mạnh ...

Vị mục sư điềm đạm, phát âm hơi bị lỗi và đức cha có khuôn mặt khô khan này, đều có chung một cái nhìn chứa đựng niềm tin.

- Ta đi chứ? Mục sư nhắc lại.
- Đợi một chút, cha Guidon trả lời, vừa đưa bàn tay luồn vào chòm râu dài mầu đen lốm đốm bạc che phủ đôi má gầy gò của mình.
- Thế còn nghĩa vụ của chúng ta là các cha chăn dắt linh hồn thì sao?
- Tôi xin khâm phục ông, cha Guidon nói, cha đã đội lên đầu chiếc mũ sắt thay cho chiếc mũ nồi của đội xung kích: Ông có vẻ không sợ gì các trận bắn phá nhỉ?
- Dù cho có xảy ra chuyện gì, mục sư Tissot trả lời, ông là người mà không có việc gì làm cho phải ngạc nhiên, lúc nào chúng ta cũng sống ở trong tay Chúa. Vậy thì lo sợ chuyện gì nào?

Về phần mình, cha Guidon nghĩ rằng không có chuyện gì gấp gáp đến thế nhưng vẫn đi theo sau mục sư bước ra ngoài. "Có cần nói rõ là người ta đi khá nhanh? Cha Guidon đã nói với tôi như vậy. Nó rơi! Nó rơi! Khi tới đoạn hào dẫn tới bệnh xá chính, vị mục sư chui tọt vào đó, vừa lúc có một tiếng động điếc tai, tôi bị hất ngã xuống đất, bất tỉnh, hơi thở ngừng lại. Tôi tự nhủ: "Thật kỳ lạ, người ta chết mà không thấy đau đớn, chỉ đơn giản là mắt mờ đi". Khi tôi nhận ra là mình không chết thì nháy mắt tôi đã nằm trong cánh tay các y tá đến đón tôi. Tôi thấy khó thở. Người ta tiêm cho tôi một ống thuốc và đặt tôi nằm lên trên bàn mổ ở đó trung úy bác sĩ Résillot khám cho tôi". Trong số y tá, có một cậu da đen, từng bị bắt làm tù binh của quân Việt, biết nói vài tiếng Việt và khi mà đám tù binh đôi lúc than phiền về đồ ăn, anh ta bảo họ: "Thế các cậu tưởng ông Hồ Chí Minh cho các cậu ăn thịt gà hàng ngày sao?"

Cuối buổi chiều, một trận pháo hoả tập trung dập xuống Eliane 1, Langlais cho điều lực lượng dự bị ít ỏi của tiểu đoàn B.P.C 6. Những con người trèo ngược lên mỏm đồi trọc, chìm ngập trong màn khói và những tia lửa nổ lép bép, biết rằng điều gì chờ đón họ, nhưng các sĩ quan làm cho họ thức tỉnh, lôi cuốn họ đi.

Những đợt sóng đầu tiên hạ gục số quân Việt tiến sát theo màn hoả lực bắn chặn của họ, rồi nhẩy từ hố này sang hố khác, đã chiếm lại được vị trí. Khi một đại đội của tiểu đoàn B.E.P số 1 đến thay thế họ thì trung úy Fromont đã bị chết và trong trung đội của tiểu đoàn B.P.C 6 chỉ còn lại bẩy người, sau đó chỉ còn lại ba người khi họ dừng lại ở một bãi mìn và la hét, giữa ban đêm, gọi người đến cứu. Làn sóng thông tin nội bộ của những tiểu đoàn thực hành phản kích, rung lên những câu chửi rủa, những tiếng thét hi vọng và những lời kêu gào gọi cấp cứu.
____________________________________
1. R.C.P: Viết tắt trung đoàn dù thuộc địa - N.D
2. Bach: Nhạc sĩ nổi tiếng người Đức (1685 - 1750) N.D
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #83 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2008, 10:22:51 pm »


Ngày 12 tháng tư 1954


Rạng sáng, lại một lần nữa phải tung ra tất cả những phân đội còn sử dụng được, lần lượt từng phân đội một để giành lại những vị trí bị mất. Xác chết chất đống trên mỏm đồi Eliane 1 thê thảm, bị pháo hỏa dần đi dần lại, ở đó những mảnh vụn sắt thép, những bộ trang phục trộn lẫn với lớp đất sét đỏ quạch. Trong những chiến hào đổ nát đến một nửa chôn vùi các xác chết, tiểu đoàn Bréchignac vẫn bám chặt. Thứ mùi lơ lửng ở đó không phải là mùi của hương thơm mà thánh Marie xức vào hai chân chúa Jésus ở Béthanie, vào cái ngày người ta tổ chức bữa ăn của ngày hội mừng vụ nổi loạn của Lazarre, mà là thứ mùi của người chết nằm trong nấm mồ và mùi của đống phân. Lực lượng tăng viện thả dù xuống mỗi đêm không còn bù đắp được tổn thất nữa. Trạm phẫu lưu động mới được thả xuống trong đêm cũng không đủ. Bigeard đã rời khỏi hang ổ của mình trên đồi Eliane 4 để tới chỉ huy các cuộc phản kích trong sở chỉ huy của Langlais theo ý kiến chung, Castries đã không còn nằm trong cuộc và bỏ mặc việc phòng ngự cho hai sĩ quan cấp trên của mình: ông không còn chủ trì các cuộc giao ban hàng ngày, trong đó người ta nghiên cứu tình hình để quyết định công việc cần làm. Thực tế, gánh nặng của trận đánh đặt lên vai một trung tá vốn chưa được đào tạo về công việc tham mưu và Cogny nay chỉ còn giữ vai trò một chỉ huy trưởng các hậu cứ. Trong căn hầm của mình, ở đó ông ăn uống một mình, Castries ít nhất cũng đáng khen là đã giữ được bình tĩnh, làm trọng tài cho những cuộc cãi lộn, và xoa dịu những cơn cáu giận do thái độ đồng bóng và những câu quát tháo của Langlais gây ra. Một hôm, Langlais đã thô lỗ chất vấn trung tá Voineau: "Thế nào, người ta không chào nhau nữa sao?" Và ném thẳng cốc rượu úytsky vào mặt Voineau:

- Có muốn ta chơi nhau không? Voineau, tái mặt trước hành động nhục mạ mình, đã thách thức.

Catries đã can thiệp kịp thời.

Nhưng vì trước đây các sĩ quan và các hạ sĩ quan đã từng nhìn thấy quá nhiều cảnh Catries ngồi xe Jeep cùng cô thư ký đi dạo chơi cho nên họ không khỏi không nghĩ là ông ta chúi ở trong sở chỉ huy của mình cùng với cô ta. Còn về phần Catries, vì ông đã sống quá nhiều với binh lính Marốc cho nên ông không hề nghĩ là người chỉ huy phải tránh tỏ ra thân thiện gần gũi với cấp dưới.



Ngày 14 tháng tư 1954


Cái tin đáng phấn khởi nhưng không đúng về việc mở màn cuộc hành binh Condor lan truyền trong toàn khu tập đoàn cứ điểm như một dải thuốc súng và theo bản năng, những đôi mắt quay về hướng tây. Người ta tưởng tượng ra các tiểu đoàn đang tiến lên theo bước chân hành quân cấp tốc, xuyên qua rừng rậm, hướng về tập đoàn cứ điểm và khi thời điểm đến, được sự chi viện của các đội quân dù thả xuống gần khu lòng chảo. Người ta trông thấy tình thế chao đảo và quân Việt bị kẹt giữa hai gọng kìm, bỏ chạy vào dãy núi. Nhưng một trận đánh trinh sát sang phía nước Lào thậm chí không tới được những ngôi làng nằm cách những cứ điểm phòng thủ ngoại vi một kilômét.

Một bức điện của Catries, rõ ràng có sự gợi ý của Langlais, tóm tắt tình hình bằng một lời tiên đoán u ám: "Số phận của GONO sẽ được quyết định trước ngày 10 tháng 5". Trong bức điện này người ta đọc được lời bình luận cay đắng: "... dù cho những quy tắc về việc huấn luyện nhẩy dù có như thế nào đi nữa". Bởi lẽ, ở Hà Nội người ta vẫn còn tranh cãi về việc làm có phần thiếu chính quy, dẫn đến những mạo hiểm trong lần nhẩy dù đầu tiên với những tình nguyện viên.

Như một lập luận cho lời tiên đoán này, Langlais và Bigeard nêu lên những lực lượng còn lại trong tay họ; về mặt phía tây, những bộ phận tan tác của ba tiểu đoàn lê dương: 814 người; một tiểu đoàn lính Marốc với hai đại đội trên hướng tây nam; những mặt khác do các tiểu đoàn dù chống giữ khoảng 2500 người. Số còn lại không đáng kể nữa.

Vào thời điểm này như vậy cần phải ghi nhận là đội quân đồn trú của Điện Biên Phủ không quá 3000 người còn khả năng chiến đấu. Ngày 12 tháng 3 trước khi trận đánh nổ ra, con số đó là 11.000 người. Kể từ 13 tháng ba, bốn tiểu đoàn đã được thả dù xuống. Số người chết và bị thương không đến 12.000 người. Vậy thì số người kia đi đâu? Khi thống kê quân số, Langlais không muốn cộng vào đó những cái bóng ma vật vờ, là những con người. Ông gạt phắt số người của cứ điểm Isabelle, bị bao vây cô lập và tất cả những ai không có lý do gì để mạo hiểm tính mạng, có nghĩa là cái đa số to lớn của số quân được gọi là "của khối Liên hiệp Pháp". Đối với các sĩ quan, các cán bộ khung và binh lính người Âu hoặc người Việt Nam vẫn còn kháng cự được, vẫn còn một lý do để không lùi bước mà những người khác không có. Dù cho cái lý do đó, trước mắt những ai không thuộc trong bộ phận to lớn bị đau khổ trong quân đội, có vẻ yếu ớt đến đâu, nó vẫn giữ nguyên giá trị, và được gọi là danh dự của quân đội và lòng trung thành với lá quân kỳ. Phẩm chất của những người chỉ huy, ở đây cũng vậy, có thể cứu vãn cái mà người ta tưởng là đã đánh mất.

Các vị trí của hai bên giờ đây thậm chí không còn ngăn cách với nhau bằng những hàng rào dây thép gai nữa, đã biến thành những đống xác chết; hai đối phương bám trong lòng đất cách nhau ba mươi mét, sẵn sàng nhẩy chồm lên nhau. ở cự ly này, người ta có thể gọi nhau. Một hôm, quân Việt đã kêu to: “Người ta mang thương binh đến cho các anh". Và cho một điểm hẹn. Cuối cùng, cuộc trao đổi đã không diễn ra. Một lần khác, một phái viên mang một lá cờ trắng tiến ra gần một điểm tựa và nói: "Chúng tôi có hai thương binh của các anh. Các anh đến nhận về đi". Trên đồi Huguette 6, nơi bố trí phòng thủ lúc này, đại úy kị binh Bizard nay trở thành sĩ quan dù vẫn giữ được thái độ tươi tỉnh như trước. Giống như anh bạn Bolella, chỉ huy tiểu đoàn của Bizard, Bizard chờ đợi biến cố quyết định cho chiến thắng. Nét ngây thơ kỳ lạ của một tâm hồn lúc nào cũng sẵn sàng cho những cuộc phiêu lưu lớn, kể từ hai tuần nay, các đại úy và trung úy chỉ còn biết ngủ ngồi trong hố chiến đấu, khi mà có khoảng thời gian im ắng, khoảng thời gian ấy tựa như đôi cánh một con chim vẫn còn dám bay tới gần dải thung lũng bi thảm. Ban đêm, họ đeo tai nghe, máy thông tin vẫn mở theo làn sóng có trách nhiệm báo động cho họ. Những xác chết mà người ta chất đống lại khi có thời gian, trên đống xác đó đôi khi người ta lấp đất lên và vì vậy lấp kín vài mét giao thông hào những xác chết ấy đã thối rữa ở khắp nơi và mùi hôi thối lan toả ra các căn hầm, trộn lẫn với một thứ mùi hôi thối khác còn gay gắt hơn, mùi hôi của các đống nôn mửa.

Khi hỏa lực đối phương theo thường lệ buổi tối rót xuống, mỗi đại đội lại mất thêm ba hay bốn người. Người ta lợi dụng đêm tối để thu nhặt các gói hàng rơi xuống các vùng lân cận, đào phá một vài vật chướng ngại và cử lao công, khi họ có thể đi được, đến trạm lọc nước mang về vài can nước hai mươi lít, nhưng người ta vẫn cạo râu bằng một ca nước. Khi ánh sáng ban ngày quay trở lại, một niềm hi vọng mới lại nhen nhóm: không còn phải sợ những trận xung phong nữa. Trong các đội phẫu lưu động và những trạm cấp cứu của các tiểu đoàn, các bác sĩ thấy tuyệt vọng trong việc tiêu diệt lũ giòi bọ đông nhung nhúc. Trong cơn ác mộng của chúng, lũ giòi bọ thành từng đoàn dài bẩn thỉu leo lên các bức tường, phủ kín các giường nằm và những chiếc cáng, xung phong nhẩy vào các vết thương của những thương binh mệt lả đã gần như chết. Nước crêdin và vôi bột sống không đủ; cần phải chôn thật sâu các tử thi, tẩy uế các bờ hào, ngăn chặn dòng nước bùn trong đó lũ ruồi đẻ ấu trùng vào các đống phân, nước tiểu và các chất thải của thân thể con người. Ánh hào quang của Điện Biên Phủ mà các tờ báo của thế giới tự do tán dương đó là chiến đấu trên vùng hỗn tạp đẫm máu nhất của châu Á nhân danh phương Tây và vì tình yêu đối với những cô gái đẹp mà tên của họ được dùng để gọi các cứ điểm. Ở đó thiếu hẳn một tai họa cuối cùng, không hiểu vì sao đội quân đồn trú được miễn trừ: đàn muỗi đã biến mất.

Giống như những ngày trước đó, vào lúc 22 giờ, những chiếc loa phóng thanh trên các phòng tuyến quân Pháp hét to những lời kêu gọi bằng tiếng Việt hướng về phía đối phương: “Hỡi những người anh em đối địch, chúng tôi thấy thương hại các bạn. Bộ binh của các bạn đã chết gần hết. Chỉ còn các bạn ở đây và sắp đến lượt các bạn. Tại sao các bạn không cùng chúng tôi lên máy bay bay về Hà Nội .... ". Súng liên thanh và súng cối đáp lời. Đại úy Hiền nguyên tham mưu trưởng trung đoàn 57, người ghi lại chuyện này trong sổ tay, đã hai lần nghe thấy câu này: "Các bạn đã chán ngấy chuyện này rồi. Đầu hàng đi. Cuộc sống của các bạn sẽ bớt phần gian khổ... ”

- Cuộc sống của chúng tôi dù cho có gian khổ gấp mười lần, ông đã nói với tôi như vậy, thì chúng tôi cũng sẽ không đầu hàng. Tại sao vậy? Lúc đó, kể từ trận thắng ở Him Lam, chúng tôi biết rằng chúng tôi sẽ chiến thắng. Và kể cả nếu như người ta báo cho chúng tôi biết rằng chúng tôi sẽ phải hi sinh tất cả, chúng tôi cũng sẽ chấp nhận. Bản thân tôi cũng vậy, tôi sợ chết, nhưng khi mà lòng căm thù thúc giục, thì không còn bất kỳ điều gì ngăn cản được.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #84 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2008, 10:27:32 pm »


Ngày 15 tháng tư 1954

Về việc đề bạt Castries, thời gian qua đã có rất nhiều chuyện. Một người anh hùng thực sự, tất yếu phải là cấp tướng và bản thân tổng thống Eisenhower khi gặp tướng Ely đã tỏ vẻ ngạc nhiên nói rằng tại sao Điện Biên Phủ lại chỉ do một đại tá chỉ huy. Bà Castries đã không ngồi im - Tin đồn về những đòi hỏi ấy đã lớn. Ngay đại úy Hiền, nguyên tham mưu trưởng trung đoàn 57 đã ghi trong sổ tay chuyện này chiều ngày 30 tháng ba, trong khu lòng chảo Điện Biên Phủ. Ở chỗ quân Việt, mọi sư đoàn trưởng hoặc trung đoàn trường, nếu thua trận dù là nhỏ cũng sẽ bị cách chức, không hề có báo trước. Còn một trong những vấn đề người ta đã dám tranh cãi ở chỗ chúng ta, khi đã đứng trước một mối thảm họa, đó là việc có trao tặng hay không những ngôi sao cho một viên chỉ huy trận địa bất hạnh. Quả thật là cá nhân con người của viên chỉ huy binh đoàn Gono, trong trường hợp này đã bị lôi cuốn theo huyền thoại mà vở bi kịch sinh ra. Tên của một vài sĩ quan trong tập đoàn cứ điểm bắt đầu sáng chói và ý tưởng về một đợt đề bạt đặc biệt, ngay giữa chiến trận, có vẻ như là phần thưởng xứng đáng cho thành tích của họ. Làm thế nào bỏ quên người chỉ huy cao nhất mà không phủ định ông ta? Lại một lần nữa, Castries đã làm chức năng của một viên trung tướng, do bởi vì người ta đã đánh giá là ông xứng đáng, với cương vị đó mà ông đã được lựa chọn và được chỉ định. Ở Nà Sản, Gilles đã được đề bạt thiếu tướng ở trong cái hang chuột của ông ta; đến lượt mình Castries phải được như vậy. Bằng một chuỗi các bức điện, Navarre đã đòi hỏi để có những ngôi sao ấy, coi như một cú hích mạnh vào tinh thần của đội quân đồn trú. Ông đã có được những ngôi sao.

Tại cuộc họp hội đồng bộ trưởng, ngài Marc Jacquet kiên trì giữ ý kiến không nên đề bạt Castries lên thiếu tướng: "Nếu ông ta ra khỏi được trận này, ta sẽ xem xét, ông nói. Ta vẫn còn đủ thời gian". Đó cũng là ý kiến của quốc vụ khanh về chiến tranh, ngài Pierre de Chevigné, vốn lo sợ tập đoàn cứ điểm bị thất thủ: "Thắng lợi của quân Việt sẽ giảm bớt tiếng vang, ông nói, nếu như họ chỉ bắt được một đại tá". Các thành viên khác của chính phủ thuyết phục nên trao cho Castries những ngôi sao: "Việc này làm cho ông ta thêm hăng hái", họ cam đoan như vậy, cứ như là những ngôi sao có thể giúp cho trận đánh thắng lợi.

Trên khắp toàn bộ tập đoàn cứ điểm, đạn pháo rót xuống như mưa; những khẩu pháo không giật, bố trí trên các mỏm đồi hẻo lánh nhằm bắn vào những người vẫn còn tìm cách thu nhặt các bọc hàng được thả dù xuống.

Thung lũng Điện Biên Phủ mà một số du khách tưởng sẽ gặp lại ở đó vào tháng mười hai 1953 khung cảnh một phần nông thôn yên bình, đã trở thành thung lũng của nướcmắt và cái chết. Mọi việc đều đau khổ. nhưng niềm hy vọng vẫn chưa rời bỏ các sĩ quan hàng ngày vào cuối buổi chiều, gặp lại nhau ở cái hố tại đó Langlais và Bigeard kiểm điểm lại tình hình. Chính là niềm hi vọng ấy đã giúp cho người ta chịu đựng một vài thất bại nhỏ bé, cục bộ và tạm thời, bởi lẽ binh đoàn Godard đã lên đường, và rằng các máy bay ném bom Mỹ sắp cất cánh từ Manille1. Trong số những người từ xa nhìn thấy cảnh hấp hối của đội quân đồn trú, ai là người có can đảm, giảm thiểu niềm hy vọng ấy trở lại đúng mức độ đích thực của nó đây? Ai là người dám thuyết phục Langlaỉs, Bigeard, đại úy Capeyron hoặc trung sĩ Sammarco và tất cả những người khác rằng họ không nên trông mong ở một sự đảo ngược tình thế và rằng cuộc hành binh Condor vẫn còn chưa mở màn?

Vụ việc lớn trong ngày, đó là cuộc nói chuyện vô tuyến song song hai chiều, trong đó Cogny báo với Castries tin Castries được đề bạt thiếu tướng, báo tin việc thăng cấp cho Langlais, Lalande và Bigeard, việc ghi tên vào danh sách tăng lương đặc biệt cho một vài sĩ quan và việc tuyên dương toàn quân đối với đội quân đồn trú và người chỉ huy của nó.

Castries đưa cho Langlais đôi quân hàm cầu vai của mình, sau khi đã lấy mực Tầu bôi đen nền đỏ của quân hàm; Langlais đưa bộ quân hàm của mình cho Bigeard. Còn về những ngôi sao cấp thiếu tướng, theo như bà Castries cho biết, do vì không thể tìm thấy ở Hà Nội cho nên Cogny đã tặng cho Castries những ngôi sao ông đã đeo trên vai trước khi nhận quyền tổng chỉ huy các lực lượng của xứ Bắc Kỳ.

- Tôi gửi cho anh những ngôi sao và rượu để ăn mừng, Cogny nói vậy. Cả thế giới đang nhìn chằm chằm về phía các anh. Năm mươi phóng viên báo chí quốc tế hiện có mặt ở Hà Nội để theo dõi việc làm của các anh.

Người ta lục lọi tất cả các bọc hàng thả xuống rơi vào bên trong các vị trí. Không thấy gì cả. Theo như bà Castries, các ngôi sao do một lính dù nhảy xuống đêm hôm đó mang theo và chuyển cho chồng bà. Theo như Castries, những ngôi sao được rèn tại chỗ, trong một xưởng cơ khí của lính lê dương. Tuy nhiên, đài phát thanh Việt Minh báo tin những ngôi sao ấy được thả xuống cùng với những chai rượu cô-nhắc và những hộp đựng huy hiệu đội lê dương danh dự, những huân chương chữ thập chiến tranh, huân chương quân nhân, rơi vào trong phòng tuyến của họ. Thế là người ta chạm cốc bằng rượu vang ướp lạnh.



Ngày 18 tháng tư 1954

Đêm hôm đó, sợ rằng mật mã đã bị lộ, thiếu tá Clémençon đã đùng tiếng Anh để báo cho đại úy Bizard biết rằng sắp rút bỏ Huguette 6. Ngày hôm ấy, Bizard vừa tròn hai mươi chín tuổi và đây là lúc bình minh của lễ Phục Sinh, vào cái giờ mà chị em phụ nữ kéo tới để xức nước thơm lên thi thể của chúa Jésus thì thấy ngôi mộ trống không: có biết bao lí do để người ta nhớ đến những chuyện trong quá khứ. Một trận phản kích không đến được mục tiêu. Lúc 8 giờ, Bigeard từ chối tung những phân đội khác vào trận đánh và báo tin hủy bỏ cuộc hành binh. Bizard trả lời rằng mình sẽ chọc thủng bằng những phương tiện của chính mình. Để đến được mục tiêu, Bizard phải lần lượt đánh chiếm tất cả số chiến hào ngăn cách giữa anh và đơn vị chi viện và vượt qua làn đạn súng liên thanh để tiến đến đường băng sân bay đầy máu lửa. Từ hai trăm người tìm cách tiến đến trung tâm khu đồi Huguette, nay chỉ có tám mươi người đến được nơi đó.

Trong toàn bộ thế giới công giáo, ở nhà thờ Hà Nội cũng như các nhà thờ của châu Âu, những bài thánh ca đầu tiên đã vang lên. Ở Điện Biên Phủ, nơi mọi người cầu nguyện và làm lễ theo từng nhóm nhỏ, cha tuyên úy Trinquand làm lễ cầu nguyện trong một căn hầm gần khu bệnh viện; cha hét to một lời cầu nguyện của niềm vui tôn giáo từ một con tim tràn ngập sầu muộn: Không phải là chiến thắng đang tiến bước mà là cái chết. Các bác sĩ giải phẫu làm việc từ 5 giờ sáng. Trong màn sương mù đang tan dần, hơi sương bốc lên mạnh mẽ trong dải thung lũng, một trận hoả lực dữ dội của pháo binh và súng cối dập xuống khu phòng ngự trung tâm; đất vụn rơi như mưa xuống đầu các thương binh, xuống bàn thờ Chúa. Một loạt đạn pháo 105 chụp xuống đầu đại úy Capeyron, lúc này đang mang tới sở chỉ huy của tiểu đoàn bản danh sách đề nghị tuyên dương; người lính lê dương đi theo anh bị cụt một cánh tay và một lính Marốc tình cờ có mặt ở đó bị giết chết. Capeyron chỉ bị một mảnh đạn trúng vào cằm và da đầu bị một vết rách. Trên đường tới bệnh xá, trong lòng anh nửa vui vì đã thoát nạn, nửa buồn khi nghĩ rằng đã sắp tới lúc Claudine cùng chung một số phận của Huguette 6. Tới lúc đó, không biết anh sẽ rút về đâu? Sẽ là kết thúc?

Đại uý Bizard tiếp nhận lực lượng tăng viện được nhặt ra từ các bộ phận tan rã của tiểu đoàn B.P.VN 5 và đơn vị xung kích số 8 . Anh tới nghỉ ngơi vài tiếng đồng hồ trên đồi Eliane 4. Điểm tựa Opéra được bố trí để bẻ gãy những cuộc xung phong ở khoảng giữa Huguette 1 và Épervier. Người ta không đặt cho nó một cái tên phụ nữ mà là tên của nhà ga xe điện ngầm, từ ga đó các du khách ùa ra để đi tới quán cà phê Hoà Bình, giữa đám gái điếm của nhà chứa Madeleine đang ngồi trước cốc cà phê kem của họ. Tin tức về Điện Biên Phủ trải rộng trên năm cột trang một các báo, nhưng những ngày nghỉ nhân lễ phục Sinh đã làm cho Paris là một thành phố chỉ biết có những thú vui của một mùa đẹp trời.

Langlais tới xưng tội với cha Heinrich và bảo:
- Chúng ta đang bước tới thảm hoạ.
- Cần phải chấp nhận cái đó để xá tội cho những lỗi lầm của chúng ta, cha Trinquand đáp lời.
- À, không, Langlais kêu lên. Đó không phải là lời an ủi mà tôi đòi hỏi ở cha. Xin cha cứ nói là tôi đã sai lầm, rằng chúng tôi vẫn còn hi vọng. Nếu cần xin cha làm ra vẻ có một chuyện thần kỳ.

Chuyện thần kỳ sẽ là chiến dịch Vautour được mở màn, như Navarre hy vọng, ông đã cùng tướng Partridge, tư lệnh không quân Mỹ vùng Đông Nam Á, tới Hà Nội trong hai ngày. Ấy thế mà buổi sáng hôm đó, vị đại sứ nước Anh ở Washington gọi điện thoại tới nhà riêng của ngài Foster Dulles báo tin là chính phủ Anh sẽ không tham dự vào hội nghị đã được dự kiến vào ngày 20 tháng tư bàn về tình hình Đông Nam Á. Vị bộ trưởng Mỹ nổi cơn lôi đình.
___________________________________
1. Manille: Thủ đô của Philippine. - N.D
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #85 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2008, 10:31:10 pm »


Ngày 23 tháng tư 1954

Đã kiệt sức đề kháng, cứ điểm Huguette 1 thất thủ trong đêm hôm đó. Hai đại đội tiến ra để chi viện cho Huguette 1 gần như bị xoá sổ. Lúc 7 giờ tướng Castries triệu tập Langlais và Bigeard tới. Cần phải chiếm lại Huguette 1, nếu không người ta không còn có thể thả được bất kỳ thứ gì xuống nữa. Bigeard lên kế hoạch trận đánh.

Bigeard nhăn mặt. Tất cả các tiểu đoàn, quân số chỉ còn lại một phần tư, đều đã tan tác: một tiểu đoàn duy nhất. còn đứng vững, quân số gần 400 người nhưng lại đang trấn giữ khu đồi Eliane ở bên kia sông: đó là tiểu đoàn B.E.P1 số 2. Kể cả nếu như trận đánh thành công, tiểu đoàn đó cũng không thể giữ được và tập đoàn cứ điểm sẽ không còn một lực lượng dự bị nào nữa, dù là nhỏ nhất. Vì tất cả những lý do ấy, Bigeard hi vọng không phá tan những lực lượng cuối cùng của mình và cho trận phản kích này là nguy hiểm và vô ích. Langlais tán thành ý kiến đó. Khoảng một trăm người được thả dù xuống hàng ngày khó mà bù đắp nổi một nửa những tổn thất. Thường được tung vào trận đánh ngay khi vừa mới tiếp đất, phần lớn họ đã không còn sống khi bình minh hửng lên. Như vậy khi mà đến lượt nó, tiểu đoàn B.E.P số 2 cũng bị tiêu diệt, thì sẽ ra sao? Đơn vị nào sẽ đến thay thế nó ở tả ngạn dòng sông? Tướng Castries kiên trì: trận phản kích phải diễn ra. Tuy rất sợ trận đánh sẽ vô ích và những cố gắng đã cạn kiệt, Bigeard buộc phải phục tùng. Castries, trước con mắt của Bigeard vẫn cứ là một trong số các thủ trưởng hiếm hoi làm cho anh cảm phục.

Các phân đội của đơn vị P.C.P 1 của tiểu đoàn B.P.C 6, và số lính lê dương của Claudine đến thay thế tiểu đoàn B.E.P. 2 trên khu đồi Eliane; tiểu đoàn này phải chiếm lĩnh vị trí xuất phát vào lúc 13 giờ 30: một đại đội gọn nhẹ bố trí trong chiến hào phía bắc Huguette 2, hai đại đội dưới đoạn rãnh thoát nước của đường băng sân bay, ngang với Huguette 1 và một đại đội dự bị ở thấp hơn, ngang với đồi Épervier. Trận xung phong phải mở màn thật chính xác, ngay khi pháo hoả tập trung chấm dứt: một vấn đề quen thuộc với những người đã được huấn luyện. Quyền chỉ huy trận đánh theo đúng luật thuộc về tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn B.E.P số 2, thiếu tá Lisenfeld. Lúc 13 giờ 45, mười hai máy bay khu trục và một chiếc B.26 lao xuống các vị trí đề kháng vẫn còn có thể chặn ngang bước tiến. "Chắc chắn là thành công?". Bigeard tuyên bố như vậy, anh giả bộ như là không hề lo lắng và rút lui.

Trung uý hải quân Klotz, thuộc phi đội 11F, lái chiếc "Hellcat" lao xuống Huguette 1 rất thấp, tưởng như sát đất vào lúc thả bom. Sự thực, người ta trông thấy chiếc máy bay bốc cháy trước khi anh ta kịp thả bom. Phản xạ đầu tiên bảo anh ngóc lên và bay về hướng nam để hạ cánh xuống đường băng ở Isabelle, rồi sau đó, nhớ tới một trong số đồng đội từng thử hành động như mình đã nổ tung khi đang bay trước khi xà xuống sát đất, anh quyết định bỏ máy bay càng nhanh càng tốt. Biết rằng chiếc dù nhỏ không mở, anh tìm cách kéo cánh dù ra và thì đúng lúc, gió thổi tung dù và anh bị chệch khớp vai.

Được viên phi công thứ hai Goizet yểm trợ, anh rơi xuống khu ruộng lúa cách phía nam Eliane 2 bốn trăm mét. Trước những viên đạn nổ ròn bên tai và cầy đất cách mình mấy bước chân, đột nhiên anh kinh hãi hiểu ra rằng người ta bắn vào mình. Giống như mọi phi công khác, anh không được chuẩn bị đối phó với thử thách này: nghề nghiệp của anh là đương đầu với những mối nguy hiểm khác. Nằm dán mình xuống đất, anh tự nhủ cần phải tìm cách tới được con suối ngăn cách anh với đồi Eliane 2 để ẩn nấp. Từ Eliane, đại đội của đại úy Capeyron đã từng xông ra cứu viên trung uý hải quân Laugier trong ngày 9 tháng tư và viên phi công thứ hai Goizet. Từ trong chiếc Hellcat của mình, cả hai bên nã súng vào núi Trọc để không cho đội xung kích của quân Việt cũng đang tranh thủ ra bắt sống phi công. Đột nhiên trung úy hải quân Klotz nhìn thấy ở cách chỗ mình nấp một trăm mét, một lính lê dương to con chạy về phía mình. "Đừng có đứng mãi ở đây, anh tự nhủ, trong lúc một người đang mạo hiểm mạng sống vì mình". Anh lao ra phía người đó. Người lính lê dương bị thương chảy máu ở má đưa cánh tay quàng lấy anh và xốc anh đi.

- Tháo cái thứ kia ra, người lính lê dương vừa nói vừa chỉ vào cái áo phao cứu sinh mầu vàng tươi mà các thủy binh thường đeo dưới đai dù.

Trung uý hải quân Klotz tháo bỏ chiếc áo phao và lại được dẫn chạy về tận điểm tựa Eliane, ở đó anh được sơ cứu.

Tiểu đoàn B.E.P.2 đã không xuất phát được đúng giờ quy định vì thời gian tính toán quá chặt chẽ để di chuyển từ Eliane về và những sai lầm trong dự kiến hành trình. Bốn máy bay B.26 và pháo binh đảm bảo thay thế cho cái máy bay khu trục và phá vỡ Huguette 1. Ở đó chỉ còn chừng một chục quân Việt đã bị đờ đẫn vì bom và pháo đạn không thể chống cự lâu hơn nữa, trong lúc những màn khói che kín các điểm cao ở phía đông. Chậm mất ba mươi phút, khi các đại đội khởi động thì các khẩu đại liên đối phương bố trí thành từng cụm, dùng hoả lực kiểm soát đường băng sân bay mà người ta phải băng qua. Một trung đội duy nhất đến được một hố bom, ở gần bộ khung chiếc máy bay Curtiss, của công ty Aigle Azur bị bắn cháy ngày 13 tháng ba.

Lúc 15 giờ, Castries gọi Bigeard, người đã nhiều đêm không ngủ và đang ngủ gục xuống giường ngủ.

- Tôi có cảm tưởng là trận tấn công thiếu sức mạnh, ông ta bảo Bigeard. - Cậu lên xem sao.

Ngồi trên xe Jeep, dưới làn đạn pháo, Bigeard phóng tới Huguette 2 nơi đặt sở chỉ huy của trận đánh.

- Chắc có vướng mắc gì, Lisenfeld nói với anh như vậy. - Tôi không nhận được tin tức các đơn vị của tôi.

Bigeard nhanh chóng nhận ra là các máy thông tin bị hư hỏng. Anh hét to, chửi rủa thúc giục mọi người, gọi cho các chỉ huy đại đội đang bị hoả lực chặn đứng, xác định rõ tình hình: tất cả các vũ khí của quân Việt quay trở lại Huguette 1, quật ngã những đơn vị mạo hiểm trèo lên bờ dốc của đường băng. Khi công việc không ổn, Bigeard không hề ngoan cố. Anh luôn chủ động, giống như quân Việt. Nếu thua trận, anh sẽ thoát ra. Anh sử dụng các máy bay B.26 cùng pháo binh để bịt mắt pháo binh đối phương và ra lệnh rút nhanh. Đại đội trong đó có viên hạ sĩ quan Hoinant, giờ đây chỉ còn lại sáu chục người, và bản thân Hoinant được đề bạt là trung đội trưởng. Viên đại đội phó, trung úy Guérin bị đạn pháo, hai chân gần như đứt lìa, đã tự bắn một viên đạn vào đầu để cho không một ai phải mạo hiểm cuộc sống để dìu anh về phía sau. Đại đội nằm chúi dưới đoạn rãnh thoát nước cho đến tận chiều, lúc đó được đội xung kích số 8 đến thay thế. Điều làm cho quân Việt ngày hôm đó thấy ngạc nhiên đó là sự nhút nhát của năm chiếc xe tăng đã không nã pháo ở cự li gần.

Ở cách các vị trí của Isabelle chừng một trăm năm mươi mét, viên tham mưu trưởng của trung đoàn 57 thưởng thức rượu vang ướp lạnh. "Uống với đường, cũng không tồi", anh bảo tôi như vậy. Tướng Giáp đã chỉ thị cho đào giao thông hào vào sát trận địa của địch, cốt để thu gom được tối đa đồ tiếp tế được thả dù xuống. Ở phía tây Isabelle, đại úy Hiền nhận thấy rằng giao thông hào chỉ sâu có hai mét và yêu cầu đại đội trưởng cho đào sâu thêm năm mươi phân nữa. Các chiến sĩ tặng cho anh một chiếc mùi xoa cắt bằng vải dù được trang trí những đường thêu đẹp. Ngoài ra, người ta cho anh uống thứ cà phê Pháp, được hâm nóng trên một chiếc bếp lò nhỏ không có khói.

Ban đêm, do vì không thể ra khỏi Eliane 2 ban ngày, trung úy hải quân Klotz được dẫn tới bệnh viện, ở đó bác sĩ Grauwin gây mê cho anh và nắn lại khớp vai. "Chắc chắn đây là có ưu tiên" Klotz nói. "Chuyện vặt như thế mà lại phải gây mê....". "Mừng cho anh", bác sĩ Grauwin mở chai sâm banh cuối cùng và dẫn anh tới gặp Langlais. Ở Điện Biên Phủ, người ta yêu quý các chiến sĩ hải quân. Họ chiến đấu không sợ nguy hiểm để giúp đỡ đội quân đồn trú; họ bổ nhào đến chết xuống các trận địa, trong khi đó thì không quân luôn luôn tuân thủ các quy tắc về an toàn. Một trong số chỉ huy phi đội, trung úy hải quân Andrieux đã bị hạ gục ngày 31 tháng ba; một người khác, Gérard de Castelbajac, nổi tiếng về nước da hồng hào, mái tóc hoe vàng và đôi mắt xanh khiến cho anh có biệt danh là "Bé Cadum"2; anh là người thích hội hè. Người ta yêu quý chàng kị sĩ xứ Gascogne này, người đã bước vào hải quân cùng với thanh kiếm dài và chiếc mũ gài lông chim của anh. Kết thúc chiến dịch, phi đội của anh, lúc nào cũng lao lên bám sát phía sau anh, đã mất sáu phi công trong tổng số mười lăm người. Mấy hôm trước đây Klotz đã đề nghị thả xuống Điện Biên Phủ một gói quà có bai chai rượu uýtski tặng cho Castries, Langlais và Bigeard, với lời đề tặng có chữ ký của các thành viên trong phi đội 11F. Để gửi được gói quà này, cần phải bay rất thấp trên đầu sở chỉ huy mà không có lí do chiến thuật cần thiết nào. Vì vậy Castebajac đã do dự trong hai mươi bốn tiếng đồng hồ rồi sau đó quyết định đây là việc đáng làm. Cử chỉ quan tâm đó đã gây xúc động và tình thân thiết dành cho hải quân nhờ vậy càng tăng thêm. Klotz được nuông chiều. Castnes không từ bỏ thái độ lạnh lùng khi tiếp anh nhưng thiếu tá Séguins Pazzis đã nhận anh về ban tham mưu của mình và giao cho anh công việc liên lạc với sở chỉ huy không quân. Tiếp xúc với Langlais và Bigeard mà uy tín ngày một tăng thêm trong toàn bộ đạo quân viễn chinh, trung úy hải quân Klotz trước đó nghĩ là Điện Biên Phủ đã hỏng, nay đã thay đổi cách nhìn. Bởi vì, may mắn hơn trung úy hải quân Laugier bị bắn rơi trong cùng một hoàn cảnh như anh, ngày 9 tháng tư, như vậy là anh đã thoát chết chăng? Bởi vì, những người lê dương đã cướp được anh ra khỏi tay quân Việt chăng? Gần gũi với những con người ấy mang tới cho anh một mềm hy vọng to lớn. Nhất là, anh nghĩ tới đại úy hải quân Lespinas, cũng bị bắn rơi ngày 15 tháng ba, cái chết của Lespinas, thời kỳ đó đã làm cho anh xúc động. Một tình bạn sâu sắc gắn bó anh với chàng trai gầy gò, và cau có này. Con người sẵn sàng lao vào tình yêu và chiến tranh, con người mà anh mong muốn tỏ ra xứng đáng với sự quý mến của người ấy. Không, chưa có chuyện gì hỏng. Ở Điện Biên các diễn viên của vở bi kịch tưởng tượng rằng người ta còn có thể thắng cuộc. Klotz chỉ có một điều tiếc rẻ: đó là đã không mang theo mình những chiếc tẩu và một ít thuốc lá sợi dự trữ. Anh cảm thấy không có gì bị tổn thương. Anh tự nhủ rằng nếu như cuộc đời có một ý nghĩa thì thắng lợi hẳn phải giành được.

Ở Paris, nơi dừng chân trước khi đi Genève, ngài Foster Dulles gặp ngài Georges Bidault, ngài Bidault báo với ngài ngoại trưởng Mỹ rằng nếu như không gấp rút mở màn chiến dịch Vautour thì tập đoàn cứ điểm sẽ sụp đổ, những thảm hoạ mới có nguy cơ dồn dập xảy ra tiếp theo. Mọi việc vẫn còn có thể cứu vãn nếu như chính phủ Hoa Kỳ quyết định cho các máy bay B.29 ở Manille tham chiến. Trong bữa tiệc tối, được tổ chức ở Ngoại giao, ngài Dulles mời ngài Eden gặp riêng để thông báo về kế hoạch của chiến dịch Vautour mà bộ tham mưu của tướng Ely đã cho Bộ Tham mưu quân đội Anh biết những nét chính. Hốt hoảng, ngài Eden được ngài Dulles thống nhất là không có chuyện gì xảy ra nếu không có sự tán thành từ phía chính phủ của ngài Wiston Churchill.
__________________________________
1. B.E.P. - Viết tắt tiểu đoàn dù ngoại quốc. N.D
2. "Bé Cadum": Bánh xà phòng thơm Cadum có hình một em bé mũm mĩm đáng yêu - N.D
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #86 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2008, 10:37:59 pm »


Ngày 24 tháng tư 1954

Cogny nhận được câu trả lời cho bức điện của ông ngày hôm qua, trong đó ông gợi lại hình bóng của thống chế De Lattre để đè bẹp Navarre. Navarre nói với Cogny ngắn gọn rằng tình thế không có gì giống với tình thế năm 1951 và rằng ông biết chính phủ nhận được thông tin về các biến cố với một cách nhìn khoáng đạt hơn cách nhìn của Cogny. Quyết định thả dù một tiểu đoàn bổ sung cũng như quyết định tung ra kế hoạch Condor sắp diễn ra.

Cogny nhấn mạnh và đòi hỏi việc xây dựng một khối hành binh ở Bắc Kỳ. Lúc 22 giờ 20 từ Sài Gòn, Navarre lại gửi cho Cogny một bức điện mật mã mới, trong đó Navarre đặt ra cho Cogny bốn câu hỏi về những khả năng kháng cự của Điện Biên Phủ.

Liệu có đáng để tung ra cuộc hành binh Condor. Đó là vấn đề mà trong khi chờ đợi chiến dịch Vautour, Navarre không biết quyết định ra sao. Những ý kiến bàn cãi mà kế hoạch về hệ thống vệ tinh của Cogny gây ra lúc đó hình như đã mất giá trị. Ngày 16 tháng tư, Cogny đã không hề dấu diếm rằng hiệu quả của cuộc hành binh Condor vẫn đáng ngờ: ít nhất cần thiết phải mười lăm ngày để cho binh đoàn từ nước Lào có thể tiến đến gần Điện Biên Phủ và kể cả khi được yểm trợ bởi hai tiểu đoàn được thả dù xuống phía nam khu lòng chảo, đại tá Crèvecoeur cũng không đủ sức chọc thủng vòng vây. Giỏi lắm, ông ta chỉ có thể cắn vào bắp chân quân Việt và hạn chế họ trong thời gian tấn công tập đoàn cứ điểm. Ngược lại, nếu như cuộc hành binh thất bại, điều mà tướng Navarre xem như một thất bại chiến thuật, có nguy cơ biến thành một thảm bại ở tầm cỡ chiến lược. Nói cho cùng, nếu như việc Điện Biên Phủ thất thủ có tệ hại đến đâu, Navarre nghĩ rằng mình cũng sẽ chỉ mất mười ba tiểu đoàn và bốn cụm pháo binh; thậm chí chưa đến một phần mười quân cờ của ông; nếu như ông mạo hiểm, trong những hoàn cảnh thảm họa, một cố gắng tìm lối thoát cuộc hành binh đó có thể dẫn tới một bất hạnh vô bờ bến. Cogny biết điều đó cũng như Navarre, nhưng lại một lần nữa, chẳng thương hại gì Navarre, Cogny sẵn sàng mạo hiểm tất cả để giảm nhẹ gánh nặng cho Điện Biên Phủ.

Ngay từ đầu, Navarre đã đòi hỏi quyền bảo trợ đối với Điện Biên Phủ. Lúc thắng lợi bề ngoài được đảm bảo, Cogny đã tung hô tầm rộng lớn của chiến thắng mà người ta tiên đoán; lúc thất bại đang đe doạ, Cogny làm người ta có cảm tưởng là ông ta gắng hết sức để đẩy vị tổng chỉ huy xuống vực thẳm và mình thì thoát khỏi con tầu đang chìm. Cũng như mọi người, Cogny đã mong muốn có cuộc đối chọi, mà không tính hết được giá trị các phương tiện của đối phương. Là pháo thủ gốc và được đào tạo, ông không lo ngại các cụm pháo của đối phương. Chuyện ngớ ngẩn: Cogny vốn biết khả năng mưu mẹo của quân Việt lại đã không cảnh giác đúng mức. Tính tự phụ đã gây hại cho ông cũng như cho những người khác. Sự bất đồng ý kiến giữa hai viên tướng đã bao trùm lên mọi việc. Người ta không thể không nghĩ rằng, một thế kỷ trước đây, trận thất bại ở Balaclava1 bắt nguồn từ mâu thuẫn giữa hai vị tướng của đạo quân viễn chinh Pháp - Anh, ở Grimée, huân tước Lucan và huân tước Cardigan, thà chứng kiến mối thảm họa của đạo quân còn hơn là nói chuyện với nhau, trong niềm hy vọng thầm kín là một trong hai người sẽ tử nạn cùng với lữ đoàn kỵ binh mà họ đẩy vào chỗ chết. "Họ đã không còn có thể hiểu được nhau nữa", Woodhan - Smith, nhà sử học đã viết về mối hận thù ấy như vậy. Quả thực là về phía mình, Cogny không thể làm bất kỳ điều gì mà Navarre không đồng ý, Navarre thì đã từ chối Cogny mọi chuyện.

Ở Paris, trong một lá thư nhằm để xoa dịu những oán trách của chính phủ Pháp, ngài Dulles cho rằng một cuộc tấn công trên không chắc chắn cũng không làm thay đổi số phận của Điện Biên Phủ, nhưng ông đảm bảo rằng dù cho việc tập đoàn cứ điểm thất thủ có xảy ra thì việc đó cũng không mảy may làm thay đổi vị trí quân sự của phương Tây ở Đông Dương cũng như sự chi viện về quân sự mà Hoa Kỳ sẵn sàng cung cấp cho quân đội Pháp. Các ngài Bidault và Laniel tưởng thấy trong lá thư ấy một lời hối tiếc chân thành của chính phủ Hoa Kỳ đã không thể giúp đỡ được nước Pháp bởi lẽ tình hình quân sự đã có vẻ tuyệt vọng. Ngài Bidault trả lời rằng dù cho có bi đát đến đâu, tình thế vẫn còn có thể đảo ngược hoàn toàn nếu như ông tin vào một bức điện của tướng Navarre và nếu như người ta khai thác những thông tin mà một chuyện gia quân sự vừa từ trận địa mang về: một cơ hội duy nhất để tiêu diệt toàn bộ đạo quân của đối phương, đó là nếu như chiến dịch Vautor được mở màn trong những giờ tiếp sau. Bức điện này, đó là tiếng thét kiểu Sếcxpia của vua Richard III2 trong trận đánh ở Borworth: "Một con ngựa, một con ngựa! Vương quốc của tôi là một con ngựa!". Để cứu vãn được vương quốc của Navarre, không chỉ còn là những chiếc máy bay, do việc sử dụng chúng kém cỏi mà ông đã thất bại, và không chỉ còn là những cái sọt nhỏ đựng than gỗ hoạt động mà người ta rải ra trong các đám mây để tìm cách tạo ra cơn lũ quét trùm lên đầu quân Việt. Lá thư của vị ngoại trưởng cũng không kém phần nước đôi. Chuyên gia quân sự mà cái tên không được tiết lộ chẳng phải ai khác ngoài tướng Ely: ông đã sang Điện Biên Phủ ngày 19 tháng hai và đã không quay về, như người ta để lộ ra như vậy. Trái ngược với điều mà ngài Bidault đưa ra một cách sỗ sàng, không có một yếu tố mới nào xuất hiện để có thể sửa đổi ý kiến của tướng Ely. Màn bí mật nặng nề bao phủ cách nói của Bộ Ngoại giao không phải cái gì khác ngoài thuật dối trá của công việc ngoại giao.

Tất cả những cơ may của cuộc can thiệp bằng không quân hợp nhau lại thành một khối duy nhất. Thật là kịch tính, nếu như thành công của các loại vũ khí chuyển đổi từ trận tuyến này sang trận tuyến kia! Một niềm hy vọng như vậy nảy sinh trong buổi chiều thứ bảy ấy, vào thời điểm mà trong các đại sứ quán, chỉ có các nhân viên tiếp tân rỗi việc trả lời điện thoại, nhưng việc khai mạc sắp tới của Hội nghị Genève đã bao trùm một khung cảnh náo nhiệt khác thường lên các cơ quan bộ ngoại giao của các cường quốc phương Tây. Những bức điện mật mã nút kín các tuyến dây viễn thông xuyên đại dương trong màn đêm đang dần dần bao phủ châu Âu và trườn sang châu Mỹ. Trong lúc đó vầng mặt trời chuẩn bị nhô ra từ dãy núi phía trên cao một thung lũng nồng nặc mùi thất bại và cái chết. Thậm chí người ta không còn đủ sức lực để chôn cất các tử thi. Người ta đẩy các tử thi ra khỏi các giao thông hào, dồn xuống các hố đạn pháo hình chiếc phễu, ở đó chúng rữa nát ra. Để tiến lên trên một địa hình trống trải, các chiến sĩ quân Việt phải đeo khẩu trang bằng gạc mỏng không đủ sức ngăn cản được các mùi hôi thối, và những người bị vây hãm thì đưa mắt nhìn về hướng tây nam, từ hướng đó các tiểu đoàn của đại tá Crèvecoeur sẽ phải tiến đến.

Ở Paris, nếu như ngài Bidault tiến bước dưới những mảng gỗ ốp tường mạ vàng của Bộ Ngoại giao, hướng về những khung cửa sổ cao nhìn ra sông Seine, thì tức là ông nhìn về hướng tây bắc để tìm kiếm trên bầu trời vầng sáng cuối cùng của một buổi hoàng hôn kéo dài. Lối thoát chỉ có thể đến từ phía Londres, nơi mà ngài Anthony Eden đang vội vã quay về. Sợ hãi trước quy mô phát triển của tình thế ngài Eden đã gửi về trước một bức điện khẩn. Ngài Bidault không cảm thấyngờ vực. Kể từ năm 1951, giữa câu: "Cần phải làm việc đó " của tướng De Lattre và câu: ''Người ta không thể" của viên tham mưu trưởng lục quân, ngài Bidault đã chọn câu: "Cần phải làm việc đó ". Nếu như Navarre tự coi mình là chàng hiệp sĩ của thế giới phương Tây thì ngài Bidault đã quyết định mình là người lính viễn chinh của thế giới ấy. Ngài sẽ không do dự để chặt đầu cũng như ấn vào các nút để đảm bảo thắng lợi cho học thuyết chính trị của mình và tiêu diệt những kẻ không chung thủy với học thuyết ấy.
____________________________________
1. Balaclava: Một bến cảng của bán đảo Crimée (Nga) trông ra Biển Đen - Đã xảy ra trận đánh giữa quân Nga và quân Anh - Pháp năm 1954
2. Richard III: Nhân vật trong vở bi kịch lịch sử của Sếcxpia năm 1592 N.D
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #87 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2008, 10:40:32 pm »


Ngày 25 tháng tư 1954

Cuộc họp đặc biệt của hội đồng chính phủ Anh kết thúc, cuộc họp không chấp nhận một hành động liên hiệp trong trường hợp Hội nghị Genève thất bại. Ngài Anthony Eden không quan tâm lắm đến ý kiến của viên chuyên gia quân sự người Pháp cho rằng vẫn còn cơ may tìm ra lối thoát. Nhưng mọi việc thay đổi khi mà viên đại sứ Pháp thông báo với ngài Eden ý định mới của Washington, muốn rằng quốc hội Mỹ sẽ sẵn sàng phê chuẩn: chính phủ Mỹ, lo sợ chuyện đắm tầu của nước Pháp, đã không gạt bỏ cuộc can thiệp nữa. Hoàn toàn ngược lại, chưa bao giờ chính phủ Mỹ lại sẵn sàng tham chiến đến như vậy và những trái bom A sẽ được các máy bay của hải quân ném xuống ngày 28 tháng tư với điều kiện là nước Anh không phản đối. Ngài Eden lại một lần nữa triệu tập cuộc họp của chính phủ vào lúc 16 giờ để xác định lập trường của nước Anh. Các viên tham mưu trưởng quân đội Anh đều theo quan điểm bỏ phiếu trắng. Xét tới một cuộc phiêu lưu mà những hậu quả sẽ không sao lường hết được, ngài Eden đã tỏ lời thông cảm và lấy làm tiếc đối với ngài René Massiglin, người đã chạy đi chạy lại như con thoi giữa đại sứ quán Pháp và Bộ Ngoại giao Anh. Ngài Eden thậm chí khước từ việc soạn thảo một bản tuyên bố chung. Đối với Navarre và Cogny, câu hỏi duy nhất đặt ra là biết được Điện Biên Phủ cầm cự được bao nhiêu thời gian trên bờ vực thẳm, trong lúc chờ đợi phi đoàn các máy bay B.29. Ngay cả khi không có bom A, thì cơn bão sắt thép và lửa mà sáu mươi hoặc tám mươi máy bay ném bom hạng nặng tung ra thành nhiều đợt cũng sẽ đảo lộn mặt đất như một chiếc lưỡi cầy khổng lồ, nhất là nếu như các trái bom sẽ chỉ nổ tung sau khi xuyên sâu vào lòng đất để tiêu diệt những con người và số vũ khí đang ẩn nấp ở đó. Chắc hẳn pháo binh của Việt Minh bố trí trong núi đá sẽ không việc gì nhưng bộ binh thì sẽ bị nghiền nát gọn từng tiểu đoàn, trận địa đã mất có thể chiếm lại được và các khối tăng viện to lớn từ Hà Nội được thả dù xuống sẽ không phải vất vả chiếm lĩnh lại những khu vực chủ yếu của hệ thống phòng ngự.

Tướng Caldera, chỉ huy số máy bay ném bom của lực lượng không quân Viễn Đông đã kết thúc công việc trinh sát và chia tay với chủ nhà để quay về Manille. Với ngài Maurice Dejean, ông ta tuyên bố là trận đánh có thể tiến hành trong mọi thời tiết mà không cần phải bố trí trên trận địa của đối phương những vật chuẩn thông tin điện tử. Ngoài ra, các sĩ quan phi công Pháp có thể phục vụ như những hoa tiêu trên các máy bay dẫn đầu các phi đoàn. Trong vòng ba đêm, tám mươi máy bay ném bom có bán kính hoạt động cho phép thoải mái chuyến bay khứ hồi sẽ có thể phá vỡ vòng vây xung quanh Điện Biên Phủ và làm đảo lộn các kho hậu cần ở Tuần Giáo. Chuyện lạ lùng, tướng Caldera có vẻ kém tự tin khi đứng trước tướng Lauzin. Phân vân, thiếu tự tin do nhớ lại những biến cố xưa cách đây đã mười năm ư? Viên nguyên tư lệnh không quân của đạo quân viễn chinh còn nhớ nhiều nhất đến những ý kiến tranh cãi nảy sinh từ việc thực hành trận tấn công này, đối với khối lớn máy bay sẽ không được phép phạm bất kỳ sai lầm nào trong kỹ thuật bay cũng như trong kỹ thuật ngắm ném bom và ông có cảm tưởng là việc này sẽ không diễn ra, bởi lẽ những người Mỹ muốn dải thảm khối bom của họ bằng cách nhắm vào ba trạm phát sóng mà ông không thể nào cung cấp cho họ được. Cho đến tận cuối tháng, trời vẫn tối đen và chỉ mãi đến ngày 10 tháng năm mới có thể tính đến ánh sáng trăng; sẽ dễ dàng soi sáng trận địa và chỉ định những mục tiêu phải oanh tạc, ngoại trừ nếu như quân Việt được báo động sẽ nhóm những đống lửa trên núi hoặc là nếu như cơn giông thường hình thành lúc cuối ngày với việc trở lại của những cơn gió nóng ẩm sẽ che khuất mọi tầm nhìn. Ở điểm này nữa, những người Mỹ không chấp nhận là không quân Pháp đánh dấu các mục tiêu của họ; họ chỉ có tin vào chính họ.

Cogny đánh điện trả lời các câu hỏi của Navarre: theo anh đánh giá, Điện Biên Phủ kháng cự được trong bao nhiêu lâu và liệu chiến dịch Condor có đáng để phải tung ra? Cogny cho rằng tập đoàn cứ điểm có thể cầm cự được trong hai hay ba tuần lễ nữa, trừ phi có trận tổng tấn công của đối phương. Còn về chiến dịch Condor thì hiệu quả hạn chế nhưng có ích và cần phải mở màn không chậm trễ.

Buổi chiều, đô đốc Radford thân chinh mang một thông báo riêng của tổng thống Eisenhower cho ngài Wiston Churchill. Liệu ngài Churchill, trước đó, có điện thoại cho tổng thống Eisenhower để nói với ông rằng: "Cần phải dừng tay" hay không? Dù sao, đã quá muộn; ván bài đã bắt đầu từ buổi sáng và ngài Eden đi sang Genève.

Viên sĩ quan cao cấp của bộ tham mưu không quân ở Sài Gòn, lên đường đi Manille với những lời chỉ dẫn cuối cùng liên quan đến chiến dịch Voutour, đã đi một chuyến hết sức vô ích. Bảy mươi hai tiếng đồng hồ đủ để cho cất cánh ở Philippine không đoàn máy bay B.29 mỗi chiếc mang theo tám tấn bom nhằm nghiền nát các sư đoàn của tướng Giáp, nhưng lệnh mở màn chiến dịch đã không bao giờ được phát ra.

Vị thủ tướng nước Anh đã thêu dệt trong tâm trí mình những vòng hoa thông cảm cao quý mà ông sẽ quấn xung quanh khuôn mặt giống như bò của ngài Laniel, vừa nhắc lại những ngày tháng đen tối ở Tobrouk1. Nước Anh không chấp nhận cái quyền phá hỏng những viễn cảnh mà việc nước Anh công nhận chế độ cộng sản ở Trung Quốc kể từ năm 1950 mang tới cho các thị trường của mình.

Ngày hôm ấy, toàn bộ đường băng sân bay Điện Biên Phủ bị đánh chiếm. Ba trung đoàn quân Việt chiến đấu gần một tháng để chiếm lấy ba điểm tựa, mỗi điểm tựa do khoảng một trăm người chống giữ. Trận thắng này, Langlais đã bắt đối phương phải trả giá đắt.
______________________________________
1. Tobrouk: Thành phố của Libye. Nơi diễn ra những trận đánh quan trọng của quân đội Anh và quân đội Đức - Ý vào năm 1941 - 1942. - N.D
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #88 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2008, 10:44:56 pm »

V
BUỔI HOÀNG HÔN CỦA THẦN THÁNH

Thử hỏi một đạo quân hai trăm nghìn người mà chỉ có một trăm nghìn người thực sự chiến đấu, còn một trăm nghìn người kia thì tìm cách ẩn nấp bằng đủ mọi cách, đạo quân ấy liệu có ích gì? Chẳng thà chỉ có một trăm nghìn người mà người ta có thể trông cậy được.
Ardant du Picq


D. B. P mà những chữ đầu chỉ được biết đến đối với số ít những người am hiểu, bởi những gì mà lúc ra đi, họ mang đầy quyết tâm, và từ nơi đó họ đi chân đất quay về; mở đầu trang viết này, D. B. P hẳn phải nhấn chìm tâm hồn tôi trong nỗi buồn và làm cho tâm hồn tôi cứng rắn trong một thời khắc có phần cay đắng. Nhưng mà tâm hồn tôi bị vặn vẹo và có những nút rối, trái tim tôi máu không tưới đủ chỉ còn thấy khó thở...
Đại úy Jacques Allaire

"Mũi nồi đỏ” , tháng năm 1962, số39



Ngày 26 tháng tư 1954
Đột nhiên, trong lúc ở Hà Nội mưa phùn và giá lạnh xen kẽ với một bầu trời đầy mây nặng nề thì ở Điện Biên Phủ, mùa hè xuất hiện.

Navarre trả lời Cogny một cách dài dòng. Ông mở đầu bằng câu: “Nếu như tôi hiểu đúng ý anh... " và người ta có thể hình dung ra cái cử chỉ tức tối mà ông không kìm lại được khi đọc đoạn thứ năm trong bức điện mới đây của Cogny. Quả thật lại một lần nữa, những suy nghĩ của Cogny chìm vào trong đám mây mù hết sức khó hiểu. Để chọc thủng được màn mây mù ấy, cần phải đọc đi đọc lại nhiều lần và lần lượt phát hiện những ẩn ý chứa đựng trong đó. Cái ý kiến trái ngược mà Cogny nói đến, chính xác đó là ý kiến gì? Phải hiểu ý nghĩa đích thực của câu sau đây như thế nào: "Tôi tuyệt đối bác bỏ giả thiết làm tăng thêm một cách đơn giản ý nghĩa tinh thần của sự hi sinh”. Trong khi vấn đề đã đặt ra thật rõ ràng bi thảm: "Liệt anh có đứng về phía những "người cho là cần tăng cường sức mạnh cho Điện Biên Phủ?".

Với vấn đề này, Cogny, người vừa mới tròn năm mươi tuổi theo thường lệ không trả lời là có hay là không. Ông quanh co. Ông né tránh. Ông lựa chọn. Người ta hỏi để ông cho ý kiến rõ ràng thì ông lại nói đến giá trị tinh thần của sự hi sinh. Tình thế tuy nhiên lại không hề mập mờ. Nhiều lần trong ngày, ông nghe thấy tiếng nói của Castries, nói chuyện với Castries, tiếp nhận qua vô tuyến những thông báo của tập đoàn cứ điểm. Ông biết là đang đứng ở nấc thang nào. Không một ai khác nắm vững tình hình như ông. Liệu người ta có buộc phải tiếp tục thả dù các tiểu đoàn nữa hay không? Nếu như ông cho rằng mọi việc đã hỏng và những con người tiếp tục nhẩy xuống hàng rào thép gai có nguy cơ chết một cách vô ích, nếu như ông ta tin chắc là cần phải ngăn chặn dòng sông máu này lại và bảo tồn những lực lượng còn lại để bảo vệ vùng đồng bằng, thì chuyện đó qua là không có gì dễ nói hơn.

Vậy là, người ta có thể nghĩ rằng, tuy không thật chắc chắn, ông từ chối gửi những đơn vị mới nhẩy vào chỗ chết, nhưng mà ở cuối đoạn văn này, ông lại nhắc đến việc kéo dài cuộc kháng cự và đòi hỏi có những quyết định để cứu vãn Điện Biên Phủ. Navarre, kể cả khi có sai lầm, theo dòng suy nghĩ liên tục đã có lý khi mở đầu thư trả lời của mình bằng câu: "Nếu như tôi hiểu đúng ý anh... ".

Ở đây hình như Cogny bị một vố gậy ông đập lưng ông khi ông quyết tâm tỏ ý giả định rằng mọi việc sẽ được cứu vãn nếu như người ta nghe theo ông. Ông biết rằng nếu không có việc can thiệp của những chiếc máy bay B.29, chuyện đó đến lúc này có thể là ông vẫn còn tin là có nhưng niềm tin ấy mỗi lúc một mong manh hơn, thì mọi việc sẽ hỏng hết và chỉ có danh dự là cái duy nhất người ta phải bảo vệ. Liệu có ai lại để mình bị mắc lừa bởi những câu nói quá ư tế nhị như vậy? Liệu có ai lại không phát hiện ra được dưới cái mớ rối rắm những công thức, là mối bận tâm tách mình ra khỏi số phận của kẻ bại trận? Binh nghiệp vốn bao giờ cũng bác bỏ những lời ngụy biện và những câu nói lập lờ bởi vì những kiểu nói ấy không thuộc cùng một bản chất với nó; những lí lẽ của Navarre đã gẫy nát khi vấp phải thực tế của các lực lượng mà ông ta đã không tin tưởng; những lí lẽ của Cogny cũng không khá gì hơn khi đứng trước ánh sáng của những vấn đề được đặt ra. Ngày hôm ấy, ý nghĩ của Navarre sắc bén và đúng đắn như một nhát kiếm: ''Nếu như tôi hiểu đồng ý anh, thì anh cho rằng việc tăng viện cho Điện Biên Phủ chỉ có ý nghĩa nếu như việc kéo dài sự kháng cự chắc chắn dẫn tới một lối thoát thuận lợi. Tôi không chia sẻ quan điểm đó và tôi cho rằng danh dự quân đội cũng như niềm hi vọng, kể cả khi không tin chắc là có lối thoát thuận lợi, vẫn cứ chứng minh là cần có sự hi sinh thêm nữa. Vậy mà, lối thoát thuận lợi lại có thể hi vọng tìm thấy ở Hội nghị Genève, hội nghị này có thể dẫn tới hoặc là việc đình chiến hoặc là việc can thiệp của người Mỹ trong trường hợp hội nghị tan vỡ. Vì vậy tôi quyết định kéo dài tối đa cuộc kháng cự ở Điện Biên Phủ "

Phần còn lại của bức điện dài chỉ là thứ yếu và người ta tự hỏi vì sao Navarre đã để mất nhiều thời gian đến thế để tìm được cái giọng nói và cách nhìn thẳng thắn ấy. Chính ông là người mang tới phần lớn nhất những đau khổ cho đội quân đồn trú và muốn nói gì thì nói, đã quá muộn để nghĩ tới việc cứu vãn một danh dự nào đó. Nhưng mà, trong cơn thử thách, tướng Navarre đột nhiên tự nâng mình lên một phẩm giá mẫu mực . Nhất là ông có ưu điểm đặc biệt là đòi hỏi gánh lấy những trách nhiệm về mình và áp đặt ý chí của bản thân. Rằng, giá như ông để ý vấn đề đó sớm hơn, tỉnh táo hơn và sớm có quyết định lẽ ra có thể tránh cho đạo quân viễn chinh một thất bại nhục nhã đến như vậy, và tránh cho nước Việt Nam có một nền độc lập mà nước Pháp phản đối.

Lần này, không còn chuyện gì ổn thỏa nữa. Các vị ngoại trưởng Pháp, Anh, Mỹ, Liên Xô, các đại diện của Bắc Triều Tiên, của các quốc gia Liên hiệp; vị Thủ tướng nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa, ngồi sâu trong các công viên ở Genève, trong các tòa biệt thự được xây dựng dành cho dịp nghỉ ngơi của các vị đứng đầu quốc gia hoặc những đôi tình nhân khá giả, những tòa biệt thự sạch sẽ như những phòng tắm và hoàn toàn hợp pháp. Ngoài Laniel đã thúc dục viên đại sứ của mình ở Londres trình bày một lời thỉnh cầu cuối cùng với nhà quí tộc hút thuốc xì-gà1. Không một ai còn có thể làm gì được nữa để phá vỡ cảnh đẹp được tạo ra bởi những điệu múa của đàn thiên nga trên dải bờ hồ Léman, bất chấp là mùa xuân mờ sương. Âm vang của tiếng người nói không lọt được vào nơi đây. Kể cả tiếng bom nổ và tiếng đạn pháo của Điện Biên Phủ thông qua những bức điện mật mã và đường dây của các đặc phái viên báo chí quốc tế cũng không đến được. Phải là viên trung sĩ Sammarco, viên hạ sĩ trưởng Hoinant hoặc viên đại úy Capeyron, những người cùng có suy nghĩ ngây thơ như nhau khiến cho họ hi vọng ở một thắng lợi dễ dàng, tự coi bản thân họ là những "con lợn khốn khổ", bị lừa dối bởi đất nước mà họ phục vụ, bởi quân đội đã sử dụng họ, để mà còn tin rằng các tiểu đoàn của đại tá Crèvecoeur sắp chọc thủng vòng vây hoặc là những trận mưa sẽ ngăn cản những chiếc xe tải Molotova lăn bánh.

Trong lòng chính phủ Pháp, một vị bộ trưởng đến gặp ngài Laniel:
- Chúng ta ứng xử như những con người thô lỗ, ông nói. Lẽ ra chúng ta phải tỏ rõ với đội quân dồn trú ở Điện Biên Phủ là chúng ta ở bên họ. Tôi đề nghị ngài cho phép tôi đi sang Hà Nội và nhẩy dù xuống để cùng chia sẻ số phận của De Castries.
- Ông điên rồi, vị chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đáp lời.
- Tôi không tin là Việt Minh sẽ bắt một thành viên chính phủ làm tù binh

Cái người điên ấy, đã có cử chỉ có ý nghĩa mà biết bao con người biết điều thường rất hà tiện. Là một phi công mặc dù có tuổi tác, vẫn còn giữ được một trái tim thanh xuân. Giầu có tài sản và trí tuệ, giống như một vương công thời phục hưng yêu thích đàn bà: cảnh sống sang trọng và thú mạo hiểm, coi khinh những kẻ mạnh và sẵn sàng giúp đỡ những người hèn yếu, căm ghét tính nhu nhược và những sự nhân nhượng, ông là một trong những người hào hiệp cuối cùng của thế kỷ, luôn luôn thực hiện những hành động cao cả trong tiếng cười ngạo nghễ. Thói yêng hùng ư? Chắc chắn là không. Ông sẽ nhẩy xuống Điện Biên Phủ giống như ông đã từng chiến đấu ở Tây Ban Nha, chống lại đội lê dương Condor. Đó là tướng Edouard Corniglion Molinier. Tiếc thay, ông làm gì được trong cái khoang thuyền mà mặt trước mũi thuyền là một cái đầu bò?
__________________________________
1. Ám chỉ thủ tướng nước Anh lúc đó, Wiston Churchill, miệng luôn luôn ngậm điếu xì gà to tướng. - N.D
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #89 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2008, 10:50:22 pm »


Ngày 27 tháng tư 1954

Những cơn giông ban đêm chưa tan tích tụ lại trên rặng núi và khu lòng chảo một khối mây khổng lồ đến mức không một máy bay nào chui qua được. Hai mươi chiếc Dakota quay trở về căn cứ sau khi không thả được khối hàng mang theo. Đại tá Lalande thử tìm cách nới rộng tầm với của mình ở cứ điểm Isabelle: tất cả các đội sục tạo của ông đều chạm trán đối phương và quay về cùng với số người chết và bị thương. Bằng một bức điện tiếp nối, Cogny trả lời việc xác định tình hình của tổng chỉ huy, và bộc lộ rõ hơn ý tưởng của trình. Đối với ông, mặc dầu danh dự quân sự là cái đáng quí hơn mọi thứ, nhưng mục tiêu nhằm đạt tới không thể chỉ duy nhất là giá trị tinh thần của sự hi sinh; những đơn vị tăng viện giờ đây người ta ném xuống Điện Biên Phủ chỉ giúp cho việc làm suy yếu vị trí sống còn của vùng đồng bằng trong tình thế tan rã tổng thể diễn ra tiếp sau việc thất thủ tập đoàn cứ điểm. Vì vậy Cogny nghĩ rằng việc thương lượng về một cuộc đình chiến là đáng để lựa chọn và ông yêu cầu những bức điện trước đây của ông được chuyển tới cho ngài Dejean đọc.

Navarre tung ra cuộc hành binh Condor. Phải mất tám ngày, nếu như mọi việc trôi chảy, đại tá Crèvecoeur mới có thể tới được các đỉnh núi khống chế khu lòng chảo. Tại sao Navarre lại đã trì hoãn lâu đến thế, trong khi Cogny, ngày 14 tháng tư đã điện báo cho Castries rằng việc đó đã được quyết định và rằng kể từ lúc đó, viên trung sĩ Sammarco không ngừng đưa mắt nhìn về hướng tây? Đó là vì Navarre tin tưởng nhiều hơn ở cuộc can thiệp của người Mỹ mà lúc này, ông biết là sẽ không diễn ra.

Ở Londres, sau khi đại tá Brébisson đã không thuyết phục được phía người Anh cử tới một vài chuyên viên kỹ thuật quân sự để rà soát lại những nhận định của họ, viên đại sứ Pháp - ngài Remé Massigli - nhân danh ngài Laniel xin có cuộc hội kiến với ngài Wiston Churchill. Trước sự bối rối cao độ của viên đại sứ, ngài Churchill chấm dứt dứt khoát cuộc nói chuyện và tuyên bố không muốn xem xét bất kỳ điều gì về mặt quân sự của vấn đề.



Ngày 28 tháng tư 1954

Ở Genève, cuộc hội nghị về Đông Dương không thể khai mạc trước khi diễn ra những cuộc bàn bạc về vấn đề Triều Tiên, nơi mà chiến trận đã dừng lại từ cách đây chín tháng. Những vấn đề nhậy cảm, những vấn đề ngôi thứ và những câu chuyện tự ái đã đẩy lùi giờ khai mạc hội nghị tới tận ngày 10 tháng năm. Trở lại tòa dinh thự hoàng gia của mình ở Côte d'Azur từ hai ngày nay, ngài Bảo Đại đã bổ sung vào tình hình đó hành động phá rối của cá nhân mình cốt để tìm cách cứu vãn tòa lâu đài và những cuộc đi săn hổ ở Đà Lạt cũng như những bổng lộc có được từ những sòng bạc và nhà thổ ở Chợ Lớn. Phần còn lại trong số tài sản của ngài từ lâu đã được gửi vào nơi chắc chắn. Ván bài poker của mình đã bị thua, ngài Bidault không hiểu được rằng một cử chỉ nhún nhường về phía ngài sẽ cứu vãn được mạng sống của vài trăm con người vốn đã không tiếc gì xương máu vì tổ quốc của họ hay vì đất nước mà họ đại diện. Ba khóa sĩ quan tốt nghiệp đã bị hạ gục trong vòng hai năm trong một cuộc chiến tranh mà người ta biết là không thể giành thắng lợi, cuộc chiến tranh mà người ta đã không muốn dừng lại đúng lúc, cuộc chiến tranh ấy sắp nuốt chửng toàn bộ đế chế Pháp.

Ở Điện Biên Phủ, giông tố vẫn đổ xuống khu lòng chảo và người ta lội bì bõm trong một vũng bùn nhớp nháp. Máy bay khu trục và máy bay ném bom không còn yểm trợ gì được nữa cho đội quân đồn trú và hai mươi hai chiếc Dakota quay trở về cùng với khối trọng tải mang theo. Đại tá Nicot báo động cho viên tướng tư lệnh không quân rằng tình trạng hao tổn nhân sự của đoàn không quân vận tải đã lớn đến mức ông không tin chắc là có thể thực hiện được kế hoạch thả hai tiểu đoàn quân dù cùng khối lượng tiếp tế cho các binh đoàn của cuộc hành binh Condor. Cuộc hành binh này theo ông đánh giá là không thể thực hiện được, xét về mặt kỹ thuật. Trong lúc này, binh đoàn Crèvecoeur đánh chiếm được đồn Mường Khoa, đồn này trong tháng hai đã bị trận tấn công của sư đoàn 308 nhổ bật. Mười phi hành đoàn của máy bay Dakota được tạm mượn từ các đội không quân vận tải để chuyển sang các máy bay Paket mà đội phi công Hổ Bay từ chối không chịu lái.

Trên cứ điểm Isabelle, tám người cố gắng tiếp đất được trong đêm. Nếu thời tiết tiếp tục như hiện nay. thì việc kháng cự của đội quân đồn trú không thể tính từng tuần mà là từng ngày.

Cách đó mười kilômét, trên đường đi tới trạm phẫu số 5, giáo sư Tùng và đội hộ tống ít ỏi của ông ngồi nghỉ một lát trong một xóm nhỏ bị bom napan, nay chỉ còn lại vài chiếc cột nhà cháy đen. Dân cư trong xóm đã đi hết. Chỉ còn hai con lợn nhỏ lông mầu đen, và một con dê lang thang giữa đống đổ nát. Giáo sư Tùng đã kiệt sức: suốt trong hai đêm, không ngừng nghỉ, ông đã mổ xẻ các hộp sọ. Ông chỉ đứng vững được bằng cách nhắc lại trong tâm trí câu nói mà Bác Hồ vừa mới bảo ông: "Cần phải chiến thắng". Giáo sư Tùng biết rằng người Mỹ đe dọa can thiệp bằng máy bay ném bom hạng nặng. Ông nhìn ra khoảng không xung quanh, nghĩ tới những vấn đề ông còn chưa giải quyết được, tuy nhiên ông tự nhủ: "Sau này, ở đây sẽ là cảnh đẹp"

Ngồi trước vòng tay lái chiếc G.M.C chở đạn pháo 105, anh lái xe Tha nghiến chặt hai hàm răng. Bùn ngập quá nửa bánh xe và người ta chỉ có thể tiến lên bằng cách cho chạy hai cầu xe trong những rãnh ổ gà mút chặt lấy bánh xe, tựa như chạy trên những đường ray sâu. Để vá víu những chỗ lốp xe bị sỏi đá chọc thủng người ta dùng một chiếc bùloong nhét vào đó rồi dùng êcu vít chặt lại. Hôm qua, trên một đoạn chữ chi của đèo Pha Đen vừa mới bị máy bay oanh tạc, chiếc xe đi trước xe của Tha bị "pan” ngay bên cạnh một hố bom nổ chậm chắc chắn sắp nổ tung: bởi lẽ chốc chốc quả núi lại rung chuyển vì những tiếng bom nổ. Không thể nào lùi lại cũng như vượt lên và chiếc xe Molotova đi trước lại sa lầy trên đoạn dốc mỗi khi Tha định cho xe của mình móc nó kéo lên. Cuối cùng nhờ việc dùng chiếc bơm thổi thông các đường ống dẫn, hệ thống cung cấp xăng trong bộ chế hòa khí hoạt động trở lại. Khi quả bom nổ, đoàn xe chỉ vừa kịp ra khỏi nơi đó. Nghĩ đến chuyện đó, một nụ cười nhỏ nhăn nhó trên khuôn mặt trẻ con của anh lái xe Tha, nhưng mồ hôi chảy ròng ròng trên lưng anh.

Ở Paris, nơi mà báo chí ngày càng dành nhiều trang cho những tin tức về Điện Biên Phủ, mùa xuân đã tràn ngập. Những cây dẻ nở đầy hoa, những cây liễu trên các bến tầu vươn dài những cành lá run rẩy và những hình ảnh đó hiện lên trong tâm trí những con người đang chiến đấu trong bùn lầy vì một đất nước có vẻ như đã bỏ rơi họ. Nếu như những đầu đề hay những bài viết của các số báo đến tay họ chứng tỏcho họ thấy là niềm xúc động và nỗi ngạc nhiên đã dần dần hâm nóng công luận, họ không thể nào quên được rằng mối quan tâm ít ỏi mà dân tộc dành cho họ đã đưa họ tới cái hố sâu này. Trước mặt họ, một dân tộc khác mang lại chiến thắng cho quân đội của mình.

Ngày hôm đó, xuất hiện một bản tuyên bố thừa nhận nền độc lập hoàn toàn và chủ quyền toàn vẹn của cái nước Việt Nam của Bảo Đại. Bản tuyên bố đó có được là nhờ ở vị phó chủ tịch hội đồng phụ trách các vấn đề Đông Dương, một ông già nhỏ nhắn nhanh nhẹn, từ mười lăm năm nay đã nhìn thấy mọi mối thảm họa nhưng không thể nào có cách tránh né được và không bao giờ dám ra tay điều hành công việc.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM