ngao5
Cựu chiến binh

Bài viết: 756
|
 |
« Trả lời #20 vào lúc: 14 Tháng Tám, 2008, 10:08:13 am » |
|
(Hỏi chuyện Đại tá Nguyễn Xuân Bột, nguyên Phân đội trưởng phân đội 3 kiêm thuyền trưởng tàu 333, tiểu đoàn tàu phóng ngư lôi 135. Ông Bột nay đã 74 tuổi, về hưu ở xã Yên Bằng-Ý Yên- Nam Định).
Đội hình bị chia cắt, mũ công tác của tôi bị đứt dây nên không liên lạc được với trên và đội hình chiến đấu. Pháo địch vẫn bắn dữ dội, tàu 333 bị chúng bắn vỡ quả ngư lôi trái, khói bốc lên mù mịt. Tôi ra lệnh giật nó xuống biển, đồng thời nghiến răng đè lái (lúc này tàu bị lệch do chỉ còn một quả ngư lôi bên phải), đồng thời tăng tốc độ 52 hải lý/giờ. Khi cách tàu Maddox đốc 6 liên (1 liên bằng 0,1 hải lý), tiếp cận được mạn phải tàu địch ở góc 80 độ chúng tôi xông vào vừa bắn quét mạn tàu vừa phóng ngư lôi. Quả ngư lôi rẽ sóng chạy trên mặt nước như con cá kình rồi phát nổ ngay mũi tàu ếch, khói bốc lên mù mịt. Đồng chí Đạt, chiến sĩ ngư lôi hô to: "Nó trúng ngư lôi của tôi rồi". Toàn bộ cán bộ, chiến sĩ trên tàu đều nhảy lên reo mừng.
Tháng 8-2004 tôi đã gửi một bức thư đến BTL hải quân Việt nam để hỏi việc "bắn trúng mũi tàu Maddox". Sau đó được một sĩ quan phụ trách lịch sử hải quân Việt nam gọi điện trả lời rồi không có chuyện ngư lôi của ông Bột bắn trúng mũi tàu Maddox, "là người biết về ngư lôi, ông Bột phải hiểu rằng đã trúng mũi tàu thì phải có vết thương và tàu phải đem đi sửa chữa" – người sĩ quan nói với tôi như vậy. Thực tế thì một viên đạn 14,5 ly của tàu ông Bột bắn trúng cột anten của tàu Maddox, phía Mỹ cũng xác nhận như vậy. 2) Mỹ đưa 4 (chứ không phải 5) máy bay F8 Crusader (Thập tự quân) đánh 3 tàu phóng lôi của ta. Và lý do phía Việt nam tưởng nhầm một máy bay bị rơi như sau: (trích đoạn một tài liệu nước ngoài) "Ngay khi các tàu phóng lôi Bắc VN bỏ chạy, 4 máy bay F-8 Crusader (Thập tự quân) thuộc tầu sân bay Ticonderoga do trung tá James Stockdale chỉ huy nhập trận. Để tránh trở ngại và ngộ nhận, khu trục hạm Maddox rời khỏi chiến trường, đổi đường xả hết tốc lực đi về hướng nam, nhường mục tiêu lại cho các máy bay thanh toán. Lúc đó 3 tàu chiến Bắc VN chia làm 2 toán: hai chiếc T-333 và T-336 chạy trước, còn T-339 tụt lại phía sau. Máy bay Hoa Kỳ do dó cũng chia làm hai toán. Hai máy bay của trung tá Stockdale và trung uý Richard Hastings tấn công 2 tàu chiến đi đầu; hai chiếc còn lại do trung tá R. F. Mohrhardt và thiếu tá C. E. Southwick tấn công chiếc T-339 chạy sau. Các máy bay bắn tên lửa Zuni trước nhưng đều không trúng mục tiêu. Zuni là loại tên lửa khá lớn, đường kính chừng 4 inches, nặng khoảng 50 kg. Ngay trong đợt tấn công đầu tiên, trung uý phi công Hastings, người kém thâm niên nhất thấy súng phòng không từ tàu chiến bắn lên và cánh trái của mình bị bay mất một mảng, anh báo cáo máy bay mình bị trúng hoả lực phòng không của các tàu chiến Bắc Việt. Thật ra, máy bay của phi công Hastings không bị hư hại vì đạn phòng không mà vì sau khi nhào xuống để bắn rocket, anh đã hoảng hốt bay lên quá mau khiến cánh máy bay không chịu nổi sức cản của không khí nên bị bể mất một miếng. Đây là nhược điểm thường thấy của loại máy bay Crusader. Trung tá Stockdale phải hộ tống phi công Hastings tới gần chiến hạm Maddox để được cấp cứu nếu cần rồi bay trở lại mục tiêu. Tưởng lầm đây là một máy bay mới tới nên sau này phía Bắc VN cho rằng có 5 máy bay tấn công các tàu chiến, đợt đầu 4 chiếc trong số này có 2 chiếc bị hư hại bỏ chạy; đợt sau chỉ có 1 chiếc. Sau khi bắn hết tên lửa Zuni nhưng tất cả đều không trúng đích, các máy bay bắt đầu nã đạn đại bác 20 ly Oerlikon. Lần này, cả 3 tàu chiến đều bị trúng đạn. Chiếc T-339 bị hư hại nặng nhất không còn chạy được và bị bốc khói. Phía Bắc VN nói là chiếc tàu phóng lôi cố tình thả khói để che dấu và cũng để đánh lừa các phi công Hoa Kỳ lầm tưởng rằng mục tiêu đã bị hư hại nên không bắn nữa. Thật ra, bình khói của chiếc T-339 bị trúng đạn nên phun khói ra. Phần lớn các ổ phòng không chính 14,5 ly trên các tàu chiến cũng bị trở ngại tác xạ. Súng trên chiếc T-339 bị kẹt đạn. Súng trên chiếc T-333 không quay được nên không thể nhắm vào mục tiêu. Sau khi bắn hết hỏa tiễn Zuni nhưng tất cả đều không trúng đích, các phi cơ bắt đầu nã đạn đại bác 20 ly Oerlikon. Lần này, cả ba tiểu đĩnh đều bị trúng đạn. Chiếc T-339 bị hư hại nặng nhất không còn chạy được và bị bốc khói. Phía Bắc Việt nói là chiếc tiểu cố tình đĩnh thả khói để che dấu và cũng để đánh lừa các phi công Hoa Kỳ lầm tưởng rằng mục tiêu đã bị hư hại nên không bắn nữa. Thật ra, bình khói của chiếc T-339 bị trúng đạn nên phun khói ra. Phần lớn các ổ phòng không chính 14.5 ly trên các tiểu đĩnh cũng bị trở ngại tác xạ. Súng trên chiếc T-339 bị kẹt đạn. Súng trên chiếc T-333 không quay được nên không thể nhắm vào mục tiêu.
Trong trận này ta không bắn rơi hoặc bị thương một máy bay nào của Mỹ. Mong tác giả cuốn sách tìm hiểu kỹ và cho biết chi tiết về chuyện này. Tôi được biết sau này phi công Stockdale cũng từng được xếp vào liên danh tranh cử chức vụ phó tổng thống Mỹ.[/size]
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 14 Tháng Tám, 2008, 10:11:04 am gửi bởi ngao5 »
|
Logged
|
|
|
|
chiangshan
Thành viên

Bài viết: 3405
No sacrifice, no victory
|
 |
« Trả lời #21 vào lúc: 14 Tháng Tám, 2008, 10:16:56 am » |
|
Một số tài liệu cho rằng tàu Maddox dùng bom chìm để chặn ngư lôi, khiến HQNDVN tưởng lầm là đã bắn trúng.
Trong hoàn cảnh chiến đấu, việc quan sát lầm hay ngộ nhận là hết sức bình thường.
|
|
|
|
|
Logged
|
Dân ta phải biết sử ta Cái gì không biết cần tra Gúc gồ
|
|
|
ngao5
Cựu chiến binh

Bài viết: 756
|
 |
« Trả lời #22 vào lúc: 14 Tháng Tám, 2008, 10:30:37 am » |
|
Bạn Tuaans ơi
Cầu Hàm Rồng được người Pháp xây dựng và đưa vào sử dụng vào năm 1904; cầu được thiết kế theo hình vòm, hiện đại nhất Đông Dương lúc bấy giờ, là cây cầu nối liền giao thông Bắc Nam.
Năm 1946 ta đánh sập để "tiêu thổ kháng chiến"
Năm 1962, Trung Quốc giúp ta xây dựng lại cầu này, đổ một trụ cầu giữa lòng sông, và cầu mới dài 160 mét, không còn vòm đỡ nữa được thông xe ngày 19-5-1964. Cấu trúc vòm là cấu trúc cơ bản của cầu khung thép, cầu Long Biên, Phú Lương, Lai Vu, Hạ Lý…. đều theo nguyên tắc này, nhưng không ai gọi là cầu treo cả. Cầu treo được giữ bằng cáp cơ.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
ngao5
Cựu chiến binh

Bài viết: 756
|
 |
« Trả lời #23 vào lúc: 14 Tháng Tám, 2008, 11:03:43 am » |
|
Bạn Changsian viết Một số tài liệu cho rằng tàu Maddox dùng bom chìm để chặn ngư lôi, khiến HQNDVN tưởng lầm là đã bắn trúng.
Mời bạn đến Bảo tàng hải quân Việt nam ở Cầu Rào Hải Phòng (gần nhà tôi) mà xem quả ngư lôi của 3 tàu phóng lôi sử dụng năm 1964. Nó được ra đời khoảng 60-70 năm trước, tốc độ "chạy" dưới nước chậm lắm. Theo thiết kế của Liên Xô thì 3 tầu phóng lôi trên thường quanh quẩn quanh tầu mẹ để bảo vệ, do ngốn dầu, tầu chỉ hoạt động chừng 40 phút với tốc độ cao. Mỗi tàu mang hai ống phóng ngư lôi. Quả ngư lôi này có tầm hoạt động chừng 900 mét, nhưng nếu mới bắn hiệu quả phải vào sát 100 mét. Thực tế trong chiến đấu việc áp sát này rất khó, chưa kể phải bắn vuông góc, chứ bắn xiên từ xa thì quả lôi này đến gần tầu cũng chạy lờ đờ, tàu tránh được. Tôi nói vậy không phải hạ thấp chiến công của các chiến sĩ ta đâu, nhưng nó là thực tế, nhất là trong chiến đấu bị pháo của Maddox và máy bay đánh dữ dội. Theo tài liệu mà tôi đọc, thì tàu Maddox có nhiệm vụ trinh sát điện tử, từ chiều 1-8-64 nó đã giải mã được bức điện của ta ra lệnh tàu chiến tấn công đánh đuổi tàu Maddox, vì thế tàu Maddox đã chủ động rời ra khỏi hải phận Việt nam. Theo kế hoạch, trận chiến phải xảy ra đêm 1-8 rạng 2-8, do biển động, tàu ta lại phải kéo 3 chiếc tàu phóng lôi đến nấp ở Hòn Mê để tiến công bị chậm trễ, nên đến trưa 2-8 hai bên mới giáp chiến. Nhìn thấy 3 tàu ta, tàu Maddox cứ lùi dần ra xa, 3 tầu ta do radar kém (radar skin head của Nga lúc đó rất tồi, chẳng hơn mắt thường là bao) nên cả ba tàu ta không định hướng được, cứ chạy song song với Maddox, mà không chạy khoá đầu khoá đuôi. Maddox nghĩ rằng họ đã khỏi hải phận Việt nam thì không lo bị tấn công nữa, nên cũng lơi là. Khi 3 tầu ta tiến công Maddox thì họ cũng hoảng và yêu cầu máy bay giúp đỡ. Sau này họ nói rằng nếu hôm đó thâm nhập vào Việt nam mà họ chủ động ngay từ đầu, thì dàn pháo của họ không để 3 tàu của ta thoát. Trong 4 máy bay tấn công (đợt một) thì hai chiếc F8 tấn công T-333, T-336. Riêng chiếc T-339 của ông Nguyễn Văn Giản bị 2 máy bay tấn công. Sau khi tàu T-336, T-333 bỏ chạy vào Lạch Trường để ẩn náu, thì tàu ông Giản hỏng máy và bị cháy vẫn phơi mình giữa biển. Còn ông Bột khi chạy về báo cáo rằng tàu ông Giản "bị chìm". (Sau này người quen của tôi trong hải quân kể lại rằng vì chuyện này mà ông Bột bị phê bình vì bỏ đồng đội giữa biển). Phía ta, cả ba tầu đều bị hư hại. Chiếc T-339 không còn chạy được, đúng ra đã bị bắn chìm nếu không có sự hiểu lầm trong nội bộ lực lượng Hoa Kỳ. Lúc đó, Đô đốc Robert Moore, Chỉ Huy tàu sân bay Ticonderoga đã ra lệnh cho một phi đội thứ nhì cất cánh để đánh chìm các tàu ta. Đây là chính điều Đô đốc Johnson, Tư Lệnh Hạm Đội 7 mong muốn. Nhưng khi nghe thấy Đô đốc Johnson ra lệnh cho Khu Trục Hạm Maddox không được đuổi theo, ý muốn để cho phi cơ thanh toán tàu ta, Đô đốc Moore lại lầm tưởng rằng toàn lực lượng không được phép đuổi theo. Vì vậy, khi phi đội thứ nhì tới vùng mục tiêu, Đô đốc Moore ra lệnh không được tác xạ. Sau trận đánh, hai tàu T-333 và T-336 không còn nhìn thấy chiếc T-339 và cũng không liên lạc được nên báo cáo về Bộ Chỉ Huy chiếc T-339 đã bị chìm rồi dìu nhau về cửa Lạch Chao (cửa sông Mã) và ủi vào bãi Sầm Sơn để khỏi bị chìm. Riêng chiếc T-339 bị hư hại nặng, sau này sửa được máy và chạy về được tới đảo Hòn Nê ngoài khơi gần cửa sông Mã. Về phía Hoa Kỳ, việc báo cáo chiếc T-339 đã bị chìm cũng có nhiều sai lạc. Vì các phi cơ tấn công thấy rõ chiếc T-339 bi bốc khói và hư hại nặng. Vả lại, các liên lạc truyền tin bắt được từ các tàu T-333 và T-336 cũng báo cáo chiếc T-339 đã bị chìm. Hơn nữa, không ảnh chụp mấy ngày sau tại vùng Sầm Sơn cũng chỉ thấy hai chiếc T-333 và T-336, nên nghĩ rằng T-339 bị chìm. Thật ra lúc này chiếc T-339 không nằm tại Sầm Sơn mà tại bãi Hòn Nê. Nguồn tin khác của Mỹ lại cho rằng có tới hai tàu ta bị chìm. Thật ra, tin này căn cứ vào báo cáo của phi cơ thám sát một giờ sau trận đánh, chỉ còn thấy chiếc T-339 ngoài biển (hai chiếc kia đã chạy vào Sầm Sơn)
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
ngao5
Cựu chiến binh

Bài viết: 756
|
 |
« Trả lời #24 vào lúc: 14 Tháng Tám, 2008, 11:05:24 am » |
|
Theo tài liệu nước ngoài (tiếp)
Sau biến cố ngày 2 tháng 8, Đại tá Herrick tỏ ra rất do dự vì lo ngại rằng nếu còn tiếp tục hoạt động gần bờ, có thể Bắc Việt sẽ lại tấn công. Do đó, ông đề nghị hủy bỏ công tác nhưng thượng cấp không đồng ý. Đô đốc Johnson cho rằng nếu làm như vậy có nghĩa là chiến hạm Hoa Kỳ đã Bắc Việt bị tống ra khỏi vùng dù hải hành trong hải phận quốc tế. Tuy nhiên trong công điện ngày 3 tháng 8 hồi 1712Z, ông cũng đồng ý rằng chỉ nên tiếp tục trong thời hạn ngắn với thêm chiến hạm tăng cường. Ngay ngày hôm sau 3 tháng 8, Khu Trục Hạm Maddox tiếp tục công tác, dự trù kéo dài 5 ngày với sự tăng cường của Khu Trục Hạm Turner Joy thuộc Hải Đội Khu Trục Hạm 19 lúc đó đang đảm trách nhiệm vụ tiền sát cho mẫu hạm Ticonderoga ngoài cửa vịnh Bắc Việt. Hai chiến hạm được lệnh không được tới gần bờ biển Bắc Việt dưới 11 hải lý thay vì 8 hải lý như trước. Khoảng cách với các hải đảo vẫn giữ nguyên 4 hải lý. Theo nhận xét của Đại tá Herrick, thế nào Bắc Việt cũng phản ứng. Vì vậy, trong hai ngày 3 và 4 tháng 8, các chiến hạm Hoa Kỳ rất dè dặt, lúc nào cũng hải hành cách bờ không dưới 16 hải lý và cách các đảo chừng 10 hải lý, vì vậy không thu thập được nhiều tin tức tình báo hữu ích. Về phần Trung Tá Robert C. Barnhart, Jr., Hạm Trưởng Khu Trục Hạm Turney Joy, ông đã rất bất ngờ khi được chỉ định tham dự công tác. Trước đây, chiến hạm đảm trách nhiệm vụ tiền sát, tuần tiễu trong vùng giữa Hải Đội Ticonderoga và Bắc Việt để báo động sớm những hành động thù nghịch như máy bay địch có thể bất thần tấn công mẫu hạm của hải đội. Do dó, Hạm Trưởng Barnhart, Jr. không hoàn toàn nắm vững tình hình địch trong Vịnh Bắc Việt và chiến hạm cũng không có máy móc kiểm thính để biết trước những hoạt động của địch như Khu Trục Hạm Maddox. Về mặt nhân sự, thủy thủ đoàn trên chiến hạm cũng thiếu hụt khá trầm trọng, nhưng nhìn chung, tinh thần vẫn khá cao. Trong ngày 3 tháng 8, các chiến hạm Hoa Kỳ hải hành rất thận trọng trong khu vực ấn định và quan sát thấy có nhiều ghe đánh cá trong vùng tuần tiễu, nhưng không có biến cố quan trọng nào xảy ra.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
ngao5
Cựu chiến binh

Bài viết: 756
|
 |
« Trả lời #25 vào lúc: 14 Tháng Tám, 2008, 11:09:56 am » |
|
VÌ SAO CÓ CUỘC TẤN CÔNG CỦA MÁY BAY MỸ VÀO BẮC VIỆT NAM CHIỀU 5-8-1964 (Tài liệu nước ngoài)
CUỘC TẤN CÔNG CỦA CÁC CHIẾN ĐỈNH LỰC LƯỢNG HẢI TUẦN Trong lúc đó, vào trưa ngày 3 tháng 8, các PTF 1, 2, 5 và 6 thuộc Lực Lượng Hải Tuần rời Đà Nẵng với nhiệm vụ đánh phá các mục tiêu tại Mũi Vinh Sơn và Cửa Ron nằm về phía Bắc Vùng Phi Quân Sự chừng 70 hải lý, khoảng vĩ tuyến 18 Bắc. Trên đường công tác, PTF 2 vì bị trục trặc máy móc nên phải quay về Đà Nẵng. Ba chiến đĩnh còn lại tiếp tục công tác. Tới khoảng 11 giờ đêm, các PTF 2 và 5 tới mục tiêu, bắn phá đài radar Vinh Sơn trong vòng 45 phút. PTF 6 còn lại hoạt động một mình, bắn phá đài quan sát và cầu tầu tại Cửa Ron. Theo báo cáo, một chiếc Swatow của Bắc Việt rời bến nghênh chiến nhưng vì vận tốc chậm hơn nên không theo kịp PTF 6. Vì có các chiến đĩnh của Lực Lượng Hải Tuần cùng hoạt động trong vùng, hai Khu Trục Hạm Hoa Kỳ được lệnh tuần tiễu xa hơn về phía Bắc, phía trên vĩ tuyến 19 độ 20 Bắc cho tới ngày 6 để tránh gây trở ngại hoặc ngộ nhận đối với các PTF. Phía với Bắc Việt la cho rằng đây là kế “dương đông kích tây,” các chiến hạm Hoa Kỳ cố tình “cầm chân” lực lượng phòng duyên ở mặt Bắc để trợ giúp các PTF hoạt động xa hơn về phía Nam. Trong suốt ngày 3 tháng 8, Bắc Việt không theo dõi được các hoạt động của các chiến hạm Hoa Kỳ. Tuy nhiên, chiếm hạm Maddox ghi nhận vào lúc 2030H, có một tiểu đĩnh di chuyển về hướng Đông Nam dùng radar loại “skinhead” theo dõi. Tiểu đĩnh này sau đó mất hút về hướng đảo Hải Nam. Căn cứ vào các dữ kiện thâu thập được như vị trí, hướng đi, nơi đến, đây có thể là một tiểu đĩnh của Trung Cộng. Với liên hệ chặt chẽ giữa Trung Cộng và Việt Cộng lúc đó, rất có thể Trung Cộng đã thông báo cho Việt Cộng biết những hoạt động của chiến hạm Hoa Kỳ trong vịnh Bắc Việt. Sau khi các PTF bắn phá đài radar Vinh Sơn và Cửa Ron vào đêm 3 rạng ngày 4 tháng 8, Bắc Việt la hoảng là đã bị pháo kích bằng hải pháo cỡ lớn vì tìm thấy mảnh đạn cỡ 125 ly. Các PTF xử dụng hải pháo cỡ 40 ly, súng cối 80 ly và đại bác không giật 57 ly, chỉ có các Khu Trục Hạm Hoa Kỳ trang bị súng 127 ly. Trước đây, Bắc Việt cho rằng Khu Trục Hạm Maddox không dính dáng tới vụ Lực Lượng Hải Tuần đánh phá vùng Hòn Mê vào đêm 30 rạng ngày 31 tháng 7, nhưng nay họ cho rằng lực lượng hải quân bắn phá Vinh Sơn và Cửa Ron gồm 4 PTF xuất phát từ Đà Nẵng và cả hai Khu Trục Hạm Hoa Kỳ. KHU TRỤC HẠM HOA KỲ ĐƯỢC DÙNG LÀM MỒI NHỬ Phía Bắc Việt cho rằng Hoa Kỳ đã dùng các Khu Trục Hạm trong công tác DeSoto để cố ý khiêu khích cũng như tìm lý do chính đáng để gây hấn. Khi chiến tranh Việt Nam đã kết thúc, lúc gặp cựu Bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ McNamara, Võ Nguyên Giáp cũng vẫn giữ lập luận này. Một số chính khách Hoa Kỳ cũng tỏ ý nghi ngờ. Sau này, ngay thủy thủ đoàn Khu Trục Hạm Maddox cũng cho rằng cấp chỉ huy muốn dùng họ làm “mồi,” tìm cách cho chiến hạm bị hư hại nặng hoặc bắn chìm để Hoa Kỳ có cớ tấn công Bắc Việt. Bằng cớ là có một tầu dòng chuyên dùng để tiếp cứu các chiến hạm lâm nạn đã túc trực sẵn sàng ngoài khơi vịnh Bắc Việt. VỤ ĐỤNG ĐỘ LẦN THỨ NHÌ (NGÀY 4 THÁNG 8/1964) Qua sáng ngày 4 tháng 8, các ghe đánh cá ngày hôm trước không còn nữa nhưng có một tầu dầu nhỏ xuất hiện gần Hòn Mê. Khi thấy bóng các chiến hạm Hoa Kỳ, chiếc tầu này vội lẩn trốn vào sau hải đảo. Hai Khu Trục Hạm tiếp tục tuần tiễu dọc bờ biển Bắc Việt như ngày hôm trước, giữ khoảng cách trên 16 hải lý và thường trong nhiệm sở tác chiến. Vào khoảng 10 giờ sáng, một tiểu đĩnh gần bờ bắt đầu theo dõi hai chiến hạm bằng radar “skinhead” THỜI TIẾT Tới chiều, hai chiến hạm hướng ra ngoài biển khơi. Tin khí tượng cho biết thời tiết xấu, trời không trăng sao và rất tối với tầm nhìn xa chừng 300 thước, sóng từ năm đến sáu feet, gió chừng 17 knots. Theo kinh nghiệm, trong điều kiện thời tiết như vậy, nhiều hồi-ba giả (false radar echo) thường xuất hiện trên màn ảnh radar. Các hồi ba này lúc ẩn lúc hiện, khi rõ khi mờ hoặc đột nhiên biến mất. RADAR TRÊN CÁC CHIẾN HẠM HOA KỲ Trên các Khu Trục Hạm, thường có ba loại radar: radar phòng không (air defense radar), radar hải hành (navigation radar) hay kiểm thám trên biển và radar hải pháo (gunfire-control radar). Radar phòng không dùng để phát hiện các phi cơ bạn cũng như địch. Hải Quân Hoa Kỳ dùng tiếng lóng “Bogey” để chỉ các phi cơ lạ rất có thể là phi cơ địch, không phải là “Friendlies” là những phi cơ đã được nhận dạng là phi cơ bạn. Radar hải hành phát hiện các đối vật và tầu bè trên mặt biển. Để phân biệt, hồi ba của các tầu bè bạn cũng được gọi là được gọi là “Friendly” còn tầu bè địch gọi là “Skunk.” Radar hải pháo dùng để hướng dẫn các ụ súng tự động nhắm vào mục tiêu. Khi thời tiết xấu, các hồi ba giả xuất hiện trên màn ảnh khi tỏ khi mờ chỉ những chuyên viên có kinh nghiệm mới có thể phân biệt được. Đối với radar hải pháo, vì phải liên tục theo dõi và dóng súng nên hồi ba cần phải được phân biệt rõ ràng để radar lúc nào cũng có thể nhìn thấy hầu “khóa” được mục tiêu. Bộ phận điều khiển radar hải pháo loại MK-5 trông như một cái bàn nhỏ (console) trong đó có một màn ảnh radar và bốn cần điều khiển ở bốn góc. Nhân viên phụ trách dùng cần điểu khiển điều chỉnh cho vòng tròn “hồng tâm” của máy nhắm nằm chồng lên hình của mục tiêu trên màn ảnh radar; kể từ lúc đó máy nhắm sẽ tự động theo dõi và dóng súng theo mọi di chuyển của mục tiêu. Sau khi đổi hướng ra biển, cảm thấy không còn bị đe dọa, các Khu Trục Hạm cho giải tán nhiệm sở tác chiến đã được ban hành liên tục trên sáu tiếng đồng hồ khi tuần tiễu gần bờ biển. Tuy nhiên, để đề phòng mọi bất trắc, các hạm trưởng đã bàn tính trước đội hình cũng như kế hoạch tác chiến khi hữu sự. KẾ HOẠCH TÁC CHIẾN Theo kế hoạch, hai chiến hạm di chuyển theo đội hình hàng dọc với Khu Trục Hạm Turney Joy có nhiệm vụ quan sát để hai chiến hạm không đụng nhau, giữ vị trí phía sau, cách Khu Trục Hạm Maddox chừng 1,000 yards. Như vậy, radar hải hành của Turney Joy thường phải để ở tầm ngắn để ban đêm dễ dàng quan sát vị trí cả hai chiến hạm. Khu Trục Hạm Maddox vì radar mạnh hơn nên được dùng để phát hiện các hồi-ba tầm xa. Về hải pháo, Maddox sẽ bắn đạn chiếu sáng để soi sáng mục tiêu, còn Turner Joy có súng bắn nhanh hơn sẽ bắn tiêu diệt. Nếu cả hai chiến hạm đồng loạt bị phi cơ và tiểu đĩnh tấn công, Maddox sẽ tập trung hỏa lực vào các mục tiêu trên biển, còn Turner Joy với súng bắn nhanh sẽ đảm nhận trách nhiệm phòng không. Khu Trục Hạm Turney Joy tuy cũng có ba ụ súng 127 ly, nhưng đây là những ụ súng đơn không giống Maddox gồm những ụ súng đôi. Như vậy, kể về hỏa lực hải pháo 127 ly, Maddox có sáu khẩu, Turney Joy chỉ có ba khẩu trong khi, nhưng lại bắn nhanh hơn nhiều. Theo đúng thông lệ, các ụ súng 127 ly của Turney Joy cũng được đánh số 51 (đàng mũi) và 52, 53 sau lái. Ngoài ra, Khu Trục Hạm Turner Joy cũng có hai đài kiểm xạ: 51 trước mũi và 52 sau lái. Về tình trạng khiển dụng, ụ súng 51 bị hư hỏng hoàn toàn không xử dụng được nên phía trước chỉ có hải pháo 76 ly do đài kiểm xạ 51 điều khiển. Đài kiểm xạ này cũng bị trục trặc vì radar hải pháo tuy khiển dụng nhưng không chính xác. Trong đêm 4 tháng 8, ụ súng 52 nạp đạn nổ mạnh và ụ 53 nạp đạn thời chỉnh nổ cách mục tiêu 50 feet để bắn phi cơ cũng như ngư lôi đĩnh.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
ngao5
Cựu chiến binh

Bài viết: 756
|
 |
« Trả lời #26 vào lúc: 14 Tháng Tám, 2008, 11:10:39 am » |
|
BẮC VIỆT TẤN CÔNG? Theo tài liệu của Hải Quân Hoa Kỳ, ngay từ lúc 5 giờ chiều, Bộ Tư Lệnh Hải Quân Bắc Việt tại Hải Phòng đã gửi công điện cho Swatow T-142 để thông báo vị trí của các chiến hạm Hoa Kỳ lúc 1445H. Một công điện thứ nhì vào khoảng 2000H ra lệnh cho các tiểu đĩnh T-142, T-333 và có thể cả T-333 nếu được sửa chữa kịp thời “sẵn sàng hành động” nhưng không xác định mục tiêu. Tuy Hoa Kỳ đoán rằng mục tiêu là các chiến hạm Hoa Kỳ, nhưng cũng rất có thể là các PTF của Lực Lượng Hải Tuần. Tới khoảng 8 giờ 30 tối, các Khu Trục Hạm Hoa Kỳ tăng tốc độ từ 12 knots lên 20 knots. Đồng thời Hải Đội Trưởng Herrick thông báo mẫu hạm Ticonderoga ông đã nhận được nguồn tin các tiểu đĩnh Bắc Việt sắp sửa tấn công nên đổi đường về hướng Đông Nam với vận tốc tối đa để rời xa vùng bờ biển Bắc Việt. Theo nhật ký Trung Tâm Chiến Báo (CIC - Combat Information Center) của Khu Trục Hạm Maddox và báo cáo hậu hành quân của Khu Trục Hạm Turney Joy, hồi 8 giờ 46 tối, radar của Khu Trục Hạm Maddox phát hiện một tiểu đĩnh cách xa 36.4 miles, vận tốc 33 knots, hướng đi 170 độ (Nam Tây Nam). Tiểu đĩnh này được đặt tên là Skunk N (November - Skunk phát hiện đầu tiên trong ngày được đặt tên là Alpha, sau đó là Bravo v.v…). Sau đó, radar phát hiện thêm hai tiểu đĩnh nữa. Hồi 8 giờ 48 tối, phát hiện Skunk O (Oscar) cách xa 34 miles, ở hướng 044 độ, vận tốc 28 knots. Hồi 8 giờ 50 tối phát hiện Skunk P (Papa) cách xa 36.6 miles ở hướng 060 độ, vận tốc 40 knots. Chiến hạm Maddox vào nhiệm sở tác chiến lúc 8 giờ 58 tối. Hồi 9 giờ 04 tối, Hải Đội Trưởng Herrick thông báo Khu Trục Hạm Turner Joy vị trí của các “Skunks” và ra lệnh vào nhiệm sở tác chiến. Radar trên chiến hạm Tuner Joy tạm thời đổi qua tầm xa trong một thời gian ngắn để theo dõi và cũng phát hiện các Skunks này. Tiếp theo đó, chiến hạm Maddox còn phát hiện thêm các Skunks R (Roméo) và S (Sierra) nhưng sau khi theo dõi một thời gian mới biết là các hồi-ba giả do thời tiết xấu gây ra. Hồi 9 giờ 15 tối, radar phát hiện ba phi cơ lạ (bogeys), hướng 287 độ, khoảng cách 28 hải lý. Hải Đội Trưởng Herrick báo cho mẫu hạm Ticonderoga biết ông đang bị các tiểu đĩnh và phi cơ lạ theo dõi. Mẫu hạm Ticonderoga lập tức phản ứng bằng cách cho sáu phi cơ cất cánh gồm hai chiếc loại Skyraiders, hai F-8 Crudaders và hai AD-4 Skyhawks để yểm trợ. Trong lúc này, vị trí của các Skunks N, O và P vẫn còn ở bắc và di chuyển về hướng Tây trong khi các chiến hạm Hoa Kỳ di chuyển hết tốc độ về hướng Nam nên khoảng cách đôi bên ngày càng xa. Tới khoảng 9 giờ 45, radar mất hồi ba của các Skunks. Hồi 10 giờ 08 tối, radar trên chiến hạm Maddox phát hiện thêm một Skunk mới, đặt tên là U (Uniform) ở hướng 90 độ (3 giờ), khoảng cách 15 miles, đường đi 214 độ. Sau một thời gian theo dõi kỹ càng, cả 2 chiến hạm Maddox và Turner Joy đều phát giác đây không phải là một mà là một nhóm gồm ba hay bốn tiểu đĩnh chạy rất gần nhau. Lúc này, các phi cơ của mẫu hạm Ticonderoga đã đến bao vùng. Trung Tá phi công James Stockđale nhìn thấy các lượn sóng sau chiến hạm Hoa Kỳ vào lúc 10 giờ 08 tối. Trong vòng một tiếng rưỡi đồng hồ, phi cơ của ông bay thấp dưới 1,000 feet và lúc nào cũng nhìn thấy rõ các Khu Trục Hạm vì nước biển có nhiều lân tinh nên các lượng sóng sau chiến hạm rất sáng. Hồi 10 giờ 17 tối, ngay sau khi phát hiện Skunk U, các chiến hạm hướng dẫn phi cơ tới để tìm kiếm. Tuy phi công không nhìn thấy bằng mằt thường, nhưng Skunk U vẫn hiện rõ trên màn ảnh radar của các chiến hạm. Tới khoảng 10 giờ 33 tối, Skunk U chỉ còn cách chừng 11.5 miles rồi đột nhiên biến mất. Hồi 10 giờ 31 tối, hai chiến hạm phát hiện nhiều hồi-ba mới ngay trước mũi, khoảng cách trên 30 hải lý nhưng khám phá ra đây chỉ là những hồi-ba giả do thới tiết xấu. Hồi 10 giờ 34 tối, radar trên Khu Trục Hạm Maddox phát hiện thêm một hồi-ba mới ở hướng 93 độ (3 giờ), khoảng cách 9,800 yards, vận tốc từ 35 đến 40 knots, đặt tên là Skunk V (Victor). Radar hải pháo lập tức khóa vào mục tiêu nhưng chỉ một lát sau chưa kịp bắn thì mục tiêu đã biến mất. Skunk V, sau khi hướng về Khu Trục Hạm Maddox, hồi 10 giờ 37 tối, đột ngột quẹo trái khi còn cách chiến hạm 6,200 yards giống như khi vừa phóng xong ngư lôi. Giàn hải pháo 76 ly trên Khu Trục Hạm Maddox lập tức khai hỏa. Cùng lúc đó vào lúc 10 giờ tối, radar trên chiến hạm Turney Joy phát hiện một hồi ba khác ở hướng 86 độ (khoảng 3 giờ), khoảng cách 8,000 yards, đường đi 210 độ, đặt tên là Skunk V-1. Hồi 10 giờ 39 tối, ụ súng phía sau lái khai hỏa và nhưng bắn sau hai phút vì radar hải pháo không còn phát hiện mục tiêu. Nhân viên phụ trách radar cho biết họ quan sát thấy ba quả đạn 127 nổ ngay trên mục tiêu và sau đó Skunk V-1 biến mất trên màn ảnh. Bên chiến hạm Maddox, ngay khi Skunk V quẹo gắt, chuyên viên Sonar báo cáo nghe thấy tiếng động của chân vịt khả nghi. Hải Đội Trưởng Herrick cho rằng đây là tiếng chân vịt của ngư lôi do Skunk V vừa phóng ra ở hướng 051 độ nên cả hai chiến hạm cùng quẹo gắt qua phải để tránh. Ba thủy thủ trên chiến hạm Turner Joy xác nhận trông thấy sóng của ngư lôi lướt qua bên tả hạm từ sau lái đến trước mũi. Vì nhân viên radar trên chiến hạm Maddox phát hiện nhiều tiếng động khả nghi giống tiếng chân vịt của ngư lôi nên hai chiến hạm phải quẹo gắt nhiều lần để tránh. Theo báo cáo, Khu Trục Hạm Maddox vận chuyển tránh ngư lôi tổng cộng 26 lần. Dần dần, vì có quá nhiều báo cáo về tiếng ngư lôi, Hạm Trưởng Ogier cho rằng đây chỉ là những tiếng động giả vì may ra chỉ có vài ba tiểu đĩnh Bắc Việt với vài quả ngư lôi, làm gì có nhiều tiếng ngư lôi như vậy. Do đó, ông không vận chuyển lẩn tránh nữa. Có điều khá lạ là trong khi Sonar của Khu Trục Hạm Maddox phát hiện rất nhiều tiếng động ngư lôi thì Turner Joy lại không nghe thấy gì. Ngược lại, radar của Turner Joy phát hiện nhiều hồi ba trên mặt biển nhưng Maddox lại không thấy. Sau này Hạm Trưởng Ogier ước đoán có thể vì tần số cũng như sự khác biệt về đặc tính của máy móc điện tử trên hai chiến hạm nên các hồi ba giả hiện ra hay không. Trong khi đó, các phi cơ được hướng dẫn đến các vị trí của Skunks do radar phát hiện nhưng vẫn không tìm thấy một tiểu đĩnh Bắc Việt nào. Các phi cơ không thám và bao vùng cũng không nhìn thấy đạn nổ trên mục tiêu. Hồi 10 giờ 42 tối, Hải Đội Trưởng Herrick báo cáo ông bắt đầu khai hỏa và hồi 10 giờ 52, các chiến hạm bị tấn công bằng ngư lôi. Tổng cộng, hai chiến hạn bắn chừng 300 quả đạn, đa số là đạn 127 từ Khu Trục Hạm Turner Joy. Turner Joy cũng thả nhiều thủy lựu đạn (depth charge) điều chỉnh ở tầm nông để phá các ngư lôi. Căn cứ vào các tin tức trái ngược, số Skunks và mục tiêu phát hiện và nhất là việc phi cơ không tìm thấy một tiểu đĩnh nào, Hải Đội Trưởng Herrick là người đầu tiên nghi ngờ các chiến hạm Hoa Kỳ đã chỉ bắn vào các mục tiêu tưởng tượng. Khoảng 1 giờ 27 sáng, ông báo cáo rất có thể vì thời tiết xấu đã khiến cho các chiến hạm phát hiện nhiều mục tiêu cũng như ngư lôi giả. Sáng ngày hôm sau, 5 tháng 8, hai Khu Trục Hạm và nhiều phi cơ Hoa Kỳ trở lại vùng hoạt động đêm trước nhưng không tìm thấy vết dầu loang hay bất cứ dấu vết nào của tiểu đĩnh Bắc Việt bị bắn chìm. Sau này, khi cả ba ngư lôi đĩnh T-333, T-336 và T339 bị phi cơ Hoa Kỳ đánh chìm vào ngày 1 tháng 7 năm 1966, có 19 thủy thủ Bắc Việt bị bắt sống. Các tù binh này đều khai rằng Bắc Việt chỉ có 12 ngư lôi đĩnh do Nga viện trợ và không có chiếc nào tham chiến vào đêm 4 tháng 8. Trong báo cáo của tướng Việt Cộng Hoàng Văn Thái cũng cho biết trong đêm 4 tháng 8 khi các chiến hạm Hoa Kỳ bắn trái sáng và đạn nổ ngoài khơi vịnh Bắc Việt, phía Việt Cộng gửi công điện thượng khẩn hỏi các đồng chí Trung Cộng xem có phải họ đang đánh nhau với đế quốc Mỹ không. Phía Trung Cộng cũng gửi cho Việt Công một công điện tương tự. Cả đôi bên đều trả lời “không”. PHẢN ỨNG CỦA HOA KỲ: XÁC NHẬN ĐÃ BỊ TẤN CÔNG Các công điện không rõ ràng của Đại tá Herrick và những tin tức trái ngược từ vùng hành quân làm cho các giới chức thẩm quyền ở Bộ Tư Lệnh Quân Đội Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương (Hạ Uy Di) và Tòa Bạch ốc rất phân vân. Công điện từ các nơi gửi đi tới tấp để hỏi thêm chi tiết và yêu cầu Đại tá Herrick xác nhận các chiến hạm Hoa Kỳ đã thực sự bị tấn công. Tổng Trưởng Quốc Phòng McNamara ra chỉ thị trực tiếp cho Đại tá Herrick: “Hãy kiểm chứng và báo cáo rõ ràng.” Lúc đầu, Đại tá Herrick tỏ ý hoài nghi đã bị tấn công vì không có một bằng cớ nào rõ rệt. Nhưng về sau, dưới áp lực của thượng cấp, ông đành phải thay đổi ý kiến, từ “nghi ngờ bị tiểu đĩnh địch tấn cống” thành “chắc chắn bị địch tấn công.” Tuy Đại tá Herrick, sĩ quan thâm niên hiện diện tại chiến trường đã nhiều lần nhấn mạnh “có nhiều điểm đáng nghi ngờ” nhưng Đô đốc Ulysses S. Grant Sharp, Tư Lệnh Quân Lực Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương đã xác nhận với Tổng Trưởng Quốc Phòng McNamara rằng các chiến hạm Hoa Kỳ đã thực sự bị ngư lôi đĩnh Bắc Việt tấn công vào đêm 4 tháng 8. Đối với McNamara, việc có nhìn thấy các tiểu đĩnh Bắc Việt hay không chẳng còn là điều cần thiết vì các công điện bắt được của Bắc Việt cộng với sự hư hại tuy nhẹ về phía chiến hạm Hoa Kỳ mấy ngày trước cũng đã đủ để làm bằng chứng. Sau khi tham khảo ý kiến các chuyên viên tại Tòa Bạch Ốc, McNamara điện thoại cho Đô đốc Sharp để thảo luận về các biện pháp trả đũa quân sự thích ứng. Cuộc điện đàm chấm dứt lúc 6 giờ chiều ngày 4 tháng 8 (lưu ý: vì giờ Hoa Thịnh Đốn chậm hơn giờ Việt Nam 12 tiếng đồng hồ, lúc đó đã là 6 giờ sáng ngày 5 tháng 8 tại Việt Nam). Liền sau đó, lệnh báo động cho các mẫu hạm ngoài khơi Việt Nam được ban hành. Vào khoảng 7 giờ tối giờ Hoa Thịnh Đốn (tức 7 giờ sáng ngày 5 tháng 8 giờ Việt Nam), Tổng Thống Johnson thông báo cùng các lãnh tụ quốc hội việc chiến hạm Hoa Kỳ bị ngư lôi đĩnh Bắc Việt tấn công lần thứ nhì và cho biết Hoa Kỳ sẽ oanh tạc trả đũa. Sau đó, Tổng Thống Johnson chuẩn bị viết bài diễn văn để đọc trên đài truyền hình vào buổi tối. TỔNG THỐNG JOHNSON GẤP RÚT HÀNH ĐỘNG Một trong những lý do khiến Tổng Thống Johnson muốn hành động gấp rút mặc dù tin tức từ vịnh Bắc Việt chưa được phối kiểm chính xác vì lúc đó đã gần tới ngày bầu cử. Tổng Thống Johnson cần chứng tỏ uy tín trước quốc dân rằng ông là người biết đưa ra những quyết định đúng mức và đúng lúc. Đây cũng là một dịp tốt để ông Johnson gián tiếp trả lời những thách thức của đối thủ là Thượng Nghị Sĩ diều hâu Barry Goldwater và phe cực hữu của đảng Cộng Hòa. Trước đây, vào sáng ngày 4 tháng 8, giới chức ngoại giao Hoa Kỳ đã thông báo cùng các đại sứ ngoại quốc về các biến chuyển tại vịnh Bắc Việt và yêu cầu họ chuẩn bị để tiếp nhận thêm những tin tức mới. Đúng 10 giờ 43 tối (giờ Hoa Thịnh Đốn tức 10 giờ 43 sáng ngày 5 tháng 8 tại vịnh Bắc Việt), các phản lực cơ đầu tiên được phóng đi từ mẫu hạm Ticonderoga lên đường oanh tạc Bắc Việt. Mẫu hạm Constellation lúc đó đang trên đường từ Hồng Kông tới vị trí Yankee sẽ cho phi cơ cất cánh phi sau. Vào lúc 11 giờ 37 tối, Tổng Thống Johnson lên đài truyền hình toàn quốc để thông báo cùng dân chúng Hoa Kỳ việc “Các chiến hạm Hoa Kỳ đã vô cớ bị ngư lôi đĩnh Bắc Việt tấn công” và “Lực lượng Hoa Kỳ không những sẽ tự bảo vệ chống lại các cuộc tấn công mà còn trả đũa đích đáng. Cuộc trả đũa này đã bắt đầu, vì vậy tôi cần thông báo với toàn thể quốc dân đồng bào đêm nay.” CUỘC OANH TẠC TRẢ ĐỦA “PIERCE ARROW” Tuy Tổng Thống Johnson tuyên bố chỉ trả đũa giới hạn, nhưng cuộc oanh tạc được mệnh danh là Pierce Arrow đã bắt đầu bằng một đợt 64 phi xuất nhắm vào các căn cứ tiểu đĩnh và cơ sở tiếp vận của Bắc Việt. Dưới bầu trời u ám và trần mây thấp, sáu phản lực cơ F-8 Crusader từ mẫu hạm Ticonderoga đã oanh tạc căn cứ hải quân Quảng Khê là mục tiêu xa nhất về phía Nam --ngay phía trên vùng phi quân sự-- vào lúc 1 giờ 15 chiều ngày 5 tháng 8 giờ Việt Nam (lúc đó là 1 giờ 15 sáng giờ Hoa Thịnh Đốn). Mười phút sau, một toán phi cơ khác cũng thuộc mẫu hạm Ticonderoga tấn công căn cứ hải quân Phúc Lợi xa hơn về phía Bắc. Toán phi cơ này cũng bắn phá kho nhiên liệu tại thành phố Vinh, phá hủy tám bồn dầu và gây nhiều đám cháy với khói đen bốc cao nhiều ngàn bộ. Ba tiếng đồng hồ sau, 14 phi cơ trở lại oanh tạc cùng mục tiêu, phá hủy thêm hai bồn dầu nữa. Trong khi đó, các phi cơ từ mẫu hạm Constellation cũng bắt đầu tham chiến. Vào hồi 3 giờ 45 chiều, 10 phi cơ A-4 Skyhawk, hai phi cơ F-4 Phantom và bốn phi cơ A-1 Skyraider thả bom, bắn phá cầu tầu và các tiểu đĩnh Bắc Việt tại căn cứ Hòn Gay nằm về phía Bắc Hải Phòng. Toán phi cơ này gặp phải hỏa lực phòng không dữ dội. Các ổ đại bác 37 ly và 57 ly đặt bố trí trên một ngọn đồi trông xuống cảng Hòn Gay. Xa hơn về phía Nam, một đợt phi cơ nữa cũng thuộc mẫu hạm Constellation tấn công căn cứ tiểu đĩnh tại vùng cửa Lạch Chao (Sầm Sơn).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
ngao5
Cựu chiến binh

Bài viết: 756
|
 |
« Trả lời #27 vào lúc: 14 Tháng Tám, 2008, 11:11:17 am » |
|
EVERETT AVAREZ, PHI CÔNG ĐẦU TIÊN CỦA HOA KỲ BỊ CỘNG SẢN BẮC VIỆT BẮT GIỮ Tổng cộng, các phi cơ trong cuộc oanh tạc Pierce Arrow đã đánh chìm hơn phân nửa (25 chiếc) số tiểu đĩnh và tiêu hủy khoảng 10% số nhiên liệu dự trữ của Bắc Việt. Về phía Hoa Kỳ, có hai phi cơ bị bắn hạ và hai chiếc khác bị hư hại. Chiếc phi cơ Skyraider của Đại uý Richard Sathr (Pamona, CA) trúng đạn phòng không tại vùng Lạch Chao, phi công bị chết khi rơi xuống biển. Một phi cơ khác loại Skyhawk bị bắn hạ tại Hòn Gay, phi công là Trung Úy Everett Alvarez (San Jose, CA) nhẩy dù thoát hiểm nhưng bị Cộng sản Bắc Việt bắt làm tù binh. Như vậy, Trung Úy Alvarez là phi công Hoa Kỳ đầu tiên bị cầm giữ trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Sau đây là lời tường thuật của Trung Úy Alvarez về chuyến công tác của mình: “Tôi là một trong những phi công đầu tiên được phóng đi từ mẫu hạm Constellation. Mục tiêu của tôi đã được chỉ định sẵn: đó là căn cứ tiểu đĩnh thuộc vùng mỏ than Hòn Gay nằm về hướng đông bắc của Hà Nội và bắc của cảng Hải Phòng.” “Phi đội chúng tôi gồm 10 phi cơ hướng về mục tiêu cách xa chừng 400 dậm. Chúng tôi hiện đang thực sự tham chiến! Đây là điều khó tin nhưng có thật. Mọi chuyện xảy ra quá đột ngột như một giấc mơ (Ghi chú: lúc đó mẫu hạm Constellation đang nghỉ bến ở Hồng Kông để thủy thủ đoàn tiêu khiển thì đột ngột có lệnh lập tức tơi vịnh Bắc Việt).” “Tôi cảm thấy hơi run. Khi tới mục tiêu, phi cơ của chúng tôi bay qua để nhận dạng mục tiêu trước (identification pass), sau đó vòng trở lại để bắt đầu oanh kích. Tôi bay rất thấp là là ngọn cây với vận tốc chừng 500 knots. Đột nhiên, tôi cảm thấy phi cơ không còn điều khiển được nữa: phi cơ đã bị trúng đạn phòng không, bắt đầu bị cháy và rơi xuống đất. Biết chắc rằng nếu còn ở lại trên phi cơ sẽ không thể nào sống được nên tôi bấm dù đào thoát. May mắn thay, dù mở và tôi không bị vướng vào những mỏm đá lởm chởm phía dưới.” Cánh dù của Trung Úy Everett rơi xuống vùng biển tương đối cạn. Sau đó, anh bị bắt giữ và đưa tới gặp Phạm Văn Đồng lúc đó đang kinh lý vùng này. Trung Úy Alvarez bất đắc dĩ trở thành nổi tiếng vì là người đầu tiên trong số gần 600 phi công Hoa Kỳ bị Cộng sản Bắc Việt cầm tù. Trung Úy Alvarez sau đó bị giam tại Hỏa Lò Hà Nội, nơi các tù binh Mỹ gọi là Hanoi Hilton. Mãi tới khi thỏa ước ngưng bắn Paris được ký kết hơn tám năm sau đó, ông mới được phóng thích. QUỐC HỘI HOA KỲ CHẤP THUẬN KẾ HOẠCH JOHNSON Sau khi ra lệnh oanh tạc trả đũa, Tổng Thống Johnson lập tức yêu cầu Quốc Hội Hoa Kỳ chấp thuận kế hoạch “Đông Nam Á.” Thượng Nghị Sĩ Williams Fullbright là người bảo trợ cho kế hoạch. Mặc dầu kế hoạch này cho phép Tổng Thống Johnson hầu như toàn quyền quyết định việc Hoa Kỳ tham chiến tại Đông Nam Á, nhưng đại đa số Dân Biểu và Nghị Sĩ Hoa Kỳ vẫn tán đồng. Chỉ có Nghị Sĩ Wayne Morse của tiểu bang Oregon, người đã từng thuộc đảng Dân Chủ cũng như Cộng Hòa, yêu cầu được biết thêm chi tiết. Trước đây, khi nghe phong phanh về các cuộc hành quân biệt hải trong kế hoạch OPLAN 34-A, Nghị Sĩ Morse đã chất vấn ngoại Trưởng Dean Rusk và Tổng Trưởng Quốc Phòng McNamara về sự liên hệ giữa các chiến hạm Hoa Kỳ và các cuộc hành quân Biệt Hải này. Ông McNamara trả lời rõ ràng: “Nếu thực sự đã có những cuộc hành quân biệt hải của Nam Việt Nam thì Hải Quân Hoa Kỳ hoàn toàn không tham dự, dính liếu hoặc hay biết gì về các hoạt động đó. Và đây là sự thực.” Ủy Ban Ngoại Giao Thượng Viện tranh luận khoảng 1 giờ 40 phút tranh luận rồi bỏ phiếu với kết quả hầu như mọi người đều chấp thuận, chỉ có Nghị Sĩ Morse phản đối. Tuy kế hoạch “Đông Nam Á” đã được Ủy Ban Ngoại Giao thông qua, nhưng sáng hôm sau, cuộc tranh luận còn tiếp tục. Nghị Sĩ Morse vẫn muốn biết sự thật về kế hoạch OPLAN-34A và Nghị Sĩ Daniel Brewster của tiểu bang Maryland chất vấn Nghị Sĩ Fullbright xem Tổng Thống Johnson có được quyền “đổ bộ một số lớn quân Mỹ lên Việt Nam và Trung Hoa” hay không. Nghị Sĩ Fullbright trả lới: “Tôi không thấy điều này được ghi rõ nhưng bản kế hoạch không ngăn cấm chuyện đó”. Khi cuộc tranh luận kết thúc, Nghị Sĩ Ernest Gruening của tiểu bang Alaska phản đối bản kế hoạch, cho rằng: “Đây là một bản tuyên chiến được ký sẵn.” Còn Nghị Sĩ Morse tuyên bố: “Tôi tin rằng lịch sử sẽ phê phán chúng ta đang phạm một lỗi lầm trọng đại, vì chúng ta đã vi hiến khi cho phép Tổng Thống Johnson được quyền tham chiến tại Đông Nam Á mà không cần tuyên chiến. Đây là một sai lầm lịch sử.” Vào ngày 7 tháng 8 năm 1965, chỉ có Nghị Sĩ Morse và Gruening phản đối, Thượng Viện Hoa Kỳ bỏ phiếu với tỉ số 88-2 chấp thuận cho “Tổng Thống, với quyền lực của Tổng Tư Lệnh quân đội, được toàn quyền quyết định để bẻ gẫy mọi cuộc tấn công vào quân lực Hoa Kỳ và ngăn chận những hành động thù nghịch trong tương lai.” Sau đó không lâu, Hạ Viện Hoa Kỳ cũng chấp thuận kế hoạch của Tổng Thống Johnson với tỉ số 416-0.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
ngao5
Cựu chiến binh

Bài viết: 756
|
 |
« Trả lời #28 vào lúc: 14 Tháng Tám, 2008, 11:12:28 am » |
|
NHẬN XÉT VÀ BÌNH LUẬN 1. KHẢ NĂNG TÁC CHIẾN CỦA HẢI QUÂN HOA KỲ Trong trận đánh “thật” vào ngày 2 tháng 8, lực lượng Hoa Kỳ gồm Khu Trục Hạm Maddox và sáu phi cơ thuộc mẫu hạm Ticonderoga. Phía Bắc Việt gồm 3 ngư lôi đĩnh loại P-4 thuộc Phân Đội 3. Kể riêng về hỏa lực chiến hạm, Khu Trục Hạm Maddox có 6 đại bác 127 ly với tầm xa khoảng 20 cây số, do radar điều khiển, đó là chưa kể một số hải pháo cỡ nhỏ hơn như 76 ly, 40 ly và 20 ly đa số được dùng trong việc phòng không nhưng cũng rất hữu hiệu đối với những mục tiêu ngắn tầm trên mặt biển. Các ngư lôi đĩnh Bắc Việt chỉ được trang bị đại liên 14.5 ly tầm xa không quá 2 cây số và ngư lôi. Sau khi các ngư lôi đã được phóng đi, hỏa lực của tiểu đĩnh Bắc Việt không thấm thía gì so với các khẩu hải pháo trên chiến hạm Maddox. Ngoài ra, với ưu thế tuyệt đối về radar, Khu Trục Hạm Maddox có thể “nhìn thấy” các tiểu đĩnh Bắc Việt từ lâu trước khi vào tầm hải pháo. Hơn nữa, các radar hải pháo của Khu Trục Hạm Maddox với khả năng tự động “khóa” vào mục tiêu nên có thể tác xạ rất chính xác. Vì vậy, nếu khả năng tác chiến của Khu Trục Hạm Maddox chỉ ở mức trung bình, cả ba ngư lôi đĩnh của Bắc Việt đã bị bắn chìm từ lâu trước khi chúng tới gần để phóng ngư lôi hay bắn trúng một viên đại liên vào chiến hạm Maddox. Trong trận hải chiến, chiến hạm Maddox không bắn chìm được mục tiêu vì không có một viên đạn 127 ly nào bắn trúng đích. Cả ba tiểu đĩnh Bắc Việt đều bị hư hại vì miểng của những viên đạn nổ gần dưới nước. Trận đánh xảy ra giữa ban ngày, có lúc trong tầm ngắn, đôi bên chỉ cách nhau chừng một vài cây số. Do đó, chúng ta có thể nói khả năng tác chiến của Khu Trục Hạm Maddox dưới mức trung bình. Hải quân Hoa Kỳ viện lý do thủy thủ đoàn thiếu hụt, nhưng với trang cụ và vũ khí tối tân, đúng ra ba tiểu đĩnh Bắc Việt phải bị bắn chìm. Kể về phi cơ, Hoa Kỳ có ưu thế tuyệt đối. Bốn phi cơ tự do oanh tạc ba tiểu đĩnh đã bị hư hại vận chuyển khó khăn, hỏa lực lại coi như không còn gì. Lẽ ra, các tiểu đĩnh Bắc Việt không thể sống sót. Nhưng trong đợt oanh tạc đầu tiên, một phi cơ Hoa Kỳ vì hoảng hốt bốc lên quá mau tự làm hư hại cánh trái. Tất cả các hỏa tiễn Zuni của ba phi cơ còn lại đều bắn trật mục tiêu. Chỉ cần một hỏa tiễn Zuni bắn trúng đích cũng đủ làm chìm tiểu đĩnh Bắc Việt. Tuy đạn đại bác 20 ly có làm hư hại nhưng vẫn không làm chìm được mục tiêu. Ngoài sự yếu kém về khả năng tác chiến, lực lượng Hoa Kỳ còn phạm phải lầm lẫn quan trọng trong vấn đề liên lạc truyền tin khiến các tiểu đĩnh địch có cơ hội thoát thân. Đô đốc Robert Moore, Tư Lệnh Hải Đội Ticonderoga đã gửi thên một phi đội thứ nhì đuổi theo để đánh chìm các tiểu đĩnh các tiểu đĩnh Bắc Việt đang chạy trốn vào bờ. Nhưng trong lúc đó, Đô đốc Johnson, Tư Lệnh Đệ Thất Hạm Đội, ra lệnh cho chiến Hạm Maddox không được đuổi theo, để mục tiêu cho phi cơ thanh toán. Nghe được tin này, Đô đốc Moore lầm tưởng Đô đốc Johnson ra lệnh không được đánh chìm các tiểu đĩnh Bắc Việt, vì vậy, các phi cơ được lệnh quay về! Một lần nữa, việc “hiểu lầm” giữa hai vị Đô đốc khiến các tiểu đĩnh Bắc Việt có cơ hội thoát thân. Nói tóm lại, trong trận hải chiến ngày 2 tháng 8, lực lượng Hoa Kỳ tham chiến, vì lý do này hay lý do khác, đã chiến đấu tầm thường, dưới mức trung bình. Rất có thể đây là phần đầu của “chiến thuật” đánh không cần thắng của Hoa Kỳ, nhưng phần nhiều vì lúc đó Hải Quân Hoa Kỳ lần đầu tham chiến tại Việt Nam nên còn nhiều “trục trặc.” Sau này, khi đã hoạt động thường xuyên hơn tại vịnh Bắc Việt, các phi cơ và chiến hạm Hải Quân Hoa Kỳ đã đánh chìm hầu hết các tiểu đĩnh của Hải Quân Việt Cộng, kể cả ba tiểu đĩnh đã tấn công chiến hạm Maddox.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
ngao5
Cựu chiến binh

Bài viết: 756
|
 |
« Trả lời #29 vào lúc: 14 Tháng Tám, 2008, 11:13:06 am » |
|
2. TRẬN HẢI CHIẾN TƯỞNG TƯỢNG Tới trận hải chiến “tưởng tượng” vào ngày 4 tháng 8, có rất nhiều điều khó hiểu. Các chiến hạm Hoa Kỳ đã hoảng hốt báo cáo nhiều “Bogeys” và “Skunks” không có thật. Nhiều “contacts” lúc ẩn, lúc đột nhiên hiện ngay sát các chiến hạm như ma. Rồi các chiến hạm vận chuyển hết tốc độ để tránh trên 20 trái ngư lôi không biết từ đâu phóng ra. Các báo cáo “ngư lôi” nhiều không thể tưởng tượng nổi, đến nỗi Hạm Trưởng Ogier cuối cùng phát giận không vận chuyển chiến hạm lẩn tránh nữa! Ngoài ra, còn có những tin tức trái ngược, người nói trông thấy tầu địch, người nói thấy đạn nổ khiến mục tiêu bị chìm, kẻ nói thấy tầu địch rọi đèn… Nhưng những cuộc điều tra sau này đều cho thấy đây chỉ là những điều tưởng tượng. Sau này vào năm 1965, khi nói về trận đánh ma ngày 4 tháng 8, chính Tổng Thống Johnson xác nhận: “Theo tôi biết, Hải Quân của chúng ta đã bắn vào… cá voi tại Biển Đông!” Còn Trung Tá James Stockdale, người phi công đã bay yểm trợ cho chiến hạm Maddox trong cả hai ngày 2 tháng 8 và 4 tháng 8, sau này là ứng cử viên Phó Tổng Thống trong liên danh Ross Perot, tuyên bố: “Tôi là người nhìn thấy rõ nhất những điều đã xảy ra. Vào đêm 4 tháng 8, các Khu Trục Hạm của ta đã bắn vào các mục tiêu ma! Không có ngư lôi đĩnh Bắc Việt… chẳng có gì hết ngoài nước đen và hỏa lực của Hoa Kỳ.” Vì vậy, khi Bộ Trưởng McNamara còn ngây thơ hỏi Võ Nguyên Giáp về trận hải chiến dêm 4 tháng 8 có thật sự xảy ra hay không, họ Võ ung dung trả lời: “Không có, hoàn toàn không có,” làm McNamara Bộ Trưởng ngượng ngùng muốn biến khỏi trái đất! 3. Ý ĐỒ CỦA HOA KỲ Cho tới nay, mặc dù đã trên 30 năm trôi qua kể từ khi có những cuộc “đụng độ” giữa các chiến hạm Maddox và Turner Joy và các tiểu đĩnh phòng duyên Cộng sản Bắc Việt tại vịnh Bắc Việt, nhiều nghi vấn vẫn còn được đặt ra. Chúng ta không còn nghi ngờ gì về cuộc đụng độ ngày 2 tháng 8 năm 1964 vì có đầy đủ bằng cớ về thiệt hại đôi bên và cả hai phía đề xác nhận. Riêng cuộc đụng độ vào đêm 4 rạng ngày 5 tháng 8 vẫn còn đưa đến nhiều tranh luận. Giới chức thẩm quyền, kể cả Hải Quân Hoa Kỳ cho rằng các ngư lôi đĩnh Cộng sản Bắc Việt đã thật sự tấn công các Khu Trục Hạm Maddox và Turner Joy trong khi các chuyên gia nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam tỏ vẻ hoài nghi. Vậy thật ra Hoa Kỳ đã oanh tạc Bắc Việt vào tháng 8 năm 1964 để trả đũa các hành động thù nghịch hay cố tình gây hấn? Hoa Kỳ có gây hấn không? Vì lý do gì? Để tìm hiểu sự thực, chúng ta cần duyệt lại bối cảnh lịch sử tại Việt Nam cũng như Hoa Kỳ lúc bấy giờ. 4. BỐI CẢNH LỊCH SỬ Tại Việt Nam Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã bị ám sát với sự tiếp tay gián tiếp của Hoa Kỳ. Lý do vì Tổng Thống Diệm đã không đồng ý để Hoa Kỳ can thiệp quá sâu vào nội tình Việt Nam. Lúc đó tướng Nguyễn Khánh đang cầm quyền sau cuộc chỉnh lý ngày 29 tháng 1 năm 1964. Tuy tướng Dương Văn Minh (Big Minh) vẫn ngồi ghế Quốc Trưởng nhưng đây chỉ là chức vụ bù nhìn vì quyền hành đếu nằm trong tay tướng Khánh, tướng Khiêm và Đỗ Mậu. Các tướng đã từng tham gia cuộc đảo chánh lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm như tướng Kim, tướng Đôn, tướng Xuân v.v… đều bị quản thúc tại gia vì tội muốn bắt tay với chính phủ De Gaule của Pháp để trung lập hóa miền Nam. Vào tháng 6 năm 1964, bốn “tướng Đà Lạt” là Kim, Đôn, Xuân, Đính đều bị ra tòa án quân sự. Tình hình quân sự tại miền Nam càng thêm suy thoái vì sau mỗi lần đảo chánh, chỉnh lý, biểu dương lực lượng. Cộng quân lại có thêm cơ hội dành dân, lấn đất. Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Henry Cabot Lodge, Tổng Thống Hoa Kỳ Johnson và giới chức quân sự Hoa Kỳ tin rằng muốn dẹp hẳn Cộng sản tại miền Nam, cần phải đập tan đầu não của chúng tại miền Bắc. Ngoài ra, nếu giải pháp trung lập do chính phủ Pháp khởi xướng được thành tựu, có lẽ ảnh hưởng của ngưới Pháp sẽ dần dần thay thế quyền lực của Hoa Kỳ tại Việt Nam. Vì vậy, Hoa Kỳ không còn cách nào hơn phải ủng hộ tướng Khánh lúc đó cũng đang hô hào “Bắc Tiến.” Muốn đánh vào Bắc Việt, Hoa Kỳ cần tìm lý do “chính đáng” để thuyết phục Quốc Hội, dễ ăn nói với dân chúng cũng như dư luận quốc tế. Và lý do đó là biến cố vịnh Bắc Việt. Tại Hoa Kỳ trước đó không lâu cũng đã xảy ra một biến cố chính trị lớn, đó là vụ Tổng Thống Kennedy bị ám sát tại Dallas đưa đến việc Phó Tổng Thống Johnson kế vị chức Tổng Thống. Tân Tổng Thống Johnson muốn chứng tỏ là vị nguyên thủ xứng đáng nên có ý định “làm mạnh” tại Việt Nam để lấy uy tín. Tổng Thống Johnson cho rằng việc lật đổ Tổng Thống Diệm là một điều thất sách, nhưng đây là chuyện đã rồi, chỉ còn cách gia tăng áp lực với Bắc Việt để đạt được các mục tiêu quân sự và chính trị tại miền Nam. Việc “gia tăng áp lực” này cũng cần có một lý do để giải thích với quan thầy của Việt Cộng là Nga Sô và Trung Cộng. 5. CÁC NGHI VẤN Trở lại các cuộc “đụng độ” ngoài khơi vịnh Bắc Việt, chúng ta còn nhớ, theo báo cáo của Hải Quân Hoa Kỳ, các ngư lôi đĩnh Cộng sản Bắc Việt lần đầu tiên tấn công Khu Trục Hạm Maddox ngoài khơi Thanh Hóa vào ngày 2/8/64. Sau đó, vào ngày 4 tháng 8, hai chiến hạm Maddox và Turner Joy lại bị tấn công xa hơn về phía Nam, ngoài khơi thành phố Vinh. Các cuộc tấn công này cũng trùng hợp với những cuộc hành quân biệt hải mang bí danh OPLAN 34-A của Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa vào các hải đảo và vùng duyên hải Bắc Việt. Vậy hoạt động của chiến hạm Hoa Kỳ có liên quan tới các cuộc hành quân biệt hải không? Bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ McNamara từng tuyên bố: “Các chiến hạm Hoa Kỳ không hề dính líu gì đến các cuộc hành quân biệt hải cũng như hoạt động mật của Hải Quân VNCH.” Đây chỉ là một xảo thuật chính trị nếu không muốn gọi là “nói dối.” Thật ra OPLAN 34-A là con đẻ của CIA và Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ nên chắc chắn McNamara không những biết rõ mà còn là một trong những nhân vật quyết định. Tuy thủy thủ đoàn được tuyển lựa từ Hải Quân Việt Nam nhưng các chiến đĩnh PTF thuộc Lực Lượng Hải Tuần (Lực Lượng Hải Tuần) đều do Hoa Kỳ cung cấp và hệ thống yểm trợ, tiếp vận cũng do Hoa Kỳ đảm trách. Về phương diện hành quân, mỗi chuyến công tác vượt Vĩ Tuyến 17 đều hoàn toàn do thủy thủ đoàn Việt Nam đảm trách, không hề có nhân viên Hoa Kỳ đi theo. Việc hoạt động phối hợp với các chiến hạm Hoa Kỳ ngoài khơi vịnh Bắc Việt tuy không trực tiếp nhưng đôi bên đều biết các hoạt động của nhau để tránh ngộ nhận và hỗ tương yểm trợ khi cần. Tác giả đã phục vụ trên các PTF trong thới gian 5 năm nên biết rất rõ điều này. Theo kế hoạch OPLAN 34-A được soạn thảo từ năm 1964, Lực Lượng Hải Tuần được thành lập tại Đà Nẵng để đảm nhiệm những công tác biệt hải trong vùng vịnh Bắc Việt. Các chiến đĩnh và chiến cụ đều do Hoa Kỳ cung cấp nhưng thủy thủ đoàn hoàn toàn là Việt Nam được tuyển lựa trong số những nhân viên ưu tú thuộc Hải Quân VNCH với tư cách tình nguyện và phải ký giao kèo mỗi sáu tháng. Các chiến đĩnh thuộc Lực Lượng Hải Tuần đều là những loại đặc biệt như PTF đóng tại Na Uy có vận tốc tối đa trên 50 knots hay Swift với vận tốc chừng 30 knots. Lực Lượng Hải Tuần thường xâm nhập hải phận miền Bắc vào ban đêm để thả các toán Biệt Hải xâm nhập, phá hoại, bắn phá các cơ sở phòng thủ duyên hải, bắt cóc các công an duyên phòng, thả truyền đơn hoặc tiếp xúc với dân chúng để thu thập tin tức tình bào. Chúng tôi sẽ có bài viết riêng về Lực Lượng Hải Tuần và các toán Biệt Hải khi hoàn cảnh cho phép. Như trên đã nói, các hoạt động của Lực Lượng Hải Tuần đều nằm trong kế hoạch OPLAN 34-A của Hoa Kỳ nên dĩ nhiên các chiến đĩnh Biệt Hải phối hợp chặt chẽ với các chiến hạm Hoa Kỳ có mặt trong vùng. Nhiều cuộc thực tập vận chuyển ban đêm thường được tổ chức để làm quen và nhận dạng. Trong nhiều chuyến công tác, các chiến đĩnh Lực Lượng Hải Tuần đóng vai chim mồi, giả bộ tiến gần vào bờ biển Bắc Việt khiến các giàn radar và hải pháo phòng duyên địch bắt buộc phải lộ diện để phi cơ Hoa Kỳ oanh kích. Cũng có lúc các chiến đĩnh Lực Lượng Hải Tuần chạy thật chậm trước các căn cứ hải quân Bắc Việt để dụ các tiểu đĩnh Cộng sản rời nơi ẩn núp đuổi theo. Lúc đó, các chiến đĩnh của ta tăng tốc độ giữ một khoảng cách an toàn ngoài tầm hải pháo địch. Khi các tiểu đĩnh Cộng sản bị dụ xa ra ngoài khơi, ngoài tầm hoạt động của những ổ súng phòng không, các phi cơ Hải Quân Hoa Kỳ phục sẵn trên mây sẽ bất thần nhào xuống làm thịt các con mồi. Nhưng ngoại trừ trong các cuộc hành quân phối hợp đặc biệt, các chiến đĩnh Lực Lượng Hải Tuần thường hoạt động biệt lập, không trực tiếp liên quan với các chiến hạm Hoa Kỳ. Tuy nhiên, vì cùng hoạt động trong vùng Vịnh Bắc Việt, đôi bên đều có thể nhận dạng nhau bằng radar hải thám và liên lạc âm thoại để yểm trợ nhau khi cần. Thí dụ như đôi khi Lực Lượng Hải Tuần đảm nhiệm thêm công tác tìm kiếm phi công Hoa Kỳ bị bắn rơi hay mất tích ngoài biển, trong khi các chiến hạm Hoa Kỳ trợ giúp các PTF hay Swift bị hỏng máy hay bị hư hại. Vì những liên hệ trực tiếp hay gián tiếp nêu trên, sự có mặt của Khu Trục Hạm Maddox ngoài khơi Thanh Hóa vào ngày 2 tháng 8 năm 1964 không phải là một sự trùng hợp ngẫu nhiên như Hoa Kỳ đã công bố. Trước đó 2 ngày, vào rạng sáng 31 tháng 7, các chiến đĩnh của Lực Lượng Hải Tuần đã bắn phá hải đảo Hòn Mê chỉ cách bờ biển Thanh Hóa chừng 30 hải lý về phía Đông Nam. Sau khi bị tấn công, đương nhiên Cộng sản Bắc Việt phải gia tăng phòng thủ bằng cách phái các tiểu đĩnh tuần tiễu vùng ven biển và các hải đảo. Các công điện điều động tiểu đĩnh phòng quyên của địch do toán kiểm thính trên chiến hạm Maddox bắt được chứng tỏ điều này. Đến chiều ngày 2 tháng 8, khi Khu Trục Hạm Maddox bị các tiểu đĩnh Cộng sản tấn công gần bờ biển Thanh Hóa, điều này cũng dễ hiểu vì lực lượng duyên phòng lầm tưởng chiến hạm này là một thành phần của lực lượng tấn công cùng với Lực Lượng Hải Tuần đã bắn phá Hòn Mê mấy đêm về trước. Cuộc tấn công này thực sự đã xảy ra bị đôi bên tham chiến giữa ban ngày và chiến hạm Maddox bị trúng một viên đạn dưới chân đài kiểm xạ. Hơn nữa, các phi cơ từ mẫu hạm Ticonderoga tới trợ chiến cũng đã tìm thấy mục tiêu và dùng hỏa tiễn Zuni cùng với đại bác 20 ly bắn hư hại nhiều tiểu đĩnh Cộng sản. Mới đây nhất, chính Cộng sản Bắc Việt cũng xác nhận chúng đã tấn công. Tuy nhiên, chúng ta có thể thấy phía Cộng sản Bắc Việt cũng đã lầm lẫn vì họ tưởng mục tiêu chỉ là những chiến đĩnh của Lực Lượng Hải Tuần với hỏa lực tương đương. Vào năm 1964, hệ thống radar phòng duyên của Bắc Việt hãy còn thô sơ và không đủ vị trí để có thể theo dõi bao trùm vùng duyên hải. Đa số các phát hiện đều do sự quan sát bằng mắt thường. Bằng cớ là lúc đó, các chiến đĩnh Lực Lượng Hải Tuần hoạt động ban đêm như vào chỗ không người, chỉ khi nào vào sát bờ bắn phá hay hoạt động giữa ban ngày mới bị phát hiện. Vì vậy, nếu biết chắc mục tiêu là một Khu Trục Hạm Hoa Kỳ với phi cơ yểm trợ, chắc chắn mấy tiểu đĩnh lỗi thời thuộc loại phế thải của Bắc Việt đã không giám mở cuộc tấn công, nhất là giữa thanh thiên bạch nhật, không có hải pháo phòng duyên và phi cơ yểm trợ. Khi đã ra tới biển, chạm trán với đối thủ có hỏa lực mạnh hơn thì chuyện đã rồi, không thể bỏ chạy. Tuy các tiểu đĩnh Cộng sản có lợi thế hơn về tốc độ, nhưng tầm hải pháo lớn nhất 37 ly (trên tiểu đĩnh loại Swatow) và 14.5 ly của họ chỉ bằng một phần năm so với tầm đại bác 127 ly trên chiến hạm Maddox. Hơn nữa, giàn radar của chiến hạm Hoa Kỳ cũng nhìn được xa hơn rất nhiều nên trước khi các tiểu đĩnh Cộng sản vào được tầm phóng ngư lôi hoặc đại bác 37 ly, chúng đã bị sáu khẩu hải pháo có radar điều khiển trên chiến hạm Maddox bắn hư hại từ lâu rồi. Ngoài ra, phía Hoa Kỳ còn có phi cơ yểm trợ, phần bất lợi lại càng nghiêng về phía Cộng sản Bắc Việt. Hơn nữa, chiến thuật của các tầu phóng ngư lôi thường dùng là “bất ngờ đánh trộm” nên chỉ có lợi thế khi phục kích và tấn công vào ban đêm. Thông thường, các như lôi đĩnh ẩn trốn gần các đảo nhỏ khiến radar của chiến hạm không dò thấy. Khi con mồi tới gần, các tiểu đĩnh mở hết tốc độ lao thẳng vào mục tiêu và phóng ngư lôi từ nhiều hướng rồi bỏ chạy. Chúng ta có thể đoan quyết rằng, nếu cần phải đụng độ với chiến hạm Hoa Kỳ, chắc chắn các tiểu đĩnh Cộng sản sẽ tấn công vào ban đêm thay vì lúc ban ngày.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|