Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 02:30:06 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Cách mạng văn hoá liệt truyện - Tập 2  (Đọc 67077 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #60 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2010, 01:03:20 am »


9. Nhằm trúng thời cơ giáng đòn chí mạng

Từ khi đại cách mạng văn hóa bắt đầu đến nay, sự ham muốn khủng bố ở Khang Sinh ngày càng lớn. Ông ta hoài nghi tất cả, cũng muốn đánh đổ tất cả, việc này cần phải làm từng bước một, phải lựa chọn đối tượng, nhằm trúng thời cơ, còn phải không từ một thủ đoạn nào giáng cho họ đòn chí mạng.

Từ lâu trong Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng vào tháng 5 năm 1966, Khang Sinh đã một mình nắm việc phát biểu trong toàn bộ hội nghị. Lúc thì chửi Bành Chân, La Thụy Khanh, lúc thì chỉ trích Lục Định Nhất, Dương Thượng Côn. Ngay đến như Chu Đức người có đức cao vọng trọng, thực thà trung hậu, ông ta cũng không tha.

Ông ta đã từng đến tổ có Chu Đức để tham gia thảo luận, công kích gay gắt Chu Đức: “Anh là Tổng tư lệnh cái quái gì? Từ lâu anh đã hai lòng. Về tổ chức thì anh vào Đảng, nhưng về tư tưởng thì vẫn chưa vào Đảng, anh còn là đảng viên cộng sản à, theo tôi anh là nhân sĩ ngoài đảng, là người nhất quán thực hiện chủ nghĩa tư bản, là người chống tư tưởng Mao Trạch Đông”.

Ngày 5 tháng 8 năm 1966, trong Hội nghị Trung ương lần thứ 11 khóa 8, Mao Trạch Đông dán bài “Nã pháo vào Bộ Tư lệnh - Một bài đại tự báo của tôi”. Các đại biểu tham gia hội nghị đều hốt hoảng lo sợ vì hành động đột ngột này. Đây là sự tỏ rõ thái độ cuối cùng thật quyết liệt. Tâm trạng của mọi người vô cùng nặng nề, tình hình quả thực rất nghiêm trọng. Nhân vật thứ nhất của Trung ương Đảng đã đích thân xuất đầu lộ diện, đã dán đại tự báo công kích nhân vật thứ hai, đây là hiện tượng hiếm thấy từ xưa đến nay trên toàn thế giới. Mặc dù trong bài đại tự báo chưa chỉ đích danh, nhưng hướng mũi nhọn thì đã rất rõ ràng. Một khi Đảng bị chia rẽ thì tiếp theo đó sẽ là vấn đề đứng về phía nào. Hoặc là đi theo Mao Trạch Đông, hoặc là đi theo Lưu Thiếu Kỳ, hai con đường tất phải chọn một.

Khang Sinh đứng trước tờ đại tự báo, thản nhiên nhưng trong lòng ông ta vô cùng đắc ý, của báu đặt cọc của ông ta đã đúng. Ông ta đã nắm được mạch của Mao Trạch Đông, việc ngả ván bài cuối cùng với Lưu Thiếu Kỳ chỉ còn là vấn đề thời gian sớm hay muộn. Đại cách mạng văn hóa là hai lực lượng đối chọi nhau, một mất một còn, có tôi thì không có anh, có anh thì không có tôi. Rốt cuộc thì ra tay với ai, ra tay như thế nào, ra tay vào lúc nào, Khang Sinh có bí quyết riêng của mình mà không thể nói với ai. Ông ta chú ý đến tầng thứ, phân chia đẳng cấp, định ra biện pháp thích hợp cho từng người, từng việc, từng lúc. Đây không chỉ là một môn nghệ thuật, mà cũng là một môn chiến lược học và sách lược học. Ví dụ, đối với bọn phàm phu tục tử nói chung, chỉ cần ngăn cản ông ta cái gì thì ông ta sẵn sàng trở mặt vô tình bất cứ lúc nào, gạt phăng ngay không một chút do dự; đối với những người có địa vị tương đương với ông ta, ông ta sẽ hơi thận trọng một chút, ông ta phải đắn đo lợi hại được mất, khi nắm trong tay đến tám mươi phần trăm thắng lợi thì ông ta mới xuất trận, cho dù có đánh hòa thì đối phương cũng chẳng làm gì được ông ta. Nhưng đối với người có địa vị cao, quyền lực lớn hơn ông ta, thì ông ta rất thận trọng. Có xuất kích hay không, xuất kích lúc nào, xuất kích bằng cách gì, ông ta đều cân nhắc kỹ lưỡng. Khi thắng bại còn khó phân định thì ông ta thường thường ẩn nấp bên trong không tùy tiện lộ mặt, nhằm để lại cho mình con đường phía sau có thể tiến có thể lùi. Sách lược của ông ta là: Trước tiên cổ động người khác xuất trận, đẩy người khác lên tuyến đầu, thông qua việc trinh sát hỏa lực hoặc khéo léo thả một quả khinh khí cầu, thăm dò hướng gió, đợi đến khi đã nắm chắc mười mươi, lúc đó ông ta sẽ xông lên một cách không do dự, mở nước rút, đến trước hái đào!

Cuộc đấu tranh giữa Mao Trạch Đông và Lưu Thiếu Kỳ là điều hiếm thấy trong lịch sử của Đảng. Trước mắt nhân vật thứ nhất đã chủ động xuất kích, xung phong hãm trận, đã đến mức một trận bối thủy (trận đánh không có đường lui). Mặc dù Lưu Thiếu Kỳ có tư cách từng trải, có danh vọng, có thực lực, nhưng xét cho cùng ông không chiếm ưu thế. Trong tình thế nắm chắc phần thắng tuyệt đối, Khang Sinh cảm thấy chẳng cần phải do dự, mà phải dũng cảm tiến tới, xông lên trước giành công đầu.

Ông ta đọc đại tự báo của Mao Trạch Đông, như một con nghiện, hút cho đã vậy, tinh thần phấn chấn, ông ta liền bắn viên đạn của mình: “Đây không chỉ là do Bộ Tư lệnh đã nảy sinh vấn đề trong cuộc đại cách mạng văn hóa này, mà còn là do trong một thời gian khá dài có một đường lối tư sản”. “Từ lâu tôi đã nhận thấy, lúc còn ở công tác ở khu trắng, Lưu Thiếu Kỳ không chủ trương tiến hành đấu tranh vũ trang, không chủ trương thực hiện chiến lược lấy nông thôn bao vây thành thị, mà là đắm đuối với thành thị, trên thực tế là chấp hành chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa kinh tế, từ bỏ nền chính trị của giai cấp vô sản, từ bỏ việc đề cao chính trị của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, từ bỏ vũ trang. Ông ta hoàn toàn không phải là đại biểu của đường lối đúng đắn ở khu trắng”.

“Trong chiến tranh chống Nhật, đúng lúc Mao Chủ tịch kêu gọi quần chúng đánh bại đế quốc, phong kiến xây dựng nước Trung Hoa mới, thì tháng 7 năm 1939, nhằm chống lại tư tưởng cách mạng và đường lối Cách mạng của Mao Chủ tịch, Lưu Thiếu Kỳ đã tung ra “Bàn về sự tu dưỡng của người đảng viên cộng sản” bàn đến triết học phong kiến tu dưỡng ý thức tư tưởng và ăn ở xử thế, muốn cho mọi người xa rời cuộc đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp gay gắt trước mắt, mà đi tu thân dưỡng tính theo chủ nghĩa cá nhân tư sản”.

“Sau chiến tranh chống Nhật thắng lợi, Lưu Thiếu Kỳ sợ chiến tranh, sợ cách mạng, ảo tưởng hòa bình, nên đã đưa ra một giai đoạn mới hoà bình dân chủ”.

“Sau khi giành được chính quyền thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, để chống lại đường lối cách mạng vô sản của Mao Chủ tịch, để chống nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, Lưu Thiếu Kỳ đã phát biểu một loạt bài, ra sức đề cao bóc lột, cổ vũ phát triển chủ nghĩa tư bản đi con đường tư bản chủ nghĩa”.

“Trong thời gian ba năm khó khăn, Lưu Thiếu Kỳ đã phối hợp với cuộc tiến công của kẻ thù giai cấp trong và ngoài nước, ra sức công kích đường lối chung, đại nhảy vọt và công xã nhân dân, dấy lên xu hướng xử lại án, xu hướng làm ăn riêng lẻ”.

“Năm 1964, trong phong trào tiến hành giáo dục xã hội chủ nghĩa ở thành thị và nông thôn, Lưu Thiếu Kỳ đã đề ra đường lối cơ hội bề ngoài là “tả” thực chất là hữu, đối lập với đường lối đúng đắn của Mao Chủ tịch”.

“Trong đại cách mạng văn hóa, Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình lại trấn áp cách mạng, thực hiện khủng bố trắng, đối lập với đường lối đại cách mạng văn hoá vô sản của Mao Chủ tịch”.

Khang Sinh nói lia lịa, giọng điệu gay gắt, biến Lưu Thiếu Kỳ thành kẻ thù vô cùng nguy hiểm và đáng sợ, hình như không đánh đổ ông thì giang sơn xã hội chủ nghĩa đó sẽ bị hủy diệt trong chốc lát, hàng trăm triệu nhân dân lại rơi vào vòng nước sôi lửa bỏng.

Sau khi hội nghị Trung ương kết thúc, với sự cổ vũ của Khang Sinh, tất cả các công cụ tuyên truyền được mở máy, tiến hành một cuộc tuyên truyền tập thể, kịch đầu phố, kịch nói, báo bảng, tranh châm biếm, phát thanh, báo chí, tất cả ra trận. Lưu Thiếu Kỳ đã không phải là người nữa mà là một con ma mặt xanh nanh nhọn đang há miệng uống chậu máu.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #61 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2010, 01:03:55 am »


10. Cấp “giấy chứng nhận đặc biệt” cho đội chiến đấu bắt phản bội

Ngày 18 tháng 8 năm 1966, nhiệt độ ở Bắc Kinh lên tới 34oC, làn sóng nóng của đại cách mạng văn hóa cũng lớp sau cao hơn lớp trước. Lại một kỳ tích làm chấn động thế giới xảy ra. Hàng trăm triệu Hồng vệ binh từ Nam Bắc Trường Giang, hai bờ Hoàng Hà, trong ngoài Trường Thành của Tổ quốc phút chốc đổ về Bắc Kinh. Nhà trọ, khách sạn, chiêu đãi sở, các phòng học của các trường đại học, trung học, tiểu học, cơ quan, cung thể dục, kho tàng... đều chật ních, đó là các vị khách do Mao Trạch Đông mời đến, chuẩn bị một cuộc duyệt lực lượng chưa từng có trong lịch sử.

Sáng sớm hôm ấy, Hồng vệ binh từ khắp các nơi đổ về đại lộ Trường An Đông và Trường An Tây. Quảng trường Thiên An Môn cờ đỏ bay phấp phới, núi người biển người, Mao Trạch Đông đeo băng Hồng vệ binh, mặc bộ quân phục màu cỏ úa, bước lên lễ đài Thiên an Môn.

Lúc này, Khang Sinh cũng đứng trên lầu thành Thiên An Môn. Ông ta từ trên cao nhìn xuống, một biển người mênh mông, cảm khái muôn phần. Ông ta hình như đang đứng giữa trung tâm của Trung Quốc rộng mênh mông, mấy triệu con người đang uốn lượn thét gào dưới chân ông ta. Giữa trời đất, ông ta thực sự cảm thấy mình là một vĩ nhân của thế giới. Vô tình ông ta nhìn thấy Lưu Thiếu Kỳ đang đứng cách ông ta không xa. Lập tức, nỗi tức giận từ trong lòng trào lên. Mi có tư cách gì để bước lên Thiên An Môn? Mi phải đóng cửa mà ngẫm nghĩ tội lỗi. Mi bệ vệ bước lên Thiên An Môn, đây là sự ra oai, để cho những người không rõ chân tướng biết rằng Lưu Thiếu Kỳ chưa bị đổ, vẫn là người lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Sự hành xử quyền lực như thế của mi chính là để tỏ rõ quyền lực, tỏ rõ quyền lực chính là củng cố quyền lực. Mi còn muốn giãy giụa đến cùng. Nghĩ đến đây, ông ta không kìm nổi mình nữa: Không cho mi biết mặt thì mi sẽ không biết sự lợi hại của Khang Sinh ta. Phải đổ dầu vào lửa, bắn cho hắn ta một phát nữa. Ra tay thế nào đây? Tiếng hô khẩu hiệu trên Quảng trường không ngắt nổi dòng suy nghĩ của ông ta.

Ông ta nhíu mày, nghĩ kế. Chợt ông ta nhìn thấy đại biểu Hồng vệ binh của Đại học Nam Khai, cũng đứng trên lễ đài tham gia duyệt, ông ta nhanh trí: hay lắm, lực lượng này có thể lợi dụng được. Ông ta đi vào phòng nghỉ phía sau lưng, lấy bút máy, viết vào một mảnh giấy: Các đồng chí cần nhanh chóng rà soát lại những kẻ “phản bội” ở các đơn vị, các ngành.

Những tên cầm đầu Hồng vệ binh ở Đại học Nam Khai vô cùng sung sướng. Họ nhảy chân sáo. Được trực tiếp nhận chỉ thị của cố vấn Tổ cách mạng văn hóa Trung ương Khang Sinh quả là vinh hạnh vô cùng, coi như lên trời. Họ coi như thánh chỉ, lập tức triệu tập hội nghị khẩn cấp, nghiên cứu việc thực hiện chỉ thị của Khang Sinh như thế nào. Họ tranh thủ từng phút từng giây, ngày đêm phấn đấu, rất nhanh chóng tổ chức được một “đội chiến đấu bắt phản bội” khoảng bảy tám chục người. Nhưng khẩu thiệt vô bằng, lại sợ các đơn vị khác không chịu phục tùng, thế là họ lập tức đem chỉ thị của Khang Sinh in hàng loạt, phát cho mỗi thành viên trong đội.

Các đội viên của “đội chiến đấu bắt phản bội” này như cáo mượn oai hổ tay cầm chỉ thị của Khang Sinh làm “Giấy chứng nhận đặc biệt” xông bừa đến các đơn vị lục soát, đọc và sao chép hồ sơ lưu trữ, tuyên bố xóa bỏ chế độ bảo mật mà Nhà nước quy định trước đây.

Quả nhiên, Hồng vệ binh đã kiếm được tài liệu của Tập đoàn phản bội gồm 61 người đem trình tận tay Khang Sinh. Ông ta vui mừng khôn xiết, cẩm nang diệu kế do mình đặt ra đã được các tiểu tướng Hồng vệ binh thực hiện từng việc một. Chiều hôm ấy, ông ta tiếp các tiểu tướng đã xung phong hãm trận tại Phòng họp nhỏ trong Đại lễ đường Nhân dân. “Các đồng chí đã lập công lớn”. Khang Sinh giống như một người anh cả được mọi người tôn trọng vỗ vai các tiểu tướng, cười khà khà: “Đây là một tập đoàn phản bội lớn, đều là những quả bom hẹn giờ chôn giấu trong Đảng. Lôi họ ra, mới chỉ là bắt đầu, còn phải tiếp tục cố gắng”. Các tiểu tướng Hồng vệ binh nhìn nét mặt thần bí khó lường của Khang Sinh với vẻ chưa hiểu rõ lắm: “Còn ai chưa lôi ra?”

Có tài liệu này, Khang Sinh vẫn thấy chưa đủ. Bọn ở Thành ủy Bắc Kinh cũ, vẫn chưa đào sâu, chỉ vẻn vẹn ở sai lầm đường lối, còn chưa đủ để làm cho những người này mãi mãi không ngóc đầu lên được, sai lầm đường lối, có tính co dãn quá lớn, chỉ có cái vành kim cô phản bội, mới quét sạch thế lực của Lưu Thiếu Kỳ trong một mẻ lưới, đánh chìm chúng xuống 18 tầng địa ngục mãi mãi. Bộ phận Hông vệ binh nào thích hợp nhất đây? ông ta vắt óc suy nghĩ: “Ồ!” Ông ta chợt nghĩ ra: “Gần kề trước mắt mà!”.

Ông ta đi đến bàn làm việc cầm lấy bút viết “soàn soạt” lên một tờ giấy, lập tức tờ giấy được đưa tới Nhiếp Nguyên Tử với tính chất của “một văn kiện khẩn”. Nhiếp Nguyên Tử nghe thấy người của Văn phòng Khang Sinh đưa thư, đâu dám chậm chễ, mở thư ra xem, đúng là nét bút của Khang Sinh: “Đội chiến đấu Vệ Đông Đại học Nam Khai, Thiên Tân đã tổ chức một đoàn điều tra Lưu Nhân v.v... Theo kết quả điều tra sơ bộ, thấy nội bộ Thành ủy Bắc Kinh cũ đã ẩn náu rất nhiều kẻ phản bội, tôi muốn Tân Bắc Đại (“Đại học Bắc Kinh mới”, đề từ của Mao Trạch Đông sau sự kiện Nhiếp Nguyên Tử v. v... dán đại tự báo - N.D) cũng nên tổ chức điều tra một cách hệ thống những tài liệu cụ thể về lũ phản động lén lút Bành Chân, Lưu Nhân…”

Nhiếp Nguyên Tử cầm thư hỏa tốc làm thẻ lệnh, nhanh chóng họp hội nghị khẩn cấp, quyết định tổ chức đội chiến đấu thứ hai, lại gọi là “Binh đoàn bắt kẻ phản bội”, chuyên điều tra nghiên cứu vấn đề của những kẻ phản bội. Họ quy định kỷ luật nghiêm khắc, tất cả mọi hành động phải tuyệt đối bí mật. Sau đó, Nhiếp Nguyên Tử báo cáo kế hoạch hành động này lên Khang Sinh. Khang Sinh nhận được báo cáo rất vui mừng: “Các đồng chí làm tốt lắm!” Ông ta khen miệng: “Bây giờ sẽ phải điều động thiên binh vạn mã, nở hoa toàn diện, tám mặt xuất kích, làm cho chúng rơi vào trong vòng vây trùng điệp”.

Được Khang Sinh biểu dương, tinh thần của đội chiến đấu càng lên. Họ bắt kẻ phản bội, bắt đến đỏ cả mắt, chỗ nào cũng là kẻ phản bội. Nhưng họ đã nắm được ý đồ của Khang Sinh, đối với vấn đề lịch sử của cán bộ nói chung và cán bộ trung cấp, họ không thèm để ý, quá nhỏ. Phương hướng chủ công của họ là Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình, Diệp Kiếm Anh, còn có 300 chính trị phạm được cứu ra khỏi nhà tù sau khi Quốc Cộng hợp tác năm 1937.

Trận đánh giải quyết tận gốc đã thắng, cái mũ cầm đầu tập đoàn phản bội tất nhiên là sẽ đội lên đầu Lưu Thiếu Kỳ. Từ đó, tập đoàn Lưu Thiếu Kỳ sụp đổ hoàn toàn, mãi mãi không thể ngóc đầu lên được.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #62 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2010, 01:04:28 am »


11. Lễ hậu biếu Lâm Bưu

Trong cuộc nổi loạn cách mạng văn hóa này, Mao Trạch Đông, đã chơi ván bài cuối cùng với Lưu Thiếu Kỳ, tình hình cả nước căng thẳng khác thường, Khang Sinh ý thức được rằng thời cơ của “thần tiên đánh trận” đã đến, nhưng ông ta một “thằng nhãi” quyết không thể vì việc đó mà để gặp phải tai ương, cần phải nắm quyền từ loạn, ai mạnh thì theo người ấy, tục ngữ có câu “có sữa là có mẹ” mà. Khang Sinh thấy rõ quyền lực của Lâm Bưu trong quân đội đang lên, “Lưu Thiếu Kỳ sụp đổ, cái ghế thứ hai đến chín phần mười là thuộc về Lâm Bưu”, thế là ông ta đã nghĩ ra mưu kế có đi có lại, Lâm Bưu đã từng kích động Trung Quốc có người làm chính biến, Khang Sinh nắm chặt lấy cơ hội lập công này, bắt bóng bắt gió, một lòng giúp Lâm Bưu gạt bỏ Hạ Long “mối hoạ từ bên trong”. Từ tài liệu “Binh biến tháng Hai”, ông ta viết một loạt bài, sẩm tối ngày 27 tháng 7, tin đồn “Bành Chân mưu tính làm chính biến” truyền đến Đại học Sư phạm Bắc Kinh, lập tức tin này bùng nổ trong cả nước, phút chốc gươm giáo sáng loà, gió mây cuồn cuộn, cứ như là tòa nhà xã hội chủ nghĩa sắp sụp đổ đến nơi. Khang Sinh nắm chắc “sự thật” về “binh biến” thậm chí thời gian “binh biến”, địa điểm và việc bố trí cụ thể đều đã điều tra “hai năm rõ mười” làm cho bài nói “ngày 18 tháng 5” vừa ăn cướp vừa la làng, của Lâm Bưu đã đúng với thực tế. “Binh biến tháng Hai” trên giấy, biến thành cái cớ của Khang Sinh và qua sự kích động của ông ta, đã làm cho hàng ngàn hàng vạn người tin là thật. Trò này của ông ta đã làm cho Lâm Bưu vui lòng. “Người hiểu ta là Khang Sinh vậy”, Lâm Bưu ngầm vui trong dạ.

Chiều hôm sau, sau khi nói chuyện ở Đại học Sư phạm Bắc Kinh, sau khi nghỉ trưa, Khang Sinh vừa ngồi bên cạnh bàn làm việc xem văn kiện, thì chuông điện thoại reo, ông ta cầm ống nghe hỏi: “Ai?”, “Tôi là Diệp Quần”, đối phương đáp, “Ồ!” Giọng của Khang Sinh lập tức dịu ngay xuống, “có việc gì không?” “Anh Khang!” Diệp Quần cười: “Tối qua anh ở Đại học Sư phạm Bắc Kinh đã làm sáng tỏ vấn đề “Binh biến tháng Hai”, và đã tuyên bố với quần chúng, Lâm Phó chủ tịch rất vui, anh ấy bảo tôi hỏi thăm anh”. “Đây cũng là làm theo chỉ thị của Lâm Phó chủ tịch” Khang Sinh khiêm tốn nói.

Trên thực tế, sự kiện “Binh biến tháng Hai” ầm ĩ cả Bắc Kinh là do Khang Sinh đích thân tạo ra. Vụ án oan giật gân chấn động cả Trung Quốc là một âm mưu lớn đã được Khang Sinh suy tính chuẩn bị. Bành Chân, La Thụy Khanh, Lục Định Nhất, Dương Thượng Côn lần lượt bị đánh đổ, Hạ Long không một chút đề phòng cũng bị vu cáo hãm hại, trong tình hình không qua bất cứ thủ tục phê chuẩn nào, đường đường một ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương, Phó Thủ tướng Quốc vụ viện kiêm Chủ nhiệm ủy ban Thể dục quốc gia mà bị bắt vào ngục, thân bị tù đày rơi vào cảnh tuyệt vọng kêu trời không thấu gọi đất không hay, nhanh chóng bị đày đọa đến chết trong tù. Lâm Bưu đã thanh trừ được trở lực trong quân đội, còn nhân vật bàn tay sắt khống chế cơ cấu quyền lực cao nhất tổ chuyên án Trung ương Khang Sinh đã cho “nổ trái bom nghìn bảng” trên người Hạ Long. Ông ta đã sớm thấy rõ ràng báo cáo chân tướng sự thật về việc mượn Đại học Bắc Kinh, Đại học Nhân dân làm nơi đóng quân của khu Vệ Thú Bắc Kinh đề ngày 29 tháng 7, nhưng lại ngang nhiên hãm hại và vu cáo cho đến khi Hạ Long lâm vào chỗ chết. Khang Sinh xứng đáng là tên đại gian đắc chí trong cách mạng văn hóa. Ông ta tùy tiện bịa đặt ra những án kiện lớn ly kỳ quái đản, gặp thời tiết thích hợp, ông ta liền đăng đàn làm mưa làm gió, ăn không nói có, dựng nên những cái án oan khủng khiếp.

Sau khi Hạ Long hàm oan chết, Khang Sinh đầu tư thêm vào con người Lâm Bưu. Ông ta thấy quyền lực của Lâm Bưu ngày càng lớn, địa vị càng ngày càng cao, nên lại nghĩ ra chủ kiến lấy lòng Lâm Bưu. Ông ta dặn dò những người tâm phúc trong Trường Đảng Trung ương, in ra hàng mấy vạn cuốn “Lâm Bưu văn tập” bìa cứng in nhũ có quy cách cao, đồng thời cung kính mang sách mẫu đến tặng Lâm Bưu, cướp công đòi thưởng, khiến Lâm Bưu cảm thấy mình có một mưu sĩ tài ba túc trí đa mưu hiếm có. Nhưng xét cho cùng Khang Sinh là một thương nhân đầu cơ siêu đẳng trên chính trường, xảo quyệt tột đỉnh, văn tập đã in ra, nhưng không phát xuống dưới. Ông ta chuẩn bị cả hai tay, để lại đường rút lui cho mình, vì ông ta biết, cổ kim trong ngoài, người có uy quyền cái thế thường thường đều có kết cục là tấn bi kịch. Quả nhiên, sự suy tính kỹ càng của Khang Sinh đã ứng nghiệm. “Ngày 13 tháng 9” năm 1971, Lâm Bưu đánh cắp máy bay chạy trốn đã bị rơi xuống Ôn-đô-han (Ôn Đô Nhĩ Han) nước Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ chết mất mạng. Khang Sinh sợ toát mồ hôi, ông ta lập tức hạ lệnh đem mấy vạn quyển sách “Lâm Bưu văn tập” mà thần không hay quỷ không biết cho vào máy nghiền bột giấy, xóa hết dấu tích. Đủ thấy kẻ có âm mưu lớn Khang Sinh hoàn toàn là một tên can phạm quen đầu cơ, ông ta chỉ biết làm xằng làm bậy, giở âm mưu chính trị, đổi trắng thay đen, lẫn lộn phải trái, khi chân tướng bại lộ thì ông ta ngồi im, mai danh ẩn tích.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #63 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2010, 01:05:40 am »


12. “Đại ân nhân” của Giang Thanh

Suốt cuộc đời đầu cơ chính trị của Khang Sinh, do âm mưu của ông ta biến đổi khôn lường nên chưa bao giờ có một bọn sống chết theo nhau, nếu đem so sánh thì thời gian hợp tác của ông ta với Giang Thanh là lâu nhất. Trước tiên là giới thiệu Giang Thanh vào “Long Môn”, tiếp đó là việc thẩm tra cán bộ trong phong trào chỉnh phong ở Diên An, đã bao che lịch sử bị bắt của Giang Thanh, bảo vệ xa giá cho Giang Thanh qua cửa ải. Về sau lại bày mưu tính kế để Hạ Tử Trân từ Liên Xô về lìa bỏ Mao Trạch Đông mãi mãi, một lần nữa lại bảo vệ được xa giá của Giang Thanh. Trong cách mạng văn hóa, sau khi đánh đổ Lưu Thiếu Kỳ, Khang Sinh lại làm cho Giang Thanh chú ý đến Vương Quang Mỹ, người mà Giang Thanh cực kỳ ghen ghét, gán tội “đặc vụ” cho Vương Quang Mỹ, thay Giang Thanh bắn một “mũi tên phục thù”. Tất cả đều làm cho Giang Thanh rất vui lòng. Sự cảm kích của Giang Thanh chẳng phải nói, bà ta đã tôn xưng Khang Sinh là “người tài giỏi”, là “đại ân nhân”, thường xuyên thông báo tin tức cho Khang Sinh, hoặc đứng bên cạnh ca ngợi.

Sau sự kiện “13 tháng 9” năm 1971, Tập đoàn Lâm Bưu sụp đổ hoàn toàn, Khang Sinh giống như một con bạc bị thua cháy túi. Sau khi ông ta bị một đòn đau như vậy nên đã bị ốm nặng. Bản thân không thể tự ra tay, đành phải đặt cọc cả vào Giang Thanh, đem hết sức lực bảo vệ “Nữ hoàng” cố làm hết chức trách “cố vấn”, tìm một chỗ dựa mới.

Khang Sinh, một đời điêu toa, quỷ kế đa đoan, ông ta đánh bạc bao giờ cũng đặt hai nơi, hơn nữa còn đặt ở chỗ chắc ăn nhất.

Năm 1967, Khang Sinh cho rằng “tay chân” ở địa phương của Lưu Thiếu Kỳ đã giải quyết tương đối rồi nên ông ta nghĩ ra một cách mới, lo lắng trong quân đội vẫn còn “cặn bã rác rười” của Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình, thế là ông ta đưa trình Lâm Bưu một báo cáo “Bắt một nhóm người trong quân đội”.

Mao Trạch Đông về đến Bắc Kinh, nghe được tin các nơi bao vây tấn công quân đội, cảm thấy tình thế nghiêm trọng “làm loạn quân đội có nghĩa là giải quyết tận gốc”. Ông tức giận mắng Lâm Bưu, Khang Sinh và đồng bọn làm loạn quân đội để cướp quyền. Lấy bút viết: “Đây là “cỏ độc”, “Trả lại ta Trường Thành”. Đây đúng như tiếng sét ngang tai, Khang Sinh sợ cuống cuồng, hồn xiêu phách lạc. Sau đó Khang Sinh lại nghĩ ra kế “Kim thiền thoát xác” tìm kẻ chết thay. Gạt bỏ tay chân đắc lực của họ không tiếc tay, hãm hại tay chân và những người tài giỏi, tống giam Vương Lực, Quan Phong, Thích Bản Vũ. Sau đó, Khang Sinh lo sợ chuyện sau rèm bại lộ, lại bày mưu bức hại tàn khốc người bạn của Vương Lực và Quan Phong là Lý Quảng Văn, Chủ nhiệm Văn Phòng của tổ tuyên truyền thuộc Tổ cách mạng văn hóa Trung ương.

Khang Sinh chỉnh người có thể không cần bất cứ một sự thật và chứng cứ nào. Khang Sinh bắt kẻ “phản bội” như là ma. Một hôm, có người nhắc ông ta: Khi Thịnh Thế Tài làm Thái thượng hoàng ở Tân Cương, vào năm 1942 đã bắt một loạt cán bộ của Đảng Cộng sản.

Đầu năm 1967, Khang Sinh liền hạ lệnh nhất loạt thành lập tổ chuyên án điều tra đối với những nhân viên được phóng thích từ nhà tù Tân Cương năm 1946, đồng thời chỉ rõ: “Đây là một tập đoàn phản bội ẩn náu trong Đảng ta, hành vi phản bội theo địch của họ là rõ mồn một, nhưng họ lại giấu Đảng một cách có tổ chức có kế hoạch”.

Tổ chuyên án theo lệnh của Khang Sinh, trong kiểm tra ngoài xét hỏi triển khai thẩm vấn ầm ĩ, nhưng họ đã vấp phải sự chống đối ngoan cường. Có người kiên trì nguyên tắc, hoàn toàn không thừa nhận mình là kẻ phản bội. Khang Sinh nổi giận với các nhân viên tổ chuyên án, gân xanh trên cổ chằng chịt: “Chẳng lẽ đối xử với bọn phản bội này như thế nào cũng phải đợi tôi dạy các anh à? Đầu óc các anh là bã đậu hay sao?”

Nhân viên tổ chuyên án sợ chết khiếp như mơ như tỉnh, Khang Sinh nói vậy có nghĩa là ngầm bảo họ có thể dùng nhục hình. Thế là, trong 90 người, có 26 người bị đày đọa đến chết, có người may mắn sống sót thì phải ngồi tù 8 năm. Cho mãi đến năm 1975, án này được Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai hỏi đến mới được sửa lại kết luận sai.

Năm 1968, đại cách mạng văn hóa tiến hành được hơn hai năm, nội chiến toàn diện, sục sôi hừng hực.

Sử dụng gậy gộc đánh giáp lá cà “đã không thể giải được hận trong lòng”. Thế là Giang Thanh mời Khang Sinh người đa mưu túc kế đến, trực tiếp bàn vấn đề các ủy viên Trung ương khóa 8. Khang Sinh hiểu hết mọi ý, suốt đêm cân nhắc, đến ngày 21 tháng 7, đã đích thân sắp xếp một danh sách những ủy viên Trung ương chính thức và dự khuyết khoá 8 có “vấn đề chính trị”. Trong danh sách, ông ta xác định thành “phản bội”, “đặc vụ”, “thông đồng với nước ngoài” và “có vấn đề chính trị” chiếm 72% tổng số.

Những cái mũ đáng sợ này, như vòng kim cô, chụp lên đầu những ủy viên Trung ương, ủy viên dự khuyết Trung ương, ủy viên ủy ban kiểm tra Trung ương, ủy viên thường vụ đại hội đại biểu nhân dân và Hội nghị chính trị hiệp thương toàn quốc, làm cho họ không cựa quậy gì được. Cái trò giải quyết tận gốc này, làm cho bộ máy của Đảng và Nhà nước tan nát, từ đó đã dọn sạch đường cho chúng thay đổi chế độ một cách triệt để.

Sau khi Khang Sinh và Giang Thanh vét sạch trong một mẻ lưới những người trụ cột của đất nước và những người tài giỏi của dân tộc thì họ lại ra tay với quần chúng.

Ngày 4 tháng 2 năm 1968, tại Đại lễ đường nhân dân, Khang Sinh và Giang Thanh sau khi nghe báo cáo của tổ cốt cán thuộc ủy ban cách mạng văn hóa Nội Mông đã chỉ thị: ““Đảng Nội nhân” (Đảng của người Nội Mông - N.D) đến nay vẫn còn hoạt động bí mật. Khi bắt đầu, diện bắt có thể rộng một chút. Không nên sợ, phải hạ quyết tâm tiếp tục lôi ra, phải bắt tới cùng không thể nương nhẹ!”

“Đảng Nội nhân” là do Khang Sinh dựng nên. Theo gợi ý của Khang Sinh, một cơn gió đen bắt “Đảng Nội nhân” đã thổi dữ dội trên bầu trời thảo nguyên Nội Mông. Hàng ngàn hàng vạn người vô tội trở thành những người bị hại trong vụ án oan này.

Trong vụ án “Đảng Nội nhân” do Khang Sinh bịa ra, đảng viên, cán bộ và quần chúng bị bức hại tới con số hàng ngàn hàng vạn người. Hàng ngàn người bị đánh tàn phế, có đến hơn 16.200 người bị đày đoạ đến chết.

Khang Sinh như một tên quan toà trước mặt Diêm Vương, một tay cầm cuốn “sổ sinh tử”, bất luận là ai, chỉ cần có tên trong sổ thì đừng hòng thoát chết. Trong đại cách mạng văn hóa, bị ông ta trực tiếp chỉ đích danh có 839 người.

Ông ta điểm tên ai thì không cần chứng cứ gì cả. Chỉ cần tình hình chính trị yêu cầu, ông ta có thể bắt bóng bắt gió, đẩy người ta vào chỗ chết. Vào lúc trước khi “cách mạng văn hóa” nổ ra, ông ta đã “phát hiện” ra “chỗ hiểm” của “Hải Thụy bãi quan” “tố cáo” “bí mật” của “Đề cương tháng Hai”, đồng thời “chỉ huy” việc nặn ra bài đại tự báo đầu tiên. Khang Sinh coi ba nước cờ của mình là ba tuyệt chiêu, đủ thấy tuyệt chiêu của ông ta trước hết là hại người, sau là đến đòi công, dựa vào ba tuyệt chiêu này, ông ta đã leo lên ngôi báu tày trời cố vấn Tổ cách mạng văn hóa Trung ương một cách thuận lợi.

Trong việc tạo ra vụ án oan đặc biệt lớn, vụ án bức hại Lưu Thiếu Kỳ trong lịch sử của Đảng, Khang Sinh cũng có vai trò đặc biệt. Để vu cáo hãm hại Lưu Thiếu Kỳ, Khang Sinh đã hư cấu ra cái gọi là “Đường lối phản động tư sản”, vu cáo Lưu Thiếu Kỳ đã “chống lại đường lối đúng đắn của Mao Chủ tịch”, gắn “vụ án tập đoàn phản bội 61 người” và “vụ án tập đoàn phản bội Tân Cương” với Lưu Thiếu Kỳ, chụp cho Lưu Thiếu Kỳ bốn cái mũ “phản bội”, “nội gian”, “công tặc” và “đặc vụ” v.v… Ông ta cùng Giang Thanh, Tạ Phú Trị chỉ huy “Tổ chuyên án Lưu Thiếu Kỳ Vương Quang Mỹ” thực hiện nhục hình bức cung, tạo ra chứng cứ giả, cố tình vu cáo Lưu Thiếu Kỳ, Vương Quang Mỹ là “phản cách mạng” v.v... Đã chà đạp về tinh thần, giày vò về thể xác một cách tàn nhẫn nhất, điên cuồng nhất đối với Lưu Thiếu Kỳ. Chúng khám xét nhà của Lưu Thiếu Kỳ, khi phê phán và đấu tố túm tóc Lưu Thiếu Kỳ, cưỡng bức ông ngẩng đầu để chụp ảnh. Giữa thanh thiên bạch nhật, đánh Chủ tịch nước đến mặt mày thâm tím sưng húp, lưng và tay thành tàn tật, cuối cùng đã áp giải Lưu Thiếu Kỳ trong khi có thể xảy ra chết đột ngột bất kỳ lúc nào về Khai Phong, đày đọa cho đến lúc chết.

Khang Sinh với tư cách là một “quân sư quạt mo” của tập đoàn phản cách mạng Lâm Bưu, Giang Thanh đã phạm những tội ác trong cách mạng văn hóa khiến người ta phải sởn gai ốc. Mỗi một vụ án lịch sử quan trọng, mỗi một vụ vu cáo hãm hại và tấn công những nhà cách mạng cũ thì hầu như không vụ nào không có bàn tay của Khang Sinh, thậm chí ông ta là kẻ “chủ mưu” ở vị trí nòng cốt. Ngay lúc còn hơn hai tháng nữa thì chết, ông ta đã nhân cơ hội Đặng Tiểu Bình rời Bắc Kinh, đột ngột tiến công về tinh thần, đích thân xuất trận, ôm bệnh đến chỗ Mao Trạch Đông để gièm pha nói xấu Đặng Tiểu Bình, nói Đặng Tiểu Bình “muốn xử lại án đại cách mạng văn hóa” thật đúng là “chó đen giữ mực”. Sau đó, Giang Thanh và đồng bọn với sự bày mưu tính kế sau rèm của Khang Sinh đang như “ngọn nến trước gió”, nhanh chóng dấy lên làn sóng tội ác “Phê Đặng, chống lại xu hướng xử lại án hữu khuynh” lan tràn khắp đất nước. “Bọn bốn tên” “lập tức từ thế thủ chuyển sang thế công”. Trung quốc vừa mới có một chút sức sống lại rơi vào trong sự hỗn loạn cực độ.

Khang Sinh nằm trên giường bệnh, sắp sửa về Tây Thiên, “Trải qua cuộc liều cái mạng già lần cuối cùng “bọn bốn tên” lại dần dần chiếm ưu thế, nhưng ông ta lại không thể tận mắt nhìn thấy, mối họa từ bên trong là Chu Ân Lai và Đặng Tiểu Bình v.v... “sụp đổ”... Ngày 16 tháng 12 năm 1975, với tâm trạng nửa thỏa mãn, nửa hối tiếc không cam chịu ông ta vào cõi hoàng tuyền.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #64 vào lúc: 30 Tháng Ba, 2010, 09:33:06 pm »


2
“Máy thăm dò” sau ba mươi năm cầm “Thượng phương bảo kiếm”
Người nốí nghiệp được ghi vào Điều lệ Đảng chuyện chưa từng có xưa nay


1. Sau ba mươi năm đợi thời cơ trở lại

Dựa vào “đại phê phán” để mở đường, dựa vào những “vở kịch mẫu” để làm vốn, Giang Thanh một tay nắm Tổ cách mạng văn hóa Trung ương, một tay thao túng Tổ chuyên án Trung ương, trên vũ đài chính trị Trung Quốc đã lộ rõ mồn một, không còn bị mây mù che khuất nữa.

Cái “máy thăm dò” Giang Thanh, thực sự cần phải “trở về để báo cáo”, Giang Thanh cầm “Thượng phương bảo kiếm” thì Giang Thanh không còn là một Giang Thanh đơn giản nữa.

Cùng với việc Đào Chú bị đánh đổ vào tháng 1 năm 1967, Ban Bí thư Trung ương Đảng rơi vào tình trạng tê liệt, Tổ cách mạng văn hóa Trung ương lập tức thế chân. Tháng 2 năm 1967, cái gọi là “Dòng nước ngược tháng Hai” bị phê phán, Diệp Kiếm Anh, Trần Nghị, Đàm Chấn Lâm, Lý Phú Xuân, Lý Tiên Niệm, Từ Hướng Tiền, Nhiếp Vinh Trăn “đứng bên lề”, họ đều là ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng. Bảy ủy viên Bộ Chính trị này “đứng bên lề”, Bộ Chính trị cũng rơi vào tình trạng tê liệt. Tổ cách mạng văn hóa Trung ương cũng từng bước thay thế Bộ Chính trị!

Vào thời kỳ đầu của cách mạng văn hóa, các văn kiện Trung ương phần lớn đều ký tên của Trung ương Đảng và Quốc vụ viện để đưa xuống cấp dưới. Ngày 11 tháng 1 năm 1967, Trung ương gửi điện mừng tới các đoàn thể tạo phản cách mạng ở thành phố Thượng Hải, là do “Trung ương Đảng, Quốc vụ viện, Quân ủy Trung ương, Tổ cách mạng văn hóa Trung ương cùng ký tên”. Thế là, Tổ cách mạng văn hóa Trung ương cũng được xếp ngang hàng với Trung ương Đảng, Quốc vụ viện và Quân ủy Trung ương. Từ đó về sau, rất nhiều văn kiện Trung ương đều ký tên theo cách ký ngang hàng cả bốn cơ quan lãnh đạo. Sự bành trướng quyền lực của Tổ cách mạng văn hóa Trung ương, có nghĩa là sự bành trướng quyền lực của Giang Thanh. Bà ta là Tổ phó Tổ cách mạng văn hóa Trung ương. Nhưng trên thực tế, trong Tổ cách mạng văn hóa Trung ương, bà ta nói gì thì coi như là kết luận, Tổ trưởng Trần Bá Đạt cũng không thể không theo lệnh bà ta. Ngoài ra, cùng với những làn sóng cách mạng văn hóa liên tục tẩy rửa, các thành viên trong Tổ cách mạng văn hóa Trung ương cũng bị “tẩy” đi không ít. Đến tháng 8 năm 1967, Vương Lực, Quan Phong bị đổ, đầu năm 1968, Thích Bản Vũ bị bắt, quyền lực của Tổ cách mạng văn hóa Trung ương càng tập trung vào tay Giang Thanh.

Tháng 10 năm 1968, vào khoảng trước và sau Hội nghị toàn thể Ban chấp hành Trung ương lần thứ 12 khóa 8, Tổ cách mạng văn hóa Trung ương mở rộng thành “Cuộc hội ý của Tổ cách mạng văn hóa Trung ương”. Cuộc hội ý này, ngoài năm thành viên của Tổ cách mạng văn hóa Trung ương là Trần Bá Đạt, Khang Sinh, Giang Thanh, Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên ra có Chu Ân Lai, Tạ Phú Trị, Hoàng Vĩnh Thắng, Ngô Pháp Hiến, Diệp Quần, Uông Đông Hưng, Ôn Ngọc Thành, gồm 12 người. Cuộc hội ý của Tổ cách mạng văn hóa Trung ương do Chu Ân Lai chủ trì. Trong điều kiện vô cùng khó khăn, ông làm việc trong sự bao vây của bọn theo phái “tả”. “Cuộc hội ý của Tổ cách mạng văn hóa Trung ương”, trên thực tế là chủ trì công việc hằng ngày của Trung ương Đảng.

Báo chí Trung Quốc rất chú trọng đến việc xếp thứ tự tên người. Đọc kỹ lại báo chí trong thời gian cách mạng văn hóa, từ thứ tự xếp tên trên các báo có thể vẽ lên một lịch trình từng bước thăng tiến về địa vị chính trị của Giang Thanh trong cách mạng văn hóa.

Mới đầu, ngày 19 tháng 8 năm 1966 “Nhân dân nhật báo” đăng tin của (Tân Hoa xã) “Mao Chủ tịch cùng hàng triệu quần chúng chúc mừng đại cách mạng văn hóa” có thể thấy, vị trí của Giang Thanh sau khi Hội nghị Trung ương lần thứ 12 khóa 8 vừa kết thúc xếp thứ 24. Bản tin ấy đã xếp thứ tự như sau: “Mao Chủ tịch, Lâm Bưu, Chu Ân Lai, Đào Chú, Đặng Tiểu Bình, Khang Sinh, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Đức, Lý Phú Xuân, Trần Vân, Đổng Tất Vũ, Trần Nghị, Hạ Long, Lý Tiên Niệm, Đàm Chấn Lâm, Từ Hướng Tiền, Diệp Kiếm Anh, Bạc Nhất Ba, Lý Tuyết Phong, Tạ Phú Trị, Lưu Ninh Nhất, Tiêu Hoa, Dương Thành Vũ, Giang Thanh...”.

Nói thực ra, trong số bao nhiêu vị nguyên soái, bao nhiêu nhà cách mạng cũ, Giang Thanh chen được vào vị trí 24 đã có thể coi là không dễ dàng rồi. Hơn một năm sau, ngày 2 tháng 10 năm 1967, trong bản tin “Mao Chủ tịch cùng 50 vạn quân dân thủ đô chung vui ngày Quốc khánh” đăng trên “Nhân dân nhật báo”, vị trí của Giang Thanh đã tăng lên vị trí thứ 17.

“Mao Chủ tịch, Lâm Phó Chủ tịch, Chu Ân Lai, Trần Bá Đạt, Khang Sinh, Chu Đức, Lý Phú Xuân, Trần Vân, Tống Khánh Linh, Đổng Tất Vũ, Trần Nghị, Lý Tiên Niệm, Từ Hướng Tiền, Nhiếp Vinh Trăn, Diệp Kiếm Anh, Tạ Phú Trị, Giang Thanh...”.

Đến ngày 2 tháng 5 năm 1968, trong bản tin “Mao Chủ tịch, Lâm Phó Chủ tịch cùng 50 vạn quân dân thủ đô chung vui ngày Quốc tế Lao động 1-5” đăng trên “Nhân dân nhật báo”, Giang Thanh nhanh chóng leo lên vị trí thứ 9:

“Mao Chủ tịch, Lâm Phó Chủ tịch, Chu Ân Lai, Trần Bá Đạt, Khang Sinh, Chu Đức, Lý Phú Xuân, Trần Vân, Giang Thanh...”

Sau Giang Thanh là: Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên, Đổng Tất Vũ, Trần Nghị, Lưu Bá Thừa, Lý Tiên Niệm, Từ Hướng Tiền, Nhiếp Vinh Trăn, Diệp Kiếm Anh...”. Điều này chứng tỏ rõ ràng rằng, các quý vị mới của Tổ cách mạng văn hóa Trung ương đã vượt lên trên các vị tướng soái.

Ngày 2 tháng 10 năm 1968, trong bản tin “Mao Chủ tịch cùng đại biểu công nhân cả nước và quân dân thủ đô mừng Quốc khánh” đăng trên “Nhân dân nhật báo”, địa vị của Giang Thanh nổi bật, nháy mắt nhảy lên vị trí thứ 5.

Trên thông báo Hội nghị viết như thế này:

Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng:

Mao Trạch Đông, Lâm Bưu

(Dưới đây sắp xếp thứ tự theo nét bút)

Diệp Quần, Diệp Kiếm Anh, Lưu Bá Thừa, Giang Thanh, Chu Đức, Hứa Thế Hữu, Trần Bá Đạt, Trần Tích Liên, Lý Tiên Niệm, Lý Tác Bằng, Ngô Pháp Hiến, Trương Xuân Kiều, Khâu Hội Tác, Chu Ân Lai, Diêu Văn Nguyên, Khang Sinh, Hoàng Vĩnh Thắng, Đổng Tất Vũ, Tạ Phú Trị.


Tuy theo “tính số nét bút để sắp xếp”, nhằm né tránh thứ tự đích thực của các ủy viên Bộ Chính trị, nhưng hai lần thông báo tin tức về “Đại hội khoá 9 của Đảng (vào ngày 14 và 29 tháng 4 năm 1969) đều ghi rõ vị trí thứ 6 của Giang Thanh.

“Hôm nay Chủ tịch đoàn có: “Chu Ân Lai, Trần Bá Đạt, Khang Sinh, Giang Thanh, Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên...”

5 người trên Giang Thanh là ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị, tức Mao Trạch Đông, Lâm Bưu, Chu Ân Lai, Trần Bá Đạt, Khang Sinh. Trên thực tế, Giang Thanh không phải là ủy viên Thường vụ bởi vì bà ta là vợ Mao Trạch Đông, nếu bà ta vào ủy viên Thường vụ, thì quá lộ liễu. Cuối cùng, Giang Thanh đã leo lên đỉnh cao quyền lực. Bà ta là một người đàn bà đầy tham vọng quyền lực, nay đã mãn nguyện.

Điều ý vị sâu xa nhất là, tròn 30 năm trước khi bà ta thành nhân vật thứ 6 của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, năm 1939, bà ta đã chung sống với Mao Trạch Đông.

Giấu tài, ung dung đi lên, một diễn viên hay ghen tuông, hiếu thắng, đến 30 năm sau bước vào Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, có thể nói Giang Thanh đã tính toán chi ly, dùng hết mưu kế.

Trong Hội nghị lần thứ 1 khoá 9, năm thành viên của Tổ cách mạng văn hóa Trung ương: Trần Bá Đạt, Khang Sinh, Giang Thanh, Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên đều vào Bộ Chính trị. Sau đó, “cái gánh hát” có Tổ cách mạng văn hóa Trung ương này, cũng theo đó mà kết thúc. Tổ cách mạng văn hóa Trung ương là bậc thang để Giang Thanh và đồng bọn leo lên Bộ Chính trị. Đã trở thành ủy viên Bộ Chính trị thì cũng chẳng cần gì đến thang nữa. Sau này, các văn kiện truyền đạt xuống cấp dưới đều lấy danh nghĩa của Trung ương Đảng, không còn thấy cái Tổ cách mạng văn hóa Trung ương lăng nhăng lít nhít nữa, tuy cách mạng văn hóa vẫn đang tiến hành.

Vào Bộ Chính trị, trở thành “nhân vật thứ 6” Giang Thanh đắc chí hí hửng.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #65 vào lúc: 30 Tháng Ba, 2010, 09:39:40 pm »


2. Quan hệ “mờ ám” với người kế nghiệp chắc chắn như định đóng cột

Một người khác đã có đủ lông đủ cánh là Lâm Bưu. Ông ta trở thành Phó Chủ tịch duy nhất của Đảng Cộng sản Trung Quốc: Khi Đại hội khóa 8 của Đảng, lập 4 Phó Chủ tịch là Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai, Chu Đức, Trần Vân. Tháng 5 năm 1958, Hội nghị Trung ương lần thứ 2 khóa 8 của Đảng bầu thêm Lâm Bưu làm Phó Chủ tịch, ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị.

Sau Hội nghị Trung ương lần thứ 11 khóa 8, chức vụ Phó Chủ tịch của Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai, Chu Đức, Trần Vân không còn nhắc đến nữa. Ở Đại hội khóa 9, Giang Thanh đã từng đề nghị lập thêm mấy Phó chủ tịch, đồng thời khoe khoang là mình “có năng lực nắm được toàn bộ sự lãnh đạo đất nước, rất nhiều người không hiểu tôi”. Ý của Giang Thanh là bà ta có thể trở thành phó chủ tịch. Mao Trạch Đông chỉ thoáng đã biết dụng ý của bà ta, bèn nói: “Lập thêm mấy phó chủ tịch thì có thể, nhưng Giang Thanh không thể làm được”. Giang Thanh không làm được phó chủ tịch thì bà ta cũng phản đối người khác làm phó chủ tịch. Kết quả cuối cùng là chỉ có một phó chủ tịch, tức là Lâm Bưu. Lâm Bưu trở thành phó chủ tịch duy nhất, ở vào vị trí “dưới một người trên vạn người”, địa vị người kế nghiệp của ông ta đã “như đinh đóng cột”.

Điều mà Lâm Bưu rất đắc ý là dưới tay ông ta có 5 “hổ tướng”: Hoàng Vĩnh Thắng, Ngô Pháp Hiến, Diệp Quần, Lý Tác Bằng, Khâu Hội Tác, tất cả đều đã vào Bộ Chính trị. Kết quả “ê kíp Lâm gia” đã hình thành.

Quan hệ của Lâm Bưu và Giang Thanh, trở nên rất tế nhị và phức tạp, thiên biến vạn hóa.

Giang Thanh và Lâm Bưu đã lợi dụng lẫn nhau:

Mới đầu Giang Thanh muốn lộ mặt trên vũ đài chính trị Trung Quốc, đã từng nhờ “đồng chí Lâm Bưu ủy thác”, triệu tập cuộc tọa đàm về công tác văn nghệ của bộ đội và tạo ra được cuốn “Kỷ yếu”.

Tháng 1 năm 1967, bổ nhiệm Giang Thanh làm cố vấn Tổ cách mạng văn hóa Quân ủy Trung ương. Tháng 9 cùng năm, lại bổ nhiệm Giang Thanh làm cố vấn công tác văn hóa của Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc.

Tháng 3 năm 1968, Giang Thanh muốn được đề bạt nhưng Chu Ân Lai không duyệt, ngay lập tức Lâm Bưu nâng cho bà ta từ bậc 9 lên bậc 5 hành chính.

Ngày 24 tháng 3 năm 1968, trong một cuộc mít tinh tiếp kiến cán bộ bộ đội, Lâm Bưu đã “đánh giá cao” Giang Thanh: “Đồng chí Giang Thanh là một đồng chí rất xuất sắc trong số những đồng chí nữ của Đảng ta, cũng là một cán bộ rất xuất sắc trong số những cán bộ của Đảng ta, tư tưởng của đồng chí ấy rất cách mạng, đồng chí ấy có tình cảm cách mạng rất nhiệt thành, đồng thời, lại rất có tư tưởng, rất nhạy bén đối với sự vật, rất có khả năng xem xét vấn đề, có thể phát hiện vấn đề và sử dụng các biện pháp. Trước đây nhiều năm do sức khóc của đồng chí ấy không tốt, cho nên mọi người không hiểu đồng chí ấy, trong thời gian đại cách mạng văn hóa này đã có thể thấy được tác dụng vĩ đại của đồng chí ấy. Một mặt, đồng chí ấy trung thành chấp hành chỉ thị của Mao Chủ tịch, mặt khác đồng chí ấy có sáng tạo rất lớn, có thể nhìn thấy vấn đề, phát hiện vấn đề. Trong cách mạng văn hóa đã có rất nhiều công lao to lớn. Cố nhiên là do sự lãnh đạo sáng suốt của Mao Chủ tịch và sự cố gắng của đồng chí ấy trong Tổ cách mạng văn hóa Trung ương, sự cố gắng của các đồng chí Trung ương đảng, nhưng đồng chí ấy có tác dụng đặc biệt của riêng mình, đồng chí ấy luôn luôn đứng trên tuyến đầu của phong trào này”. Lúc Lâm Bưu nói chuyện, Diệp Quần đã lãnh đạo mọi người hô: “Học tập đồng chí Giang Thanh! Gửi lời chào đồng chí Giang Thanh! Thà chết bảo vệ đồng chí Giang Thanh!”.

Lâm Bưu coi trọng Giang Thanh như vậy thực ra là coi trọng cái địa vị và tác dụng của “đệ nhất phu nhân” của bà ta. Ông ta hiểu sâu sắc rằng, làm vui lòng Giang Thanh cũng tức là làm vui lòng Mao Trạch Đông. Đối với ông ta mà nói Mao Trạch Đông mới là người quan trọng nhất.

Trong giờ phút then chốt, Giang Thanh cũng ủng hộ Lâm Bưu, đặc biệt là sau Hội nghị Lư Sơn.

Cùng với chiêu bài công khai “Phê Trần chỉnh phong”. Những đám mây mù trên núi Lư Sơn coi như đã tan đi một phần.

Nhưng mây mù không hoàn toàn tan hết. Lâm Bưu vẫn bị mây che sương lấp. Mao Trạch Đông đã từng nói ở Lư Sơn rằng: “Lần này bảo vệ Lâm Phó Chủ tịch”. Tuy nói ông biết rõ Lâm Bưu là quan thầy của Trần Bá Đạt nhưng vẫn giữ “thể diện” cho Lâm Bưu. Chiến lược từ xưa đến nay của Mao Trạch Đông là “tiêu diệt từng bộ phận”, cho nên trước tiên phải “tiêu diệt” Trần Bá Đạt, giữ lại Lâm Bưu.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #66 vào lúc: 30 Tháng Ba, 2010, 09:44:10 pm »


Mao Trạch Đông trong bài “Một chút ý kiến của tôi”, đã nêu việc phê phán Trần Bá Đạt là: “Tôi đã trao đổi ý kiến với đồng chí Lâm Bưu, chúng tôi nhất trí cho rằng: “Làm như vậy cũng là để lôi kéo Lâm Bưu”.

Cũng chính vì vậy, trong Công báo của Hội nghị Trung ương lần thứ 2 khóa 9 công bố ngày 6 tháng 9 năm 1970, hình như ở Lư Sơn gió đã yên mây đã lặng, đã tuyên bố: “Mao Chủ tịch và bạn chiến đấu thân thiết của Người, Lâm Phó chủ tịch đã nói chuyện trong Hội nghị”. Công báo còn đưa ra khẩu hiệu vang dội: “Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng đứng đầu là Mao Chủ tịch và Lâm Phó Chủ tịch làm phó” “Đoàn kết lại, tranh thủ thắng lợi to lớn hơn!”. Mao Trạch Đông chú ý đến “có lý, có lợi, có tiết tấu”. Ở Hội nghị Lư Sơn vẫn chưa cãi nhau với Lâm Bưu, vì lúc này còn quá sớm. Đại hội Đảng khóa 9 kết thúc mới hơn một năm, một câu ghi trong điều lệ Đảng Cộng sản Trung Quốc, Lâm Bưu là người nối nghiệp còn chưa ráo mực. Nhưng đánh đổ Trần Bá Đạt, chứng tỏ một cách rõ ràng là địa vị của Lâm Bưu đã hết sức nguy ngập. Cùng với sự sụp đổ của Trần Bá Đạt, Khang Sinh dịch lên phía trước một bậc, trở thành nhân vật thứ 4 của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Giang Thanh cũng dịch lên trước trở thành nhân vật thứ 5, tức là: Mao Trạch Đông, Lâm Bưu, Chu Ân Lai, Khang Sinh, Giang Thanh...

Phong trào “Phê Trần chỉnh phong” từng bước đi sâu đã chạm đến 5 viên “đại tướng” bộ hạ của Lâm Bưu là Hoàng Vĩnh Thắng, Ngô Pháp Hiến, Diệp Quần, Lý Tác Bằng, Khâu Hội Tác.

Lâm Bưu ngầm mài dao. Từ ngày 18 đến ngày 24 tháng 3 năm 1971, con trai Lâm Bưu là Lâm Lập Quả đã lập ra kế hoạch chính biến ở Thượng Hải, cũng tức là “Kỷ yếu công trình 571”. Cái gọi là “571” cũng đồng âm với “khởi nghĩa vũ trang”.

Cục thế Trung Quốc là gươm súng đã sẵn sàng, một cuộc chính biến đang ở trạng thái sắp bùng nổ.

Trong giờ phút cực kỳ không bình thường này đã xẩy ra một sự việc cũng cực kỳ không bình thường. Đó là ngày 31 tháng 7 năm 1971, “Nhân dân nhật báo” đăng một tin: “Tờ “Nhân dân nhất báo” số kép 7-8 và tờ “Giải phóng quân họa báo” số kép ra ngày 1-8, đã xuất bản”, nội dung tin như sau:

Hai tờ họa báo đều in một mặt ảnh của Mao Chủ tịch. In ảnh bạn chiến đấu thân thiết của Mao Chủ tịch là Phó Chủ tịch Lâm Bưu học tập trước tác của Mao Chủ tịch, bức ảnh này đã thể hiện rõ trước mắt mọi người tình cảm vô sản nồng đậm sự trung thành vô hại của Phó Chủ tịch Lâm Bưu với Mao Chủ tịch, đã khích lệ và cổ vũ rất lớn đối với mọi người chúng ta.

Bức ảnh “Phó Chủ tịch Lâm Bưu học tập trước tác của Mao Chủ tịch” là bức ảnh chưa từng có, vì Lâm Bưu thông thường đều đội mũ bộ đội, nhưng ở bức ảnh này lại không đội mũ, lộ rõ cái đầu hói nhẵn bóng. Điều này chứng tỏ nhà nhiếp ảnh này tuyệt nhiên không phải là nhà nhiếp ảnh bình thường, đã bảo được Lâm Bưu bỏ chiếc mũ mà bao nhiêu năm nay không rời khỏi đầu ông ta.

Dưới tấm ảnh ghi “Cố gắng không biết mệt mỏi” tên nhà nhiếp ảnh rất lạ lẫm: “Tuấn Lĩnh”.

“Tuấn Lĩnh” là ai nhỉ? Là Giang Thanh đấy!

Bức ảnh này là tự tay Giang Thanh chụp cho Lâm Bưu khi bà ta đến nhà Lâm Bưu vào ngày 9 tháng 6 năm 1971. Bà ta yêu cầu Lâm Bưu nâng cuốn “Tuyển tập Mao Trạch Đông” cuốn sách bìa đỏ chữ vàng, biểu thị sự trung thành của ông ta đối với Mao Trạch Đông. Nhưng trên thực tế, Lâm Bưu đang ngấm ngầm mài dao chuẩn bị ám sát Mao Trạch Đông, còn lòng dạ đâu mà đọc “Tuyển tập Mao Trạch Đông” cơ chứ?!

Cuối cùng, hơn một tháng sau khi tấm ảnh “kiệt tác” được công bố thì vào lúc 1 giờ 50 phút sáng ngày 13 tháng 9 năm 1971, Lâm Bưu, Diệp Quần, Lâm Lập Quả đã ngồi trên chiếc máy bay mang số hiệu 256 vượt qua biên giới Trung Quốc bay vào không phận của nước Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ. 2 giờ 30 phút sáng thì chiếc máy bay rơi xuống Ôn-đu-han, 8 người đàn ông và 1 người đàn bà trên máy bay đều bị tử nạn.

Đó chính là “Sự kiện 13 tháng 9”.

Đến trước khi Lâm Bưu chạy trốn, từ Bắc Đới Hà, Diệp Quần còn gọi điện cho Giang Thanh: “Đồng chí Lâm Bưu hỏi thăm đồng chí Giang Thanh, mong đồng chí Giang Thanh hãy giữ gìn!”.

Giang Thanh đáp lại trong điện thoại: “Xin Lâm Phó Chủ tịch yên tâm!”. Diệp Quần còn cho người đem biếu Giang Thanh mấy quả dưa hấu.

Vào chiều ngày 12 tháng 9, Giang Thanh đã đem theo 4 quả dưa do Lâm Bưu tặng đi chơi Di Hòa Viên. Khi Giang Thanh cùng những người tùy tùng của bà ta ăn dưa hấu, bà ta còn trịnh trọng nói: “Những quả dưa hấu này là do Lâm Phó Chủ tịch tặng tôi, tôi lại tặng lại các anh các chị. Đây là sự quan tâm của Lâm Phó Chủ tịch đối với chúng ta, mọi người chúng ta cùng cảm ơn Lâm Phó Chủ tịch!”.

Theo một bản thống kê ghi chép điện thoại tìm thấy tại nơi ở của Giang Thanh sau khi “bọn bốn tên” bị đập tan, chỉ trong 2 năm lẻ 9 tháng từ 1969 đến 1971, điện thoại qua lại giữa Giang Thanh với Lâm Bưu và Diệp Quần đã tới 470 lần, bình quân cách hơn 2 ngày gọi 1 lần.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #67 vào lúc: 30 Tháng Ba, 2010, 09:46:14 pm »


3. Theo sát từng bước được ghi vào Điều lệ Đảng

Trong Hội nghị Trung ương lần thứ 11 khóa 8, theo đề nghị của Mao Trạch Đông, Lâm Bưu trở thành người nối nghiệp của Mao Trạch Đông. Sở dĩ Mao Trạch Đông nhằm vào Lâm Bưu, không phải vì ông ta là người ít tuổi nhất trong số ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Trung ương Đảng (Năm 1966, Lâm Bửu 60 tuổi, Đặng Tiểu Bình 62 tuổi) mà là vì ông ta ủng hộ và yêu mến Mao Trạch Đông trong một thời gian dài, “chính trị nổi bật”, còn Mao Trạch Đông phát động toàn diện đại cách mạng văn hóa lại cần sự ủng hộ của quân đội.

Từ tháng 9 năm 1959, Lâm Bưu thay Bành Đức Hoài chủ trì công tác hằng ngày của Quân ủy Trung ương, nửa thật lòng nửa giả dối đón ý hùa theo ca ngợi Mao Trạch Đông. Khi Mao Trạch Đông và tuyến thứ nhất của Trung ương có sự bất đồng nghiêm trọng, ông ta kiên quyết đứng về phía Mao Trạch Đông. Ngày 1 tháng 8 năm 1959, trong Hội nghị Thường vụ Bộ Chính trị thảo luận vấn đề Bành Đức Hoài, đầu năm 1962 trong Hội nghị 7000 người có rất nhiều người hoài nghi “ba ngọn cờ hồng”, Lâm Bưu đã ủng hộ chủ trương của Mao Trạch Đông, lựa ý hùa theo Mao Trạch Đông. Trong xây dựng quân đội, ông ta xét đoán ý của Mao Trạch Đông, thực hiện đường lối “chính trị nổi bật”. Ông ta không những được Mao Trạch Đông coi là đúng đắn và trọng dụng mà còn có uy tín rất cao trong đông đảo cán bộ chỉ huy quân đội.

Trong đại cách mạng văn hóa, Lâm Bưu càng ôm chặt lấy cái tôn chỉ “theo sát” Mao Trạch Đông. Nguyên tắc để ông ta xử lý khi đọc văn kiện của Trung ương là “Chủ tịch khuyên tròn thì tôi khuyên tròn”, cũng có nghĩa là “Mao Chủ tịch đồng ý thì tôi đồng ý” (bản thân Lâm Bưu không tự khuyên tròn mà là do thư ký làm thay). Trong bài nói chuyện, ông ta ra sức suy nghĩ tìm ra các loại ngôn từ “sinh động” để ca ngợi tâng bốc Mao Trạch Đông, không chỉ là giương cao”, “theo sát”, “nổi bật” mà là rất nhiều câu “dăn dạy”, đề từ của ông ta có:

- Cách mạng nhân dân dưới sự dẫn dắt của tư tưởng Mao Trạch Đông là đầu tàu đẩy lịch sử tiến lên!

- Mao Chủ tịch lãnh tụ vĩ đại, thống soái vĩ đại, người thây vĩ đại, người cầm lái vĩ đại muôn năm! muôn muôn năm!

- Giương cao ngọn cờ đỏ vĩ đại của tư tưởng Mao Trạch Đông lập công mới trong cuộc đại cách mạng văn hóa vô sản!

- Đi trên biển lớn dựa vào người cầm lái, làm cách mạng dựa vào tư tưởng Mao Trạch Đông!


Đại hội khóa 9, thông qua Điều lệ Đảng có rất nhiều nội dụng mới, trong đó, điều khiến người ta chú ý nhất là đã ghi Lâm Bưu là người nối nghiệp của Mao Trạch Đông vào cương lĩnh chung của Điều lệ Đảng: “Đồng chí Lâm Bưu luôn luôn giương cao ngọn cờ đỏ vĩ đại của tư tưởng Mao Trạch Đông, chấp hành và bảo vệ trung thành nhất, kiên quyết nhất đường lối cách mạng vô sản của đồng chí Mao Trạch Đông. Đồng chí Lâm Bưu là bạn chiến đấu thân thiết nhất, là người nối nghiệp của đồng chí Mao Trạch Đông”. Nhìn chung về lịch sử các Đảng Cộng sản thế giới thì chưa có đảng nào lại ghi tên người nối nghiệp vào Điều lệ Đảng của mình, thật là hoang đường tột độ. Báo cáo chính trị và Điều lệ Đảng đã thông qua, việc còn lại là bầu ủy viên Trung ương, đó là cao trào của Đại hội 9, Lâm Bưu và đồng bọn Hoàng Vĩnh Thắng, Ngô Pháp Hiến, Diệp Quần, Lý Tác Bằng, Khâu Hội Tác; Giang Thanh và đồng bọn Trần Bá Đạt, Khang Sinh, Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên, Tạ Phú Trị bắt đầu cuộc giao tranh căng thẳng. Đại cách mạng văn hóa đã gần ba năm, bây giờ đã đến lúc phân phối lại quyền lực, hai bên đều cố hết sức. Mới đầu các vị “tú tài” của Tổ cách mạng văn hóa Trung ương khi chỉnh lý các ý kiến về việc sửa chữa Điều lệ Đảng, đã viết: “Rất nhiều đồng chí kiến nghị, Đại hội khóa 9 phải ra sức tuyên truyền Lâm Phó Chủ tịch là bạn chiến đấu thân thiết của Mao Chủ tịch, là người nối nghiệp của Mao Chủ tịch, đồng thời ghi vào Báo cáo và Nghị quyết của Đại hội 9, đề cao hơn nữa tiếng tăm cao cả của Lâm Phó Chủ tịch”.

“Rất nhiều đồng chí” ở đây, vốn dĩ chỉ là một số “chiến sĩ phái tạo phản”. Họ cũng chỉ kiến nghị viết vào Báo cáo và Nghị quyết của Đại hội 9 rằng Lâm Bưu là người nối nghiệp của Mao Trạch Đông.

Ngày 27 tháng 10 năm 1968, khi Hội nghị Trung ương lần thứ 12 khóa 8 thảo luận về Điều lệ Đảng, Giang Thanh kiên trì đòi ghi điều Lâm Bưu với tư cách là người kế nghiệp của Mao Trạch Đông vào Điều lệ Đảng. Giang Thanh nói, Lâm bưu “rất có phong độ của nhà cách mạng vô sản, đồng chí ấy khiêm tốn, thì phải ghi vào điều lệ Đảng”.

Tháng 4 năm 1969, trước ngày họp Đại hội 9 của Đảng Cộng sản Trung Quốc, trong Hội nghị Trung ương thảo luận Điều lệ Đảng, Giang Thanh lại nói: “Tên của Phó Chủ tịch Lâm Bưu vẫn phải ghi vào, ghi vào rồi, có thể làm cho người khác không sinh lòng thèm muốn”.

Trương Xuân Kiều phụ họa: tên của Lâm Bưu “được viết vào Điều lệ Đảng, như vậy là sẽ yên tâm”.

Khang Sinh cũng giữ ý kiến này, hòa một giọng với Giang Thanh. Trong Hội nghị Trung ương 12 khóa 8, Khang Sinh đã nói: “Hội nghị Trung ương lần thứ 11 khóa 8 đã xác định đồng chí Lâm Bưu là người kế nghiệp của Mao Chủ tịch, đây là kế lớn trăm năm, là việc lớn quan hệ đến vận mệnh từ nay về sau của Đảng và Nhà nước ta, quan hệ đến cách mạng nước ta và cách mạng thế giới. Đồng chí Lâm Bưu rất khiêm tốn, đồng chí đã yêu cầu lược bỏ đoạn nói tới đồng chí ấy trong Dự thảo Điều lệ Đảng. Ý kiến của chúng tôi là đoạn này cần phải giữ lại. Đồng chí Lâm Bưu là người kế nghiệp của Mao Chủ tịch, điều này đã được Hội nghị công nhận, đó là điều xứng đáng.

Thế là trong hàng loạt tiếng tán thành của các “tú tài” của Tổ cách mạng văn hóa Trung ương, Lâm Bưu với tư cách là người nối nghiệp của Mao Trạch Đông được ghi vào Điều lệ Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #68 vào lúc: 30 Tháng Ba, 2010, 09:47:19 pm »


4. Giang Thanh trở giáo đánh lại

Sau Đại hội 9, giữa Lâm Bưu người đã cảm thấy đủ lông đủ cánh với Giang Thanh thỉnh thoảng cũng xảy ra mâu thuẫn, nhưng lại đầu mày cuối mắt, anh lợi dụng tôi, tôi lợi dụng anh...

Vào năm 1970 và đầu năm 1971, quan hệ giữa Lâm Bưu và Giang Thanh giảm hẳn nhiệt độ, nhưng ở rất nhiều mặt họ vẫn giúp đỡ nhau, hơn nữa vẫn luôn luôn hợp tác chặt chẽ, nhằm chống lại “phái đi theo con đường tư bản chủ nghĩa” khơi lại đống tro tàn trong cách mạng văn hóa tiến hành uy hiếp “trả thù” đối với đám quần chúng ô hợp.

Từ sau khi Lâm Bưu tan xác ở nước ngoài, bà ta liền “trở giáo đánh lại”: “Lâm Bưu không những muốn làm hoàng đế, mà còn tìm mọi thủ đoạn để bức hại bà ta! Ông ta đã bỏ thuốc độc vào thức ăn của bà ta, trong tất cả những người có âm mưu chống lại Mao Chủ tịch, trên thực tế Lâm Bưu là kẻ gian hiểm nhất, dã man nhất”.

Mặc dù sau “Sự kiện 13 tháng 9”, Giang Thanh vội vã lựa gió chống thuyền đánh lại Lâm Bưu, mọi người cũng có nhiều ý kiến phê bình úp mở đối với Giang Thanh, giúp rất nhiều cho Giang Thanh, đó là bức thư Mao Trạch Đông viết cho bà ta vào ngày 8 tháng 7 năm 1966.

Đây là một bức thư không bình thường. Tính chất quan trọng của nó không kém “Thông báo ngày 16 tháng 5”. Nó là một trước tác có nội hàm khá rộng lớn mà lại sâu sắc, là một tác phẩm quan trọng về cách mạng văn hóa. Nhưng nó lại không giống như những tác phẩm khác của ông dễ dàng làm cho người ta lý giải, đọc hiểu. Đại thể là vì nội dung có rất nhiều suy nghĩ còn chưa thể công khai với mọi người, thậm chí vẫn chưa thể nói rõ cho các ủy viên trong Bộ Chính trị, còn ông lại cho rằng kết quả của sự trầm tư trong suy nghĩ ở Động Trích Thủy cần phải ghi lại, bảo tồn lại. Suy nghĩ nhiều lần, thấy hình thức thích hợp nhất chính là hình thức viết thư cho vợ để bảy tỏ. Đây là một bức thư có tính chất “Di chúc chính trị”.

Xét văn kiện này vô cùng quan trọng, lại rất ít thấy trên sách báo, nên xin chép lại toàn văn như sau:

Giang Thanh em:

Đã nhận được thư đề ngày 29 tháng 6, em cứ theo ý kiến của hai đồng chí Ngụy, Trần
(chỉ Ngụy Văn Bá, Trần Phi Hiển - Người dẫn chú) ở lại đấy (chỉ Thượng Hải – Người dẫn chú) ít lâu sẽ tốt. Tháng này anh có hai cuộc tiếp khách nước ngoài (chỉ Thái tử Vương quốc Nê-pan và các đại biểu quan sát viên dự Hội nghị khẩn cấp Nhà văn Á Phi – Người dẫn chú), sau khi tiếp kiến, đi hay ở sẽ tin cho em biết sau. Từ ngày 15 tháng 6, sau khi rời Vũ Lâm (chỉ Hàng Châu – Người dẫn chú), sẽ ở trong một sơn động tại Tây Phương (chỉ Động Trích Thủy, Thiều Sơn ở phía Tây Hàng Châu nên gọi là “Tây Phương” – Người dẫn chú), thư từ về sẽ không được thuận tiện cho lắm. Ngày 28 đến Bạch Vân Hạc (chỉ Vũ Hán - Người dẫn chú), đã 10 ngày rồi. Ngày nào cũng xem tài liệu, đều rất thú vị. Thiên hạ đại loạn sẽ tới Thiên hạ đại trị. Qua bảy tám năm lại có một lần. Bọn đầu trâu mặt ngựa sẽ nhảy cả ra. Vì bản tính giai cấp của họ quyết định, không nhảy ra không được. Những lời phát biểu của bạn anh (Bài phát biểu dài trong Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng ngày 18 tháng 5 của Lâm Bưu, ra sức niệm “Chính biến kinh”, nêu các loại chính biến cổ kim trong ngoài, lại ca ngợi “thiên tài” cá nhân của Mao Trạch Đông, nói rằng lời của Mao Trạch Đông “câu nào cũng là chân lý, một câu vượt quá một vạn câu của chúng ta” v.v… và v.v... – Người dẫn chú). Trung ương giục phải công bố, anh dự định đồng ý công bố, anh ta chuyên nói về vấn đề chính biến. Vấn đề này, cách trình bày của anh ta trước đây chưa từng có. Một số cách đặt vấn đề của anh ta, anh luôn cảm thấy không yên lòng. Xưa nay anh không tin, mấy cuốn sách nhỏ của anh (chỉ “Tuyển tập Mao Trạch Đông” - Người dẫn chú) lại có sự thần thông quảng đại đến thế. Bây giờ được anh ta thổi lên, toàn Đảng toàn quốc đều đã thổi lên rồi, thật đúng là bà già bán dưa, vừa bán vừa khen (mèo khen mèo dài đuôi). Anh đã bị họ bức lên Lương Sơn, xem ra không đồng ý với họ không xong. Trên những vấn đề trọng đại, phải làm trái với lòng mình để đồng ý với người khác, đây là lần đầu tiên trong đời anh. Thế gọi là không thay đổi theo ý muốn chủ quan của con người. Nguyễn Tịch người thời Tấn chống Lưu Bang, ông ta đi từ Lạc Dương đến Thành Cao, than rằng: Trên đời không có anh hùng đã khiến đứa trẻ nhỏ thành danh. Lỗ Tấn cũng đã từng nói những lời như thế đối với tạp văn của mình, lòng anh và Lỗ Tấn tương thông với nhau. Anh thích sự thẳng thắn của ông ta. Ông ta nói, mổ xẻ mình thường phải nghiêm hơn mổ xẻ người khác. Sau khi vấp ngã mấy lần, anh vẫn thường như thế. Nhưng các đồng chí thường không tin. Anh tự tin nhưng lại hơi không tự tin. Lúc còn nhỏ anh đã từng nói: Người tự tin sống hai trăm năm, chịu được nước xối ba ngàn năm. Đủ thấy thần khí rất dồi dào. Nhưng lại không tự tin lắm, luôn cảm thấy trong rừng không có hổ, khỉ sẽ xưng đại vương và anh đã biến thành đại vương như thế. Nhưng cũng không phải là chiết trung chủ nghĩa, ở con người anh có một chút của con hổ, là chủ yếu, nhưng cũng có tính khỉ của con khỉ, nhưng là thứ yếu.

Anh đã từng lấy Lý Cố người thời Hậu Hán, viết mấy câu trong thư gửi Hoàng Quỳnh, người kiêu căng để gặp trắc trở, người trong sáng dễ bị bôi bẩn. Với những tác phẩm cao xa, nhiều người khen sẽ bớt sự nhạt nhẽo, dưới sự nổi tiếng thực rất khó phù hợp. Hai câu sau, chính là chỉ anh. Anh đã từng đọc mấy câu này trong Hội nghị Thường vị Bộ Chính trị. Con người ta quý là ở sự sáng suốt tự biết mình. Trong Hội nghị Hàng Châu tháng 4 năm nay, anh đã bày tỏ ý kiến không đồng tình của mình về cách đặt vấn đề như thế của bạn bè. Nhưng nào có ích gì! Trong Hội nghị tháng 5 Bắc Kinh, anh ta vẫn cứ nói như thế
(Hội nghị tháng 5 là chỉ Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng - Người dẫn chú). Trên báo chí càng nói rất dữ, cứ như là thần kỳ lắm. Như vậy thì anh chỉ có cách là lên Lương Sơn thôi. Anh đoán bản ý của họ là để trừ ma nên phải nhờ Chung Quỳ. Vậy là ở những năm 60 của thế kỷ 20 anh đã làm Chung Quỳ của Đảng Cộng sản. Sự vật rồi sẽ đi tới mặt đối lập, thổi lên càng cao, thì ngã sẽ càng đau, anh đang chuẩn bị để ngã một cú tan nát thịt xương. Điều ấy cũng chẳng có gì quan trọng, vật chất không mất đi, chẳng qua chỉ thành cát bụi mà thôi. Hơn một trăm Đảng trên toàn thế giới (chỉ các Đảng Cộng sản - Người dẫn chú), đại đa số Đảng không tin chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Mác và Lê-nin cũng bị người ta đánh cho tan nát rồi, huống hồ chúng ta? Anh khuyên em nên chú ý đến vấn đề này, không nên để thắng lợi làm say mê lú lẫn, phải thường xuyên nghĩ đến nhược điểm, khuyết điểm và sai lầm của mình. Vấn đề này anh đã nói với em không biết bao nhiêu lần rồi, em còn nhớ chứ, tháng 4 ở Thượng Hải cũng vẫn nói. Những điều vừa nói ở trên, có phần khá bí mật, có một số phần tử chống Đảng, chẳng phải đã nói như thế hay sao? Nhưng họ muốn đánh đổ tất cả đảng ta và cả bản thân anh, anh chỉ nói về tác dụng mà anh đã tạo nên, cảm thấy có một số vấn đề nêu không được thỏa đáng, đó là điều khác biệt giữa anh và bọn phản động. Việc này bây giờ không thể công khai, tất cả phái tả và đông đảo quần chúng đều nói như vậy, nếu công khai sẽ dội gáo nước lạnh vào họ, giúp cho phái hữu, mà nhiệm vụ hiện nay là phải đánh đổ phái hữu trên cơ bản (không thể là toàn bộ) trong toàn đảng và toàn quốc, vả lại sau bảy tám năm nữa, lại phải có một phong trào để càn quét bọn đầu trâu mặt ngựa, rồi còn phải có nhiều lần càn quét nữa, cho nên tất cả những điều anh nói ở đây đều phải giữ kín, bây giờ không thể công khai, bao giờ công khai thì chưa biết được vì phái tả và đông đảo quần chúng không hoan nghênh anh nói như thế. Có lẽ vào một dịp nào đó sau khi anh chết, khi phái hữu nắm quyền, để họ đưa ra công khai. Họ sẽ lợi dụng những điều anh nói để mưu đồ giương cao ngọn cờ đen mãi mãi, nhưng làm như vậy thì họ sẽ không gặp may. Ở Trung Quốc, từ sau khi hoàng đế bị đánh đổ vào năm 1911 bọn cầm quyền phản động thường không thể tồn tại lâu dài. Lâu nhất bất quá chỉ hai mươi năm (Tưởng Giới Thạch), hễ nhân dân làm phản, nó sẽ đổ. Tưởng Giới Thạch lợi dụng sự tín nhiệm của Tôn Trung Sơn đối với hắn, đã mở ra một trường Hoàng Phố, thu nhận một loạt bọn phản động, từ đó mà lập nghiệp. Hắn chống cộng thì gần như toàn bộ giai cấp địa chủ tư sản ủng hộ hắn, lúc ấy đảng Cộng sản chưa có kinh nghiệm, nên hắn đã tạm thời vui mừng vì được thế. Nhưng trong hai mươi năm, nó chưa bao giờ thống nhất, cuộc chiến tranh giữa hai đảng Quốc, Cộng, cuộc chiến tranh giữa Quốc dân đảng và các phái quân phiệt, cuộc chiến tranh chống Nhật, cuốí cùng là cuộc nội chiến lớn trong vòng bốn năm, hắn đã phải cuốn gói cút ra mấy hòn đảo. Nếu Trung Quốc xảy ra cuộc chính biến phái hữu chống cộng, thì anh khẳng định là chúng cũng sẽ không được yên, rất có thể sẽ đoản mệnh, vì tất cả những người cách mạng đại diện cho lợi ích của hơn chín mươi phần trăm nhân dân sẽ không dung tha. Lúc ấy phái hữu có thể lợi dụng lời của anh mà đắc thế nhất thời, phái tả nhất định sẽ lợi dụng những lời nói khác của anh để tổ chức lại, đánh đổ phái hữu. Cuộc đại cách mạng văn hóa này chính là một cuộc diễn tập nghiêm chỉnh. Có một số nơi (ví dụ thành phố Bắc Kinh) đã thâm căn cố đế, sẽ sớm diệt vong. Một số cơ quan ví dụ Bắc Đại (Đại học Bắc Kinh - N.D), Thanh Hoa (Đại học Thanh Hoa - N.D) gốc rễ dọc ngang cành la xum xuê mà đã sụp đổ trong khoảnh khắc. Phàm những nơi phái hữu càng hung hăng thì thất bại của chúng càng thảm hại, phái tả càng mạnh mẽ. Đây là một cuộc diễn tập có tính chất toàn quốc, đều sẽ thu được những bài học riêng của mình. Kết luận: Tiền đồ là rất tươi sáng, nhưng đường đi sẽ quanh co khúc khuỷu, vẫn là hai câu cũ rích ấy.

Lâu không viết thư, nên hễ viết là rất dài, lần sau sẽ nói tiếp nhé!


Mao Trạch Đông
Ngày 8 tháng 7
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #69 vào lúc: 30 Tháng Ba, 2010, 09:53:17 pm »


5. Khang Sinh làm cho Giang Thanh trở thành nhân vật thứ ba

“Tam giác sắt” chính trị ở Bắc Kinh không còn tồn tại nữa, Mao Gia Loan của Lâm Bưu biến mất, chỉ còn lại Trung Nam Hải của Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai và Điếu Ngư Đài của Khang Sinh, Giang Thanh, Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên.

Đột nhiên, không thấy Khang Sinh ở Điếu Ngư Đài. Tuy vậy, nhà số 8 ở đấy vẫn giữ nguyên phòng ở của Khang Sinh, nhưng, ông ta đã dọn về nhà, nhà ông ta ở ngõ Tiểu Thạch Kiều, phía Tây đại lộ Cựu Cổ Lâu, Bắc Kinh.

Vì sao Khang Sinh rời khỏi Điếu Ngư Đài?

Con người này vốn vẫn được gọi là gian giảo xảo quyệt. Từ sự sụp đổ của Lâm Bưu, Trần Bá Đạt, ông ta đã nhìn thấy bóng dáng của mình. Ông ta đã là nhân vật thứ ba chỉ sau Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai, nhưng lại tự biết “ở nơi cao không chịu nổi rét”, chưa biết chừng sẽ trở thành Lâm Bưu, Trần Bá Đạt, trong cuộc đấu tranh trong nội bộ Đảng lần sau. Huống hồ, Giang Thanh đang từng bước đi lên, sớm muộn gì cũng sẽ căm ghét ông ta làm vướng chân vướng tay. Khang Sinh, người đã từng trải qua bao cuộc đấu tranh trong Đảng, hiểu một cách sâu sắc sự huyền bí ở trong đó. Ông ta cáo bệnh ở nhà, quả là ông ta cũng có một số bệnh thật.

Khang Sinh co lại, còn Giang Thanh thì tiến lên cùng với việc in ấn và truyền đạt bức thư mà Mao Trạch Đông gửi cho bà ta cảm thấy càng “tốt đẹp” thêm, huống hồ cá tính của bà ta vốn xưa nay là hiếu thắng thích hơn người. Do Khang Sinh cáo bệnh, trên thực tế bà ta đã bước lên vị trí của nhân vật thứ ba chỉ dưới Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai!

Tin đồn ầm ĩ ở Bắc Kinh: “Giang Thanh sẽ làm Phó Chủ tịch!”.

Giang Thanh đã tự tay “bồi dưỡng” Trương Xuân Kiều và Diêu Văn Nguyên, lúc này đã trở thành lực lượng “chính” quan trọng nhất về chính trị của bà ta. Trong Trung ương Đảng, Trương Xuân Kiều và Diêu Văn Nguyên là “quý nhân mới của cách mạng văn hóa”. Họ nhờ cách mạng văn hóa mà phất lên, một bước tới trời, đã leo lên đỉnh cao quyền lực.

Trương Xuân Kiều tự cảm thấy cũng rất “tốt đẹp”. Ở Lư Sơn, trong Hội nghị Trung ương lần thứ 2 khóa 9, Trương Xuân Kiều trở thành mục tiêu tập trung công kích của Lâm Bưu và Trần Bá Đạt. Bây giờ bọn Lâm Bưu và Trần Bá Đạt đã trở thành tập đoàn phản cách mạng, Trương Xuân Kiều bị họ công kích trở thành cái vốn chính trị khó có thể được nhiều hơn. Trương Xuân Kiều thường đánh giá tiền đồ chính trị của mình rằng: Hoặc là trở thành Phó Chủ tịch Đảng, hoặc là thành Phó Thủ tướng Quốc vụ viện.

Từ sau khi Trần Bá Đạt sụp đổ, Diêu Văn Nguyên đã thế chân, trở thành người “Tổng quản dư luận” của Trung Quốc. Vị “tú tài” bỗng chốc nổi danh bởi bài bình “Hải Thụy bãi quan”, đối với Giang Thanh thì bảo sao nghe vậy. Ông ta hiểu rõ sức mạnh của “đệ nhất phu nhân”. Năm xưa ông ta còn cưỡi chiếc xe đạp đến câu lạc bộ Cẩm Giang, được gặp vị “đệ nhất phu nhân” này nên mới được lên trời xanh như bây giờ.

Ba vị “quý nhân mới của cách mạng văn hóa” đang rung đùi vuốt râu. Nhất là Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai đã ngày một già yếu đi một cách rõ rệt, họ càng thêm vui mừng phấn khởi vì “ưu thế tuổi tác” của mình. Không nói cũng rõ, quyền hành trong tương lai của Trung Quốc nhất định sẽ rơi vào tay họ...

Từ trước Đại hội Đảng khóa 9, Giang Thanh đã tuyên bố mình có năng lực nắm quyền lãnh đạo toàn bộ đất nước, “chỉ vì nhiều người chưa hiểu tôi”, lúc này Giang Thanh càng muốn “nắm quyền lãnh đạo toàn bộ đất nước”.

Trước đây Giang Thanh chẳng thèm để ý đến lịch sử Trung Quốc, bây giờ bỗng nhiên trở thành một học sinh say sưa học tập Võ Tắc Thiên và tất cả lịch sử cuộc đời của những người đàn bà gần cận với ngôi báu vương quyền khác. Giang Thanh luôn nói với các quan chức trợ lý của mình rằng: “Đàn bà có thể làm hoàng đế, cho dù ở thời đại Cộng sản chủ nghĩa cũng có thể có một người thống trị là đàn bà”. Mới đầu với khẩu khí tán thưởng, bà ta nhắc đến một vị hoàng thái hậu trong lịch sử: Lã Trĩ. Bà ta rất hứng thú với quan niệm và mánh khoé của Từ Hy Thái hậu, nói trắng ra là Giang Thanh muốn làm “Nữ hoàng”.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM