Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 06:29:24 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Vùng biên ải  (Đọc 90870 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #10 vào lúc: 17 Tháng Ba, 2010, 10:45:12 am »

III

Sáng hẳn. Gã vệ sẽ rẽ về nhà, Lồ dong ngựa lên đồn Pha Linh.

Ba con ngựa nâu từ trong đồn lọc cọc chạy ra. Đó là ba sảo quán Châu Quán Si, Thèn Sèn Phà, Lèng Sì Trà trong bộ sậu thủ túc tin cẩn của Lồ và tri châu La Văn Đờ. Thấy Lồ, chúng dừng cả lại, reo gọi:  

- A! Na nủ về rồi!

- Người Tây rút hết rồi, na nủ ơi!  

- Ông Phơ-rô-pông gửi lời chào na nủ. Na nủ không đến dự buổi ăn thề làm ông tư buồn đấy.

Lồ cau mặt:

- Buồn cái l. mẹ nó. Giờ, nó ở đâu?

- Ở sân bay. Tất cả ở đấy rồi. Na nủ có đi không?

- Đi!

Lồ gắt, quay ngựa. Con ngựa mệt, bọt mép sùi trắng, bất đắc dĩ quay đầu, mắt trợn ngước tức tối.
Nhưng nó cũng như Lồ, khỏe và chóng quên, dễ bị kích thích.

Những u oải, mệt mỏi và trạng thái tinh thần tình cảm dang dở hồi đêm vứt hết về phía sau, Lồ lại là một khối lửa bừng bừng những sức mạnh bản năng. Con ngựa như luồng gió thổi, thốc xuống phố Pha Linh. Lướt qua bên Lồ những tháp canh ngất nghểu, những lô cốt nổi u nổi khối, tiêng nói cười hỗn độn của bọn lính bảo an đi khiêng nước, đi tắm ngựa dưới suối về. Thoáng qua mắt Lồ, toà nhà hai tầng mới xây xong của Lồ. Toà nhà không lớn bằng toà gia trạch ở giữa phố của La Văn Đờ. Đờ, tri châu xứ Hmông Pha Linh, mới thăng tỉnh trưởng. Còn Lồ? Lồ đâu có chịu lép. Năm 1948, bỏ chức uỷ viên quân sự tỉnh của Việt Minh về, Lồ được nhận ngay hàm châu uý. Mấy tháng sau Lồ kiêm thêm chức châu đoàn. Và giờ thì Lồ chỉ huy toàn bộ dõng trong châu, một lúc hưởng hai lương. Trên Lồ có ông châu họ La, có quan ba tây ác-nô, nhưng thật ra Lồ đứng cạnh họ. Chức tước, quyền lực, oai vũ và nhất là tín nhiệm của Lồ lan truyền, đồn thổi tới từng đứa trẻ trong xứ Hmông xa xôi này. Ông nội Lồ Pláy của Lồ, một lão già cổ hủ và ghê gớm vẫn ở lại làng quê Lao Pao Chải, giàu sụ lên, thóc ngô đầy nhà, trâu bò đầy núi. Bố Lồ từ chức seo phải quèn, tót lên làm ông lý. Còn về gia đình riêng của Lồ, vợ cả Lồ đã chết, vợ hai Lồ giờ cai quản cơ ngơi của hắn ở phố. Mới đây La Văn Đờ còn dụ Lồ góp cổ phần vào Công ty nha phiến Việt Điền của ông ta. Lồ đã thành quan lại, đã giàu có. Nhưng, quan trọng hơn là giờ đây, giờ đây...

Giờ đây, lịch sử đã sang trang. Khi phòng tuyến đường số 4 đã vỡ, Việt Minh đang vượt sông Chảy lên Pa Kha, sự có mặt của những Phơ-rô-pông, ác-nô, những trung đoàn bộ binh, pháo thủ Ma-rốc, những tiểu đoàn Thái đã trở nên vô duyên ở miền thượng du này thì người Pháp lập tức hiểu ra rằng, giờ đây người viết sử đích thị của xứ sở này phải là bộ tộc Hmông mà đại diện dũng mãnh, cang cường là thế hệ trẻ tuổi của họ. Trọng trách phải đặt trên vai Lồ, mặc dầu người Pháp còn áy náy không yên về mặt tính nết bẩm sinh của Lồ; Lồ đã được họ cố gắng nhào nặn để thoát khỏi tình trạng hoang dã nguyên thuỷ, nhưng, theo họ hiệu quả xem ra còn mong manh lắm.

Về phần Lồ, giờ đây bằng tư duy thô sơ và cảm biết đơn giản, Lồ cũng nhận ra vai trò của mình. Trên mình ngựa, thoát khỏi đời sống phóng đãng thường tình, hắn lại hừng hực máu thủ lĩnh và giậm giựt nỗi ấm ức bấy lâu:

“Hừ, La Văn Đờ là cục thịt mà cũng làm tỉnh trưởng. Người Tây nói yêu ta, tin ta mà thế à? Không có ta sao giữ được Pha Linh ba năm vừa qua. Ta không đến họp với ông Phơ-rô-pông không phải ta ghét ông. Ta không thích đến. Đến để chào họ, để nghe họ dặn dò, chỉ bảo ư? Đi hết cả đi. Ta sẽ ở lại đất này. Tự ta, ta khắc biết phải làm gì, làm thế nào rồi...”

Con ngựa đen bị giật, thúc liên hồi, phăm phăm vượt qua các ngọn đồi; nó chạy tắt và chỉ lát sau đã đưa cái khối tâm sự uất ức và cao ngạo đó tới sân bay của trấn Pha Linh. Nằm kín đáo trong một thung lũng dài như cái lá luá, sân bay dã chiến này đang ở trong một cuộc chia tay ồn ào và lâm li chưa từng thấy.

Dừng ngựa, Lồ nhìn thấy chiếc đa-cô-ta màu bạch kim, không số, đang nằm ngỏng đầu chờ đợi trên bãi cỏ rầu rầu và ở cạnh nó, đông đủ những kẻ sẽ rời khỏi đất này trong chuyến bay cuối cùng.

Tỉnh trưởng La Văn Đờ to béo phục phịch như một cây thịt, đội mũ phớt, mặc pa-đờ-xuy dạ đen, nhẹ nhõm chiếc va ly con trên tay, đứng  bên cô vợ ba A Linh áo váy đỏ chóe xẻ sườn, kiểu Thượng Hải. Nấn ná mãi, vì quyến luyến cô ả hay vì lý do nào khác mà hôm nay lão mới ra đi. Lão đi, cô ả trở về Vân Nam quê ả ư? Bọn thổ ty họ Nông bên Mường Cang đang khệ nệ chuyển hòm xiểng, đồ đoàn lên máy bay. Lý Kiều Đương thẳng như cái cọc đứng cạnh mấy tên cai, đội béo lùn. Thị Cọt mặc áo dài gấm đỏ, vấn  khăn nhung, gầy đét đứng cạnh ông bố là tri trâu Nông Vĩnh Yêng mập mạp mỡ màng. Cô nàng về Hà Nội sẽ quay về với thằng cha Hoàng Văn Tường nhân tình cũ; hay chồng ả, gã Xì Xám Mần béo mỡ, sĩ quan tham mưu của quân đội Tưởng thống chế lúc này đã có mặt ở Hà Nội rồi?

Một đám sĩ quan trẻ đang xúm quanh Phơ-rô-pông. Đã có đến mười chuyến máy bay ra đi rồi, giờ sao còn lắm bọn này thế. Kìa, sao lại có cả mấy con trâu? Trâu cũng đi Hà Nội ư? Không phải. Tri châu Hoàng Văn Chao ục ịch, vừa cưỡi trâu từ Pa Kha sang. Ngựa, lão cưỡi không quen. Lão đi có một mình. Chắc là còn mải lo chôn cất vàng mười, bạc trắng nên lũ thê thiếp và thằng con Hoàng Văn Tường thò lò chơi bốn cửa đã phới cả đi trước rồi.

Chao đang chen lên cửa máy bay. Cửa máy bay bộn người. Bọn này sợ bị bỏ lại hay sao? Lồ bật cười. Nhưng, Lồ bỗng nhổm người trên mình ngựa. Phơ-rô-pông vừa chạy đến cửa máy bay. Hắn đun đít lão già Hoàng Văn Chao xong, liền quay lại hét một tiếng rõ to, lập tức đám đông giãn ra, rồi theo hiệu tay vẫy thân ái của hắn, hai người Hmông ăn mặc rách rưới từ nãy đứng khép nép dưới cánh máy bay từ từ bước lại, và rụt rè bước lên bậc cửa máy bay.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #11 vào lúc: 17 Tháng Ba, 2010, 10:50:12 am »

Lồ cảm thấy được an ủi. Hắn thúc ngựa đến thẳng chỗ viên quan tư.

- Ô la la! Ông Lồ! Tôi thật ngẩn ngơ cả con tim, khô héo cả lá gan vì mấy ngày nay mong ước mà chưa được gặp na nủ - Phơ-rô-pông nói tiêng Hmông đúng phong cách, ngữ điệu Hmông - Tiếc thật. Nhưng tôi tin chúng ta đã nhiều lần trò chuyện thật hết ý để cùng lòng với nhau rồi. Bây giờ, tất cả đã ở trong tay na nủ.

Mắt Lồ hoa hoa. Dễ nổi giận, mau quên, chóng làm lành, hắn lại rưng rưng sung sướng, lại ngùn ngụt kiêu hãnh. Nhất là sau lúc đó, ghé lại bên hắn là những lời chào, sự nhờ cậy, niềm tin cẩn:

- Mọi sự liên hệ sẽ bằng máy bay và điện đài như ta đã bàn, na nủ Lồ!

- Na nủ yên lòng. Chỉ nay mai sẽ có lệnh tấn phong na nủ.  

- Anh Lồ đừng đứt lá gan, quên em nhé.

- Tất cả dinh cơ, quyền hành của tôi, tôi để lại cho na nủ. Người Hmông ta xưa rày một cõi, na nủ ạ.  

Nghe cái giọng vang trầm ấy, Lồ hơi ngước lên, nhận ra La Văn Đờ mặt thâm trầm bí hiểm. Nhưng, con mắt lành của hắn bỏ qua ngay Đờ, chiếu thẳng vào một gương mặt đàn bà đang mướt ánh cười đứng cạnh Đờ: A Linh.

Chao, bà ba! Đã qua bao cuộc chung đụng táo tợn bí mật với ả mà sức quyến rũ của ả với Lồ vẫn như còn nguyên vẹn, tinh khôi. Ả là cái gì? Một tấm thân thon chắc quẫy động khát muốn nhục thể, nơi ẩn náu những đòi hỏi cao vọng đã tiết ra nhưng còn hết sức mập mờ với tư duy còn sơ khai của Lồ.

Đáp lại cái nhìn bạo dạn của Lồ, hai con mắt ả đong đưa cuốn hút. Chuỗi hạt cổ thả quả tim vàng nạm ngọc thạch giữa khe lõm của hai bầu vú nở nang động đậy. Làn môi cong vừa dạn dĩ vừa uốn éo thơ dại của ả như vừa thoát ra một lời tình tự say sưa, khi mắt Lồ vừa chạm vào ngực ả.

Lồ bừng bừng cả người.

Và khi ả quay lại, giơ tay vẫy từ biệt La Văn Đờ, Phơ-rô-pông trên máy bay thì Lồ tưởng như cả tấm thân mình sẽ vỡ tung vì sung sướng. A Linh không đi! A Linh ở lại! Ôi! Eo, mông A Linh núng nính, căng nức trong cái váy chật khít.

Cánh quạt máy bay quay tít, động cơ nổ âm vang thung lũng.

- Không đi à? - Quay hẳn mặt lại, Lồ hổn hển, hỏi trống không.

Hai con mắt lúng liếng của A Linh nghiêng nghiêng như trêu chọc, như mơn trớn Lồ. Như muốn hỏi Lồ: Không thích à?

Chiếc máy bay đã bò trên đường băng. Người Lồ là một đám cháy. Nếp sống phóng dục thiêu đốt hắn. Chẳng thể chờ đợi lâu hơn, chiếc đacôta vừa rời đường băng, Lồ đã lao tới người đàn bà, hai cánh tay giang rộng như hai sợi song đá.

Người đàn bà giẫy, kêu the thé trong tiếng cười. Hai chân ả đạp, nhưng hai cánh tay lại vít cổ Lồ thít chặt.

Đặt người đàn bà lên yên, Lồ phắt lên lưng con ngựa. Hai tay Lồ vòng ra trước thít lại, ép vào hai bầu vú căng mịn của A Linh. Nhận được cú thích chân như máy vào háng, con ngựa đen đã quen với cảnh chủ cướp gái, nhún chân phóng liền. Người Lồ bừng bừng như lên cơn sốt.

- Na nủ Lồ! Na nủ Lồ!

- Tại sao A Linh ở lại mà không bảo tôi. A Linh có biết tôi mừng thế nào vì A Linh ở lại không?

- Anh Lồ..

- Vào trong rừng kia! Trời! Tôi sẽ chết trên bụng A Linh mất thôi.

Bên đường, ba sảo quán Sì, Trà, Phà thất thanh gọi Lồ rồi giơ súng lên trời nổ đòm đòm liên hồi. Khi ấy chiếc máy bay đang lượn một vòng, tăng dần độ cao, từ biệt đất Pha Linh.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #12 vào lúc: 17 Tháng Ba, 2010, 10:53:41 am »

*
* *

Ngọn lửa dục đã xẹp. Chúng buông nhau, nằm cách xa nhau, ngửa mặt nhìn trời. Lồ nghĩ lơ mơ. Hắn nhớ đến cái lần chung đụng đầu tiên với A Linh ở căn buồng hẹp trong căn nhà gỗ hai tầng của tri châu La Văn Đờ. Dạo ấy, Đờ mới chạy Nhật từ Vân Nam về. Lần ấy, Lồ chỉ có cảm giác ả là một con bé máu mê không được thoả mãn với ông tri châu già. Nhưng những lần sau, Lồ hiểu, ả hoàn toàn không phải chỉ là như thế. Lồ đâm ra e ngại. Liệu ông Đờ có biết chuyện tư tình của Lồ và ả không? Chẳng biết nhưng cứ thấy ả cứ xấn tới và Lồ vốn là kẻ háo dục.

Người đàn bà đã ngồi dậy. Đưa tay cào tóc, cặp mắt ả ngầu ngầu ánh đỏ:  

- Na nủ táo gan thật đấy nhỉ!

Lồ lim dim con mắt. Những khoái lạc tràn trề đang tan hoà, sau cơn bồng bột, sau cực điểm của lạc thú là phút giây điềm tĩnh, nhẹ tênh. Hắn xoay người, nằm nghiêng nhìn ả, thấy ả đã khác xưa nhiều rồi. Thấp thoáng đó đây trên gương mặt, vóc hình ả là vẻ lạnh lùng, già dặn và khôn ngoan.

- Đừng nói thế, A Linh. Tôi yêu em thật mà.

- Hứ.

- Thật mà! Ông Đờ không về nữa. Nhưng, người này đi còn có người kia. Tôi yêu A Linh thật mà.

- Anh Lồ ơi, anh đáng yêu quá. Tôi cũng yêu anh thật mà.  

Lồ gỡ hai bàn tay ả đàn bà, quay đi, mũi ngàn ngạt.

- Tôi không làm em khổ. Tôi thua gì ông Đờ?

- Thật không làm tôi khổ chứ?

- Thật.

- Tôi chỉ biết làm A Linh sướng thôi.

- Thật chứ?

- Thật như lúc nãy em nằm dưới tôi, em rên hầm hừ ấy, em cào sứt cả lưng tôi. Ông Đờ có biết làm cho A Linh sướng thế không?

- Thôi không nói chuyện ông Đờ nữa. Anh Lồ ơi. Tôi cũng yêu anh quá. Tôi yêu anh vì anh khinh thế ngạo vật, vì anh chí khí hơn người. Tôi cũng chỉ muốn anh sướng, thật sướng. Anh nghe tôi nhé, đừng thối chí, núng lòng. Tôi sẽ ở bên anh. Nhưng giờ ta tạm chia tay nhau đã.

- A Linh đi đâu bây giờ?

- Tôi về Vân Nam bốc mộ ông cụ. Rồi tôi lại sang ngay. Ta sẽ ở bên nhau lâu lâu mà.

Thoáng qua óc Lồ một ý nghĩ gai góc rồi lại tan biến ngay. Lồ nhoài xuống mặt cỏ. Thốt nhiên, như tâm linh cùng ứng nghiệm, hai người bồng quài tay tìm nhau. Bên nhau, Lồ và A Linh giống như ngẫu nhiên, cùng ngửa mặt nhìn trời. Trên họ, trời mênh mông tím biếc ánh hoa mua và vắng lặng. Chiếc máy bay đã thuộc về một khoảng xa xăm trong ký ức. Gió chiều rong ruổi trên các tầng mây trôi lãng đãng và dạo dào ngọn cỏ hoang. Thấy mình như ngọn cỏ lay, cả hai cùng yên lặng rưng rưng. Khoảng không thanh tĩnh quá. Mấy năm chiến tranh có góc trời nào yên ả thế này.

Lát sau, đứng dậy, như đôi trai gái thanh tân, Lồ và A Linh lên ngựa. Con ngựa lững thững bước, chân lạt xạt cỏ may gai chổng ngược. Bên đường, hoa kim ngân nở trắng ngần, vô tư lự.

- A Linh à! Ngày xửa ngày xưa, lâu lắm rồi, khi chưa có trời, chưa có đất. Chỉ có nàng Gầu A và chàng Đrầu ống. Hai người dệt nên trời, dệt nên đất...

Giọng Lồ trượt trong gió yên bình, nghe là lạ. Chính Lồ cũng ngờ ngợ vì vẻ xa lạ của giọng nói và mối liên tưởng bất ngờ vừa tới trong óc mình. A Linh nghênh nghênh đôi tai nhỏ. Con chim hoạ mi nào vừa rót ánh bạc trong vắt vào khoảng không thanh lặng như thuở mới khai thiên.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #13 vào lúc: 17 Tháng Ba, 2010, 02:11:07 pm »

IV

Ấy là sự yên tĩnh sau những trận cuồng phong dữ dội, con người bị cuốn vào cơn xoáy lốc khủng khiếp với cái chết vây bủa, dăng bẫy quanh mình.

Trời đất giãn ra, thật thư thái nhẹ nhàng. Nhưng, sau bao năm trời súng nổ liên miên, bây giờ lạ thế, nhìn cảnh thật mà cứ tưởng là tranh vẽ, cứ ngỡ thanh bình, tĩnh lặng chỉ là giả tạo, tạm thời. Buổi sáng, núi đồi cứ im ắng mãi sau màn sương lạnh. Trong khi cây chè già náu mình kín đáo trong bộ quần áo rêu phong trắng mốc. Và đồng ruộng thì trống hơ trống hoác, mọc đầy thứ rau đắng cằn, xanh như mầm đá.

Yên tĩnh như giả tạo, lại nhuốm vẻ trang nghiêm bất thường.

Cho tới lúc mặt trời dậy, vượt qua ngọn núi và gió từ xa thổi về. Gió từ xa về thong thả, thanh nhàn. Và không gian mênh mang bỗng trở nên đằm thắm vì làn hương rất quen thuộc của núi rừng, đồng ruộng. Bao lâu nay gió có mùi thuốc đạn, mùi lửa; bao lâu nay gió gieo tai ương, dịch bệnh. Giờ, gió tràn ngập hương thơm thanh khiết của lá mùi tàu, mùi hoa kim ngân cao nhã. Nhựa thông toả ra mùi thơm trang trọng. Và quanh quất đâu đây như linh hồn xứ sở, mùi thơm mộc mạc, nguyên sơ, thật sâu xa, đậm đà của cây cỏ ngải. Cây cỏ ngải mọc tràn trên bờ ruộng, trên nương đồi. Khóm ngải tàn, khóm ngải lại xanh. Những chòm cỏ ngải lá chia thuỳ, hình hệt cái lông chim, mặt trên xanh ngắt, mặt dưới ngầu phấn trắng, sau kỳ sương muối đốt cháy hoen màu gỉ sắt và bị vó ngựa chiến tranh giẫm đạp nát nhừ, giờ đã đâm chồi non tơ mạnh mẽ khác thường.

Xách cái lồng chim hoạ mi len lỏi trong rừng, chốc chốc Pao lại dừng lại, ngẩn ngơ vì mùi thơm rất thương nhớ của cỏ ngải lên hương. Cao lớn, vai rộng, ngực nở, chắc khoẻ như một cây thông già mà chân Pao muốn nhảy. Cây cỏ ở đâu sống theo đất đó. Pao lại được trở về núi quê! Bao năm rồi, Pao mới lại được đi trong cái dáng chúi đấu về phía trước và bấm năm đầu ngón chân lên dốc.

Pao vui, cái lồng chim cũng vui. Con chim mi nhảy lách chách. Con chim mi thật đẹp: mắt thiên thanh, chân gân hươu. Nó đã theo Pao đi mấy năm trường.

Giờ thì con chim mi ngơ ngác.

Pao mắc cái lồng chim lên cành thông. Con chim thò cái mỏ nhọn ra khe lồng, ngó nghiêng. Lạ gì, chim ơi? Đây là quê Pao, nơi ba năm trước, cực chẳng đã và chẳng thể cưỡng lại được mình, Pao đã ra đi. Giờ Pao mới được trở về. Vậy, mừng Pao chim hãy hót đi, chim ơi.

*  
*   *
   

- Tíu u tíu u... píu... píu...

Thả tín hiệu gửi đồng loại một lần nữa rồi con chim mồi của Pao mới đứng im nghiêng đầu, lắng nghe. Và nó cũng như Pao chẳng cần phải chờ đợi lâu.  

- Tíu u tíu u píu u píu u.

- Tíu u tíu u... píu... píu...

Chim mi rừng đã đáp lời con chim mồi của Pao. Và không chỉ là một con, hai con. Mà là cả đàn, cả bầy, tất tất cả những con chim mi chủ thung từ lũng xa đến cánh rừng gần. Tất cả cùng hoà điệu líu lo, rộn ràng.

Chao ôi! Vậy là lại như mọi lần. Nghĩa là cuộc đấu hót của các chú chim mi rừng đã được khơi mào từ con chim mồi của Pao. Để rồi sau đó, những chú chim mi rừng vốn hay ganh nhau tiếng hót sẽ lần lượt bay tới, và lần lượt sập bẫy của Pao ư? Không! Hôm nay, Pao không bắt chim. Can Chư Sủ không còn giặc. Pao muốn nghe chim hót. Tiếng chim là tiếng đồng vọng của đồng bào Pao với Pao. Pao đã trở về. Thằng Seo Cấu cướp Seo Ly của Pao. Bọn phản động định giết Pao. Đau đớn, căm giận, Pao đã ra đi, xa cha, xa em, xa quê hương xiết bao thương nhớ.

Giờ, Pao là Cách mạng đang trở về. Pao vui trong lòng. Trong lòng Pao có chim hót, nó hót cùng bầy chim mi ngoài rừng.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #14 vào lúc: 17 Tháng Ba, 2010, 02:15:47 pm »

*
*   *  


Nhưng, thốt nhiên, con chim mồi của Pao bặt tiếng hót. Từ bụi cây đom đóm lúp xúp bên trái Pao bay vù ra và rướn lên cao một đàn chim chào mào. Có tiếng hòn đá ném, tiếng người xuỳ xuỳ xua đuổi và tiếng con chó rít ư ử trong bụi rậm.

Đứng dậy, Pao thấy một con chó vàng mặt sư tử, mõm lồm xồm lông tơ vừa xồ tới trước mặt mình.

- Húi, húi. Xồm! Xồm!

Cùng với tiếng gọi chó, Pao nhận ra một chú bé vừa ló ra khỏi bụi rậm nọ. Chú bé trạc mười ba tuổi, cao nhẳng, mặt tròn tròn, hai con mắt lớn, cổ đeo cái vòng bạc lủng lẳng chiếc vuốt hổ.

Bật tiếng, Pao gọi thật to:

- Pùa! Em Pùa!

Đúng là em Pùa của Pao rồi. Nhưng kìa, tại sao trông thấy Pao nó lại bỏ chạy. Dún chân đuổi theo em, Pao gào:

- Pùa! Anh Pao đây mà.

Chú bé dừng lại bên một gốc cây páng cụt đang khoét ruột, cạnh đó là một cái túi chàm mở miệng bên trong ngọ nguậy những con sâu non trắng nõn, to bằng ngón tay cái. Pao bước lại gần em. Đưa mắt, anh nhìn thấy cách em một bụi ô rô là một người trai trẻ, vóc bé nhỏ, đang quay lưng về phía anh, cố sức kéo một bó vầu lớn.

Nhìn Pao, hai con mắt Pùa bỗng rưng rưng.

- Anh Pao! Anh A Sinh ơi! Anh Pao em về…

- Pùa, em!

Ôm chầm em trai, sống mũi Pao cay nhức. Hiện lên trong Pao cái buổi đêm hai anh em chia tay nhau: Pao đi xuống châu theo Việt Minh sau khi thoát khỏi tay bọn Lử, Seo Cấu và lũ sảo quán Pha Linh. Ba năm qua, chẳng lúc nào Pao nguôi thương cha, không lo cho em Pùa.

- Em đang cày nương thì anh A Sinh gọi: có cây páng nhiều con sâu lắm. Em sang đây khoét cây páng. Em nhờ chị Seo Cả cày hộ. Anh còn nhớ chị Seo Cả không?  

Pao buông Pùa, hai mắt nhìn như soi vào mặt em.

- Anh còn nhớ chị Seo Cả gái gầu phàng (gái bỏ chồng đến ở nhà chức dịch trong làng) nhà Giàng ly trang không? Cả chị Seo Ly nữa. Em đi chợ, gặp chị ấy, địu con Seo Mùa...

Pao gật đầu. Mắt Pao nằng nặng nước:

- Cha có khoẻ không em?

- Cha bị ho nhiều. Cha đang làm ma khô cho bà Xoá anh à - Mặt ngoảnh về phía người trai trẻ đang lôi vác vầu, Pùa tiếp: - Còn kia là anh A Sinh, ở cạnh nhà ta, mới dọn đến.

Người tên A Sinh đặt bó vầu, xoa hai tay, buộc lại cái khăn đầu bị tuột, khép nép bước lại. Trong cái áo choàng ngắn cũn cỡn bó chặt và cái quần rộng, trông A Sinh chỉ như một chú thiếu niên mới lớn. Tuy vậy, Pao đã nhận ra nét mặt già dặn trên gương mặt trái xoan mịn có hai con mắt sáng, linh lợi của anh.

- Tôi là Pao, anh trai em Pùa.

- Em Pùa nó có nói. Hố pẩu nhắc tên anh luôn - Người trai trẻ xốc cái thắt lưng phía sau gài nắm rau đắng, rụt rè: - Tôi cùng họ, cùng ma với anh. Trước, tôi ở Lũng Phìn, chỗ ông châu uý Hản Sào Long...  

Con xồm đuổi chim đã quay lại, đứng bên chân Pùa, nhìn Pao, gừ gừ trong cổ họng. Pùa hẩy chân, quát nó: “Im” rồi nhìn Pao, hồi hộp:

- Anh về làng chứ, anh Pao! Làng dọn về chỗ mới rồi anh à.

Can Chư Sủ, thôn chính, nơi gia đình Pao ở, theo tay Pùa chỉ, đang lặng lẽ bốc lên những ngọn khói xanh thanh bình.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #15 vào lúc: 17 Tháng Ba, 2010, 02:21:58 pm »

*

Người Hmông ăn theo nương, ở theo nương. Lửa cháy tới đâu, chân người Hmông chạy theo tới đó. Đất nương cũ đã nhạt. Tìm rừng mới, chặt cây, phạt bụi, phóng hoả, dọn dẹp bãi nương xong, Can Chư Sủ di cả dòng họ sang làng mới từ vụ mùa năm ngoái. Người cùng dòng họ, chẳng ai muốn bơ vơ, xa nhau một ngày đường; chiến tranh loạn lạc càng khiến phải nương tựa nhau, nên Can Chư Sủ giờ càng to. Gần trăm nóc nhà rải trên một bãi đá thấp thoáng bóng cây đào trên mỏm núi; nhìn xuống thấy sông Chảy xanh đen hun hút; nhìn lên thấy rừng chè cổ ngậm một vệt sương trắng. Chân làng là những mảnh ruộng xếp lớp như bậc thang, mảnh nhỏ chỉ vừa một đường bừa. Sườn làng, cữ này cây thuốc phiện non xoè lá xanh như khóm cải cúc.

Làng mới lập mà lại như đã già lắm rồi. Nhà mái cỏ dày úp trên bốn mặt tường trình nặng nề, rêu phủ đỏ quạch màu quết trầu. Kiểu nhà vẫn xưa cũ: ba gian, cửa chính ở giữa, gian giữa là nơi tiếp khách nhưng lỉnh kỉnh những cối đá, nạng thồ, yên ngựa lại chìa ra một cái chân thang gỗ nhẵn bóng - đường lên căn gác tối mờ, lúc nào cũng khét đắng mùi khói.

Nhiều năm đi qua, nhiều tháng đi qua rồi mà vẫn như ngày hôm qua. Vẫn là những con lợn nái già lõng thõng hàng vú lép đi đi lại lại và giũi đất trên cái sân lầy lội, tanh khằn. Vẫn là lũ gà lông đầy chân bới đống phân trâu phân lợn, cạnh bọn trẻ chơi trò chơi cưỡi lợn hay bắt bọ hung. Vẫn là những cái que dán giấy trắng cắm dọc đường làng đuổi ma và văng vẳng đây đó tiếng cây gậy tiên cúng ma nảy xóc xách.

Vẫn là cuộc sống trong vòng kín bưng với một trạng thái kinh tế cô đơn, tự cung tự cấp những nhu cầu của mình. Chiến tranh lại càng khiến cho sự trì trệ thêm nặng nề. Dầu hoả thắp một thời phổ biến, nay lại quay về với mỡ lợn và đuốc gỗ pơ mu. Gà gáy thay đồng hồ báo giờ giấc. Mà thật ra cần gì phải biết đến thời gian.

Thời gian chẳng đáng kể. Tương lai không có ý nghĩa. Dĩ vãng xa xôi là tất cả, chế ngự tất cả và chính nó là hiện tại.

*

Căn nhà to nhất Can Chư Sủ là nhà Giàng ly trang (Giàng lý trưởng) tức lý trưởng Giàng Súng. Tường nện đất trộn đá, ngoài phết một lớp tam hợp thổ trắng xám. Lớp tường vi nọ đóng vai trò che chắn cho cái khung bên trong làm bằng gỗ. Cột gỗ sa mu kê trên đá đẽo hình đèn lồng, đế vuông. Mái nhà là gỗ ván. Cầu thang lên gác có lan can vịn. Gác rộng, sàn lát gỗ; thường khi đó là nơi hội họp của các binh thầu, seo phải (chức dịch ở thôn xã).

Nhà lý trưởng Giàng Súng giàu nhất Can Chư Sủ. Giàu vì mua được chức lý trưởng ba mươi đồng bạc trắng. Vì có đám gái bị ép duyên bỏ chồng đến trú ngụ làm không công. Vì có cô cháu gái Seo Váy kết hôn với ông tư Phơ-rô-pông. Giàu vì được hưởng đặc quyền.

Quan tư Phơ-rô-pông ghi trong nhật ký:

“Ông chú vợ tôi - ông Giàng ly trang - giàu có vì ông đã vượt thời gian. Ông là người duy nhất ở Can Chư Sủ sống ngoài khuôn khổ chật hẹp của sự ngưng đọng. Cả làng không ai biết đồng hồ là cái gì. Còn ông, ông không ở cái thời điểm ấy. Ông đeo đồng hồ và biết vặn kim, chỉnh giờ, lên dây cót. Cả làng hỏi giờ ông như hỏi một trò chơi”.

Những năm gần đây, lý trưởng Giàng Súng còn vượt ra khỏi sức hút, sự trì néo của làng. Việc ấy bắt đầu bằng chuyến đưa thuốc phiện ra thị trấn tỉnh ly cách đây hai chục năm. Thuốc phiện xưa chỉ bán cho lái buôn tại làng. Nay, mọi người bán cho lão. Rồi cùng với các đặc sản như xương hổ, gạc nai, huyết lình, lão đóng vào nạng thồ, thồ ra tỉnh bán. Và từ tỉnh lão trở về với vải phin đen, xa tanh, len, dạ, pin đèn, dầu hoả, đá lửa...

Làng bắt đầu có hàng hoá. Anh chàng lái buôn chính là ông lý trưởng. Nghề buôn tăng thêm tín nhiệm cho chức vị chính quyền. Chức vị chính quyền lại hỗ trợ cho nghề buôn và nghề nông thu lợi.

Giàu có cũng là một thế lực. Và như vậy, giờ đây cùng lúc Can Chư Sủ có hai trung tâm thu hút, chi phối dân làng. Một là hố pẩu Giàng Lầu, người gốc của dòng họ, mang sức mạnh của phong hoá, đạo lý cổ truyền. Một nữa là Giàng ly trang, quyền thế và sang giàu, những thế lực mới của đời sống.

Sáng nay, khi nhà hố pẩu nổi trống, khèn cúng ma khô cho bà cụ mất cách đây ba năm, Giàng ly trang vẫn ở nhà. Mặt dài, đuôi mắt cong âm thầm bí hiểm, đã ngót lục tuần, nhưng lão còn dẻo dai, săn chắc lắm. Mặc cái capốt dạ màu cứt ngựa, đội khăn đen mới, lão đang lúi húi dọn bàn nước.

Ngoài trời, lúc này sương đang tã từng mảng, tan loãng.

Con chó lài to bằng con bê nằm ngoài hiên hít mùi sương nhạt cả đêm đã chán, nhổm lên, bước vào nhà, đi đến cạnh một người phụ nữ mập mạp đang lúi húi nặn bánh bột ngô ở cửa vào bếp. Định nằm, bỗng nó quay ra, khịt mũi đánh hơi.Giàng ly trang ngẩng lên thì thấy lão Sếnh quần ống thấp ống cao đang khật khưỡng bước vào:

- Hế, nhà đâu hết người mà lạnh như hang đá thế này!

Không chào Giàng ly trang, qua gian giữa, lão Sếnh vào bếp.

- Úi! Cái gì thế này! - Vỗ đánh bộp vào mông người đàn bà nhấp nhổm bên cối bột, lão Sếnh đưa tay lên má, cười hế hế khoái trá. Giàng ly trang giương mắt. Người đàn bà kêu the thé, quay ra, mặt lấm tấm bột ngô, tròn phính.

- Seo Váy, mày có nhớ ông tư không? Hế hế... - Hềnh hệch cười, thấy Giàng ly trang cau mặt, lão Sếnh liền đổi mặt nghiêm nghị - Giàng ly trang à, tôi đã gặp ngài rồi nhé...

“Dà, cái lão già dở khôn dở dại này, mồm cứ như mồm con chó, nói mãi một câu này mấy hôm nay rồi”. Giàng ly trang nghĩ, nhưng vội quay lại, quát con lài và nhanh nhảu bước ra thềm.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #16 vào lúc: 17 Tháng Ba, 2010, 02:30:55 pm »

Ngoài sân, có hai bóng người. Hai người che hai cái ô đen, chân đi giày vải, bít tất trắng. Thấy chủ nhà, họ liền hạ ô, cúi đầu, khe khẽ:

- Chúng tôi từ xa đến đây, muốn hỏi gia chủ: có con hắc kê, chân đen, lông đen, mào đen, mắt đen...

Giàng ly trang gật đầu. Hai cái ô đen liền cụp. Hai người đàn ông thở phào, như hai bức tượng đá bước vào nhà. Vừa lúc cái đồng hồ quả lắc treo trên cột cái đổ xoè xoè và gõ kèng kèng thong thả đúng chín tiếng.

- Hế hế... Cái đồng hồ nó thay tôi chào hai ông seo phải rồi đấy - Lão Sếnh liến thoắng - Nào, mời các ông lên gác.

Chẳng còn thời giờ để bực tức với lão Sếnh nghiện nữa. “Chúng tôi từ xa đến, muốn hỏi gia chủ...” Ngoài sân lại có người. Lại cái câu ám hiệu ấy. Rồi lại có người. Người đến dồn dập sau khi phát tín hiệu, được gia chủ tiếp nhận, liền thảnh thơi bước vào nhà, lên gác.

Lát sau, căn gác đã đầy người. Một bộ bàn đèn sạch bong được đặt ngay giữa sàn. Lão Sếnh sà xuống. Giàng ly trang vừa vỗ vỗ bàn tay định trách lão thì đã lại vội lập cập xuống thang.

Ngoài sân, rộn rịch chân ba con ngựa. Ba con, con nào trên lưng cũng kềnh kệnh những bó bạt lớn, dài. Theo ngựa có sáu người. Bọn này không nói ám hiệu. Dừng ngựa một cái, từng cặp hai đứa một đứng hai bên nạng thồ, đồng thanh hự một tiếng, rồi nhấc bổng những bó bạt nặng qua đuôi ngựa. Con ngựa tọt ra, rùng mình, giũ bờm khoan khoái.

Giàng ly trang xích con lài vào bếp. Ba cái nạng thồ đã đứng ở trong hiên.

- Các anh... khiêng vào trong này. Đừng cởi vội! Theo tôi.

Ba cái nạng thồ lại được nâng lên, theo Giàng ly trang vào một chái nhà tối om. Sáp tới Giàng ly trang một cái mặt đầy thịt:

- Như thế là... ba mươi khẩu súng, năm hòm lựu đạn mỏ vịt.

- Được, được...

- Còn thóc thì đã chuyển tới ông bốn tạ. Ngoài ra là năm nghìn đồng Đông Dương. Hai trăm đồng bạc trắng. Mười súc vải. Ông Giàng A Lử bảo: ông giữ cẩn thận. Phải thật kín!

- Nhất định rồi. Nhưng ông Lử đâu? Hôm nay chúng tôi họp ăn thề ở làng.

Người nọ đáp lầu bầu không rõ ý rồi cả bọn thình thịch bước lên thang.

Giàng ly trang dặn cô Seo Váy cháu gái trông dưới nhà, lên gác sau cùng. Căn gác xanh khói thuốc lào, thuốc phiện. Mờ mờ trong khói thuốc những khuôn mặt quen thuộc lầm lì. Các seo phải, binh thầu, những cai, đội, bếp mới từ các đồn binh thất thủ trở về làng. Nằm nghiêng bên bàn đèn là một người má trái có vệt sẹo dài như con giun. Cạnh đó, lão Sếnh ngồi chầu hẫu, giọng nhèo nhẽo:

- Húi, tôi gặp ngài rồi nhé, ông Seo Cấu à. Ngài khác người thường. Hai mắt dồn một nên mắt ngài như sao. Ngài bắt được con hổ vằn.

- Hừ! - Gã mặt sẹo nghển cổ - Thằng Châu Quán Lồ á?

- Chứ gì, ngài cho chúng tôi con hổ vằn ngài bắn được nhé.

- Im mồm đi! Tao là con dao dài ba thước, tao chặt đôi ngài của lão ra.

- Mày là cứt con hổ thì có. Hế hế...

Cái bàn đèn xô lệch. Căn gác ồn ồn. Một người kéo lão Sếnh dậy.

- Các ông à, bên miền tây, ông Đèo Văn Ân được in hình trên giấy bạc cũng đi rồi.

- Hầy, thùng nước đứt đai mà.

- Việt Minh về, ăn gì cũng phải báo cáo đấy.

- Chơi gái thì sao?

- Hẹ hẹ... Chắc chuyến này Giàng ly trang hết con đường buôn bán rồi.

- Năm 1946, Việt Minh có châu bộ ở Pa Kha. Họ bắt ông Chao bỏ tục lệ bắt dân nộp khờ cù, khờ chì (thóc khách, gà khách : một kiểu bóc lột của thổ ty) đấy nhé.

- Con chó là hũ rượu của hổ. Ta thành hũ rượu của Việt Minh rồi, các ông ạ.

Sau cái bàn đèn, bọn cai, đội trẻ tuổi ngồi quanh ấm nước chè, râm ran câu chuyện phiếm về Châu Quán Lồ, về vợ ba ông Đờ. Chuyện cô Seo Say từ ngày gặp na nủ Lồ đâm ra mê lú, hôm qua xách túi quần áo bỏ nhà đi đâu. Chuyện thằng bé Chia mất tích trên núi Chè. Nghi là hổ ăn thịt mà mổ bụng hổ ra, không thấy dấu vết. Rồi lại quay về câu chuyện khủng khiếp trời long đất lở mới hôm qua: Việt Minh nổ súng ầm ầm đánh các đồn Tây, đồn dõng suốt từ Hà Giang sang Pa Kha.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #17 vào lúc: 17 Tháng Ba, 2010, 02:36:05 pm »

Giàng ly trang đứng trang nghiêm, hai con mắt thô lố chớp chớp. Đôi môi mỏng mím chặt, bợt máu. Người có ba hồn, hồn chính ở chỏm tóc, nếu đúng thế thì lão đích thị là cái chỏm tóc của làng Can Chư Sủ này, và hôm nay, ở cuộc họp kín này. Việt Minh đánh vào châu, nhổ bốt Cấn Câu, chiếm đồn Pa Kha rồi. Việt Minh về, rồi thì sẽ mất hết. Những ai có cái sẽ mất phải cố kết lại với nhau thôi. Nên thực tình Giàng ly trang muốn cuộc họp này là có ý nghĩ như một cuộc ăn thề. Và cuộc ăn thề hôm nay lão rất muốn nó phải có được cái hùng khí giống như buổi ăn thề với Phơ-rô-pông ở đồn Pa Kha đêm hôm nào. Chỉ tiếc, tiền đầu xem chừng bất lợi. Lão vừa e hèm dọn giọng định bắt đầu vào việc thì từ đầu cầu thang nhô lên một cái hũ rượu và căn gác lập tức nhốn nháo hết cả lên.

Người bê hũ rượu đậm người, mặt bụ, đờ đẫn, xanh bủng, đặt hũ rượu xuống, thở hào hển rồi đưa mắt lờ ngờ nhìn quanh như chẳng hiểu chuyện gì đang xảy ra.

- Anh Giống mang rượu đến đấy à? Anh ngồi xuống đi rồi ta bắt đầu bàn việc. Nào, nghe tôi nói nhé. Ơ kìa!

Chính lúc ấy, không muốn mà Giàng ly trang cũng ngừng lời và theo mọi người trên căn gác nghển cổ, nhìn xuống sân. Thì ra mọi người đang cùng một tâm trạng: họ đều đang chờ đợi, và cùng khe khẽ kêu:

- Ông Lử!

Lử! Giàng A Lử. Quan một Giàng A Lử! Đồn trưởng Lử! Hung thần của châu Pa Kha! Niềm tin cậy của người Tây! Con trai của hố pẩu Giàng Lầu!

Lử đã đến thật rồi.

Lử vụt qua cái sân lạnh, tọt vào cửa, cúi đầu, lật bật bước lên thang. Nhưng mà kìa, sao mặt hắn lại nhăn nhăn nhó nhó thế! Một tay hắn ốp bụng. Tay kia hắn úp vào mồm.  

Căn gác né ra một khoảng rộng cho Lử bước vào. Không khí náo hoạt hẳn lên.

- Trời! Mong đỏ con mắt đấy, ông Lử.

- Chào anh Lử!

- Anh Lử à! Họ Giàng ta có anh mới ngẩng mặt lên được đấy.

Seo Cấu bật lên từ cái khay bàn đèn:

- Ô hô, Lử! Tao tưởng mày...

Lử lắc đầu.

Lử bằng xương bằng thịt đây. Lử thật đây: mặt quắt queo quằu quạu, ria mép như cái bàn chải đen sì, hai con mắt nhọn gai góc như hai mũi tên. Đồn Cán Cấu của Lử bị Việt Minh đánh tan, nhưng Lử vẫn còn đây. Và Lử đã bắn đến viên đạn cuối cùng.

Lử thật đây rồi. Lử quen thuộc lắm, vậy mà lúc này đám người đang vây quanh Lử bỗng cùng ồ một tiếng nhỏ kinh sợ. Lử vừa có một cử chỉ rất lạ. Hắn ngồi thụp xuống, há miệng. Hay là hắn say rượu? Không. Mặt hắn lạnh và rắn câng. Hắn có nôn đâu. Hắn thọc tay vào mồm, ngẩng cổ và kéo từ trong mồm ra một con nhái bén. Giơ con nhái bén xám bợt đầu, chân ngọ nguậy lên cao, Lử cười nhệch nhạc:

- Đ. mẹ! Con nhái ăn hộ con sâu. Cái răng đau nhức đỡ hẳn đi. Tại cái bữa tiệc ăn thề với ông tư đây mà.

Người bê hũ rượu lúc nãy bước tới, tay run run nâng một bát rượu lớn. Lử đón bát rượu, ngửa cổ dốc tuột vào họng, khà một hơi, nhìn người nọ, gật gật:

- Hà, anh Seo Giống! Cám ơn anh nhé. Anh về làng, tôi cũng về làng đây. Thua một chỗ thôi, chứ có thua tất cả mọi chỗ đâu nhỉ!

Câu nói chí lý quá, làm hửng tất cả những khuôn mặt trên gác. Gật gù, Giàng ly trang cười hẹ hẹ. “Nào, bắt đầu bàn bạc nào”. Ý nghĩ của Giàng ly trang vừa nảy nở đã tắt nghỉm. Có tiếng lão Sếnh kêu the thé ở phía đầu hồi:

- Trông kìa, ông Lử, ông Súng.

Chẳng phải chỉ có Lử và Súng. Mà tất cả mọi người có mặt ở trên gác đều đổ xô ra các ô cửa sổ nhìn xuống.

Trên vệt đường làng qua trước nhà Giàng ly trang, thằng Pùa đi trước, dẫn đường cho một người trai trẻ đi sau. Người này cao lớn, chân bước rung đất, tay tênh tênh một cái lồng chim hoạ mi.

Hai con mắt như hai lưỡi dao nhọn của Lử phóng xuống đường, dõi theo bóng người nọ.

- Thằng Pao! Thế là tao lại gặp mày!

Quên cả răng đau, Lử nghiến răng trèo trẹo và rít thầm.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #18 vào lúc: 17 Tháng Ba, 2010, 02:40:11 pm »

V

Nhà hố pẩu đang có đám ma khô.

Người đứng chật ních hàng hiên. Góc sân, cạnh chuồng lợn có cái đầu con trâu mới cắt, nghềnh ngàng hai cánh sừng, mắt còn mở ngầu ngầu dữ tợn. Bà cụ Xoá - bà nội Pao - Lử - Pùa - mất giờ thìn, ngày con Cừu, đã ba năm, dạo Pao còn ở nhà. Khi bà cụ mất, lễ nghi thủ tục đã làm đủ. Nhưng, tuần trăng trước, hố pẩu nằm mộng thấy bà cụ hiện về, sực tỉnh thức giấc, mồ hôi vã đầy người. Đời người đàn ông Hmông có hai cái lo lớn: lo cưới vợ cho con, lo làm ma trâu báo hiếu bố mẹ. Mấy năm loạn ly, ma trâu chưa lo được, giờ bà cụ đã đòi. Con trâu! Con trâu là cái mũ che nắng mặt trời cho bà cụ đi đường, là kẻ dẫn đường đưa hồn bà về với tổ tiên, lúc bà cụ nằm xuống chưa lo được, giờ chẳng thể nấn ná nữa.

Lễ cúng ma khô làm to vì cũng là dịp cúng sơn thần, thổ địa.

Đèn thắp bằng mỡ lợn sáng trưng gian giữa. Trước bàn thờ nghi ngút khói hương là cái ghế buộc thanh tre khoác cái áo cũ của bà cụ. Mặt ghế đặt mâm cúng, có con gà luộc, bát cơm và chén rượu.

Lễ cúng cũng là buổi tụ hội của cả làng. Thật ra thì cây to cây chia cành, người đông người chia nhà thôi, chứ phần lớn dân làng đều là người họ Giàng. Cùng họ, cùng ma. Cùng đạo lý, phong tục. Dòng họ, dù có khác biệt người này người kia về sự phong lưu, về số của cải, vẫn là sợi dây vô hình bền chặt giằng níu mọi người.

Ngồi trước mâm cúng, mặt hố pẩu lầm lì, thành kính và không giấu được nỗi buồn tủi. Tóc đã ngả màu gio. Chòm râu bạc theo tóc, khô xác. Nếp nhăn hai bên mép kéo cái cằm trễ xuống. Khổ thế! Ngày cúng lớn mà cũng chỉ bộ quần áo cũ hơn người. Làm ma trâu cúng mẹ là phải lý. Nhưng gặp lúc túng quá. Hai trăm đồng bạc trắng một con trâu. Lại phải vay mượn. Vay mượn thì được nhưng lấy gì mà trả? Nhà có hai con trai lớn là Pao và Lử thì hai đứa hai ngả, chẳng giúp được gì. Thằng Pùa còn nhỏ. Lại thêm việc tục huyền hồi đầu năm kia. Đời người già không có bạn buồn quá. Dòng họ vun đắp. Vậy là lấy bà vợ kế về, rồi hai năm qua, hai đứa trẻ ra đời, ốm đau quặt quẹo luôn. Thôi thì nhân dịp làm ma khô cho mẹ thì cúng chín ông sơn tinh giữ cõi, chín ông thổ thần giữ đất luôn thể, để các ngài phù hộ cho cả nhà, cả dòng họ.

Ngồi cạnh hố pẩu là thầy cúng A Đa béo nục, đầu múp, hai má chảy xệ, cằm đùn hai lớp, ria mép xoắn nhọn chĩa hai bên mép đen sì. Lúc này lão ngồi trên một tấm ghế băng phủ khăn đỏ đặt trước bàn thờ. Cái ghế là con ngựa thần đi chu du tìm linh hồn lưu lạc. Đùi quặp chặt vào bụng ngựa, chân nhún trên đất, thân trên lắc lư theo nhịp ngựa phi, tay giơ cao rung chùm nhạc, miệng lão eo éo:

Ngựa mạnh ngựa khoẻ
Tiến lên nào! Chạy nhanh lên.
Chạy nhanh đến không có dấu chân.
Ngựa khổng lồ. Hãy dẫn quân lính ta đi. Đi xa nữa đi.


Theo nhịp bài hát cúng, chốc chốc lão lại phắt một cái, nhảy lên ghế đứng, rồi lại phịch một cái, phệt xuống ghế ngồi, môi mím bật “brừ... brừ” như tiếng ngựa thở.

Ấy là lúc hồn lão rời khỏi thể xác, đi theo cái trục xuyên qua ba thế gian: Thiên đường, Địa ngục, Mặt đất để tìm ma, tìm hồn.

Thầy cúng A Đa là thầy cúng cao tay, có nhiều phép thuật. Lớp cúng nào thầy cũng bắt được hồn, cũng trừ được ma. Thôi thì đủ các loại ma. Ma cây, ma bụi rậm sai khiến hổ bắt lợn, bắt người. Ma ngọn suối phá hại sự sinh đẻ, làm sản phụ chết. Ma trong núi làm người gãy chân và sốt mê man. Ma ác nào thì cũng phải thua thầy.

Năm ngoái, hố pẩu lên càng cua, cũng đã mời thầy A Đa cúng. Cúng ba ngày, mất một lợn, một dê mới bắt được hồn ma. Hồn ma là những con sâu đen đào thấy ở cái rãnh cạnh nhà. Đầu năm thằng Pùa ốm, thầy khấn xong, đặt hai con gà, một con trắng, một con đỏ lên hai vai nó, rồi hát véo von như dụ dỗ: “Đến nhanh! Đến nhanh! Mọi thứ đã sắp sẵn cho mày! Trông xem những con gà đẹp này!” Quả nhiên, thoáng cái con ma hang đá mắc lừa đã dẫn thân đến cho thầy bắt.Pao đứng ở hiên từ lúc nãy. Theo rõi buổi lễ, đến đây Pao bỗng thấy căn nhà chợt a lên một tiếng reo mừng rỡ. Thầy A Đa vừa từ lưng con ngựa thần đứng xuống đất. Một người đàn ông bưng chậu nước đi vào bếp, đổ ập vào miệng cái bếp lò. Trong khói bếp mịt mù, một dòng người từ gian nhà trong bưng bê mâm, bát, chai, hũ đi ra. Nét mặt ai nấy đều hỉ hả khác thường. Các ma ác thế là đã phải bỏ chạy cả rồi.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #19 vào lúc: 17 Tháng Ba, 2010, 02:59:28 pm »

*

Cỗ đã dọn. Ba mươi bát xếp thành hai hàng trên tấm ván kê trước bàn thờ. Ba mươi bát, bát nào cũng giống bát nào: trong bát có đủ miếng thủ, miếng lòng, miếng gan, miếng thăn. Và các mâm gỗ cũng đã ngả ra, xếp thành hàng lối, ngay ngắn.

Thằng Pùa từ trong nhà lách ra, kéo tay Pao: “Anh Pao, vào đi!”. Người trong nhà đang toá ra, Pao né vào cạnh cái quan tài ở hiên.

- Dà, cháu Pao! Mẹ cháu đẻ cháu dưới chòm cỏ ngải nên cháu xa làng lâu quá.

Có tiếng ai đó nói. Pao quay lại. Cha Pao vừa ló ở khung cửa.

- Cha! Cha! - Pao lắp bắp.

- Pao! Con... con đấy à, Pao?

- Cha!

Pao kêu to một tiếng rồi đứng lặng. Ba năm là bao nhiêu ngày tháng nhớ, âu lo. Ba năm mà cha đã già xọp. Mặt hóp lại, chân tay cha khô khẳng, chẳng còn khí sắc, chẳng còn tuyết người như hồi xưa. Nước mắt trĩu nặng vành mi Pao.

Cúi đầu, cố nén xúc động, hố pẩu quay ra sân, giọng nghẹn đắng:

- Mời các ông các bà, mời các cháu vào nhà đi! Pao nó về rồi đây này. Nào, nào...

*

Lão Sếnh tuần chay nào cũng có nước mắt, cỗ bàn nhà nào cũng có mặt. Lão bỏ đám hội họp ở nhà  Giàng ly trang sang đây, giờ đập đập chân phủi bụi, co cẳng ngồi lên ghế ở sát ngay bàn thờ. Cái mặt đầy tàn nhang, tươi hớn:

- Nào, mời các cụ - Lão Sếnh nhấc chén - Ta uống rượu mừng, rượu hội ngộ, rượu vui vì cháu Pao trở về. Cháu Pao à, khà... rượu này làm người chết tỉnh dậy đây. Cháu về, lòng lão có con chim hót đấy. Cây có nấm, ở trên rừng cũng có nấm, ngâm dưới ao cũng có nấm. Cháu Pao à, người Hmông ta đã có na nủ Châu Quán Lồ, giờ lại có cháu làm quan to bên Việt Minh. Hế! Cháu đã thấy mặt na nủ Lồ chưa? Húi, ngài khác người thường. Hai mắt dồn một nên mắt ngài như sao. Ngài bắt được con hổ vằn. Này cháu, tướng mạo cháu cũng khá đấy. Mắt cháu tinh anh hơn mắt người. Tai cháu to hơn tai người.

Mâm cỗ trên bàn cao có năm người: Pao, A Sinh, lão Sếnh, thầy cúng A Đa và một người đã có tuổi, da đỏ đắn, dân làng vẫn gọi là ông già tam thất vì ông có một cái trại trồng cây thuốc quý đó ở đầu làng. Ông già tam thất và lão A Đa, Pao chưa quen. Mâm cơm hơi tẻ. Chỉ có lão Sếnh nói. Hết chuyện về na nủ Lồ, lại chuyện hổ, chuyện trâu, chuyện gái. Cái miệng có cái răng cửa gãy của lão chẳng để yên lúc nào.

- Ông quản ma này, tôi nằm mộng gặp một con trâu. Con trâu bảo tôi: Mình ơi, tôi phải làm trâu năm năm nữa. Thế là thế nào?

- Bà nhà ông đấy! - Thầy cúng A Đa đáp.

- A, thế cái răng tôi tự dưng gãy khục một cái là làm sao?  

A Sinh đặt kịch chén rượu:

- Ông ghẹo cô Seo Say bị nó đuổi ngã chứ sao!

- Láo!

- Hì hì...

- Húi, con Seo Say mê tao thì có ấy! Làng này, không đứa nào bằng nó - Lão Sễnh cười tít mắt - Con Váy vợ ông tư được cái trắng và hai tảng mông to. Nhưng con gái Hmông không đứa nào có cái ngực to đẹp như con Say. Mà ông quản ma này. Nó, cái con Say ấy, nó đẹp thế mà anh đàn ông nào cũng chê... - Ghé tai thầy cúng rồi bật ngửa cổ, lão Sễnh cười khành khạch - Tốt mái hại sống á! Nhưng giờ nó mê na nủ rồi. Nó đang hỏi tôi đường đi Pha Linh. Này, hay ta cho gà trống Pao họ Giàng ta đến. Hả, cháu Pao. Có dám chơi không?

Mặt Pao im phắc. Tất cả đều xa lạ, như từ ký ức của Pao sống lại. Căn nhà cũng lạ. Cạnh Pao là cái cột chính, trên cột treo hàm xương lợn. cột này thờ ma lợn, cái cột cũng lạ.

Hình như Pao lạc đến đây. Cái cảm giác ấy ám ảnh Pao cho tới khi hố pẩu trong vai gia chủ đã mời khách vào các mâm và quay lại ngồi cạnh Pao.

- Mừng quá! Mời các bác, anh A Sinh...

Sau buổi cúng, bao âu lo rầu rĩ đã tiêu tan, con người thảnh thơi, nhẹ nhõm, lại thêm Pao trở về, có mừng nào mừng hơn, có vui nào vui hơn. Quay sang Pao, hố pẩu dịu dàng:

- Ăn đi, con. Nào, cạn chén, các bác, anh Sinh. Nhờ ông bà, tổ tiên chở che, không còn giặc giã, đường đi không dây quấn, dây quàng…

Pao rưng tưng. Nhấc đũa, Pao chọn một miếng gan gắp đặt vào bát cha. Thầy cúng A Đa ngẩng lên, hai con mắt nhỏ, dài, sắc hiểm chạm mắt Pao, lảng ra.

Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM