Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 07:03:55 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Cách mạng Văn hoá liệt truyện - Tập 3  (Đọc 70939 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #40 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2010, 11:01:12 am »


2. Giang Thanh cử liên lạc viên đến bên cạnh Mao Trạch Đông

Chính lúc Giang Thanh hăng hái dấy lên làn sóng “Bình “Thủy Hử”“ thì bệnh của Chu Ân Lai không thể cứu được nữa.

Ngày 7 tháng 9 năm 1975, tại bệnh viện, Chu Ân Lai tiếp Bí thư Trung ương Đảng Ru-ma-ni I-li-na Vê-đê sơ. Đây là lần cuối cùng trong đời ông tiếp khách nước ngoài.

Chu Ân Lai nói: “Giấy mời của Mác, tôi đã nhận được rồi. Điều đó không sao cả, đó là quy luật tự nhiên không thay đổi theo ý muốn của con người”.

Chu Ân Lai rất cảm khái nhớ lại năm xưa. “Thời gian trôi đi nhanh thật, 10 năm trước, khi tham gia tang lễ Giooc-giơ Đô-che tại Bu-ca-rét không mặc pan-tô, tối đã đi bộ hơn bốn tiếng đồng hồ. Bây giờ tôi có thể nói với đồng chí là chỉ bốn phút tôi cũng không đi nổi!”.

Sau lần hội kiến này, bệnh tình Chu Ân Lai nguy cấp, ngày 20 tháng 9, phải phẫu thuật lần thứ tư, đây là lần đại phẫu thuật. Nếu xảy ra bất ngờ thì ông sẽ nằm trên bàn mổ mãi mãi không bao giờ dậy được nữa. Ông đã ý thức được điều này, cũng ý thức được rằng Giang Thanh đang dùng hổ dọa người. Để đề phòng hậu hoạn, trước khi vào phòng mổ, ông bảo thư ký đem bản thảo được chỉnh lý từ băng ghi âm bài nói chuyện về chuyên đề sự kiện Ngũ Hào ngày 23 tháng 6 năm 1972 đến cho ông, ông dùng bàn tay run run ký vào trang đầu của bản thảo và còn viết thêm: “Khi vào phòng mổ, ngày 20 tháng 9 năm 1975”. Vì bị bệnh nặng ông đã viết sót một chữ “trước” trong câu: “Trước khi vào phòng mổ”. Trong những giờ phút như vậy, ông vẫn không quên bản thảo cuộc nói chuyện ấy, chứng tỏ ông vô cùng lo lắng đối với Giang Thanh. Ông biết, Giang Thanh sẽ gây chuyện sẽ bôi nhọ ông khi tung ra sự kiện Ngũ Hào.

Khi bệnh tình của Chu Ân Lai xấu đi thì bệnh của Mao Trạch Đông cũng nặng thêm. Một mắt của Mao Trạch Đông do Đường Do Chi một bác sĩ trạc tuổi trung niên ở Khoa Mắt Bệnh viện Quảng An Môn Bắc Kinh tiến hành phẫu thuật. Thời gian mổ, theo hồi ức của Trương Ngọc Phượng vào trung tuần tháng 8 năm 1975, còn Lô Địch thì nói với tác giả sách này là ngày 29 tháng 7 - phải nói là hồi ức của Lô Địch chính xác hơn.

Phẫu thuật ngay tại nơi ở của Mao Trạch Đông. Khi mổ, Chu Ân Lai bất chấp bệnh tật đã cùng Đặng Tiểu Bình ngồi chờ ở bên ngoài. Mổ rất thuận lợi. Ít lâu sau, mắt của Mao Trạch Đông sáng trở lại.

Nhưng bệnh phế khí của Mao Trạch Đông lại chuyển thành bệnh phế tâm và ngày càng nghiêm trọng. Việc nói năng của ông trở nên khó khăn, phát âm không rõ. Có lúc, Trương Ngọc Phượng phải dựa vào hình dáng của đôi môi và biểu cảm để đoán rồi nói ý của ông. Nếu ông gật đầu, chứng tỏ là đã đoán đúng, và cái ý đoán ấy liền trở thành “chỉ thị tối cao”.

Vào lúc này, tháng 9 năm 1975, bên cạnh Mao Trạch Đông có thêm một người đàn ông khoảng hơn 30 tuổi thân thể khoẻ mạnh. Anh ta thường xuyên đến thăm Mao Trạch Đông. Ít lâu sau, anh ta biến thành một “liên lạc viên” đặc biệt. Anh ta làm liên lạc cho Mao Trạch Đông và Bộ Chính trị.

Người ấy là Mao Viễn Tân, cháu của Mao Trạch Đông.

Mao Viễn Tân học hết trung học, thi đỗ vào Học viện Công trình Quân sự Cáp Nhĩ Tân. Mao Viễn Tân khỏe mạnh, đẹp trai, dáng cao lớn.

Kỳ nghỉ hè năm 1964, Mao Viễn Tân ở tại Trung Nam Hải. Mao Trạch Đông đối với anh ta như cha với con. Mao Viễn Tân thì sùng bái Mao Trạch Đông như một ông thần thật sự. Ngày 5 tháng 7, Mao Trạch Đông nói chuyện với Mao Viễn Tân. Sau đó, Mao Viễn Tân ghi lại cuộc nói chuyện này. Ngày 9 tháng 11 năm 1964, Bộ Giáo dục cao đẳng đã chuyển đăng “Kỷ yếu cuộc nói chuyện của Mao Chủ tịch với Mao Viễn Tân”, từ đó Mao Viễn Tân nổi tiếng khắp cả nước. Trong “Kỷ yếu cuộc nói chuyện” có ý kiến của Mao Trạch Đông về vấn đề giáo dục.

“Đấu tranh giai cấp là một môn học chính của các cháu. Trường của các cháu nên đến nông thôn để thực hiện “tứ thanh”, đến nhà máy để thực hiện “ngũ phản”. Đấu tranh giai cấp mà không biết thì sao có thể coi là tốt nghiệp đại học? Chống lại cách dạy học kiểu nhồi nhét, ngay cả những nhà giáo dục tư sản cũng đã từ lâu nêu ra trong phong trào “Ngũ Tứ”. Vì sao chúng ta lại không chống lại. Vấn đề cải cách giáo dục chủ yếu là vấn đề giáo viên”.

Năm 1965, Mao Viễn Tân tốt nghiệp. Theo tinh thần cuộc nói chuyện với Mao Trạch Đông anh ta xuống đơn vị làm lính. Ít lâu sau, cách mạng văn hóa bắt đầu. Lúc ấy quy định là những sinh viên tốt nghiệp năm 1965 có thể về trường tham gia phong trào, Mao Viễn Tân cũng trở lại trường.

Trong cách mạng văn hóa, “Kỷ yếu cuộc nói chuyện của Mao Chủ tịch với Mao Viễn Tân” được Hồng vệ binh in thành truyền đơn phân phát khắp nơi, thân phận đặc biệt Mao Viễn Tân cũng được nhiều người biết đến.

Mao Viễn Tân tham gia Đoàn tạo phản đỏ của Học viện Công trình Quân sự Cáp Nhĩ Tân và trở thành thủ lĩnh.

Năm 1968, ủy ban cách mạng tỉnh Liêu Ninh thành lập, Mao Viễn Tân được bổ nhiệm làm Phó Chủ nhiệm. Ít lâu sau anh ta lại đảm nhiệm chức Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân khu rồi Chính ủy Quân khu.

Quan hệ giữa Mao Viễn Tân và Giang Thanh rất thắm thiết, anh ta coi Giang Thanh như mẹ đẻ và gọi Giang Thanh là mẹ. Coi bà ta là thần hộ mệnh của mình. Giang Thanh thì coi anh ta như con trai. Mao Viễn Tân theo sát Giang Thanh về chính trị.

Ở Liêu Ninh, Mao Viễn Tân đã gây nên hai sự kiện chấn động cả nước:

Một là, vào năm 1973, khi các Trường đại học khôi phục lại việc chiêu sinh, Trương Thiết Sinh nộp bài thi trắng lại được Mao Viễn Tân phong cho làm “anh hùng chống lại trào lưu”, khiến Giang Thanh rất tán thưởng.

Hai là, sáng tạo ra “Kinh nghiệm Triêu Nông” “Triêu Nông” tức là Học viên Nông nghiệp Triêu Dương (tiền thân của Học viên Nông nghiệp Thẩm Dương), thực hiện “mở cửa dạy học”. Năm 1974, được dựng thành “Điển hình tiên tiến” của “cuộc cách mạng giáo dục” trong cả nước.

Tháng 9 năm 1975, bệnh tình Mao Trạch Đông thêm trầm trọng, nói năng không rõ ràng, Giang Thanh bố trí cho Mao Viễn Tân làm “liên lạc viên”, phút chốc nắm được quyền công bố “chỉ thị tối cao”.

Mấy lần đến Bắc Kinh, Mao Viễn Tân được bác trai, bác gái chăm sóc, nên đã tự cho mình là “Đông cung Thái tử”, kiêu ngạo ngang ngược, tưởng như là nhất thiên hạ. Anh ta ngồi trấn ở Liêu Ninh, sau đó điều khiển từ xa hai tỉnh Cát Lâm và Hắc Long Giang, trên thực tế là “vương” của ba tỉnh Đông Bắc. Có người phong cho anh ta là “Thái Thượng hoàng ở Đông Bắc”. Anh ta cũng dần dần biết lợi dụng chức quyền ở trong tay và chỉ huy người khác. Trong sinh hoạt anh ta học Giang Thanh, từ tàu bè nước ngoài ở cảng Đại Liên đã nhập khẩu thuốc lá ngoại, phim, băng hình ngoại, Giang Thanh thấy đứa cháu trai đã khôn lớn như vậy, mà mừng thầm. Từ khi bà ta không ở chung với Mao Trạch Đông, luôn luôn lo lắng không có cách gì để tiếp cận và thao túng Mao Trạch Đông đang bị bệnh, để lấp “chỗ trống” bà ta đã có được Mao Viễn Tân. Cũng là để cách ly những người con của vợ trước của chồng tiếp cận với Mao Trạch Đông, tất nhiên là vì nhu cầu chính trị dối trên lừa dưới, thao túng tình thế, bà ta đã cùng ba “Nam thần” dày công bày mưu tính kế, nên đến tháng 9 năm 1975, đã đưa được Mao Viễn Tân đến nơi ở của Mao Trạch Đông làm “liên lạc viên” đặc biệt. Mao Trạch Đông lúc ấy đã 83 tuổi, bệnh tình ngày một nặng, dáng vẻ già nua, đừng nói đến việc tuần du Đại Giang Nam Bắc hay lên lầu thành Thiên An Môn “vẫy cánh tay to lớn” mà ngay cả việc nói năng, đi lại ăn uống cũng ngày một khó khăn. Tham gia hội nghị, tiếp khách nước ngoài cũng càng ngày càng ít. Thực sự cần có một liên lạc viên. Thế là Mao Viễn Tân trở thành người được lựa chọn tốt nhất.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #41 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2010, 11:02:01 am »


3. Mao Viễn Tân tiết lộ

Võ Tắc Thiên nữ hoàng thời Đường đầy dã tâm đã từng coi cháu trai Võ Tam Tư như Thái tử. Giang Thanh “nữ hoàng” của thập kỷ 70 trong thế kỷ 20, cũng phỏng theo Vũ Hậu, coi cháu trai mới xuất đầu lộ diện Mao Viễn Tân như “Thái tử” của mình. Mao Viễn Tân được yêu chiều mà sợ, hoàn toàn cúi gập dưới chân của “mẹ”, bảo sao nghe vậy, trở thành trợ thủ đắc lực của bà ta và là cốt cán của lũ phản động lén lút. Sau khi Mao Viễn Tân vào Trung Nam Hải, trong phòng của Mao Trạch Đông đã lắp thêm một máy điện thoại, thuộc máy chuyên dụng của “liên lạc viên”, một đầu là Mao Trạch Đông một đầu là Bộ Chính trị. Phàm mọi việc đều do anh ta truyền đạt.

Đối với việc Mao Viễn Tân vào Trung Nam Hải và công tác bên cạnh Mao Trạch Đông, lúc ấy có rất nhiều ủy viên Bộ Chính trị không đồng ý. Tình trạng không bình thường trong sinh hoạt nội bộ Đảng này chưa từng có. Nhưng lại không thể ngăn chặn được. Đúng như Diệp Kiếm Anh sau này nói, sau khi Mao Trạch Đông ốm nặng, ngoài “bọn bốn tên” ra, lại có một Mao Viễn Tân “liên lạc viên”. Tình hình Bộ Chính trị do anh ta chuyển lên, chỉ thị của Mao Trạch Đông do anh ta chuyển xuống. Lúc ấy các đồng chí trong Bộ Chính trị đã phải dùng thái độ kiềm chế đối với tình hình không bình thường này vì chiếu cố đến toàn cục, đến sức khoẻ của Mao Trạch Đông.

Tháng 11, Bắc Kinh đã bước sang mùa đông, chân tay lạnh cóng. Trong phòng ngủ của Mao Trạch Đông bên cạnh hồ bơi Trung Nam Hải đã được cung cấp hơi nóng để sưởi, nhưng chủ nhân của ngôi nhà già nua lắm bệnh vẫn cảm thấy thân thể không thích nghi, không thể ra ngoài hoạt động.

Sáng ngày 2, sau khi Mao Viễn Tân đến không lâu, Mao Trạch Đông tỉnh giấc, nghe thấy tiếng gió thổi từng cơn bên ngoài, hơi động đậy thân thể, ho khan mấy tiếng.

Ở đây chăm sóc Mao Trạch Đông có nữ thư ký, bác sĩ, y tá và nhân viên phục vụ. Nhưng người thân thì ngoài Mao Viễn Tân ra không còn ai khác nữa. Con trai, con gái và con rể, cháu nội đều ở rất xa chỉ qua “phê chuẩn” mới được đến thăm. Người vợ đã ở riêng từ lâu, từ lâu đã hưởng phúc riêng ở Điếu Ngư Đài. Dù có đến Trung Nam Hải thì cũng có nơi ở riêng, hơn nữa cũng “không qua” phê chuẩn thì “không được đến”, tất nhiên nếu không vì để vòi tiền và gây sự, thì bà ta cũng chẳng bao giờ đến.

“Bên ngoài lạnh lắm phải không?... Lại nổi gió rồi à?” Tiếng nói rất nhỏ, rất chậm hơn nữa âm không rõ ràng. Mao Viễn Tân nghe quen, nên cũng hiểu ra, nhưng anh ta không muốn nói nhiều đến thời tiết tự nhiên, mà nghĩ đến việc tuân theo lời của “bà mẹ” đã dặn dò anh ta nhiều lần là phải nói đến thời tiết chính trị.

“Thưa Chủ tịch, hôm nay gió ở bên ngoài không to, nhưng người ta cảm thấy có một cơn gió khác”.

“Gió gì?”

Mặc dù sức nghe đã giảm, nhưng cái đầu quen suy nghĩ của Mao Trạch Đông vẫn rất tỉnh táo, rất mẫn cảm. Ông lập tức ngửi thấy ngay đây có thể là một chiều hướng chính trị mới.

“Cơn gió này, khi cháu đang công tác ở tỉnh đã cảm thấy rồi, chủ yếu là phủ định đại cách mạng văn hóa”.

Mao Trạch Đông vừa nghe thấy nói đến đại cách mạng văn hóa lập tức cảnh giác. Đây là việc lớn cuối cùng trong hai việc lớn mà ông đã làm trong đời, hơn nữa đây là “tác phẩm đắc ý” cuối đời của ông. Tuy ông đã phát hiện ra một số vấn đề, nhưng xét cho cùng thì công lớn hơn tội, vẫn có thể xem là biện pháp thành công để “chống xét lại và ngăn ngừa xét lại” long trời lở đất “chưa từng có trong lịch sử”. Cho dù có sai thì cũng phải do ông tự thừa nhận, không cho phép người khác chỉ trích, càng không cho phép người khác sửa chữa! Ông cựa quậy thân mình, nửa nằm nửa ngồi, chăm chú nghe Mao Viễn Tân kể tiếp những chi tiết. “Liên lạc viên” đã có được một cơ hội hiếm hoi, thế là đem ngay “tờ kể tội trạng” đã được chuẩn bị từ lâu, từng điều kể ra bằng hết.

Thứ nhất, đánh giá như thế nào về cách mạng văn hóa? Xu hướng chính, xu hướng phụ, 10 ngón tay, ba bảy hay đảo ngược là bảy ba, khẳng định hay là phủ định?

Thứ hai, đánh giá như thế nào về phong trào phê Lâm phê Khổng? Xu hướng chính, xu hướng phụ, hình như do những lời nói sai đi cửa sau mà Trì Quần, Tiểu Tạ đã nói làm nhiễu loạn, không nói đến thành tích phê Lâm phê Khổng. Ngoài miệng thì cũng nói đôi câu, nhưng bên trong thì nói xấu đủ điều.

Thứ ba, việc phê phán đường lối Lưu Thiếu Kỳ và Lâm Bưu có cần tiếp tục nữa hay không. Đường lối Lưu Thiếu Kỳ hình như cũng không nói đến nhiều nữa.

Thứ tư, hiện đại hóa công nghiệp chủ yếu là nhấn mạnh và tăng cường quản lý xí nghiệp chế độ quy tắc, nhưng mâu thuẫn chủ yếu của mặt trận công nghiệp và giao thông là gì?

Thứ năm, mặt trận nông nghiệp, tài chính mậu dịch cũng có những vấn đề tương tự, xu hướng chính của cách mạng giáo dục và thành tích là gì?... Xu hướng chính, xu hướng phụ của cách mạng văn nghệ v.v... và v.v… Tóm lại, đường lối phê phán Lưu Thiếu Kỳ, Lâm Bưu trong đại cách mạng văn hóa, phê phán đường lối xét lại trên các mặt trận trong 17 năm qua có nên kiên trì nữa hay không? Mao Trạch Đông nghe đến đây, đã cảm thấy sự nghiêm trọng của vấn đề, nhưng thói quen phân tích vấn đề đã được bồi dưỡng nhiều năm nay, ông vẫn muốn tìm hiểu nguồn gốc của cơn gió cũng như quy mô lớn đến đâu.

“Cơn gió này thổi có ghê gớm không?”

“Cơn gió này hình như còn dữ dội hơn cuộc phê cực tả năm 1972”. Tất nhiên Mao Trạch Đông hiểu rõ cơn gió năm 1972 là chỉ Chu Ân Lai. Ông nghe nói nó dữ hơn lần ấy, liền nhíu đôi mày theo thói quen, hai mắt chăm chú, bảo Mao Viễn Tân tiếp tục nói.

“Cháu rất chú ý lời phát biểu của đồng chí Tiểu Bình”. Mao Viễn Tân hạ thấp giọng, với vẻ căng thẳng nói ra lời then chốt: “Cháu cảm thấy có một vấn đề, đồng chí ấy rất ít nói đến thành tích của đại cách mạng văn hoá, rất ít nhắc đến đường lối xét lại Lưu Thiếu Kỳ”.

“Ba chỉ thị mà Chủ tịch nói”, Mao Viễn Tân ngừng lại một chút rồi nói tiếp, “thực ra chỉ còn một chỉ thị, tức là đẩy sản xuất lên thôi”. Cuối cùng, anh ta nói đến sự lo lắng của mình: “Bên ngoài lo Trung ương sẽ xảy ra sự thay đổi”.

Tim Mao Trạch Đông đập nhanh hơn, mặt xị ra, bắt đầu thở mạnh. Ông không thể dung thứ việc xuyên tạc ba “chỉ thị tối cao” của ông. Phải học tập lý luận, hiểu rõ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, chống xét lại, đề phòng xét lại; phải ổn định đoàn kết, phải đưa nền kinh tế quốc dân đi lên. Làm sao Đặng Tiểu Bình lại có thể nắm sản xuất mà không nắm những cái khác, đó là không cần đấu tranh giai cấp, thực chất vẫn là phủ định đại cách mạng văn hóa. Vấn đề này, từ lâu ông đã nhận ra, trước đây không lâu, Giang Thanh đã nhờ Khang Sinh đang bị bệnh đến “kể tội”, đã nói Đặng Tiểu Bình “phủ định đại cách mạng văn hóa” là “xử lại án hữu khuynh”. Sau đó ông ta lại liên tục tiết lộ, cung cấp “tình báo”... Người khác nói ông còn có chút hoài nghi, nhưng “anh Khang” bệnh đã trầm trọng lại đến “khuyến cáo thẳng thắn” thì không thể không suy nghĩ. Vì việc này, gần đây Mao Trạch Đông đã nói chuyện với Đặng Tiểu Bình hai lần. Đặng Tiểu Bình có ý kiến riêng của mình, là một con người trong ngoài nhất trí, là “công ty gang thép” chưa bao giờ giấu giếm quan điểm của mình. Mao Trạch Đông tin những tình hình mà cháu mình đã kể. Có một số điều đúng. Có điều, đối với Đặng Tiểu Bình ông vẫn ôm một tia hy vọng, hy vọng ông ta thay đổi ý nghĩ trở lại “đường lối đúng đắn”, vì việc này mà tối qua ông lại gọi ông ta đến nói chuyện không biết thái độ có thay đổi gì không?...

Mao Trạch Đông nghĩ đến đây, lẩm bẩm một mình: “Có hai thái độ, một là không bằng lòng đối với cách mạng văn hóa, hai là muốn trả thù, tính nợ với đại cách mạng văn hóa. Rốt cuộc là thái độ nào?”. Ông còn phải xem.

Mao Trạch Đông nói với Mao Viễn Tân bằng giọng ra lệnh:

“Cháu gặp Đặng Tiểu Bình, Uông Đông Hưng, Trần Tích Liên nói chuyện, nói rằng Bác bảo cháu gặp họ. Nói trực diện, đừng ấp úng, nói toạc móng heo. Nói tất cả những ý kiến này!” Sau khi nói xong, ông lại ngẫm nghĩ, rồi nói tiếp: “Cứ như vậy, cháu gặp Tiểu Bình, Tích Liên, Đông Hưng họp một cuộc họp nhỏ trước, nói tất cả những ý kiến của cháu, nói xong thì đến đây”.

Vừa qua 11 giờ, Mao Viễn Tân từ nơi ở của Mao Trạch Đông đi ra. Anh ta vội vội vàng vàng, vẻ mặt tỏ ra xúc động, nghiêm nghị, đồng thời cũng lại lộ ra vẻ phấn khởi không kìm nén được.

“Liên lạc viên” mang “chỉ thị tối cao” thực hiện ngay. Không ngờ, trong cuộc hội nghị tối hôm ấy, Đặng Tiểu Bình vẫn kiên trì quan điểm của mình, không hề nhận sai. Mao Viễn Tân họp xong, lại thêm dấm thêm ớt đến báo cáo với Mao Trạch Đông.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #42 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2010, 11:02:55 am »


4. Nọc độc cuối cùng của Khang Sinh

Mỗi vụ án lịch sử quan trọng trong đại cách mạng văn hóa hầu như Khang Sinh đều nhúng tay vào, thậm chí là kẻ chủ mưu với tác dụng nòng cốt. Trước khi ông ta chết, nhìn thấy “cơ nghiệp” mà ông ta dựng nên đang ngày càng tàn lụi, rất không cam lòng. Khi chỉ còn hơn hai tháng trước khi xuôi tay, ông ta đã lợi dụng dịp Đặng Tiểu Bình rời Bắc Kinh, đột nhiên gắng gượng tinh thần tự mình xuất trận, lò dò đến nơi ở của Mao Trạch Đông để gièm pha nói xấu Đặng Tiểu Bình rằng Đặng Tiểu Bình muốn “xử lại án đại cách mạng văn hóa” quả đúng là lòng gian không chừa. Sau đó, do sự bày mưu tính kế của Khang Sinh đang trong tình trạng ngọn đèn leo lét trước gió, Giang Thanh và đồng bọn đã nhanh chóng dấy lên cơn sóng hung dữ. “Phê Đặng, chống lại xu hướng xử lại án hữu khuynh”, ngay lập tức lan khắp cả nước.

Qua hai ngày sau (tối ngày 4 tháng 11), Mao Trạch Đông lại gọi Mao Viễn Tân đến, bảo bố trí họp Bộ Chính trị, xác định ngay rằng: Đối với đại cách mạng văn hóa, ý kiến chung là: trận cơ bản là đúng đắn, nhưng có chỗ chưa đủ, điều đáng nghiên cứu hiện nay là mặt chưa đủ, ý kiến chưa hẳn đã nhất trí”.

Mao Viễn Tân lĩnh hội ý định, nhắc lại: “Ở hội nghị này sẽ tranh thủ nhận thức thống nhất bước đầu đối với vấn đề cách mạng văn hóa và có lợi cho đoàn kết. Mục đích là thông qua thảo luận, đoàn kết lại, làm tốt công tác. Như vậy phải không ạ?” Mao Trạch Đông gật đầu: “Đúng!” Sau đó dặn riêng: “Điều này không nên nói với Giang Thanh, không nói gì cả”.

Nhưng Mao Viễn Tân lại hỏa tốc đem “chỉ thị mới nhất” tiết lộ cho Giang Thanh và đồng bọn. “Bọn bốn tên” như chết đuối vớ được cọc, vui mừng vì mình lại được cứu thoát khỏi nguy cơ chính trị. Thế là Điếu Ngư Đài họp ngày họp đêm, bàn bạc làm thế nào “giẫm một chân” nữa lên thân Đặng Tiểu Bình, làm cho hắn ta sụp đổ hoàn toàn, “suốt đời không ngóc đầu lên được!”.

Bộ Chính trị căn cứ vào chỉ thị của Mao Trạch Đông do “liên lạc viên” truyền đạt, triệu tập Hội nghị khẩn cấp tiến hành phê bình một cách sai lầm đối với Đặng Tiểu Bình.

“Bọn bốn tên” thoắt đổi lốt, nhảy lên cao vót thành kẻ tiền phong trong phê phán Đặng Tiểu Bình.



5. Người trong Đào Hoa Nguyên không phục tùng Mao Trạch Đông

Theo ý của Mao Trạch Đông, vẫn hy vọng có thể thống nhất nhận thức trên vấn đề đại cách mạng văn hóa để có cái “ba bảy” (nghĩa là bảy phần thành tích, ba phần sai lầm). Mao Trạch Đông đề xuất Đặng Tiểu Bình sẽ chủ trì đưa ra một quyết nghị, khẳng định thành tích của đại cách mạng văn hóa. Trên vấn đề nguyên tắc Đặng Tiểu Bình không chịu nhượng bộ. Ông nói, tôi là người trong Đào Hoa Nguyên, “không biết có Hán, không bàn Ngụy Tấn”, bày tỏ rằng ông viết quyết định này là không thích hợp, khéo léo từ chối.

Do sự công kích của “bọn bốn tên”, Bộ Chính trị đã quyết định đình chỉ công tác của Đặng Tiểu Bình.

Gần như đồng thời, từ Đại học Thanh Hoa bắt đầu lan ra cả nước, dấy lên một trận cuồng phong chính trị to lớn hơn. Đầu tháng 11, với sự thúc đẩy và thao túng của bọn Giang Thanh, Đảng ủy Đại học Thanh Hoa triệu tập Hội nghị Thường vụ Đảng ủy mở rộng truyền đạt lời phê duyệt của Mao Trạch Đông đối với bức thư của Lưu Băng cùng 4 người khác... dùng bút chì viết trên văn kiện phê duyệt như sau: “Lưu Băng và một số người ở Đại học Thanh Hoa gửi thư tố cáo Trì Quần và Tiểu Tạ. Mũi nhọn trong thư của họ chĩa vào tôi”. Sau này Mao Trạch Đông lại phê bình: “Tôi ở Bắc Kinh, viết thư sao không trực tiếp gửi cho tôi, mà lại nhờ Tiểu Bình chuyển. Tiểu Bình bênh vực Lưu Băng”.

Vấn đề Đại học Thanh Hoa đề cập đến không phải là riêng rẽ mà là sự phản ánh cuộc đấu tranh giữa hai đường lối hiện nay. “Bọn bốn tên” như vớ được vàng, vui mừng như điên, nắm ngay lấy “chiếc lông gà làm thẻ lệnh”, lấy việc truyền đạt lời phê duyệt này làm khởi điểm, bắt đầu cái gọi là “phản kích lại xu hướng xử lại án hữu khuynh” và cái gọi là “cuộc đại biện luận về cách mạng giáo dục”. Người phụ trách thành ủy Bắc Kinh đích thân ra trận chỉ huy, Phó Thủ tướng Trương Xuân Kiều phụ trách về công tác giáo dục giao trách nhiệm cho Chu Vinh Hâm phải kiểm thảo. Đại học Thanh Hoa tổ chức cuộc Hội nghị Đảng ủy mở rộng và cuộc mít tinh toàn trường gồm hơn 1300 người phê phán Chu Vinh Hâm và Lưu Băng v.v… chĩa mũi nhọn vào Đặng Tiểu Bình. Công khai chỉ trích: “Đặng Tiểu Bình là Tổng đạo diễn của Lưu Băng, Lưu Băng là người đại diện của Đặng Tiểu Bình ở Thanh Hoa”. Trong phút chốc sóng dữ cuồn cuộn, đại tự báo “phản kích xu hướng đòi xử lại án hữu khuynh”, rợp trời rợp đất. Thanh Hoa Viên xinh đẹp phút chốc trở thành chiến trường “phê Đặng”. “Bọn bốn tên” nhanh chóng tổ chức cán bộ và quần chúng đi tham quan.

Hạ tuần tháng 11 năm 1975, theo chỉ thị của Mao Trạch Đông, Bộ Chính trị triệu tập Hội nghị thông báo tin gồm hơn 130 đồng chí cũ phụ trách các cơ quan Đảng, chính quyền, quân đội tham gia tại Bắc Kinh, tuyên đọc “những điểm chính của bài nói chuyện thông báo tin” do Mao Viễn Tân chỉnh lý và Mao Trạch Đông phê chuẩn. Những điểm chính của bài nói chuyện đã truyền đạt bài nói chuyện nêu trên của Mao Trạch Đông về bức thư của Lưu Băng, hơn nữa nêu rõ: “Đây là một xu hướng xử lại án hữu khuynh”. Có một số người tỏ ra không bằng lòng đối với đại cách mạng văn hoá, luôn muốn tính sổ đối với cách mạng văn hóa, luôn luôn muốn xử lại án. Tiếp đó Trung ương Đảng, công bố “Thông báo về việc chuyển phát những điểm chính của bài nói chuyện thông báo tin” cho Bí thư Thứ nhất các tỉnh, thành, khu tự trị, Bí thư thứ nhất Đảng ủy các đại quân khu, những người phụ trách Đảng ủy các bộ thuộc cơ quan Trung ương và Nhà nước, Bí thư thứ nhất Đảng ủy các Tổng cục thuộc Quân ủy và các quân binh chủng, yêu cầu truyền đạt và thảo luận trong Thường vụ Đảng ủy.

Thế là “thông báo tin” trở thành thuật ngữ chính trị lưu hành phổ biến nhất.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #43 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2010, 11:04:07 am »


2
Mao Trạch Đông nói một lời Thiên An Môn tắm máu
Hoa Quốc Phong hềnh hệch cười, “bọn bốn tên” ngơ ngác đứng trông


1. Ngôi sao lớn đã rơi

6 giờ 30 phút ngày 9 tháng 1 năm 1976 Đài phát thanh Nhân dân Trung ương truyền đi bản nhạc tang làm mọi người sợ hãi, phát thanh viên dùng âm điệu trầm thấp đọc từng câu từng chữ trong cáo phó:

Phó Chủ tịch Trung ương Đảng, Thủ tướng Quốc vụ viện nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, đồng chí Chu Ân Lai vì bị bệnh được điều trị nhưng vô hiệu, đã qua đời lúc 9 giờ 57 phút sáng ngày 8 tháng 1 năm 1976. Thọ 78 tuổi.

Mọi người kinh hãi. Những người đang ùn ùn đi trên đường đều dừng bước, những người đang bận bịu công việc đều dừng tay, những người còn đang ngủ say chợt tỉnh giấc; hầu như tất cả mọi người đều không tin ở đôi tai của mình, lẽ nào đó là sự thật? Cây cột đá chống trời đã đổ, đất nước đang lung lay trong phong ba bão táp, dân tộc Trung Hoa đắm chìm trong tai họa sẽ làm sao đây! Cây cột trụ của đất nước Đặng Tiểu Bình sắp có nguy cơ bị trúng tên ngã ngựa. Giang Thanh, Trương Xuân Kiều, Vương Hồng Văn, Diêu Văn Nguyên một bọn bốn người đang nhìn chòng chọc, súng gươm sẵn sàng, âm mưu tiếp quản thiên hạ. Đất nước họa vô đơn chí này đang ở trong giờ phút nguy nan ngàn cân treo sợi tóc, ông từ biệt cuộc đời quả là không phải lúc...

Điều làm mọi người nhớ nhất là sau giải phóng, đặc biệt là trong những năm tháng đen tối của đại cách mạng văn hóa, bọn gian thần ngang nhiên làm điều ác, trung thần bị cảnh tai ương, ông đã nhẫn nhục gánh vác trách nhiệm nặng nề, vất vả chống đỡ cho ngôi nhà sắp đổ nghiêng. Tất cả đều hiện ra trước mắt.

Ngày 6 tháng 12 năm 1975, Chu Ân Lai lại mổ lần nữa. Đến đây, Chu Ân Lai đã trải qua 13 lần mổ lớn nhỏ. “13” là con số dữ. Sau khi phẫu thuật này, bác sĩ đã phát hiện ra rằng không thể nào cứu vãn được nữa.

Diệp Kiếm Anh ngày đêm giữ mối liên hệ với bác sĩ Ngô Giai Bình, luôn luôn chỉ thị: “Phải nghĩ cách, có thể kéo dài được một ngày thì kéo dài một ngày, cho dù chỉ kéo dài được một giờ một phút. Chỉ cần có thể thì phải đem tất cả mọi cố gắng và trách nhiệm để chữa trị!”.

Trước đấy, từ sau khi Chu Ân Lai ốm nặng, đặc biệt là từ nửa cuối năm 1975, sau khi Chu Ân Lai phải nằm liệt giường, Diệp Kiếm Anh hầu như ngày nào cũng đến, đặc biệt là trước và sau khi phải xử lý những vấn đề lớn lao, đều phải đến để xin ý kiến và báo cáo.

Mới đầu, ông thường nói chuyện với Chu Ân Lai đến 3 tiếng đồng hồ.

Sau vài tháng, chuyện trò giảm xuống còn độ 2 tiếng.

Lần cuối cùng họ nói chuyện với nhau, Diệp Kiếm Anh bảo nhân viên công tác ra ngoài hết, dù là đưa nước hay đưa thuốc, không bấm chuông thì không được vào. Ông báo cáo với Chu Ân Lai về các vấn đề có liên quan đến Trung ương, liên quan đến Đặng Tiểu Bình, liên quan đến “bọn bốn tên” cùng các mặt quân sự. Sau khi Diệp Kiếm Anh ra khỏi bệnh phòng, gọi các nhân viên công tác đến bên cạnh rất nhẹ nhàng, nghiêm túc dặn dò: “Các đồng chí chuẩn bị giấy bút, 24 giờ phải ở bên cạnh Thủ tướng, không được một phút nào vắng người. Tính nguyên tắc của Thủ tướng rất cao, rất nhiều việc, rất nhiều điều uẩn khúc, còn giữ trong lòng không nói ra, đặc biệt là đối với một số người trong Trung ương, trong giờ phút cuối cùng Thủ tướng có điều gì muốn thổ lộ, thì các đồng chí nhất định phải ghi lại...”

Diệp Kiếm Anh không thể ngày nào cũng ở bên cạnh Chu Ân Lai, nhân viên công tác thay phiên nhau trực, lúc nào cũng chuẩn bị bút giấy để ghi chép, nhưng môi Chu Ân Lai vẫn mím chặt. Mấy ngày cuối cùng, vẫn rứt khoát mím chặt môi, tuyệt nhiên không nói tới chính trị, cho đến khi ngừng thở.

Sau khi ông qua đời, nhân viên công tác mang những tờ giấy trắng đến giao cho Diệp Kiếm Anh, nhìn tờ giấy trắng tinh khiết, nước mắt ông trào ra, lẩm bẩm: “Suốt cả đời ông luôn vì toàn cục”...

Người ta đều nói cơn đau ung thư là sự đau đớn ghê gớm lâu dài hơn bất cứ nhục hình nào. Trong cuộc sống thực tế và miêu tả văn học, chúng ta đã từng thấy rất nhiều người quằn quại trong cơn đau đớn.

Có người kêu rên, tiếng kêu thảm thiết xé lòng, quằn quại lăn lộn trên giường. Có người nghiến răng đến vỡ cả hàm, cắn đứt cả đầu lưỡi, để cho nước mắt trào ra, mà không kêu rên một tiếng. Có người mở to đôi mắt đã bị cơn đau giày vò biến dạng đến hung dữ, kêu gào gầm thét cầu xin người khác cho mình được kết thúc cuộc đời một cách thoải mái...

Chu Ân Lai không như thế, từ đầu đến cuối ông chỉ nằm yên trên giường, toàn bộ thời gian đau bệnh, không có một tiếng rên, không chảy một giọt nước mắt, nếu anh cứ luôn nhìn vào ông, thì khi cơn đau đến thậm chí ông không chịu co quắp thân thể.

Nhưng, cơn đau ập đến, mà hoàn toàn không có phản ứng là điều không thể. Không biết bao nhiêu lần, nhân viên y tế dự cảm thấy cơn đau ghê gớm ập đến, nhưng chỉ thấy sắc mặt Chu Ân Lai bỗng biến đổi trở nên u ám xám ngắt, rồi lại chuyển sang màu xám đỏ, mồ hôi vã ra ướt đẫm, để tránh nhìn các đồng chí chung quanh, ông nhìn lên trần nhà. Mỗi lần hít thở hai cánh mũi ông lại nở to, đôi môi cũng chỉ hơi khẽ mở để cho mọi người khỏi chú ý, thở gấp mấy hơi rồi lại ngừng, ông đã dùng nghị lực siêu nhân để chịu đựng những cơn đau ghê gớm kéo dài...

Vì sao ông không kêu rên, không chảy nước mắt, dù là co dãn khuôn mặt hay nhếch mép? Ông không muốn lộ ra sự đau đớn có lẽ là vì muốn giữ lại cái hình tượng đẹp đẽ vốn có?

Cuối tháng 12, sau khi Chu Ân Lai biết tin bác Chu người thợ cắt tóc ở khách sạn Bắc Kinh đã từng cắt cho ông 20 năm qua muốn đến cắt tóc cho ông, liền dặn nhân viên công tác: “Bác Chu đã cắt tóc cho tôi 20 năm nay, nhìn thấy tôi ốm đau như thế này, chắc bác ấy sẽ buồn, cảm ơn bác ấy và đừng để bác ấy đến”.

Các đồng chí lãnh đạo Trung ương: Chu Đức, Đặng Tiểu Bình, Lý Tiên Niệm đều đến thăm Chu Ân Lai. Lúc ấy Trung ương quy định, chỉ có các đồng chí lãnh đạo từ Bộ Chính trị trở lên mới được đến thăm, nhưng rất nhiều đồng chí đã từng công tác bên cạnh ông đều năn nỉ yêu cầu được đến thăm Thủ tướng. Về sau Đặng Dĩnh Siêu đã đồng ý, nhưng chỉ cho phép mọi người nhìn Thủ tướng mà không để Thủ tướng nhìn thấy mọi người và một quy định được đặt ra chỉ khi Chu Ân Lai hôn mê mọi người mới được vào thăm và tuyệt đối không được khóc...

Hôm ấy khi Chu Ân Lai tỉnh lại sau hôn mê ông mấp máy miệng hỏi thăm tình hình sức khỏe của Mao Trạch Đông.

“Bác sĩ, Bác sĩ Ngô, tiêm, tiêm một mũi...” Chu Ân Lai cất lên tiếng cầu khẩn làm mọi người ngạt thở. Mỗi lần ông không còn đủ sức để giữ vẻ bình thường khi cơn đau ập tới, ông bèn cầu khẩn như thế.

Ông không muốn để bất cứ ai chia sẻ cơn đau của mình.

Cuộc hôn nhân giữa Đặng Dĩnh Siêu và Chu Ân Lai là một mẫu mực nhân thế. Đặng Dĩnh Siêu nói với bác sĩ Biện bằng một giọng run run: “Đau đớn như vậy, khó chịu lắm, anh ấy khó chịu lắm...” Bác sĩ rưng rưng nước mắt: “Chị ơi, Thủ tướng quan trọng lắm, sống thêm một ngày là có lợi cho Đảng, cho đất nước, cho toàn thể nhân dân cả nước một ngày, dù là một phút một giây cũng có ý nghĩa quan trọng...

Diệp Kiếm Anh cũng nói như vậy.

11 giờ đêm ngày 7 tháng 1, khi bác sĩ đến bên giường, đúng lúc Chu Ân Lai vừa tỉnh lại sau cơn hôn mê, ông khe khẽ mở đôi mắt, nhìn một lúc, nhận ra bác sĩ Ngô Giai Bình trong số đó, ông nói bằng một giọng yếu ớt: “Tôi ở đây không có việc gì nữa đâu, các đồng chí hãy đi chăm sóc cho các đồng chí bị bệnh khác, ở đấy cần các đồng chí”.

Đó là câu nói cuối cùng của Chu Ân Lai.

9 giờ 57 phút sáng ngày 8 tháng 1 năm 1976, Chu Ân Lai đã từ biệt thế gian.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #44 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2010, 11:12:00 am »


2. Mao Trạch Đông bảo: Tôi cũng không đi dược nữa rồi

Khi bệnh tình của Chu Ân Lai ngày một trầm trọng, thì tình hình sức khỏe của Mao Trạch Đông cũng khiến mọi người lo lắng. Ông nói năng khó khăn, chỉ có thể nói ra một số câu chữ không rõ ràng từ họng. Do công tác lâu dài bên cạnh Mao Trạch Đông, nên thư ký Trương Ngọc Phượng vẫn có thể nghe hiểu được lời của Mao Trạch Đông. Mỗi khi Mao Trạch Đông nói chuyện với các đồng chí lãnh đạo khác, chị đều phải có mặt, để nói lại lời của Mao Trạch Đông. Nhưng đến khi ông nói và phát âm không rõ ràng thì chị chỉ có thể nhìn miệng và biểu cảm để đoán và nếu được ông gật đầu là được. Khi trở ngại ngôn ngữ của Mao Trạch Đông đến bước nghiêm trọng nhất thì ông đành dùng bút viết lên giấy những điều ông suy nghĩ. Sau này, việc đi đứng của Mao Trạch Đông đã rất khó khăn, nếu không có người đỡ thì cũng không thể đi nổi một bước. Trong mười mấy tiếng đồng hồ trước khi tim Chu Ân Lai ngừng đập, báo cáo về bệnh tình của ông không ngừng được đưa tới chỗ Mao Trạch Đông. Mao Trạch Đông lặng lẽ xem hết báo cáo về bệnh tình nguy cấp đến các phương án chữa trị và phương án cấp cứu.

Nhân viên công tác bên cạnh Mao Trạch Đông là Trương Diệu Từ được biết tin Chu Ân Lai qua đời liền đến ngay phòng của Mao Trạch Đông, báo cho Tiểu Vu y tá trực ban ở bên ngoài. Tiểu Vu cầm bút chì viết lên giấy trắng tin buồn này rồi để tờ giấy lên bàn.

Y tá Mạnh Cẩm Vân lúc này đang trực ban ở phòng của Mao Trạch Đông. Mao Trạch Đông đang nằm trên giường xem Tuyển tập Lỗ Tấn. Tiểu Mạnh nghe có tiếng chân người đến, biết là có người đến đưa đồ, cô rón rén đi ra ngoài, nhìn thấy tờ giấy, một hàng chữ rõ ràng hiện ra trước mắt. Tiểu Mạnh gấp tờ giấy lại rồi bỏ vào túi quay lại phòng của Mao Trạch Đông, như không có chuyện gì xảy ra.

Khoảng hơn 3 giờ chiều, Bộ Chính trị cử người đến đưa bản in thử Cáo phó Chu Ân Lai tạ thế cho Mao Trạch Đông. Tiểu Mạnh thấy Mao Trạch Đông tỉnh lại, tinh thần tạm được, liền quyết định tìm cơ hội báo tin cho ông biết việc Chu Ân Lai tạ thế.

Theo thói quen, lúc này Tiểu Mạnh phải đọc báo, văn kiện cho Mao Trạch Đông. Cô đọc một số nội dung khác rồi hơi ngừng lại một chút, liền cầm lấy bản in thử “cáo phó”, đọc với một giọng trầm trầm, chậm rãi: “Đồng chí Chu Ân Lai nhà cách mạng vô sản vĩ đại, người chiến sĩ cộng sản kiệt xuất của nhân dân Trung Hoa, vì bị bệnh ung thư, chữa trị không kết quả, đã mất vào…” Mao Trạch Đông đang nghe, chậm rãi khép đôi mắt, đôi mày nhíu lại, một loáng sau từ đôi mắt nhắm nghiền trào ra những giọt nước mắt. Tiểu Mạnh cũng thổn thức nhưng vẫn tiếp tục đọc hết cáo phó. Mao Trạch Đông không nói một câu nào, chỉ để cho nước mắt chảy lặng lẽ, nước mắt lăn trên má, chảy xuống khóe miệng rồi chảy xuống cổ, nhưng từ đầu đến cuối vẫn không nói một lời.

Mấy hôm sau, Trung ương dự thảo bản quy định có liên quan đến lễ truy điệu của Chu Ân Lai, số người gồm Bộ Chính trị cùng những người phụ trách Đảng, chính quyền, quân đội tham gia lễ truy điệu và điếu văn để Mao Trạch Đông đọc duyệt.

Trung ương cân nhắc bệnh tình của Mao Trạch Đông, nên không bố trí ông tham gia tất cả mọi hoạt động có liên quan sau khi Chu Ân Lai mất.

Khi Mao Trạch Đông đọc duyệt báo cáo, Trương Ngọc Phượng luôn đứng ở bên cạnh. Không biết vì sao trong lòng chị, một người bình thường luôn tồn tại một tia hy vọng, có lẽ sẽ có một quyết định đột ngột giống như lần tham gia lễ truy điệu Trần Nghị như 4 năm về trước, có lẽ cũng có thể tham gia lễ truy điệu của Chu Ân Lai. Một câu nói vẫn giữ kín trong lòng rất lâu bất giác bật ra khỏi miệng, như một đứa trẻ cô mạo muội hỏi Mao Trạch Đông: “Có tham gia lễ truy điệu Thủ tướng không ạ?” Mao Trạch Đông vẫn đang buồn rầu, một tay cầm văn kiện vẫn chưa kịp đặt xuống, tay kia vỗ vào cái chân hơi co, đau đớn và mệt nhọc nói với chị: “Tôi không đi được nữa rồi”.

Từ sau Đại hội khóa 10, nhiều lần Mao Trạch Đông đã tỏ ý né tránh không muốn để cho mọi người nhìn thấy tình trạng già nua của mình làm cho Trương Ngọc Phượng hiểu được rằng ông không đồng ý, cũng không nỡ để mọi người nhìn thấy tâm trạng đau khổ và bệnh trạng trong những năm cuối đời của ông.

Tiếp đó Mao Trạch Đông nói như xin lỗi: “Lễ truy điệu của mấy người ấy, tôi cũng không thể đi được”. Mấy người ấy, Trương Ngọc Phượng sau này khi nhớ lại đã phân tích có thể là chỉ Đổng Tất Vũ, người đã cùng ông tham gia Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ nhất, đã qua đời tháng 4 năm 1975, cùng lễ truy điệu của mấy đồng chí lão thành khác.

Một ngày trước lễ truy điệu, cũng tức là chiều ngày 14 tháng 1 lại là thời gian Mạnh Cẩm Vân đọc báo cho Mao Trạch Đông. Chị đã đọc bản in thử lời điếu do Đặng Tiểu Bình đọc trong lễ truy điệu. Mao Trạch Đông lắng nghe, ông không còn im lặng nữa mà nước mắt giàn giụa, khóc thất thanh. Ông vẫn như mọi khi không nói một lời.

Một thời gian rất lâu sau khi Chu Ân Lai mất, tâm trạng của Mao Trạch Đông đều bao trùm một nỗi thương cảm. Trên mặt ông gần như đã không còn nét vui tươi, thường lặng lẽ.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #45 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2010, 11:13:45 am »


3. “Bọn bốn tên” hành động điên cuồng rồ dại

“Bọn bốn tên” lợi dụng công cụ dư luận và sức mạnh chính quyền mà chúng nắm trong tay, ra sức quấy rối, phá hoại hoạt động tưởng nhớ ở thủ đô và khắp nơi trong cả nước. Đến bản tin của Tân Hoa xã phát ngày 11 tháng 1 năm 1976 về việc nhân dân thủ đô từ biệt di thể của Chu Ân Lai cũng bị cắt xén và ỉm đi. Trong đó có một đoạn ghi lại cảnh nhân dân thủ đô gồm già trẻ gái trai, ngay buổi chiều hôm ấy đổ ra Trường An, khóc lóc tiễn đưa linh xa của Chu Ân Lai, đã bị cắt hết không để lại một chữ! Để tái hiện cảnh bi tráng này hồi ấy, xin chép lại đoạn văn đầy máu và nước mắt này:

Buổi chiều, thi hài của Chu Ân Lai được đưa đến Bát Bảo Sơn để hỏa thiêu, khoảng không xám ngắt bị che phủ bởi những đám mây âm u, cả thành Bắc Kinh lặng lẽ trang nghiêm và kính cẩn. Từ bệnh viện Bắc Kinh đến Bát Bảo Sơn, mọi người đứng rất lâu hai bên đường dài đến mấy chục dặm, bất chấp giá buốt đứng đợi hết giờ này đến giờ khác... Sẩm tối, tiếng nhạc tang bi tráng đã đưa xe tang của Chu Ân Lại đến. Nhân dân không kìm được nỗi đau, khóc nức nở trong gió lạnh, từ đáy lòng cùng cất lên tiếng nói: “Chu Thủ tướng, chúng tôi không thể xa Người!” Chiếc xe tang chầm chậm đi trong hàng người nước mắt như mưa. Ôi xe tang, hãy dừng lại một chút, để chúng tôi có thể ngắm nhìn khuôn mặt hiền từ thân thiện của Chu Thủ tướng lần nữa. Đồng chí lái xe hãy hãm phanh lại, để chúng tôi bày tỏ nỗi đau với Chu Thủ tướng. Đêm đã về khuya, gió càng thổi mạnh, xe tang của Thủ tướng đã đi qua mấy tiếng đồng hồ, nhưng đám đông vẫn đứng nguyên hai bên đường dài mấy chục dặm, vẫn lặng lẽ đứng đợi, đợi xe tang quay trở lại. Nhưng chỉ thấy xe tang lại mà không thấy Thủ tướng về. Những dòng nước mắt nóng hổi lại ròng ròng rơi ướt mấy chục dặm đường... Đây là cảnh tượng đưa tang mà cổ kim đông tây chưa từng thấy!

Không chỉ có thế, ngay những tấm ảnh chụp cảnh đưa tang của hàng triệu người suốt dọc đường cũng không được đăng! Chỉ trong một ngày 13 tháng 1, Diêu Văn Nguyên đã ba lần gọi điện đến Tân Hoa xã để chỉ thị, ngăn cản việc tổ chức tang lễ và tuyên truyền công lao to lớn của Chu Ân Lai.

“Bọn bốn tên” điên cuồng rồ dại, biết trước trận cuồng phong tưởng niệm sẽ đến, nên ngày 14 tháng 1 đã tranh trước công bố bài viết dài trên đầu trang nhất “Nhân dân nhật báo”: “Biện luận lớn đưa đến thay đổi lớn”. Bọn phản động giấu mặt muốn dựng con đập này để ngăn biển nước mắt. Nó đã làm mọi người nổi giận, họ xé tan tờ báo, hết cú điện thoại này đến cú điện thoại khác, tới tấp gọi đến Tòa báo. Tất cả mọi người nổi giận không thể nào nhẫn chịu sự được sự phỉ báng độc ác đối với Thủ tướng Chu Ân Lai kính yêu được nữa, cũng không thể cho phép sự cản trở ngang ngược đối với việc tưởng niệm Thủ tướng Chu Ân Lai. Họ lau khô nước mắt, thét lên: “Chống Chu thì dân sẽ chống lại, phê Đặng dân không theo”.

3 giờ chiều ngày 15 tháng 1, tại Đại lễ đường Nhân dân đã tổ chức truy điệu có hơn 5 ngàn người dự. Mít tinh do Vương Hồng Văn chủ trì, Đặng Tiểu Bình thay mặt Trung ương Đảng đọc lời điếu.

Để viết được lời điếu, còn có một cuộc đấu tranh nhỏ, một cuộc tranh luận trong Hội nghị Bộ Chính trị. “Bọn bốn tên” sợ Đặng Tiểu Bình nổi bật, khi gặp đông đảo cán bộ và quần chúng, nên đã đưa ra rất nhiều lý do “bịa đặt dựng đứng” cố sức gạt bỏ Đặng Tiểu Bình. Giang Thanh chủ trương để Vương Hồng Văn hoặc Trương Xuân Kiều đọc lời điếu. Trương Xuân Kiều tự biết mình chưa đủ tư cách, Vương Hồng Văn lại quá non, liền đẩy cho Diệp Kiếm Anh. “Hiện nay cả nước đang phản kích lại xu hướng xử lại án hữu khuynh, Đặng Tiểu Bình đọc lời điếu là không thích hợp, để Nguyên soái Diệp Kiếm Anh đọc!” Diệp Kiếm Anh hiểu rõ dụng tâm của ông ta, nên nói như đanh đóng cột “Tôi không thấy có điều gì là không thích hợp! Đồng chí ấy đường đường chính chính là một Phó Chủ tịch Trung ương Đảng, lại là Phó Thủ tướng thứ nhất Quốc vụ viện thay Thủ tướng chủ trì công tác, lẽ đương nhiên là đồng chí ấy phải đọc lời điếu. Hơn nữa tâm trạng của tôi quá buồn, cũng không đọc nổi”. Trương Xuân Kiều bị tẽn tò, nên đành phải thôi. Như vậy là, Diệp Kiếm Anh đã suy nghĩ đến hoàn cảnh khó khăn của Đặng Tiểu Bình lúc ấy nên đã cố sức chủ trương để Đặng Tiểu Bình đọc lời điếu, nhân cơ hội này để Đặng Tiểu Bình được gặp mặt với đông đảo quần chúng nhân dân. Trong giờ phút then chốt phải ủng hộ rất mạnh đồng chí ấy về mặt chính trị. Quả nhiên, khi mọi người nhìn thấy Đặng Tiểu Bình xuất hiện trên màn hình ti vi, thì hàng ngàn hàng vạn tấm lòng căm ghét việc “phê Đặng” lo lắng cho vận mệnh của Đặng Tiểu Bình phút chốc lắng xuống.

Hôm nay, với tâm trạng cực kỳ đau đớn, tưởng niệm đồng chí Chu Ân Lai, người đảng viên ưu tú của Đảng Cộng sản Trung Quốc, nhà cách mạng vô sản vĩ đại, chiến sĩ cách mạng kiệt xuất, người lãnh đạo Đảng và Nhà nước xuất sắc từng trải của nhân dân Trung Quốc...

Biểu cảm nghiêm túc, giọng nói đau xót, truyền cảm đến đông đảo quần chúng nhân dân trong và ngoài hội trường. Rất nhiều cán bộ cũ hồi lâu đứng đó như mọi người dân, nước mắt giàn giụa như mưa. Họ hy vọng biết nhường nào từ nay Đặng Tiểu Bình sẽ thay thế Chu Ân Lai, lãnh đạo đất nước!

Nhưng nguyện vọng lành hiền của mọi người thường bị kẻ xấu khiêu khích. Quần chúng nhân dân càng yêu quý Đặng Tiểu Bình thì “bọn bốn tên” càng sợ hãi, càng cố sống cố chết kéo ông xuống. Vậy là đồng thời với việc ngăn cản thô bạo những hoạt động của quần chúng nhân dân tưởng niệm Chu Ân Lai, “bọn bốn tên” càng vu cáo hãm hại Đặng Tiểu Bình ghê gớm hơn. Một ngày cũng không thể để Đặng Tiểu Bình thay Chu Ân Lai chủ trì công tác hằng ngày của Trung ương, điều hành chính sự. Khi đả kích Đặng Tiểu Bình không một phút nào quên Diệp Kiếm Anh, người vẫn đang chủ trì công tác hằng ngày của Quân ủy, người nắm giữ binh quyền. Hai người này là trở ngại lớn nhất ngăn cản họ cướp Đảng giành quyền từ sau khi Chu Ân Lai qua đời, bị họ coi là “cái gai trong mắt”, “cái xương trong họng” phải trừ bỏ cho bằng được.

Với sự điều khiển của “bọn bốn tên” các nơi như Thượng Hải, Liêu Ninh đã tổ chức các cuộc họp kích động chống lại “xu hướng xấu xử lại án hữu khuynh”. Đồng thời Trung ương tích cực mở cuộc “họp thông báo phê Đặng”. Vương Hồng Văn tự tiện chuẩn bị một bán báo cáo dài “chống lại xu hướng xử án hữu khuynh” để đọc trong hội nghị, để lộ rằng Đặng Tiểu Bình là đoàn trưởng Hoàn Hương đoàn, còn Hoa Quốc Phong, Diệp Kiếm Anh, Lý Tiên Niệm v. v... là phân đội trưởng của Hoàn Hương đoàn...

Diêu Văn Nguyên đã đích thân đọc duyệt văn kiện tham khảo nội bộ của Tân Hoa xã, công nhiên chỉ tên công kích Diệp Kiếm Anh. Để tranh giành “ngôi báu” Thủ tướng, “bọn bốn tên” đã cổ vũ tay chân ở Thượng Hải, dựng lên cái gọi là: “tư tưởng Trương Xuân Kiều”, thổi phồng nó là “phát hiện mới”, “quan điểm mới”, “vượt qua” chủ nghĩa Lê-nin, đã “phát triển” tư tưởng Mao Trạch Đông, đó là “cột mốc thứ tư”, cùng sổng chuồng còn có “tư tưởng văn nghệ Giang Thanh”, “Con đường Diêu Văn Nguyên”, “Đại sự ký Vương Hồng Văn”.

Thành ủy Thượng Hải nổi chiêng trống rùm beng nào là họp, nào là tọa đàm, nào là “Báo cáo tình hình”, gây dư luận, đòi để Trương Xuân Kiều làm thủ tướng. Vương Hồng Văn cũng không kém, trong một số khác của “Báo cáo tình hình” đã phản ánh “tiếng lòng” của nhân dân Thượng Hải: “Trương Xuân Kiều làm thủ tướng chúng tôi một trăm lần yên tâm, Vương Hồng Văn làm thủ tướng chúng tôi càng yên tâm”. “Người nối nghiệp” mơ làm thủ tướng, nắm lại việc chủ trì công tác hằng ngày của Trung ương, phút chốc trở nên bận bịu, thu gom cần câu và súng săn, từ bỏ khiêu vũ và rong chơi, chuyên tâm chí thú chuẩn bị “cương lĩnh thực thi chính quyền” của mình. Anh ta bảo thư ký và “bọn tú tài” chuẩn bị diễn văn cho mình. Từ ngày 23 tháng 1 đến ngày 3 tháng 2, lần lượt in ba lần bản sửa chữa để đợi một ngày in toàn văn trên “Nhân dân nhật báo”!
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #46 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2010, 11:14:51 am »


4. Cuộc đối thoại giữa hai ông già. Mây đen trùm kín, giông bão nổi lên

Đúng giờ phút nghiêm trọng ở không gian tầng cao của Trung Quốc, tình hình Bộ Chính trị nảy sinh đột biến. Trong một ngôi nhà ở đại lộ phía đông Địa An Môn, Bắc Kinh có hai ông già lặng lẽ ngồi trên xa-lông đối diện với nhau.

Lúc này, rõ ràng họ vẫn còn chìm đắm trong nỗi đau đớn vô bờ, sự qua đời của Chu Ân Lai, tạo nên vết thương lớn trong tâm linh họ. Họ có cái cảm giác mất mát không gì bù đắp được, như mất đi chỗ dựa chính, trong phút chốc, trong lòng cảm thấy trống rỗng.

Hai người lúc thì nói chuyện đôi câu, lúc thì đứng lên đi ra ngoài cửa, vừa đi vừa trò chuyện. Khu nhà tứ hợp viện rộng rãi, cũng trống không. Bức tường màu xám vây quanh và chiếc cổng màu xanh ngăn tầm nhìn của họ, đường phố bên ngoài gọi là “đường rộng” nhưng thực tế không rộng, trên con đường đi thẳng đến Địa An Môn, luôn luôn có tiếng ồn ào vọng tới, càng làm cho ruột gan họ rối bời.

Im lặng; im lặng, im lặng hồi lâu, trong im lặng ấp ủ những đóa hoa lửa của trí tuệ.

“Anh thấy tình hình hiện nay thế nào?” Cả hai gần như cùng một lúc nêu ra cùng một vấn đề.

Hai ông già với những kinh nghiệm đấu tranh phong phú và với sức nhìn thấu suốt, dự cảm thấy một trận bão táp chính trị lớn hơn sắp sửa ập tới và đều đang suy xét đến kết cục và sách lược ứng phó khẩn cấp đối với trận bão táp ấy.

Hai ông già ấy không phải ai khác mà chính là hai nhà cách mạng tiền bối Đặng Tiểu Bình và Diệp Kiếm Anh. Đây là hai người bạn chiến đấu cũ với sự tín nhiệm sâu sắc được xây dựng và trải qua những thử thách sống chết trong những năm tháng của cuộc cách mạng lâu dài của Trung Quốc. Từ nhiều năm nay Đặng Tiểu Bình rất yêu quý Diệp Kiếm Anh, nhất là trong giờ phút nguy nan, Chu Ân Lai qua đời, “bọn bốn tên” cố sức cướp quyền lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước, càng cảm thấy cần phải dựa vào vị Nguyên soái già luôn trung thành với Đảng và tài trí hơn người này. Diệp Kiếm Anh tuy lớn hơn Đặng Tiểu Bình 7 tuổi, gần bát tuần, nhưng ông hiểu tính cách và tài năng của Đặng Tiểu Bình, rất tôn trọng người lãnh đạo xuất sắc của Đảng và Nhà nước đã mấy lần nổi mấy lần chìm này.

Hai nhà cách mạng lão thành nhìn tình hình xấu đi nhanh chóng mà cảm thấy quá đột ngột, thật không sao hiểu nổi. Diệp Kiếm Anh nhìn Đặng Tiểu Bình tức giận nói: “Bọn này bắt nạt người quá đáng, từng bước lấn tới, chúng lợi dụng lúc Thủ tướng qua đời, Chủ tịch ốm nặng, càng làm càng dữ, tiếp theo không biết chúng còn định giở trò ma gì nữa đây, chúng ta phải nhanh chóng đưa ra đối sách!”.

“Chẳng có gì đáng sợ cả? Từ lâu tôi đã có sự chuẩn bị tư tưởng rồi, chẳng qua là bị đánh đổ lần thứ hai. Điều đáng tiếc là còn rất nhiều việc chưa làm xong, kinh tế chưa có chuyển biến tốt, rất nhiều đồng chí cũ chưa được giải phóng”. Đặng Tiểu Bình nói một cách tiếc rẻ.

“Vấn đề lớn nhất hiện nay là Chủ tịch không nghe được ý kiến của chúng ta. Bọn Giang Thanh xúi Mao Viễn Tân ngầm kể tội với ông”.

“Đúng. Nhưng cũng không hoàn toàn đúng. Cuối năm ngoái, mấy lần tôi đến chỗ Chủ tịch nói chuyện riêng vào một buổi tối, tôi còn hỏi riêng Chủ tịch, phương châm chính sách công tác trong giai đoạn này như thế nào? Chủ tịch vẫn khẳng định. Sau đó Chủ tịch bảo Mao Viễn Tân gặp tôi nói chuyện, nói là tôi xử lại án đại cách mạng văn hóa. Tôi nêu ý kiến của mình, nhiều lần giải thích nhưng không có tác dụng gì!”.

Những điều này, nếu được nói ra từ miệng người khác có lẽ Diệp Kiếm Anh không tin. Gần hai năm nay, không phải chỉ một lần, ông nghe thấy Mao Trạch Đông nói về Đặng Tiểu Bình “nhân tài hiếm có”, “tư tưởng chính trị vững”, yêu cầu ông làm Phó Chủ tịch Quân ủy, Phó Thủ tướng thứ nhất kiêm Tổng Tham mưu trưởng. Hơn nữa từ khi Đặng Tiểu Bình trở lại chủ trì công tác đến nay, mọi việc đều xin ý kiến Mao Trạch Đông, đồng ý mới làm, thành tích nổi bật, rất được lòng người, đó là chuyện mọi người đều thấy. Làm sao trong phút chốc lại quay ngoắt một trăm tám mươi độ được? Xem ra, vấn đề căn bản là việc đánh giá đối với đại cách mạng văn hóa. Đặng Tiểu Bình đã tỏ thái độ rõ ràng, trên vấn đề căn bản này không có đất cho sự dàn xếp. Điều mà Diệp Kiếm Anh lo nhất là Đặng Tiểu Bình xuống dẫn đến việc “bọn bốn tên” thừa cơ cướp quyền Quốc vụ viện.

“Làm thế nào đây?” Diệp Kiếm Anh bàn: “Chúng ta có nên đi gặp Chủ tịch lần nữa không?”

“Đã gặp rồi, chẳng ăn thua gì”. Đặng Tiểu Bình đã có sự chuẩn bị tư tưởng, vì lợi ích của Đảng và Nhà nước, phải kiên trì đấu tranh với “bọn bốn tên” vì nghĩa không thể rút lui. Ông trả lời một cách kiên định: “Tính tình ở con người tôi chắc anh biết, quyết không nhượng bộ trên vấn đề nguyên tắc!”.

“Chỉ cần còn một tia hy vọng, thì chúng ta phải cố mà giành lấy”.

“Bộ Chính trị trên thực tế đã đình chỉ công tác của tôi, tôi dự đoán, Chủ tịch đã hạ quyết tâm, sẽ “thay ngựa!””

Tâm trạng Diệp Kiếm Anh trở nên nặng nề, nếu cục diện ấy xuất hiện thật thì làm thế nào? Ông hy vọng biết bao, trách nhiệm mà Chu Ân Lai để lại sẽ do Đặng Tiểu Bình gánh vác!

“Tôi nghĩ rằng “thay ngựa” cũng không phải là chuyện dễ, nếu muốn thay, chỉ có hai khả năng: Một là rút lui có trật tự, hai là “một là phê hai là bảo vệ”, chí ít vẫn tiếp tục dùng một thời gian nữa, vì có một số sự việc, Chủ tịch sẽ không hoàn toàn giao cho họ, ông sẽ không yên tâm!”.

Đặng Tiểu Bình đồng ý với nhận định đó: “Tôi đã chuẩn bị khả năng xấu nhất, nhưng tôi tin, sự nghiệp của chúng ta sẽ có người kế tục. Đảng của chúng ta có hy vọng”. Ông ngừng lại, trầm ngâm một lúc, nói một cách nghiêm túc: “Tôi không giữ cương vị lãnh đạo nữa, cũng không sao, chỉ cần anh, vị nguyên soái già còn, và có các đồng chí cũ khác còn thì chẳng sợ gì bọn nhãi nhép gây sự cả!”

Diệp Kiếm Anh nghe thấy những lời gửi gắm nặng tình nặng nghĩa, trong người bỗng cảm thấy như tăng thêm gánh nặng ngàn cân, lập tức bày tỏ: “Thấy sự phát triển của tình hình, có thể tôi cũng không giữ được. Nhưng dù thế nào, chỉ cần tôi còn một chút hơi thở, cũng sẽ tiếp tục đấu với chúng!”.

Đặng Tiểu Bình thấy vị Nguyên soái già kiên cường như vậy, tự đáy lòng cảm thấy rất vui, lại nhắc: “Có điều phải chú ý phương pháp đấu tranh, đây là lời dặn dò của Thủ tướng trước lúc lâm chung”.

Hai nhà cách mạng lão thành lại rơi vào tâm trạng thương nhớ Chu Ân Lai.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #47 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2010, 11:22:02 am »


5. Người mà “phái thực tế” và phái cấp tiến đều có thể chấp nhận ra sân khấu

Sự việc quả không ngoài dự đoán, Mao Trạch Đông trong lúc bị bệnh cũng đang rất đau đầu vì việc lựa chọn người làm Thủ tướng Quốc vụ viện. Qua quan sát cân nhắc nhiều lần, ông vừa không bằng lòng với Đặng Tiểu Bình người đã cùng ông chiến đấu nhiều năm và được ông coi trọng, càng không yên tâm với “bọn bốn tên” đã từng bị ông phê bình là có dã tâm. Cuối cùng người thầy của biện chứng pháp giỏi giải quyết mâu thuẫn đã chọn được một người khác ngoài dự kiến của mọi người.

Người ấy là Hoa Quốc Phong. Ngày 21 tháng 1 năm 1976, Mao Viễn Tân báo cáo với Mao Trạch Đông, nói đến Hoa Quốc Phong, Kỷ Đăng Khuê v.v… nêu ra việc Quốc vụ viện đề nghị Chủ tịch xác định một đồng chí phụ trách chủ yếu dẫn đầu để họ làm công tác cụ thể. Mao Trạch Đông trả lời: “Đề nghị Hoa Quốc Phong dẫn đầu. Anh ta tự nhận là người có trình độ chính trị không cao. Tiểu Bình chuyên quản lý công việc ngoại vụ”. Chí ít, từ nay về sau, Hoa Quốc Phong đã bắt đầu chủ trì công tác của Quốc vụ viện.

Ngày 2 tháng 2, Trung ương đưa ra “Văn kiện số 1” thông báo toàn Đảng:

Theo đề nghị của lãnh tụ vĩ đại Mao Chủ tịch, Bộ Chính trị Trung ương Đảng nhất trí thông qua Hoa Quốc Phong giữ chức Quyền Thủ tướng Quốc vụ viện.

Đối với bối cảnh chính trị của quyết định này, lúc ấy một nhà văn viết truyện ký nước ngoài đã viết:

“Bọn bốn tên” mưu toan thao túng Mao Trạch Đông đang bị ốm nặng, tất nhiên không phải là muốn mở đường cho Hoa Quốc Phong một chính trị gia “tỉnh lẻ” không quen thuộc lắm với mọi người nắm quyền hành. Nhưng họ điên cuồng chống Đặng Tiểu Bình không còn nghi ngờ gì nữa đã có lợi cho việc thăng chức của Hoa Quốc Phong. Tinh thần thực tế kiên định không thay đổi của Đặng Tiểu Bình làm cho Mao Trạch Đông không yên tâm, vì vậy, từ mùa thu năm 1975 lại một lần nữa chĩa mũi nhọn vào Đặng Tiểu Bình. Nhưng ông đã hiểu rõ phu nhân của mình cũng như những người ủng hộ về hình thái, ý thức ở Thượng Hải đang âm mưu hoạt động ở hậu trường, đồng thời có dã tâm chính trị. Bản ngữ lục công bố sau khi “bọn bốn tên” sụp đổ đã chứng thực điều đó. Trong tình hình này, điều kiện có lợi của Hoa Quốc Phong chính là ở chỗ không tham gia một phái nào, mà là trung thành lâu dài với Mao Trạch Đông.

Nhà văn này sau khi nêu ra thân thế và chức vụ của Hoa Quốc Phong, đã đặc biệt đề cập đến:

Điều quan trọng là, ông ta là người mà phái thực tế và phái cấp tiến đều có thể chấp nhận. Vì vậy, vào khoảng tháng 4, Chủ tịch Đảng đã nhờ ông ta phụ trách thẩm tra “vụ án Đặng Tiểu Bình”.

Người nước ngoài bàn luận về chính trị hiện đại ở Trung Quốc luôn thích phân thành “phái thực tế”, “phái cấp tiến” gì đó. Đây là quan điểm và thói quen của họ, tạm không bình luận nhiều về chuyện đó, nhưng gọi “bọn bốn tên” là “phái cấp tiến” rõ ràng là không thỏa đáng.

Phép biện chứng của lịch sử là lớp sóng sau đẩy lớp sóng trước, người mới vượt người cũ. Nhưng sự “vượt trội” ấy thường thường có hai tình huống: “Một là sự vượt trội thông thường. Người mới đức tài đều đủ, trai tráng khỏe mạnh, khiêm tốn thận trọng, là những người nối nghiệp ưu tú đáng tin cậy, làm cho người giao phó yên tâm, thậm chí thấy ngượng vì không bằng. Đúng như Diệp Kiếm Anh đã nói trong một bài thơ: “Một thời anh hùng muôn đời sự nghiệp, Ai dám nói tiền hiền kém hậu sinh”. Một tình huống khác hoàn toàn trái với tình huống trên.

Mọi người trông mong có nhiều người nối nghiệp như loại trên biết chừng nào!

Về thân thế của Hoa Quốc Phong, ở Trung Quốc cho đến hôm nay vẫn chưa có một cuốn sách nào giới thiệu chính thức được xuất bản. Nhưng người nước ngoài lại có không ít sách và bài viết ra mắt bạn đọc. Như cuốn “Hoa Chủ tịch” do Nhà xuất bản Hơ-stơ ở Luân Đôn xuất bản năm 1980, “Hoa Quốc Phong trước đại cách mạng văn hóa (1949- 1966) ở Hồ Nam, sự trưởng thành của một tài năng chính trị” của Ô-cơ-lin-pô-kơ và Dương Trại Cường. Ngoài ra còn có “Truyện Hoa Quốc Phong” xuất bản ở Hương Cảng, cùng “Cuộc hội đàm của Hoa Quốc Phong với Phơ-ri-cớt Cô-lin” v. v… và v. v… Những tác phẩm này có khen có chê, tin đồn nhảm rất nhiều.

Hoa Quốc Phong đã giội bom đạn trong cuộc chiến tranh chống Nhật để đi vào con đường cách mạng. Khi quê hương huyện Giao Thành tỉnh Sơn Tây bị quân Nhật giày xéo, ông vác súng kíp lên rừng đánh du kích, vẫn là một thanh niên tràn đầy nhiệt huyết 17 tuổi đời chưa rõ thế sự, lần đầu tiên nghe thấy tên của những người lãnh đạo Đảng và các tướng lĩnh kháng Nhật như Mao Trạch Đông, Chu Đức, Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình, Diệp Kiếm Anh v.v... lòng ông tràn đầy một niềm sùng kính. Nằm mơ cũng không ngờ tới có ngày mình lại có thể vinh dự bước vào hàng ngũ những nhân vật lãnh tụ của Đảng Cộng sản Trung Quốc, để ngồi ngang hàng với những “nhân vật lớn” này. “Người cùng lứa” với Đảng Cộng sản Trung Quốc mãi đến năm 1940 mới đến với Đảng. Vận mệnh của một con người, tự mình rất khó nắm được, mà thường thường do những nhân tố mang tính ngẫu nhiên sắp đặt. Trước khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập, Trung ương Đảng ra lệnh cho tỉnh Sơn Tây rút một bộ phận cán bộ và quân nhân ở địa phương xuống phía nam. Lúc ấy Hoa Quốc Phong đang đảm nhiệm chức vụ Bí thư huyện ủy huyện Giao Thành kiêm nhiệm chính ủy của Đại đội vũ trang là người ghi tên đầu tiên, đầu tiên đến huyện Tương Âm tỉnh Hồ Nam, sau giữ chức Bí thư huyện ủy Tương Đàm. “Hoa Chính ủy” nổi danh từ đó. Năm 1954 lên giữ chức Bí thư huyện ủy Tương Đàm. Trung Quốc có câu danh ngôn “nhân kiệt địa linh” hoặc “địa linh nhân kiệt”. Tương Đàm cái “địa linh” quê hương Mao Trạch Đông đã bồi dưỡng nên một loạt “nhân kiệt”, trong đó có Hoa Quốc Phong. Trải qua mấy năm xây dựng chủ nghĩa xã hội, trải qua những năm đại nhảy vọt rồi lại qua đại cách mạng văn hóa tên tuổi Hoa Quốc Phong đi song song với cái tên quê hương Mao Trạch Đông và ngày càng nổi bật cùng với tiếng tăm của vị lãnh tụ vĩ đại.

Hoa Quốc Phong ít nói, suy nghĩ thâm trầm, giỏi nắm bắt ý đồ của Mao Trạch Đông, thường có dịp đến Bắc Kinh để báo cáo và xin ý kiến Mao Trạch Đông. Nhiệt tình “ba trung thành” chất phác, tác phong làm việc tỉ mỉ chắc chắn vẻ thực thà khiêm tốn của ông đã để lại cho Mao Trạch Đông ấn tượng hoàn toàn có thể tin cậy. Vì thế sau khi “người nối nghiệp” Lâm Bưu phản bội và bị tan xác năm 1971, cùng với việc điều động Vương Hồng Văn từ Thượng Hải là điều động Hoa Quốc Phong từ Trường Sa về Trung ương. Sau Đại hội Đảng khóa 10, Vương Hồng Văn trở thành Phó Chủ tịch Đảng, Hoa Quốc Phong trở thành ủy viên Bộ Chính trị. Lúc ấy ông đã thay thế Tạ Phú Trị vừa bị bệnh qua đời giữ chức Bộ trưởng Công an. Ít lâu sau đảm nhiệm chức Phó Thủ tướng Quốc vụ viện cho đến cuối cùng mấy lần đảm nhiệm quyền Thủ tướng Quốc vụ viện.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #48 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2010, 11:28:40 am »


6. “Bọn bốn tên” tạm thời bị mất một quân cờ, nhưng rồi lại ăn được hai quân

Việc bổ nhiệm Hoa Quốc Phong là một đòn giáng vào đầu “bọn bốn tên”. Vương Hồng Văn chẳng thèm giở lại xem bản đề cương (sửa lần thứ ba) nói chuyện đã chuẩn bị từ lâu của mình và vứt vào ngăn kéo, về sau trở thành một trong những tội trạng của y. Trương Xuân Kiều kẻ đã tự cho là đã nắm chắc “ngôi báu” thủ tướng oán hận cùng cực đã viết những điều bực bội trong “Cảm xúc về ngày 2 tháng 3”:

Lại là một văn kiện thứ nhất.

Năm ngoái đã ra một văn kiện thứ nhất.

Thật là đắc chí càng hung hăng.

Đến thật nhanh, đến rất dữ mà tan cũng rất nhanh.

Đường lối sai lầm sẽ không sao thực hiện được, có thể một thời đắc ý, tựa hồ như thiên hạ là của ông ta, phải bắt đầu một thời đại mới gì đó thôi. Họ luôn đánh giá quá cao sức mạnh của mình.

Nhân dân là nhân tố quyết định.

Đại diện cho lợi ích của nhân dân, mưu lợi cho đại đa số, trong bất kỳ tình huống nào, đều đứng về phía quần chúng nhân dân, đứng về phía những phần tử tiên tiến thì sẽ thắng lợi. Làm ngược lại tất nhiên sẽ thất bại. Đúng là:

Muôn nhà vạn hộ trông ngày ấy,

Sẽ đổi bùa xưa lấy đào hoa”.


Trương Xuân Kiều là kẻ giỏi tính toán. Trong bài “Hữu cảm” ông ta nói đến “Văn kiện thứ nhất” năm ngoái là chỉ cái gì. Đó là “Văn kiện thứ nhất” của Trung ương năm 1975. Chính là văn kiện đã bổ nhiệm Đặng Tiểu Bình làm Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương kiêm Tổng Tham mưu trưởng quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc. Ở đây Trương Xuân Kiều đã “bắn một mũi tên trúng hai đích”. Tức là nhằm vào Hoa Quốc Phong nhưng lại gắn thêm Đặng Tiểu Bình. Ông ta muốn có một cuộc thanh toán chung để thực hiện dã tâm phản cách mạng “thay đổi triều đại” của ông ta.

Đúng lúc này, trên đường phố Thượng Hải xuất hiện một biểu ngữ lớn “Kiên quyết yêu cầu Trương Xuân Kiều làm thủ tướng”, chống đối với Trung ương, Trương Xuân Kiều có tật giật mình. “Đây chẳng phải là giúp chẳng bõ phiền hay sao?” Nên ông ta đã lập tức ra lệnh che đi! Còn truyền đi một câu chuyện cười, có người đã lặng lẽ xé ba chữ “Trương Xuân Kiều” dán lên đầu biểu ngữ thế là biểu ngữ biến thành “Trương Xuân Kiều kiên quyết yêu cầu làm thủ tướng!”

Trong ván cờ tranh giành vị trí thủ tướng, “bọn bốn tên” tạm thời bị mất một quân, nhưng ở một ván cờ khác họ lại ăn được hai quân, một quân là chặn được con đường Đặng Tiểu Bình làm thủ tướng, một quân khác là lôi được Diệp Kiếm Anh xuống ngựa.

Trong “Văn kiện thứ nhất” của Trung ương này có một điều thông báo quan trọng khác.

“Trong thời gian đồng chí Diệp Kiếm Anh bị bệnh, thì đồng chí Trần Tích Liên phụ trách chủ trì công tác của Quân ủy Trung ương”.

Lấy hình thức văn kiện Trung ương để thông báo cho toàn đảng việc treo chức vị nguyên soái của nước Cộng hòa vì “bị bệnh” thì đây quả là lần đầu tiên chưa từng có bao giờ, nó đến rất đột ngột. Nhưng Diệp Kiếm Anh đã có sự chuẩn bị tư tưởng. Đối với sự vinh nhục thăng giáng của cá nhân từ lâu ông đã gạt ra ngoài, điều mà ông lo lắng là vận mệnh của đất nước và quân đội. Ông nghĩ, Mao Trạch Đông rút cuộc đã không trao quyền cho “bọn bốn tên” mà lại giao cho Hoa Quốc Phong, dù thế nào cũng là một việc tốt, có thể an ủi linh hồn của Chu Ân Lai ở nơi chín suối.

Đối với việc “treo chức” của Diệp Kiếm Anh, “bọn bốn tên” tung mũ reo vui cười khẩy. Còn tất cả mọi người lương thiện, chính trực đều lo lắng vô cùng. Rất nhiều đồng chí quan tâm đến quốc gia đại sự, yêu quý Diệp Kiếm Anh đều tới tấp gọi điện viết thư đến Văn phòng Diệp Kiếm Anh thăm hỏi bệnh tình. “Diệp soái mắc bệnh gì?” “Sức khỏe có yếu lắm không?” Các đồng chí ở văn phòng đành lặng lẽ kể lại sự thực: Vẫn khỏe như xưa và rất khỏe. Nhưng mọi người vẫn bán tín bán nghi.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #49 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2010, 11:29:09 am »


Ngày 5 tháng 2, Trung ương thông báo là sẽ truyền đạt rộng “Những điểm chính của bản thông báo” cho quần chúng trong và ngoài Đảng. Ngày 6 tháng 2, Trung ương phê chuẩn và chuyển cho Quân ủy Trung ương về việc ngừng học tập và quán triệt chấp hành báo cáo tại cuộc Hội nghị “Quân ủy mở rộng” của Đặng Tiểu Bình và Diệp Kiếm Anh tháng 7 năm 1975. Ngày 25 tháng 2, Trung ương triệu tập hội nghị những người phụ trách các tỉnh, thành phố, khu tự trị và các đại quân khu trong hội nghị đã truyền đạt “Chỉ thị quan trọng của Mao Chủ tịch”, tức là những lời nói chuyện của Mao Trạch Đông trong nhiều lần từ tháng 10 năm 1975 đến tháng 1 năm 1976 về “Phê Đặng và phản kích lại xu hướng xử lại án hữu khuynh” do Mao Viễn Tân chỉnh lý. “Chỉ thị quan trọng của Mao Chủ tịch” được Mao Trạch Đông đọc duyệt và phê chuẩn. Trích lục như sau:

“Xã hội xã hội chủ nghĩa có đấu tranh giai cấp hay không? “Lấy ba chỉ thị làm cương lĩnh” là gì? Ổn định đoàn kết không phải là không cần đấu tranh giai cấp. Đấu tranh giai cấp là cương, điều còn lại là mục. Trên vấn đề này Sta-lin đã mắc sai lầm lớn. Lê-nin không như vậy, ông nói sản xuất nhỏ hằng ngày hằng giờ nảy sinh ra chủ nghĩa tư bản. Lê-nin nói, xây dựng một nhà nước tư sản không có nhà tư bản, để đảm bảo cho pháp quyền tư sản. Chúng ta sẽ xây dựng một nhà nước như vậy, na ná như xã hội cũ, phân đẳng cấp, có 8 bậc lương, phân phối theo lao động, trao đổi ngang giá. Phải dùng tiền để mua gạo, mua than, mua mỡ, mua rau. 8 bậc lương chẳng kể anh người nhiều hay ít.

Đại cách mạng văn hóa là gì? Là đấu tranh giai cấp đấy.

Vì sao có một số người không nhận rõ vấn đề mâu thuẫn trong xã hội xã hội chủ nghĩa?... Vấn đề là bản thân họ thuộc giai cấp tiểu tư sản, tư tưởng dễ hữu. Bản thân họ đại diện cho giai cấp tư sản, nên nói không thấy rõ mâu thuẫn giai cấp.

Một số đồng chí, chủ yếu là các đồng chí cũ, tư tưởng vẫn dừng lại ở giai đoạn cách mạng dân chủ tư sản không hiểu chủ nghĩa xã hội, có sự đối lập thậm chí phản đối. Đối với đại cách mạng văn hóa có hai thái độ một là không bằng lòng, hai là muốn tính sổ, tính sổ với đại cách mạng văn hóa.

Đã làm quan to thì phải bảo vệ lợi ích của các vị quan to. Họ có nhà cao cửa rộng, có xe hơi, lương cao, còn có nhân viên phục vụ, còn ghê gớm hơn nhà tư bản. Cách mạng xã hội chủ nghĩa đến bản thân, khi hợp tác hóa, trong Đảng có người phản đối, phê phán pháp quyền tư sản, họ có phản cảm. Làm cách mạng xã hội chủ nghĩa nhưng không biết giai cấp tư sản ở đâu, nó ở ngay trong Đảng Cộng sản, phái cầm quyền đi theo con đường tư bản chủ nghĩa trong Đảng. Phái đi theo con đường tư bản chủ nghĩa vẫn đang đi.

Đối với đại cách mạng văn hóa, nhìn chung: cơ bản là đúng đắn, nhưng còn có chỗ chưa đủ. Điều phải nghiên cứu hiện nay là ớ mặt chưa đủ. Tính thành ba bảy, bảy phần thành tích, ba phần sai lầm, cách nhìn chưa chắc đã nhất trí Đại cách mạng văn hóa đã phạm hai sai lầm: một là đánh đổ tất cả; hai là nội chiến toàn quốc. Đánh đổ tất cả trong đó có một bộ phận đánh đúng, như tập đoàn Lưu, Lâm, một bộ phận đánh sai, như rất nhiều đồng chí cũ, những người này cũng có sai lầm, phê phán là được. Không có kinh nghiệm chiến tranh đã hơn 10 năm rồi, nội chiến toàn diện, cướp đoạt, đại đa số là tự phát, đánh nhau một chút cũng là một sự rèn luyện.

Tiểu Bình... đồng chí ấy không nắm đấu tranh giai cấp, xưa nay không nhắc đến cương lĩnh này. Vẫn cứ là “mèo trắng, mèo đen” chẳng kể là chủ nghĩa đế quốc hay chủ nghĩa Mác.

Tiểu Bình... đồng chí ấy vẫn là mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, dẫn dắt tốt có thể sẽ không đi tới mặt đối lập như Lưu, Lâm... Phê thì phải phê nhưng không nên phủ định tất cả.


“Chỉ thị quan trọng của Mao Chủ tịch” trên một loạt vấn đề đã lộn sòng phải trái. “Lấy đấu tranh giai cấp làm cương lĩnh” là không đúng đắn. Hạn chế và phê phán “pháp quyền tư sản” là không đúng đắn. “Tư tưởng của các đồng chí cũ vẫn dừng ở giai đoạn cách mạng dân chủ tư sản”, hiện tượng này nói chung không tồn tại. Đối với “các vị quan to” phải được phân tích, quyết không thể phủ định tất cả. Có “nhà cao cửa rộng” v. v... không thể rút ra kết luận “còn ghê gớm hơn... nhà tư bản”. “Đánh đổ tất cả” và “nội chiến toàn quốc” không phải là vấn đề “ba phần sai lầm”. Sai lầm nghiêm trọng nhất là đã đưa ra nhận định vấn đề đối tượng cách mạng: “giai cấp tư sán” “ở ngay trong Đảng Cộng sản”, đó là “phái cầm quyền đi theo con đường tư bản chủ nghĩa trong Đảng”. Những lời nói này của Mao Trạch Đông đã phản ánh nguyên nhân căn bản việc ông phát động “phê Đặng và phản kích xu hướng xử lại án hữu khuynh”. Ông không thể khoan dung việc Đặng Tiểu Bình đã sửa chữa một cách hệ thống những sai lầm của đại cách mạng văn hóa. “Phê Đặng” không chỉ là sự phê phán một cách sai lầm một cá nhân, mà là phủ định một cách sai lầm một chủ trương đúng đắn do Đặng Tiểu Bình đại biểu.

Lúc ấy có rất nhiều đồng chí tư tưởng không thông. Trong hội nghị, dựa vào tinh thần của những lời nói chuyện kể trên của Mao Trạch Đông, đòi tố giác, phê phán Đặng Tiểu Bình, giải quyết vấn đề “rẽ ngoặt”. Hoa Quốc Phong thay mặt Trung ương Đảng nói chuyện với hội nghị, yêu cầu mọi người sau khi trở về phải đặt lên hàng đầu việc học tập chỉ thị của Mao Trạch Đông và văn kiện của Trung ương, trên cơ sở học tập, “đi sâu tố giác phê phán sai lầm của đường lối xét lại của đồng chí Đặng Tiểu Bình”. “Trong quá trình tố giác phê phán rẽ ngoặt cho tốt”, phải “triển khai cuộc đấu tranh chống lại xu hướng xử lại án hữu khuynh”. Bài nói chuyện đã nêu ra giới hạn chính sách: “Mao Chủ tịch nói, có điều gì sai Trung ương chịu trách nhiệm. Bộ Chính trị cho rằng, chủ yếu là đồng chí Đặng Tiểu Bình phải chịu trách nhiệm”. Yêu cầu không nên bắt những người đại diện ở các nơi của Đặng Tiểu Bình, đối với những đồng chí phạm sai lầm, không nên bắt rồi không thả. Phong trào phải do đảng ủy lãnh đạo, không xâu chuỗi, không tổ chức đội chiến đấu. Ngày 3 tháng 3, Trung ương Đảng ra “Thông báo về việc học tập Chỉ thị quan trọng của Mao Chủ tịch”, truyền đạt lời nói của Mao Trạch Đông về “phê Đặng và chống lại xu hướng xử lại án hữu khuynh”, yêu cầu tổ chức học tập cho các cán bộ. Cùng ngày, Trung ương cũng truyền đạt bài nói của Hoa Quốc Phong trong Hội nghị các cán bộ phụ trách tỉnh thành, khu tự trị và các đại quân khu.

Vấn đề “phê Đặng” chính thức công khai trong Đảng.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM