Những câu chuyện về Hà Nội 60 ngày đêm
Gondorian:
Vọng mãi lời thề quyết tử
Chiều 18-12, trong tiết đông, nhưng đi giữa Hà Nội lại thấy lòng ấm áp… Trước tiền sảnh Nhà Hát Lớn hàng trăm cựu chiến binh, ngực kín huân, huy chương, nét mặt rạng ngời tề tựu, tay bắt, mặt mừng, xúc động bên nhau nhớ lại những ngày tháng hào hùng của 60 năm về trước. Mùa đông năm 1946, họ là những người đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Hồ Chủ tịch trao: “Các em quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”…
Chúng tôi không khỏi xúc động khi thấy các cụ bà, cụ ông-chứng nhân của Hà Nội 60 ngày đêm khói lửa đứng lặng trong khán phòng của nhà Hát Lớn để nghe lại Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh:“… Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ...”. Lời của Bác như mạch nước nguồn thấm đẫm những trái tim đang rực lửa cách mạng. Đại tá Nguyễn Trọng Hàm, Trưởng ban liên lạc chiến sĩ quyết tử Thủ đô, mái tóc đã bạc, nhưng giọng nói mạch lạc, khúc triết khi nhớ lại mùa đông năm 1946. Theo cách nói của ông, một mùa đông mà vận mệnh của Tổ quốc như “ngàn cân treo sợi tóc” nhưng đấy cũng là mùa đông mà lòng người hoà trong hồn nước thiêng liêng. Đồng bào, chiến sĩ Hà Nội dù chỉ với bom ba càng, súng tiểu liên và chai xăng đã anh dũng chống chọi lại với đại bác, xe tăng và máy bay địch...
Ngồi ngay hàng ghế đầu là hai cụ già dáng trông quắc thước, râu tóc bạc phơ, đó là Thiếu tướng Hoàng Dũng và Thiếu tướng Đặng Văn Duy, cả hai đều là những chiến sĩ quyết tử ở Hà Nội những ngày mùa đông năm 1946. Thiếu tướng Hoàng Dũng (tên thật là Nguyễn Đình Sơn), nguyên là Chánh văn phòng Bộ Quốc phòng kể: “Tôi bây giờ đang định cư cùng các con tại Thành phố Hồ Chí Minh. Khi nhận được điện của anh Hàm, tôi liền cấp tốc ra ngay. Cũng đã lâu lắm rồi chúng tôi mới lại có dịp gặp nhau đông đủ như thế này. Những ngày Toàn quốc kháng chiến chúng tôi mới có mười chín, đôi mươi, còn trẻ lắm. Nhà tôi có ba chị em cùng tham gia chiến đấu ở Hà Nội. Chị lớn là Nguyễn Minh Thanh, chị thứ hai là Nguyễn Thị Kim và tôi. Hai chị ấy đều ở trong Hội phụ nữ cứu quốc Liên khu III, còn tôi là tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu. Sau khi nổ súng được ít ngày, chúng tôi được nhập vào tiểu đoàn Vệ quốc đoàn có phiên hiệu là An Giao bảo vệ Liên khu III”.
Theo tay ông Dũng chỉ, chúng tôi đến gặp người phụ nữ có khuôn mặt thanh nhã, bà chính là chị ruột của ông Dũng. Bà Thanh bảo: “Ngày ấy chính chúng tôi đã vận động các chị cô đầu ở phố Khâm Thiên vào đội tự vệ, đội hồng thập tự. Trước đó, các chị ấy có vẻ tự ti lắm, nhưng khi hòa nhập vào tập thể, thấy chẳng có ai phân biệt đối xử gì, nên các chị ấy vui vẻ hẳn. Vả lại ngày ấy kháng chiến, lúc nào cũng đi dưới bom rơi, đạn nổ, ai cũng coi cái chết nhẹ tựa lông hồng vì một mục tiêu cao cả, nên dễ xích lại gần nhau, dễ làm bạn của nhau. Các tự vệ cô đầu ngày ấy cũng làm được rất nhiều việc, nhưng có lẽ còn ít người biết đến…”. Tôi được biết thêm chồng của bác Thanh chính là cụ Tô Hữu Hạnh, nguyên giám đốc bưu điện Hà Nội, người đã trực tiếp đã trực tiếp lắp ráp chiếc máy thu thanh hiệu Phi-líp để Chính phủ lâm thời nghe bản tuyên bố đầu hàng của phát-xít Nhật trước quân Đồng minh năm 1945. Hiện nay chiếc máy thu thanh này đang được lưu giữ trong Bảo tàng Cách mạng.
Trong một góc khán phòng, nhà giáo Giang Ngọc Diệp năm nay đã 70 tuổi bồi hồi nhớ lại: “…Tôi không bao giờ nghĩ mình lại được đứng trong hàng ngũ của những người Quyết tử sống mái với Thủ đô. Thủa ấy tôi mới có mười tuổi đầu. Cuộc sống của tôi gắn liền với chiếc hòm đánh giày. Tối 19-12-1946, chúng tôi vẫn đang lang thang ở khu Đồng Xuân để chờ đánh giày thì được một anh Vệ quốc đoàn kéo vào và giao cho một bức thư nói là phải chuyển ngay xuống cho các anh bộ đội ở Đồng Xuân. Anh ấy dặn dò cách đi đứng cẩn thận và bảo tuyệt đối không được để lọt thư vào tay quân Pháp. Tôi và anh Nguyễn Trường Sơn cùng một anh nữa, đều là bạn đánh giày của nhau, bàn bạc và cho bức thư xuống đáy hộp xi đánh giày, rồi xách đi, miệng vẫn cứ rao đánh giày như thường. Bằng cách ấy chúng tôi đã chuyển được bức thư đến tận tay các anh Vệ quốc đoàn ở Đồng Xuân. Sau này tôi mới biết đấy là hiệu lệnh các anh ấy truyền cho nhau để thông báo giờ nổ súng. Những ngày sau nữa, tôi vẫn được anh Vệ quốc đoàn ấy nhờ đưa thư. Mãi sau này tối mới biết, nguời ấy chính là anh Nguyễn Trọng Hàm, trưởng ban liên lạc Trung đoàn Thủ Đô ngày nay. Cũng nhờ những ngày Toàn quốc kháng chiến, mà tôi như được đổi đời, sau này tôi được đi học, rồi thi đỗ vào lớp đệ nhất trường Chu Văn An và bắt đầu cuộc đời của một nhà giáo từ ấy…”.
Trong buổi gặp mặt này tôi nhận ra, cuộc kháng chiến Toàn quốc dường như có một sức hút kỳ lạ. Đã có nhiều cảnh đời, nhiều số phận kết lại với nhau để tạo nên một trang lịch sử bằng vàng cho dân tộc. Tôi cũng không thể ngờ, Giáo sư Nguyễn Tài Thu, Viện trưởng Viện châm cứu Việt Nam, cũng là một trong những chiến sĩ quyết tử giữ Liên khu I. Ông hồ hởi kể với chúng tôi ngay trước sảnh Nhà Hát Lớn: “Các cậu đừng tưởng tớ là giáo sư thì không biết đánh giặc đâu nhé. Ngày ấy tớ cùng bác Vũ Lễ đây và một số anh em khác đã tham gia đánh trận Trường Ke và trận Đồng Xuân. Khi lính Pháp đến, chúng mình cũng giật, cũng ném lựu đạn tới tấp, mặc dù trước đó ít ngày còn chưa biết lựu đạn là gì, cách bắn súng ra sao. Ấy thế mà sau vài ngày nhập vào tự vệ thành, anh nào cũng chiến đấu giỏi cả. Chỉ sau này hết giặc rồi mình mới trở thành giáo sư đấy chứ…”. Nhìn vị giáo sư cười sảng khoái và sôi nổi trò chuyện với các bạn một thời Quyết tử, tôi bỗng thấy đất nước mình có những người con thật là kỳ lạ, khi đất nước có giặc, họ có thể cầm súng, khi đất nước hòa bình, họ có thể trở thành nhà khoa học. Đất nước như thế thì không kẻ thù nào là không khiếp sợ.
Câu chuyện của chúng tôi còn dang dở thì tiếng loa thông báo buổi lễ bắt đầu. Trong khán phòng chính của Nhà Hát Lớn phút chốc đã chật cứng người. Không phải chỉ có các cựu chiến sĩ Quyết tử mà còn có khá nhiều các nhà khoa học, văn nghệ sĩ và các bạn trẻ tham dự buổi lễ. Nhà sử học Dương Trung Quốc đã nói hộ tiếng lòng của lớp lớp thế hệ trẻ đi sau với các bậc cha anh đi trước: “Tuổi trẻ hôm nay không bao giờ đánh mất, càng không bao giờ quay lưng lại với lịch sử, với chiến công hiển hách của cha ông mình. Họ luôn mang trong mình hành trang của một thời cha ông đánh giặc bởi có những ngày khói lửa mới có những ngày sôi động cuộc sống hôm nay...”. Chúng tôi được gặp chị Hoàng Thị Hường, con gái của đồng chí Hoàng Siêu Hải-Trung đoàn trưởng đầu tiên của Trung đoàn Thủ Đô. Chị Hường hiện công tác ở Công ty Môi trường và Đô thị Hà Nội. Chị nói: “Soi vào những chiến công rực rỡ ấy, chúng tôi thấy còn phải phấn đấu nhiều hơn nữa mới xứng đáng với sự cống hiến hết mình cho Tổ quốc của cha ông...”.
Biết có cuộc gặp mặt của các cựu chiến sĩ Trung đoàn Thủ Đô tại Nhà Hát Lớn, tiền sảnh quảng trường đông hẳn lên. Còn rất nhiều bà con nhân dân trong đó có khá nhiều học sinh, sinh viên và cả du khách nước ngoài muốn được vào khán phòng để trực tiếp nghe các cụ “Quyết tử” trò chuyện, nhưng không thể, nên họ đợi. Em Trần Thanh Huyền Phương, học sinh trường THPT Phan Đình Phùng dí dỏm:
- Em thường đi học qua Tượng đài các chiến sĩ Quyết tử (trên vườn hoa Vạn Xuân), hôm nay muốn tận mắt được nhìn ngắm các cụ là nguyên mẫu. Em thật sự xúc động trước tình cảm của các cụ hôm nay, thế mới hiểu, 60 năm trước, trái tim trẻ rực lửa của các cụ dành cho Tổ quốc sâu nặng đến thế nào...
Chiều dần buông, mọi người dùng dằng mãi mà vẫn chưa rời khỏi quảng trường. Ngay cả các bạn trẻ cũng níu các ông, các bà “Quyết tử” lại để hỏi chuyện. Nhìn hình ảnh ấy chúng tôi bỗng thấy niềm vui dâng trào trong lòng, có lẽ dòng nhiệt huyết cách mạng của cha anh ngày nào đang lan dần sang thế hệ trẻ. Họ cũng sẽ lại là những chiến sĩ “Quyết tử” khi đất nước đứng trước họa xâm lăng…
Bài, ảnh: TRẦN ANH TUẤN và NGÔ ANH THU
Nguồn : qdnd.vn
Gondorian:
Những Vệ út trên chiến hào vệ quốc
Ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời hiệu triệu toàn quốc kháng chiến. Những Vệ quốc quân của Trung đoàn Thủ đô đã lập chiến lũy giữa Hà Nội đương đầu với Pháp, để Chính phủ lâm thời rút lên chiến khu Việt Bắc chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài.
Ít ai biết trong lực lượng Vệ quốc quân ngày ấy có một “lực lượng đặc biệt” với tên gọi thân thương: Vệ út. Những chiến sĩ khi ấy tuổi mới lên 10. Và giờ đây, sau 60 năm, những câu chuyện lần đầu tiên được kể lại.
Kỳ 1: Tuổi thơ dữ dội
TT - Đó là những đứa trẻ nghèo, mồ côi bán báo, bán bánh mì hay đánh giày lang thang trên những hè phố Hà Nội kiếm sống. Cái đói vàng mắt năm 1945 đã xua những đứa trẻ ấy dật dờ về sống ở xóm lao động nghèo Phúc Tân, Phúc Xá ven sông Hồng cho đến khi ánh điện Nhà máy điện Yên Phụ phụt tắt: toàn quốc kháng chiến bùng nổ.
Bãi Phúc Tân rực cháy
Gặp lại những Vệ út năm xưa, họ đều khẳng định rằng không thể nào quên những năm tháng tuổi thơ sống cùng nhau ở khu lao động nghèo trên bãi Phúc Tân, chính nơi đó là mái nhà chung đầu tiên của rất nhiều Vệ út trước khi trở thành chiến sĩ cảm tử quân nhỏ tuổi.
Trong hồi ký Chiến đấu trong vòng vây - trận Hà Nội, Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết: “Ngày 14-1-1947, chúng ta thống nhất với lãnh sự Trung Hoa, Anh, Pháp và Mỹ cùng phía Pháp ngừng bắn 24 giờ đưa Hoa kiều, Ấn kiều và thường dân ra khỏi khu vực chiến sự. Bộ tổng chỉ huy quyết định chỉ để lại Liên khu 1 (một bộ phận của Trung đoàn Thủ đô, khoảng 500 người) ở lại. Nhưng điều ta không dự kiến là có những người đã trốn ở lại để tiếp tục chiến đấu, trong số này có 200 phụ nữ và 175 em nhỏ”.
60 năm sau, trong căn xép nhỏ trên đường Phan Đình Phùng (Q.Ba Đình, Hà Nội), trung tá Phùng Đệ (Xưởng phim Quân đội) - một Vệ út năm xưa - bồi hồi nhớ lại: “Mới lên 4, tôi trở thành cậu bé mồ côi khi cơn bạo bệnh đã cướp đi người cha của mình. Những tháng ngày sau đó, người dân vùng Bưởi ven hồ Tây không còn lạ cảnh một đứa bé lẫm chẫm theo mẹ bán hàng rong rồi tối về ngủ trong căn nhà lá ổ chuột, ẩm ướt. Cuộc sống bần cùng và lần ăn từng bữa nhưng ít ra vẫn còn mẹ che chở”. Cậu bé Phùng Đệ lại mất đi tình thương của người mẹ lúc mới 12 tuổi khi cơn đói năm 1945 tràn đến. Tuyệt vọng, cậu bé “cầu bất cầu bơ” theo người cô họ xa ra ở bãi Phúc Tân.
Còn tuổi thơ của Vệ út Vũ Trọng Phụng, nguyên đại tá quân đội về hưu (hiện đang sống tại Hà Nội), cũng là những “tháng ngày dữ dội” nhất. Mồ côi cha năm lên 7, mồ côi mẹ lúc lên 10, ngôi nhà ở phố Gầm Cầu bị Pháp đốt, cậu bé Phụng dạt xuống ở bãi Phúc Tân với nghề bán kẹo, bán bánh mì rồi đi thổi lò rèn.
Bãi Phúc Tân khi ấy là một doi đất nổi lên giữa sông Hồng. Hơn 100 túp lều tranh tre tạm bợ, xiêu vẹo của người lao động nghèo và cũng là nơi tiếp nhận hàng chục đứa trẻ bất hạnh từ khắp nơi dạt đến. Những đứa trẻ này dần dần quen nhau và trở nên thân thiết như anh em một nhà. Ngày toàn quốc kháng chiến bùng nổ 19-12-1946, bãi Phúc Tân lửa sáng rực trời. Ông Lê Trung Toản, nguyên chính ủy Trung đoàn Thủ đô trong 60 ngày đêm kháng chiến, kể rằng quân Pháp đã đốt cháy những căn nhà lá ven sông để chặn đường tiếp tế từ bên ngoài vào thủ đô. Thân phận những đứa trẻ nghèo cũng bị đốt theo ngọn lửa chiến tranh.
Bức mật đồ và chiếc áo Việt minh
Hà Nội và cả nước đã bắt đầu nổ súng kháng chiến. Lệnh tản cư kháng chiến được ban hành, hàng vạn người dân Hà Nội lặng lẽ dời thủ đô đi về các tỉnh vùng sau lưng địch: Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình... Nhưng những đứa trẻ bãi Phúc Tân lại tìm đường quay lại thủ đô, tìm đến các chiến lũy. Ông Nguyễn Văn Phúc, khi ấy mới 11 tuổi, một trong những Vệ út đầu tiên làm liên lạc cho đại đội 1, tiểu đoàn 101 (Trung đoàn Thủ đô), kể: “Điều kỳ lạ là tôi và nhiều đứa trẻ cùng tuổi khác đều tìm cách trốn tản cư ở lại tham gia kháng chiến. Mục đích của bọn tôi cũng thật hồn nhiên: ở lại để đánh những đứa đã đốt nhà trên bãi Phúc Tân".
Những đêm đầu không có chăn chiếu, những đứa trẻ bãi Phúc Tân nằm co ro rét mướt ở hiên nhà. Nhưng đêm sau, có một anh dáng người cao gầy đem đến cho mấy đứa một chiếc chiếu đắp đỡ rét. Rồi một ngày, anh “cao gầy” đưa cho những đứa trẻ một bức thư trong có những ký hiệu lạ: đầu tiên là hình tháp rùa, phía sau là mũi tên và hình chiếc tàu điện, tiếp theo là hình chiếc cầu có ghi thêm một từ "Giấy", cuối cùng là hình một ngôi đền phía trước có thêm hình con voi phục. “Suy luận mãi chúng tôi mới hiểu ý: lên bờ hồ đi tàu điện đến Cầu Giấy để đến đền Voi Phục. Ngay tối hôm ấy, ba đứa được kết nạp vào Đội thiếu niên Hoàng Văn Thụ mới té ngửa ra người nói chuyện với mình hằng đêm là anh Phong Nhã, phụ trách Đội thiếu nhi kháng chiến Hà Nội lúc bấy giờ. Sau đó, tôi được vào hàng ngũ Vệ quốc đoàn làm liên lạc cho tiểu đoàn 101 chiến đấu bảo vệ Bắc bộ phủ” - ông Phúc kể. Ngày đầu tiên trong đội quân cảm tử, Vệ út Phúc được các anh chị trong Vệ quốc đoàn dành cho một chiếc áo sơmi màu cỏ úa thay thế chiếc áo “bốn mùa” rách nát. “Chiếc áo ngắn của các anh mình mặc dài đến gối nhưng ấm áp vô cùng. Chiếc áo đánh dấu bước ngoặt của một cậu bé lang thang thành một người em út trong đội Vệ quốc quân quyết tử" - ông Phúc nhớ lại.
Cùng thời gian, người bạn của Nguyễn Văn Phúc là Trần Việt Minh cũng đã được "biên chế" vào làm liên lạc cho trung đội 1, tiểu đoàn 102 chiến đấu ở khu Đông Thành và Nguyễn Văn Lưu làm liên lạc cho tiểu đoàn 103 với nhiệm vụ kìm chân Pháp ở khu Đông Kinh Nghĩa Thục. Ông Lê Trung Toản, nguyên chính ủy Trung đoàn Thủ đô khi ấy, cho biết có hơn 170 em nhỏ ở Hà Nội và ở nhiều nơi khác đã trở thành Vệ quốc quân.
TRẦN ĐÌNH TÚ
--------------------
Trong làn lửa đạn, những Vệ út lao ra để truyền mật lệnh chiến đấu, làm liên lạc, tiếp tế cứu thương…, cùng “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.
Có những Vệ út đã ngã xuống nhưng sự kiên cường sống mãi.
Nguồn: tuoitre.com.vn
Gondorian:
Những “Gavroche” Hà thành
TT - Gavroche là tên nhân vật “chú bé liên lạc” trong tiểu thuyết Những người khốn khổ của nhà văn Pháp Victor Hugo viết về cuộc khởi nghĩa của nhân dân lao động Pháp.
Trong một trận chiến, chú bé Gavroche đã băng mình ra ngoài chiến lũy đến bên xác bọn lính đem đạn về cho nghĩa quân và hi sinh anh dũng.
Đó cũng là hình ảnh của những Vệ út trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến.
Con thoi dưới làn lửa đạn
Ngang dọc dưới những làn lửa đạn, những Vệ út vẫn lao ra để truyền mật lệnh chiến đấu, làm liên lạc viên, tiếp tế cứu thương và có khi trực tiếp cầm vũ khí chống lại kẻ thù.
Tham gia cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, mang trong mình những vết thương, Vệ út Nguyễn Văn Phúc trở về cuộc sống đời thường trong căn nhà nhỏ ở phố Minh Khai, Hà Nội.
Trong ký ức của ông, những trận đánh ngăn quân Pháp tại Bắc Bộ Phủ 60 năm trước thật không thể nào quên: “Đó là ngày 20-12-1946 - một ngày sau khi Hà Nội nổ súng kháng chiến. Cả đêm hôm trước đơn vị tôi (đại đội 15, tiểu đoàn 103) quần nhau với địch tranh từng góc sân, từng ngôi nhà tại Bắc Bộ Phủ. Đến mờ sáng, quân Pháp vẫn giậm chân tại chỗ vì sự kiên cường của vệ quốc quân”.
Đến gần 8 giờ sáng hôm sau, quân Pháp lại chuẩn bị tấn công với sự yểm trợ của xe tăng. Từ trên cửa sổ gác hai nhà Bắc Bộ Phủ, Vệ út Nguyễn Văn Phúc nhìn thấy quân Pháp tràn vào nên cấp báo ngay với Lê Gia Định - chính trị viên đại đội. Anh Định nghe xong ra lệnh: “Đi báo với tất cả đại đội im súng, chờ giặc tới gần vùng mới bắn và dùng lựu đạn tiêu diệt tạo bất ngờ. Tránh bắn sớm, đạn còn rất ít”.
60 năm sau, hơn 175 Vệ út năm xưa giờ chỉ còn lại hơn 10 người. Những cậu bé tóc còn để trái đào ngày ấy bây giờ đã bạc cả mái đầu. Ông Nguyễn Văn Hiếu - người Vệ út ở đại đội 16, tiểu đoàn 103 - kể: “Những ngày thủ đô kháng chiến, những Vệ út chúng tôi cũng đâu có biết hết nhau. Đứa chiến đấu ở đơn vị này đứa chiến đấu ở đơn vị khác, có được gặp mặt nhau cũng chỉ ở những bức tường hay giao thông hào khi đưa mệnh lệnh chiến đấu hay làm liên lạc viên. Ấy vậy mà cứ hễ có thời gian là mấy đứa lại túm tụm lại chơi những trò hồn nhiên của trẻ. Chúng tôi còn quá nhỏ để hiểu chiến tranh và cái chết là rất gần nhau”.
Câu chuyện bây giờ được nhiều Vệ út nhắc đến nhất vẫn là câu chuyện về một mái nhà chung của Vệ út sau khi đã rút khỏi thủ đô Hà Nội lên Đại Từ (Thái Nguyên). Ông Đặng Văn Tích kể: “Các Vệ út cũng theo các anh chị ở trung đoàn Thủ đô rút đi. Lên đến Thái Nguyên đoàn quân Vệ út chỉ còn khoảng 120 người được tập trung làm hai đại đội. Đây là sự may mắn duy nhất để tất cả Vệ út trong 60 ngày đêm có thể gặp mặt nhau”. Ông Nguyễn Văn Lộc nhớ lại: “Những Vệ út đã được sống cùng trong một mái nhà, chia nhau cái đói thắt lòng và cái rét se sắt trên miền chiến khu. Chưa biết mặt, không hề biết tên nhưng Vệ út nhanh thân nhau lắm”.
Anh Định đưa cho Vệ út Phúc một ít đạn loại súng trường đem sang vườn hoa Chí Linh. Phúc vừa xuống đến sân đã nghe đạn vèo vèo sượt qua tai, nhưng cũng cố lao lên phía vườn hoa Chí Linh thông báo mệnh lệnh. Do ta thực hiện đúng chiến thuật nên quân Pháp bị tổn thất nặng và tạm rút lui. Đó cũng là lần cuối Phúc gặp chính trị viên Định vì hai giờ sau, quân Pháp lại tràn đến...
Cùng lúc đó, đơn vị chiến đấu ở Bắc Bộ Phủ nhận lệnh từ tiểu đoàn tạm rút quân về phía Bờ Hồ để tránh tổn thất chờ cơ hội phản kích. Vệ út Phúc xin ở lại nhận nhiệm vụ: cùng một số người ở lại làm chốt chặn địch để đại đội rút an toàn.
Ông Phúc nhớ lại: “Lúc ấy dường như trong đầu tôi không có khái niệm thế nào là chết nên không hề sợ hãi. Anh Mộng Hùng, đại đội trưởng, đưa cho tôi một quả lựu đạn và dặn: địch đuổi sát thì mở chốt ném ngay. Nhưng đã quá mệt mỏi, quân Pháp không đuổi theo. Trong trận ấy tôi nghe các anh ở tiểu đoàn nói chúng ta cũng có nhiều người hi sinh, trong đó có Vệ út làm liên lạc, tôi không được biết mặt mà bây giờ cũng không còn nhớ tên ai”.
Cứu nguy giữa chợ Đồng Xuân
Tư liệu lịch sử viết về trung đoàn Thủ đô “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” do nguyên chính ủy Lê Trung Toản viết: “Càng đến những ngày cuối cùng của 60 ngày đêm, cuộc chiến giữa ta và quân Pháp ngày càng ác liệt. Chiến tranh diễn ra trên từng ngõ phố, trên mỗi mái nhà, quân Pháp muốn chiếm được phải tốn rất nhiều, nhưng để giữ vững được quân ta cũng có những tổn thất về quân số. Trong mỗi trận chiến, nhiều người đã lập công lớn, trong đó có chiến công của những em nhỏ tuổi như trận Hàng Thiếc, Đồng Xuân...”.
Tôi tìm về xã Đức Thượng, Hoài Đức (Hà Tây) gặp ông Nguyễn Văn Dũng, một Vệ út có mặt trong trận đánh Đồng Xuân nổi tiếng ngày ấy. Ông lần mò những kỷ vật, đưa ra mấy tờ giấy bản cũ ghi lại ký ức của ông trong trận đánh ấy, nhưng nghĩ sao ông lại thôi.
Ông nói để ông kể lại bằng chính ký ức 60 năm không quên của mình: “Lúc đó tôi làm liên lạc cho trung đội 1, tiểu đoàn 101 trực tiếp chiến đấu bảo vệ chợ Đồng Xuân. Mấy hôm trước trận đánh, nghe các anh Vệ quốc nói Pháp sẽ tấn công nhưng không ngờ chúng đổ bộ nhanh quá. Sáng sớm 14-2-1947, đang ngủ trong lều tại một rạp chiếu bóng cũ ở phố Hàng Chiếu, nơi ban chỉ huy tiểu đoàn đóng, thì anh Bảng - trung đội phó - gọi giật: “Dũng! Tập trung! Quân Pháp chuẩn bị đánh”.
Tôi bật ngay dậy và được anh phân công xách một bị lựu đạn chạy theo anh băng ngang về phía chợ. Tuy bé tôi cũng được anh cho mang thêm khẩu súng Browning 7,65 li và trên cổ đeo tràng đạn vắt vai do tự vệ thành để lại trông khá oai”.
Khi chạy, Vệ út Dũng chỉ nghe tiếng đạn réo ào ào chung quanh. Phía trên, máy bay của Pháp lượn vòng ném bom sát sạt vào trung tâm chợ, những mảng tôn lớn của mái chợ Đồng Xuân bị lật tung trông rõ cả trời xanh. Pháp đưa súng cối và đại bác bắn vào chợ, năm xe tăng yểm hộ bộ binh dàn quân tiến lên.
Lúc này Vệ út Dũng đang theo anh Bảng đánh địch ở khu bán bát đĩa, nhiều người của ta bị thương, đạn cũng đang cạn dần. Trong tay anh Bảng chỉ còn vài quả lựu đạn cuối cùng, anh gọi: “Dũng, về ban chỉ huy tiểu đoàn xin thêm lựu đạn. Nhanh!”. Vệ út không kịp đáp, chạy vượt qua những khu chợ giáp mặt quân Pháp, những tia đạn như đuổi theo rất rát.
Về ban chỉ huy tiểu đoàn, Vệ út Dũng nhận thêm một bị lựu đạn và được chỉ huy dặn dò: “Không được làm mất dù chỉ một quả. Truyền lệnh cho các trung đội bên ấy phải quyết tâm giữ vững”. Khá nặng so với sức một đứa trẻ, Vệ út gồng mình lao qua các dãy phố, trèo qua những chướng ngại vật trở lại trung đội. “Lúc này, trung đội không còn một viên đạn đang trông chờ vào tôi.
Tôi nghe tiếng anh Bảng: Sống rồi! Tất cả nhận thêm lựu đạn chiến đấu! Quân Pháp tiếp tục xông lên. Những quả lựu đạn được vung ra. Những tên Pháp gục xuống và lùi sâu về phía sau. Đến xẩm tối, quân Pháp bị chặn lại ở khu phía Hàng Đường, Hàng Mã. Chợ Đồng Xuân vẫn nằm dưới sự kiểm soát của quân ta” - ông Dũng tự hào nhớ lại.
TRẦN ĐÌNH TÚ
______________________
Trong số những thiếu niên tình nguyện ở lại bảo vệ thủ đô và xông lên chiến hào ngày ấy có một cô bé - nữ Vệ út duy nhất ở Hà Nội. Nhớ lại chuyện xưa là nhớ lại kỷ niệm đầy ắp yêu thương: Ngoài kia súng còn nổ/Chinh chiến gác tình quê/Ngày mai vui độc lập/ Mẹ ơi con sẽ về.
Nguồn: tuoitre.com.vn
Gondorian:
Nữ Vệ út và báu vật 60 năm
TT - Trong số những thiếu niên tình nguyện ở lại bảo vệ thủ đô và xông lên chiến hào ngày ấy có một cô bé - nữ Vệ út duy nhất ở Hà Nội. Câu chuyện của người nữ Vệ út này 60 năm sau đầy ắp kỷ niệm yêu thương về những đồng đội nhỏ tuổi.
Búp bê và bài thơ Vệ quốc
Con đường đến với Vệ quốc quân của cô bé Vũ Thị Nhâm - nữ Vệ út duy nhất của Trung đoàn Thủ đô - cũng như bao thiếu niên Hà Nội trong cơn bão tố của dân tộc: muốn trả thù những kẻ đã đốt cháy nhà mình.
Tháng 12-1946, trước ngày toàn quốc kháng chiến, cô bé Nhâm chỉ mới 13 tuổi và được phân công trong đội cứu thương cảm tử của Vệ quốc đoàn.
Giờ đây, ở tuổi gần 80, bà Nhâm vẫn nhớ như in những đồng đội trong những ngày lửa đạn ấy. Bà kể: “Trong những ngày tham gia đội cảm tử, những Vệ út chúng tôi vẫn giữ được nét hồn nhiên của những đứa trẻ Hà Nội, không sao nguôi được nỗi nhớ nhà, nhớ bố mẹ. Nhưng cuộc chiến ác liệt làm chúng tôi quên mau. Giữa bom đạn, vậy mà bản tính trẻ con vẫn hồn nhiên.
Tôi nhớ có lần nhặt được một con búp bê bằng vải rất đẹp mà tôi nghĩ là của một cô bé con một nhà tư sản đánh rơi khi đi tản cư, tôi mang về đơn vị giặt sạch sẽ rồi cất rất kỹ. Ban ngày vượt lửa đạn làm liên lạc, cứu thương và ban đêm lại mang búp bê ra ôm ngủ ngon lành, trên môi vẫn nở nụ cười như không hề có chiến tranh”.
Bà Nhâm đến nay vẫn còn cất giữ một bài thơ mà bà gọi là báu vật của đời bà trong suốt 60 năm qua, chẳng lửa đạn hay thời gian nào đốt cháy được. Bài thơ của một anh Vệ quốc quân tặng bà trong những ngày khói lửa khi bà khóc nhớ mẹ, nhớ nhà:
Em mới tuổi mười ba/ Tuy bé lòng hăng hái/ Bỏ nhà quyết xông pha/ Nắng mưa quen dãi dầu/ Đói rét dạ chẳng sờn/ Bố mẹ nhà hiu quạnh/ Mong đợi đứa con thơ/ Ngoài kia súng còn nổ/ Chinh chiến gác tình quê/ Ngày mai vui độc lập/ Mẹ ơi con sẽ về!
Anh hùng tuổi lên mười
Theo tư liệu lịch sử Đội TNTP Hồ Chí Minh, chiến công và sự hi sinh của những Vệ út trong Trung đoàn Thủ đô đã đóng vai trò rất to lớn trong 60 ngày đêm Hà Nội kháng chiến, phá hủy và thu được nhiều vũ khí... Cùng thời gian đó, trên cả nước xuất hiện các đội thiếu niên như đội thiếu niên Sài Gòn, Biên Hòa, Đồng Tháp Mười… đã noi gương Vệ út thủ đô hưởng ứng toàn quốc kháng chiến.
Cuối năm 1947, Trung đoàn Thủ đô có chủ trương đưa trả những Vệ út về gia đình nhưng không sao thực hiện được. Vệ út toàn là những đứa trẻ mồ côi và không còn người thân, những Vệ út có người thân thì không biết gia đình đi tản cư kháng chiến đã về đâu.
Đầu năm 1948, Trung đoàn Thủ đô tìm ra cách giải quyết: những Vệ út trên 15 tuổi được trở thành những người lính thực thụ, được biên chế vào những đơn vị chiến đấu, còn lại 30 chiến sĩ nhỏ tuổi dưới 14 được giữ lại để thành lập đội tuyên truyền, sau là Đội tuyên văn của Trung đoàn Thủ đô.
Đến năm 1950, Đội tuyên văn giải tán, các Vệ út mỗi người một nơi: người vào quân ngũ tham gia những trận đánh, người thành anh lính làm phim có mặt trên khắp trận địa, người trở thành nghệ sĩ nhân dân đầu ngành của một môn nghệ thuật…
Họ bặt tin nhau đến 50 năm. Mãi đến năm 1996, Vệ út Đặng Văn Tích mới có cơ hội gặp mặt một số Vệ út để viết cuốn tư liệu tại Lai Xá, Hoài Đức (Hà Tây). Nhưng trong lần gặp mặt ấy cũng chỉ có ít người…
Bà Nhâm là bác sĩ Quân y viện 108, sau năm 1975 bà chuyển công tác sang Vụ Chăm sóc sức khỏe (Bộ Y tế) đến khi về hưu, hiện bà sống tại khu tập thể Quân đội ở phố Tôn Thất Thiệp, Hà Nội. Đối với bà, nhiều chiến sĩ thiếu niên ngày ấy dũng cảm như anh hùng. Bà đã từng được chiến đấu với những người anh hùng đó, để lại trong bà niềm khâm phục đến bây giờ vẫn còn nguyên vẹn.
Bà Nhâm kể: “Năm 1946 trong 60 ngày đêm tôi và Trần Ngọc Lai cùng trung đội trưởng Cát Văn Soan, tiểu đoàn 103 (Trung đoàn Thủ đô) chiến đấu ở khu Đông Kinh Nghĩa Thục. Lai nhỏ hơn tôi hai tuổi, nhanh nhẹn, ít nói nhưng sống tình cảm. Lai không kể nhiều về gia đình và chỉ biết Lai trốn nhà ở lại với lực lượng kháng chiến bảo vệ thủ đô. Lai là người có khả năng xử lý nhanh những tình huống nguy cấp và lúc nào cũng mang theo mình vài quả lựu đạn giắt bên hông như người lính thực thụ”.
Sáng sớm 7-2-1947, trời Hà Nội u ám như mùa đông, khi bà và Lai vừa tỉnh dậy đã trông thấy những chiếc xe tăng và xe thiết giáp quân Pháp từ đầu cầu Long Biên tiến vào đường Trần Nhật Duật để đánh úp chiến lũy Trường Ke. Ở Trường Ke, trung đội trưởng Cáp Văn Soan chỉ có 15 chiến sĩ và mấy khẩu tiểu liên đang lo tìm cách chống địch.
Khoảng 8 giờ sáng, quân Pháp nổ súng bắn như vãi đạn và đưa bộ binh đánh thẳng vào Trường Ke. Bà định lao đi xin cứu viện theo lời của trung đội trưởng Soan thì Lai cản lại: “Chị để em đi!”. Giữa những làn lửa đạn, Lai như con sóc lao vụt ra ngoài. Đôi tay nhỏ nhắn của Lai bám thoăn thoắt vào đường máng dẫn nước tụt nhanh xuống thoát khỏi nhiều làn đạn địch sượt qua rồi chạy nhanh về phía ban chỉ huy tiểu đoàn bên kia phố. Hơn 10 phút sau, Lai trở về cùng đoàn quân cứu viện.
“Quân Pháp biết có một thiếu niên làm giao liên đã dũng cảm cắt làn đạn đi tìm quân cứu viện cho Trường Ke, nên viên chỉ huy ra lệnh binh lính phải bao vây bắt sống cho được người giao liên dũng cảm đó. Trong một lần lao đi tìm cứu viện, Lai lọt vào vòng vây của lính Pháp. Giặc quyết bắt sống nên tràn tới nhưng Lai không hề nao núng, tháo ngay ngòi nổ quả lựu đạn và ném về phía quân Pháp. Một tiếng nổ chát chúa, ba tên Pháp nằm sóng soài trên mặt đất, những tên khác kinh hãi lùi ra xa. Lai cũng từ từ gục xuống. Một dòng máu đỏ chảy dài và thấm đẫm chiếc áo mỏng Lai đang mặc” - bà Nhâm bồi hồi nhớ lại.
Lai ngã xuống, những tiếng thét “Trả thù cho em Lai” vang dậy cả Trường Ke, những tiếng xung phong xen lẫn tiếng lựu đạn, tiếng súng nổ ầm ầm. Quân Pháp xô nhau chạy kéo theo những xác chết và những tên bị thương chạy về phía khách sạn Đồng Lợi. PGS-TS-NSND Lê Ngọc Canh - Vệ út năm xưa từng có mặt trong đám tang Trần Ngọc Lai - hồi tưởng: “Ngay tối hôm ấy, cả trung đội làm lễ truy điệu cho liệt sĩ Trần Ngọc Lai. Những người có mặt không kìm được lòng trước cảnh cô bé Vệ út Vũ Thị Nhâm đầm đìa không chịu rời xác chú bé Lai, người mà cô xem như em ruột”.
Trưởng ban liên lạc Trung đoàn Thủ đô, đại tá Nguyễn Trọng Hàm (nguyên tham mưu phó Quân khu Thủ đô, năm 1946 là trung đội trưởng trung đội 2, tiểu đoàn 102) kể: “Sau khi Trần Ngọc Lai hi sinh, câu chuyện về cậu bé anh hùng đã lan truyền trên tất cả chiến tuyến, trên từng góc phố, căn nhà. Các đơn vị chiến đấu coi Lai là tấm gương để học tập, trụ vững tinh thần chiến đấu cho những ngày sau”.
TRẦN ĐÌNH TÚ
-------------------------
Những đứa trẻ tuổi lên 10 vẫn kiên cường băng qua lửa đạn, tiếp tế khí giới và quân nhu từ ngoại thành cho các chiến sĩ thủ đô. “Chúng tôi cứ lặng lẽ đi trong đêm, đường tối mịt mà phía trước bầu trời thủ đô rực lên, ai cũng muốn bước thật nhanh”.
Nguồn: tuoitre.com.vn
Gondorian:
Tiểu đội nhí và “chiến thuật xe bò”
TT - Trong khi những Vệ quốc quân xông lên chiến hào, một “tiểu đội nhí” tuổi đời mới lên 10 vẫn kiên cường băng qua lửa đạn, âm thầm tiếp tế khí giới và quân nhu từ ngoại thành cho các chiến sĩ thủ đô kháng Pháp.
Cuộc triệu tập bí mật
Theo ông Hoàng Thọ Anh - nguyên phó Ban tiếp tế vũ khí ngày ấy, đoàn hướng đạo Đống Đa ở thị xã Hà Đông lúc bấy giờ sục sôi tinh thần yêu nước, sẵn sàng kháng chiến. Những thành viên từ 18 tuổi trở lên làm đơn xin vào Vệ quốc đoàn, còn lại các thành viên 12-17 tuổi hăng hái tham gia các hoạt động chuẩn bị kháng chiến như giúp dân sơ tán, dựng chướng ngại vật, chuẩn bị tiêu thổ kháng chiến.
“Sáng 3-12-1946, tôi cùng trưởng ban Phạm Văn Tá (tức Phạm Văn Hướng) được triệu tập tới dinh công sứ Hà Đông để làm việc. Đón chúng tôi là chủ tịch Ủy ban kháng chiến tỉnh Hà Đông cùng ba vị khách lạ. Thời gian sau tôi mới biết đó là đại diện Chính phủ - ông Hoàng Hữu Nam, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Võ Nguyên Giáp và Tổng tham mưu trưởng QĐND VN Hoàng Văn Thái. Sau khi phân tích tình hình khả năng giữa ta và giặc, ông Hoàng Hữu Nam chỉ đạo: đoàn hướng đạo Đống Đa sẽ chịu trách nhiệm vận chuyển vũ khí, quân nhu từ các kho La Khê, Bông Đỏ, Bala, A300 Hà Đông ra Cầu Mới (ngã tư Sở) Hà Nội để từ đây chuyển đi các điểm chốt trong thủ đô. Ban tiếp tế vũ khí và quân nhu được thành lập nhanh chóng gồm 27 thành viên tuổi 12-17, do Phạm Văn Tá (25 tuổi) làm trưởng ban”, ông Hoàng Thọ Anh kể.
Ngay đêm hôm đó các thành viên được triệu tập khẩn cấp đến ngôi nhà 104 phố Bóp Kèn (bây giờ là phố Quang Trung, thị xã Hà Đông, Hà Tây). Một cuộc họp chớp nhoáng diễn ra, nội dung thảo luận chủ yếu xoay quanh phương án vận chuyển vũ khí. Rất nhiều ý kiến được đưa ra thảo luận: mang balô sẽ mệt, chở xe đạp thì không hiệu quả, ôtô không có... Cuối cùng các thành viên nhí thống nhất sẽ dùng xe bò để chở đạn, thời gian tiến hành vào buổi tối. Ưu điểm của xe bò là vừa chở được nhiều vừa an toàn vì không gây tiếng động.
Hôm sau, sáu chiếc xe bò được Ủy ban kháng chiến tỉnh Hà Đông huy động tập kết ngay trước trụ sở Ban tiếp tế. Trưởng ban Phạm Văn Tá trực tiếp chỉ đạo việc tiếp tế đạn, các thành viên được phân công việc cụ thể: người lớn cầm càng xe, nhỏ hơn thì tập trung phía sau đẩy xe và cầm đèn bão dẫn đường.
Những bước chân nhỏ cùng ra trận
Đại tá Trần Văn Nhâm - thành viên ban tiếp tế - kể: “Tối 4-12 đoàn lên đường. 21 giờ, bốn chiếc xe bò đồng loạt xuất phát từ trụ sở ở phố Bóp Kèn, đến kho La Khê lúc 22 giờ, những hòm đạn nhanh chóng được chuyển lên xe, xe ra đến cầu Hà Đông đã quá 0 giờ. Từ đây đoàn nghỉ một lúc rồi tiếp tục đẩy lên Ngã Tư Sở.
Đến nơi, đồng hồ chỉ 1 giờ sáng, tại đây các đơn vị chiến đấu trong thủ đô đã chờ sẵn để tiếp nhận đạn, đặc biệt tướng Hoàng Văn Thái trực tiếp có mặt để chỉ đạo. Đoàn xe quay về Hà Đông, các thành viên tập trung ngủ một chỗ ở trụ sở, sáng hôm sau tiếp tục nhận nhiệm vụ mới. Một tuần liên tục, một khối lượng lớn đạn dược được vận chuyển bằng xe bò vào nội thành”.
Mấy ngày sau đó, quân ta thực hiện “tiêu thổ kháng chiến”, tuyến đường bộ từ cầu Hà Đông theo hướng thủ đô đến Cầu Mới được phá đi, kế hoạch của ban tiếp tế cũng linh hoạt thay đổi. Thêm một sáng kiến được đề xuất: hai toa xe điện cũ bỏ không cạnh cầu Hà Đông sẽ tận dụng chở đạn, vũ khí được chuyển tiếp từ xe bò dưới La Khê về, sau đó xe điện được đẩy từ cầu Hà Đông về Ngã Tư Sở theo đường ray.
Đến ngày 13-12, một tuần trước khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, đường ray bị bóc gần hết, việc vận chuyển bằng tàu điện không thể tiếp tục. Nhưng mọi người kiên quyết không để mạch tiếp tế bị cắt đứt, những chiếc balô con cóc ngày xưa thường dùng đi picnic, cắm trại trong đoàn hướng đạo được huy động để mang đạn. Các quả đạn loại đạn pháo, đạn cối 60, phóng lựu, stốc (stock) được nhét chặt vào balô mang sau lưng các thành viên. Đoàn chia thành các nhóm nhỏ do Phạm Văn Tá, Ngô Bình Mạc và Hoàng Thọ Anh luân phiên nhau phụ trách, từ Hà Đông tiến theo ba hướng: một lên Cầu Mới; hướng khác đến làng Giàn (Trung Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội); hướng còn lại lên Phương Liệt, Hà Đông (Hoàng Mai, Hà Nội). Toàn bộ số đạn pháo sau khi vận chuyển được tập kết về các đơn vị chiến đấu ở pháo đài Láng, ô Chợ Dừa, Bạch Mai...
Đại tá Bạch Ngọc Giáp - nguyên phó tham mưu trưởng Binh chủng Pháo binh, thành viên nhỏ tuổi nhất (12 tuổi) của ban tiếp tế ngày ấy - bồi hồi nhớ lại: “Chúng tôi cứ lặng lẽ đi trong đêm, đường tối mịt mà phía trước bầu trời thủ đô rực lên những làn đạn, pháo, nhà cháy, tiếng súng, mìn dội lên liên tục. Ai cũng muốn bước thật nhanh để kịp mang đạn cho quân ta đánh Pháp”. Đêm 19-12 khi đoàn Vệ út mang đạn trên vai hướng về nội thành thì hàng loạt đại bác, pháo từ Láng, Xuân Tảo... đồng loạt nổ hiệu lệnh cho cuộc kháng chiến toàn quốc. Lòng mọi người hừng hực khí thế nhưng không dám reo hò, chỉ ra dấu cho nhau rồi cặm cụi bước.
Những bước đi khỏe hơn, chắc hơn, nhanh hơn, cùng cả nước ra trận…
Hơi ấm từ trái tim đồng đội
Chiều 11-11-2006, trong cái lạnh của cơn mưa đầu đông Hà Nội, chúng tôi cùng ông Phùng Đệ đi thăm hai Vệ út đồng đội của ông đang nằm viện. Một là GS-TS-NSND Lê Ngọc Canh phải mổ cắt bỏ túi mật tại Bệnh viện Việt - Xô đã bình phục và chuẩn bị xuất viện, một là nhà quay phim về hưu Nguyễn Hoán (Xưởng phim Quân đội) nằm ở Bệnh viện 108 trong tình trạng nguy kịch. Mấy tháng qua, ông Đệ cứ lạch cạch đạp xe đến bệnh viện thăm nom đồng đội cũ. Ông Đệ báo tin: “Ông phải chống chọi với bệnh tật. Ngày mai những Vệ út còn sống sẽ họp mặt và vào thăm ông”. Nghẹn ngào không nói được, ông Nguyễn Hoán huơ huơ bàn tay trên không rồi đặt sang ngực trái của mình. Ông muốn ra dấu gì đó. Cái dấu ấy khó hiểu với nhiều người, nhưng với Vệ út Phùng Đệ thì quen thuộc lắm: “Ông ấy nói trái tim của ông là của một Vệ út và ông ấy cảm nhận được hơi ấm trái tim của đồng đội dành cho ông”.
LÂM HOÀI
Hơn 100 trang chép tay và những tấm ảnh tư liệu quí giá về đồng đội được một Vệ út ngày xưa âm thầm sưu tập trong 60 năm. Những đồng đội cũ có dịp đọc lại đều không cầm được nước mắt.
Nguồn: tuoitre.com.vn
Navigation
[0] Message Index
[#] Next page