Những câu chuyện về Hà Nội 60 ngày đêm
Gondorian:
Những Vệ út trên chiến hào vệ quốc (kỳ 5)
Người chép sử Vệ út
TT - Người Vệ út năm xưa thời gian qua đã âm thầm sưu tập, tìm kiếm tư liệu về đồng đội để hoàn thành một tập tư liệu hơn 100 trang chép tay và những bức ảnh tư liệu quí giá về Vệ út. Ông nói: “Những Vệ út giờ chẳng còn được mấy người, tôi chép sử như một tình cảm với đồng đội nhỏ tuổi của 60 năm trước trên chiến hào”.
“Điểm danh” đồng đội
Năm 12 tuổi, ông Đặng Văn Tích làm liên lạc cho Đội tình báo Liên khu 1 (Trung đoàn Thủ đô). Sau năm 1947, ông cùng những Vệ út khác được sống chung với nhau trong một mái nhà là Đội tuyên văn của Trung đoàn Thủ đô (tiền thân của Đoàn văn công Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân VN) tại chiến khu Việt Bắc. Những năm tháng ấy, ông và các đồng đội nhỏ tuổi coi nhau như anh em ruột thịt, chia sẻ với nhau từng bát cơm kháng chiến, từng viên thuốc ký ninh trong cơn sốt rét run người.
Ông Tích kể: “Gần ba năm sống chung (từ giữa năm 1947 đến cuối năm 1949), tôi nghe nhiều Vệ út kể chuyện kỷ niệm tuổi thơ và nhất là những tháng ngày chiến đấu bảo vệ thủ đô trong khói lửa, tôi thấy vô cùng tự hào về sự hi sinh của đồng đội nhỏ tuổi nên tôi nhặt nhạnh những trang giấy đen hay bìa cactông ghi chép cẩn thận và cất kỹ vào chiếc balô con cóc, gìn giữ cho mai sau”.
Những cuộc chiến liên tục nối tiếp nhau, những Vệ út sau đó mỗi người một ngả, tham gia nhiều chiến dịch lẫy lừng như chiến dịch Điện Biên Phủ, chiến dịch mùa xuân 1975. Hòa bình lập lại, ông Tích lúc nào cũng không nguôi ngoai nỗi nhớ đồng đội ai còn, ai mất và bắt đầu hành trình đi tìm đồng đội. Gặp người quen nào từ nơi khác đến chơi, ông cũng hỏi thăm tung tích dù chính ông cũng không dám hi vọng nhiều. Bất ngờ, năm 1996, nhờ những người quen báo, ông Tích đã có tin tức và tìm gặp được một số Vệ út đang còn sống ở Hà Tây, Hà Nội, Bắc Ninh, Thái Nguyên... Không đủ tiền đi ôtô, ông Tích vội vã đạp xe đi gặp bằng được đồng đội. Trùng phùng sau 60 năm, ông Tích và các Vệ út năm xưa đã ôm nhau khóc.
Họ bắt đầu nhắc người này, người kia. Họ vẫn không quên nhắc câu chuyện hi sinh của Diệp Tùng: “Còn nhớ Diệp Tùng lúc rời thủ đô lên Việt Bắc đã hi sinh tại Võ Nhai (Thái Nguyên) lúc mới 13 tuổi. Khi chết không biết tìm ai báo tin vì chẳng ai biết Diệp Tùng còn ai là thân nhân. Cha mẹ Diệp Tùng là ai, ở đâu?”. Thông tin dần dần mở rộng, họ được biết rất nhiều Vệ út khi tham gia các chiến dịch lớn đã ngã xuống. Trên tấm mộ lạnh lẽo nơi xa, anh em vẫn chỉ có mấy dòng là liệt sĩ vô danh. Được sự động viên của những đồng đội, ông Tích quyết định viết lại một cuốn tư liệu ghi những ký ức, những câu chuyện nhỏ của ông và các đồng đội Vệ út không thể nào quên.
Trên con đường thiên lý ra Bắc vào Nam tìm đồng đội bằng tiền hưu trí tích cóp, ông Tích đã tìm ra hơn 20 Vệ út năm xưa vẫn còn sống rải rác khắp ba miền. “Khó nhất là xác minh danh tánh và thân nhân của những Vệ út đã hi sinh. Đã 60 năm, ký ức của những đứa trẻ mới lên 9, 10 còn không thể nhớ hết được những chuyện xảy ra với chính mình nữa là...” - ông Tích kể. Những trang viết của ông về đồng đội cứ dày lên theo những chuyến đi. Ông Tích kể cứ ngày đi, đêm về viết. Những năm ấy chưa có điện, cả nhà chỉ có mỗi cây đèn dầu cũng nhường cho ông. Sau 10 năm ròng ngược xuôi, từ năm 1996 -2006, ông Tích cũng đã hoàn thành được cuốn tư liệu lịch sử mang tên Vệ út thủ đô quyết tử.
Những dòng tự truyện
Đầu năm 2006, được sự hỗ trợ của những Vệ út còn sống và Ban liên lạc truyền thống quyết tử của Trung đoàn Thủ đô, ông Tích đã đánh máy và photocopy mấy chục cuốn tư liệu lịch sử để gửi tặng bạn bè cùng đọc. Mở đầu cuốn tư liệu là dòng thư Bác Hồ viết tặng Trung đoàn Thủ đô: “Các em là đội cảm tử. Các em quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” như một lời thề trong tim những Vệ út trong những ngày khói lửa năm 1946.
Cuốn tư liệu viết: “175 chiến sĩ quyết tử phần đông là những đứa trẻ mồ côi, con nhà nghèo, đứa trèo me trèo sấu, đứa làm thằng ở, con sen..., cũng có những đứa con nhà khá giả được bố mẹ đưa đi tản cư nhưng lại trốn về Hà Nội khẩn thiết xin các anh chị cho được cùng kháng chiến, được sống chết cùng thủ đô”. Những câu chuyện viết rất chân thật, rất hồn nhiên đúng như tuổi thơ ngày ấy của những chiến sĩ nhỏ tuổi: “Chúng tôi, những chú bé băng qua lửa đạn, đã đối mặt với địch từng ngày từng giờ, đã lăn lê bò toài để trinh sát địch, để truyền lệnh, cứu thương... Ơ hay, sao lúc ấy bọn mình lại không sợ chết nhỉ?. Tuổi thơ của chúng tôi đã được vinh dự góp một phần “quyết tử” để cả nước “quyết sinh”. Trong trận đánh nhà Moolie, tôi mặc tới chín bộ quần áo với ý nghĩ mặc thế chống được đạn của quân Pháp. Đến lúc bị thương phải băng bó, chị y tá vừa tức vừa buồn cười phải dùng kéo cắt phăng tất cả để cầm máu. Lúc ấy mình thật ngây ngô...”.
Những đồng đội cũ của ông sau khi đọc đều không cầm được nước mắt. Mỗi trang tư liệu mà ông Tích đưa họ về với ký ức thủ đô kháng chiến 60 năm trước mà mỗi Vệ út là một “nhân vật”, một “viên gạch” đưa đất nước tới ngày thống nhất.
TRẦN ĐÌNH TÚ
“Cùng nhau ôn lại chuyện chiến đấu tung hoành/ Trong những ngày súng gươm chiến đấu hùng anh” - Ảnh: T.Đ.T.
Cuộc gặp mặt sau 60 năm được tổ chức tại nhà Vệ út Phùng Đệ ở Hà Nội. Những Vệ út năm xưa từ các nơi tìm về gặp mặt là tìm về với kỷ niệm. Vệ út Nguyễn Ngọc Sơn - chính trị viên của một đại đội Vệ út năm 1947, nay sống ở Thái Nguyên - kể trong hạnh phúc: “Sáng nay tôi ra bến đón chuyến xe sớm nhất mà vẫn sợ mình về muộn. Bao nhiêu năm rồi tôi mới có cảm giác hồi hộp như cả đêm hôm qua”.
Niềm vui ngày gặp mặt như được nhân lên khi Vệ út Nguyễn Văn Phúc mang đến một cây đàn guitar. Ngôi nhà của ông Phùng Đệ vang lên tiếng hát Đàn em Vệ út do nhạc sĩ Phạm Ngọc Trương sáng tác. Đã lâu lắm rồi họ mới có cơ hội hát chung: “…Đàn chim non ríu rít cười nô vang trời/ Vui sống trong gia đình Vệ quốc đầm ấm/ Rồi ngày mai chiến thắng thủ đô huy hoàng/ Bên các anh có đàn Vệ út cùng sống/ Cùng nhau ôn lại chuyện chiến đấu tung hoành/ Trong những ngày súng gươm chiến đấu hùng anh…”.
Sau phút ấy, các Vệ út chợt trầm xuống khi truyền tay nhau những bức ảnh về đồng đội mà ông Đặng Văn Tích mang đến. Nhiều người xúc động: “Đối mặt với chiến tranh, 175 Vệ út khi trước bây giờ còn lại mấy người? Còn bao nhiêu người vẫn chưa có tên?”.
oOo
Họ là những cô đầu ở phố Khâm Thiên, đi học bình dân học vụ để “sáng mắt sáng lòng”. Và họ cũng là những người ở lại, chiến đấu cùng với các đơn vị quân đội và tự vệ thuộc Liên khu III.
Nguồn: tuoitre.com.vn
Gondorian:
Cô đầu phố Khâm Thiên
TT - Một số người cùng khổ đã trực tiếp tham gia kháng chiến chống Pháp ở Liên khu III Hà Nội (nay thuộc quận Đống Đa). Họ còn sống hay đã hi sinh, chưa ai nhắc đến.
Lớp học đặc biệt
Đó là các em nhỏ mồ côi được nuôi dưỡng ở trại Bảo Anh (nay là trụ sở Hội Người mù 135 Nguyễn Thái Học). Trước ngày toàn quốc kháng chiến, một số em đã được gửi đến các đoàn thể, cơ quan và nhất là các đơn vị quân đội để làm liên lạc viên. Đó là những người nghèo sống ở khu vực sau ga Hà Nội, làm đủ các thứ nghề như bốc vác, đi ở làm thằng nhỏ, con sen, kéo xe. Họ cũng đã ở lại tham gia kháng chiến ở Liên khu III Hà Nội. Và đó là các cô đầu ở phố Khâm Thiên. Họ cũng ở lại chiến đấu cùng với các đơn vị quân đội và tự vệ thuộc Liên khu III.
Họ đều là những người bạn thân của tôi. Bởi từ những năm 1944-1945, tôi đã nuôi dạy các em mồ côi ở trại Bảo Anh. Tôi dạy trong Hội Truyền bá quốc ngữ (sau Cách mạng Tháng Tám dạy bình dân học vụ), trước còn tổ chức và dạy ở các xã ngoại thành. Các học viên của lớp học này là bà con lao động ở khu vực sau ga Hà Nội. Tôi cũng dạy một lớp bình dân học vụ đặc biệt nhất, mà học viên toàn là chị em cô đầu ở phố Khâm Thiên.
Sau ngày 19-8-1945, tôi vào bộ đội, làm việc ở Cục Quân y (Bộ Quốc phòng). Theo chế độ sinh hoạt của sĩ quan nên buổi tối và ngày chủ nhật không phải ở nhà tập thể mà vẫn được về ở nhà mình, nên vẫn có điều kiện tiếp tục công việc ở khu phố. Từ 19-12-1946, cơ quan rút lên Việt Bắc, tôi được tuyển làm liên lạc viên đặc biệt nên thỉnh thoảng cũng có việc phải vào mặt trận Hà Nội, do đó lại có dịp được đi qua đất Liên khu III đang tác chiến và được gặp lại một số bạn bè.
Ở đây tôi kể chuyện về mấy chị em làm nghề hát ả đào ở phố Khâm Thiên. Năm 1946, tôi đang dạy ở lớp bình dân học vụ nhờ trong nhà Hội Tế sinh (ngõ Sinh Từ), chị Quỳnh Vân bạn của tôi (sau là vợ anh Vũ Quang) là cán bộ phụ nữ khu vực nhờ tôi thu xếp dạy thêm cho một lớp ở Khâm Thiên, mà phải dạy buổi trưa vì học viên toàn là cô đầu, tối họ còn bận.
Buổi khai giảng cái lớp này cũng thật đặc biệt. Học viên bợm trạo, bát nháo, không chút gì nghiêm túc. Một vài học viên có giấy bút còn một số người đến tay không, mà số này quậy phá nhất. Vì không phải là buổi tiếp khách, học mà mặc áo trắng quần dài trắng nhàu bẩn, mỏng manh. Thời ấy xem là “khó coi”. Sau mấy lời khai mạc, chị Quỳnh Vân giới thiệu hai giáo viên và một chị cũng là cô đầu làm trưởng lớp. Tôi định nói vài lời để bắt đầu buổi học, một chị táo tợn nói to: “Anh giáo cho em hỏi: anh có dạy những chữ “sờ em xem” không?”.
Tôi lặng đi một lúc để cơn cười lắng xuống.
- Có đấy các chị ạ. Chỉ độ một tuần hay mười hôm nữa các chị sẽ học đến.
- Ấy chết, thầy lại gọi trò là chị thì dạy làm sao được. Có ai gọi chúng em là chị bao giờ.
- Không đâu, chúng tôi thật sự coi các chị như chị em các lớp khác. Những người lớn tuổi chưa biết chữ đến lớp học, chúng tôi quí mến và nhiệt tình giúp đỡ. Cuộc đời xô đẩy các chị vào cảnh làm ăn như vậy chắc không phải tự mình thích thú mà tìm đến chỗ này.
Không còn ai nói, cả lớp trầm xuống.
Tôi nói vài lời nghiêm túc, chân thành mong muốn mọi người chịu khó học tập để được sáng mắt sáng lòng. Thế rồi lớp học ấy cũng như các lớp học khác, mọi người duy trì nề nếp học tập tốt. Chúng tôi suy nghĩ tìm tòi nhiều cách để bài học có sức hấp dẫn, học viên không chán, không bỏ lớp. Chúng tôi kể chuyện, đọc thơ, ca dao, có khi vận động học viên hát dân ca, ngâm Kiều. Tuy học viên chưa đọc được, họ xúc động vì hợp cảnh mình và cũng thấy mình sẽ tự đọc được, viết được những câu hay như thế. Cách giảng dạy này khuyến khích và gây ấn tượng mạnh đối với họ.
Có ai ghi công báo tử
Bên cạnh nhiệm vụ thanh toán nạn mù chữ, giáo viên còn thường xuyên giúp học viên giác ngộ chính trị, nâng cao hiểu biết về chế độ xã hội mới, từ bỏ thói hư tật xấu; sửa đổi lối sống cũ, sống có văn hóa, không tự ti mặc cảm, mạnh dạn tham gia các buổi họp với tổ dân phố, làm các công tác xã hội ở địa phương... Tiếc thay, từ tháng 11-1946, tình hình Hà Nội căng thẳng, nhân dân và cơ quan tản cư nhiều. Các lớp bình dân học vụ cũng giải tán. Học viên cũng theo gia đình về quê, ai khỏe mạnh ở lại làm thuê, vào tự vệ, cứu thương, đào đường đắp ụ. Có nhiều chị cô đầu cũng ở lại.
Không còn lớp học bình dân học vụ thì tôi giúp Hội Phụ nữ Hàng Bột đào tạo cấp tốc lớp cứu thương tháo vát của anh em hướng đạo như mang vác người bị thương không cần cáng, cố định vết thương gãy xương... đề phòng khi ở mặt trận không có sẵn hộp thuốc và dụng cụ như ở bệnh viện. Từ ngày 19 -12, trong nội thành đánh nhau. Từ ngoài liên lạc vào mặt trận gặp nhiều khó khăn. Một hôm có công tác, tôi phải đi từ Việt Trì, qua Chèm, Ngã Tư Sở sang đường số 1. Qua Ngã Tư Sở tìm tổ liên lạc để xin người dẫn đường. Chiều muộn, tôi đang phân vân tìm đường bỗng thấy một chị mặc măngtô tím dài, quần buộc túm, tay cầm thanh kiếm Nhật. Biết là tự vệ, tôi đi về phía chị. Chị cũng chú ý đến tôi, thấy cũng áo quần bộ đội, có mang súng ngắn. Chị yên tâm và hỏi xem giấy tờ. Chị đọc còn chậm, một lúc hân hoan ngẩng mặt lên nhìn tôi: “A, anh Kỳ, anh Kỳ! Anh là bộ đội à, thích nhỉ. Bọn chúng em cũng xin được vào tự vệ ở đây, có mấy đứa trước cũng học anh đấy. Rồi chúng em sẽ dẫn anh đi đường tắt, vừa nhanh, vừa an toàn”. Trong trạm có nhiều anh chị tự vệ chiến đấu, riêng mấy chị học viên cô đầu rất vui mừng khi gặp lại tôi. Các chị mời tôi cùng ăn để được nói chuyện nhiều. Tôi hỏi sao các chị không đi tản cư, các chị nói: “Chúng em còn biết về đâu, có chuyện không hay mới phải bỏ làng ra đây sống cuộc đời nhơ nhuốc, còn mặt mũi nào trở về làng cũ. Chúng em cũng liều sống chết ở đây thôi. Các anh bảo làm gì thì chúng em làm”.
Nghe các chị tâm sự, lòng tôi bùi ngùi thương cảm. Các chị chịu chết ở đây còn hơn về làng chịu nhục, đơn giản thế thôi. Lúc chia tay, chúng tôi bịn rịn nghĩ chắc không có ngày gặp lại. Hai chị dẫn tôi qua Khương Thượng, xa khu sân bay, tới đường 1 rồi chỉ đường tới nơi tôi cần đến. Lúc chào tôi, các chị nghẹn ngào muốn khóc, muốn ôm tôi thân mật. Tôi cũng tần ngần nhìn theo hai chị quay về, vai vác kiếm khuất dần vào bóng tối.
Ngày nay, người ta cũng nhắc nhớ đến các anh chị giao liên, thanh niên xung phong với những công lao, thành tích, cuộc sống gian khổ, cảnh hi sinh anh dũng của họ. Nhưng chưa thấy ở đâu nói đến các chị cô đầu ở Hà Nội. Cho đến bây giờ tôi vẫn thường nhớ đến các bạn nghèo của mình. Tôi trăn trở một điều là những người ấy khi lập công hay khi hi sinh, có ai ghi công hay báo tử cho họ không? Giấy tờ gửi về đâu và báo cho ai?
NGUYỄN KHẮC KỲ
Nguồn: tuoitre.com.vn
Gondorian:
Để Tổ quốc quyết sinh: Chiến lũy Ô Cầu Dền
Người chiến sĩ cảm tử Liên khu II năm xưa tiếp tôi trong căn phòng nhỏ ở gác hai, ngôi nhà số 10, ngõ 211, khu tập thể Khương Trung, Thanh Xuân, Hà Nội. Dáng người mảnh mai, phong thái đĩnh đạc và khá thanh lịch, ông lần giở cho tôi xem những vật kỷ niệm được cất giữ khá cẩn thận, rồi mới kể về những trận chiến đấu trong suốt 60 ngày đêm giam chân quân địch tại Ô Cầu Dền. Ông là Nguyễn Hiền, nguyên giám đốc Đài phát thanh-truyền hình Hà Nội, Trưởng ban liên lạc các chiến sĩ cảm tử Thủ đô Liên khu II.
Nỗi xúc động dâng trào, ông kể, hồi ấy, ông là trung đội trưởng trung đội 1, đại đội 16, tiểu đoàn 212, Liên khu II. Đêm 19-12-1946, khi đang chỉ huy đơn vị làm nhiệm vụ tại ngã ba Trung Hiền (gần chợ Mơ bây giờ), được lệnh của trên, ông chỉ huy đơn vị cơ động đến khu vực phố Hàm Long tổ chức ngăn chặn địch. Nhiều cuộc chiến đấu quyết liệt, không cân sức giữa ta và địch diễn ra tại khu vực phố Hàm Long. Do địch quá mạnh, trong khi lực lượng của ta lần đầu tham chiến, nên chúng từng bước đẩy ta lùi sâu về phía đông nam Hà Nội. Thực hiện chỉ đạo của Bộ chỉ huy mặt trận, LLVT và nhân dân phía nam Hà Nội đã tập trung xây dựng chiến lũy Ô Cầu Dền nhằm tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, không cho chúng phát triển ra các vùng lân cận. Trận tuyến Ô Cầu Dền có vị trí trọng yếu như một “Quyết chiến điểm”. Việc còn hay mất Ô Cầu Dền có tác động quyết định đến tình hình chiến lược của toàn Liên khu II. Tại đây, LLVT và nhân dân Hà Nội đã xây dựng một ụ chướng ngại vật ban đầu có chiều dài chừng 16m, rộng 8m, cao khoảng 3m. Sau đó ụ chướng ngại vật cứ cao dần theo yêu cầu chiến đấu, cuối cùng cao tới hơn 4,5m. Thân ụ được chôn ba hàng cọc đứng, mỗi hàng 10 cây gỗ có đường kính từ 35 đến 40cm. Sau đêm 19-12, ta bóc ray và tà-vẹt đường tàu điện ken đều trên cả bốn mặt. Lòng ụ được lèn đất đá, kết hợp tre, gỗ rải ngang từng lớp. Để ngăn chặn quân địch có hiệu quả, ta không chỉ đắp ụ mà còn tổ chức các tổ chiến đấu trên ụ và ven đê sông Tô Lịch. Ngay tại chân ụ phía Nam, ta khoét sâu thành nơi cất giấu vũ khí, đạn dược, hoặc làm chỗ cho bộ đội nghỉ ngơi giữa các trận chiến đấu và sơ cứu thương binh. Chiến luỹ Ô Cầu Dền đứng sừng sững, chắn kín mặt đường phố (kể cả vỉa hè), khiến xe tăng, xe bọc thép và nhiều phương tiện khác của địch đều không thể vượt qua.
Từ 5 giờ ngày 25 đến 28-12-1946, địch liên tiếp mở nhiều đợt tiến công vào chiến luỹ Ô Cầu Dền. Chúng cho máy bay, đại bác bắn phá, rồi cho xe tăng, xe bọc thép dẫn bộ binh xông lên đánh phá, nhưng đều bị thất bại. Chúng ta không những ngăn cản quân địch không cho chúng đánh chiếm các khu vực lận cận, mà còn tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Đặc biệt, chiều 28-12, Bộ chỉ huy mặt trận tăng cường cho Ô Cầu Dền một khẩu ba-zô-ka. Đây là khẩu ba-zô-ka duy nhất của mặt trận Hà Nội. Chỉ riêng điều này cũng cho thấy tính chất quan trọng và mức độ ác liệt của các trận chiến đấu diễn ra ở Ô Cầu Dền. Tuy vậy không có cán bộ, chiến sĩ nào biết sử dụng. Rất may, lúc ấy có một chiến sĩ người Nhật, tên là A-ka-su-da (tên Việt Nam là Tâm) biết cách sử dụng khẩu ba-zô-ka. Sau khi A-ka-su-da chiếm được vị trí thuận lợi trên ụ, ngay phát đầu tiên, anh đã tiêu diệt gọn một xe tăng địch.Tiếp đó, anh tiêu diệt thêm một chiếc xe bọc thép. Nắm thời cơ, các chiến sĩ của ta thừa thắng xông lên phản kích làm quân địch khiếp sợ, hoảng loạn, tháo chạy. Những ngày tiếp theo, địch liên tiếp tổ chức các đợt tiến công đánh phá trực tiếp ụ Ô Cầu Dền, nhưng đều thất bại. Ban ngày, lực lượng của ta lui về phía nam chiến tuyến, chống cự với địch, ban đêm lại vượt ụ, vượt đê tập kích các chốt của địch trong nội thành.
Dừng kể, ông lấy từ trong ngăn tủ những “tài sản quý giá” của riêng mình trong suốt cuộc đời tham gia cách mạng, đưa tôi xem tấm ảnh chân dung của ông chụp trước giờ xung trận. Tấm ảnh đã nhuốm màu thời gian, nhưng mỗi lần ngắm nó, ông như được sống lại thời kỳ hào hùng của dân tộc. Thời ấy, cả Hà Nội vào trận. Ngay tại chiến lũy Ô Cầu Dền, nơi ông trực tiếp chỉ huy và cùng đồng đội chiến đấu đã có không ít cụ già, em nhỏ, nhà sư, trí thức tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Sự đồng lòng, quả cảm cùng trí thông minh, gạn dạ của quân và dân Ô Cầu Dền đã góp phần quan trọng đập tan chiến lược “Đánh nhanh, thắng nhanh” của địch, tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giam chân chúng trong thành phố trong suốt 60 ngày đêm.
Long Khánh (Ghi theo lời kể của ông Nguyễn Hiền, chiến sĩ quyết tử Liên khu II, Hà Nội)
Nguồn: qdnd.vn
Gondorian:
Để Tổ quốc quyết sinh: Vệ Út
Với dáng người đậm, da ngăm, mái đầu đã điểm sương, tôi không thể hình dung cách đây 60 năm, con người này lại là chiến sĩ cảm tử quân Thủ đô làm nhiệm vụ liên lạc trong những ngày đầu kháng chiến toàn quốc. Đó là cậu bé liên lạc Phùng Đệ, được anh em cảm tử quân Thủ đô thời đó yêu mến gọi cậu là “Vệ Út”, bởi vừa nhỏ tuổi nhất đơn vị, vừa nhanh nhẹn, thông minh, gan dạ. Năm 1945, lúc đó cậu bé Đệ mới 12 tuổi, vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố mẹ mất sớm, nên 3 anh em mỗi người thất lạc một nơi. Cậu bé Đệ phải lên ở với nhà bà cô để đi học làm thợ giày gần bãi Phúc Tân. Thời gian học làm thợ giầy, mỗi lần nhìn thấy mấy bạn cùng trang lứa được vào Vệ quốc đoàn, mặc bộ dạ tím, đội mũ ca-lô gắn sao lấp lánh, trong Đệ lại cháy lên một mơ ước được đứng cùng đội ngũ. Nhưng làm thế nào để được vào Vệ quốc đoàn, được đánh địch… thì Đệ chưa biết. Nhưng rồi thời cơ cũng đã đến, ông kể lại với chúng tôi:
“…20 giờ ngày 19-12-1946, Thủ đô Hà Nội rộ lên tiếng súng, báo hiệu cuộc kháng chiến toàn quốc bắt đầu. Đường phố Hà Nội trở thành chiến luỹ, phần lớn nhân dân được di tản ra khỏi thành phố. Thế nhưng tôi thấy mấy đứa trẻ trạc tuổi tôi ở nhạc sinh quân được ăn vận quần áo của Vệ quốc đoàn, được ở lại thành phố, nên tôi rất thích, cũng từ giây phút đó, tôi quyết tâm phải vào Vệ quốc đoàn. Nhân cơ hội cả gia đình bà cô tôi tản cư vào đình Phát Lộc, tôi liền trốn đi với một anh tự vệ, vào ngõ Gia Ngư tham gia cùng các anh đào hầm, hào. Thấy tôi là người lạ, các anh Vệ quốc đoàn hỏi:
Em này ở đâu đến vậy, sao lại vào đây?
Tôi nói dối các anh:
Cả nhà em đi tản cư, em bị lạc không biết đi đâu cả. Các anh cho em ở đây với, việc gì em cũng làm được!
Các anh nhìn tôi từ đầu xuống chân thấy tôi bé quá nên có vè ái ngại. Nhưng cuối cùng các anh cũng đồng ý cho tôi ở lại và từ giây phút đó, tôi được đúng trong hàng ngũ của Vệ quốc đoàn và được giao nhiệm vụ làm liên lạc. Vì còn quá nhỏ, nên tôi được các anh ưu tiên, chiều chuộng, coi tôi như đứa em út trong gia đình, thế nên mới có tên là “Vệ Út”.
Hồi đó làm chiến sĩ liên lạc rất khổ vì điện đàm không có, toàn phải chạy chân. Hễ có chỉ thị của cấp trên, hoặc thông báo tin tức xuống các đơn vị, các chốt chiến đấu bất kể ngày, hay đêm tôi đều phải đi ngay. Ngược lại ở các chốt chiến đấu có tình hình muốn thông báo lên cấp trên các anh cũng gọi tôi. Tôi cứ như con thoi giữa hai chiều xuôi ngược trong thành phố. Thi thoảng, tôi còn dẫn đường cho anh em đi tìm hiểu tình hình địch.
Nhớ lại hôm đầu tiên vào Vệ quốc đoàn tôi đã được anh Vũ Lăng (Thượng tướng Vũ Lăng), hồi đó là tiểu đoàn phó thử thách bằng cách giao nhiệm vụ, đi trinh sát tình hình địch ở Sở Thuỷ lâm (địa điểm Sở Văn hoá Hà Nội hiện nay). Thú thực tôi cũng hơi run, chỉ sợ không hoàn thành nhiệm vụ. Tôi bắt đầu bò từ chỗ Hàng Bè cứ thế men theo tường tiến thẳng đến Sở Thuỷ lâm, vừa bò vừa phải nghe ngóng tình hình ở phía trước, lại phải nhìn ra sau nên hơi sợ. Khi đến tường của Sở Thuỷ lâm, ép sát người vào tường tôi nghe tiếng địch xì xồ nhiều, tôi đoán địch có rất đông quân. Nghe ngóng một lúc nữa cho chắc chắn, tôi mới quay về, được một đoạn thì gặp anh Lanh.
Sau này tôi mới biết, sau khi Tiểu đoàn phó Vũ Lăng cử tôi đi, anh đã cẩn thận cho anh Lanh bám theo sau để xem tôi hành động thế nào, nếu cần thì giúp đỡ. Không ngờ thấy tôi nhỏ người nhưng gan dạ, làm việc tốt, nên các anh đã rất khen ngợi. Cũng ngay sau đó tôi được giao nhiệm vụ xuống Đại đội 13 làm liên lạc cho đến tận ngày đơn vị rút khỏi Thủ đô…”
Vũ Thuý Ngân (Ghi theo lời kể của CCB Phùng Đệ)
Nguồn: qdnd.vn
Gondorian:
Để Tổ quốc quyết sinh: Vừa đánh giặc Pháp, vừa trừ Việt gian
“… Tôi nhập ngũ tháng 2-1946. Khi Toàn quốc kháng chiến nổ ra thì tôi đã kịp học xong khóa đào tạo quân sự cấp tốc ở Hà Tây và được phân công về Hà Nội để huấn luyện tự vệ, chuẩn bị kháng chiến. Tôi nhớ khá rõ, sau khi nổ súng tiến công địch được ít ngày, đội tự vệ Duy Tân (Liên khu II) do tôi làm đội trưởng, được lệnh bám trụ tại nhà Pha-xi-đeo (Nhà máy thuốc lá Viễn Đông) để đánh địch. Các cuộc chiến đấu ở Liên khu II đều rất ác liệt, nhưng có lẽ cũng đã có nhiều anh kể rồi. Tôi chỉ xin kể việc chúng tôi đi tiễu trừ bọn Việt gian ngay khi cả mặt trận Hà Nội đang rộ lên tiếng súng.
Những ngày đầu chiến đấu, tình hình tiếp tế hậu cần cho các tổ, ụ chốt còn lộn xộn lắm. Chị em từ ngoại thành gánh cơm vào, cứ gặp ai là cấp cho người ấy. Vì thế chỗ thì được nhiều, chỗ thì được ít. Chính vì vậy, có chỗ đã phải ăn đường phèn trừ bữa để chiến đấu. Địa bàn tác chiến cũng chưa được phân định rạch ròi, nên chỗ lực lượng đông, chỗ lại rất mỏng. Nhiều chỗ các tổ chiến đấu giáp nhau, nhưng cũng chưa có kế hoạch hiệp đồng, vì thế không biết được nhau. Lợi dụng tình trạng này, địch đã cho một số tên Việt gian trà trộn vào đội ngũ của chúng ta. Bọn này thường lảng vảng trên các tuyến giao liên để bắt cóc, thủ tiêu liên lạc và lực lượng tiếp tế. Đã có một số người tự nhiên mất tích mà ta không phát hiện ra. Sau hơn 10 ngày chiến đấu, anh Phùng Thế Tài được điều về làm chỉ huy Liên khu thay cho anh Quang Tần. Khi anh Tài đi kiểm tra tình hình liên khu, anh thấy việc tiếp tế như thế là không khoa học, nên đã chỉ đạo cho các bộ phận chấn chỉnh lại tổ chức, hình thành đường dây liên lạc khá chặt chẽ giữa các bộ phận. Cơm nắm và thịt trâu luộc từ ngoại thành đem vào, được cấp đến tận tay chiến sĩ. Cũng từ việc làm này, chúng tôi bỗng phát hiện ra có một số người không có cơm nắm và thịt trâu mà họ ăn bằng đồ hộp. Thấy lạ, chúng tôi liền báo cáo lên chỉ huy liên khu, các anh ấy liền cho người theo dõi. Một, hai hôm sau tôi được lệnh lên gặp chỉ huy liên khu để nhận nhiệm vụ. Các anh giao cho tôi tổ chức, chỉ huy 4 tiểu đội chuyên đi tiễu trừ bọn Việt gian đang trà trộn vào vị trí đóng quân của ta. Sau khi nhận nhiệm vụ, tôi rải người dọc các tuyến tiếp tế, liên lạc, tập trung vào thời điểm bộ đội ta ăn cơm. Bằng cách này chúng tôi đã phát hiện và tóm gọn 12 tổ Việt gian, tổng cộng hơn 40 tên. Những tên này cơ bản bị bắt khi chúng đang khui đồ hộp ra để ăn. Chúng tôi tập hợp bọn này lại, giao cho liên khu xử lý. Một số người sau này đã nhận ra lỗi lầm của mình và biên chế vào đội quân phục vụ chiến đấu. Nhờ tiễu trừ được bọn Việt gian nên địa bàn Liên khu II đã khá ổn định.
Sau đợt tiễu trừ Việt gian này, đội tự vệ Duy Tân tiếp tục được giao nhiệm vụ bám trụ chiến đấu tại Tiểu khu chợ Hôm. Trong đội tự vệ của tôi phần lớn anh em là công nhân, nông dân chưa được học quân sự bao nhiêu nhưng chiến đấu rất dũng cảm. Chúng tôi vừa đánh địch, vừa tự bồi dưỡng kiến thức quân sự cho mình. Cho đến khi được sáp nhập vào đơn vị bộ đội chính quy thì chúng tôi từ chỗ chỉ có 8 khẩu súng đã tăng lên 24 khẩu…”.
Đồng chí Hoàng Giáp kể Trần Vũ ghi
Nguồn: qdnd.vn
Navigation
[0] Message Index
[#] Next page
[*] Previous page