Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 12:48:27 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Pháp  (Đọc 189953 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #20 vào lúc: 21 Tháng Mười Hai, 2010, 03:26:20 pm »

ANH HÙNG NÚP


Núp sinh năm 1914, dân tộc Ba Na, quê ở thôn Sê Tơ, xã Tơ Tung, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là thôn đội trưởng du kích, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Núp mồ côi cha mẹ từ khi 10 tuổi. Năm 15 tuổi Núp đã phải đi phu và bị đánh đập dã man, nên đồng chí sớm căm thù quân giặc. Năm 1935, quân Pháp về lùng bắt phu, dân làng lánh hết vào rừng, một mình đồng chí ở lại dũng cảm dùng nỏ bắn chết một tên giặc. Năm 1945, Nhật đảo chính Pháp. Lính Pháp qua làng, đồng chí mưu trí đi báo Nhật về vây bắt bọn lính Pháp, lợi dụng cơ hội lộn xộn, Núp lấy được một khẩu súng và 10 hòm đạn.

Trong Cách mạng tháng Tám, đồng chí tích cực tham gia tổng khởi nghĩa cướp chính quyền, và từ đó đến năm 1954, hoạt động chiến đấu ở địa phương. Trong hoàn cảnh rất khó khăn : địch liên tiếp càn quét, đốt làng, dồn dân, phá rẫy, nhân dân thì trình độ giác ngộ chưa cao, lại đói rét, thiếu muối, bệnh tật nhiều... đồng chí đã luôn luôn dũng cảm, gương mẫu đi đầu trong chiến đấu và sản xuất, kiên trì vận động tổ chức nhấn dân vượt qua mọi khó khăn, vừa bảo đảm sản xuất tốt, vừa chiến đấu chống giặc thắng lợi, duy trì và phất triển phong trào cách mạng ở địa phương ngày một vững chắc.

Suốt 3 năm từ 1947 đến 1949, là những năm đầu kháng chiến gay go gian khổ nhất. Địa phương đồng chí Núp mất liên lạc với trên, nên gặp muôn vàn khó khăn. Nhưng đồng chí Núp vẫn tin tưởng ở thắng lợi. Nắm vững phương châm "trường kỳ kháng chiến, tự lực cánh sinh", đồng chí Núp đã lãnh đạo nhân dân thay đổi chỗ ở năm lần. Đi đến khu rừng nào đồng chí cũng vận động nhân dân phát triển sản xuất bảo đảm đủ lương ăn, xây dựng làng chiến đấu, tổ chức du kích kiên quyết đánh giặc diệt được 80 tên.

Năm 1950, địch ra sức càn quét bình định, khủng bố vùng du kích Tây Nguyên rất gắt gao, đồng chí Núp vẫn kiên trì vận động dân làng ra sức rào làng chiến đấu sáng tạo nhiều cách đánh dùng chông mìn, cạm bẫy, tên nỏ diệt địch, bảo vệ nương rẫy và dân làng.

Đặc biệt trong trận đánh địch càn tháng 10 năm 1952, liên tục 7 ngày liền đồng chí chỉ huy trung đội du kích ngoan cường luồn rừng chiến đấu với cả trung đoàn địch, diệt nhiều tên, phá vỡ cuộc càn của chúng, bảo vệ được tài sản và tính mạng của nhân dân. Bản thân đồng chí đã gương mẫu về mọi mặt, đồng chí còn giáo dục xây dựng gia đình gương mẫu về sản xuất, tích cực tham gia canh gác, chiến đấu giữ làng, nuôi dưỡng cất giấu cán bộ, bài trừ mê tín dị đoan, đoàn kết với dân bản.

Núp hoàn toàn được dân làng và đồng đội mến yêu, tin cậy, xứng đáng là lá cờ đầu trong phong trào thi đua giết giặc cứu nước của đồng bào Tây Nguyên.

Núp đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công hạng nhì, được Hồ Chủ tịch tặng một áo lụa và huy hiệu của Người.

Ngày 31 tháng 8 năm 1955, Núp được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.






ANH HÙNG VÕ VĂN NGÔM


   Võ Văn Ngôm sinh năm 1926 , dân tộc Kinh, quê ở xã Mỹ Cẩm, luyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh, nhập ngũ tháng 1 năm 1949. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là tiểu đội phó công binh thuộc đội công binh bộ đội địa phương tỉnh Mỹ Tho (cũ), đảng viên Đang Cộng sản Việt Nam.

   Võ Văn Ngôm nhà rất nghèo, lên 10 tuổi đã phải đi ở cho địa chủ, mãi tới khi Cách mạng tháng Tám thành công mới chấm dứt được cuộc đời đi ở, làm thuê. Tháng 2 năm 1946, đồng chí tham gia du kích xã, đã chiến đấu 3 trận, trận nào cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ. Tháng 1 năm 1949, đồng chí xung phong vào bộ đội tập trung cua tỉnh và từ đó đến tháng 7 năm 1954, hoạt động chiến đấu ở vùng Mỹ Tho, chuyên làm nhiệm vụ đánh phá giao thông đường bộ và đánh tàu chiến địch trên sông. Trong nhiều trận đánh gay go, phức tạp, đồng chí đã luôn nêu cao quyết tâm chiến đấu, xung phong gương mẫu từ việc điều tra nằm địch, đến hành động dũng cảm táo bạo dẫn đầu đơn vị khi bước vào chiến đấu. Đồng chí đã tham gia đánh 15 trận, góp phần chủ yếu vào việc phá hủy 4 chiếc cầu lớn, đánh chìm 25 tàu, gây cho địch nhiều thiệt hại, khó khăn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

   Cầu Bến Lức là một chiếc cầu loại lớn ở Nam Bộ nằm trên quốc lộ 4, địch canh phòng rất nghiêm ngặt. Qua 6 tháng kiên trì điều tra và tập luyện, đêm 24 tháng 2 năm 1952, Võ Văn Ngôm mang khối thuốc nổ nặng 50 ki-lô-gam dẫn đầu đơn vị bơi qua sông vào đánh. Bộc phá nổ đã diệt 6 tiểu đội lính bao vệ và đánh sập một nhịp cầu dài 50 mét, làm ngưng trệ giao thông của địch trên tuyến đường này trong 7 tháng liền.

   Nhận nhiệm vụ đánh tiếp cầu Tân An, đồng chí đeo 30 ki-lô-gam vũ khí và thuốc nổ dẫn đầu tổ bơi 30, 40 ki-lô-mét suốt hai đêm. Địa hình trống trải, ban ngày phải giấu mình ở các bụi ô rô, sình lầy. Đồng chí đã động viên đồng đội chịu đựng gian khổ, giữ bí mật tuyệt đối và bảo quản vũ khí thật tốt. Đêm thứ hai tổ đồng chí luồn vào đánh sập cấu Tân An hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

   Cuối năm 1952, đồng chí tham gia đánh đoàn tàu gồm 22 chiếc của địch đậu ở bến cảng thị xã Vĩnh Long. Đây là lực lượng ứng chiến của địch để tiến công vùng Đồng Tháp Mười và kiểm soát hệ thống đồn bốt hai bờ sông Cửu Long. Nhận được lệnh, đồng chí dẫn một tổ vào đánh chiếc tàu mang số 720 là chiếc tàu trọng điểm, đồng thời diệt một số tàu hộ vệ xung quanh. Đặt xong thuốc nổ quay ra thì dây điện bị đứt, địch lại đang tuần tra, đồng chí cho cả tổ rút ra, còn mình ở lại chập điện ngay chỗ dây đứt. Mìn nổ, chiếc tàu 720 chìm ngay tại chỗ và 6 chiếc tàu bên cạnh cũng bị nổ và chìm theo.

   Trong chiến đấu cũng như trong công tác, Võ Văn Ngôm luôn luôn gương mẫu, nhận khó khăn về mình, nhường thuận lợi cho bạn. Đồng chí sống khiêm tốn, giản dị, hết lòng thương yêu đồng đội, được mọi người tin yêu, quý mến.

   Võ Văn Ngôm đã được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công hạng ba, 4 lần được tỉnh và khu tuyên. dương công trạng và tặng bằng khen.

   Ngày 31 tháng 8 năm 1955, Võ Văn Ngôm được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.



ANH HÙNG NGUYỄN VĂN TY


   Nguyễn Văn Ty sinh năm 1931, dân tộc Kinh, quê ở xã Ninh Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Hà Bắc, nhập ngũ tháng 2 năm 1949. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là đại đội trưởng bộ binh thuộc trung đoàn 88, đại đoàn 308, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Nguyễn Văn Ty xung phong vào bộ đội ba lần nhưng vì người nhỏ, sức yếu, mãi đến lần thứ tư đồng chí mới được chấp nhận. Từ ngày nhập ngũ đến tháng 7 năm 1954, Nguyễn Văn Ty đã tham gia 7 chiến dịch lớn trên chiến trường Bắc Bộ, với 35 trận đánh, trận nào cũng thể hiện tinh thần dũng cảm, táo bạo, bị thương vẫn không rời trận địa, lập công xuất sắc. Khi làm chiến sĩ liên lạc cũng như khi phụ trách tiểu đội trưởng bộc phá, bất kỳ nhiệm vụ nào, trong hoàn cảnh nào, đồng chí đều chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh.

   Chiến dịch Biên Giới năm 1950, khi xung phong lên chiếm điểm cao, địch tập trung hỏa lực bắn xả xuống, Nguyễn Văn Ty bị thương vào chân phai, máu chảy nhiều, liền lấy chân trái giẫm đè lên vết thương cho máu đỡ chảy và tiếp tục chiến đấu, ném lựu đạn diệt tại chỗ 5 tên, tạo điều kiện cho đơn vị xung phong đánh chiếm điểm cao, diệt xong địch mới chịu băng bó.

   Chiến dịch Hòa Bình năm 1951, đơn vị đánh trận Tu Vũ, đồng chí làm tổ trưởng thông tin liên lạc. Khi trận đánh gay go ác liệt, cả tổ bị thương vong, đồng chí làm thay nhiệm vụ cả 4 người, và đã dũng cảm vượt dưới làn mưa đạn địch, lên xuống qua cửa mở 18 lần, truyền đạt mệnh lệnh chính xác kịp thời, góp phần cùng đơn vị tiêu diệt vị trí Tu Vũ.

   Trận đánh đồi Độc Lập (chiến dịch Điện Biên Phủ). Nguyễn Văn Ty phụ trách tiểu đội đánh bộc phá. Trời tối, địch tập trung hoa lực bắn dữ dội về hướng cửa mở, tiểu đội bạn đánh bị chệch hướng. Đồng chí lên quan sát rồi dẫn tiểu đội vào thay, tự mình đánh quả bộc phá đầu, chỉnh lại đúng hướng đường mở, sau đó tiếp tục chỉ huy tiểu đội đánh liên tục 28 qua bộc phá, phá tan 7 lớp rào. Đến hàng rào cuối cùng, địch bắn và ném lựu đạn ra ác liệt, đồng chí bị thương vào mắt trái, máu chảy tràn đầy mặt, nhưng vẫn cố dùng tay căng mắt phải để quan sát, chỉ huy tiểu đội phá bung nốt hàng rào cuối cùng, mở thông cửa cho xung kích vào diệt gọn vị trí địch.

   Nguyễn Văn Ty là một cán bộ gương mẫu, tận tụy, luôn luôn chú trọng xây dựng đơn vị tiến bộ về mọi mặt. Bản thân tuy có nhiều thành tích nhưng đồng chí rất khiêm tốn, giản dị, được đồng đội trong đơn vị tin yêu.

   Nguyễn Văn Ty đã được tặng thưởng 3 Huân chương Chiến công hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công hạng nhì, 1 Huân chương Chiến công hạng ba và 4 lần được bầu là Chiến sĩ thi đua của đơn vị.

   Ngày 31 tháng 8 năm 1955, Nguyễn Văn Ty được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #21 vào lúc: 21 Tháng Mười Hai, 2010, 03:29:57 pm »

ANH HÙNG PHAN TƯ


   Phan Tư, sinh năm 1931, dân tộc Kinh, quê ở xã Thọ Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, nhập ngũ tháng 6 năm 1951. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là đại đội trưởng thuộc đoàn 555 công binh, Cục Công binh, đang viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ khi nhập ngũ đến tháng 7 năm 1954, đồng chí Phan Tư đã tham gia 4 chiến dịch lớn ở Bắc Bộ. Trong các nhiệm vụ: mở đường, phá bom bảo đảm giao thông, phá thác... nhận bất cứ nhiệm vụ gì, dù ở cương vị nào, đồng chí cũng luôn luôn nêu cao tinh thần dũng cảm vượt mọi khó khăn ác liệt, kiên quyết hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

   Chiến dịch Hòa Bình năm 1952. Phan Tư làm nhiệm vụ quan sát và phá bom nổ chậm bảo đảm đường giao thông vận chuyển. Có lần địch đánh phá ác liệt, bom nổ rất gần, đất đá tung cả vào hầm đồng chí vẫn động viên đồng đội bình tĩnh quan sát bom rơi, khi máy bay bay đi, lại ra phá gỡ. Có quả bom nổ chậm chui sâu, phải đào gỡ liên tục 4 giờ liền, quá giờ an toàn quy định, đồng chí vẫn dũng cảm kiên quyết tháo bằng được qua bom để thông đường.

   Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Phan Tư làm nhiệm vụ quan sát. Khi may bay địch quay trở lại ném bom tiếp, Phan Tư đã dũng cảm nằm ngay tại mặt đường quan sát để nắm chắc vị trí bom rơi, đánh dấu cho anh em phá gỡ. Một quả bom nổ chậm nằm giữa mặt đường, không nắm được giờ an toàn, nên không ai dám vượt qua, dân công bị ùn lại. Đồng chí đã dũng cảm dốt đuốc đứng cạnh quả bom, làm lộ tiêu cho dân công vượt qua an toàn nhanh chóng.

   Tháng 2 năm 1954, trung đội Phan Tư nhận nhiệm vụ phá thác trên sông Nậm Na. Lần đầu phá thác chưa có kinh nghiệm, gặp nhiều khó khăn: nước chảy xiết, trời mùa đông rét buốt, địa hình khó, nhảy xuống không khéo sẽ bị nước cuốn trôi, hoặc người đập vào đá. Đồng chí xung phong nghiên cứu phá trước, rút kinh nghiệm cho toàn đơn vị. Sau nhiều lần lặn xuống nghiên cứu tìm nơi đặt bộc phá, đồng chí đã quyết định ôm khối thuốc nổ 6 ki-lô-gam, ngòi đốt sẵn, nhoài người xuống ấn khối thuốc nổ vào kẽ đá, rồi nhanh chóng ngoi lên bơi vào bờ, vừa xong thì bộc phá nổ. Tiếp theo, đồng chí trực tiếp phá 4 thác khác để rút kinh nghiệm. Nhờ đó, trung đội đồng chí đã phá được hơn 30 thác, bảo đảm thời gian quy định, thông luồng cho thuyền chở vũ khí phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ được dễ dàng và an toàn.

   Không những lo lắng cho đơn .vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, mà Phan Tư còn thường xuyên chú trọng xây dựng đơn vị tiến bộ về mọi mặt, vì vậy trung đội do đồng chí chỉ huy luôn luôn là trung đội dẫn đầu đại đội trong công tác, chiến đấu cũng như sinh hoạt, rèn luyện.

   Phan Tư đã được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công hạng nhì, 11 lần được trung đoàn, đại đoàn và Tổng cục Chính trị khen thưởng.

   Ngày 31 tháng 8 năm 1955, Phan Tư được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.








ANH HÙNG SON TON


   Sơn Ton sinh năm 1933, dân tộc Khơ Me, quê ở xã Lưu Nguyệt Ánh, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là tiểu đội trưởng đặc công thuộc trung đoàn 3, bộ đội miền Tây Nam Bộ.

   Cách mạng tháng Tám thành công vào lúc Sơn Ton 15 tuổi, đang đi ở đợ. Với nhiệt tình hăng hái của tuổi trẻ, đồng chí tuy vẫn phải làm việc quần quật suốt ngày hầu hạ nhà chủ, nhưng vẫn tích cực tham gia công tác cách mạng, canh gác, phá đường ngăn cản địch. Năm 1949, đồng chí tham gia du kích xã, rồi lên du kích tập trung huyện, sau chuyển thành bộ đội địa phương (tháng 1 năm 1953).

   Gần 7 năm, Sơn Ton vừa chiến đấu, vừa tham gia hoạt động xây dựng cơ sở cách mạng, tổ chức dân quân du kích chiến đấu trong vùng người dân tộc Khơ Me. Tuy trình độ có hạn, địch lại thường xuyên càn quét đánh phá, tuyên truyền gây hiềm khích chia rẽ dân tộc, cơ sở Đảng chưa có nhưng với lòng yêu nước nồng nàn, chí căm thù giặc sâu sắc, Sơn Ton đã kiên trì vận động quần chúng, vạch rõ âm mưu giặc, giác ngộ, tổ chức thanh niên người Khơ Me kiên quyết đứng lên cấm súng chống Pháp, bảo vệ làng xóm. Trong hoàn cảnh khó khăn ban đầu, Sơn Ton dũng cảm tự tay gài mìn và nổ súng diệt địch trước để đồng bào tin tưởng noi theo. Dần dần Sơn Ton đã xây dựng được nhiều cơ sở cách mạng tốt, nhiều tổ đội du kích, duy trì và phát triển phong trào chiến tranh du kích trong vùng đồng bào dân tộc Khơ Me ngày một vững chắc.

   Một lần xã đang họp hội nghị, có cán bộ tỉnh về dự, địch bao vây tiến công vào, một mình đồng chí dũng cảm chiến đấu bắn chặn, cầm cự với giặc để hội nghị rút an toàn.

   Hai năm 1952 - 1953 là thời kỳ khó khăn nhất của huyện Long Phú. Địch thường xuyên dùng 2, 3 tiểu đoàn càn quét, có máy bay, pháo binh bắn phá yểm trợ, đóng đồn bốt khắp trong huyện. Trước tình hình giặc lùng sục khủng bố ác liệt, đội du kích hầu như không còn. Cả đội chỉ còn đồng chí và một cán bộ xã đội là vẫn kiên cường cầm súng chống giặc. Suốt 2 năm liền, hai anh em vừa bảo vệ vũ khí, vừa tuyên truyền gây cơ sở, vừa chiến đấu chống giặc, tới trận Mương Ông Tám. Cuối năm 1952, giặc đổ bộ vào xã, đồng chí tổ chức gài lựu đạn, dụ địch vào diệt được nhiều tên, khiến nhân dân phấn khởi tin tường, phong trào du kích lại lên. Từ đó Sơn Ton tổ chức được 15 trung đội dân quân và 15 tiểu đội du kích thường xuyên tập luyện sẵn sàng đánh giặc.

   Năm 1953, Sơn Ton được điều lên đội du kích tập trung của huyện. Năm 1954, ta mở chiến dịch tiến sâu vào vùng địch tạm chiếm. Đồng chí dẫn đầu tổ vũ trang tuyên truyền (hầu hết anh em là người Việt) vào tuyên truyền xây dựng cơ sở. Đến sóc (làng) nào đồng chí cũng xung phong vào trước để tuyên truyền giác ngộ đồng bào. Nhiều lần dựa vào nhân mối, Sơn Ton đã táo bạo đến thẳng bốt địch tuyên truyền vận động binh lính quay súng về với nhân dân. Đối với bọn ngoan cố thì kết hợp với dân quân tiến công tiêu diệt hoặc uy hiếp. Kết quả trong 7 tháng hoạt động, tổ vũ trang tuyên truyền đã diệt 67 tên địch bắt sống 100 tên, thu 43 súng, vận động được nhiều binh lính về với nhân dân và động viên được 50 thanh niên tòng quân.

   Do tinh thần tích cực, dũng cảm, tác phong gương mẫu khiêm tốn, giản dị, Sơn Ton rất có uy tín với đồng đội và nhân dân địa phương. Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng nhì, 4 lần được huyện, tỉnh và Miền khen.

   Ngày 31 tháng 8 năm 1955, Sơn Ton được Chu tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.



ANH HÙNG NGUYỄN VĂN THUẦN


   Nguyễn Văn Thuần, sinh  năm 1916, dân tộc Kinh, quê ở xã Cộng Hòa, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh, nhập ngũ tháng 9 năm 1945. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là trung đoàn phó bộ binh, trung đoàn 209, đại đoàn 312, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ lúc 10 tuổi đến 28 tuổi, Nguyễn Văn Thuần hết đi ở cho địa chủ lại đi phu, nhiều lần bị địa chủ cường hào đánh đập tàn nhẫn. Năm 1944 Nguyễn Văn Thuần bị bắt đi lính cho Pháp, cuộc đời ở lính cũng bị đánh đập đối xử tệ bạc. Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, Nguyễn Văn Thuần bị bắt làm tù binh, chúng đánh đập dã man phải đi nhà thương, ở đây Thuần đã tìm cách trốn được về nhà.

   Cách mạng tháng Tám thành công, Nguyễn Văn Thuần xung phong vào bộ đội, chiến đấu dũng cảm, lập nhiều chiến công xuất sắc. Từ ngày nhập ngũ tới tháng 7 năm 1954, đồng chí chiến đấu trên chiến trường Bắc Bộ, ở đơn vị chủ lực tập trung, trưởng thành từ chiến sĩ lên cán bộ trung đoàn, bao giờ cũng hăng say đánh giặc. Đồng chí, chỉ huy linh hoạt, bình tĩnh, mưu trí, dù trong hoàn cảnh nào cũng dẫn đầu đơn vị vượt qua. Đồng chí Nguyễn Văn Thuần đã tham gia chiến đấu 30 trận, chỉ huy đơn vị diệt gần 1.000 địch, bắt sống hàng trăm tên, tự tay đồng chí diệt gần 200 tên, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của chúng.

   Năm 1947, đánh địch càn ở Lạc Điền, Hải Dương, Nguyễn Văn Thuần làm nhiệm vụ bắn trung liên, bố trí hướng chính diện bản chặn địch và hỗ trợ cho đơn vị xung phong. Đồng chí đã bình tĩnh chờ cho địch vào cách 30 mét mới nổ súng, diệt hàng chục tên lính Pháp đi đầu; khiến bọn còn lại hoảng hốt chạy tán loạn, tạo điều kiện cho đơn vị vận động lên tiêu diệt địch, phá vỡ cuộc càn của chúng.

   Trận Phủ Thông (năm 1948), đồng chí phụ trách tiểu đội xung kích, dũng cảm dẫn đầu một tổ xông thẳng vào đồn, dùng dao và mác đánh giáp lá cà với địch rất quyết liệt, cùng đơn vị diệt gọn đồn này.

   Trận Phố Ràng (năm 1949), khi nổ súng, địch chống cự quyết liệt, Nguyễn Văn Thuần dẫn tiểu đội xông vào đánh chiếm cửa mở, cướp lựu đạn địch tiếp tục phát triển thọc sâu. Tiểu đội chỉ còn 3 người, đồng chí vẫn động viên đồng đội kiên quyết chiến đấu, đánh chia cắt địch và giữ trận địa.

   Trận đánh đồn Ba Huyên (tháng 1 năm 1951), ta tiến công suốt đêm vẫn chưa giải quyết xong, 8 giờ sáng hôm sau địch phản kích chiếm lại 3 lô cốt quan trọng. Trung đội Nguyễn Văn Thuần được lệnh đánh chiếm lại. Với lối đánh xung phong mãnh liệt, nhanh chóng áp sát địch, chỉ ít phút sau Nguyễn Văn Thuần đã chỉ huy trung đội diệt được 2 lô cốt, bọn còn lại vào lô cốt số ba, ngoan cố chống cự. Đồng chí thu nhặt bộc phá, gói lại thành khối thuốc nổ 10 ki-lô-gam, bò lên đặt và giật nổ phá sập lô cốt, diệt hết bọn địch còn lại, chiếm toàn bộ vị trí.

   Nguyễn Văn Thuần có tác phong khiêm tốn giản dị, sâu sát gần gũi anh em, đoàn kết thương yêu chăm sóc chiến sĩ, được anh em trong đơn vị rất yêu mến.

   Nguyễn Văn Thuần được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công hạng ba, 11 lần được tiểu đoàn, trung đoàn, đại đoàn khen thưởng và được Hồ Chủ tịch tặng Huy hiệu của Người.

   Ngày 31 tháng 8 năm 1955, đồng chí Nguyễn Văn Thuần được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #22 vào lúc: 21 Tháng Mười Hai, 2010, 03:34:59 pm »

ANH HÙNG LÝ VĂN THÍM


   Lý Văn Thím sinh năm 1925, dân tộc Nùng, quê ở xã Nam Sơn, huyện Thất Khê, tỉnh Lạng Sơn, nhập ngũ 1 tháng 2 năm 1945. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là đại đội phó bộ binh thuộc trung đoàn 335, đơn vị quân tình nguyện, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Trước Cách mạng tháng Tám (tháng 2 năm 1945), Lý Văn Thím đã xung phong vào Giải phóng quân, tham gia đánh bọn phỉ ở Hang Cấu, đánh Nhật ở Pò Mã và cùng nhân dân khởi nghĩa cướp chính quyền ở thị xã Lạng Sơn. Sau đó đồng chí bị yếu, được trên cho về nhà nghỉ chữa bệnh. Đến tháng 6 năm 1946, đồng chí lại trở về đơn ví tiếp tục chiến đấu đến tháng 7 năm 1954. Đồng chí đã nhận nhiều nhiệm vụ, công tác khác nhau khi trực tiếp chiến đấu, khi làm chiến sĩ trinh sát, liên lạc, khi làm công tác tuyên truyền vận động quần chúng xây dựng cơ sở cách mạng... nhiệm vụ nào đồng chí cũng hoàn thành xuất sắc. Đồng chí đã tham gia chiến đấu 46 trận, luôn luôn nêu cao tinh thần dũng cảm, kiên quyết tiến công địch, diệt và làm bị thương 25 tên, bắt sống 5 tên, xây dựng được nhiều cơ sở cách mạng ở 7 bản thuộc vùng dân tộc ít người.

   Tháng 12 năm 1946, giặc Pháp trở lại xâm lược nước ta, tiểu đội Lý Văn Thím làm nhiệm vụ phòng ngự chống địch trong thị xã Lạng Sơn. Địch huy động 1 tiểu đoàn có xe tăng và cả máy bay, pháo binh yểm trợ tiến công vào thị xã. Tiểu đội bị thương vong một số. Đồng chí vẫn cố thủ trong thành, đợi địch đến gần mới bắn và ném lựu đạn, chiến đấu liên tục 8 giờ liền, diệt nhiều địch, giữ vững trận địa.

   Trận đánh đồn Na Y (trên đường số 4) đầu năm 1949, Lý Văn Thím xung phong vào đội quân cảm tử, xông thẳng vào đồn phá bung ba lớp rào, đánh sập lô cốt rồi tiến lên chiếm hào giao thông, ném lựu đạn dập tắt hỏa điểm xung yếu nhất, tạo điều kiện cho đơn vị xung phong tiêu diệt toàn bộ quân địch.

   Tháng 12 năm 1949, Lý văn Thím làm chiến sĩ liên lạc và trinh sát ở vùng PĐây là vùng dân tộc ít người, nhân dân chưa hiểu còn xa lánh cán bộ, bộ đội. Địch thường phục kích trên các con đường đi lại. Đồng chí đã kiên trì gần gũi giúp đỡ, tuyên truyền giác ngộ nhân dân, xây dựng được cơ sơ, qua đó nắm vững tình hình địch. Có lần chuyển công văn hoa tốc, đường đi mất 7 ngày, giữa đường gặp địch, cơm không có, phải nhịn đói, nhưng Lý Văn Thím vẫn tìm cách xuyên rừng đưa công văn tới nơi, trước giờ quy định.

   Từ tháng 12 năm 1952 đến tháng 8 năm 1953, đồng chí nhận nhiệm vụ hoạt động xây dựng cơ sở cách mạng ở một vùng trọng điểm. Suốt 9 tháng liền, ngày nằm rừng, đêm về tìm dân ở các bản, nhiều khi địch lùng sục, gạo không có phải ăn rau, củ rừng, nhưng Lý Văn Thím vẫn kiên trì bám dân hoạt động, gây được cơ sở ở 7 bản.

   Với tinh thần và tác phong kiên trì, chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, liên hệ mật thiết với quần chúng, đồng chí Lý Văn Thím đã cảm hóa được mọi người, tranh thủ được sự đồng tình mến phục của nhân dân và lòng tin yêu của anh em đồng đội.

   Lý Văn Thím đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng nhất và được bầu là Chiến sĩ thi đua của đơn vị.

   Ngày 31 tháng 8 năm 1955, Lý Văn Thím được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.





ANH HÙNG LÊ VĂN THỌ


   Lê Văn Thọ sinh năm 1931, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Thới Hiệp, huyện Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh, nhập ngũ tháng 4 năm 1947. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là trung đội trưởng đặc công thuộc miền Đông Nam Bộ, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Lúc còn nhỏ, Lê Văn Thọ đã tham gia canh gác giấu cán bộ về hoạt động bí mật ở xã.

   Từ ngày nhập ngũ đến tháng 7 năm 1954, đồng chí hoạt động ở Sài Gòn và miền Đông Nam Bộ, luôn luôn dũng cảm, táo bạo trong chiến đấu, kiên trì, mưu trí, thận trọng, chính xác trong việc điều tra, trinh sát nằm địch. Gặp nhiều trường hợp khó khăn nguy hiểm đồng chí vẫn không nan, kiên quyết khắc phục khó khăn hoàn thành nhiệm vụ. Trong quá trình chiến đấu, đồng chí đã diệt được 161 tên địch, góp phần tích cực cùng đơn vị phá hủy nhiều cầu cống, kho bom đạn và đồn bốt địch.

   Năm 1949, Lê Văn Thọ nhận nhiệm vụ trinh sát và đánh cầu Lái Thiêu (trên đường số 13), ở đây địch canh phòng rất cẩn mật. Đồng chí đã dũng cảm kiên trì trinh sát và dẫn đơn vị vào đánh đến lần thứ tư, mới đánh sập cầu.

   Từ năm 1950 - 1952, Lê Văn Thọ đã tham gia đánh nhiều trận, lập công xuất sắc, đặc biệt trong nhiệm vụ điều tra và đánh kho bom Tân Sơn Nhất. Đây là một vị trí địch tổ chức bố phòng nghiêm ngặt: nhiều đồn bốt bao bọc bên ngoài, rồi hàng rào dây thép gai, bãi mìn, bãi cát trảng, đường xe đi tuần, con mương rộng sâu lút đầu người, dưới đáy cắm chông, rồi lại thành đất cao và dày, đèn pha bật sáng suốt đêm, một đại đội Âu Phi thường xuyên tuần tiễu. Đồng chí đã mưu trí táo bạo kiên trì trinh sát trong 4 tháng liền, hết vào lại ra, nhiều lần nằm lại theo dõi nằm chắc địch và xây dựng cơ sở. Khi được lệnh trên cho đánh, Lê Văn Thọ đã cùng một đồng chí nữa đột nhập gài mìn vào giữa kho bom và những nơi xung yếu rồi giật nổ làm chết 182 tên địch, bị thương nhiều tên, phá hủy hơn 700 quả bom, một đại bác, làm sập ba tháp canh, một dãy nhà lính và 15 dãy nhà kho. Trận đánh thắng này đã gây cho địch rất nhiều thiệt hại, có tác dụng cổ vũ toàn chiến trường Nam Bộ lúc bấy giờ.

   Ngoài tinh thần anh dũng chiến đấu, tích cực tiêu diệt sinh lực địch, đồng chí Lê Văn Thọ còn hết lòng thương yêu đồng đội, tuy thường phải hoạt động và chiến đấu độc lập ít người giữa vòng vây dày đặc của địch, nhưng dù khó khăn ác liệt thế nào đồng chí cũng tìm cách đưa bằng được thương binh, tử sĩ ra ngoài an toàn, chu đáo. Thường xuyên trong hoạt động, đồng chí còn biết dựa vào dân gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân đùm bọc che chở qua các bước hiểm nghèo.

   Lê Văn Thọ đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng nhất, 1 Huân chương Kháng chiến hạng nhất, 5 lần được Mặt trận miền Đông Nam Bộ khen và là Chiến sĩ thi đua toàn quốc.

   Ngày 31 tháng 8 năm 1955 , Lê Văn Thọ được Chủ tịch nước Việt Nam dân chu cộng hòa tặng thưởng Huân chương Quân công hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.




ANH HÙNG LỘC VĂN TRỌNG


   Lộc Văn Trọng sinh năm 1905, dân tộc Tày, quê ở xã Chí Thảo, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng, nhập ngũ năm 1950. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là trung đội phó lái xe ô tô thuộc Cục Vận tải, Tổng cục Hậu cần, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Trước Cách mạng tháng Tám, đồng chí Lộc Văn Trọng bị bắt đi lính. Chúng đưa đồng chí sang Pháp học lái xe. Năm 1945, nghe tin nước nhà độc lập, mặc dù bọn đế quốc ra sức khủng bố, đồng chí đà tham gia tổ chức ái hữu cua binh lính người Việt ở Pháp, đấu tranh không chuyển vũ khí sang Việt Nam và đòi hồi hương, do đó bị chúng bắt bỏ tù và đày đi Bắc Phi. Năm 1946, trước đòi hỏi chính đáng của Chính phủ ta, bọn Pháp phải tha số anh em này và cho hồi hương. Đồng chí trở về quê, xung phong vào du kích. Năm 1948, giặc càn vao làng, đồng chí đã cùng tổ du kích dũng cảm chiến đấu, bắt sống 2 tên lính Pháp, thu 2 tiểu liên và 200 viên đạn.

   Năm 1950, tuy đã 45 tuổi, Lộc Văn Trọng được tin bộ đội đang rất cần lái xe để phục vụ kịp thời cho chiến dịch Biên Giới, đồng chí xung phong đi ngay. Từ đó đồng chí đã lái xe phục vụ trong suốt 5 chiến dịch lớn, luôn luôn nêu cao tinh thần bền bỉ, tích cực, dung cảm vượt qua mọi khó khăn ác liệt, đưa được nhiều hàng tới đích kịp thời và an toàn. Gần 3 năm, trong những điều kiện phục vụ chiến dịch hết sức khó khăn, chiếc xe do đồng chí lái và bảo quản đã chạy hơn 3 vạn ki-lô-mét an toàn đưa được hãng nghìn tấn vũ khí, lương thực tới chiến trường, kịp thời phục vụ đơn vị chiến đâu. Trong phong trào thi đưa lập công, đồng chí Lộc Văn Trọng là chiến sĩ lái xe xuất sắc của Cục Vận tải, Tổng cục Hậu cần; với tinh thần trách nhiệm cao, kết hợp những kinh nghiệm, nền nếp bảo quản và sử dụng xe, đồng chí đã nêu tấm gương sáng trong ngành vận tải, xứng đáng là lá cờ đầu của toàn đơn vị.

   Chiến dịch Biên Giới, Lộc Văn Trọng theo sát bộ đội vào thu chiến lợi phẩm ở Đông Khê, Thất Khê. Xe bị hư hỏng nhiều, đồ nghề thiếu, đồng chí đã vận động anh em thu nhặt phụ tùng ở các xe hỏng, sửa chữa liên tục nhiều ngày đêm được 36 xe, riêng bản thân đồng chí sửa được 4 xe, kịp thời phục vụ đắc lực cho việc vận chuyển sau chiến dịch.

   Phục vụ chiến dịch Tây Bắc và Điện Biên Phủ, qua nhưng quãng đường gay go nguy hiểm, gặp bom nổ chậm, Lộc Văn Trọng đều bình tĩnh xem xét, tổ chức và dẫn đầu đơn vị vượt qua an toàn.

   Cuối năm 1952, địch đánh lên vùng Đoan Hùng (Phú Thọ). Thấy giặc sắp đến vùng kho hàng của ta, đồng chí nhanh nhẹn lái chiếc xe của mình dẫn đầu  anh em đi chuyển kho, cứu hàng ra ngoài. Trời mưa, đường trơn nhiều xe và hàng còn bị mắc kẹt, Lộc Văn Trọng quay lại động viên anh em chặt tre, đan phên rải đường cho xe chạy. Suốt đêm mưa tối, đồng chí đã cùng anh em đưa được 80 thùng xăng và 14 tấn vũ khí vượt ra vùng an toàn.

   Một lần trong chiến dịch Điện Biên Phủ, do yêu cầu vận chuyển cấp tốc, đoàn xe phải tranh thủ vượt một trọng điểm, vừa tiến đến thì một quả bom nổ, mảnh bom, đất đá văng tung tóe vào các xe, trong lúc đó máy bay địch vẫn đang quần lượn, Lộc Văn Trọng bình tĩnh ra lệnh tắt đèn và lái xe dẫn dầu đơn vị vượt ra khỏi khu vực nguy hiểm.

   Lộc Văn Trọng luôn gương mẫu, cởi mở, khiêm tốn, chí công vô tư, được đồng đội tin yêu.

   Lộc Văn Trọng đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng nhất, được Cục Vận tải khen và bầu là chiến sĩ lái xe xuất sắc.

   Ngày 31 tháng 8 năm 1955, Lộc Văn Trọng được Chủ tịch nước Việt Nam dân chu cộng hòa tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #23 vào lúc: 21 Tháng Mười Hai, 2010, 03:38:30 pm »

ANH HÙNG NGUYỄN PHÚ VỊ


   Nguyễn Phú Vị sinh năm 1924, dân tộc Kinh, quê ở xã Ngọc Thụy, huyện Gia Lâm thành phố Hà Nội, nhập ngũ tháng 3 năm 1946. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là đại đội trưởng bộ binh thuộc trung đoàn 48, đại đoàn 320, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Năm 16 tuổi, nhà nghèo, đồng chí Nguyễn Phú Vị xin vào làm công nhân ở nhà máy điện Hà Nội. Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, đồng chí đã cùng công nhân tham gia cướp chính quyền ở Hà Nội, chiếm nhà máy điện và trại lính bảo an, sau đó xung vào đội quân Nam tiến, chiến đấu ở Nam Bộ, bị thương, được đưa ra Bắc điều trị.

   Tháng 3 năm 1946, sau khi bình phục Nguyễn Phú Vị trở về đội ngũ, tham gia chiến đấu ở giữa Thủ đô những ngày đầu kháng chiến toàn quốc và sau đó đồng chí hoạt động ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Nguyễn Phú vị đã đánh 30 trận luôn luôn thể hiện tinh thần hăng say đánh giặc, đã nổ súng là kiên quyết xung phong, gặp tình huống gay go ác liệt cũng không nản, kiên quyết tiến công tiêu diệt địch, chỉ huy bình tĩnh, mưu trí, táo bạo, đã cùng trung đội diệt 500 tên địch, thu và phá hủy nhiều xe pháo của chúng. Riêng đồng chí diệt 60 tên, bắt sống 5 tên, thu 10 súng các loại.

   Trận Trung Thứ, Hà Nam năm 1951, địch dùng 2 đại đội bất ngờ tiến công bao vây 1 đại đội ta ở làng Trung Thứ. Đồng chí được lệnh sang đánh giải vây cho đơn vị bạn, mặc cho địch bắn pháo chặn đường, đồng chí dũng cảm dẫn đầu trung đội vượt qua lửa đạn, đánh thốc vào sau lưng địch, diệt ngay sở chỉ huy, bắn chết tên quan ba, bắt sống tên chỉ huy và 17 tên khác, diệt gọn 1 trung đội địch, khiến toàn bộ địch hoang mang tan rã, tạo điều kiện cho tiểu đoàn bao vày chia cắt, diệt gọn cả 2 đại đội địch, giải vây cho đơn vị bạn.

   Trong trận tiến công địch ở thị trấn Phát Diệm (năm 1952), Nguyễn Phú Vị nhận nhiệm vụ chỉ huy đơn vị thọc sâu, diệt sở chỉ huy và khu điện đài của địch. Đồng chí chỉ huy đơn vị bí mật tiếp cận trước giờ nổ súng. Khi có lệnh, cả đơn vị xông lên bắn chết 2 tên lính gác, rồi nhanh chóng vượt rào, chia làm 3 mũi đánh vào sở chỉ huy, khu máy điện và khu thông tin. Chỉ ít phút sau, ta đã diệt xong địch và làm chủ khu vực này. Đồng chí tổ chức lại lực lượng chiếm giữ trận địa, và cử 6 đồng chí đánh tiếp sang khu bên, diệt thêm 2 tiểu đội địch nữa rồi cố thủ ở đó, đánh lui ba đợt phản kích cua lực lượng tiếp viện địch. 7 giờ sáng, được lệnh rút Nguyễn Phú Vị chỉ huy đưa hết thương binh ra ngoài và tranh thủ tiếp tục đánh chiếm khu để pháo của địch, diệt thêm 6 tên, mở rộng bàn đạp cho toàn trung đoàn triển khai, diệt gọn 7 đại đội địch, làm chủ thị trấn 1 ngày 1 đêm.

   Nguyễn Phú Vị là một cán bộ gương mẫu, tận tụy, luôn luôn xung phong dẫn đầu trong mọi công tác đoàn kết giúp đỡ mọi người. Với đức tính khiêm tốn, giản dị, chân thành, đồng chí được anh em trong toàn đơn vị tin yêu.

   Nguyễn Phú Vị đã được tặng thưởng 3 Huân chương Chiến công (một hạng nhất, một hạng nhì, một hạng ba), 17 lần được trung đoàn và đại đoàn khen.

   Ngày 31 tháng 8 năm 1955, đồng chí Nguyễn Phú Vị được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.



ANH HÙNG TRẦN CAN
(LIỆT SĨ)


   Trần Can sinh năm 1931, dân tộc Kinh, quê ở xã Sơn Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, nhập ngũ tháng 1 năm 1951. Khi hy sinh đồng chí là đại dội phó bộ binh thuộc trung đoàn 209, đại đoàn 312, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ hồi còn nhỏ Trần Can đã rất ham thích đi bộ đội để được cầm súng giết giặc cứu nước. Lớn lên, đã 3 lần đồng chí xung phong tình nguyện xin đi bộ đội, nhưng vì sức yếu nên mãi lần thư tư mới được chấp nhận.

   Từ khi vào bộ đội, Trần Can chiến đấu rất dũng cảm, mưu trí, chỉ huy hết sức linh hoạt. Trong mọi trường hợp khó khăn ác liệt, đồng chí đều kiên quyết dẫn đầu đơn vị vượt lên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; đã hai lần đồng chí bị thương nặng vẫn tiếp tục chiến đấu, chỉ huy đơn vị kiên quyết tiến công tiêu diệt địch. Tấm gương của đồng chí đã thiết thực cổ vũ phong trào thi đua giết giặc lập công sôi nổi trong toàn đơn vị.

   Chiến dịch Tây Bắc năm 1952, trong trận đánh địch ở Ban Hoa, Trần Can làm nhiệm vụ xung kích, vừa có lệnh xung phong đồng chí đã nhanh chóng cùng tiểu đội vượt qua cửa mở, dùng thủ pháo diệt một ụ súng địch rồi lập tức phát triển sâu vào bên trong. Khi tiểu đội bị thương vong hết, đồng chí tự động sát nhập với hai đồng chí của tiểu đội khác lập thành một tổ tiếp tục chiến đấu. Đồng chí dẫn đầu tổ diệt luôn ba ụ súng nữa và đánh thắng vào sở chỉ huy địch diệt cơ quan đầu não, bắt sống 22 tên, thu 17 súng các loại.

   Trong trận đánh đồn Him Lam mở đầu cho chiến dịch Điện Biên Phủ, Trần Can được giao nhiệm vụ chỉ huy tiểu đội thọc sâu diệt sở chỉ huy và cắm lá cờ “Quyết chiến quyết thắng” của Hồ Chủ tịch giao cho quân đội lên đồn giặc. Khi nổ súng, mặc cho hỏa lực địch bắn ra dữ dội, đồng chí dẫn đầu tiểu đội vượt qua lô cốt tiền duyên, chọc thẳng vào đánh chiếm sở chỉ huy như một mũi dao nhọn cắm vào giữa tim gan địch, rồi nhảy lên nóc lô cốt cắm cờ. Sau đó chỉ huy tiểu đội diệt bọn địch còn lại trong hầm ngầm, bắt 25 tên, thu nhiều súng.

   Trong trận đánh điểm cao 507, Trần Can đã dũng cảm dẫn đầu tiểu đội xông lên áp đảo địch, chiếm mỏm cột cờ. Địch bắn pháo dữ đội và cho quân đánh chiếm lại. Ta với địch giành giật nhau từng thước đất hết sức quyết liệt. Đồng chí đã cùng đồng đội kiên quyết giữ vững và tiến công đánh bại 4 đợt phản kích của chúng. Địch lại xông lên trong đợt công kích thứ năm, chúng ném lựu đạn tới tấp trước khi xung phong, Trần Can nhặt ném lại và chỉ huy đơn vị nhảy lên hào đánh giáp lá cà với địch. Cán bộ đại đội bị thương vong hết, bản thân Trần Can cũng bị thương, nhưng đồng chí vẫn quyết tâm thay thế cán bộ đại đội chỉ huy đơn vị chiến đấu suốt một đêm. Sáng hôm sau. đồng chí tập trung thương binh nhẹ lại, động viên bộ đội, chấn chỉnh tổ chức, củng cố trận địa. Địch lại phản kích lên dữ dội, mong đánh bật quân ta, giành lại cửa ngõ tiến vào Mường Thanh. Trần Can chỉ huy đơn vị đánh tan đợt phản kích của chúng, kiên quyết giữ vững trận địa, tạo thế cho đơn vị tiến vào trung tâm Mường Thanh. Đồng chí Trần Can đã hy sinh anh dũng sáng ngày 7 tháng 5 năm 1954, ngày kết thúc chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử.

   Trần Can đã được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công hạng ba, 2 Huân chương Chiến công hạng nhất, 2 lần được bầu là Chiến sĩ thi đua của đại đoàn.

   Ngày 7 tháng 5 năm 1956, Trần Can được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa truy tặng Huân chương Quân công hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.



ANH HÙNG CAO THẾ CHIẾN
(LIỆT SĨ)


   Cao Thế Chiến sinh năm 1926, dân tộc Kinh, quê ở xã Quảng Hải, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình, nhập ngũ tháng 1 năm 1947. Khi hy sinh đồng chí là đại đội phó, thuộc đại đội 2, trung đoàn 101, đại đoàn 325, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Hơn bảy năm chiến đấu ở chiến trường Bình - Trị - - Thiên, đồng chí Cao Thế Chiến đã trưởng thành từ chiến sĩ lên cán bộ đại đội. Ở cương vị nào đồng chí cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đồng chí đã tham gia 50 trận đánh. Nhiều trận gặp tình huống gay go, phức tạp, đồng chí vẫn bình tĩnh, linh hoạt chỉ huy đơn vị đánh thắng địch.

   Năm 1947, Cao Thế Chiến là chiến sĩ thông tin ở bộ phận điện đài, đồng chí đã khắc phục nhiều khó khăn để nắm vững nghiệp vụ và hoàn thành tốt nhiệmvụ phục vụ chỉ huy chiến đấu.

   Năm 1948, Cao Thế Chiến được chuyển về đơn vị chiến đấu làm nhiệm vụ diệt tề, trừ gian, đồng chí đã lập được nhiều thành tích. Một lần đồng chí dẫn tiểu đội bao vây vị trí bọn tề đang họp (gần thị xã Đồng Hới), rồi tự mình xông vào bắt bọn chúng. 2 tên ngoan cố tháo chạy, đồng chí nổ súng tiêu diệt, bọn còn lại bị tiểu đội xông vào bắt gọn.

   Trận Mỹ Trung (Quảng Bình) đầu năm 1949, kế hoạch định đánh bằng binh vận bị lộ, địch xảo quyệt gài bẫy lừa ta, khi đồng chí dẫn đầu tiểu dội tiến vào, chúng đã bố trí sản hoả lực bắn ra dữ dội. Tuy lâm vào linh thế bất lợi, nhưng đồng chí vẫn bình tĩnh chỉ huy tiểu đội anh dũng chiến đấu với một đại đội địch, diệt 14 tên rồi phá hàng rào rút ra an toàn.

   Trận Xuân Bồ (năm 1950), đơn vị Cao Thế Chiến bị địch bao vây bất ngờ. Cuộc chiến đấu diễn ra gay go ác liệt. Tiểu đội trưởng hy sinh. Đồng chí thay thế chỉ huy tiểu đội và trực tiếp dùng trung liên bắn mạnh cản địch cho đơn vị rút ra an toàn.

   Trong trận chống càn ở Thanh Hương (Thừa Thiên) năm 1952, địch tập trung 18 tiểu đoàn, có hơn 50 máy bay, 18 khẩu pháo và 100 xe cơ giới yểm trợ tiến công ta. Sau đợt phản kích đầu tiên, trung đội đồng chí bị đứt liên lạc với đại đội và bị thương vong chỉ còn lại 17 người. Suốt 1 ngày, Cao Thế Chiến đã động viên và tổ chức anh em đánh lui 6 đợt phản kích điên cuồng của địch. Đến tối, được lệnh mở đường phá vây đưa đồng bào ra ngoài. Đồng chí đã chỉ huy đơn vị dung cảm chiến đấu phá vỡ vòng vây địch, đưa 500 đồng bào rút về căn cứ an toàn.

   Đầu năm 1954, địch dùng 4 tiểu đoàn bao vây tập kích vào cơ quan trung đoàn bộ của ta. Nghe tiếng súng nổ, Cao Thế Chiến chủ động nhanh chóng chỉ huy trung đội đánh tạt sườn quân địch, diệt gọn một trung đội. Bị đánh bất ngờ vào giữa đội hình, địch hoang mang tan ra. Đồng chí đang dẫn đầu trung đội truy kích địch, không may bị thương nặng. Không bỏ lỡ thời cơ kẻ địch đang hoang mang Cao Thế Chiến không cho đồng đội băng bó, tiếp tục chỉ huy đơn vị tiến công dồn dập, phá tan cuộc tập kích của chúng, bảo vệ được sở chỉ huy. Do vết thương nặng, đồng chí đã anh dũng hy sinh trên đường truy kích địch.

   Cao Thế Chiến đã được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công (một hạng nhất, một hạng ba), 9 bằng và giấy khen.

   Ngày 7 tháng 5 năm 1956, Cao Thế Chiến được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa truy tặng Huân chương Quân công hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #24 vào lúc: 21 Tháng Mười Hai, 2010, 03:45:08 pm »

ANH HÙNG TÔ VĨNH DIỆN
(LIỆT SĨ)


   Tô Vĩnh Diện sinh năm 1924, dân tộc Kinh, quê ở xã Nông Trường, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, nhập ngũ tháng 7 năm 1949. Khi hy sinh đồng chí là tiểu đội trưởng pháo cao xạ 37 ly thuộc đại đội 827, tiểu đoàn 394, trung đoàn 367.

   Tô Vĩnh Diện sinh trưởng trong một gia đình nghèo khổ, lên 8 tuổi đã phải đi ở cho địa chủ. Suốt 12 năm đi ở đồng chí đã phải chịu đựng bao cảnh áp bức bất công. Năm 1946 đồng chí tham gia dân quân ở địa phương, đến năm 1949 xung phong vào bộ đội. Trong học tập và công tác, đồng chí luôn thể hiện tinh thần gương mẫu đi đầu, lôi cuốn đồng đội noi theo. Trong hành quân chiến đấu, đồng chí đã cùng đồng đội bền bỉ vượt qua khó khăn chấp hành nghiêm chỉnh các mệnh lệnh, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

   Tháng 5 năm 1953, quân đội ta thành lập các đơn vị phát) cao xạ để chuẩn bị cho đánh lớn, đồng chí Tô Vĩnh Diện được điều về làm tiểu đội trưởng một đơn vị cao pháo. Quá trinh đơn vị hành quân cơ động trên chặng dường hơn 1.000 ki-lô-mét tới vị trí tập kết để tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, đồng chí luôn luôn gương mẫu làm mọi việc nặng nhọc, động viên giúp đỡ đồng đội đưa pháo tới đích an toàn.

   Trong lúc kéo pháo qua những chặng dường khó khăn nguy hiểm, đồng chí xung phong lái để bảo đảm cho pháo được an toàn. Trong lúc kéo pháo cũng như lúc nghỉ dọc đường. Tô Vĩnh Diện luôn luôn nhắc đồng đội chuẩn bị chu đáo và tự mình đi kiểm tra tỉ mỉ từng dây kéo pháo, xem xét từng đoạn đường, từng cái dốc rồi phổ biến cho anh em để tránh những nguy hiểm bất ngờ xảy ra.

   Kéo pháo vào đã nhiều gian khổ hy sinh, kéo pháo ra càng gay go ác liệt. Đồng chí đã đi sát từng người động viên giải thích rõ nhiệm vụ, giúp anh em xác định quyết tâm cùng nhau khắc phục khó khăn để đảm bảo thắng lợi.

   Qua 5 đêm kéo pháo ra đến dốc Chuối - một cái dốc nghiêng 70 độ: đường hẹp và cong rất nguy hiểm - Tô Vĩnh Diện cùng đồng chí Ty xưng phong lái pháo. Nửa chừng, dây tời bị đứt, pháo lao nhanh xuống dốc, đồng chí vẫn bình tĩnh giữ càng, lái cho pháo xuống thẳng đường. Nhưng một trong bốn dây kéo lại bị dứt, pháo càng lao nhanh, đồng chí Ty bị hất xuống suối. Trước hoàn cảnh hiểm nghèo đó, Tô Vĩnh Diện hô anh em: “Thà hy sinh, quyết bảo vệ pháo” và đồng chí buông tay lái xông lên trước, lấy thân mình lao vào chèn bánh xe pháo. Pháo bị vướng, nghiêng dựa vào sườn núi, nhờ đó đơn vị kịp ghìm giữ được pháo dừng lại.

   Tấm gương hy sinh vô cùng anh dũng của đồng chí Tô Vĩnh Diện đã cổ vũ mạnh mẽ toàn đơn vị vươn lên hoãn thành tốt nhiệm vụ chuẩn bị chiến đấu và chiến đấu thắng lợi.

   Tô Vĩnh Diện đã được tặng thương 1 Huân chương Chiến công hạng nhất.

   Ngày 7 tháng 5 năm 1956, Tô Vĩnh Diện được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa truy tặng Huân chương Quân công hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.




ANH HÙNG TRẦN ĐỨC
(LIỆT SĨ)


   Trần Đức sinh năn 1917, dân tộc Kinh, quê ở xã Hải Yến, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa, nhập ngũ tháng 1 năm 1946. Khi hy sinh đồng chí là tiểu đội trưởng bộ binh thuộc đại đội 212, tiểu đoàn 19, trung đoàn 108, đại đoàn 305, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Ngày 23 tháng 9 năm 1945, giặc Pháp gây hấn ở Nam Bộ, trong phong trào Nam tiến, đồng chí Trần Đức xung phong tòng quân vào Nam giết giặc. Bốn năm chiến đấu trong quân đội, đồng chí đã tham gia 40 trận đánh, với đặc điểm sử dụng trung liên rất chính xác, phát huy hiệu lực cao, đồng chí đã áp đảo hỏa lực địch, tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vị xông lên giải quyết trận đánh thắng lợi. Nhiều trận, đồng chí đã góp phần quyết định trong những tình huống gay go, phức tạp, tự tay đã diệt 200 tên địch, bắn hỏng bảy xe vận tải quân sự.

   Tháng 12 năm 1946, đơn vị đồng chí làm nhiệm vụ vây hãm sân bay địch. Nhiều lần địch nống ra, đồng chí đã dùng trung liên bắn chặn bẻ gãy nhiều đợt phản kích của chúng, chân súng gãy, đồng chí lấy đá kê lên tiếp tục chiến đấu, giữ vững trận địa.

   Tháng 2 năm 1947, địch dùng 2 đại đội chia làm 2 mũi tiến công vào đơn vị. Đồng chí chờ cho địch tới thật gần, mới bất ngờ nổ súng và cùng đơn vị dũng cảm xung phong tiêu diệt quân địch. Trận này, đồng chí diệt 25 tên, tạo điều kiện cho đơn vị đánh lui 2 đợt phản kích của địch.

   Tháng 4 năm 1947, 3 đại đội địch từ Nam Ô tiến công lên. Nhận nhiệm vụ chặn địch, ngay từ phút đầu, Trần Đức đã dùng trung liên diệt 15 tên. Địch thấy lực lượng ta ít liền triển khai bao vây hòng tiêu diệt, đồng chí nhanh trí lấy thùng sắt kê súng lên bắn, giả làm đại liên để uy hiếp tinh thần địch. Suốt 1 ngày, Trần Đức và đồng đội đã đánh lui 3 đợt phản kích của địch, diệt 2 trung đội, bẻ gãy một mũi tiến công nguy hiểm của địch.

   Trận đánh địch trên đèo Hải Vân (tháng 5 năm 1947), đại đội đồng chí phụ trách chặn đầu đoàn xe địch. Khi 6 chiếc xe chở lính lọt vào trận địa, Trần Đức nổ súng chính xác bắn hỏng ngay chiếc xe đi đầu, bọn địch bị ùn lại, đơn vị ào ạt xung phong diệt gọn bọn địch đi trên sáu xe.

   Tháng 2 năm 1949, địch dùng hơn 1.000 quân bao vây 2 đại đội ta ở Nam Thừa Thiên. Đại đội đồng chí bố trí trên đường cái, trước mặt là con sông. Ngay từ phút đầu, Trần Đức đã dùng trung liên bắn chế áp địch, buộc chúng phải phân tán đối phó. Suốt 1 ngày, đồng chí đã cùng đơn vị đánh lui 3 đợt phản kích của địch. Riêng đồng chí đã bắn chết và bắn bị thương 70 tên, góp phần cùng đơn vị phá tan cuộc tiến công lớn của chúng.

   Tháng 11 năm 1950, địch tiến công ta với lực lượng đông gấp nhiều lần, có máy bay, pháo binh yểm trợ. Suốt 1 ngày, đại đội đồng chí bị vây 4 mặt. Ta quyết mớ đường rút ra. Trần Đức được giao nhiệm vụ dùng hoả lực mở đường và ngăn chặn địch, bảo vệ cho đơn vị rút. Đồng chí đã chiến đấu dung cảm cho đến phút cuối cùng và hy sinh ngay tại trận địa.

   Khi còn sống, đồng chí Trần Đức luôn luôn gương mẫu trong mọi mặt công tác, đoàn kết với anh em, hướng dẫn và phổ biến kinh nghiệm sử dụng trung liên, loại hoả lực mạnh chủ yếu của bộ đội ta lúc bấy giờ, cho mọi người trong đơn vị.

   Trần Đức đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng nhì, 5 lần được Liên khu khen.

   Ngày 7 tháng 5 năm 1956, Trấn Đức được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa truy tặng Huân chương Quân công hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.




ANH HÙNG LÊ CÔNG KHAI
(LIỆT SĨ)



   Lê Công Khai sinh năm 1925, dân tộc Kinh, quê ở xã Hoằng Phú, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa, nhập ngũ tháng 6 năm 1946. Khi hy sinh đồng chí là đại đội trưởng bộ binh Liên khu 5,   đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Sau khi nhập ngũ, đồng chí Lê Công Khai xung phong vào đội quân Nam tiến, chiến đấu giết giặc. Gần 9 năm trong quân đội đồng chí đã tham gia chiến đấu và chỉ huy chiến đấu 40 trận, ở cương vị nào trong hoàn cảnh nào cũng luôn luôn nêu cao tinh thần dũng cảm, chỉ huy linh hoạt, bình tĩnh, nhiều lần bị thương vẫn bám trận địa, tiếp tục chiến đấu.

   Đầu năm 1947, Lê Công Khai làm chiến sĩ liên lạc, bị địch bắt và tra tấn dã man, nhưng đồng chí vẫn không hề khai báo. Sau 4 tháng bị giam, đồng chí vận động 10 anh em trong tù tổ chức vượt ngục về đơn vị tiếp tục chiến đấu.

   Trong trận Ninh Mã (Khánh Hòa) tháng 7 năm 1949, Lê Công Khai bắn súng máy kiềm chế hoả lực địch, diệt 13 tên (có 1 tên quan ba nguy), chi viện đắc lực cho đơn vị chiến đấu.

   Trận phục kích địch ở nam Khánh Hòa (năm 1950) đồng chí phụ trách tiểu đội, tự tay bắn súng máy diệt 10 tên và chỉ huy tiểu đội đánh lui 1 đại đội địch.

   Đánh đồn Túy Loan (Quảng Nam) tháng 5 năm 1952, cửa vừa mở, địch tập trung bắn ra dữ dội, Lê Công Khai bình tĩnh chỉ huy trung đội nhanh chóng đánh chiếm lô cốt đầu cầu rồi phát triển đánh vào hầm đặt pháo và sở chỉ huy địch. Lê Công Khai bị thương vào lòng bàn chân nhưng tự băng bó và kiên quyết chỉ huy đơn vị chiến đấu đến khi diệt xong đồn giặc.

   Trong trận Tú Thủy, Kon Tum, trời đã gần sáng nhưng xung kích bị thương vong nhiều vẫn chưa tiến lên được. Lê Công Khai tổ chức lại bộ đội, động viên tinh thần chiến đấu của anh em rồi dũng cảm xông lên trước, lôi cuốn toàn đơn vị xung phong diệt đồn. Đại đội trưởng bị thương nặng, đồng chí lên thay thế chỉ huy, diệt và bắt sống hơn 1 đại đội địch.

   Hè năm 1954, đơn vị Lê Công Khai đánh đồn Đắc Đoa, đây là một vị trí then chốt của địch. Ta đã đánh 2 lần nhưng chưa dứt điểm, địch càng tăng cường phòng thủ. Ba đêm liền, đồng chí kiên trì vào điều tra, về lập kế hoạch tỉ mỉ, động viên đơn vị quyết tâm đánh thắng. Khi nổ súng, trận đánh diễn ra hết sức gay go ác liệt. Lê Công Khai bị thương gãy chân trái, vẫn tiếp tục chỉ huy chiến đấu, bị gãy thêm chân phải, vẫn kiên trì chịu đựng nằm tại chỗ đông viên chỉ huy đơn vị xông lên tiêu diệt gọn 1 đại đội Âu Phi tinh nhuệ của chúng.

   Trên đường về quân y, vì vết thương nặng máu ra nhiều, đồng chí Lê Công Khai đã hy sinh.

   Lê Công Khai đã được tặng thưởng 2 bằng khen, 2 lần ban chỉ huy chiến dịch tuyên dương công trạng, là Chiến sĩ thi đua cua Liên khu 5.

   Ngày 7 tháng 5 năm 1956, Lê Công Khai được Chủ tích nước Việt Nam dân chủ cộng hòa truy tặng Huân chương Quân công hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #25 vào lúc: 21 Tháng Mười Hai, 2010, 03:48:50 pm »

ANH HÙNG PHẠM MINH ĐỨC
(LIỆT SĨ)


   Phạm Minh Đức sinh năm 1932, dân tộc Kinh, quê ở xã Diễn Trung, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, nhập ngũ tháng 4 năm 1951, khi hy sinh đồng chí là chiến sĩ bộ binh thuộc đại đội 1, tiểu đoàn 1, trung đoàn 53, đại đoàn 350.

   Từ khi là một tân binh, dù  được giao nhiệm vụ gì, làm chiến sĩ xung kích hay chiến sĩ tải thương, chiến sĩ nuôi quân, đồng chí Phạm Minh Đức đều vui vẻ chấp hành, nêu cao tinh thần tận tụy, gương mẫu trong chiến đấu, học tập và công tác. Hòa bình lập lại, khi được phân công làm nhiệm vụ bảo vệ Thủ đô và thành phố cảng Hải Phòng, đồng chí luôn luôn nêu cao tinh thần canh giác cách mạng, góp phần cùng đơn vị bảo đảm an toàn khu vực được phân công, đặc biệt trong trận chống bão lụt tháng 9 năm 1955, đồng chí đã dũng cảm lập nhiều thành tích và đã hy sinh thân mình để cứu sống nhân dân.

   Tháng 4 năm 1951, Phạm Minh Đức vào bộ đội, cùng đơn vị đi chiến dịch Tây Bắc. Trong trận đầu tiên thấy đồng chí xạ thủ trung liên hy sinh, đồng chí đã xung phong lên thay thế và bình tĩnh chiến đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ. Có lần trên điều đi công tác, tuy bị thương nhưng Phạm Minh Đức vẫn bình tĩnh phố hợp cùng công an, bắt được 2 tên gián điệp đang chỉ điểm cho máy bay bắn phá.

   Tháng 10 năm 1954, đơn vị làm nhiệm vụ bảo vệ Thủ đô và cảng Hải Phòng. Phạm Minh Đức luôn luôn tích cực, tận tụy trong khi làm nhiệm vụ tuần tra canh gác nên đã phát hiện được nhiều vụ gián điệp đang liên lạc tuyên truyền, phá hoại, cũng như bắt bọn buôn gian bán lậu, góp phần tích cực cùng đơn vị bảo đảm an toàn khu vực được phân công.

   Trận bão ngày 26 tháng 9 năm 1955, mưa to, nước lớn tràn đê, gây lụt lớn, tràn ngập một số vùng dân cư ở Hải Phòng, tính mạng và tài sản nhân dân bị đe dọa. Đơn vị được lệnh cấp tốc đi chống lụt cứu dân. Phạm Minh Đức bị yếu, đơn vị phân công ở nhà, nhưng đồng chí vẫn cố xin đi bằng được. Với tinh thần dũng cảm, vì dân, đồng chí đã lặn lội, vật lộn với sóng gió đưa được 18 đồng bào bị nước cuốn về chỗ an toàn. Lúc ấy đồng chí đã gần kiệt sức, nhưng không nỡ khoanh tay nhìn đồng bào bị trôi, Phạm Minh Đức lại rán hết sức cứu thêm 2 người nữa. Một cơn sóng to ập đến giữa lúc sức đã đuối, đồng chí bị dòng nước cuốn trôi và đã anh dũng hy sinh.

   Đồng đội và nhân dân địa phương vô cùng thương tiếc Phạm Minh Đức. Tấm gương hy sinh của anh đã làm rạng rỡ thêm bản chất và truyền thống của quân đội ta, một quân đội cách mạng từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mã hy sinh chiến đấu.

   Phạm Minh Đức đa được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng nhất, 5 lần được trung đoàn, sư đoàn khen và là Chiến sĩ thi đua số một cửa sư đoàn.

   Ngày 7 tháng 5 năm 1956, Phạm Minh Đức được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa truy tặng Huân chương Quân công hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


ANH HÙNG NGUYỄN ĐÔ LƯƠNG
(LIỆT SĨ)


   Nguyễn Đô Lương, sinh năm 1929, dân tộc Kinh, quê ở xã Đức Quang, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, nhập ngũ tháng 9 năm 1945. Khi hy sinh đồng  chí là trung đội trưởng trinh sát thuộc trung đoàn 108, đại đoàn 305, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Năm 16 tuổi, Nguyễn Đô Lương đã xung phong vào bộ đội theo đoàn quân Nam tiến vào chiến đấu ở chiến trường Liên khu 5.

   Tám năm liền Nguyễn Đô Lương làm trinh sát, đồng chí đã tham dự nhiều trận đánh, luôn luôn dũng cảm, linh hoạt, vượt qua mọi khó khăn, có nhiều sáng kiến để hoàn thành nhiệm vụ.

   Cuối tháng 12 năm 1946, Nguyễn Đô Lương đã dũng cảm giả làm người đi buôn, lọt vào thành phố điều tra tình hình địch suốt 3 ngày đêm liền. Đêm thứ tư đồng chí đưa đơn vị vào hoạt động. Quá trình diễn biến chiến đấu, đồng chí theo dõi, nắm chắc tình hình địch, báo cáo kịp thời tạo điều kiện cho đơn vị tiêu hao được nhiều địch, giữ vững phòng tuyến Túy Loan trong mấy tháng liền.

   Tháng 3 năm 1947, Nguyễn Đô Lương cùng đơn vị chuẩn bị đánh địch ở Đại An, Quang Nam (cũ). Vết thương ở tay chưa lành, đồng chí vẫn xin đơn vị cho làm nhiệm vụ trinh sát nắm địch. Qua một đêm theo dõi, đồng chí đã bí mật dũng cảm bắt sống 1 tù binh, khai thác được tài liệu, chuẩn bị cho trận đánh.

   Trận đánh giao thông trên đường Thanh Quýt - Quảng Nam (tháng 2 năm 1950), đồng chí Nguyễn Đô Lương đã hoàn thành nhiệm vụ trinh sát, nhưng vẫn đề nghị được trực tiếp tham gia chiến đấu tiêu diệt quân địch. Khi đơn vị xung phong đồng chí đã dũng cảm nhảy lên xe địch, vật lộn và giết chết 1 tên lính Pháp, thu 6 súng.

   Trận Diên Hòa (Quảng Nam) tháng 11 năm 1950, máy bay, pháo binh địch bắn phá dữ dội vào đội hình quân ta. Nhận nhiệm vụ đi liên lạc, đồng chí đã dũng cảm nhiều lần đi lại truyền lệnh của cấp trên cho các đơn vị được chính xác, kịp thời. Trận này, đơn vị đã đánh tan một lực lượng lớn quân địch định bao vây uy hiếp, tiêu diệt chủ lực ta.

   Cuối năm 1950, hoạt động ở miền tây Quảng Ngãi, đồng chí phụ trách trinh sát đồn Măng Giang, Mang Bút. Trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn gian khổ, cơ sở không có, có lần nhịn đói suốt 5 ngày, đồng chí đã kiên trì động viên đơn vị chịu đựng, khắc phục, điều tra được tình hình địch ở hai đồn này, xây dựng được cơ sở cách mạng và phong trào du kích ở 5 xã đồng bào dân tộc ít người.

   Tháng 5 năm 1953, Nguyễn Đô Lương phụ trách điều tra vị trí đồn Bàng (Quảng Nam). Tuy cơ sở quần chúng không có, địch thường phục kjch bất ngờ ở các ngả đường, nhưng đồng chí đã mưu trí táo bạo, 3 lần dẫn tổ vào tận đồn điều tra tỉ mỉ, chính xác rồi rút ra an toàn. Trước khi đánh, đồng chí được cử vào điều tra lần cuối cùng. Lần này Nguyễn Đô Lương đã bị địch phục kích và bắt được. Trước khi bị bắt, đồng chí đã hô to để anh em kịp thời chạy thoát. Chúng đưa đồng chí về tra tấn cực kỳ dã man, nhưng đồng chí không những không chịu khuất phục mà còn chửi thẳng vào mặt chúng. Biết không khai thác được gì ở Nguyễn Đô Lương, bọn địch đã trói đồng chí vào cột cờ, rồi khoét 2 mắt và bắn chết.

   Nguyễn Đô Lương đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng nhất, 3 lần được Bộ tư lệnh Liên khu khen.

   Ngày 7 tháng 5 năm 1956, Nguyễn Đô Lương  được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa truy tặng Huân chương Quân công hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.



ANH HÙNG TRƯƠNG VĂN LY
(LIỆT SĨ)


   Trương Văn Ly sinh năm 1924, dân tộc Kinh, quê ở xã Võ Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, nhập ngũ tháng 10 năm 1945. Khi hy sinh đồng chí là đại đội trưởng bộ binh, tiểu đoàn 86, trung đoàn 812, sư đoàn 305, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Ngay sau Cách mạng tháng Tám thành công, đồng chí Trương Văn Ly gia nhập bộ đội. Đồng chí đã chiến đấu trên 100 trận ở chiến trường Cực Nam Trung Bộ. Đồng chí luôn luôn xung phong ở bộ phận xung kích, chỉ huy đội quân cảm tử, chiến đấu dũng cảm, mưu trí, tiến công tiêu diệt địch, chi viện cho bạn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

   Năm 1947, Tiểu đoàn 86 đánh chặn 2 đại đội địch ở Mỹ Hòa, đồng chí là đại đội trưởng đại đội chủ công. Địch chống cự mạnh, tiểu đoàn trưởng hy sinh, đồng chí đã chủ động thay tiểu đoàn trưởng chỉ huy đơn vị dũng cảm xung phong, kiên quyết truy kích, diệt hơn một đại đội của chúng.

   Trong trận Cà Ná, Ninh Thuận (cũ), năm 1947, đồng chí chỉ huy một trung đội, táo bạo bố trí sát đường cái. Địch đi qua, đồng chí ra lệnh trung đội xung phong, nhanh chóng diệt gọn hai trung đội địch.

   Trong chiến dịch Hè năm 1948, trận đánh đồn Đuồng lần thứ nhất, Trương Văn Ly chỉ huy tiểu đội cảm tử giả làm phụ nữ, táo bạo tiến công vào đồn, mở đường cho đơn vị tiếp ứng đi sau vào diệt gọn một đại đội địch. Sau một thời gian, địch đóng lại đồn này, đồng chí lại chỉ huy đơn vị đánh tiếp. Suốt từ 10 giờ đêm đến 3 giờ sáng chiến đấu quyết liệt, đồng chí đã chỉ huy đại đội kiên quyết chiến đấu, dồn dập tiến công diệt gần hết đại đội địch, bọn còn lại hoảng hốt kéo cờ trắng xin hàng.

   Tháng 1 năm 1952, ta đánh trường sĩ quan địch ở Phan Thiết. Vị trí này đóng gần thị xã, địch bố phòng nghiêm ngặt.

   Trương Văn Ly chỉ huy 23 đồng chí cảm tử, táo bạo vượt qua ba vị trí địch đóng vòng ngoài, vào diệt tên lính gác, sau đó chia thành nhiều mũi bất ngờ tiến công mãnh liệt, áp đảo bọn địch, đánh tan 1 đại đội bảo vệ của chúng, diệt 80 tên học viên sĩ quan, giải tán 2 đại đội tân binh, thu 2 đại bác, 100 súng trường và rất nhiều đạn các loại.

   Trong trận phục kích ở Cầu Cháy (tháng 2 năm 1952), ta vừa nổ súng được 15 phút thì tổ súng máy bị thương vong hết. Địch phản kích mạnh, đơn vị gặp khó khăn. Đồng chí bình tĩnh trực tiếp dùng súng máy quét vào đội hình địch, rồi lệnh cho toàn đơn vị xung phong. Trương Văn Ly vượt lên đầu để chỉ huy đơn vị thì bị trúng đạn hy sinh. Căm thù sôi sục toàn đơn vị ào ạt xông lên đánh tan cả đại đội địch, diệt hơn một trung đội của chúng.

   Trương Văn Ly không những chỉ là người đại đội trưởng xuất sắc dũng cảm trong chiến đấu mà còn là người chỉ huy hết lòng thương yêu chiến sĩ, chăm lo xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Đồng chí đã 5 lần tự thân cõng anh em thương binh vượt qua lửa đạn về hậu phương an toàn.

   Ngày 7 tháng 5 năm 1956, Trương Văn Ly được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa truy tặng Huân chương Quân công hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #26 vào lúc: 21 Tháng Mười Hai, 2010, 04:30:47 pm »

ANH HÙNG LÝ VĂN MƯU
(LIỆT SĨ)


   Lý Văn Mưu sinh năm 1934, dân tộc Tày, quê ở xã Độc Lập, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng, nhập ngũ tháng 3 năm 1950. Khi hy sinh đồng chí là chiến sĩ bộ binh, đại đội 675, tiểu đoàn 251, trung đoàn 174, đại đoàn 316.

   Đồng chí Lý Văn Mưu sinh trưởng trong một gia đình nghèo, bố chết sớm, chị đi lấy chồng, chỉ còn một mẹ già.

   Năm 1947, giặc chiếm Cao Bằng, Lạng Sơn, mới 13 tuổi đồng chí đã tham gia công tác ở địa phương phục vụ kháng chiến. Năm 16 tuổi (tháng 3 năm 1950) đồng chí xung phong tòng quân giết giặc.

   Trận đánh Đông Khê lần thứ nhất năm 1950, Lý Văn Mưu là chiến sĩ đánh bộc phá. Mới chiến đấu lần đầu, đồng chí có nhiều bỡ ngỡ, chưa quen sử dụng vũ khí, nhưng với tinh thần dũng cảm, lại được cán bộ và đồng đội hướng dẫn, Lý Văn Mưu đã sử đụng bộc phá phá tung hàng rào mở cửa mở, rồi cùng anh em đánh vào tung thâm, diệt thêm ụ súng của địch.

   Trận đánh Đông Khê lần thứ hai tháng 10 năm 1950, Lý Văn Mưu ở thê đội dự bị. Khi xung kích thê đội một bị địch phản công ác liệt không dứt điểm được, đơn vị đồng chí được lệnh bước vào chiến đấu. Trận đánh gặp khó khăn ngay từ đầu cứ kéo dài mãi, càng gần về sáng địch càng phản kích mạnh, Lý Văn Mưu bị thương vào tay, nhưng đồng chí vẫn tiếp tục chiến đấu, đến khi có lệnh đưa toàn bộ thương binh, tử sĩ ra và bộ đội tạm rút về củng cố. Đồng chí lại tự nguyện xin tham gia cõng thương binh ra ngoài. Suốt 6 tiếng đồng hồ, Lý Văn Mưu đã cố gắng đem được 20 thương binh, tử sĩ về phía sau.

   Sau 1 đêm và 1 ngày chuẩn bị, quân ta lại tiếp tục tiến đánh đồn Đông Khê. Lần này, đại đội đồng chí Lý Văn Mưu nhận nhiệm vụ chủ công. Tiểu đội xung kích cua đồng chí đi đầu. Hàng rào vừa mở xong, cả tiểu đội xung phong. Đồng chí dẫn đầu một tổ đánh hết ụ súng này đến ụ súng khác, hết bộc phá, dùng lựu đạn, tiểu liên diệt địch. Địch chống cự ác liệt, đơn vị bị thương vong nhiều mà vẫn chưa giải quyết xong trận đánh. Còn một lô cốt và hầm ngầm, địch tập trung cố thủ. Đồng chí thứ nhất, thứ hai, rồi thứ ba lên đánh bộc phá đều bị thương vong. Lý Văn Mưu đề nghị cán bộ cho lên đánh. Vừa lên khỏi công sự, đồng chí đã bị hỏa lực địch tập trung bắn tới như mưa, bất chấp hiểm nguy, Lý Văn Mưa ôm quả bộc phá trước bụng vừa chạy vừa giật nụ xòe. Địch bắn đồng chí bị thương vào tay, vào chân rồi vào ngực, máu trào ra lênh láng. Đã mấy lần Mưu lảo đảo gục xuống. Nhưng rồi đồng chí gượng dậy cố trườn lên đưa quả bộc phá tới lỗ châu mai. Bộc phá nổ làm nổ liên tiếp những quả bộc phá của các đồng chí đã hy sinh và bị thương để lại. Lô cốt giặc sụp đổ tan tành và đồng chí cũng hy sinh anh dũng. Đơn vị ào ạt xung phong, buộc bọn địch còn lại phải đầu hàng. Cứ điểm Đông Khê bị tiêu diệt mở đầu cho chiến dịch giải phóng Biên Giới.

   Lý Văn Mưu đã được trung đoàn, tiểu đoàn khen thưởng nhiều lần.

   Ngày 7 tháng 5 năm 1956, đồng chí Lý Văn Mưu được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa truy tặng Huân chương Quân công hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.



ANH HÙNG NGÔ CHÍ QUỐC
(LIỆT SĨ)


   Ngô Chí Quốc sinh năm 1929, dân tộc Kinh, quê ở xã Hiệp Bình, huyện Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh, nhập ngũ tháng 3 năm 1946. Khi hy sinh đồng chí là tiểu đội phó trinh sát tiểu đoàn 303, đại đoàn 330, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Sinh trưởng trong một gia đình đánh cá nghèo. Ngô Chí Quốc bơi lặn rất giỏi. Qua 9 năm tháng gia chiến đấu ở chiến trường Đông Nam Bộ, đồng chí đã tham gia đánh trên 100 trận, cùng đơn vị diệt 941 tên địch, bắt sống 38 tên, thu 231 súng các loại. Trận nào Ngô Chí Quốc cũng nêu cao tinh thần dũng cảm, kiên quyết tiến công tiêu diệt địch, xứng đáng là lá cờ đầu của toàn đơn vị.

   Cuối năm 1946, Ngô Chí Quốc đã cùng 2 người nữa dùng thuyền nhỏ giả làm thuyền buôn tiến sát chiếc tàu tuần tiễu của địch đậu gần xưởng Ba Son (sông Sài Gòn), trinh sát và tìm cách lên tàu lấy súng. Lợi dụng đêm tối, Ngô Chí Quốc để 2 người ở lại giữ thuyền, còn mình buộc dây lần đến mạn tàu rồi táo bạo trèo vào tàu, ba lần vào ra, lấy được 1 đại liên, 1 nòng pháo 20 ly, 2.000 viên đạn và 2 hòm lựu đạn trở về an toàn.

   Năm 1947, Ngô Chí Quốc nhận nhiệm vụ lặn tìm súng đạn của Nhật trước đây đổ xuống đoạn sông Bình Lợi, Thị Nghè. Hơn 6 tháng len lỏi trong lòng địch, vượt qua bao khó khăn, lặn lội sâu quá, máu chảy ra tai, đồng chí vẫn kiên trì tìm kiếm, mò được 1 khẩu 12 ly 7, 7 khẩu súng trường, 40.000 viên đạn các cỡ về trang bị cho đơn vị, góp phần giải quyết một khó khăn lớn về nạn thiếu vũ khí của bộ đội ta lúc đó.

   Trận đánh đồn Lái Thiêu tháng 3 năm 1949, đồng chí phụ trách một mũi, vượt qua nhiều lớp rào và tốp lính tuần tra vào đặt bộc phá sát lỗ châu mai. Khi có lệnh nổ súng, đồng chí giật bộc phá đánh sập một lô cốt rồi nhanh chóng phát triển vào bên trong. Địch chui xuống hầm cố thủ chống cự mạnh, đồng chí dùng lưu đạn diệt gọn 2 tiểu đội, cùng với đơn vị tiêu diệt đồn này.

   Trong trận Cầu Đinh (tháng 4 năm 1952) Ngô Chí Quốc bị thương nặng chưa kịp ra, địch bắt được tra tấn dã man, chết đi sống lại, đồng chí vẫn không khai, luôn luôn tìm cách vượt ngục. Vượt lần thứ nhất bị lộ, Ngô Chí Quốc dũng cảm đứng lên nhận tất cả trách nhiệm, chịu đòn thay cho anh em. Lần thứ hai, nhân lúc trời bão, đồng chí đã đưa được 7 cán bộ cùng thoát về đơn vị an toàn.

   Trận Cầu Đinh lần thứ hai (tháng 3 năm 1954), ở đây địch bố trí một đại đội có công sự kiên cố, chúng cho là nơi bất khả xâm phạm và thường tung tin thách bộ đội ta vào đánh. Ngô Chí Quốc chỉ huy tiểu đội bộc phá đánh vào đến hàng rào thứ 3 thì bộc phá hết, vẫn còn vướng 2 khung hàng rào mái nhà nữa. Đồng chí liền bò lên dùng kéo cắt một đầu rào rồi nhanh nhẹn xông lên kéo tung hàng rào ra cho bộ đội tiến vào. Địch bắn mạnh ra đường mở, đồng chí bị thương nặng ngã xuống, xung kích vẫn chưa vào được. Trước hỏa lực ác liệt của địch, Ngô Chí Quốc giao súng cho đồng chí khác rồi lăn chếch sang hướng khác (xa đội hình tiến công của đơn vị) và hô lớn: Xung phong! Địch tưởng ta chuyển hướng nên tập trung hỏa lực bắn về phía đó. Ngô Chí Quốc đã anh dũng hy sinh, nhưng đơn vị đã tiến vào tiêu diệt được toàn bộ đồn này.

   Ngô Chí Quốc đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng nhất, 12 lần được tiểu đoàn và trung đoàn khen và được bầu là Chiến sĩ thi đua của toàn đơn vị.

   Ngày 7 tháng 5 năm 1956, Ngô Chí Quốc được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa truy tặng Huân chương Quân công hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


ANH HÙNG VỪU
(LIỆT SĨ)

   Vừu sinh năm 1905, ở xã Đăc Đoa, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai, dân tộc Ba Na. Khi hy sinh đồng chí là chủ tịch xã kiêm xã đội trưởng xã Nam Đắc Đoa, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo Vừu sớm được giác ngộ cách mạng. Năm 1939, Vừu đã là một trong những người đầu tiên tham gia phong trào “đất nước đứng lên" chống bắt phu bắt lính ở địa phương.

   Cách mạng tháng Tám thành công, Vừa hăng hái tham gia xây dựng chính quyền. Tháng 6 năm 1946, Pháp đánh chiếm Kon Tum, đồng chí bị đứt liên lạc với tổ chức từ đó. Hơn 2 năm mất liên lạc, đồng chí vẫn chủ động, tích cực, bí mật làm công tác tuyên truyền vận động quần chúng. Tháng 3 năm 1949, đội tuyên truyền vũ trang về địa phương, Vừu bắt liên lạc được với đội và tiếp tục hoạt động.

   Giặc ngày càng tăng cường hoạt động, tổ chức mạng lưới tề điệp dày đặc ở kháp các buôn làng, đồng chí tìm mọi cách đến từng nhà, vạch rõ âm mưu của giặc cho đồng bào các dân tộc biết. Vừu đã vận động  đồng bào các dân tộc tiếp tế nuôi 10 đồng chí trong đội vũ trang suốt 8 tháng liền. Vừu còn dẫn đường cho đội vũ trang phục kích diệt gọn đội tuần tiễu của địch gồm 14 tên, và bắt được tên Vít, một tên tay sai đi theo giặc có nhiều nợ máu với nhân dân.

   Một lần, trong lúc đang đi tuyên truyền vận động nhân dân, Vừu bị địch ập vào bắt. Chúng đánh đập tàn nhẫn và giai đồng chí về Đắc Đoa. Đồng chí đã không khai báo mà còn chửi thằng vào mặt tên Thông là tên phản cách mạng, đầu hàng,vạch rõ bộ mặt phản bội của hắn. Không khai thác được điều gì chúng đành phải giải đồng chí lên Kon Tum nộp cho cấp trên của chúng. Nửa đường, nhân lúc chúng sơ hở, đồng chí chạy vào rừng trốn thoát, sau lại về quê tiếp tục hoạt động.

   Tháng 8 năm 1950, Vừu làm chủ tịch xã, tuy sức yếu, đồng chí vẫn hăng hái hoạt động, góp phần xây dựng lực lượng dân quân du kích vững mạnh, đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích ở địa phương. Một hôm đồng chí đi công tác, dọc đường bị mưa ướt, đói rét, vừa về đến nhà thì địch xuyên rừng ập đến bao vây bắt được. Chúng dùng báng súng giáng tới tấp vào người rồi lấy dao nhọn rạch nát da thịt đồng chí. Nhưng đồng chí Vừu nhất mực không khai. Chúng bắt đồng chí đi theo lùng sục ở chiến khu để nhận mặt cán bộ. Gần đến nơi, đồng chí đã kêu to báo động để 6 cán bộ của ta nghe động trốn thoát. Địch xô vào lùng sục; nhân lúc lộn xộn đồng chí lại trốn thoát vào rừng.

   Tháng 4 năm 1952, trong khi đi công tác, đồng chí Vừu lại bị địch phục kích bắt được. Lần này chúng tra tấn đủ mọi cực hình; cắt 2 tai, chặt 10 ngón tay, rồi xẻo mũi, nhưng đồng chí vẫn nêu cao khí tiết người chiến sĩ cách mạng không hề khai báo mà còn nói thẳng vào mặt chúng: "Chúng mày có giết tao thì trăm ngàn người như tao sẽ giết chúng mày!”. Cuối cùng, biết thế nào mình cũng chết, đồng chí đã dùng mưu lừa địch: dẫn bọn chúng đến nơi trước đây đồng chí đã cùng dân quân du kích bố trí hầm chông, nói là chiến khu bí mật của ta. Bọn địch sục vào bị sập hầm chông, chết và bị thương hàng chục tên, chúng điên cuồng dã man dùng dao khoét 2 mắt, bắn chết đồng chí rồi vứt xác xuống sông.

   Trải qua 12 năm hoạt động, Vừu lúc nào cũng tận tụy kiên trì, trung thành với cách mạng, một lòng một dạ phục vụ nhân dân nêu cao dũng khí cách mạng trước quân thù.

   Năm 1953, trong Đại hội liên hoan chiến sĩ thi đua Liên khu 5, đồng chí được tuyên dương công trạng toàn Liên khu.

   Ngày 7 tháng 5 năm 1956, Vừu được Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa truy tặng Huân chương Quân công hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #27 vào lúc: 21 Tháng Mười Hai, 2010, 04:35:16 pm »

ANH HÙNG TRẦN Á


   Trần Á sinh năm 1928, quê ở xã Duy Vinh, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quang Nam - Đà Nẵng, nhập ngũ tháng 8 năm 1948. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là đại đội trưởng vận tai thuộc Liên khu 5, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Suốt 5 năm làm nhiệm vụ vận tải đường biển, đưa vũ khí và cán bộ từ vùng tự do Liên khu 5 vào chiến trường Cực Nam Trung Bộ, đồng chí Trần A đã cùng đồng đội dũng cảm bình tĩnh, mưu trí vượt qua lưới bố phòng nghiêm ngặt của địch và qua bao hiểm nguy sóng to gió lớn, bao mũi đá ngầm, bảo đảm 19 chuyến đi, đưa cán bộ và hơn 60 tấn vũ khí tới đích an toàn, góp phần tích cực vào việc chi viện cho chiến trường Cực Nam Trung Bộ trong những ngày tháng khó khăn nhất.

   Chuyến đầu tiên (năm 1948), các đồng chí chở một số thùng xăng để rút kinh nghiệm cho những chuyến  đi sau, giữa đường gặp sóng to, bão lớn, thuyền chìm. Trần A cùng một đồng chí nữa bình tĩnh bơi tìm, vớt được hai thùng xăng đưa vào bờ, rồi lại tiếp tục bơi ra tìm vớt các thứ khác. Lúc về, 17 anh em bị vây, các đồng chí đã mưu trí giả làm dân đánh cá, vượt vòng vây của địch an toàn.

   Năm 1949, Trần Á chỉ huy phân đội chở 3 tấn vũ khí vào đến vùng biển Phú Yên thì gặp địch. Đồng chí dùng mưu đánh lạc hướng địch rồi bình tĩnh cho thuyền men theo mép sông thoát ra ngoài. Thuyền của ta vào đến Hòn Khói (Khánh Hòa), vì sương mù nên đi gần tới tàu giặc mới biết. Đồng chí vẫn bình tĩnh đẩy thuyền ra hướng Hòn Lao rồi nhanh chóng giấu hàng, vừa xong thì trời sáng, đến tối lại đưa hàng xuống thuyền và tiếp tục chở tới đích an toàn.

   Năm 1950 đồng chí phụ trách 3 thuyền vào đến Cam Ranh thì bị 3 tàu giặc vây và rọi đèn săn đuổi. Đồng chí Trần Á cho thuyền lùi lại nép vào khe đá chờ tàu địch vượt qua, rồi đồng chí lanh lẹ vượt ra khỏi vòng vây. Giao hàng xong thuyền Trần A quay ra, lại gặp địch ở cửa Nha Trang. Trong thuyền có 6 cán bộ, đồng chí nhanh chóng giấu cán bộ vào trong khoang rồi giả làm thuyền đánh cá, bơi lẫn vào các thuyền của dân, đi thoát.

   Năm 1951, Trần Á lái một thuyền lớn chở 15 tấn vũ khí gặp sóng to gió lớn, anh em say sóng, bánh lái thuyền bị gẫy một nửa, máy bay địch quần lượn theo dõi, đồng chí vẫn bình tĩnh ra sức chèo chống. lựa sóng lái thuyền xuôi theo dòng nước. Đồng chí đã giăng lưới bắt cá, ngụy trang giả thuyền đánh cá của dân, che mắt máy bay địch, nhờ đó đã cập bến an toàn.

   Năm 1952, Trần Á phụ trách đoàn thuyền 8 chiếc chở hàng. Thuyền Trần Á đi đầu đội hình, vừa về đến Cam Ranh bất ngờ gặp tàu địch đi tuần. Đồng chí ra hiệu cho các thuyền sau giạt vào bờ chạy thoát, riêng thuyền Trần Á không quay lui tháo chạy mà tiến thằng tới khu vực các đoàn tàu buôn, tàu chiến của địch đang đậu ở cảng, nhanh chóng lách vào giữa các tàu buôn, rồi chui ra lẫn vào giữa đoàn thuyền đánh cá của dân; tàu tuần tra địch không tìm được; thuyền đồng chí lại ra đi an toàn.

   Trần Á đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng nhì, 1 Huân chương Chiến công hạng ba, 3 lần phòng hậu cần Liên khu 5, 2 lần Bộ tư lệnh và Ủy ban kháng chiến miền Nam khen, và được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua toàn Liên khu.

   Ngày 7 tháng 5 năm 1956, Trần Á được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


ANH HÙNG BÙI VĂN BA


   Bùi Văn Ba sinh năm 1929, dân tộc Kinh, quê ở Rạch Cát, ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh, nay là phường 22, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, nhập ngũ tháng 11 năm 1947. Khi được tuyên dương Anh ' hùng đồng chí là trung đội phó đặc công, phân liên khu miền Tây Nam Bộ, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Là một chiến sĩ đặc công, gần 7 năm chiến đấu và hoạt động ở chiến trường Nam Bộ, Bùi Văn Ba được giao nhiệm vụ bám sát nhân dân xây dựng cơ sở, điều tra nắm vững địch, tạo điều kiện cho đơn vị đánh những trận hiểm vào nơi xung yếu của địch trong thành phố. Đồng chí đã trực tiếp điều tra và tham gia chiến đấu 7 trận: đặc biệt là trận đánh bọn giặc lái máy bay Pháp ở sân bay Tân Sơn Nhất và đánh kho bom Phú Thọ. Đồng chí đã nêu cao tinh thần dũng cảm mưu trí, táo bạo, kiên trì khắc phục mọi khó khăn, kiên quyết tấn công tiêu diệt địch, lập công xuất sắc.

   Tháng 9 năm 1952, để kỷ niệm ngày Nam Bộ kháng chiến, đồng chí Bùi Văn Ba nhận nhiệm vụ tiêu diệt bọn sĩ quan lái máy bay ở sân bay Tân Sơn Nhất. Vị trí địch bố trí sâu trong thành phố, canh phòng nghiêm mật, đồng chí đã dũng cảm chỉ huy tổ ba người bí mật đột nhập vào. Cả tổ động viên nhau kiên trì nằm bám bí mật suốt đêm hôm đó và ngày hôm sau chờ thời cơ tốt nhất đế đánh địch. Trời vừa tối bọn sĩ quan địch đã tập trung đông chè chén ở câu lạc bộ sĩ quan. Thời cơ hành động đã đến. Bùi Văn Ba và một đội viên nữa nhanh nhẹn vượt qua vọng gác, xông thẳng vào câu lạc bộ. Vừa tới cửa, bọn địch bên ngoài phát hiện hô lên và nổ súng, nhưng 2 đồng chí đã lọt được vào trong, liên tiếp ném thủ pháo và xả súng diệt địch. Chúng bị bất ngờ, không kịp đối phó chết chồng lên nhau. Ra tới ngoài, nhân bọn địch đang rối loạn, Bùi Văn Ba bồi quả thủ pháo nữa diệt thêm một số, rồi rút ra an toàn. Trận này, tổ đồng chí giết và làm bị thương hơn 50 tên lái máy bay, một sinh lực rất quý giá của giặc Pháp lúc bấy giờ, ở ngay giữa hậu phương chúng cho là rất an toàn, khiến kẻ địch rất hoang mang, lo sợ, nhân dân ta thì tin tưởng phấn khởi.

   Ngày 6 tháng 1 năm 1954, Bùi Văn Ba nhận nhiệm vụ đánh kho bom Phú Thọ. Khu kho này rộng gần 3.000 mét vuông, địch bố phòng hết sức nghiêm ngặt, ngoài cùng chúng bố trí 6 hàng rào dây thép gai, cách 25 mét có một bóng đèn sáng và cứ 100 mét lại có bốt gác. Trong rào, chúng bố trí mìn và bẫy chông sắt dày đặc, xung quanh có đường lớn, chúng thường tuần tiễu bằng mô tô, xe đạp, bộ binh và chó béc-giê. Ngoài hàng rào là một bãi trống bằng phẳng, đèn pha từ các lô cốt thường xuyên bật sáng để phát hiện đối phương từ xa. Lực lượng cơ động phòng thủ bên trong là một đại đội Âu Phi, bên ngoài 2 tiểu đoàn ứng chiến, ngoài ra còn mạng lưới tề điệp dày đặc cứ 15 phút lại phải báo cáo về bọn chỉ huy của chúng một lần.

   Đã nhiều lần Bùi Văn Ba cùng đồng đội lọt vào xây dựng cơ sở và điều tra khu vực kho bom, nhưng đều bị chúng phát hiện phá vỡ cơ sở và bị thương vong một số đồng chí. Gần 2 năm kiên trì bám địa bàn, dũng cảm vượt qua muôn vàn thử thách ác liệt, cuối cùng tổ đồng chí đã điều tra xong và lập được kế hoạch tác chiến báo cáo lên trên.

   Đêm 5 rạng ngày 6 tháng 1 năm 1954 được lệnh trên, Bùi Văn Ba chỉ huy 10 người vào đánh kho bom. Nắm vững quy luật bố phòng và nhằm đúng nơi sơ hở của địch, đồng chí dẫn đầu một tổ đi trước cắt rào gỡ mìn, sau đó đưa toàn đội vào đặt mìn rồi rút ra êm thấm gọn gàng. Tiếng mìn nổ dữ dội ở khu bom Phú Thọ đêm đó đã làm chấn động dư luận trong và ngoài nước. Ta đã phá hủy 10.000 tấn bom đạn, 80.000 lít dầu xăng, 28 khu nhà kho lớn, cùng một đại đội Âu Phi bị hủy diệt hoàn toàn.

   Bùi Văn Ba đã được tặng thương 1 Huân chương Chiến công hạng nhất, được thành đội Sài Gòn khen và là Chiến sĩ thi đua của Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn.

   Ngày 7 tháng 5 năm 1956, Bùi Văn Ba được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


ANH HÙNG TRIỆU VĂN BÁO


   Triệu Văn Báo sinh năm 1932, dân tộc Tày, quê ở xã Tri Viễn, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng, nhập ngũ tháng 1 năm 1950. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là đại đội phó thông tin thuộc đại đoàn 316, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Năm 14 tuổi, Triệu Văn Báo làm liên lạc cho xã. Có thời gian cơ quan phân tán ở cách nhau 6, 7 ki-lô-mét, suốt 3 tháng liền bất kể ngày đêm, đồng chí vẫn bền bỉ bảo đảm chuyển công văn đầy đủ, kịp thời.

   Năm 1948, Triệu Văn Báo tham gia công an xung phong cua tỉnh, đồng chí đã cùng với dân quân dũng cảm phá cầu, cắt dây điện thoại gây nhiều khó khăn cho địch.

   Từ khi vào bộ đội, (tháng 1 năm 1950) Triệu Văn Báo là một chiến sĩ thông tin, đồng chí luôn luôn nêu cao tinh thần dũng cảm, hết lòng phục vụ đơn vị chiến đấu, kiên quyết vượt qua mọi thử thách ác liệt, đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt, nêu tấm gương tiêu biểu cho toàn thể đơn vị học tập.

   Trận diệt đồn La-ri-vê (Bắc Ninh), năm 1952, lần đầu tiên đơn vị đánh địch trong công sự vững chắc, đồng chí làm tổ trưởng thông tin, phụ trách đường dây từ tiểu đoàn đến đại đội. Tiểu đoàn ra lệnh nổ súng. Đại đội trưởng vừa định bắn súng báo hiệu tiến công thì bị trúng đạn hy sinh. Triệu Văn Báo đã không chậm trễ, chủ động hô to lềnh phát hỏa: bao đảm sự thống nhất hiệp đồng giờ nổ súng tiến công cho toàn đơn vị. Pháo binh địch bắn tới tấp. Lần thứ tư đường dây lại đứt giữa lúc tình hình khẩn cấp: đơn vị đang phát triển vào bên trong gặp một lô cốt địch bắn cản dữ dội, đang cần phía sau đem bộc phá lên. Trước yêu cầu khẩn trương ấy, Triệu Văn Báo đã không ngần ngại, dũng cảm cắn 2 đầu dây làm điểm nối cho dòng điện chạy qua, máy quay gấp, đồng chí bị điện giật ngất đi, nhưng mệnh lệnh đã được truyền đạt kịp thời, bộc phá được nhanh chóng đưa lên đánh sập lô cốt giặc.

   Trận Cầu Ngà (Bắc Ninh), năm 1952, đơn vị làm nhiệm vụ đánh chặn viện. Trong lúc đang nổ súng, đại đội đồng chí còn thiếu 500 mét dây nữa mới liên lạc được với tiểu đoàn. Triệu Văn Báo đã dũng cảm chạy bộ dưới tầm đạn pháo của địch chuyển lệnh 7 lần, giữ vững mối liên lạc của trận đánh. Có lần đạn địch bắn rát, đồng chí phải dùng động tác lăn từ trên sườn đồi xuống rãnh nước dưới chân đồi rồi lại tiếp tục chạy đi truyền lệnh. Nhờ đó đã bảo đảm chỉ huy thông suốt, góp phần giành thắng lợi cho trận đánh.

   Trận Vận Tải, (Hải Dương), 2 trung đội của ta đã vào sát hai bên đồn thì bị lộ. Địch bắn ra ác liệt, lực lượng đại đội chưa vào hết. Trước mặt lại vướng đầm lầy, đồng chí không ngần ngại đặt máy lên lưng bò xoài trên mặt đầm, đưa máy vào trước, mở đường an toàn qua bãi lầy cho đại đội trưởng và lực lượng phía sau nhanh chóng, vào chiếm lĩnh trận địa, nổ súng kịp thời.

   Khi gần kết thúc trận đánh, đại đội trưởng bị thương nặng, Triệu Văn Báo chủ động cùng 2 người nữa đặt đại đội trưởng lên lưng rồi trườn qua bãi lầy đưa ra ngoài an toàn.

   Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công hạng nhì, 4 lần được trung đoàn khen, là Chiến sĩ thi đua của trung đoàn, đại đoàn và Chiến sĩ thi đua toàn quốc năm 1952.

   Ngày 7 tháng 5 năm 1956, Triệu Văn Báo được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #28 vào lúc: 21 Tháng Mười Hai, 2010, 04:38:13 pm »

ANH HÙNG LÒ VĂN BƯỜNG



   Lò Văn Bường sinh năm 1924, dân tộc Thái, quê ở xã Thanh Cao, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa, nhập ngũ tháng 8 năm 1948. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là trung đội phó bộ binh thuộc đoàn 335, bộ đội tình nguyện, đảng viên Đảng Cộng sản việt Nam.

   Năm năm chiến đấu và hoạt động ở miền Tây giúp bạn, đồng chí Lò Văn Bường luôn luôn nêu cao tinh thần tận tụy, hy sinh của người chiến sĩ cách mạng. Đặc điểm công tác của đồng chí là âm thầm hoạt động xây dựng cơ sở năm này qua năm khác ở những vùng sau lưng địch mà ta chưa có cơ sở, hoặc cơ sở vừa bị tan vỡ. Với muôn ngàn khó khăn gian khổ; rừng núi âm u, khí hậu khắc nghiệt, địch khủng bố, dân chưa giác ngộ, sinh hoạt thiếu thốn, đói rét, bệnh tật liên miên, nhưng đồng chí đã cùng anh em kiên trì tìm dân, bám dân, quyết tâm hoạt động xây dựng và củng cố cơ sở cách mạng. Các đồng chí đã xây dựng được cơ sở ở 28 làng, lập được 70 đội du kích, đào tạo được nhiều cán bộ làm nòng cốt ở địa phương. Tổ chức lãnh đạo nhân dân hai lần phá vỡ âm mưu "dồn dân" của địch. Trong thành tích chung đó, đồng chí Lò Văn Bường dã đóng góp phần công lao xứng đáng.

   Tháng 3 năm 1950, tổ công tác của Lò Văn Bường nhận nhiệm vụ đi trước vào ban H. nắm tình hình, vận động tổ chức nhân dân và chuẩn bị lương thực. Sau 2 tháng, các đồng chí đã tổ chức được cơ sở, tạo được bàn đạp cho toàn đội tiến vào hoạt động sâu vùng sau lưng địch. Các đồng chí còn được nhân dân giúp đỡ 7 tạ gạo và 2 con lợn làm lương thực đi đường.

   Tháng 11 năm 1950, tổ đồng chí vào xây dựng cơ sở ở một vùng khác để tổ chức đường liên lạc từ đội về khu. Đây là một vùng do địch kiểm soát, chúng thường hay tuần tra, lùng sục. Tổ đồng chí phải nằm rừng, ngày ra nương đón dân đi làm để tuyên truyền vận động, vạch rõ âm mưu địch, dần dần giác ngộ cho dân. Sau 2 tháng kiên trì tích cực, tổ đã xây dựng được cơ sở ở 5 bản vững vàng. Một lần được tin địch tiến hành âm mưu "dồn dân", Lò Văn Bường đang làm nhiệm vụ chăm sóc anh em ốm trong đội, vội đi xem tình hình ngay. Mấy ngày tiếp sau, vừa chăm sóc đồng đội, vừa len lỏi bám sát, vận động tổ chức nhân dân phá vỡ âm mưu địch, giữ vững được hệ thống cơ sở trên đường dây liên lạc.

   Tháng 9 năm 1951, Lò Văn Bường được bổ sung về một tổ khác, nhận nhiệm vụ đi củng cố một cơ sở vừa bị vỡ. Vùng này gần đồn địch, chúng khống chế mạnh, nhân dân lại vừa bị nạn lụt, đang đói. Đồng chí tổ trưởng bị địch bắn, hy sinh giữa lúc đang tiến hành công tác. Cả tổ chỉ còn một mình Lò Văn Bường biết tiếng địa phương, đồng chí đã kiên trì vận động từng người dân, từng bước tổ chức quần chúng chống đói và đấu tranh phá tan âm mưu dịch. Sau 3 tháng, cơ sở cách mạng ở đây đã được củng cố lại vững chắc.

   Tháng 1 năm 1952, tổ Lò Văn Bường lên xây dựng cơ sở. Một buổi chiều đồng chí vào bản, gặp 1 trung đội địch đang đi lùng sục. Tên đi đầu phát hiện thấy Lò Văn Bường, vừa kêu lên thì đồng chí đã nhanh nhẹn nằm xuống bắn chúng bị thương mấy tên. Địch tập trung bắn dữ dội về hướng đồng chí. Địa hình trống trải không chỗ nấp, đồng chí bị 5 vết thương ở tay phải, lưng, và mắt phải. Tưởng đồng chí đã chết, chúng bỏ đi, sục vào nhà dân để vơ vét. Lợi dụng lúc sơ hở đó của địch, Lò Văn Bường cố lết dần ra rừng, bò về nơi tạm trú của tổ. 5 ngày không có thuốc, các vết thương của Lò Văn Bường càng nặng, cả tổ lo lắng cho đồng chí nhưng đồng chí lại lo địch khủng bố các cơ sở bị vỡ; nên đồng chí động viên anh em đi củng cố giữ vững cơ sở, mà đừng lo lắng quá đến mình. Sau có y tá lên chăm sóc và được nhân dân giúp đỡ, các vết thương lành dần, Lò Văn Bường lại tiếp tục công tác ngay. Cuối năm 1952, đồng chí được điều lên hoạt động ở một huyện có nhiều khó khăn. Suốt 3 tháng phải ăn ngô với rau rừng trừ bữa, đồng chí đã cùng với cán bộ địa phương củng cố lại các cơ sở và tổ chức phòng chống biệt kích, bảo đảm an ninh, phát triển phong trào du kích ở địa phương.

   Lò Văn Bường đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng nhì, được Khu và đoàn khen 3 lần, là chiến sĩ thi đua của bộ đội tình nguyện giúp bạn.

   Ngày 7 tháng 5 năm 1956, Lò Văn Bường được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


ANH HÙNG DƯƠNG QUẢNG CHÂU


   Dương Quảng Châu, (tức Dương Ngọc Chiến), sinh năm 1929, dân tộc Kinh, quê ở xã Quảng Châu, huyện Phù Tiên, tỉnh Hải Hưng, nhập ngũ tháng 5 năm 1948. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là trưng đội phó đại đội quân báo trung đoàn 36, đại đoàn 308, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Do hoàn cảnh thiếu đói, gia đình Dương Quảng Châu phải bỏ làng chạy lên Thái Nguyên làm tá điền. Sau Cách mạng tháng Tám, ba lần đồng chí xung phong đi bộ đội nhưng không đủ sức khỏe, đến 1948 đồng chí vào bộ đội địa phương, sau chuyển sang chủ lực. Suốt 5 năm chiến đấu, đồng chí đã dự các chiến dịch từ Biên Giới đến Điện Biên Phủ, lúc nào cũng nêu cao tinh thần dũng cảm, mưu trí, linh hoạt của một chiến sĩ quân báo, điều tra tỉ mỉ, cụ thể, gặp địch là chủ động kiên quyết tấn công, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

   Năm 1949, một mình Dương Quảng Châu nhận nhiệm vụ đi trinh sát bốt Bồng Lai, Hạ Trì, Hà Đông, 2, 3 ngày địch vây, bị đói nằm trong lòng địch đồng chí vẫn kiên trì khéo léo giả làm phu lọt vào trong bốt địch trinh sát cụ thể, rồi mới tìm cách thoát ra, trở về đơn vị báo cáo.

   Chiến dịch Biên Giới năm 1950, địch đánh lên Khâu Luông, Dương Quang Châu được lệnh từ Thất Khê quay về làm nhiệm vụ. Giữa đường phát hiện có tàn binh địch lẩn trốn trong rừng, đồng chí liền chỉ huy anh em nhanh chóng bao vây, vừa nổ súng uy hiếp, vừa kêu gọi đầu hàng, bắt được 4 tên.

   Năm 1953, đơn vị giao nhiệm vụ điều tra bốt Thái Đào, Bắc Giang. Dương Quang Châu chỉ huy một mũi, luồn lách vượt qua hai con đường thường xuyên có lính tuần tra, một con sông máng và 11 hàng rào, vào sát tận nơi điều tra nắm chắc tình hình về báo cáo.

   Cuối năm 1953, trên đường truy kích địch ở Mường Ngòi, Dương Quảng Châu chỉ huy một tiểu đội vượt sông đuổi địch. Tổng cộng trong ngày đồng chí đã 9 lần dũng cảm dẫn đầu tiểu đội đánh tan một tiểu đoàn địch. Khi súng hết đạn, Dương Quảng Châu đã lấy súng đạn địch tiếp tục truy kích, săn lùng những tên còn đang lẩn trốn.

   Một lần khác ở Nậm Bạc, tiểu đội đồng chí truy kích địch suốt từ sáng tới khi trời gần tối, anh em vừa dừng lại tạm nghỉ ăn cơm, đột nhiên 4 tên tàn binh địch xuất hiện bất ngờ, tên đi đầu hung hăng giương súng bắn, nhanh tay đồng chí gạt được súng ra và dùng dao đâm nó ngã ngay tại chỗ 3 tên kia hốt hoảng giơ tay hàng. Hôm sau đánh Nậm Ngà; tổ Dương Quảng Châu đang chuẩn bị thì 1 đại đội địch ập tới, chúng xả súng bắn, đồng chí nhanh nhẹn chỉ huy anh em nấp vào các gốc cây bắn trả quyết liệt, làm chúng chết và bị thương một số. Cùng lúc đó đơn vị ở phía sau vận động lên, kịp thời bao vây địch. Lợi dụng lúc chúng đang nhốn nháo, đồng chí nhảy ra bắt sống 1 tên, rồi bắt nó gọi hàng được 46 tên, thu 43 súng, cùng với đơn vị tiêu diệt gọn đại đội địch.

   Trong thời gian chuẩn bị chiến trường Điện Biên Phủ, một hôm đơn vị đi làm nhiệm vụ vắng, chỉ còn Dương Quảng Châu và một chiến sĩ bị sốt nằm nhà. Gần trưa, cơn sốt vừa dứt, Dương Quảng Châu đang ngồi lau súng, thấy một toán địch đi từ hướng Lai Châu về, đồng chí bình tĩnh phán đoán là lũ tàn binh địch vừa bị ta đánh hôm trước, liền mưu trí hô to nghi binh, rồi xông ra chẹn bắt được 22 tên, thu 8 súng. Ngày hôm sau Dương Quảng Châu còn chỉ huy tổ lùng bắt 10 tên nữa. Bước vào Chiến dịch, trong một trận đánh phản kích, đồng chí bị thương gẫy chân không di động được, nhưng vẫn nằm tại chỗ bình tĩnh giao nhiệm vụ cho tổ và động viên anh em quyết tâm chiến đấu.

   Trong khi nằm điều trị, Dương Quảng Châu đã gương mẫu tham gia lao động, góp phần xây dựng viện và giúp đỡ nhân dân, xung phong vận động 60 đồng chí thương binh còn khỏe cùng với 50 đồng bào đắp đoạn đê ngập, cứu lụt được 480 mẫu lúa.

   Dương Quảng Châu đã được Bác Hồ tặng Huy hiệu của Người, được thưởng 3 Huân chương Chiến công hạng nhì, 9 lần được tiểu đoàn, trung đoàn, đại đoàn khen và là Chiến sĩ thi đua của đại đoàn.

   Ngày 7 tháng 5 năm 1956, Dương Quảng Châu được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #29 vào lúc: 18 Tháng Giêng, 2011, 03:42:17 pm »

ANH HÙNG ĐỖ VĂN CHÂU


   Đỗ Văn Châu, sinh năm 1934, dân tộc Kinh, quê ở xã Hạ Bằng, huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây, nhập ngũ tháng 2 năm 1951. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là trung đội phó bộ binh tải thương thuộc trung đoàn 48, đại đoàn 320, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Suốt từ ngày nhập ngũ, Đỗ Văn Châu được phân công làm nhiệm vụ tải thương. Đồng chí đã xác định rõ trách nhiệm và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ qua 12 trận đánh lớn. Dù gặp khó khăn ác liệt đến đâu, Đỗ Văn Châu vẫn nêu cao tinh thần gương mẫu, dũng cảm, tận tụy quên mình để giải quyết đưa thương binh, tử sĩ về nơi an toàn. Có những lần bị thương, bị ốm, nhịn đói, khiêng nặng đi xa, đồng chí vẫn gương mẫu và tổ chức động viên anh em đoàn kết giúp đỡ nhau, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ: giữ vững danh hiệu tiểu đội tiên tiến về mọi mặt.

   Trận Yên Bình, Ninh Bình, tháng 11 năm 1952, khi đơn vị nổ súng, tổ tải thương của Đỗ Văn Châu còn ở tuyến sau. Trận đánh đang diễn biến gay go, nhưng khi biết có người bị thương, đồng chí đã chủ động dẫn tổ chạy trên con đường độc đạo đang bị địch bắn kiềm chế ác liệt, nhanh chồng cõng được 3 thương binh đi xa 7 cây số về trạm an toàn.

   Trận tập kích Trại Chuối, Nam Định (1952) không thành công. Đơn vị đã rút, song trên trận địa còn lại một thương binh. Mặc cho hỏa lực địch bản ra dày đặc, đồng chí quyết tâm dẫn tổ chạy quay lại: bò vào sát đồn, tìm kỳ được và đưa đồng chí thương binh về nơi tập kết an toàn.

   Trận chống càn An Nông, Nam Định, Thu Đông năm 1952, địch dùng 3 tiểu đoàn và 40 xe cơ giới bao vây tiến công gần 1 đại đội của ta. Tiểu đội đồng chí phải làm nhiệm vụ dưới hỏa lực ác liệt của địch. Tiểu đội trưởng và một chiến sĩ hy sinh, trong anh em có người ngần ngại. Đỗ Văn Châu vượt ngay lên dẫn đầu tiểu đội dùng hành động gương mẫu của mình để khích lệ anh em, một mặt cất giấu thương binh, mặt khác phối hợp với xung kích chiến đấu. Địch thả bom na-pan, bom cháy, đồng chí xông vào cõng một thương binh nặng đưa về trạm, rồi cùng các đồng chí khác tìm nong, đắp bùn che cho thương binh ở chỗ cất giấu an toàn. Địch tiến công mãnh liệt bằng nhiều mũi vào trận địa ta. Ở một mũi y tá chưa lên kịp, đồng chí đảm nhiệm băng cho thương binh trước khi tập trung về một chỗ và tranh thủ chuyển đạn của anh em bị thương tiếp cho đồng đội chiến đấu. Giữa lúc đó ở một hướng khác, địch tấn công lên mạnh, đồng chí dùng ngay súng đạn địch chết bỏ rải rác trên trận địa, cùng anh em chiến đấu đánh bật đợt phản kích của chúng. Vừa xong thì ở mũi bên cạnh, đồng chí xạ thủ trung liên hy sinh, địch lợi dụng xô lên. Đỗ Văn Châu chạy tới sử dụng trung liên bắn cản chúng lại. Được một lúc, trung liên bị hóc, địch lại xô lên, đồng chí cùng anh em dùng lưỡi lê, lựu đạn đánh bật bọn địch ra ngoài và tiếp tục ở lại chiến đấu cho đến khi bị thương không thể chiến đấu được nữa mới thôi.

   Trận Quỳnh Côi, Thái Bình năm 1952, Đỗ Văn Châu đã bị sốt mấy ngày trên đường hành quân, nhưng khi có lệnh chiếp đấu, đồng chí vẫn cố xin được tham gia. Bước vào trận chiến đấu, được tin có đồng chí bị thương nặng ngay ở cửa mở, đồng chí không nề nguy hiểm, vượt lên băng bó và cõng chạy về trạm an toàn. Sau đó đồng chí lại quay lại tiếp tục cùng anh em chuyển thêm 2 cáng thương binh nữa.

   Trận chống càn Sa Đê, Nam Định năm 1953, suốt một ngày nhịn đói và bị lạc đơn vị, Đỗ Văn Châu vẫn động viên giữ vững tinh thần đồng đội, chăm sóc chu đáo thương binh, khiêng cáng suốt ngày cho tới khi tìm thấy quân y.

   Trận Kinh Thanh, Hà Nam, năm 1954, đơn vị vào chiếm lĩnh trận địa bị lộ, súng các cỡ trong đồn địch bắn ra như mưa, ta bị thương vong một số. Đồng chí dẫn đầu tiểu đội vào lấy thương binh, bị thương vào tay, đồng chí vẫn giấu anh em tiếp tục làm nhiệm vụ. Đến khi máu ra nhiều quá, trung đội trưởng ra lệnh Đỗ Văn Châu mới buộc phải chấp hành về quân y băng bó.

   Đỗ văn Châu đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng ba, 13 lần được trung đoàn, đại đoàn, Liên khu khen và là Chiến sĩ thi đua của trung đoàn, đại đoàn.

   Ngày 7 tháng 5 năm 1956, Đỗ Văn Châu được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


ANH HÙNG NGUYỄN CỤ


   Nguyễn Cụ (tức Nguyễn Tư Cường) sinh năm 1927, dân tộc Kinh, quê ở xã Ninh Đa, huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa, nhập ngũ tháng 0 năm 1945. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là tiểu đoàn phó đặc công thuộc tiểu đoàn 323, đại đoàn 324, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Từ tháng 10 năm 1945 đến 1 năm 1954, Nguyễn Cụ tham gia chiến đấu ở chiến trường Liên khu 5, luôn luôn nêu cao tinh thần hăng say đánh giặc. Trưởng thành từ chiến sĩ lên cán bộ tiểu đoàn, đồng chí đã tỏ ra xuất sắc trên các cương vị được giao. Ở hoàn cảnh nào đồng chí Nguyễn Cụ cũng tìm cách hoàn thành nhiệm vụ, luôn luôn dẫn đầu đơn vị xung phong tiêu diệt địch, 7 lần bị thương vẫn kiên quyết chiến đấu không rời trận địa.

   Nguyễn Cụ đã đánh 101 trận, chỉ huy diệt 605 tên địch, riêng đồng chí đã diệt 294 tên, lập công xuất sắc.

   Năm 1945, lúc còn là chiến sĩ, đồng chí đã đánh 7 trận, có trận bị lạc nhịn đói 10 ngày phải tìm lá cây, củ rừng ăn nhưng vẫn quyết tâm luồn rừng tìm về đơn vị.

   Năm 1947, trong trận phục kích địch ở đèo Phượng Hoàng trên đường 21, Nguyễn Cụ chỉ huy 1 trung đội bộ đội địa phương phối hợp chiến đấu với bộ đội chủ lực. Giữa lúc trận chiến đấu đang giằng co ác liệt, đồng chí dẫn đầu trung đội vòng bên sườn rồi bất ngờ xung phong vào giữa đội hình địch, làm cho chúng rối loạn, diệt 75 tên, đốt cháy 5 xe, tạo điều kiện thuận lợi cho bộ đội chủ lực diệt gọn gần một tiểu đoàn địch.

   Trận Hòn Khói năm 1948, ngay phút đầu Nguyễn Cụ đã xông lên vượt qua hàng rào dây thép gai, ném lựu đạn vào lỗ châu mai diệt bọn địch trong lô cốt, yểm hộ cho đơn vị tiến vào. Sau khi xông lên gác, bắn chết tên đồn trưởng, đồng chí bị thương nhưng vẫn bình tĩnh chỉ huy trung đội tiêu diệt xong đồn, bắt sống 38 tên, thu toàn bộ vũ khí.

   Năm 1948-1949, nhiều lần địch tập trung lực lượng tiến công trung đội của Nguyễn Cụ, hòng tiêu diệt lực lượng vũ trang của địa phương, có lần chúng huy động một trung đoàn có máy bay, pháo binh yểm hộ, bao vây bộ đội và cơ quan chính quyền địa phương. Đồng chí chỉ huy đơn vị ngoan cường chiến đấu suốt một ngày, cơ động chặn địch hết nơi này đến nơi khác, bảo vệ cho cơ quan rút lui an toàn.

   Một lần khác, có 40 cán bộ huyện, xã đi hội nghị về nghỉ tại đơn vị, mới mờ sáng đã bị một đại đội địch bao vây, đồng chí dũng cảm chỉ huy trung đội đánh lui địch, diệt một tiểu đội, bảo vệ được cán bộ.

   Trận Vạn Khê năm 1952, biết tin địch sắp đi càn, trong khi cơ sở ta chưa chuẩn bị kịp để đối phó, Nguyễn Cụ bí mật đưa trung đội lọt qua nhiều vòng kiểm soát và bố trí trận địa phục kích ngay gần cửa đồn. Giặc vừa ra khỏi cửa bị đánh bất ngờ, một tiểu đội bị diệt, chúng hoang mang chạy vào đồn cố thủ, bỏ ý định đi càn ngày hôm đó.

   Trận Đại Mỹ năm 1953, đồn giặc bố phòng rất nghiêm ngặt, Nguyễn Cụ đã táo bạo và kiên trì bò vào tận đồn điều tra tỉ mỉ, sau đó chỉ huy đơn vị tiến công chớp nhoáng, diệt các mục tiêu rất chính xác bằng thủ pháo, tiêu diệt gọn 2 trung đội địch, rồi rút ra an toàn.

   Tháng 7 năm 1954, đơn vị được giao nhiệm vụ diệt đồn Cầu Đức. Đây là một cứ điểm mạnh của địch ở Khánh Hòa. Chúng canh phòng cẩn mật, bố trí lực lượng và hỏa lực mạnh. Sau khi điều tra, Nguyễn Cụ chỉ huy đơn vị bí mật vào đánh. Sắp đánh thì bị lộ, đồng chí dũng cảm dẫn đầu trung đội lập tức tiến công rất quyết liệt, bị thương hai lần vẫn không rời trận địa, sau hai giờ chiến đấu ác liệt, đơn vị đồng chí đã diệt gọn đồn này, tiêu diệt một đại đội địch, bắt 38 tên, thu toàn bộ vũ khí.

   Tháng 5 năm 1954, Nguyễn Cụ chỉ huy 3 tiểu đội đột nhập nhà lao Ninh Hòa diệt gọn hai trung đội địch, giải thoát 600 cán bộ du kích và đồng bào bị giam giữ.

   Nguyễn Cụ đã được tặng thưởng 3 Huân chương Chiến công hạng ba, 17 lần được Liên khu và tỉnh khen.

   Ngày 7 tháng 5 năm 1956, Nguyễn Cụ được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


ANH HÙNG PHAN TRỌNG ĐƯỜNG


   Phan Trọng Đường sinh năm 1926, dân tộc Kinh, quê ở xã Xuân Long, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên, nhập ngũ tháng 1 năm 1950, khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là trung đội phó bộ binh bộ đội tình nguyện, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Suốt 4 năm hoạt động trên vùng phía tây Tổ quốc, Phan Trọng Đường đã luôn luôn nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, nắm chắc đường lối, phương châm, chính sách, kiên trì bám sát nhân dân xây dựng cơ sở biểu thị tinh thần quốc tế chân chính của người chiến sĩ tình nguyện Quân đội nhân dân Việt Nam. Để thâm nhập quần chúng, Phan Trọng Dường đã kiên trì học thêm được ba thứ tiếng, tuyên truyền xây dựng cơ sở cách mạng ở 77 thôn trong vùng địch tạm chiếm, củng cố và phát triển mối quan hệ tốt với quân đội và nhân dân nước bạn.

   Từ tháng 9 năm 1950 đến tháng 1 năm 1951, Phan Trọng Đường phụ trách một tổ 3 người hoạt động ở một vùng trắng, chưa có cơ sở cách mạng, địch càn quét liên tiếp, tổ đồng chí phải tránh địch, ở bí mật trong rừng, mưa rét thiếu thốn, muỗi độc nhưng vẫn kiên trì hoạt động. Có lần hàng tháng trời thức khuya dậy sớm, Phan Trọng Đường đi hết nơi này sang nơi khác, tuyên truyền xây dựng cơ sở, qua 7 tháng, đã thành công trong việc xây dựng chính quyền ở 7 thôn, tổ chức được 70 dân quân phối hợp với đội vũ trang đánh giặc.

   Từ tháng 1 năm 1951 đến tháng 7 năm 1951, Phan Trọng Đường chuyển về hoạt động ở một vùng khác, núi non hiểm trở, sinh hoạt rất khó khăn, thiếu thốn, nhiều đồng chỉ ngại khổ nảy sinh tư tượng tiêu cực, Phan Trọng Đường đã động viên giúp đỡ anh em cùng nhau vượt qua khó khăn xây dưng được cơ sở ở 30 thôn. Vùng này sau trở thành căn cứ địa tốt của ta.

   Tháng 7 năm 1951, tổ Phan Trọng Đường đến hoạt động ở một vùng địch thường vây quét, đánh phá, khủng bố nhân dân, đồng chí bị ốm, hai chân phù thũng sưng tấy vẫn chống gậy dầm mưa đi vận động quần chúng. Sau khi xây dựng cơ sở, củng cố tổ chức được vững vàng, các đồng chí vận động và tổ chức nhân dân tiến lên đánh địch, phá sập 10 cầu gỗ trên đường 23, gây nhiều khó khăn cho địch.

   Tháng 7 năm 1952, Phan Trọng Đường được điều về công tác ở vùng dân tộc Gia Rai. Lúc đầu nhân dân bị địch lừa bịp còn sợ cán bộ cách mạng, thấy ta là chạy trốn. Có đêm đồng chí đi vận động bị đồng bào đuổi ra khỏi bản 3 lần. Phan Trọng Đường vẫn kiên trì tìm gặp và hòa mình gần gũi nhân dân, khi giúp đỡ người già, khi thăm hỏi chữa bệnh cho người ốm. Địch đe dọa và treo giải thưởng cho ai lấy được đầu cán bộ người Kinh. Để che mắt chúng, hòa vào đồng bào tiếp tục hoạt động, Phan Trọng Đường đã hóa trang: để tóc dài, đóng khố, phơi nắng cho đen da, xâu tai đeo vòng, cưa răng sát lợi, nói tiếng địa phương... Nhân dân rất tin yêu, hết sức giúp đỡ các đồng chí hoạt động, vì vậy 10 thôn cơ sở ở vùng này được xây dựng và củng có rất tốt.

   Tháng 4 năm 1954, Phan Trọng Đường phụ trách một đội vượt .qua bao khó khăn phức tạp, xây dựng chính quyền cách mạng có lực lượng dân quân bảo vệ ở 30 thôn.

   Suốt quá trình hoạt động, Phan Trọng Đường đã gương mẫu về mọi mặt, hết lòng thương yêu đồng đội, đoàn kết giúp đỡ nhân dân, luôn luôn nhận khó khăn về mình, nhường thuận lợi cho đồng chí, lúc nào cũng khiêm tốn, giản dị, được đồng đội và nhân dân hết sức tin yêu.

   Phan Trọng Đường đã được bộ đội bạn khen thưởng hai lần, là Chiến sĩ thi đua của bộ đội tình nguyện Việt Nam bên nước bạn.

   Ngày 7 tháng 5 năm 1956, Phan Trọng Đường được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM