M16A1
Cỡ nòng/đạn: M193 5.56x45mm (.223 Remington)
Vận hành: Trích khí, khoá nòng xoay
Dài: 986 mm
Nòng dài: 508 mm
Khối lượng rỗng/cả đạn 30v: 2.89kg/3.6 kg
Băng đạn: 20 viên hay 30 viên
Tốc độ bắn: 650 – 750v/ph
Vận tốc đầu nòng: 945m/s
M16A2
Cỡ nòng/đạn: 5.56x45mm NATO/M855
Vận hành: Trích khí, khoá nòng xoay
Dài: 1006 mm
Nòng dài: 508 mm
Khối lượng rỗng/cả đạn 30v: 3.77 kg/4.47 kg
Băng đạn: 20 viên hay 30 viên
Tốc độ bắn: 800v/ph
Vận tốc đầu nòng: 975m/s
AR-15 nguyên bản

M16A1 1967 băng 20 viên

M16A2 nòng dầy nặng

Lịch sử khẩu M16 5.56mm cũng dài và một lần nữa đầy tranh cãi. Chỉ điểm ra đây những thời kỳ và sự kiện quan trọng.
• 1948. Mỹ bắt đầu nghiên cứu về hiệu quả của súng nhỏ. Nghiên cứu này kết thúc năm đầu những 1950 với kết luận khẩu súng nhỏ hoàn hảo cho bộ binh phải là cỡ .22, bắn chọn và vận tốc đạn cao, hiệu quả tầm bắn được khoảng 300m.
• 1953 - 1957. Nghiên cứu tiếp theo là dự án SALVO, cũng đi đến mong muốn về một khẩu súng bộ binh tốc độ bắn cao.
• 1957. Quân đội Mỹ yêu cầu chi nhánh Armalite của công ty Fairchild Aircraft phát triển khẩu súng cỡ nòng .22, nhẹ, bắn chọn, có khả năng bắn thủng 1 cái mũ sắt ở tầm 500m. Nhà thiết kế của Armalite khi đó là Eugene Stoner bắt đầu thiết kế khẩu súng này dựa trên khẩu đã thiết kế trước đó 7.62mm AR-10. Cũng trong thời gian này các chuyên gia của Sierra Bullets và Remington kết hợp với Armalite bắt đầu thiết kế loại đạn mới .22 trên cơ sở loại đạn .222 Remington và .222 Remington Magnum là loại đạn súng săn. Thiết kế đạn này ban đầu gọi là .222 Remington đặc biệt, cuối cùng cho ra loại đạn .223 Remington (5.56x45mm).
Như vậy là thiết kế súng được tiến hành khi chưa có đạn!!! Không hiểu chưa có đạn thì thiết kế kiểu gì? So sánh với Liên xô, đạn 7.62x39mm được chấp thuận sử dụng năm 1943, nghiên cứu phát triển đã phải triển khai ít nhất vài năm trước đó. Súng AK-47 ra đời năm 1947 sau khi có đạn 4 năm.• 1958. Armalite cho ra sản phẩm gọi là Ả-15 và giao cho QĐ thử nghiệm. Những thử nghiệm ban đầu cho thấy vài vấn đề về độ tin cậy và độ chính xác.
• 1959. Cuối năm này, Công ty mẹ Fairchild Co, bởi thất vọng với việc phát triển cây AR-15 đã bán tất cả bản quyền thiết kế cho Colt Defense.
• 1960. Ông Eugene Stoner rời Armalite sang Colt. Cũng lúc này Colt giới thiệu AR-15 với phó tướng không lực Mỹ LeMay. Ông này muốn mua 8000 khẩu AR-15 cho lực lượng an ninh hàng không chiến lược để thay thế cho các khẩu súng đã cũ M1 và M2 carbine.
• 1962. Quân đội Mỹ mua 1000 khẩu AR-15 chuyển sang Nam Việt nam thử nghiệm chiến trường. Dù chỉ sau ít tháng binh lính đã có những báo cáo về sự trục trặc của súng, nó bị kẹt đạn quá nhiều trong điều kiện chiến trường, thế nhưng những ý kiến này đã không đến tai các chỉ huy cao cấp, còn lính tráng bị đổ tội lười lau súng hoặc lau không đúng cách. Ngược lại những báo cáo tô hồng về hiệu quả của “khẩu súng đen” lại được gửi về bộ quốc phòng.
• 1963. Vì những báo cáo láo đó Colt nhận được hợp đồng 85000 khẩu thiết kế mới với tên XM16E1 và sau đó là 19000 khẩu khác cho AirForce mà những khẩu này chẳng gì khác hơn là AR-15 ngoài mỗi cái mark mới. Còn XM16E1 thì khác với AR-15/M16 bởi mỗi cái có thêm bộ phận phụ gọi là “hỗ trợ trước” mà dùng tay kéo nó để lôi viên đạn kẹt ra ngoài.
• 1964. Không lực Mỹ chính thức gọi súng mới là M16. Cũng trong năm này, QĐ Mỹ chấp thuận XM16E1 làm súng trường tiêu chuẩn hạn chế để lấp khoảng trống giữa súng M14 và súng SPIW sắp ra đời mà bản mẫu mới của nó đã qua thử nghiệm.
• 1966. Colt nhận được món hời to cung cấp 840000 khẩu cho QĐ Mỹ, trị giá $92 triệu.
• 1967. QĐ Mỹ phê chuẩn súng XM16E1 làm “súng trường tiêu chuẩn Mỹ 5.56mm M116A1”, ngày 28/2/1967.
• 1965 - 1967. Cũng trong thời gian này báo cáo gửi từ chiến trường Việt nam về rất bi đát. Súng trường M16 dùng tại VN bị kẹt đạn rất ác liệt, làm cho lính thương vong rất nhiều. Có một số nguyên nhân làm nó hư hỏng. Thứ nhất khi đưa súng và đạn mới vào phục vụ, QĐ Mỹ đã thay thuốc phóng chuẩn Dupont IMR bằng thuốc phóng cầu tiêu chuẩn, đã sử dụng ở đạn NATO 7.62x51mm (nhưng cóc hiểu sao khẩu M1 cũng trích khí như thế lại ít bị kẹt). Thuốc phóng cầu để lại rất nhiều cặn bẩn nhanh chóng làm kẹt máy súng trừ khi M16 phải được lau chùi thường xuyên và cẩn thận. Thật thảm hại khi mà có một sự thực rằng M16 được Colt lỡ quảng cáo như là súng “ít cần bảo quản”, vì thế để tiết kiệm, đồ lau chùi không được cấp cùng súng mới, và cũng không tổ chức các khoá huấn luyện cho binh lính. Mọi chuyện càng trở nên tồi tệ. Thuốc phóng cầu gây thêm rẳc rối bởi cháy không đều, áp lực thay đổi, gây thêm áp lực lên lỗ trích khí làm tăng tốc độ bắn và do đó làm giảm độ chính xác và bào mòn các chi tiết.
Thuốc phóng cầu là loại như hình dưới, ngày nay vẫn bán theo thùng để dân chơi mua về chế đạn đi săn chẳng hạn. Bài này tác giả viết theo quan điểm người Mỹ, thuốc cầu mới chỉ là một nửa vấn đề, nó chỉ làm bệnh tình M16 thêm trầm kha mà thôi. về mặt lý thuyết thuật phóng trong là một quá trình giãn nở đoạn nhiệt, đầu đạn được gia tốc trong nòng súng nên để tận dụng hết năng lượng của thuốc phóng, người ta cố gắng làm cho áp lực khí cháy không biến thiên quá nhiều bằng các cách như nghiên cứu ra thuốc phóng tốt, chế tạo viên thuốc thành các dạng có diện tích tiếp xúc cháy đều như viên hình trụ rỗng ở pháo, đạn lớn, viên hình vảy dẹt ở đạn nhỏ như đạn AK... • 1967 - 1970. Căn bệnh phát hiện trong những năm trước được giải quyết bằng cách đạn 5.56 bây giờ dùng các loại thuốc phóng khác nhau (hết ý) mà để lại ít cặn bã hơn trong máy súng tuy hiệu quả bắn không bằng. Các bộ phận như nòng súng, khoang đạn, khoá nòng được lót crôm tăng khả năng chịu mòn. Các bộ kit lau chùi được cấp đầy đủ, các chương trình huấn luyện lau súng cũng được tổ chức. Trước kia bộ lau súng để rời nay được nhét vào báng súng. Năm 1970 băng đạn 30 viên được sử dụng thay cho băng 20 viên trước kia để theo kịp khẩu AK đã có băng 30 viên từ rất sớm.
• 1977 - 1979. Thử nghiệm của NATO đi đến chỗ chấp nhận loại đạn do công ty FN Bỉ phát triển SS109, sau đổi theo tên Mỹ gọi là US M855. Loại đạn này ban đầu thiết kế cho khẩu FN Minimi, đầu đạn nặng hơn và vận tốc đầu nòng nhỏ hơn nhưng tầm bắn xa hơn. Tuy nhiên để có được đạn đạo hiệu quả hơn, đạn SS109 này cần xoáy mạnh hơn đạn nguyên bản Mỹ US M193 5.56 để ổn định đường đạn. M193 dùng nòng súng 1:12 vòng, và SS109 dùng nòng 1:7 vòng.
• 1981. Colt phát triển biến thể mới của M16A1 phù hợp với đạn SS109/5.56mm NATO và trình QĐ thử nghiệm với tên M16A1E1. Súng này khác M16A1 ở chỗ nòng nặng hơn độ xoắn lớn hơn 1:7, nó cũng khác ở thước ngắm sau (gần mắt) có điều chỉnh tầm và cả độ chệch gió. Ốp tay tròn thay vì 3 cạnh như trước, thay chỉ bắn tự động bằng bắn loạt 3 viên để tiết kiệm đạn.
M193 là chuẩn Mỹ, không phải chuẩn NATO, riêng cái nòng này làm cho M16A2 nặng hơn súng trước gần 1kg. • 1982. M16A1E1 được phân loại đặt tên là "Súng trường Mỹ, 5.56mm, M16A2".
• 1983. Lính thuỷ đánh bộ Mỹ trang bị M61A2.
• 1985. QĐ Mỹ chính thức phê chuẩn M16A2 làm súng bộ binh chính.
• 1988. Công ty mẹ FN Bỉ và công ty con FN Herstal Mỹ trở thành nhà thầu chính sản xuất M16A2. Colt tiếp tục bán AR-15/M16 cho dân chơi và các lực lượng thi hành pháp luật.
• 1994. QĐ chấp nhận đứa con mới nhất của dòng M16 là M16A3 và M16A4, có phần đỉnh máy thu phẳng thay cho quai xách là ray Picatinny để dễ gắn nhiều phụ tùng. The M16A4 vẫn tương tự M16A2, còn M16A3 thì bắn hoàn toàn tự động thay cho loạt 3 viên. Cũng năm này từ khẩu AR-15 ra đời 2 khẩu M4 và M4A1 carbine.
Cho đến giờ, M16 vẫn là súng bộ binh chính của QĐ Mỹ. Tại Mỹ có khoảng một chục công ty sản xuất AR-15/M16 như Armalite, Bushmaster, Colt, FN, Hesse, Les Baer, Olympic, Wilson Combat, và nhiều công ty nhỏ tham gia lắp ráp, chế tạo chi tiết lớn nhỏ. M16 cũng được nước ngoài sản xuất như Diemaco-Canada, NORINCO-China.

