Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:36:42 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Giai thoại tướng lĩnh Việt Nam  (Đọc 52403 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« vào lúc: 27 Tháng Tư, 2008, 06:16:00 pm »

ĐỒNG CHÍ ẤY LÀM NHƯ VẬY LÀ ĐÚNG

Nguồn: Tạp chí văn nghệ quân đội


      Tướng Nguyễn Sơn - thời được giao nhiệm vụ Tư lệnh Quân khu Bốn nổi tiếng là một viên tướng rất quý anh em văn nghệ. Xứ Thanh thời kháng chiến chống Pháp được xem như là một “thủ đô” của giới văn nghệ, quy tụ được những tên tuổi từ khắp nước một phần rất lớn vì ở đó có Tướng - Văn nghệ Nguyễn Sơn. Nhớ về một thời còn ở kháng chiến, nhạc sĩ Phạm Duy kể: Tướng Nguyễn Sơn là một người nghiện thuốc lá. Lúc nào trong túi ông cũng có một bao “3 số 5”. Một hôm, ông cùng người lính cần vụ đi qua một trạm gác. Tuy là tướng, là viên Tư lệnh lừng danh, quân ta nghe thì hãnh diện, địch nghe danh thì khiếp sợ nhưng ít khi ông mang quân phục. Người gầy khô, mặt xạm nắng, tóc rễ tre, tứ thời chỉ thích mặc quần sọc, nên chả ai mới gặp nghĩ là tướng. Anh lính gác cũng vậy, thấy một ông cán bộ ăn mặc loàng xoàng, nom bề ngoài cũng không có dáng vẻ gì lại phì phèo điếu thuốc thơm của “đế quốc thực dân” bèn chặn đường quát:

- Đồng chí kia, đứng lại! Ai cho phép đồng chí hút thuốc của kẻ địch? Nói rồi giằng lấy điếu thuốc từ miệng viên tướng, tiện thể tịch thu luôn cả bao “3 số 5” trong túi quần ông.

Thấy vậy, anh lính cận vệ vội chạy lại quát:

- Đồng chí kia! Đồng chí không biết đây là ai à? Tư lệnh Quân khu đó.

Người lính gác nghe vậy vô cùng ngạc nhiên và hoảng sợ. Thấy vậy, tướng Nguyễn Sơn ôn tồn bảo:

-Không sao, đồng chí ấy làm như vậy là đúng!

Và ông tự nguyện nộp bao thuốc lá vừa hút một điếu cho người lính gác.

             
  Hoàng Thụy Lâm
« Sửa lần cuối: 27 Tháng Tư, 2008, 06:20:49 pm gửi bởi hoacuc » Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #1 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2008, 06:17:36 pm »

TƯỚNG QUÂN VÀ BÀI THƠ LÊN CAO BẰNG
 

Nguồn: Tạp chí văn nghệ quân đội

Trung tướng Phùng Khắc Đăng –Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam kể, hồi ông còn làm Phó Tư lệnh Quân khu I có một lần đến làm việc với Hội Phụ nữ tỉnh Cao Bằng. Công việc xong xuôi chị em có nhã ý muốn mời tướng quân ở lại ăn bữa cơm “ rau dưa’’cùng cơ quan hội. Gọi là cơm “ rau dưa” nhưng là cơm khách nên phải có rượu, mà rượu ở Cao Bằng thì thôi rồi! nam nữ gì gì cũng hết mình. Uống bằng bát, uống chéo tay, uống đôi khi không say không về
                                                                     
Là  Phó Tư lệnh một quân khu, lại là quân khu sơn cước nhưng cái khoản rượu chè bia bọt đối với ông có phần “yếu kém”. Không biết được tạng ông như thế nên chị em thay nhau chuốc tưóng quân hết bát này đến  quai khác. Biết được tửu lượng của mình nên uống với chị nào ông cũng chỉ nhấp môi, bị lộ và bị phạt phải uống chéo tay, uống trăm phần trăm. Không uống được phải hát. Tình thế thật là nguy nan bởi khả năng hát hò với ông cũng không hơn gì chè rượu. Những  bài hát mà ông thuộc được chỉ là 12 bài do quân đội quy định, bắt buộc mọi quân nhân phải hát được. Những bài ấy hát ở chỗ ăn uống thì lại sao được! Tính đi tính lại mãi Phùng tướng quân đành liều xin đọc thơ

Là người con của làng Phùng Xá- quê hương Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan lại đã từng là cán bộ làm công tác nghiên cứu KHXH ở một học viện nên ông rất yêu văn chương và có nhiều bạn bè là văn nghệ sĩ. Ông đã từng làm thơ và cũng đọc cũng thuộc khá nhiều bài, nhưng trong bối cảnh này thì đọc bài nào đây, phải có cái gì là gắn với chị em, gần với đất và người Cao Bằng chứ? Nghĩ một thoáng, sau mấy cái hắng giọng ông đọc luôn mấy câu:
                        Lên Cao Bằng không sợ dốc
                        Đèo Giàng, Đèo Gío đã lùi xa
                        Lên Cao Bằng không sợ đói
                        Nước trong, gạo trắng sẵn từ lâu
                        Lên Cao Bằng không sợ ốm
                        Chợ bày ngải cứu bán thay rau… 

Đọc đến đây thì tướng quân quyên béng mất câu cuối của bải thơ gốc, ngập ngừng một lúc ông quyết định phóng tác hai câu kết:
                         Lên Cao Bằng anh rất sợ
                         Em quên mất anh rồi, tối anh ngủ ở đâu?

Thế là những đợt pháo tay vang lên cùng đó là những trận cười nghiêng ngả…Chị em bắt nhà thơ đọc lại, có chị rút bút ghi lia lịa. Chờ cho vãn tiếng vỗ tay, dứt hẳn tiếng cười Trung tướng mới có mấy lời “ đính chính” rằng đó không phải là thơ của ông mà là thơ của nhà thơ Vương Trọng, và rằng hai câu cuối là do ông quên mất nên tự nghĩ ra, ông nói thêm ông có lời xin lỗi tác giả bài thơ !

Khi được nghe kể lại chuyện này, Phùng tướng quân chỉ cười và bảo:” Cho đến bây giờ tớ vẫn chưa được nhìn thấy văn bản bài thơ. Hôm ấy vô tình trên đường lên thị xã Cao Bằng, lúc xe qua chợ, vượt đèo chú lái xe cứ ngâm nga những vần thơ ấy , tớ thuộc và thế là tương kế tựu kế …” .Để kết thúc câu chuyện xin phép nhà thơ Vương Trọng và bạn đọc được chép tướng quân Phùng Khắc Đăng nguyên văn bài thơ Lên Cao Bằng của  thi sĩ họ Vương:
                                 
                                 LÊN CAO BẰNG
                         
                        Lên Cao Bằng không sợ dốc
                        Đèo Giàng, Đèo Gío đã lùi sau 
                        Lên Cao Bằng không sợ đói
                        Nước trong gạo trắng sẵn từ lâu
                        Lên Cao Bằng không sợ ốm
                        Chợ bày ngải cứu bán thay rau… 
                       
                        Lên đến Cao Bằng anh chỉ sợ
                        Em không còn đó biết tìm đâu!
                       

Thập Tam trại, 3-2008
NVB


« Sửa lần cuối: 27 Tháng Tư, 2008, 06:22:21 pm gửi bởi hoacuc » Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #2 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2008, 06:24:47 pm »

MIỀNG KHÔNG MANG THEO GIẤY TỜ CHI CẢ

 
Nguồn: Tạp chí văn nghệ quân đội

Ngôi nhà số 4 - phố Lý Nam Đế (Quận Hoàn Kiếm - Hà Nội) trụ sở Toà soạn Tạp chí Văn nghệ quân đội là một địa chỉ quen thuộc đối với bạn đọc cả nước, quen thuộc với nhiều thế hệ các nhà văn Việt Nam cũng là địa chỉ Đại tướng Nguyễn Chí Thanh thường xuyên lui tới.
 
Lui tới không phải trên cương vị một Đại tướng, một thủ trưởng cấp cao mà trong tư cách một người bạn, một người anh, một người đồng chí, đồng đội, ... Vì vậy, thường là ngoài giờ hành chính và không cần bất cứ môt nghi thức đón tiếp nào, ông cũng có thể đến với anh em văn nghệ “nhà số 4”.

 Nhà văn Hải Hồ nhớ lại "Các đồng chí lãnh đạo Bộ, lãnh đạo Tổng cục Chính trị thường đến với ngôi nhà của Tạp chí Văn nghệ quân đội. Người hay đến nhất là đồng chí Nguyễn Chí Thanh. Đến bất ngờ và không báo trước, với bộ bà ba nâu, rất nông dân, rất dung dị. Có một lần đồng chí lững thững cuốc bộ đến. Ngày đó, phố Lý Nam Đế còn đặt trạm barie gác ở hai đầu. Muốn vào Văn nghệ quân đội phải qua trạm gác trước cổng nhà số 2. Thấy một người quần áo nâu sồng muốn vào, chiến sĩ đứng gác hỏi giấy tờ. Đại tướng nói: “Miềng không mang theo giấy tờ chi cả”.

- Thế thì không được, bác đứng chờ tí nữa có ai qua tôi nhắn gọi người bác cần gặp ra cho.

- Ồ! Thế thì nhờ đồng chí nhắn giùm, tôi là Nguyễn Chí Thanh muốn gặp Thủ trưởng Văn Phác.

 Đồng chí Văn Phác là Chủ nhiệm tạp chí VNQĐ lúc bấy giờ nghe tin có “thủ trưởng” tới chơi bèn ra đón. Thế là phòng của Chủ nhiệm tạp chí trở thành phòng tiếp khách chung của tất cả các nhà văn.

HOÀNG THỤY LÂM


 
Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #3 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2008, 06:29:19 pm »

NHỮNG CHUYỆN VỀ VỊ ĐẠI TƯỚNG ĐỘI MŨ MỀM
 

Đại tướng Văn Tiến Dũng được giao trọng trách chỉ đạo trực tiếp nhiều chiến dịch lớn: từ chiến dịch Đường 9 Nam Lào (1971), Trị Thiên (1972), Chiến dịch giải phóng Tây Nguyên (1975), Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh (4/1975)... Cũng bởi thế, ông là vị tướng đã để lại khá nhiều kỷ vật cho Bảo tàng Quân đội Việt Nam. Mỗi kỷ vật ông để lại, là một câu chuyện giản dị nhưng đầy ý nghĩa. Tướng ra trận mang theo... nồi

Sinh ngày 2/5/1917, ở xã Cổ Nhuế (Hà Nội), ngoài cái tên Văn Tiến Dũng, ông còn có bí danh Lê Hoài. Hoạt động cách mạng từ thời còn đang là anh công nhân của Xưởng dệt Hà Nội. Sau này, có lần ông tâm sự: “Chuyện tôi theo cách mạng cũng là chuyện tình cờ. Thời ấy, Mặt trận Dân chủ Đông Dương (1936-1939) sôi nổi lắm, phong trào công nhân đấu tranh đòi tự do, dân chủ càng mạnh, nó cứ hút mình vào...”. Ông trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương khi vừa tròn 20 tuổi. Nhìn cái vẻ thư sinh của chàng trai gốc Hà Nội, không ai nghĩ, cậu thanh niên Văn Tiến Dũng lại là một người Cộng sản gan lì có tiếng. Trong đời hoạt động của ông, hơn ba lần bị giặc Pháp bắt giam, từng bị chúng kết án tử hình vắng mặt...

Đầu những năm 1990, một số nhân viên Bảo tàng Quân đội đến nhà ông xin số ảnh ông chụp chung với Bác Hồ để trưng bày. Gạ mãi, ông dẫn chúng tôi đi thăm phòng lưu giữ những kỷ vật suốt thời kỳ hoạt động cách mạng: từ những kỷ vật thời kỳ ông làm Uỷ viên Thường vụ Uỷ Ban Quân sự Cách mạng Bắc Kỳ (Bộ Tư lệnh Quân sự miền Bắc Đông Dương), thời kỳ chỉ đạo vũ trang giành chính quyền ở các tỉnh Hoà Bình, Ninh Bình, Thanh Hoá tháng 8/1945... đến những kỷ vật của thời kỳ ông là Cục trưởng Cục Chính trị Quân đội Quốc gia Việt Nam, Phó bí thư Quân uỷ Trung ương. Và nhất là những kỷ vật thời kỳ đầu năm 1948, khi ông được phong quân hàm thiếu tướng, lúc mới 31 tuổi.

Mỗi kỷ vật của ông, đều gắn với một câu chuyện đời thường nhưng đầy ý nghĩa. Chỉ tay vào hai chiếc nồi, ông kể: “Cuối năm 1974, đầu năm 1975, ăn tết xong, tôi trực tiếp đi thị sát chiến trường Tây Nguyên, để chuẩn bị cho chuyến đi, người cần vụ mang theo hai chiếc xoong (một xoong có cán, một không). Vào đến Quảng Bình thì người dân tặng tôi một con gà mái làm thịt, chú cần vụ định giết thịt luôn, nhưng tôi bảo “chú đừng thịt mà cứ mang theo”. Chú cần vụ cho gà vào lồng xách. Trên đường vào chiến trường, lúc đi xe, khi đi bộ. Dừng chân ở đâu thì cần vụ lại cho gà ăn, để nó đẻ trứng. Trong khẩu phần ăn ở chiến trường hồi đó, dù mình là Đại tướng, Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh nhưng cũng chỉ toàn lương khô và thịt hộp. Nên gà đẻ trứng nào thì cần vụ lại hấp trứng với cơm, coi như đó là một bữa ăn tươi”. Con gà mái đẻ ấy là nguồn sản sinh trứng bồi dưỡng cho Đại tướng trong suốt chiến dịch Tây Nguyên.

“Tướng mũ mềm”

Những người ở gần ông thường thấy tướng Dũng gắn bó rất chặt chẽ với chiếc mũ lưỡi trai mềm: kể cả khi đi họp, lúc ở chiến trường...thì ông đều đội. Bởi thế, có người vẫn thân thiện gọi ông là “Tướng mũ mềm”. Khi ông đã nghỉ, nhân viên bảo tàng đến hỏi xin chiếc mũ mềm mà ông vẫn thường đội về trưng bày, ông bảo “đó là vật bất li thân, làm sao cho được”. Rồi ông kể: “Năm 1965, máy bay Mỹ đánh phá miền Bắc, ông đi thăm các đơn vị bộ đội pháo cao xạ ở Khu 4. Nắng Khu 4 cháy bỏng, nhưng bộ đội trực chiến phải ngồi trên mâm pháo, dưới cát nóng, trên trời nắng cháy, nhưng chiến sỹ lại phải đội trên đầu mũ sắt. Hỏi “anh em đội mũ sắt có nóng không?”, anh em bảo cũng nóng, lại hỏi “thế có chịu được không?”, trả lời “chịu được!”. Sau chuyến đi ấy, hình ảnh những người lính pháo binh phải đứng giữa trời chống chọi với cái nóng cứ ám ảnh ông mãi. “Tôi cứ day dứt, phải nghĩ ra cái gì đó bọc chiếc mũ sắt cho anh em đỡ nóng”, ông tâm sự. Ông liên tưởng đến chiếc mũ mềm, có lưỡi trai cứng bên ngoài của quân đội Pháp. Rồi quân đội của một số nước cũng có chiếc mũ lưỡi trai kiểu như vậy. Nghĩ vậy, ông gọi Cục quân trang lên hỏi: “Các anh xem có thể cải tiến được cái mũ không?”, rồi ông gợi ý những kiểu mũ có lưỡi trai của quân đội các nước. Cục quân trang về may một chiếc mũ cho ông đội thử, ông khen: “Thế này là tốt, chỉ cần chỉnh sửa chút ít và gắn sao vàng phía trước là đẹp”. Đội bình thường cái lưỡi trai có thể che nắng phía trước đỡ chói mắt, còn khi cần chỉ cần quay lưỡi trai ra phía sau thì sẽ che nắng được sau gáy. Từ đó, khắp các chiến dịch Tây Nguyên, Hồ Chí Minh, đi đâu ông cũng đội mũ mềm. Tại Đại hội Anh hùng chiến sỹ thi đua toàn miền Nam 1966-1967, chiếc mũ mềm bắt đầu được sản xuất hàng loạt cho bộ đội. Chiếc mũ được giữ trong quân đội đến năm 1992, thì được thay bằng mũ kêpi.

Và đôi giày vạn dặm

Chị Trần Thanh Hằng, nhân viên Bảo tàng Quân đội kể rằng, trong một lần đến xin tướng Dũng những đôi giày mà ông đã đi trong các chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, Tây Nguyên và chiến dịch Hồ Chí Minh về làm vật trưng bày, mới nghe được câu chuyện khá thú vị: trong suốt những chiến dịch ấy, Đại tướng chỉ sử dụng đúng một đôi giày, do chính ông đặt một người thợ ở Hà Nội đóng. Hỏi vì sao? ông nói: “Vì kiểu chân tôi hơi khác loại, nên không đi được giày theo cỡ chung mà phải đặt đóng”. Cũng chính thế, ông rất quý đôi giày đó. Trong suốt các chiến dịch mà ông trực tiếp chỉ huy, đôi giày đã được ông thay đế đến 5 lần. Cứ mòn đế ông lại đóng lại. “Chúng tôi phải năn nỉ mãi, Đại tướng mới “rút ruột” mang đôi giày tặng bảo tàng”, chị Hằng nói.

Trước khi mất, tướng Dũng còn tự tay mang tặng Bảo tàng Quân đội khẩu súng ngắn K59, do Liên Xô viện trợ giúp Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ, được Bộ Tổng tham mưu trang bị khi ông làm Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam. Khẩu súng ấy được ông dùng từ năm 1970 để tự vệ trên đường đi công tác tại các chiến trường. Ông bảo: “Tuy khẩu súng được ông mang theo trong suốt các chiến dịch, nhưng chưa khi nào ông phải dùng nó”. Một lần, nhân ngày 30-4, ông đến Bảo tàng mang theo bộ quân phục, còn nguyên cả quân hàm Đại tướng tặng Bảo tàng. Sau đó một năm thì ông mất...

BÁ KIÊN - TRẦN DƯƠNG
(Nguồn Vietbao)
Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #4 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2008, 06:41:11 pm »


VỊ ĐẠI TƯỚNG MÊ ÂM NHẠC VÀ LÀM THƠ

Đại tướng Võ Nguyên Giáp - một trong những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là người anh cả thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, đã góp phần quan trọng làm nên chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ "chấn động địa cầu" và đại thắng mùa xuân năm 1975. Đại tướng có tài văn, võ, trí, dũng song toàn, giàu tình thương với binh sĩ và dồi dào chủ nghĩa nhân văn.

Chuyện kể rằng: Sau chiến thắng biên giới (1950) trên chặng đường từ Đông Khê về Cao Bằng, đêm ấy, lần đầu kể từ ngày đi chiến dịch, Đại tướng Võ Nguyên Giáp bỗng cảm thấy mệt, đầu óc nặng trĩu. Trước đó, Đại tướng đã từng thức trắng 11 đêm không ngủ (nhiều đêm ngồi trên lưng ngựa) để cùng Bộ Chỉ huy chiến dịch tập trung trí tuệ, mưu lược, quyết tâm đánh thắng quân xâm lược. Bất chợt, Đại tướng nghe từ một bản nhỏ bên đường vẳng ra tiếng đàn ghi-ta, khiến: "Tôi ngỡ ngàng cứ như lần đầu nghe thấy những âm thanh này. Những âm thanh thật kỳ lạ. Những mệt mỏi tiêu tan, đầu óc trở nên sáng suốt. Nó giống như một lần leo lên sườn dốc đứng ngột ngạt từ Khuôn Chu lên tới đỉnh Tam Đảo, bỗng được tắm mình trong hơi sương mát lạnh và luồng gió lành đầy sinh khí nơi non cao. Cũng từ đó tôi yêu âm nhạc. Hình như Pythagore, một nhà hiền triết Hy Lạp ở thế kỷ V trước Công nguyên đã nói âm nhạc có khả năng thanh lọc tâm hồn con người, thậm chí tác động tới tất cả những bệnh tật trong cơ thể con người". Thế là Đại tướng cho dừng ngựa, rồi bàn với các chiến sĩ đi theo vào bản tìm nhà dân để nghỉ lại đêm nay, sáng mai dậy sớm đi tiếp và dặn cố tìm bằng được người vừa đánh đàn. May quá, chẳng bao lâu anh em đã tìm được người chiến sĩ trẻ yêu văn nghệ ấy. Anh ôm cây đàn ghi-ta bước vào lán, chào mọi người rồi cất lên tiếng đàn du dương để Đại tướng và các chiến sĩ cùng thưởng thức. Tiếng đàn đã mang lại niềm vui và sự thư giãn thoải mái cho các tướng sĩ sau những ngày chiến đấu căng thẳng, quyết liệt sống mái với quân thù ở các mặt trận Thất Khê, Đông Khê vừa qua.

Có lẽ chính vì niềm say mê âm nhạc ấy mà sau này, dù bận trăm công ngàn việc Đại tướng đã có lúc dành được thời gian để tập chơi đàn piano và thưởng thức những bản nhạc tuyệt vời của thế giới.

Điều đáng chú ý nữa là trong cuộc đời binh nghiệp của mình, đã có lần Đại tướng Võ Nguyên Giáp ứng khẩu làm thơ.

Lần ấy vào khoảng giữa năm 1948, sau khi về làm việc xong với các vị lãnh đạo Liên khu 10, Đại tướng đi thẳng đến huyện Cẩm Khê (Phú Thọ) để gặp gỡ các cán bộ, chiến sĩ thuộc các ban Tuyên truyền xung phong vừa mới được thành lập để chuẩn bị tiến vào 4 tỉnh Tây Bắc nhằm xây dựng cơ sở lập chỗ đứng chân, mở rộng căn cứ Tây Bắc, mở đường quốc tế sang Lào, chuẩn bị sau này để tiến vào Nam. Nhìn những cán bộ, chiến sĩ trẻ măng đang hăng hái, sẵn sàng lên đường vào vùng địch tạm chiếm, gương mặt rạng rỡ của mọi người ánh lên niềm tin tưởng ở thắng lợi, Đại tướng suy nghĩ rất lung. Gian khổ, hiểm nghèo, bệnh tật, đói rét đang chờ họ. Đại tướng đã nói chuyện, tiếp thêm cho anh em sức mạnh mới, trước khi "qua miền Tây Bắc" giải phóng đồng bào các dân tộc thoát khỏi ách đọa đày dưới gót giày xâm lược, thực hiện xuất sắc nhiệm vụ xây dựng tốt cơ sở quần chúng, cắm bằng được lá cờ đỏ sao vàng trên đất Điện Biên Phủ.

Chính trong không khí của buổi chia tay, lưu luyến tiễn đưa anh em lên đường vào nơi xa xôi, nguy hiểm ấy, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã xúc động làm mấy câu thơ sau đây tặng các chiến sĩ:

Sông Đà, sông Mã uốn dòng
Ghềnh rêu, thác bạc ghi công anh hào
Con vàn (*) tung cánh bay cao
Ngọn cờ chỉ hướng, ngôi sao dẫn đường

Tâm hồn một vị tướng tài ba thật quả là dạt dào, phong phú...

(*) Tên loài chim như con vạc.

NGUYỄN HUY THÔNG
(Theo Vietbao)
Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #5 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2008, 07:09:00 pm »


CUỘC GẶP GỠ GIỮA ĐẠI TƯỚNG VÀ NHỮNG NGƯỜI GIÚP VIỆC


Giữa hai ngày lễ lớn của đất nước Việt Nam – Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945 và Quốc khánh 2/9 – có một ngày lưu lại trong tình cảm của đông đảo người dân Việt. Đó là ngày sinh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Một nhà văn và nhà nghiên cứu ngoại quốc đã viết: Ngày 25 tháng 8 năm 1911 tại An Xá, Lệ Thủy, Quảng Bình đã ra đời một cậu bé mà sau này đã tác động đến dòng chảy lịch sử thế giới.

Đó là Đại tướng Võ Nguyên Giáp, vị tướng huyền thoại văn võ toàn tài, đức độ tài năng trọn vẹn, người học trò gần gũi xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị tướng của nhân dân và là người Anh cả quân đội...

Cũng như mọi năm, văn phòng Đại tướng cho biết, ngay từ đầu tháng Tám, đã có nhiều đoàn cựu chiến binh, đoàn thể, đồng chí, đồng bào ở Trung ương, Hà Nội và các địa phương đăng ký đến mừng Đại tướng Thượng thọ. Tuy nhiên, năm nay do tuổi tác và sức khỏe, gia đình và văn phòng phải hạn chế bố trí khách đến mừng thọ so với mọi năm.

Riêng chúng tôi, một số anh em đã có những năm tháng gần gũi, phục vụ Đại tướng từ những ngày chống Pháp, chống Mỹ đến những ngày xây dựng hòa bình... được gặp mừng thọ Đại tướng vào sáng ngày 26 tháng 8 năm 2007 – ngày đầu tiên Đại tướng bước vào tuổi 97.


Các đồng chí văn phòng cho biết, tuy năm nay thời gian tiếp khách hạn chế, nhưng đến cuối ngày có gần 40 đoàn đến chúc thọ Đại tướng. Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Mặt trận: Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang, Nguyễn Thị Doan, Nguyễn Sinh Hùng, Phạm Gia Khiêm, Nguyễn Thiện Nhân, Phạm Thế Duyệt; các đồng chí lão thành Nguyễn Văn Trân, Lê Khả Phiêu, Nguyễn Văn An; các tướng lĩnh quân đội; đồng chí Nông Đức Mạnh đang đi công tác địa phương đã gửi lẵng hoa chúc mừng mà đài , báo đã đưa tin khá đầy đủ...

Cụ Nguyễn Văn Tứ ở thành phố Vinh, lão thành các mạng, năm nay 88 tuổi đời, 60 tuổi Đảng, cán bộ tiền khởi nghĩa, trước ngày 25 tháng 8 một tuần đã gửi thư về văn phòng Đại tướng cho biết là từ đầu 2007, cụ đã 3 lần viết thư thăm hỏi Đại tướng và gia đình.

Trong dịp này cụ có ước vọng được gặp Đại tướng dù chỉ 5,7 phút, cụ đã nói: “Đó là nguyện ước to lớn và đã trở thành khát vọng trước lúc đi xa” và cũng là để lại kỷ niệm cho các thế hệ con cháu sau này. Văn phòng Đại tướng đã giúp cụ thực hiện ước nguyện này.

Trở về Vinh, cụ đã gọi điện báo tin về đến nhà an toàn. Cụ và gia đình rất mãng nguyện, sung sướng được trực tiếp gặp Đại tướng và tối qua cụ đã yên lòng ngủ một giấc suốt từ tối đến sáng...

Nhiều đoàn cựu chiến binh ở các tỉnh trong đó có đoàn cựu chiến binh tiểu đoàn phòng không anh hùng, đoàn Bảo hiểm Thái Bình đến từ sáng sớm ngày 24 tháng 8.

Đặc biệt chiều ngày 25 tháng 8, đoàn nữ cựu chiến binh gồm hơn 30 chị em đại diện cho câu lạc bộ nữ Trường Sơn ở Bắc Giang đã vô cùng xúc động được gặp Đại tướng. Có chị kể lại là trong những năm ở Trường Sơn, các chị chốt ở đèo Pu – la – Nhích, được tin Đại tướng đến thăm, nhưng không gặp được Đại tướng, nhiều chị em đã khóc.

Hôm nay, sau mấy chục năm chờ đợi, ước mong, được gặp Đại tướng, chụp ảnh chung với Đại tướng, chị em rất xúc động, có chị đã òa lên khóc.

Đại tướng cũng rất xúc động, cầm tay chị em, cảm ơn chị em đã chiến đấu ở các chiến trường ác liệt, hy sinh tuổi trẻ, tuổi đẹp nhất cho sự nghiệp giải phóng đất nước, nay đã làm tròn nhiệm vụ người mẹ, người bà, gương mẫu trong sản xuất, trong đời sống cho con cháu noi theo, lại đến thăm Đại tướng. Đại tướng rơm rớm nước mắt...

Văn phòng Đại tướng cũng cho xem bức thư chuyển phát nhanh của cụ Trương Quang Phúc – Chủ nhiệm Câu lạc bộ Hán Nôm Quảng Bình, gửi đến văn phòng đúng trưa ngày 25/8, 4 câu thơ “Cõi trăm năm – kính chúc Võ Đại tướng Thượng thọ” viết bằng chữ Nôm và chữ quốc ngữ:

“Thế giới nghìn xuân mấy tướng tài

Trường sinh đắc thọ chỉ mình ngài

Quảng Bình linh địa sinh nhân kiệt

Thấu cõi trăm năm nghĩa rộng dài...”

Có rất nhiều đoàn, nhiều câu chuyện xúc động và tình cảm của cán bộ, nhân dân, chiến sĩ với Đại tướng mà chúng tôi không thể kể hết ở đây.

Khoảng 9 giờ sáng ngày 26 tháng 8, anh em chúng tôi đã có mặt, ngồi đông đủ trong phòng tiếp khách của Đại tướng, được trang trí những bức trướng, câu đối, bài thơ, ảnh chụp, ảnh thêu, phù điêu, tượng mừng công lao và chúc thọ Đại tướng. Đặc biệt năm nay, ngoài những lẵng hoa, cây cảnh do các cá nhân, đại diện đoàn thể tặng, nổi bật có:

Bức chân dung bằng gốm sứ của nghệ nhân Phạm Tiến Khang (Bát Tràng) tặng Đại tướng rất đẹp.

Bức phù điêu tứ linh bằng đồng bóng loáng của nghệ nhân làng nghề Đồng Sâm do đoàn bảo hiểm Thái Bình tặng.

Nghệ nhân Triệu Hoàng Giang được một nhà điêu khắc nước bạn truyền nghề cho khi đi học nước ngoài, đã 9 năm khắc 20 bức tranh bằng đá về Bác Hồ đem về trình bày để Đại tướng xem.

Đây là tập tranh khắc đá tuyệt diệu đầu tiên với chủ đề “Bác Hồ” được trình bày để tham khảo ý kiến, rút kinh nghiệm, sau đó dự kiến phát triển qua các đề tài khác...

Chúng tôi ngồi quây quần quanh chiến bàn lớn, vui vẻ chờ Đại tướng và chị Đặng Bích Hà (phu nhân Đại tướng).

Đúng 9 giờ 30 phút, Đại tướng vào phòng họp trong bộ quân phục giản dị, mang quân hàm Đại tướng và lấp lánh trên ngực Huân chương Sao vàng và hai Huân chương Hồ Chí Minh, hai Huân chương Quân công hạng nhất.

Tất cả đứng dậy vỗ tay dào dạt, rộn ràng. Đại tướng giơ tay chào và ra hiệu cho mọi người ngồi xuống. Đại tướng lần lượt nhìn anh em và vui vẻ nói: “Rất mừng thấy các đồng chí đều mạnh khỏe, và vẫn trẻ như xưa”. Tất cả lại vỗ tay và ồ lên cười vui vẻ.

Mở đầu, đồng chí Đại tá Nguyễn Huyên, trợ lý của Đại tướng phụ trách văn phòng, báo cáo với Đại tướng thành phần và ý nghĩa cuộc gặp mặt “tình nghĩa sâu nặng” năm nay. Đông chí thay mặt anh chị em từng làm việc, phục vụ, gần gũi Đại tướng qua các thời kỳ, kính chúc Đại tướng bước sang tuổi 97 mạnh khỏe, minh mẫn. Trước mắt mạnh khỏe để đón chào 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội và sống lâu hơn nữa, sống trên trăm tuổi... Tất cả vỗ tay, cười vui thoải mái.

Có đồng chí thêm vào: Phải nói là mừng Đại tướng bước sang tuổi 97 dương lịch và tuổi 98 âm lịch – tuổi mụ. Có đồng chí vui mừng thốt lên: Xin mừng Đại tướng thọ đến 120 tuổi.

Nhận bó hoa tươi thắm và những lời chúc mừng, Đại tướng tươi cười: “Cảm ơn lời chúc tốt đẹp của các đồng chí! Tôi xin phấn đấu đến 121 tuổi, vượt mức lời chúc của các đồng chí một tuổi! Các đồng chí đồng ý không?”. Tất cả lại cười ồ lên vui vẻ.

Đồng chí Huyên thông báo, năm nay sức khỏe Đại tướng, theo quy luật tự nhiên, có sút kém hơn trước, đi lại có khó khăn hơn. Do đó văn phòng phải bố trí người đi sát giúp đỡ Đại tướng đi lại, sinh hoạt, đề phòng bị sảy chân ngã thì sẽ sinh đau yếu. Điều rất mừng là tuy lớn tuổi, gần tuổi 100, Đại tướng vẫn minh mẫn, tư duy sáng suốt...

Đại tướng cho biết, tuy hai hôm nay tiếp khách có mệt, nhưng sức khỏe vẫn bình thường, tối qua ngủ một giấc ngon, đến nửa đêm có tỉnh giấc rồi lại ngủ tiếp đến sáng. Trông Đại tướng vui vẻ, hồng hào, tất cả đều vui mừng, hồ hởi. Đồng chí Việt Phương, nguyên Thư ký của anh Tô (anh Phạm Văn Đồng) cũng đến tham dự.

Anh Văn quen thân anh Việt Phương từ lâu. Anh Việt Phương kể: “Anh Văn có cái nhìn xa và lòng bao dung, đã sớm thấy rõ những khó khăn và triển vọng của quá trình đổi mới tư duy, đã động viên tôi khi tập thơ “Cửa mở” gặp rắc rối trong xuất bản và biểu lộ lòng tin ở sự phát triển sau này.

Hôm nay xin phép anh Văn được tiết lộ bài thơ anh tặng trong dịp sinh nhật tôi năm 1988 mà anh gọi là: “Mấy vần thơ buông tặng Việt Phương”. Trong đó có những câu tôi nhớ mãi: “Tôi chúc anh trẻ mãi không già.Hai ba mươi năm nữa vẫn còn xuân phơi phới. “Cửa đã mở” rồi! Hoa thơm, hoa đẹp bốn phương đưa lại. Hoa nở thành thơ từng chùm, từng chùm... Nhìn về tương lại, ung dung tiến bước. Tương lai thuộc về chúng ta. Trẻ mãi, trẻ mãi, trẻ mãi...”. Tôi đã xin phép và được anh Văn đồng ý cho công bố rộng rãi bài thơ này trong tập sách sắp tới của tôi”.

Xúc động trước tình cảm ấm áp của buổi gặp mặt, Trung tướng Hồng Cư đã đọc to bài thơ anh vừa sáng tác, trong đó có đoạn viết:

Trí, dũng, nhân, tín, liêm, trung. Anh toàn vẹn

Dĩ công vi thượng một tầm cao

Danh tướng thời đại Hồ Chí Minh, nêu gương sáng

Danh tướng của muôn đời, hạnh phúc sao!

Sống mãi với non sông

Sống mãi với sử sách

Sống mãi trong lòng dân

Sống mãi với đồng bào!

Nhiều anh em còn muốn nói lên tình cảm của mình với Đại tướng nhưng thời gian không cho phép. Đồng chí Huyên mời Đại tướng có đôi lời với anh em. Đại tướng nói đại ý: Xin cảm ơn tất cả các đồng chí qua các thời kỳ đã giúp tôi hoàn thành những nhiệm vụ mà Đảng, Bác Hồ, nhân dân giao phó.

Năm nay, theo tuổi tác, sức khỏe tôi có hạn chế hơn nhưng tinh thần vẫn minh mẫn, vẫn thấy trách nhiệm theo dõi, nắm bắt tình hình để tiếp tục có những đóng góp vào sự nghiệp của toàn dân tộc theo tư tưởng của Bác Hồ.

Trong đà phát triển của đất nước, chúng ta vui mừng tự hào với những thành tựu của sự nghiệp đổi mới toàn diện; nhưng phải thấy đất nước ta vẫn còn nghèo, còn nhiều yếu kém, nhiều hạn chế, nhiều tệ nạn bức xúc mà các nghị quyết của Đảng và báo chí đã nêu, nên tuyệt đối không được chủ quan, tự mãn, dừng lại.

Đặc biệt là đất nước càng phát triển, đời sống càng đi lên, đảng viên, cán bộ càng gương mẫu, phải nhớ là làm đúng theo lời Bác “dĩ công vi thượng”, chống chủ nghĩa cá nhân, chống bè phái, hẹp hòi chống quan liêu tham nhũng, phải tăng cường đoàn kết, thực hiện dân chủ, tăng cường sâu sát, gần dân, hết lòng vì dân.

Những điều đó chính là cốt lõi của tư tưởng đạo đức Bác Hồ. Vừa rồi trong những bức xúc của đất nước, tôi quan tâm đến vấn đề giáo dục đào tạo, quốc sách hàng đầu của sự nghiệp phát triển.

Tôi đã suy nghĩ, phân tích, viết thư kiến nghị gửi lên Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ mong góp ý kiến vào một vấn đề lớn của đất nước, của dân tộc hiện nay. Vừa qua, các đồng chí lãnh đạo đến thăm tôi đều cho biết là đã nhận được và thư nêu ý kiến sâu sắc, đang gửi đến các cơ quan nghiên cứu.

Hiện nay còn có một vấn đề lớn nữa liên quan đến cuộc sống lâu dài của người dân Việt Nam. Đó là vấn đề môi trường. Môi trường của chúng ta ngày càng xấu đi, càng bị ô nhiễm nghiêm trọng.

Nhất là vấn đề chất thải, rác, bụi, ô nhiễm không khí và nguồn nước ở các thành phố lớn. Đặc biệt nạn phá rừng đang làm ảnh hưởng lớn đến môi trường sinh thái của cả nước. Trước hết tôi sẽ góp ý kiến với Hà Nội và sau đó góp ý kiến với cả nước về vấn đề này.

Chúng ta đã góp sức, góp tài trí cho sự nghiệp giải phóng và bảo vệ đất nước, nay còn sức, còn tài trí, phải đóng góp cho sự nghiệp đổi mới xây dựng đất nước đàng hoàng hơn, to đẹp hơn như mong muốn của Bác Hồ.

Xin chúc các đồng chí khỏe, hẹn năm sau gặp lại vẫn đông đủ, vui vẻ. Xin gửi lời chúc các chị và các cháu mạnh khỏe, hạnh phúc. Nhớ quan tâm động viên các cháu rèn luyện, học tập để trở thành nhân tài đóng góp cho sự nghiệp xây dựng đất nước giàu mạnh và bảo vệ vững chắc Tổ quốc thân yêu.

Đại tướng giơ tay chào mọi người. Những lời dạy của Đại tướng thật thấm thía, một phút lặng đi, sau đó nở òa thành tiếng vỗ tay.

Đại tướng và chị Hà đã chia tay với anh chị em nhưng không khí trong phòng vẫn dạt dào... Tất cả cất lên những bài hát kháng chiến để nhớ đến những ngày chiến đấu hào hùng của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bài “Quảng Bình quê ta ơi”, nhớ đến mảnh đất địa linh nhân kiệt đã sinh ra cho đất nước người con trung hiếu suốt đời vì nước, vì dân.

04 tháng 9 năm 2007

Đại tá Nguyễn Văn Trung
 
(Theo Vietbao)
Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #6 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2008, 07:12:59 pm »

KỈ NIỆM VỀ CHA TÔI

"Không biết ở cơ quan như thế nào, còn khi về nhà lúc nào cũng thấy ba cười, thanh thản và chiều chuộng mọi người ... Ông lúc nào cũng cười, tự tin và lạc quan hết mức". Đó là hình ảnh của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh trong mắt cô Nguyễn Thanh Hà - con gái Đại tướng.

Năm nay, tôi được Nhà nước cho về hưu, các em tôi bảo: “Thôi nay chị đã nghỉ rồi, giao nhiệm vụ phải viết một bài về ba mẹ, không lẽ chúng mình cứ im lặng mãi?”. Tôi nhận lời với các em, nhưng khi ngồi vào bàn mới thấy viết về một con người như vậy thật khó khăn, không phải vì ông là một đại tướng, mà vì trong tôi, ba đã trở thành một ký ức thiêng liêng.

Ngày giải phóng thủ đô, gia đình tôi về Hà Nội, ở nhà số 1 đường Thanh Niên, một ngôi nhà cổ kính ven hồ Trúc Bạch. Vài năm sau chuyển về nhà 34 Lý Nam Đế, một ngôi biệt thự rộng rãi và có vườn hoa rất đẹp. Sau khi gia đình tôi chuyển về đó ít hôm, Bác Hồ đến thăm. Khi ra về Bác bảo: Nhà đẹp, gọn gàng như vậy là tốt, nhưng nên trồng thêm rau, cây ăn quả trong vườn. Thế là ngày hôm sau, cả nhà cùng các chú cảnh vệ xoay trần ra trồng rau, cây ăn quả... Đặc biệt ba tìm không biết ở đâu mấy cây dừa miền Nam trồng ở trước và sau nhà.

Đến năm 1967, khi ông chuẩn bị vào Nam lần thứ 2 thì bói lứa quả đầu, ba cho hái mấy quả, quả đầu tiên đưa lên cho mệ (bà nội), còn lại bổ lấy nước mấy cha con uống. Uống xong, ông khà một tiếng thật sảng khoái rồi nói: “Chà, nước dừa ngon quá, uống được một hớp thế này chết cũng sướng”. Vài hôm sau thì ba mất. Căn nhà 34 Lý Nam Đế gia đình tôi ở đến năm 1989 thì trả lại cho Tổng cục Chính trị, làm trụ sở Hội Cựu chiến binh Việt Nam. Nay mỗi lần đi qua đó, không lần nào chúng tôi không nhớ lại tuổi thơ và những năm tháng tươi đẹp, khi xung quanh còn ba, còn mẹ, còn một đại gia đình, và cả 4 chị em tôi đều lớn lên ở đó.


Ngày trước, ai đi qua cửa nhà chúng tôi cũng thấy một bà già lắm rồi, tóc bạc trắng như cước, khi nào cũng đứng ở trên lan can gác 2 nhìn xuống đường - đó là bà nội tôi, ở nhà gọi là mệ. Mệ chính là người nuôi dạy và bảo ban ba đi làm cách mạng, bàn tay phải của mệ chỉ còn 4 ngón, do lấy tay bịt nòng súng của quan ba Pháp không cho nó chĩa vào mặt, bị nó bắn cụt mất ngón tay... Khi ba từ Việt Bắc về Hà Nội đưa mệ từ Thừa Thiên ra ở cùng.

Có lần ba cùng mấy người bạn đồng hương ngồi nói chuyện quê hương, cứ mong ước được về Nam đánh giặc giải phóng quê hương, mệ đi qua nghe được, hứ một tiếng rồi nói: “Mấy thằng bay toàn đánh giặc mồm, có giỏi thì vô Nam mà đánh, ngồi đây mà nói chuyện đánh đấm làm chi rứa?”. Sau này được Bộ Chính trị và Bác Hồ cử vào Nam đánh Mỹ, có lẽ ba không bao giờ quên câu nói đó của mệ, và đến đầu năm 1967, khi ba từ miền Nam ra, gặp mệ đầu tiên, mẹ chỉ cười rồi nói: “Mi giỏi!”.

Trong gia đình, cả 4 chị em tôi đều kính trọng và nghe lời mẹ - hình như cả ba cũng vậy. Về chuyện của ba và mẹ đã có nhiều người kể - đó thực sự là một tình yêu lớn và hết mực thủy chung. Có một câu chuyện thật cảm động chúng tôi được nghe ba mẹ kể lại: Năm 1947, Bình Trị Thiên vỡ mặt trận, mọi người mạnh ai nấy chạy, thương vong hy sinh rất nhiều. Mẹ nghe người ta nói ba bị Pháp bắn chết rồi ném xác xuống sông, ba thì nghe mẹ qua sông bị pháo bắn chết trôi mất xác rồi.

Ở Thừa Thiên có một tập tục, ai chết đuối không tìm được xác thì người nhà phải chạy dọc bờ sông, gọi tên người đó thì xác mới nổi lên được. Thế là ba mẹ mỗi người một bên bờ sông Hương, vừa chạy vừa gào tên nhau, “Thanh ơi”, “Cúc ơi” - vấp ngã đứng lên chạy tiếp, gào tiếp... Thế rồi hai vợ chồng nghe tiếng gọi tên, rồi nhìn thấy nhau, mừng quá lội ào ra ôm nhau giữa sông.

Ba khi nào cũng yêu thương và nghe lời mẹ trong chuyện gia đình. Mẹ rất nghiêm khắc và ít khi bộc lộ tình cảm, nên chúng tôi không hiểu được tình yêu mẹ dành cho ba như thế nào. Chỉ sau khi ba mất, và đến cuối đời mẹ hơn 10 năm sau chúng tôi mới hiểu, mười mấy năm đó mẹ sống trong nỗi đau thầm lặng vì nỗi tiếc nhớ ba không gì bù đắp nổi, không quên đi được dù 1 phút 1 giây. Cuộc sống của mẹ những năm sau đó chỉ để nuôi dạy các con.

Nói về ba và gia đình, không thể không kể đến một thành phần rất quan trọng đó là các chú, các cô. Họ là những người cùng sống, làm việc với ba mẹ, nhưng lâu quá, gần gũi quá nên đã trở thành những thành viên trong gia đình, như những người ruột thịt. Hình như ở miền đất nào, chiến trường nào ba cũng tìm thấy những người thân thiết như vậy, rồi tất cả những người đó dần dần tụ họp lại với nhau, gắn kết với nhau xung quanh ba và mẹ thành một đại gia đình đoàn kết, quý mến nhau. Như chú Chắt bảo vệ, cô Hiền ở chiến trường Trị Thiên, đến cô Bảo, chú Chương, chú Duy, cô Mỹ thư ký, cô Toản bác sĩ, cô Mộ La phiên dịch, chú Cổn chăn ngựa, chú Thái nấu cơm, cô Mười bế em... ở Việt Bắc, chú Mai Quang Ca, chú Vũ thư ký, bác Diệp nấu cơm, chú Nghĩa lái xe, cô Phúc phục vụ... ở Hà Nội, chú Thuận bác sĩ, anh Thái bảo vệ ở chiến trường miền Nam... Ba mẹ đã sống với những người đồng chí thân cận đó, và cả gia đình họ như với những người anh em ruột thịt.

Một điều hạnh phúc và may mắn nhất của gia đình tôi là được Bác Hồ yêu thương và thỉnh thoảng được gặp Bác. Bác đã đến nhà tôi mấy lần, và cứ mỗi lần như vậy cả gia đình tôi vui như ngày hội, đến cả tháng sau vẫn còn náo nức. Cũng như đối với tất cả mọi người dân Việt Nam khác, Bác là thần tượng của ba, nhưng có một cái gì đó rất thân thiết, gần gũi và cảm thông. Hồi đó ba hay vào báo cáo công việc với Bác, mỗi khi ra về ông thản nhiên đút bao thuốc hút dở của Bác vào túi, và Bác coi như không để ý - thế là hôm đó các chú ở nhà lại được một bữa vui, ba về chia thuốc cho mọi người hút, ngồi say sưa kể chuyện về Bác - lãnh tụ tối cao của dân tộc nhưng thân thiết, gần gũi và bao dung làm sao.

Khi ba từ miền Nam ra, cả nhà được báo trước đứng chờ ba ở cửa - mệ, mẹ, mấy chị em và tất cả mọi người. Chờ mãi không thấy, sau lâu lắm mới thấy ông về, ba bảo: “Ba phải vào thăm và báo cáo tình hình với Bác trước hết, rồi mới về nhà được”. Mấy tháng sau, vào hôm trước khi ông lên đường vào Nam lần thứ 2, cả nhà chờ cơm rất muộn, hỏi ra mới biết, ba được Bác gọi vào ăn cơm chia tay, cơm xong phải đi gặp một vài người bàn nốt công việc. Sau đó không hiểu sao, ông lại quay vào Phủ Chủ tịch, ngồi dưới nhà sàn, lưu luyến mãi không muốn về. Ông nói với chú Vũ Kỳ: “Tôi đi lần này chắc sẽ hoàn thành việc Bác giao, chỉ băn khoăn một điều là sức khỏe của Bác...”. Không ngờ sáng sớm hôm sau ba mất, không thực hiện được ước mơ của mình là đưa Bác vào Nam thăm đồng bào chiến sĩ...

Sau khi ba mất, hằng năm gia đình tôi đều được Bác gọi vào, cho ăn cơm, hỏi thăm tình hình sức khỏe của mệ, công việc của mẹ, học hành của trẻ con... - khi ra về Bác cho mỗi đứa mấy cái kẹo, riêng thằng Vịnh, em tôi thì phải hôn hai má Bác, kêu thật to mới được về... Những kỷ niệm ấy, suốt đời chúng tôi không quên được và biết rằng chúng tôi thật may mắn và hạnh phúc...

Cùng với ba tôi, quây quần xung quanh Bác thời đó là các bác, các chú trong Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương. Chúng tôi có may mắn là cũng được biết, được gặp họ nhiều lần. Sau khi ba tôi mất, mỗi năm đến ngày giỗ ba, các bác các chú đều đến nhà tôi, thăm hỏi gia đình rất thân tình, giản dị... Ấn tượng về họ rất mạnh, vì họ đều là những con người kiệt xuất, tài giỏi nhưng rất ân tình.

Không biết ở cơ quan như thế nào, còn khi về nhà lúc nào cũng thấy ba cười, thanh thản và chiều chuộng mọi người. Sau này lớn lên chúng tôi mới biết, khi còn sống, ba cũng có những thời điểm rất khó khăn, cũng rất nhiều lần ba phải dằn vặt, trăn trở suy nghĩ trước khi đưa ra những quyết định rất khó khăn cho chính bản thân mình, hay đóng góp cho Đảng và quân đội những ý kiến có ý nghĩa sống còn cho sự nghiệp chung của Đảng và dân tộc... Tuy vậy, không bao giờ chúng tôi thấy điều đó thể hiện trong cuộc sống gia đình của ba. Ông lúc nào cũng cười, tự tin và lạc quan hết mức.

Ba là đại tướng, chúng tôi khi đó chưa hiểu gì về sự nghiệp và tài chỉ huy quân sự của ông. Chỉ có một điều mà ai cũng biết: quân đội là sự nghiệp, là lẽ sống, là máu thịt, là niềm say mê và là tình yêu của ông. Mẹ là bộ đội, 3 chị em gái tôi đều vào bộ đội khi vừa tốt nghiệp lớp 10. Còn thằng Vịnh, từ khi 4 tuổi ba đã thêu trên ve áo nó 2 miếng phù điêu đỏ không sao không gạch - ba gọi chức của nó là “binh bét”, và luôn bảo rằng khi lớn lên con đường của nó là đi bộ đội. Có hôm ngồi chợt nhớ anh Trường Sơn (anh trai đầu của chúng tôi, đã mất từ năm 47), ba chặc lưỡi nói: “Chà, thằng Sơn bây giờ còn sống thì đã hai mươi tuổi, đã vào Nam đánh Mỹ được rồi, không khéo làm đến hạ sĩ, cán bộ trung đội chứ chẳng chơi...”. Sau này khi vào Nam đánh Mỹ, ba đã lấy bút danh “Hạ sĩ Trường Sơn” trong các bài bình luận nổi tiếng về cuộc chiến tranh chống Mỹ, giải phóng dân tộc.

Ngoài công việc, ba rất thích về nông thôn. Vì ông cũng vừa bỏ được phận cố nông hơn chục năm đó thôi, nên mỗi khi đi như vậy, chúng tôi thấy ông sảng khoái, thanh thản vô cùng - như con cá được xuống nước vậy. Ông có biệt tài gợi chuyện những người nông dân, hình như họ không tin được ông là một cán bộ cao cấp, mặc dù lúc ấy những người đi xe Volga về nông thôn ít lắm. Họ kể chuyện cho ông nghe, phàn nàn với ông về những điều chưa được, cười nói với ông khi kể về chuyện làng xóm, chuyện hợp tác xã, chuyện gia đình...

Tôi còn nhớ một lần vào năm 1961, được theo ông về thăm một hợp tác xã nông nghiệp ở Quảng Bình, ông không làm việc với Ban quản trị, mà tìm đến một gia đình hai vợ chồng vừa thoát cảnh cố nông. Bước vào nhà ông hỏi: “Thế nào, trong gia đình ta có cái gì nào? Tài sản có gì cho xem cái chơi nào”. Người chồng chẳng biết ông là ai, trả lời thủng thẳng: “Hai vợ chồng, 1 cái nhà, 1 nồi một, 1 nồi hai, 1 mâm thau chén bát, 1 cái giường, 1 cái phản. Ngoài chuồng có 1 gà mẹ 10 con, lợn thì có chuồng rồi nhưng chờ hợp tác xã đẻ sẽ bán cho 2 con”. Ông hỏi: “Nhà có 2 vợ chồng, tại làm sao có 1 giường 1 phản, thế tối ngủ chung hay ngủ riêng?”. “Báo cáo ngủ riêng, vì có mang 8 tháng rồi”. Ông cười rất tươi, bảo: “À thế thì được, cầm lọ dầu bao giờ vợ đẻ mà dùng. Thế cuộc sống thế nào, đối với Đảng có đề nghị gì không?”. Chị vợ tranh lời: “Úi chào, đề nghị gì nữa, đến chết thôi chừ cũng tin Đảng hung rồi. 5 năm nữa thì sướng hung rồi”. Ông hỏi chị vợ: “Thế hai vợ chồng hạnh phúc chứ?”. Hai vợ chồng nhìn nhau tỉm tỉm cười... Họ nói chuyện y hệt những người nông dân với nhau vậy. Chưa bao giờ tôi thấy ông vui như lần ấy, và tôi nhìn thấy trong tận cùng của ba vẫn là một người nông dân, một anh cố nông được Đảng đổi đời, cũng như vợ chồng anh cố nông kia vậy.

Là một người cha nhân hậu và hết mực thương yêu con cái, nhưng ba là người rất nghiêm khắc. Những lá thư gửi từ miền Nam ra cho chúng tôi, không bao giờ thấy ông chúc may mắn, thành đạt... mà chỉ dặn là khiêm tốn và chăm lao động. Ba hiền lắm, từ nhỏ chưa bao giờ ba nặng lời, hoặc đánh mắng chúng tôi, nếu có gì sai ba nghiêm khắc bảo ban, nhưng cũng hay xuê xoa để mẹ không mắng mấy chị em. Nhưng có những điều ba rất “kỵ”, và không bao giờ bỏ qua.

Tí đến tận bây giờ vẫn nhớ lần bị ba bắt quỳ giữa sân vì nói hỗn với chú bảo vệ. Vịnh lúc đó còn bé tí, nhưng có lần bị xách tai đau điếng, vì tranh nhau mấy cái kẹo với thằng Phúc con chú Chắt bảo vệ. Đấy, ba dạy chúng tôi như thế: mọi sai lầm khuyết điểm đều có thể tha thứ, và đều có thể sửa chữa được - nhưng có những điều không thể bỏ qua, đó là hỗn láo với mọi người xung quanh, thứ đến là giả dối, lười biếng, ích kỷ và đua đòi. Bây giờ khi nhớ lại những chuyện nhỏ như vậy, chúng tôi mới hiểu tình thương của ba đối với chúng tôi như thế nào...

40 năm sau khi ba mất, tình cảm không còn đầy đủ như khi ba mẹ còn sống, và cuộc sống cũng có khi này khi khác - nhưng chúng tôi luôn thanh thản, tự hào và hài lòng với cuộc sống của mình. Còn đòi hỏi gì thêm nữa, khi mình được sinh ra và lớn lên trong một gia đình như vậy, có một người cha như vậy!

(Theo Thanh Niên)
Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #7 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2008, 07:23:36 pm »


THƯỢNG TƯỚNG HOÀNG MINH THẢO: “Ở NHÀ, TÔI NHƯ ANH LÍNH HỌC VIỆC”


Hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ thần thánh của dân tộc thành công không chỉ nhờ tài chỉ huy quân sự của các vị tướng lĩnh mà còn có sự góp công, góp sức của “hậu phương”, của những người mẹ, người vợ. Dưới đây là câu chuyện cảm động về cuộc sống phía sau cuộc chiến của Thượng tướng Hoàng Minh Thảo qua lời kể của phu nhân

Phu nhân Thượng tướng Hoàng Minh Thảo: "Chồng tôi không biết chiều vợ"

    * Kể từ khi cưới nhau, thời gian ông bà sống bên nhau thực sự được bao lâu?
   
 - Chúng tôi tổ chức lễ cưới vào năm 1949, khi đang tản cư ở Nam Định, đến nay cũng gần 60 năm. Tuy nhiên, thời gian sống gần nhau không nhiều, bởi ông ấy là Tư lệnh Quân khu 4 nên suốt ngày ở đơn vị chỉ huy. Cưới hôm trước, sáng hôm sau ông ấy lên đường trở lại khu 4, khi ấy tôi mới 19 tuổi. Đánh Điện Biên Phủ xong, chúng tôi có thời gian ở với nhau nhiều nhất khoảng 5 ngày, khi ông ấy làm Hiệu trưởng Học viện Lục quân. Năm 1965, ông ấy nhận nhiệm vụ của Trung ương vào chiến trường Tây Nguyên và ở riết trong ấy đến khi giải phóng. Vợ chồng chẳng mấy khi gặp nhau. Thi thoảng, ông ấy ra Bắc nhận mệnh lệnh hay họp hành thì mới được ở gần nhau khoản nửa tháng.

    * Thời gian đằng đẵng nuôi con một mình là thời gian đầy nước mắt?
 
  - Hầu như tôi chưa bao giờ khóc, dù đó là những lúc cơ cực nhất không có chồng bên cạnh đỡ đần, một nách ba con trai đang tuổi ăn, tuổi lớn. Ngay từ ngày lấy ông ấy, tôi đã xác định việc gia đình chỉ có mình tôi lo. Vì thế, nếu khóc lóc thì càng làm rối việc quân của ông ấy.

    Tôi và ông ấy đến với nhau do chú tôi mai mối, tôi chỉ biết ông ấy là lính cụ Hồ ở trong Khu 4, chứ có biết là Tư lệnh gì gì đâu. Khi ấy, tôi có cảm tình với người thanh niên có đôi mắt sáng quắc, phong thái uy dũng nhưng lại hiền khô. Khi chuẩn bi cưới, tôi nghe bố tôi nói ông ấy làm cái gì to lắm, sau tôi mới biết là Tư lệnh Quân khu 4, bởi khi đó, ông ấy còn quá trẻ, mới có 28 tuổi.

    * Trong suốt thời kỳ chiến tranh ấy, đâu là thời kỳ nào là hạnh phúc nhất của ông bà?

   
 - Vẫn là thời kỳ ông ấy là Hiệu trưởng học viện Lục Quân, vì chúng tôi được bố trí ở ngay trong khu tập thể gần đấy nên ông ấy cứ sáng đi tối về, trừ những ngày họp hành công tác.
 
   * Làm vợ một vị tướng hẳn là “sướng” hơn vợ một người lính?
   
- Tôi chẳng thấy sướng hơn mọi người. Vì tôi vẫn ăn cơm tập thể của đơn vị, vẫn tăng gia bằng việc nuôi lợn, nuôi thỏ mang ra chợ Bưởi bán, cũng xếp hàng đi mua hàng hóa, thực phẩm như mọi người.

    * Bà còn nhớ thời kỳ vất vả nhất?
   
- Có lẽ là thời kỳ chồng tôi đi Tây Nguyên. Bốn mẹ con nuôi nhau, hết chạy lên Tam Đảo (Vĩnh Phúc) lại về Hà Nội sau mỗi lần giặc Mỹ ném bom Hà Nội. Có lần đang sơ tán trên Tam Đảo, nhận được điện của Tổng cục Chính trị gọi về ngay Hà Nội, lúc ấy tôi nghĩ chắc anh Thảo có chuyện gì chằng lành đây. Đấy là những lúc yếu lòng, nhưng vấn không khóc. Nghĩ lại hình ảnh, mẹ thì yếu con mới lên tám tuổi khiêng thùng nước đi chênh vênh leo bậc thềm mà thương con lắm. Nhưng tất cả phải cố gắng thôi, vì người ở ngoài chiến trường còn chẳng biết sống chết ra sao nữa là...

    * Xa nhau, ông bà thường liên lạc bằng thư từ?
   
 - Rất ít, bởi việc liên lạc không dễ như bây giờ. Khi nào có người vào, người ra thì mới gửi được. Mà viết thư hồi ấy chỉ động viên nhau thôi. Vợ viết cho chồng nào là “anh yên tâm đánh giặc, mọi việc ở nhà đã có em chu toàn, con cái ngoan ngoãn...”. Chồng viết cho vợ cũng là “anh vẫn khỏe, ta càng thắng lớn, thống nhất đất nước, anh sẽ về..”. Nói thật, chúng tôi chẳng có những lời lẽ nhớ thương như bây giờ. Bởi hậu phương có vững, tiền tuyến mới chung lòng đánh thắng giặc được.

    * Bà còn nhớ kỷ niệm đẹp nào dành riêng cho hai người?
   
- Ấy là khi ông ấy đến nhà tôi lần đầu. Chiều hôm ấy, ông ấy mạnh dạn rủ tôi đi dạo xung quanh bờ ao trước nhà. Chúng tôi đều kiệm lời, nhưng cảm nhận được hạnh phúc và linh cảm được sự gắn bó với nhau. Bởi đây cũng là mối tình đầu của cả hai người. Sau này có vài lần chúng tôi đi nghỉ hè bên nhau, nhưng thời khắc lần đầu gặp mặt ấy vẫn đọng lại trong tôi thật hạnh phúc mỗi khi nghĩ đến.

    * Những ngày ở bên nhau có khi nào ông nấu cơm cho bà không?
   
- Cái này thì chưa bao giờ nhưng có lẽ ông ấy là người dễ tính nhất trong việc ăn uống. Ông ấy suốt ngày viết sách, tổng kết chiến tranh, nghiên cứu các học thuyết quân sự...

    * Có bao giờ hai người to tiếng với nhau?
   
 -  Điều này tuyệt đối không. Cưới nhau gần 60 năm nhưng chúng tôi chưa bao giờ cãi nhau hay to tiếng mặc dù nhiều lúc tôi cũng lâm vào hoàn cảnh trớ trêu lắm chứ. Ông ấy hiền nhưng chẳng biết chiều vợ như nhiều người khác. Tác phong nhà binh mà. Tuy vậy, chẳng thấy ông ấy bắt bẻ vợ con điều gì.

    * Bà theo dõi bước tiến của chồng mình như thế nào trong những ngày tháng Ba Tây Nguyên rực lửa?
   
 - Tôi và con cứ nghe đài rồi nhìn lên bản đồ để xác định chồng đang ở đâu. Đài đưa tin đã thắng lợi ở Buôn Mê Thuột, tôi lại lấy bút chì chấm đổ ở đấy để theo dõi những chiến công của quân giải phóng và chồng mình. Nhiều đêm nằm nghe bản tin cuối ngày của Đài tiếng nói Việt Nam, đài báo tin đã thắng ở Nha Trang, tôi bật dậy chấm đỏ vào đó rồi rưng rưng nước mắt khi ngày đoàn tụ đã đến gần, đất nước sẽ thống nhất, gia đình sẽ được sum vầy bên nhau. Thói quen này theo tôi đến tận những ngày chiến dịch Hồ Chí Minh thắng lợi, giải phóng hoàn toàn miền Nam.

    * Trong cuộc sống gia đình, bà là người có đề ra một nguyên tắc nào không?
   
 -   Nguyên tắc lớn nhất là tin tưởng và chung thủy với nhau. Đó cũng là niềm tin lớn nhất khi hai người ở hai nơi.

              Thượng tướng Hoàng Minh Thảo: Việc gia đình đều do vợ tôi quyết

    * Cho đến giờ, nếu tự mình đánh giá lại, ông thấy mình có "khuyết điểm" gì với vợ, thưa Thượng tướng?
   
 - "Khuyết điểm" lớn nhất của tôi với vợ con là "dành" công việc gia đình cho vợ "quyết". Từ xây nhà ra sao, sắp xếp đồ đạc trong nhà thế nào cũng một tay bà ấy làm hết. Chỉ huy chiến đấu thì tôi làm được, nhưng quản lý việc nhà thì tôi chỉ như anh lính học việc.

    * Gần 60 năm qua, vợ ông luôn là hậu phương vững chắc cho ông nơi hòn tên mũi đạn. Có bất chợt khi nào đó trên chiến trường, trước mũi tên hoàn đạn, ông sợ vợ mình thay đổi?
   
- Đấy là điều tôi thực sự yên tâm nhất ở vợ tôi. Ngay từ khi mới gặp nhau, tôi đã cảm nhanạ được sự thủy chung ở vợ tôi. Tôi chưa băn khoăn bất cứ điều gì về vợ tôi cả.

    * Ông viết sách rất nhiều. Có quyển nào ông viết vợ mình?
   
- Chủ yếu là tôi viết sách về lý luận quan sự được tổng kết qua thực tiễn đấu tranh dựng nước và giữ nước hào hùng của dân tộc, cũng như chính bản thân mình qua hai cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại là chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Vì thế, sách của tôi toàn là về cách đánh, chỉ huy chiến lược, thế và thời trong chiến tranh là chủ yếu. Duy nhất tôi chỉ nhắc đến gia đình trong sách đó là trong "Hồi kí chiến đấu ở Tây Nguyên", xuất bản năm 2005. Đó là năm 1974 khi tôi ra Bắc họp với Trung ương về kế hoạch giải phóng miền Nam năm 1975. Thế nhưng họp xong tôi phải đi ngay vào Nam chuẩn bị cho chiến dịch mở màn giải phóng hoàn toàn miền Nam là chiến dịch Buôn Mê ThuộtKhi đi thì đã áp tết, chỉ còn 5 ngày là tới Tết Nguyên đánnhưng vẫn phải lên đường. Trong lòng trào lên cảm giác bâng khuâng khôn tả vì bao nhiêu cái Tết không được sum vầy bên vợ con, nay cận ngày mà vẫn ra đi vì nhiệm vụ lớn của dân tộc.

    * Bao nhiêu năm ở chiến trường Tây Nguyên, trong những "khoảng lặng" của trận đánh, có bao giờ ông nhớ đến bà da diết?
   
- Thực sự với mỗi người lính chúng tôi thời bấy giờ, nhiệm vụ chung được đặt trên tình cảm riêng. Những mùa mưa dầm dề chuẩn bịcho các trận đánh vào mùa khô, chúng tôi cũng không mấy khi dám nghĩ về gia đình vì còn bao nhiêu thứ phải lo nghĩ để giành thắng lợi nữa chứ.
Viết thư cũng phải có dịp, không phải lúc nào cũng có điều kiện, vì phục thuộc vào đường xá, thời tiết, rồi nhiều khó khăn không thể lường trước được của cuộc chiến tranh kéo dài với người được xác định là "đi B dài" như chúng tôi.
 
Theo T.H - Hồng Sơn
Gia đình và Xã hội
Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #8 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2008, 07:28:30 pm »

TRUNG TƯỚNG - ANH HÙNG PHI CÔNG NGUYỄN VĂN CỐC: "NẤP" SAU CÁNH GÀ XEM VỢ HÁT


Nguồn: Tạp chí Văn nghệ quân đội

Trung t­ướng Nguyễn Văn Cốc, nguyên là một phi công bắn rơi 9 máy bay Mĩ, đ­ược tặng thư­ởng 9 huy hiệu Bác Hồ. Những chiến công của ông đã làm rạng danh Không quân Việt Nam. Những ng­ười lính Phòng không – Không quân thư­ờng nghe nói đến cái sự “nghi ngơ” đãng trí rất đáng yêu của ông. Và sự “nghi ngơ” trời phú ấy nhiều khi đã đem đến những tình huống thật hài h­ước và không kém phần thú vị, đặc biệt là trong tình yêu những ngày đầu tiên. Tôi đã đ­ược nghe chính bà Đới Thu H­ương, phu nhân của Anh hùng phi công Nguyễn Văn Cốc kể lại những mẩu chuyện ngộ nghĩnh của cái thuở ban đầu..

      “QUÊ ĐỒNG CHÍ Ở ĐÂU?”
     
Năm 1966, Đoàn văn công Quân chủng Phòng không – Không quân về biểu diễn phục vụ tại Đoàn Không quân Sao Đỏ – đơn vị đầu tiên của Không quân Việt Nam. Nguyễn Văn Cốc đang là phi công chiến đấu tại đây. Theo phân công thì mỗi đại đội chỉ đ­ược xem một đêm. Trong buổi đại đội mình đư­ợc đi xem, Nguyễn Văn Cốc đã “phát hiện” ra ca sĩ Thu H­ương và cứ ngồi sát cánh gà xem cô hát. Đến hôm sau, dù đã hết l­ượt đại đội của ông đư­ợc xem như­ng vẫn thấy Nguyễn Văn Cốc “mò” ra ngồi sát cánh gà. Khi Thu Hư­ơng hết phần biểu diễn, ông lân la làm quen. “Đồng chí H­ương ơi, thế quê đồng chí ở đâu?” “Quê tôi ở Thanh Hoá đồng chí ạ” – Cô ca sĩ trả lời rất xã giao. Một lúc sau lại thấy ông hỏi: “Đồng chí H­ương ơi, quê đồng chí ở đâu?” “Ơ, tôi vừa nói với đồng chí rồi mà, quê tôi ở Thanh Hoá...” Chàng phi công trẻ đứng ngẩn ra, nh­ưng một lát nữa Nguyễn Văn Cốc vẫn lặp lại câu hỏi này khiến cô văn công trẻ không khỏi... ngỡ ngàng. Ông đã làm quen với ngư­ời vợ của mình như­ thế.
   
                       
    Sau đó, thi thoảng có dịp về Quân chủng là ông lại “tụt tạt” vào thăm bà ở khu nhà dành cho diễn viên Đoàn văn công. Bà ở tập thể nên tất cả khách khứa đến chơi đều chỉ ngồi trên gi­ờng. Nguyễn Văn Cốc cũng không là ngoại lệ. Và tất cả những buổi viếng thăm đó, thời gian đều đ­ược ông dùng để... cấu vào chiếc chiếu trải gi­ường. Kết quả là sau mấy lần ông đến chơi, chiếc chiếu bị rách cả một mảng mà chuyện tình cảm thì chư­a có tiến triển gì. Đến năm 1969 ông và bà cùng đ­ược đi dự Đại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua của Quân chủng Phòng không – Không quân. Ông là chiến sĩ Quyết thắng có thành tích lẫy lừng bắn rơi 9 máy bay Mỹ. Bà là chiến sĩ thi đua tiêu biểu, 1 trong 5 đại biểu nữ. Việc qua lại giữa hai ng­ười vẫn chỉ là thân quen chứ chư­a có gì xa hơn. Vì bà ngày đó cũng có rất nhiều “anh tài” theo đuổi, cả anh hùng phi công, anh hùng xe tăng và nhiều nhân vật tiếng tăm khác. Còn ông, tuy cũng là dũng sĩ diệt máy bay, đ­ược Bác Hồ khen ngợi và là thần t­ượng của biết bao cô gái đẹp như­ng với bà vẫn ch­a thật sự ấn t­ượng. Nh­ưng như­ là duyên phận, 8 năm sau kể từ tối xem văn công đầu tiên, ông và bà đã chính thức làm lễ cư­ới sau những năm tháng qua lại, với nhiều thử thách từ chính bản thân mỗi ngư­ời.

      Năm 1971, tr­ước khi đi Liên Xô học tiếp, ông có nhờ đồng chí Vũ Thành, ở Ban cán bộ Quân chủng mai mối với bà. Nhận đ­ược lời mai, bà vẫn chư­a trả lời dứt khoát mà chỉ giữ quan hệ thân mật. Bà khẳng định là ch­ưa có ng­ười yêu, còn có yêu ông hay không thì... không nói. Thời gian ông đang học tại Liên Xô, hai ngư­ời vẫn giữ liên lạc. Một sự kiện đã làm thay đổi “cục diện tình tr­ường” trong bà. Ấy là năm 1972, khi Điện ảnh Quân đội xây dựng và công chiếu bộ phim “Bay lên từ mặt đất” làm về anh hùng phi công Nguyễn Văn Cốc (năm 1969 ông đ­ược phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND). Khi bộ phim đ­ược chiếu tại Trư­ờng dự khoá bay, gần nơi Đoàn Văn công ở, bà có đi xem. Phim quá hay và cảm động, khắc hoạ đầy đủ chân dung ng­ười anh hùng ra đi từ đồng quê với hoàn cảnh đầy khó khăn vất vả, bố lại mất từ khi mới 5 tuổi. Hình ảnh mẹ ông đến đơn vị thăm con, và ông lái máy bay cho mẹ xem vô cùng ấn tư­ợng. Bà thực sự xúc động và tự nhiên thấy... yêu th­ương ông biết bao.

      Năm 1974, đang học ở Liên Xô ông đư­ợc về phép, tới nhà bà chơi. Nhà bà lúc đó ở số 10 – phố Thuỵ Khuê (Hà Nội). Mẹ bà bảo con gái: “Tao chư­a thấy ai nhiều mối như­ mày, như­ng trong tất cả những “thằng” đến đây tao thấy thằng Cốc là đ­ược nhất, mày lấy nó đi.” Và bà đã đồng ý lời cầu hôn của ông. Tư­ởng rằng từ từ, hai năm sau ông học xong về nư­ớc mới tổ chức cư­ới, ai dè “đ­ược lời như­ cởi tấm lòng”, ông tức tốc lên báo cáo Bộ t­ư lệnh Quân chủng và “cư­ới liền tay” trong sự ngỡ ngàng của rất nhiều anh tài xung quanh bà và sự ngẩn ngơ của biết bao cô gái đẹp coi ông là thần t­ượng.

      ĐĂNG KÝ KẾT HÔN Ở... ĐỒN CÔNG AN

      Xoay quanh đám c­ưới của ông bà cũng có nhiều chuyện khôi hài. Hai ngư­ời rủ nhau đi đăng ký kết hôn. Đúng hẹn ông đến, và ông dẫn bà tới... đồn công an Ba Đình để đăng ký. Cả hai xúng xính trong quân phục mới. Bà sung sư­ớng nắm tay ông bư­ớc... vào đồn. Đến nơi ông bà thấy rất đông ng­ười đứng ngồi ở đó cùng với quanh gánh, xe cộ. Hai ng­ười vào ghế ngồi chờ. Ông chỉ vào mấy bà có vẻ quê mùa, nhiều tuổi bảo, quái sao mấy bà kia già thế mới đi đăng ký kết hôn nhỉ. Bà cũng bảo, ừ nhỉ, sao già thế mới cư­ới nhỉ. Chờ mãi không thấy gọi tên, ông lại bảo, hôm nay sao đông thế, mãi không đến l­ợt. Mãi đến 11 giờ tr­ưa, khi những ông bà già cùng với thúng mủng, xe cộ cũng đã xong việc, vẫn không thấy gọi đến tên mình. Lúc đó có một đồng chí công an đến hỏi, xin lỗi các đồng chí đến đây có việc gì ạ? Ông bảo: Chúng tôi đến để... đăng ký kết hôn. Anh công an và mọi ngư­ời ở đó mới cư­ời ầm lên trư­ớc con mắt ngơ ngác của đôi uyên ­ương. Anh bảo, đăng ký kết hôn thì phải đến Ủy ban nhân dân Ph­ường chứ đồn công an không làm việc này, và chỉ dẫn cho ông cặn kẽ. Lúc đó hai ng­ười mới ớ ra, thì ra cả buổi sáng họ toàn ngồi với mấy ông bà buôn lậu bị bắt vào đồn công an và cứ kiên nhẫn chờ đến l­ượt... giải quyết.

                             
      Thế nh­ưng sau đó ông đư­ợc vào đồn công an thật. Trư­ớc hôm cư­ới, ông có về đơn vị bên Nội Bài lấy tiêu chuẩn bánh kẹo đơn vị cho để phục vụ lễ cư­ới. Ông đi một chiếc xe máy mang từ Liên Xô về. Khi từ Nội Bài trở lại Quân chủng, đến Cầu Đuống, công an thấy ông chở một bọc thuốc lá, bánh kẹo thì nghi là buôn lậu nên giữ lại. Ông chẳng mang thứ giấy tờ gì trong ngư­ời, thế là phải vào đồn chờ giải quyết. Ở nhà bà và mọi ng­ười chờ dài cả cổ. Mấy ng­ời bạn thì cứ ra vào than vãn, quái sao thằng Cốc về đơn vị từ sáng mà chẳng thấy lên. Mãi đến 1 giờ đêm ông mới đ­ược thả cho về chứ cũng chả trình bày, xin xỏ giải thích gì. Bởi thế, anh em trong Không quân vẫn đùa ông và một số phi công là “ng­ười giời” vừa bởi các ông bay giỏi, đánh địch trên không giỏi như­ng cũng để ám chỉ cái sự “lãng đãng mây gió” của một số phi công trong đời th­ường.

      Tuy có vài sự cố nhỏ như­ vậy nh­ưng rốt cục thì đám c­ưới của ông bà vẫn đư­ợc tổ chức vui vẻ và đầm ấm tại nhà khách Bộ Giáo dục, 24 – Quang Trung – Hà Nội (thuộc cơ quan của Cha bà). Phù dâu là hai cô văn công - đồng nghiệp của bà; phù rể là hai anh phi công Phạm Phú Thái và Hoàng Quốc Dũng - đồng đội của ông. Hai ng­ười ở với nhau đư­ợc một tháng thì ông hết phép, lại lên đ­ường sang Liên Xô học tiếp. Khi đã về n­ước hẳn ông cũng rất bận rộn với công việc của một phi công, một cán bộ làm công tác quản lý tại các sân bay, lúc xa, lúc gần, vì vậy thời gian ông bà đ­ược sống bên nhau không nhiều. Thỉnh thoảng, sự “nghi ngơ” của ông lại đư­ợc thể hiện trong sinh hoạt, nh­ng bà coi đó như­ một “đặc tính của ngư­ời trời” khi ở mặt đất nên ông bà vẫn sống hoà thuận và êm ấm.

   
NGUYỄN XUÂN THỦY
   (Theo lời kể của bà Đới Thu H­ương, phu nhân Trung tư­ớng – Anh hùng phi công Nguyễn Văn Cốc)
 
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Năm, 2008, 09:29:29 pm gửi bởi hoacuc » Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #9 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2008, 07:31:41 pm »


TÌNH YÊU CỦA THƯỢNG TƯỚNG


Chị Xuyến kể: “Tôi làm việc ở văn phòng nên thường xuyên tiếp xúc với anh Thiện. Tính anh ít nói, thường suy nghĩ đăm chiêu. Thời gian này anh Thiện rất hay đi công tác ban đêm, có hôm mờ sáng về đến cơ quan thì lại bắt tay ngay vào công việc. Thỉnh thoảng, anh có nhờ tôi vá lại chiếc áo hay đơm hộ chiếc khuy bị tuột. Chúng tôi sống hồn nhiên lắm, tất cả chỉ quan tâm đến công việc chứ không nghĩ đến chuyện riêng tư...
 
 
 
 
HUY BẢO

Những năm mặc áo lính, tôi thường được nghe đồng đội kể nhiều chuyện tình mang nặng màu sắc huyền thoại về một vị tướng có tên Đinh Đức Thiện. Lính ta rất khoái những câu chuyện này, thường vỗ đùi nhau cười ha hả: “Tướng thế mới là tướng chứ”. May mắn thay, mùa xuân này tôi có dịp gặp bà Trịnh Thị Xuyến, người bạn đời của tướng Đinh Đức Thiện và được nghe bà kể về tình yêu của mình…

Kỷ niệm không quên:  Tiếp xúc với các cụ bà trước đây đã từng tham gia phụ nữ cứu quốc thành Hoàng Diệu hoặc nữ tự vệ chiến đấu đầy gian khổ của những ngày đầu dựng nước ấy đã trở thành kỷ niệm không quên trong cuộc đời họ. Bà Trịnh Thị Xuyến là một trong số người ấy. Xuất thân từ một gia đình công nhân (Bố lái xe ở xưởng Avia) cô nữ sinh Hà Nội dáng thanh mảnh đã lao mình vào dòng nước xiết của cách mạng. Hàng tuần, cô mang gạo đến ở tập trung tại trường Hoài Đức (cạnh đền Hàng Trống - Hà Nội) để tập quân sự. Khi các đội tự vệ thành lập, chị Đàm Thị Loan là vợ tướng Hoàng Văn Thái và là thầy dạy quân sự cho các cô, chuyển công tác khác, Trịnh Thị Xuyến được cử làm trung đội trưởng trung đội Minh Khai. Toàn quốc kháng chiến cả hai bố con cùng chiến đấu trong lòng Hà Nội. Người cha đã ngã xuống trong trận chiến đấu quyết liệt ở phố Nhà Thờ, còn cô con gái thì dũng cảm vượt qua bom đạn len lỏi khắp trận địa Liên khu I. Cô ở đội tuyên truyền nên phải có mặt ở những nơi nóng bỏng để uý lạo các chiến sĩ và lấy tin tức cho báo “Chiến thắng”. Có một điều kỳ diệu nhưng ít được nói tới là trong những ngày lửa đạn ấy, báo “Chiến thắng” ra đều đặn mỗi ngày một số. Chính trong những ngày này, cô nữ sinh Trịnh Thị Xuyến đã được kết nạp Đảng. Sau khi rút qua gầm cầu, để lại phía sau một “Hà Nội cháy, khói lửa ngút trời…” Trịnh Thị Xuyến theo đồng đội qua đường Sơn Tây lên Phú Thọ và được điều về làm việc tại văn phòng Phụ nữ Trung ương. Được một thời gian thì Tây nhảy dù Bắc Cạn, Trịnh Thị Xuyến được “hạ phóng” về văn phòng phụ nữ tỉnh Phúc Yên nhưng chuyên phụ trách ở xã Xuân Bảng. Những tưởng cả đời sẽ gắn bó với công tác phụ vận, nào ngờ lại có quyết định điều Trịnh Thị Xuyến về Cục Dân quân rồi chuyển sang Cục Vận tải. Đây là sự sắp xếp của số phận hay chỉ là sự tình cờ ngẫu nhiên? Thật khó tìm ra câu trả lời, chỉ biết rằng Cục trưởng Cục Vận tải là đồng chí Đinh Đức Thiện lúc ấy chưa đến ba mươi tuổi.

Đường cách mạng - Đường tình yêu: Chị Xuyến kể: “Tôi làm việc ở văn phòng nên thường xuyên tiếp xúc với anh Thiện. Tính anh ít nói, thường suy nghĩ đăm chiêu. Thời gian này anh Thiện rất hay đi công tác ban đêm, có hôm mờ sáng về đến cơ quan thì lại bắt tay ngay vào công việc. Thỉnh thoảng, anh có nhờ tôi vá lại chiếc áo hay đơm hộ chiếc khuy bị tuột. Chúng tôi sống hồn nhiên lắm, tất cả chỉ quan tâm đến công việc chứ không nghĩ đến chuyện riêng tư. Bọn con gái Hà Nội chúng tôi đi kháng chiến ngày ấy mỗi khi có ai nhắc đến chuyện chồng con thì đều trả lời là đợi kháng chiến thành công. Thế rồi một hôm, anh Thiện nói với tôi: “Anh chưa có gia đình, em có đồng ý làm vợ anh không?” Tôi trả lời: “Em còn suy nghĩ đã, mà cũng phải hỏi ý kiến mẹ em”. Anh Thiện lại nói: “Được thôi, nhưng phải suy nghĩ nhanh lên!” Thế rồi đến Đại hội Đảng khu Việt Bắc tổ chức ở chân núi Tam Đảo, tôi được triệu tập lên phục vụ Đại hội. Ngày liên hoan bế mạc Đại hội, không hiểu trước đó anh Thiện nói gì và trả lời những gì mà được các anh tuyên bố là ngày lễ thành hôn của tôi và anh. Trở về Cục Vận tải, đơn vị làm cho một căn nhà nhỏ để chúng tôi ở riêng. Nhiều đêm, anh Thiện đi công tác, tôi nằm nghe tiếng rừng xào xạc mà sợ run lên. Có buổi sáng thức dậy, dân bản bảo là đêm qua có hổ về bắt lợn…

Thời gian này chị Xuyến 24 tuổi, anh Thiện hơn chị mười một tuổi. Người con gái đầu lòng đã ra đời tại ngôi nhà hạnh phúc nơi núi rừng xa xôi ấy.

Hạnh phúc đời thường: Ngay trong tiểu sử, Thượng tướng Đinh Đức Thiện cũng là vị tướng có nhiều đặc điểm đặc biệt. Từ Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, ông được điều sang làm Thứ trưởng Bộ Công nghiệp rồi đi chỉ huy xây dựng khu gang thép Thái Nguyên. Máy bay Mỹ ném bom miền Bắc, ông trở lại quân đội với cương vị Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, vào ra chiến trường như con thoi. Sau ngày đất nước thống nhất, ông làm Bộ trưởng Bộ cơ khí luyện kim, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải rồi Bộ trưởng Bộ Dầu khí. Người ta đồn rằng cứ nơi nào trì trệ, ách tắc là cấp trên điều ông đến và mọi việc sẽ thông đồng, bén ngọt. Tất nhiên, ông không phải là nhà khoa học giỏi tất cả mọi ngành nhưng ông đã điều hành công việc bằng sự công tâm, biết lắng nghe lời nói phải và điều quan trọng nhất là tất cả vì lợi ích chung của nhân dân, của đất nước. Tôi hỏi:
- Thưa chị, nghe nói anh Thiện là người nóng tính?
Chị Xuyến gật đầu:
- Vâng … Tính anh ấy nóng lắm!
Tôi lại bạo gan hỏi:
- Em nghe người ta kể là có lần đi công tác, anh Thiện đã cách chức hàng loạt cán bộ khi kiểm tra thấy họ làm việc không tốt…
Chị Xuyên cười ngất:
- Họ đồn đấy, anh Thiện chẳng cách chức ai đâu. Anh ấy rất nghiêm khi kiểm tra công việc của cán bộ cấp dưới nhưng đặc biệt với lính thì anh ấy rất thương yêu.
Vâng, điều này tôi được nghe nhiều người lính đã từng chiến đấu ở Trường Sơn kể lại. Với trách nhiệm của người chỉ huy cao nhất trong ngành hậu cần, ông phải lo sao cho chiến trường luôn có đủ vũ khí đạn dược và bộ đội thì phải luôn được ăn no mặc ấm. Hằng đêm, tướng Đinh Đức Thiện ngủ rất ít. Ông thường trằn trọc rồi trở dậy uống trà hút thuốc, suy nghĩ trầm ngâm. Biết bao kế hoạch đã ra đời, sau những đêm mất ngủ ấy để kịp thời tháo gỡ những vướng mắc, trì trệ. Với gia đình, tướng Đinh Đức Thiện là người rất tình cảm. ông đi nhiều, nhưng mỗi khi có dịp ở nhà ông thường tìm cách săn sóc vợ con. Có lần ông đưa vợ đi hiệu may và nằng nặc yêu cầu họ may cho bà chiếc áo như ý của ông. Ông thường răn dạy các con phải sống tình nghĩa, nhân ái với mọi người. Ông là vị tướng liêm khiết (ngoài lương ra không có một khoản thu nhập nào) nên khi giữ chức Bộ trưởng mà con cái ông đi học trong xuất cơm trưa mang theo, thức ăn thường xuyên là cá mắm. Cả bốn người (hai trai hai gái) đều học giỏi, tất cả đều tốt nghiệp đại học trong nước dù có người đủ điểm đi học nước ngoài. Và noi gương bố mẹ, cả bốn người con đều qua thời gian rèn luyện trong quân ngũ.

Tiễn chân tôi, chị Xuyến cười hiền hậu:
- Anh nhớ là đừng viết gì thái quá nhé!
Hơn một lần tôi hứa để chị yên tâm. đã có một chuyện xảy ra trong thời gina chị làm việc ở nhà máy thiết bị bưu điện Hà Nội. Dạo ấy chị là chiến sĩ thi đua và có một nhà báo khi viết về chị đã vẽ thêm khá nhiều chân cho rắn khiến chị xấu hổ đến mấy tháng trời. Tôi đã viết theo lời chị kể một cách dung dị bởi vì tôi cho rằng thế hệ đã góp phần bảo vệ và xây dựng nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã sống thật dung dị. Họ toàn tâm toàn ý cống hiến đời mình cho cách mạng và trên con đường đầy máu lửa ấy, họ đã bắt gặp tình yêu.
 
Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
Trang: 1 2 3 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM