Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 03:14:44 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Điện Biên Phủ từ góc nhìn của người lính Pháp  (Đọc 163905 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên
*
Bài viết: 595



« Trả lời #20 vào lúc: 01 Tháng Năm, 2008, 09:20:52 pm »

Chủ nhật 22, Xamalen kể tên các bạn bè là sĩ quan, gặp lại nhau ở Điện Biên Phủ: Rúc, vợ anh ta cũng ở Bayon, Garutếch, một người Bayon nữa, Pốttiê - chàng tóc hoe, Deflin ở Linlơ, Đuypirơ ở Ru be. Nhân viên quân bưu đưa bức thư đầu tiên của Blăngsơ vào tối 23 nhưng Xamalen không đọc được vì cứ tối đến là cấm đèn. Về phần anh, cũng phải mất sáu ngày với lá thư viết từ Hải li:

"Cuộc hành quân Hải li diễn ra thuận lợi. Bây giờ máy bay đỗ xuống và thư từ sẽ đến với các anh và nhất là được gửi đi đều đặn. Anh rất vui nhận được thư em ngày 20; đó là ngày các anh nhảy dù, chắc em đã ngủ khi người ta nói với anh "Đi!". Và khi đài phát thanh đã nói đến điều đó, các anh phải ngủ đêm tại trại đóng quân ngoài trời ở xứ Thái "

Xamalen chưa nói với vợ là anh đang ở đâu nhưng trước sự nằn nỉ của vợ, cuối cùng anh phải nhượng bộ: "Em hỏi anh có ở xa Điện Biên Phủ không, không, anh đang ở đó. Nhưng không phải là một thành phố. Đơn giản chỉ có những nhà sàn lợp tranh, cây cối và hai con đường xấu gọi là phố. Việt Minh đã sơ tán nhân dân, họ đã trở lại khi các anh đến. Tất cả họ là nông dân, không buôn bán. Phụ nữ tắm truồng trên sông, thật là kỳ cục, lạ lùng, nhất là họ lại xinh đẹp hơn ở vùng châu thổ. Họ mặc những chiếc áo dài màu đen và chiếc áo cộc màu rực rỡ viền thêu hoa bằng bạc".

Ở tiểu đoàn dù ngoại quốc số 1, ngày 23- 1 1 trung uý Béctơrăng viết thư cho bố mẹ ở Vudiê: "Chúng con ở trên những mỏm núi và ngủ trong lỗ!". Anh ta phàn nàn đêm bị lạnh và yêu cầu gửi cho anh một cái chăn thực sự. Khi nhận được rồi anh nhận xét: "Rất bằng lòng về cái chăn và từ hôm đó con ngủ như một ông lớn, con không còn bị ướt sương đêm và với vải dù con làm một cái túi ngủ. Con ngủ trong nhung lụa! Phải biết cách làm chiến tranh".

Người sĩ quan sung sướng nhất chắc chắn là trung uý Đờ Phrômông được chuyển về tiểu đoàn dù thuộc địa số 6 bốn ngày trước Hải li để được bổ nhiệm về đại đội Manhila. Tóc nâu, mắt xanh, cao 1,78 mét, tuần trước còn thuộc tiểu đoàn 2 Thái và từ một năm nay anh cố gắng để được thuyên chuyển về quân dù. Và anh kêu ca, phản đối... Đối với anh, một người lính không chiến đấu là một kẻ cầu an, sợ chết! Anh không muốn là một kẻ né tránh chiến đấu! Ngày 27-8- 1953, đi thực tập sĩ quan tình báo ở Hà Nội, anh viết thư cho bố mẹ? "Con không muốn sống ở đây, có quá nhiều những kẻ chỉ đút chân vào dưới bàn suốt ngày, cứ tưởng mình là không thể thiếu được. Họ không biết rằng họ được ngồi ở Hà Nội bên quạt máy là bởi vì có những người đang chui lủi trong rừng hoặc lăn lội trên đồng ruộng”.

Ngày 17-9, Phrômông được biết là tiểu đoàn của anh sắp rời xứ Thái về vùng châu thổ:

“Con hy vọng không bao giờ phải trở lại xứ sở đáng nguyền rủa này bởi vì chỉ phí mất thời gian của mình thôi. Cuộc sống này làm cho con ngày càng muốn trở về một tiểu đoàn dù hoặc một tiểu đoàn tác chiến. Con không có ý định qua ngày đoạn tháng ở đây để canh giữ một căn nhà tranh ở độ cao 1800m trong một xứ sở không có người”.

Cái mà anh gọi là nhà tranh chính là cỏ tranh, loại cỏ cho voi ăn, cao hơn đầu người khoảng một mét. Cái mà anh muốn là đánh nhau, làm chiến tranh. Hai lần được biểu dương trong các cuộc hành quân mà anh đã tỏ ra lanh lợi, sắc sảo quả quyết anh tìm mọi cách để rời người Thái. Anh còn nhờ bố ở Pa ri can thiệp về việc này. Sự "gửi gắm" đó chắc chắn đã có hiệu lực vì ngày 21-10 anh thổ lộ với bố mẹ là một sĩ quan ở Sài Gòn đã báo cho anh về vụ thuyên chuyển sắp tới. Điều này cũng không ngăn cản được anh vẫn bực bội phản ứng: "Thời gian mà bọn cạo giấy tự quyết định, con không hy vọng gì nhận được quyết định chính thức trước cuối tháng’ .

Cuối cùng ngày 1-11, anh báo cho mẹ anh "tin vui": anh sẽ chuyển đến một đơn vị dù vào ngày 16 "đúng một năm sau ngày con đổ bộ từ tàu Campana". Năm ngày sau một thông điệp nhỏ làm nản lòng:

“Đã sắp một năm rồi kể từ ngày con đến đất nước này và con đã làm được gì? Chẳng đáng bao nhiêu. Có ít sự kiện hoặc hoạt động quan trọng mà con đã được tham dự... Người ta đã quẳng cho con một Huân chương chiến đấu, chắc chắn là muốn giữ cho con ngồi yên trước những con người đã kiếm được chiếc Bắc đẩu bội tinh vì những sự kiện chiến tranh ở phía sau".

Sau một thời gian dài im lặng, quá dài đối với bố mẹ đang lo lắng, một bức thư ngày 19-11 đã đến với họ. Niềm vui của người sĩ quan trẻ thể hiện trên từng dòng thư:

“Thế là con đã ở đây rồi! Từ hôm qua, con đã ở tiểu đoàn 5 dù thuộc địa. Con nghĩ đây là một tiểu đoàn rất giỏi. Chắc bố mẹ đã nghe báo chí nói đến. Con đã gặp lại lớp bạn cùng khoá, Đatanh và Lơ Viguru. Một môi trường dễ mến, người ta có cảm giác như đang ở trong một cửa hiệu đang quay tròn".
Logged
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên
*
Bài viết: 595



« Trả lời #21 vào lúc: 02 Tháng Năm, 2008, 09:13:53 am »

Còn tướng Ginlơ chỉ viết vào ngày 26-11, sau cuộc hành quân Hải li. óng báo đã từ miền ngược trở về.

“nhưng lần này phương tiện giao thông đã tiện lợi hơn khi nghĩ rằng tôi vừa mới nhảy dù với tiểu đoàn 6 dù thuộc địa. Tôi gặp may, gần hai ngày sau khi tôi đến, một cuộc hành quân không vận đẹp đẽ! Lúc này, tôi đang làm quen với bộ phận Việt Nam. Các điều hành của tôi nhanh nhẹn hơn, tháo vát hơn người Thái, cũng có thể là đểu cáng hơn. Một lợi thế lớn so với các tiểu đoàn Thái là có nhiều người Âu và mỗi đại đội có ít nhất ba sĩ quan. Như vậy là những người bản địa có khung cán bộ tốt và người ta không có nguy cơ thấy họ chuồn rất nhanh”.

Ở tiểu đoàn 8 xung kích, đại uý Pisơlanh thì lại trái ngược với Phrômông vì anh không nguôi giận từ khi tiểu đoàn nhảy dù xuống Điện Biên Phủ mà không có anh. Là con trai một đại tá bộ binh đã về hưu, Giăng Phrăngxoa Xaviê vào nằm viện ở Hải Phòng vì bị bệnh ngoài da ở chân và anh không thể đi lại được vào lúc tiểu đoàn 8 đã được báo động trước khi nhảy dù xuống Điện Biên Phủ. Pisơlanh điên tiết lên vì đã nhỡ mất cuộc hành quân nhưng một tin tức đã quất cho anh một roi.
Ngày 23-11, anh bộc lộ tình cảm với cha: “Từ một tháng nay con la lết như một ông già tội nghiệp, bây giờ con đã hồi sinh. Không có gì tồi tệ hơn việc chọn thời điểm đưa con vào bệnh viện; qua báo chí có thể bố đã biết một cuộc hành quân lớn đã được tung ra ở Điện Biên Phủ. Tiểu đoàn của còn đã ở đấy. Bố cũng hiểu con phải trả giá như thế nào khi phải nằm bẹp vào lúc này nhưng cũng phải chịu thôi: con không đi bộ nổi một kilômét. Con định đuổi theo đơn vị sau khi khỏi bệnh nếu tiểu đoàn 8 xung kích không được đưa về Hải Phòng trong lúc đó".

Trên giường bệnh ở bệnh viện Xie, Pisơlanh có nghe nói đến "những cuộc thương thuyết diễn ra ở Giơnevơ”, anh lo cho đồng đội: “Dù sao, con cũng quan tâm đến những gì đã diễn ra ở trên đó. Phó một của con đã nắm quyền chỉ huy đại đội không phải là người hữu khuynh... Con sợ anh ta có những liều lĩnh vô ích. Thật là tồi tệ gây ra chết chóc cho mọi người vào lúc người ta sắp hướng tới con đường thương thuyết, vả lại đó là lối thoát duy nhất có thể có".

Ngày 26-11, Nava chấp nhận trận đánh chống lại các lực lượng mà Việt Minh đẩy lên xứ Thái. Dĩ nhiên, ông không ra quyết định này nếu chưa trao đổi với tướng lĩnh dưới quyền. Họp ở Hà Nội, họ thảo luận tình hình, các khả năng hoạt động ở hậu phương địch và cách chỉ huy các cuộc hành quân. Nava cho rằng, vì thiếu phương tiện, không thể chỉ huy các hoạt động sau lưng Việt Minh. Theo ông, phải chấp nhận trận đánh trong lúc phòng ngự, ở Điện Biên Phủ, một ngã tư mà Việt Minh phải đi qua để xâm lược Lào (Chú thích: Trước trận đánh, Cônhi đã đề nghị Nava oanh kích hậu phương Việt Minh từ vùng châu thổ để "kìm giữ sư đoàn 308" hoặc "phá hủy hạ tầng cơ sở Việt Minh”. Nava nói cuộc không kích này tỏ ra không hiệu quả và tốn kém về phương tiện, hơn nữa, tương ứng với một giả thuyết về Việt Minh, về sau này đã cho thấy là sai lầm" (Nhận xét của tướng Nava về các báo cáo của Tướng Cônhi ngày 20-12-1954).) "Tôi cũng nghĩ rằng trận đánh này sẽ tránh được sự đụng độ toàn cục trong vùng châu thổ nhờ sự chia cắt lực lượng chiến đấu Việt Minh. Tôi nghĩ rằng họ sẽ có hai trận đánh".

Ngày 24-11, Nava và Cônhi đi Điện Biên Phủ sau khi đã rẽ vào Mường Sài ở Lào gặp đại tá Crevơcơ thuộc lực lượng Pháp-Lào. Hai vị tướng đã đồng ý để tướng Ginlơ được thay phiên vì ông sắp hết hạn nhiệm vụ ở đây. Để thay ông, hai vị tướng còn do dự chưa biết chọn ai trong hai đại tá là Vanuxem và Caxtơri. Sẽ là đại tá thứ hai. Luôn luôn có Cônhi đi cùng, Tổng chỉ huy lại về Thái Bình ngày 30 và công bố bổ nhiệm Caxtơri. Việc lựa chọn nay sẽ thành vấn đề sau trận đánh và Chủ tịch ủy ban điều tra đã nêu lại với Nava: "Tôi hình dung rằng việc lựa chọn Caxtơri như ông đã làm, đáp ứng một khái niệm nào đó về trận đánh vì những đức tính sắc bén, linh hoạt, có nghị lực của ông ta. Chắc chắn đó là những căn cứ để ông chọn ông ta? ông ấy không phải là con người của tập đoàn cứ điểm phải không?"
Logged
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên
*
Bài viết: 595



« Trả lời #22 vào lúc: 02 Tháng Năm, 2008, 09:16:19 am »

Phải chăng Catơru muốn nói với Nava rằng ông ta đã phạm sai lầm khi chọn một kỵ binh? Trả lời của Nava: Chúng tôi nghĩ rằng Điện Biên Phủ có thể đóng một vai trò tích cực bằng cách tung ra những đơn vị nhỏ để quấy rối đường liên lạc của Việt Minh. Chúng tôi không quan niệm về một trận đánh chung quanh tập đoàn cứ điểm bị bao vây. Từ ngữ tập đoàn cứ điểm không làm chúng tôi thích thú và Caxtơri gọi nó là "Chiến trường chuẩn bị sẵn".

Đứng trước các cấp như vậy, Cônhi lưu ý vấn đề lúc đó là "công thức đầu tiên về trận đánh Điện Biên Phủ, trận đánh di động. Vì thế tôi đã nhấn mạnh rằng, một kỵ binh là người có tư cách để được chọn. Tôi đã nói với Caxtơri: "Chúng ta cần một kỵ binh sơn cước, ông sẽ là kỵ binh sơn cước đó". Khi Điện Biên Phủ đã trở thành một tập đoàn cứ điểm, Caxtơri đã kém thoải mái".

Đương sự sẽ phản đối: ông ta không chỉ là một kỵ binh. ông ta đã "nghiên cứu nhiều các vấn đề phòng ngự", bởi vì sau khi bị một vết thương đã làm ông ta bất động, ông đã được Đờ Láttơrơ giao nhiệm vụ củng cố khu nam sông Hồng. "Tôi không cảm thấy bất lực khi nắm quyền chỉ huy mà người ta chỉ định tôi".

Caxtơri phải đi gặp Ginlơ "càng nhanh càng tốt", Ginlơ dự tính với chín tiểu đoàn, người ta có thể tổ chức một căn cứ không - bộ vững chắc. "Tôi đáp máy bay đi Điện Biên Phủ - Caxtơri nói - Tôi ở đó ba ngày. Cùng với tướng Ginlơ, chúng tôi đã nhìn thấy cái đã làm như một tổ chức phòng ngự. Lúc đó, Lai Châu bị sư đoàn 316 đe doạ. Caxtơri trở lại ngày 7-12.
Sau khi nghiên cứu thực địa và bay trên lòng chảo, tôi đã đi đến kết luận là buộc phải giữ, về phía đông những gò đất hơi cách xa. Ngược lại, về phía tây, địa hình tương đối bằng phẳng ... Những khu vực mà địch có thể tập trung những lực lượng quan trọng đều ở xa hơn. Vậy thì điều mà tôi quyết định là mở rộng chu vi phòng ngự và dành một phần quân số của tôi để tìm sự tiếp xúc với sư đoàn 316”.


Lăng le đi dạo ở Hà Nội với mắt cá chân bó bột "để tập đi" khi Caxtơri đi xe Jeep qua gọi ông và báo cho biết ông ta đã được bổ nhiệm làm tư lệnh Điện Biên Phủ: "Cậu cùng đi, ông nói thêm, tướng Ginlơ đã chỉ định cậu lên nắm liên đoàn không vận số 2 thuộc quyền điều động của mình .

Chỉ có thời gian để buộc ba lô, để trình diện Tướng Cônhi, người bật đèn xanh cho việc rút khỏi Lai Châu và hai giờ sau, chẳng quan tâm đến cái chân bó bột nữa (ông vẫn còn nhiều khó khăn trong việc đi lại), Lăng le nhảy lên một chiếc Đacôta. Xuống máy bay trên đường băng ở Điện Biên Phủ mà phía trên kéo dài những vệt khói phát quang đang làm và một đám mây bụi mịn màu vàng nghệ bị một làn gió nhẹ cuốn lên, Lăng le được biết các đơn vị chính quy của Lai Châu đã được không vận lên Điện Biên Phủ trong thời gian giữa hai ngày 5 và 8-12. Hàng trăm du kích Thái đang còn ở Bắc Lai Châu bằng hành quân bộ trong lúc chủ lực của sư đoàn 316 đang hành quân cấp tốc đến gần để cắt đường của họ. Còn ZONO (khu vực tác chiến Tây Bắc) đã được gạch bỏ ngày 1-12 và được thay bằng GONO (binh đoàn tác chiến Tây Bắc).
Nà Sản được rút đi nhẹ nhàng và Ginlơ hội nhập vào Điện Biên Phủ, tại sao Cônhi lại ở lại Lai Châu đang bị sư đoàn 316 đe doạ đột nhập? Trung tá Tranca thuộc ZONO đã nhận được những chỉ thị bằng văn bản ngày 13-11, sáu ngày trước Hải li, mà ông cũng được thông báo, cùng lúc nhận được lệnh "chuẩn bị không chậm trễ kế hoạch giúp Lai Châu". Người Thái đã cầm súng cùng chúng ta đánh Việt Minh. Có thể bỏ mặc họ được chăng?

Lai Châu là thủ phủ của họ ... Trong khuôn khổ cuộc hành quân PONLLUX (rút khỏi Lai Châu), tướng Ginlơ đặt GONO dưới quyền của ông vào ngày 1-12, Tranca đã đến Điện Biên Phủ hai ngày trước.

Sự tiếp cận của sư đoàn 316 sẽ làm rối loạn việc thực hiện kế hoạch PONLLUX, nhưng một kế hoạch thay thế (kế hoạch LEDA) đã được dự kiến. Lực lượng đồn trú Lai Châu được rút bằng máy bay, nếu kế hoạch PONLLUX trục trặc thì sẽ thực hiện kế hoạch LEDA, người ta sẽ theo đường mòn hướng đến Điện Biên Phủ. Thực ra thì quân Việt Minh coi thường Điện Biên Phủ như năm 40 và lao tới Lai Châu, ở đây quân đồn trú không đầy ba tiểu đoàn đang chờ máy bay. Cônhi ngửi thấy điều không hay ra lệnh thực hiện kế hoạch PONLLUX (Chú thích: Máy chụp X quang của bệnh viện Lai Châu đã được sơ tán theo đường Pa vi và đã giúp ích nhiều cho bệnh viện trung tâm Điện Biên Phủ. Không may hai ngày sau khi nổ ra cuộc tấn công của Việt Minh, ngày 13-3, một quả đạn 105 đã nổ trong hầm trú ẩn của máy chiếu vồ tuyến điện và đã phá hủy nó. Thiếu tá bác sĩ Grauuyn và trung úy bác sĩ Ginđrây đã đọc được cách khắc phục khi thiếu nó.). Việc rút quân kéo dài đến ngày 8-12. "Đã thực hiện được việc rút hầu hết các thành phần chính quy, Cônhi hài lòng nói, chúng ta để lại các du kích để đánh lừa Việt Minh, đi làm chiến tranh du kích và quấy rối họ”.
Logged
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên
*
Bài viết: 595



« Trả lời #23 vào lúc: 02 Tháng Năm, 2008, 09:20:01 am »

Chẳng ai không hiểu rằng không còn đụng độ với các lực lượng địa phương trang bị kém của Việt Minh nữa, nhưng còn sư đoàn 316 gồm những đơn vị chính quy? Đứng trước sư đoàn này, du kích Thái không phải là đối thủ nặng cân. Hơn nữa, chất lượng của du kích Thái nếu không còn phải bàn cãi gì nữa thì ít nhất cũng đã được đề cập tới. Mở đầu, trung tá Lăng le đã phát biểu với những lời lẽ như sau trước ủy ban điều tra: "Đó chỉ là những lũ nông dân nhút nhát, sợ hãi không có lấy một chút học vấn quân sự, cương quyết không chịu đánh nhau. Những người Âu khốn khổ trong khung cán bộ đã bị hy sinh trước”.

Lăng le chưa thôi kêu ca vì, đứng trước lính chính quy của sư đoàn 316, bản thân các lính dù của ông đã nếm những thất bại đầu tiên. Ngày 14-12 khi cuộc rút khỏi Lai Châu đang ở đỉnh điểm, tiểu đoàn 2, trung đoàn 1 dù thuộc địa của thiếu tá Brêsinhắc và tiểu đoàn 1 dù xung kích của thiếu tá Xukê đã tung ra trên cả hai bờ sông Nậm Rốm một cuộc trinh sát lên hướng đông bắc. Sau khu vực sông, lính dù đi qua khu rừng thưa mà họ mở đường bằng dao phát, một công việc chậm rãi, kiệt sức, bỗng tiền quân vừa đến một khu rừng thưa thì phát hiện trinh sát Việt Minh bỏ chạy. Cuộc đụng độ vô cùng dữ dội, thậm chí cả đánh giáp lá cà với trung đội tiền vệ. Dưới hoả lực pháo của Điện Biên Phủ, quân Việt Minh rút một giờ sau đó nhưng Xukê trở về với 11 người chết, 3 người bị thương nặng khó sống được, 26 người bị thương nhẹ trong đó có 17 người âu và 2 sĩ quan, trung uý Benlua và thiếu uý Pascô .

"Chúng tôi đến sát địch, Benlua nhớ lại, và không nhận ra điều gì đã đến với mình, tôi bị 8 viên đạn tiểu liên bắn cách tôi dưới 10 mét, Pascô bị thương ở vai và chúng tôi được sơ tán ".

Cũng có lúc, lợi thế đã đổi sân, trung uý Béctơrăng thuộc tiểu đoàn 1 dù ngoại quốc kể cho bố mẹ nghe cuộc xuất kích ngày 12-12:

“Hai đại đội chúng con chạm địch và bị ngăn lại. Con lao lên với hai trung đội; tưởng là giúp đỡ một trong hai đại đội, con cho anh em tiến lên không bắn, dưới làn đạn cối, lựu đạn phóng bằng súng và những viên đạn lạc hỗn độn, con xông vào Việt Minh ở bờ ruộng, khoảng 12 người đang rút lui cách con 10 mét. Cỏn bắn bằng súng các bin, người của con bắn bằng tiểu liên, chúng con đã giết hết họ và thu súng đạn. Việt Minh đứng vụt dậy như một đàn gà gô, tất cả những người đứng trước mặt chúng con đều bị bắn ngã, đều bị trúng đạn".

Anh ta thêm cái câu kinh khủng này: "Đó là chiến tranh, cá nhân con rất hài lòng!” .

Ngày 3-12 lúc 21h khi chưa ai nói gì về sư đoàn 316, một đơn vị mạnh đã ra khỏi Điện Biên Phủ, ban đêm theo đường Pa vi hướng tới Lai Châu. Tướng Ginlơ đã giao cho đại uý Turê, thuộc tiểu đoàn 8 dù xung kích, một nhiệm vụ dễ dàng với ông ta như đeo găng tay: leo lên hướng đông bắc tiếp xúc các bộ tộc Mèo thân Pháp và trinh sát con đường Tuần Giáo - Lai Châu mà sư đoàn 316 có thể đi qua. Hành quân trên vùng núi nhưng những người tham gia, các trung uý nhảy dù, Đesmông, Bay, Combamâyrơ, là những người chuyên nghiệp. Đại uý Ghiêminô người đi săn, theo vết thú rất giỏi của tiểu đoàn 3 Thái đã được giao cho đại uý Turê sử dụng cùng với đại đội 12 của ông (Chú thích: Sinh năm 1926 ở Strátsbua, Ăngri Ghiêminô là chiến sĩ kháng chiến ở tuổi 17. Ở Điện Biên Phủ, Ghiêminô phục vụ trong tiểu đoàn Thái thứ 3 rồi tiểu đoàn dù Việt Nam số 5 trước khi chết ở Angiêri tháng 6-1958. Sau lần bị thương, được thưởng Bắc đẩu bội tinh hạng ba và 16 lần tuyên dương.). Cuộc trú quân ngoài trời lần thứ nhất được tổ chức trên đường mòn vào lúc 3h và 10h sáng. Turê và binh lính của ông dừng lại ở Mường Pồn, một loại trạm trú quân trên đường mòn Pa vi; trung sĩ Blăng trạm trưởng, nhận hai hoặc ba người què không đủ sức đi theo nhịp độ hành quân kinh khủng đó. Cả ngày và cả một phần đêm sau, mọi người hành quân và đến ngày 5-12 thì tới một làng người Mèo, ở đây một máy bay cào cào đã thả dù các con bài và các đồng bạc trắng dành cho các trưởng bản, các thầy mo chống đối Việt Minh. Đến ngày 7, các đội biệt kích thăm dò khu vực và khoảng 18h, gần đến đường đi Tuần Giáo, họ chạm trán với một trung đội Việt Minh, đơn vị này phải quay trở lui trước hỏa lực. Cả đêm mồng 7 và đến 13h ngày 8, các lính dù trinh sát đường không phát hiện được dấu vết lốp xe nào. Không có dấu vết các đoàn xe Việt Minh, sư đoàn 316 còn ở xa. Thông báo bằng rađiô, GONO ra lệnh quay về.
Logged
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên
*
Bài viết: 595



« Trả lời #24 vào lúc: 02 Tháng Năm, 2008, 09:43:13 am »

Nhật ký tiểu đoàn 8 dù xung kích viết: "13 giờ: chấm dứt cú đánh úp về sự đi lại của địch".

Đến 19 giờ, Turê bắt được lệnh trở về qua radiô: Bằng hành quân cấp tốc. Đại uý tự hỏi tại sao lại vội vã như thế? Họ
đang cách Điện Biên Phủ 80 km về phía đông bắc và không có Việt Minh ở đó! Thôi được sẽ ngủ sau. Họ lại trở về trong bóng tối, chỉ dừng lại vào sáng sớm để nghỉ ngơi. Ngày 10 12 lúc 16 giờ, họ đi về hướng Mường Pồn, nhưng một giờ sau qua rađiô, Turê như từ trên trời rơi xuống vì được biết tin Việt Minh đã ở trước Mường Pồn. Phải đổi hướng ngay, đường mòn Pavi không còn an toàn nữa, phải trở về Điện Biên Phủ bằng đường trên đỉnh núi. Vừa leo núi vừa phát cây cối. Mệt lử. Mặc dầu mệt nhọc họ vẫn làm thất bại một cuộc phục kích ngày 11 vào lúc tảng sáng và Việt Minh đã bỏ chạy. Turê cảnh giác, cho biệt kích cảnh giới trên một mỏm núi mà họ định qua đêm. Đến 19 giờ bắt liên lạc lại bằng rađiô, ông được biết Mường Pồn đã bị tấn công. Từ vùng Lai Châu và cả từ biên giới Trung Quốc đến, hơn hai ngàn du kích Thái toan chọc xuống Điện Biên Phủ vào lúc tiểu đoàn 1 dù ngoại quốc và tiểu đoàn 5 dù Việt Nam đã rời đi từ buổi sáng để lên tăng viện. Turê và các sĩ quan của ông nghĩ rằng người ta giấu mình điều gì đó, người ta không di chuyển hai tiểu đoàn dù để cho họ đi hít thở không khí.

Có tiểu đoàn 5 dù Việt Nam đi theo ngày 11-12, tiểu đoàn 1 dù ngoại quốc xuất phát hành quân lúc 9 giờ sáng. Sau khi vượt qua Bản Tân, ngôi làng đầu tiên ở hướng bắc, bộ phận đi đầu chạm trán và đánh tan một đơn vị Việt Minh. Tiểu đoàn 1 dù có 12 người bị thương trong đó có thượng sĩ nhất Bay. Thung lũng chật hẹp có đường mòn Pavi uốn quanh là một nơi vắng vẻ nguy hiểm và mệnh lệnh đưa xuống là leo lên các sườn dốc. Điều tệ hại nhất không phải là những nỗ lực bỏ ra để mở đường tìm lối đi mà là sự thiếu nước, bi đông đã cạn kiệt, suối thì không tìm ra. Thực phẩm đã định hạn mức mà thiếu tá Ghirô thì bị kiết lị. Lăng le hứa thả dù vào ngày mai. Chiều thứ bảy đóng quân trên đỉnh Pu Ya Tao, ở độ cao 1.000m. Máy bay cào cào đã bay trên vị trí này nhưng dù đã có lời hứa, họ vẫn luôn luôn phải chờ đợi những can nước. Từ phía bắc đến, vài người nói đã nghe được tiếng súng cối 81. Được tăng cường bằng lính bổ sung của thượng sĩ Vanlê và du kích của trung tá nhất Ácsimbô, đơn vị đồn trú nhỏ bé ở Mường Pồn cũng đã nếm những quả đạn đầu tiên vào buổi tối và từ đó Việt Minh đã tiếp cận những hàng rào tre sắc nhọn thay cho hàng rào kẽm gai. Đồn này là trạm khách tứ chiếng, một ngôi làng có xây công sự hơn là một đồn phòng ngự và sự có mặt của phụ nữ, trẻ con không kích động người Thái chơi kiểu anh hùng. Va le bị giết, Xablê và trung sĩ Blăng bị thương, hạ sĩ nhất Côttơren thuộc tiểu đoàn 8 xung kích biến mất trong đêm tối. Một người bị què khác của tiểu đoàn 8, hạ sĩ nhất Planhô chuồn vào rừng nhưng không có cái ăn, không có nước, đã trở lại tiểu đoàn ngày 23-12.

Nhờ đêm tối, dù có máy bay Đacôta đom đóm mà Turê xin được, Việt Minh đã chiếm Mường Pồn ... Các đại đội du kích ở bắc Mường Pồn làm nhiệm vụ nghi binh chỉ còn cách rút về Điện Biên Phủ. Trung úy Unpát đánh trận cuối trong rừng, làm lá chắn cho du kích luồn vào sau lưng để đi về Điện Biên Phủ. Unpát cùng vài lính Thái sau cùng sẽ được máy bay trực thăng đón đi. Thiếu uý Rugie, chỉ huy một đồn ở biên giới Trung Quốc, chiến đấu mở đường chạy đến biên giới Lào sẽ được một máy bay cào cào đến đón đưa về Điện Biên Phủ. Thiếu uý Ghinlécmít đánh cách phía nam Lai Châu 30km, bị bắt, ở trong trại tù binh 9 tháng. Trung sĩ nhất Camiơ Acsicô cũng bị bẫy mìn, đã chết trong thời gian bị bắt.

Thứ bảy, ngày 12, sau đợt liên lạc bằng radiô đầu tiên xác nhận tin Mường Pồn cháy và Việt Minh đã kiểm soát thung lũng, các đội biệt kích của tiểu đoàn 8 xung kích đã tiếp tục hành quân từ 6h30. Họ di chuyển trên các đỉnh núi khống chế thung lũng, trên đó là con đường mòn Pa vi ngoằn ngoèo, trong gần năm giờ trước khi gặp đội tuần tra của tiểu đoàn 5 dù Việt Nam. Gặp thiếu tá Lơcléc, Turê khẳng định Mường Pồn đang bốc cháy, các cuộc chiến đấu đã chấm dứt, vậy thì đuổi theo là vô ích, vả lại Việt Minh hình như khá đông. Tuy nhiên, Lơcléc liên lạc bằng vô tuyến điện với Điện Biên Phủ, đã nhận được lệnh đến Mường Pồn:

- Ông sẽ có những tổn thất, Turê cảnh báo, tôi đã cho gài bẫy đường về của chúng ta.

- Phải vô hiệu hoá các bẫy để cho chúng tôi đi qua.

- Vậy thì tôi để lại cho ông trung sĩ Brusếc, người gài bẫy giỏi nhất của chúng tôi.
Logged
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên
*
Bài viết: 595



« Trả lời #25 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2008, 10:45:19 am »

Các đội biệt kích trở lại Điện Biên Phủ, còn Brusếc quay lại những nơi anh đi qua để tháo kíp lựu đạn và các lượng thuốc nổ khác mà chính anh đã cài đặt. Đã cảm thấy mệt và buổi tối lính bảo an cũng cắm trại trên đỉnh Pu Ya Tao cách tiểu đoàn dù ngoại quốc vài trăm mét. Rạng sáng chủ nhật, khi rời Pu Ya Tao, vẫn là tiểu đoàn 5 dù Việt Nam mở đường với đại đội 1 của trung uý Đờ cua, đại đội này đã được lệnh chiếm cao điểm sắp tới là Pu San. Quân bảo an không bao giờ chiếm được nó, Việt Minh đã đến trước họ.

“Trời đêm yên tĩnh, thiếu uý Latan viết, trung đội của thiếu uý Luyxiên Bêan đi đầu. Trung đội tôi cũng đi theo đường mòn đó cách khoảng 100 mét. Bỗng nhiên một loạt súng vang lên và vài giây sau đạn nổ khắp nơi. Việt Minh nấp trong cỏ tranh, tôi chạy đến chỗ Bêan, anh bị đạn vào cổ vào vai, và cánh tay. Anh mất nhiều máu và ngất đi, tôi đỡ anh nằm xuống phía thấp của mặt đường vì anh vẫn đứng, máu chảy như suối, một nụ cười co rúm hiện lên trên môi anh. Trung uý bác sĩ Ruôn đã có mặt ở đó, ông làm thủ thuật mở khí quản tạm thời, Bêan kêu lên vì đau đớn".

Sự can thiệp của bác sĩ Ruôn đã cứu sống người bị thương đang gào lên vì một vết thương thứ hai. Chúng tôi nhìn thấy quả nhiên anh còn bị một viên đạn vào bụng. Lúc này, cưỡi trên mình người sĩ quan, bác sĩ chú ý về thủ thuật mở khí quản mà ông thực hiện trong những điều kiện tồi tệ nhất hơn là những kêu ca của bệnh nhân. Ông muốn anh chịu đựng cho đến lúc có trực thăng đến. Thiếu tá Lơcléc đã phát đi một lời cầu cứu không quân, hai chiếc Bearcat đã cất cánh và sẽ đến trong mười phút nữa. Mặc dầu nơi tiếp xúc giữa hai bên đối địch rất chật hẹp nhưng chính các máy bay sẽ tấn công bằng bom napan làm cháy cỏ tranh, trong đó có nhiều người bị thương của tiểu đoàn 5 dù Việt Nam đã bị chết trong những điều kiện tàn nhẫn.

“Khi Bêan bị thương, Latan kể tiếp, chúng tôi có cảm giác là cả tiểu đoàn bắn cùng một lúc vì những loạt đạn rất dày. Lửa bắt vào những đám cỏ cao và lan ra thành một sự đe doạ mới. Nhiều người chạy tránh lửa, những người bị thương đang nằm, thét lên kinh hãi rồi im bặt vì lửa đã thiêu họ. Đó là một thời điểm khó khăn: tiếng nổ của đạn cối, của chúng ta và của những người đối diện, loạt đạn ngắn, ngọn 1ửa như lốc xoáy, súng đạn nổ trong 1ò 1ửa, tiếng kêu của những người bị thương gặp lửa ... Từ phía sau một đại đội leo lên phía chúng tôi, đi đầu là trung uý Phuriê. Mới vào trận anh đã bị một viên đạn vào đầu. Đại uý Ôđờvin thay anh, nhưng mười phút sau người ta phải sơ tán ông vì ông đã bị đạn. Riêng đối với đại đội của tôi đã có 12 người chết, 24 người bị thương và 2 người mất tích, nghĩa là hơn nửa quân số” (Chú thích: Sinh năm 1927 ở Xanh Manh đờ Castiông (Girôngđơ) Ăngđrê Phuriê tốt nghiệp Trường võ bị Xanh Xia năm 1949, có bằng nhảy dù, được phong thiếu uý tháng 5-1950. Được chọn sang Đông Dương, biên chế vào tiểu đoàn 3 thuộc địa biệt kích dù ở Vannơ tháng 10-1951. Trung uý lên tàu ở Mác xây vào tháng 12. Tham gia nhiều cuộc hành quân khác nhau, rồi đến Nà Sản. Bổ nhiệm vào tiểu đoàn 5 dù Việt Nam, nhảy xuống Điện Biên Phủ trong cuộc hành quân Hải li.).

Đêm càng khuya trên đỉnh Pu Ya Tao thì tiếng súng càng thưa dần và Việt Minh càng ra xa hơn. Trong đêm tối, lính canh chăm chăm nhìn đám tro ánh lên màu đỏ nhạt, lo lắng nghe vọng lặp lại tiếng dao phạt cây của Việt Minh, hình như đang mở những con đường để tiếp cận các đỉnh núi. Để tự trấn tĩnh, các lính dù Việt Nam nói rằng họ đang làm cáng để chở người bị thương của họ. Rạng sáng thứ hai, ngày 14, một số đơn vị bảo an và đại đội của đại uý Cabirô thuộc tiểu đoàn dù ngoại quốc trở lại những nơi đã diễn ra trận đánh để mai táng những người chết.

“Thật là một cảnh tượng kinh khủng, Latan nhớ lại. Những thân thể bị đốt cháy thành than, những cánh tay bị cụt đang giơ lên ... bốc mùi khủng khiếp. Trên một diện tích nhiều héc ta tất cả đã bị cháy. Những mảnh kim loại của quân trang dát vào da thịt bị cháy đen của vài thân thể. Những cái bụng bị phồng trướng, có cái đã nổ bung ra, nhìn thật kinh sợ".
Logged
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên
*
Bài viết: 595



« Trả lời #26 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2008, 10:46:51 am »

Một hố lớn đã được đào, những cây thập tự bằng tre và một cuộc mai táng sơ lược đã diễn ra giữa đỉnh Pu San và đỉnh Pu Ya Tao. Một trung đội bồng súng chào và những bức ảnh đã được chụp cho nghi lễ được lưu danh mãi mãi. Khi đơn vị bảo an vừa được tập hợp thì lệnh cho quay lui đã được ban ra kèm theo một câu nhỏ: hành quân cấp tốc! Điều đó cho thấy ai đó ở Bộ chỉ huy GONO rốt cuộc đã nhìn thấy mức độ của các sự kiện vừa xảy ra. Nhịp độ hành quân sẽ tăng lên và như trung uý Rúc đã nhận xét, trở thành "một cuộc chạy đua tìm gia vị ngon".

Đại tá Đờ Caxtơri đã cảm nhận được mối nguy đến mức ông phái trung uý Uyem lên phía bắc cùng 400 lính Thái. Uyem sẽ chiếm giữ độ cao 836, từ đó có thể dùng hỏa lực khống chế đường mòn Pa vi để yểm trợ cho hai tiểu đoàn rút lui từ các mỏm núi xuống. Lăng le ra lệnh cho đại uý Lamuliát đi đón lực lượng bảo an và tiểu đoàn dù ngoại quốc cùng lính trù bị của tiểu đoàn 8 xung kích. Tiểu đoàn 1 dù thuộc địa của đại uý Xukê cũng nhận được nhiệm vụ như vậy. Trung tá Lăng le, mắt cá vừa mới tháo bột, lên đường cùng lính dù của ông.

Các đại đội của tiểu đoàn dù ngoại quốc rút theo thứ tự, Vécghê, Cabirô và Blăngdông làm hậu quân. Chiếc cào cào mới hơi nghiêng cánh mà hàng trăm Việt Minh đã xuất hiện trên sườn núi bên kia, thét lên và chạy tới phía lính lê dương. Một phát đại bác 155 li đã đào lõm hàng ngũ của họ trong chốc lát nhưng tổn thất không bao giờ làm họ nao núng. Họ giống như những tia nước phun ra từ tất cả các bụi cây họ ở đằng sau từng khóm cỏ và làn đạn của họ dày đặc. Tuy vậy vẫn phải đến Pu Ya Tao, ở đây, đại uý Vécghê đến đầu tiên, được xếp vào đoàn thu dung. Cabirô chỉ cách kẻ thù hai ngón tay như khi ta nhờ thắt cà vạt thì lại tuột khỏi tay, kẻ thù còn ở hậu quân thì đại đội "Vú nuôi” Brăngđông bị tấn công một cách tàn nhẫn chưa từng thấy. Một giờ sau, tiểu đoàn đã chiếm lĩnh lại Pu Ya Tao trong lúc Brăngđông "đấu kiếm" hăng hái ở sườn núi cuối cùng. Ghirô lo lắng, các trung uý Nêen và Thilu đề nghị đi đón Brăngđông nhưng Ghirô không cho. Các loạt đạn đến gần, những lính lê dương đầu tiên đã xuất hiện, quân phục rách nát, mặt và tay đầy máu ... Trung uý Raynô giải thích là trung đội lính người Việt của anh đã chạy tán loạn... Brăngdông nét mặt mệt mỏi, đang đi đến cùng với đại đội "cận vệ" của anh. Đại đội anh bị thiệt hại, họ nói là thiếu 40 người nhưng cũng không rõ ai chết, ai bị thương, ai bị bắt làm tù binh. Nhìn lên phía bắc họ được chứng kiến một cảnh đau lòng: trên mỏm núi bên cạnh, lính lê dương bị bắt đang rời trận địa, tay bị trói sau lưng, chung quanh là những người bộ đội cáu kỉnh. Ở tiểu đoàn, họ nói có 28 người chết và mất tích, 24 người bị thương sẽ được trực thăng đến đón, trong lúc các máy bay Bearcat thả bom napan xuống quân Việt Minh ở trong thung lũng.

Lính bảo an rút lúc 20 giờ và đại úy chỉ huy của họ đi đầu với người liên lạc bằng radiô của ông ta với cung cách là người đầu tiên vượt qua mạng của Điện Biên Phủ. Đó không phải là điều mà người ta chờ đợi ở ông, và sau khi thông báo cho ông vài ý tưởng đơn giản về cách chỉ huy một đơn vị nhảy dù, Lăng le gửi ông về Hà Nội theo chuyến máy bay đầu tiên. Để tỏ ra không thiên vị, Lăng le cũng gạt cả thiếu tá Lơcléc.

Trong chiến tranh, những người bại trận bao giờ cũng có lỗi. Tiểu đoàn dù ngoại quốc khoá đuôi cuộc hành quân, Brăngđông đi đầu - anh ta đã xứng đáng - Vécghê ở đuôi. Trong đêm thứ hai 14 rạng ngày thứ ba 15, đoàn quân lặp lại hành trình hai ngày như ra đi. Việc gia tăng tốc độ cảm thấy rõ nhưng mỗi người đều bị thúc đẩy bởi thuyết phục rằng Việt Minh sẽ phục kích hoặc đánh vào sườn họ. Trong lúc đó ở xa hơn về phía tây trên mỏm đồi có rừng cây, Uyem và những người lính Thái của anh bị cối 81 truy kích, anh phải yêu cầu pháo can thiệp để bịt miệng họ. Uyem có hai người bị giết, ba người bị thương và vẫn còn tin rằng việc rút lui của đoàn bảo an và tiểu đoàn dù ngoại quốc cùng 400 lính Thái của anh, đã được phép. Xukê và tiểu đoàn dù thuộc địa số 1, chẳng hơn gì Lamuniát cùng với các đơn vị xung kích của ông, không phải can thiệp. Còn Turê và các đội biệt kích của ông đã tìm được chỗ trú ẩn, và họ ngủ ngon lành sau hơn mười ngày du cư.

Lăng le tưởng rằng chân đã khỏi và trở về Điện Biên Phủ nửa đi nửa phải cõng, với giúp đỡ của trung uý Xinglan thuộc đội liên lạc và sự quan sát của ông (DLO) (Chú thích: Tối thiểu có 1 sĩ quan và người phụ trách vô tuyến điện.). Tình trạng này làm cho ông điên tiết; hai tiểu đoàn dù có pháo binh và không quân chi viện mà lại chịu thua nhanh như vậy: "Không phải chúng ta đang có vấn đề đối đầu với một sư đoàn ưu tú, ông nói trước ủy ban điều tra, đây là sư đoàn 316. Các sư đoàn ưu tú, 312 và 308 chưa có mặt ở đây".
Logged
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên
*
Bài viết: 595



« Trả lời #27 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2008, 10:49:11 am »

Vị đại tá nóng nảy xác nhận rằng từ 12-12, người ta được biết rằng các trận chiến đấu ác liệt sẽ diễn ra, tuy nhiên, hai tiểu đoàn dù di chuyển trong khu vực chi viện của pháo binh và không quân bị buộc phải rút lui, thì đối với ông thật là một điều huyễn hoặc khó tin.

“Họ được dẫn trở lại vị trí xuất phát trong những điều kiện gần như là tai hoạ, ông công nhận. Thấy có điều không ổn, đại tá Đờ Caxtơri đã cử tôi đi thu dụng tàn quân.

Tôi nhớ đã đến chỏm núi vào ban đêm, tôi nghe thấy cuộc chiến đấu ở trước mặt tôi, một trận đánh lộn xộn, không rõ ràng, chỉ cảm thấy bằng cách nghe rađiô và chỉ nhìn thấy đám tàn quân của các tiểu đoàn đang đến”.


Lăng le nói quá lên, ngoài đại đội Đờ Cua ở tiểu đoàn 5 dù Việt Nam và đại đội Brăngdông ở tiểu đoàn 1 dù ngoại quốc, các đơn vị khác trở về đều mệt mỏi, dĩ nhiên rồi nhưng bảo toàn quân số. Về phần Cáxtơri ông không quên chỉ trích một cuộc hành quân mà Lăng le có trách nhiệm:

“Giao chiến diễn ra 5 ngày và Lăng le hầu như không biết thu quân về. Dẫu sao quân của ông ta không đạt mục tiêu đã định: Mường Pồn. Họ không thể đến đó ... Họ đã thu nhận các đội biệt kích của Turê và một số du kích, tuy nhiên chúng ta không thể tiến lẩn quẩn mười kilômét về phía bắc Điện Biên Phủ. Cuộc đụng độ đầu tiên này chứng minh khả năng ít ỏi của các chiến binh chúng ta trong chiến đấu ở rừng rậm".

Lăng le cũng nhấn mạnh đến tính không thích nghi của các chiến binh Các sĩ quan nhảy dù đã lưu trú ở đây lần thứ hai, thậm chí lần thứ ba, là loại chất lượng hiếm hoi. Trừ vài ba sĩ quan ưu tú quân đội thường gồm những lính tình nguyện không có kinh nghiệm:

“Quân đội chúng ta không thích hợp với chiến đấu nơi rừng rậm. Trong đất nước này, người ta di chuyển trên những đường mòn chật hẹp mà cả những con lừa cũng không đi qua được, còn kẻ thù thì lại am hiểu những con đường đó. Nghĩa là địa hình bất lợi với chúng ta. Cuộc chiến đấu luôn luôn diễn ra cùng một kiểu như vậy. Tôi đi với hai tiểu đoàn, thường thường vào ban đêm để tiếp cận các sườn núi trước khi trời sáng và tôi giao chiến thông thường bằng hàng đôi, nhiều nhất là hàng ba. Bởi vì nếu không thì rất khó vượt qua. Các đơn vị đi đầu, sau nửa giờ, có khi một giờ hành quân đã chạm mặt với các đơn vị Việt Minh ngụy trang và cuộc giao chiến đã nổ ra. Trường hợp thuận lợi nhất thì mục tiêu bị đánh. Các tiểu đoàn chưa kịp thở thì một cuộc phản kích đã diễn ra đưa tất cả mọi người hầu như chạy tán loạn, trở về vị trí xuất phát”.

Trung úy Nêne thuộc tiểu đoàn 1 dù ngoại quốc đã giữ kín về vụ Mường Pồn và trong thư gửi mẹ, anh chỉ khuyên: "Mẹ hãy đọc tờ Figaro, chắc họ có đưa tin về chiến sự , rồi anh viết thêm:

Những tuần gần đây là những tuần sóng gió trong chuỗi ngày con ở đây. Chúng con đã phải trả giá cho những cuộc "dạo chơi" quả là rất vất vả ... Ngày 14 và 15-12 công việc thật nóng bỏng và tế nhị nhưng rồi mọi việc đã qua đi nhanh chóng và chúng con vẫn có chỗ ngồi tốt để quan sát. Tinh thần vẫn cao nhưng thân thể khá mệt".
(Thư viết ngày 20-12).

Là trung đội trưởng ở đại đội Brăngdông, trung uý Raynô viết thư cho Gia nhin, vợ anh, ngày 17: "Anh không còn nhớ bức thư cuối cùng anh viết cho em ngày nào, nhưng hằng ngày em đọc báo chắc em cũng hiểu rằng lâu nay anh không thể viết thư cho em được; anh không có thời gian mà cũng chẳng có can đảm để viết vì dù sức khoẻ anh không có vấn đề gì nhưng anh khá mệt mỏi".

Hôm trước, trung uý Gioócgiơ Rúc ở đại đội Mactanh gửi thư cho vợ là Crixtin. Anh viết thận trọng đến mức tầm thường hoá sự việc Dường như nói về một cuộc hành quân khác:

“Đó là một cuộc đi chơi xa vất vả. Các anh vẫn luôn đi theo con đường qua các chỏm núi. Đồng bằng ở chỗ các anh, ở độ cao 500m so với mặt biển thế mà các anh còn leo lên đến 1100m. Các anh không được ăn đều bữa và thiếu nước. Rốt cuộc các anh đã trở về mệt lử người, sau khi đã thấy cơ man nào là Việt Minh ở khoảng cách khá gần. Khi các anh về đến nơi, Xavie đờ Tút xê, trung uý thứ ba của đại đội, mới đi dưỡng bệnh ở Đà Lạt về. Anh ấy làm cho các anh món bít tết. Ngon tuyệt!". (Chú thích: Là con một sĩ quan bị Gestapo xử tử, Xavie đờ Tút sê bị tai nạn xe máy chết ở Angiêri năm 1956. "Nó đã 28 tuổi, miệng rộng, yêu đời, một chiến binh tuyệt vời ông bố là Misen, tướng không quân viết, nó giống như một con cá nằm dưới nước trong đội lê dương, gia đình thứ hai của nó".)
Logged
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên
*
Bài viết: 595



« Trả lời #28 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2008, 10:50:45 am »

Chương II
SINH THÁI HỌC KHÔNG CÓ CHỖ Ở ĐIỆN BIÊN PHỦ

"Lúc đầu, Lăng le nói, quân dù nhảy xuống, họ đã san phẳng nhà cửa, đã đào hố và, thực lòng mà nói, họ đã đi hơi xa trên những vị trí đó”.

Vậy Điện Biên Phủ là một vị trí ứng biến và Cônhi đã định ra những giới hạn cho nó: Huy ghét và Clôđin, Đôminíc và Élian trên các mỏm núi về phía đông và hai tiền tiêu có nhiệm vụ bảo vệ con đường: Bêatơrít ở đông bắc và An nơ Mari ở tây bắc. Mỗi trung tâm đề kháng trong số sáu trung tâm do một tiểu đoàn đóng giữ, số điểm tựa của trung tâm tuỳ thuộc vào địa hình. Ngày 17-12, theo yêu cầu của đại tá Đờ Caxtơri, Gabrien phải được xây dựng dưới 5km về phía bắc căn cứ, dọc theo đường mòn. Cônhi cũng đã tính đặt công trường xây dựng ở cự li 6 km về phía nam, ở đây ông đặt một cụm pháo, điều đó buộc Việt Minh phải phân tán làn đạn nếu muốn bắn cùng một lúc cả hai cụm cứ điểm của Pháp.

Tại Isaben có một tiểu đoàn bộ binh Angiêri và một tiểu đoàn lê dương làm nhiệm vụ bảo vệ các khẩu pháo.

Gậy ông lại đập lưng ông, chính Lalăng không hiểu gì về những người lính bản xứ. Những người lính của tiểu đoàn 2, trung đoàn 1 lính Angiêri là những người nông dân thất học ở vùng nam Bliđa, không nói được tiếng Pháp. Tăng viện cuối cùng đến với tiểu đoàn này từ tháng 7-1953 là: 297 người trong đó bảy hạ sĩ quan, đáp tàu thủy từ Apbơvin đến, 92 người trong số họ sang lần thứ hai nhưng trong đó có 59 người không phải tình nguyện. Thiếu tá Cácbonniê, một người cũ của tiểu đoàn 1 xung kích, chỉ huy tiểu đoàn, viết rằng thanh niên Angiêri "thường xuyên ý thức về quyền lợi của họ và không nghĩ gì về nghĩa vụ của họ". Kết thúc nhiệm kỳ, Cácbonniê được thay bằng đại uý Đuyriê và đảm đương nhiệm vụ quyến chỉ huy cho đến khi bị chết vì mìn. Thiếu tá Phavarông kế tiếp ông nhưng ngày 7-12 trong cuộc hành quân ở vùng châu thổ, hai máy bay Bia cát bổ nhào xuống tiểu đoàn 2, trung đoàn 1 lính Angiêri. Mang ba lô tiếp tế và những két đạn, các tù nhân và người bị giam là quân nhân (PIM) rất đông bên cạnh binh lính của tiểu đoàn, và các phi công tin chắc rằng đây là một đơn vị Việt Minh, liền thả hai quả bom napan. Đại uý Gôndanve và 12 người bị bỏng nặng, thiếu tá Phavarông bị thương vì một mảnh đạn: "Nó vào chỗ hõm của vai trái và ra dưới cánh tay sau khi đã cắt đứt động mạch cánh tay và bó dây thần kinh".

Phavarông đã được sơ tán bằng trực thăng và được cứu sống kịp thời. Phòng tác chiến ở Hà Nội đang lúng túng giữa hai con đường tìm đâu ra một sĩ quan sẵn sàng chỉ huy tiểu đoàn 2, trung đoàn 1 Angiêri sắp lên đường đi Điện Biên Phủ? Với danh nghĩa lâm thời người ta cử thiếu tá Đờ Pêrétti. ông ta ở lại 5 ngày và nhường chỗ cho đại uý Xanlô đờ Noayê, ông này dẫn tiểu đoàn đến sân Quần ngựa Hà Nội rồi đến Điện Biên Phủ bằng đường không vào giữa tháng 12. Phòng tác chiến sau đó áp dụng một cách cũ mà tốt là cởi áo Pie mặc cho Pôn. Người ta cho thiếu tá Biăngcô thuộc tiểu đoàn 2, trung đoàn 1 Angiêri biết phó chỉ huy của ông là đại uý Giăngxênen phải về Hà Nội gấp - Giăngxênen hy vọng thế chân Biăngcô khi ông này về nước và thế là anh được thăng chức đứng đầu tiểu đoàn 2, trung đoàn 1 Angiêri đã đóng trại ngoài trời từ ba ngày nay ở Điện Biên Phủ. Anh đáp máy bay vào sáng 20:

“Tôi đến trình diện với đại tá Đờ Caxtơri, ông giữ tôi lại ăn cơm, chỉ cho tôi biết nhiệm vụ của tiểu đoàn 2, trung đoàn 1 lính Angiêri (đặc biệt là việc bảo vệ hai đại đội pháo 105) và dùng xe Jeep dẫn tôi đến khu vực của tiểu đoàn 2 Angiêri và tiểu đoàn 2 Ma rốc của thiếu tá. Buri, đang chuẩn bị trở về Hà Nội. Tôi thấy khu vực chiếm đóng của tiểu đoàn là quá rộng và phân tán giữa các lùm tre và tôi đã cau mặt. Caxtơri đã thấy thái độ đó và yêu cầu chúng tôi, Bôri và tôi, đề nghị với ông về cách bố trí bộ đội".
Logged
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên
*
Bài viết: 595



« Trả lời #29 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2008, 10:52:12 am »

Thứ hai, Giăngxênen làm một bản vẽ về Trung tâm đề kháng tương lai Isaben nằm trong vòng uốn của sông Nậm Rốm, phía tây là tàn tích của một con đê cũ, các mặt khác đều xa các ngọn đồi. Sau khi lính Ma rốc đã đi rồi, tiểu đoàn 2, trung đoàn 1 lính Angiêri đón tướng Cônhi đến thăm. Giăngxênen mang găng tay trịnh trọng tiếp đón, cố ý làm cho khách hiểu rằng "thêm một đại đội nữa sẽ rất hoan nghênh". Cônhi cho ông hay rằng các đại đội pháo 105 của cụm Anlire đã đến, trước vài ngày tiểu đoàn 3, trung đoàn 3 bộ binh ngoại quốc, điều đó làm yên lòng viên sĩ quan chỉ huy lính bản xứ.

Huân chương Giải phóng, cựu chiến binh ở Narvik (Chú thích: Narvik: cảng ở miền bắc Na Uy nơi diễn ra cuộc chiến đấu ác liệt giữa quân Đồng minh và quân Đức năm 1940.) tham gia lực lượng Pháp tự do của tướng Đờ Gôn, hai lần bị thương, Lalăng là một chiến binh lão luyện. Trước khi đáp máy bay lên Điện Biên Phủ, ông viết thư cho vợ là Mari Phrăngxoadơ rằng ông "hài lòng về sự thay đổi và về sự chỉ huy nghiêm túc chặt chẽ hơn nhiều mà người ta đã tạo ra cho anh. Mọi việc sẽ khác: cán bộ, nhiệm vụ, môi trường. Một nỗi buồn phiền duy nhất: thư từ đến chậm vì từ Hà Nội, sau khi chia chọn, sẽ được gửi đi bằng máy bay. Chỉ cần có sương mù là máy bay đã bị chậm rồi (ngày 3-1).

Mười ngày sau:

“Mọi người nói rằng nhiệm vụ hiện tại của các anh là chủ yếu. Nó không dễ dàng chút nào và anh đang thử thách một cách nghiêm khắc tinh thần trách nhiệm. Anh cầu xin nhưng không tìm thấy sự yên bình; em biết không, một sự thanh thản đẹp đẽ nhưng có vẻ bề ngoài nhiều hơn là hiện thực ... Sự chờ đợi đó, con người xa lạ trước mặt anh đó, đè nặng lên anh nhưng anh hiểu rằng thắng được một ngày là một ngày quan trọng ... Nếu anh có ý thức về nhiệm vụ và thường khổ sở vì sự cách biệt với người chỉ huy thì người đối diện với anh ở bên kia phòng tuyến cũng vậy, lại còn nhiều hơn anh nữa, anh thề với em như vậy. Luôn luôn có một mối lo sợ trước khi hành động, nhưng điều đó có tác động ở cả hai bên".

Cuối thư, Lalăng thổ lộ hơi quá một tí nhưng tránh nói về nghề nghiệp của mình:

“Em yêu cầu anh giữ lời hứa, đừng giấu giếm em điều gì cả anh vẫn giữ lời; những giờ phút này thật nặng nề. Anh tự trách đã nói với em, anh còn tự trách nhiều hơn nữa về sự thử thách. Con người hay hoài nghi! Anh nghe lời trách móc này và anh xấu hổ về điều đó nhưng bản tính của anh là như vậy, thật khó khăn khi phải chống lại chính mình. Hãy cầu nguyện cùng anh cũng như anh cầu nguyện cho em và các con, để cho bức thư này không làm em đau buồn mà trái lại nó khơi gợi trong em sự phản ứng của nghị lực, điều đó luôn luôn là cách làm của em ... Tuy nhiên không có sự lo lắng nào, không có gì đến với mình nếu thượng đế không muốn, vậy em hãy tươi cười lên và yên tâm đi, chỉ có trái tim đáng thương này lang thang, mơ mộng. Một ngày mai chúng ta sẽ cùng nhau cất tiếng cười”.

Sau khi chữa bệnh ngoài da, đại uý Pisơlanh trở về tiểu đoàn 8 xung kích, ông gặp lại đại dội của mình, ông viết thư ngay mô tả địa điểm cho bố biết:

“Đây là một hoạt động rất lớn có thể có những tác động trở lại quan trọng. Điểm tựa này rất bền vững, dễ phòng thủ hơn điểm tựa Nà Sản và có các phương tiện quan trọng hơn. Chúng con đang chờ đợi một mưu toan của Việt Minh nhưng họ sẽ biết họ đang đối đầu với ai. Xứ này thay đổi một cách dễ chịu đối với chúng con so với vùng châu thổ. Đây là một vùng lòng chảo có núi non bao quanh, ở giữa, có hai, ba con sông nước lạnh buốt. Đêm đêm trời mát lạnh và con có thể chịu đựng được với cái túi ngủ và cái chăn.

Vùng lòng chảo Báo chí thích từ ngữ này nhưng đại uý Sơvaliê ở tiểu đoàn 1, bán lữ đoàn lê dương thứ 13, ngày 2-3 đã bảo đảm với Giécmen, vợ ông, rằng "Từ này đã đưa đến một ý nghĩ sai lầm. Hình ảnh đúng đắn là hình một sân vận động mênh mông dài ít nhất là 20 kilômét, chiều ngang 7-8 km. Lòng sân vận động là thuộc về chúng ta, các bậc thang núi xung quanh là của Việt Minh ..."
(Thư viết ngày 2-3).
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM