Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:42:52 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Điện Biên Phủ từ góc nhìn của người lính Pháp  (Đọc 163937 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên
*
Bài viết: 595



« Trả lời #30 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2008, 10:54:03 am »

Khi Sơvaliê khẳng định rằng các bậc thang thuộc về Việt Minh, ông ta nghĩ đến những ngọn núi có mây trắng bồng bềnh tạo thành những bậc thang khổng lồ cho đến tận biên giới Trung Quốc. Những quả đồi phần thuộc về người Pháp, trung uý Payơrê thuộc tiểu đoàn 4 lính Ma rốc leo lên Élian2. Với cha mẹ anh, anh cũng dùng từ "vùng lòng chảo", một ý nghĩ xuất phát từ trong sâu thẳm trí nhớ về hình ảnh có tính biểu tượng của cuộc hành hương Sáctơrơ: "Sau hai tháng làm việc, phong cảnh vốn là sự pha trộn giữa các thửa ruộng nhỏ, có rừng thưa bao quanh, đã hướng tới dáng dấp phong cảnh vùng Bốt xơ (vùng đất phù sa của bồn Pari nằm ở tây nam thành phố Pari), chỉ thiếu một chỏm nhà thờ".

Viết thư cho vợ là Pierét ở Liệu cùng với các con, trung uý Rastuin ở tiểu đoàn 1, trung đoàn 2 bộ binh ngoại quốc ví Điện Biên Phủ như quê mình:

“Anh không biết so sánh xứ này với cái gì, có thể với vùng phụ cận của thung lũng Accơ, những chỏm núi phủ một lớp rừng, dày dưới gốc là lớp cây con nhằng nhịt khó gỡ, hoặc với vùng Picốtxen hoặc còn nữa với vùng Galốpbơ”.

Việc phá rừng gia tăng, nhiều đường hào và vị trí chiến đấu được đào và thiết lập, tất cả những điều đó đã biến đổi bộ mặt của thung lũng Điện Biên Phủ; người mới đến lần đầu tưởng được nhìn thấy một vùng rừng núi và những ruộng lúa thì đã bị bất ngờ. Sau thời gian thực tập ở bệnh viện Van đờ Grát năm 1953, bác sĩ Pông đáp máy bay của Hãng Air France sang Việt Nam công tác. Ngày 25-2, đến thay thế trung uý Canvê, bác sĩ của tiểu đoàn 2, trung đoàn 1 lính Angêri, Pông thổ lộ với vợ :

“Từ trên máy bay đến Điện Biên Phủ, người ta thấy đó là một vùng trũng hoàn toàn bị phá trụi giữa các ngọn núi của xứ Thái. Trong lòng thung lũng một con sông uốn khúc ... Cây cối bị chặt, nhiều hầm ngầm được đào và gia cố bằng tre, nối liền với nhau bằng một hệ thống giao thông hào, toàn cảnh Điện Biên Phủ gần giống bãi chiến trường ở Vécđoong năm 1916”.

Nếu người Pháp dự định mở rộng trận địa thì sẽ nảy sinh nhiều vấn đề nan giải về tiếp tế, cung cấp nước và sơ tán người bị thương. "Người ta không thể cho phép mình xây dựng một căn cứ không - địa rẻ tiền cách vị trí chiến đấu của mình tới 300 kilômét. Cônhi thừa nhận, ... Người ta không thể làm Anhirm cách 300 killômét trong một thời gian không hạn định.
Người ta làm Arnhem cách 20 kilômét và trong vài ngày”
(Chú thích: Liên hệ tới chiến dịch Market Garden ngày 17-9-1944 của quân đồng minh ở Hà Lan. ) .

Theo trung tá Lăng le, Cônhi việc đào đắp đất không tiến triển, ông thừa nhận: “Việt Minh làm tốt hơn chúng ta trên địa hình này. Nhất là họ có lao động. Chính các tiểu đoàn của chúng ta tổ chức vị trí. Có nhiều tù nhân, tù binh và người bị giam giữ nhưng bộ phận chủ yếu của các vị trí là do chúng ta làm; thời gian lấy vào giờ nghỉ của binh lính”.

Có lao động Thái khá nhiều đấy, nhưng với Lăng le mà khêu gợi sự tham gia của người Thái vào nỗ lực chung thì cũng giống như vẫy miếng vải đỏ trước mũi con bò tót Miura:

“Đó là những người Thái! Họ chẳng làm việc! Đại diện cho họ là một ngài tên là Boócđiê, con rể Đèo Văn Long, thủ lĩnh xứ Thái, một kiểu tiểu lãnh chúa địa phương ... Họ có bao nhiêu người? Tôi không thể đưa ra một con số, nhưng tôi thấy đó là một kiểu trạm đón tiếp du khách ... hàng trăm người phải nuôi bấy nhiêu miệng ăn vô tích sự”.

Na va chủ trương rút người Thái khỏi cuộc nhưng Cônhi nghĩ rằng "về mặt tinh thần, tốt hơn nên để họ làm việc phòng thủ xứ sở họ". Người Thái cũng đặt ra vấn đề an ninh. Các gia đình thì ở trong ba ngôi làng gần Điện Biên Phủ, còn đàn ông được động viên thì ở trong các vị trí. Caxtơri không thích tình trạng này: "Sẽ có chuyện các đội tuần tra trong làng thu lượm những lính chính quy Thái về thăm vợ".

Với tinh thần trung thực, ông thừa nhận "đó cũng là một nguồn tình báo. Cũng cần nhìn mặt này mặt kia ...” .
Logged
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên
*
Bài viết: 595



« Trả lời #31 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2008, 01:58:50 pm »

Với đại đội cối hạng nặng của anh, trung uý Môliniê đã nhảy dù đợt hai và cấp trên của anh đã ấn định cho anh "một vị trí tạm được ở phía nam cách ngôi làng 500 mét". Vị trí này ở cạnh một ngôi chùa "một căn nhà cổ điển sơn màu đỏ màu hạnh phúc - với một bàn thờ bọc vải đỏ, có thêu rồng vàng”. Ở chân bàn thờ, những chiếc bát trống rỗng dùng đựng lễ vật để cúng, chứng minh chủ nhân vội bỏ ra đi và hai chiếc chuông đồng thau, khoảng 50cm, đó là toàn bộ những hiện vật của ngôi chùa. “Khi người ta ra lệnh cho chúng tôi chui xuống đất và xây dựng hầm trú ẩn, Môliniê kể, mọi người lao tới ngôi làng, mà dân đã sơ tán, để lấy những cột gỗ và mảnh ván. Bị che khuất dưới vòm lá cây, ngôi chùa không ai để ý, trở thành một nguồn cung cấp gỗ cho công trình chúng tôi. Chỉ còn lại mấy cái chuông, tôi quyết định đưa về căn cứ hậu cần ở Hà Nội” (Chú thích:Những chiếc chuông của Điện Biên Phủ theo tiểu đoàn 1 dù ngoại quốc được khôi phục lại khi nó rời Đông Dương sang Angiêri, và sau khi tiểu đoàn 1 dù ngoại quốc giải thể, chúng được đưa đến Bảo tàng Sidi Bel Abbès. Ngày nay chúng ở bảo tàng đạo quân lê dương ở Aubagne.) .

Ở An nơ Mari nơi tiểu đoàn dù ngoại quốc thứ nhất chiếm lĩnh các công sự dưới đất, trung uý Nêne đã vào tuổi 27. Trước khi sang Đông Dương, anh là sĩ quan tuỳ tùng của tướng Môngcla, là người chỉ huy tiểu đoàn Pháp của Liên hợp quốc tại Triều Tiên, nhưng chức vụ này anh không thích: "Người ta nhầm lẫn nghiêm trọng khi người ta muốn làm cho tôi thành một sĩ quan xalông!", anh thổ lộ với người thân. Nêne khá nổi tiếng, thiếu tá Ghirô đánh giá anh là "Có đẳng cấp cao hơn các sĩ quan có cùng quân hàm". Anh được sự kính trọng của các binh sĩ lê dương, anh đã tham gia tất cả các cuộc hành quân và giữ một kỷ niệm xấu về cuộc hành quân "Cá chó" diễn ra trước Hải li. Anh thổ lộ với bố, ngày 18-lO-1953:

"Cá chó" là một cuộc hành quân vất vả, khó chịu nhất là về mặt tinh thần mà con đã tham gia từ buổi đầu khi mới sang Việt Nam. Các phát súng không bao giờ gây cho con nhiều ấn tượng cả mà chính là những quả mìn. ôi những cái máy khốn nạn và kinh khủng đó! Nếu không chống lại nó, rốt cuộc quân đội sẽ bị một nỗi ám ảnh của những dụng cụ vô danh và giết người này, đến mức quân đội sẽ bị tê liệt”.

Về đời sống hàng ngày, Nêne kể những chuyện vặt vãnh với mẹ :

“Chúng con làm việc trên các vị trí của mình, hầm trú ẩn, dây thép gai, hào chiến đấu. Phải trả giá cho vài cuộc đi dạo ngày cũng như đêm, nhưng "khách hàng" có vẻ không hăng lắm và không đến gần. Việc đó cuối cùng thành buồn tẻ. Bây giờ con có cả một vườn thú trên chòm núi của con: một con gà trống, một con gà mái và một con chó đen như mực. Còn con vịt thì đã lên chảo từ hôm qua" (thư viết ngày 10-12).

Bạn của Nêne, trung uý Béctơrăng có một tinh thần bền vững, không thay đổi mà cha mẹ anh không phải lúc nào cũng nhất trí dược với anh. Khi bà Thêređơ, mẹ anh, cho anh biết là ông bố lo lắng thì anh ta chồm lên trên ngòi bút của mình: "Này, mẹ Thêređơ ơi, mẹ hãy lay bố già dậy đi, đừng lo ngại cho con, con đến đó là vì con thích. Nếu bố già thích săn thỏ thì con lại thích săn Việt Minh cơ".

Đó là phong cách Béctơrăng. Thích bông đùa và tin chắc ở khả năng không thể bị tổn thương của mình. Ngày 5-12, anh ta viết: "Chúng con đi dạo và con đã đi vào khu rừng thưa thật sự, với chiếc địa bàn và con dao phát. Con đã nhìn thấy dấu chân hươu, ngựa và dấu chân hổ ... Có lẽ chúng con còn ở đây vào dịp Noen. Vị trí rất vững chắc, đây là Chiến tranh 1914-1918 có hào chiến đấu và có dây thép gai”.

Béctơrăng đang sống trong môi trường của mình, anh nói thêm: "Chúng con làm bếp với thực phẩm tươi sống, thay cho khẩu phần chiến trận; trung uý Đômingô cho gửi hàng sang bằng chiếc Bô bon của anh, chúng con ăn ý với nhau như anh em; đây là cuộc sống đế vương".

Ngày 28-1, anh trở lại với vấn đề ăn uống: "Người ta làm một loại bếp dưới đất và không thể để mình bị suy nhược. Chúng con cho đưa từ Hà Nội lên, măng tây, giăm bông hộp, đó là những món chi tiêu duy nhất của chúng con, không thể để thiếu thốn được! Tiến lên, không thể nhu nhược được!".
Logged
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên
*
Bài viết: 595



« Trả lời #32 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2008, 02:01:14 pm »

Vẫn từ tiểu đoàn dù ngoại quốc, trung uý Rây nô mô tả nhà của mình với Gia nhin:

“Giường của anh bằng rơm ẩm, áo ngủ được thay bằng quân phục chiến đấu trừ các trang bị, cứ hai đêm thì có một đêm cởi giầy, trần giường là những khúc gỗ và rất nhiều đất, ánh sáng thì có nến thắp cả ban ngày” (thư viết ngày 7-12).

Đại uý Pisơlanh cũng nghĩ tới đại chiến:

“Người ta chui xuống đất trong những công sự chiến trường như năm 1916, nhưng với một hoả lực bộ binh mạnh hơn nhiều cộng với tất cả các cuộc chi viện có thể của pháo và cối. Cho nên đừng lo lắng gì về số phận của tôi ... Thời hạn lưu lại của tiểu đoàn ở các nơi này ư? Tôi không hy vọng rằng chúng tôi sẽ được đưa về Hải Phòng trước Noen". (thư viết ngày 10-12).

Ở đơn vị Biga, trung uý Xamalen mô tả hầm trú ẩn với Blăngsơ, ngày 4-12. Có phần nào đỡ khắc khổ hơn chỗ Rây nô:

“Một lỗ lớn che bằng những khúc gỗ và đắp hơn 50cm đất. Đạn súng cối, pháo có thể bắn trúng ... Tôi sẽ ngủ yên chẳng lo ngại gì. Tôi đã lót vách bằng những chiếc chiếu tre và đặt lên đó ba thiếp mừng nhân dịp lễ thánh Angđirê, để thay các bức tranh. Tôi lót rơm làm nệm, để những bộ sừng hươu, để đặt súng và như vậy giống một cuộc hẹn đi săn”.

Ngày lên đường của tiểu đoàn 6 dù thuộc địa sẽ vào ngày 11-12, trước đó ba ngày, trung uý Trapp viết từ Hà Nội:

“Những ngày đóng quân cửa chúng tôi ở Điện Biên Phủ cuối cùng đã kết thúc. Ba tuần lễ, chấp nhận được, thế cũng là đủ rồi. Chúng tôi trở lại với nhịp sống bình thường và chỉ đợi một đòn "bất ngờ mới của Na va". Với anh chàng đó, phải cảnh giác, ông ta chẳng báo trước đâu và sẽ gửi chúng ta đến một xó xỉnh nào đó bất ngờ nhất!”

Ở Điện Biên Phủ, những "người chui xuống đất" từ máy bay xuống ngày càng đông. Người ta khó hình dung hết tầm quan trọng của những vận động đó mà chỉ cần hai con số là đủ thấy khối lượng: trong nửa đầu tháng 12, 3470 lính dù rời Điện Biên Phủ cùng lúc sẽ đến Điện Biên Phủ là 4680 bộ binh, tất cả đều bằng không vận. Từ ngày khôi phục đường băng, không quân đóng góp công sức nghiêm túc, đã chở 3150 tấn, nghĩa là khoảng 170 tấn/ngày.

Sinh ra ở Pécpinhăng năm 1926, trung uý, bác sĩ Vécđaghê của tiểu đoàn 3 Thái đã đến Điện Biên Phủ vào ngày 1-12. Thời tiết thật tuyệt vời và Vécđaghê đã đi những bước chân đầu tiên trên đường băng, ngây ngất trước vẻ đẹp của thung lũng. Bị thu hút vào việc xếp đặt bệnh xá của mình, ông chưa có thời giờ viết thư cho vợ là Aclét, nhưng ngày 4-1 ông đã khai bút: "Các anh đang ở Điện Biên Phủ, quả tim của xứ Thái, trên một ngã tư đường quan trọng". Chuyển sang đề tài mang tính quân sự hơn, ông viết: "Các anh đã có bảy tiểu đoàn cộng với pháo binh, không quân, v v. Các cao điểm do quân dù canh giữ còn các anh chiếm lòng chảo của thành phố (nguyên văn) Điện Biên Phủ, đã ít nhiều chịu đựng các cuộc chiến đấu. Đây là một Nà Sản mới nhưng lớn hơn".

Bị quyến rũ trước phong cảnh, Vécđaghê muốn chia sẻ với vợ niềm cảm hứng:

“Anh rất sung sướng được ở đây và anh chỉ yêu cầu mỗi một điều: Kết thúc thời gian phục vụ tiểu đoàn tại đây. Các anh mua gà vịt, trứng và lợn tại chỗ, còn thứ khác do máy bay chở đến. Một điều phiền phức duy nhất: các anh ở gần đường băng, ở đây cứ năm phút lại có một máy bay Đacôta đỗ xuống”.

Các binh lính của tiểu đoàn 3, trung đoàn lính Angiêri trèo lên đồi của cứ điểm Đôminíc, còn từ máy bay đi xuống là những lính lê dương của một đơn vị thuộc bán lữ đoàn lê dương thứ 13 của trung tá Gô sê. Theo truyền thống lớn của đội lê dương, tiểu đoàn 1, bán lữ đoàn 13 của thiếu tá Bruynô và tiểu đoàn 3, bán lữ đoàn 13 của thiếu tá Pê gô sử dụng cuốc xẻng một cách hăng hái để làm nhớ lại rằng các binh sĩ lê dương trước hết là những người thợ xây.
Logged
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên
*
Bài viết: 595



« Trả lời #33 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2008, 02:03:20 pm »

Tham mưu trường bán lữ đoàn 13, thiếu tá Va đô, ngày 7-12, viết cho vợ ở lại Buốcăng Brétxơ cùng năm đứa con:

"Từ chiều hôm qua, các anh đã ở Điện Biên Phủ, một vùng trũng lớn có núi bao quanh. Hình như ở đó không có nhiều Việt Minh”.

Ngày 9-12: "Các anh đã bắt đầu làm công trình, chỉ vài ngày nữa, các anh sẽ sống dưới đất”..

Ngày 12-12: "Các anh tiếp tục chui xuống đất và ngày mai anh sẽ vào hầm trú ẩn của mình".

Ngày 14-12: "Đêm đầu tiên dưới hầm trú ẩn, chẳng thú vị gì nhưng sống yên tĩnh và các anh đã nhận được thực phẩm tươi. Ngôi làng tội nghiệp của Điện Biên Phủ đã bị hoàn toàn san bằng, đã từng có những căn nhà sàn lợp tranh rất đẹp”.

Ngày 17-12: "Trời mưa, các anh ở trong bùn lầy mặc dù bây giờ là mùa khô. Sau khi phá hủy làng để làm hầm trú ẩn, các anh chặt cây làm dân làng rất thất vọng".

Ở phía bắc trên cứ điểm Gabrien, các binh lính tiểu đoàn 5, trung đoàn 7 lính Angiêri cũng chôn vùi xuống đất như phải ở đó mười năm. Hình thái trải dài của vị trí nổi lên trên ruộng lúa như một con tàu có boong cao đã làm cho nó được mệnh danh là "Tàu phóng lôi".

Trước khi lên máy bay, trung uý Phốc có được lưu lại Hà Nội. Là con của một sĩ quan, anh đợi tám ngày rồi mới viết thư cho mẹ :

“Chúng con rời khỏi đồn ở vùng châu thổ ngày 28-12 và đi Hà Nội. Lần đầu tiên con được thấy thành phố này: những đại lộ rộng rãi, những ngôi nhà có vườn xung quanh, những khách sạn khoáng đạt, v. v Các sĩ quan ngủ đêm trong thành phố có thể giải trí và con không bỏ qua cơ hội - Phụ nữ Trung Quốc xinh lắm! Con nói như vậy là xấu phải không, nhưng phải biết hưởng tuổi xuân chứ”.

Ngày 2-1, tiểu đoàn 5, trung đoàn 7 lính Angiêri được dẫn tới khu vực không quân. Hai giờ sau, ba lô trên vai, họ leo lên vùng lãnh thổ mới, "Tàu phóng lôi", trung tâm đề kháng Gabrien tương lai. Đại uý Ca rê, sĩ quan tuỳ tùng ngạc nhiên: "Đáng lẽ lợi dụng rừng để ngụy trang chúng ta, chúng tôi lại nhận được lệnh phát quang bụi bờ trên quả đồi. Những tổn thất đầu tiên (hai người chết, ba người bị thương) ngày 4-1 do một máy bay C119 Packet gây nên khi nó thả dù sáu tấn dây thép gai mà không báo trước. Những thiệt hại đầu tiên do hỏa lực địch trong 6 ngày sau: giữa đêm Việt Minh bắn ba chục đạn cối 81 và tung một trung đội vào hàng rào dây thép gai: một người chết, hai người bị thương nhưng cũng tìm thấy những mũ của Việt Minh”.

"Chúng tôi đang sống một cuộc sống thực sự của chiến trường, Phốcx xác nhận. Tôi bị phục kích cả một đêm, nhưng không thấy gì. Ban đêm trời lạnh, buổi sáng sương mù dày đặc che kín khu lòng chảo. Tôi bị cảm...” .

Trước ngày lên đường của tiểu đoàn 1, trung đoàn 2 bộ binh ngoại quốc, trung uý Rastuin được đi phép ở Hà Nội cùng với bạn là Cudanh: "Anh cần mua hai, ba thứ lặt vặt, anh viết cho Pierét, nhưng nhất là anh muốn tắm và qua đêm trong một phòng ngủ văn minh".

Sau khi thuê một phòng ở khách sạn Mêtơrôpôn, hai sĩ quan mặc thường phục đi ăn tối có uống rượu vang Coócxơ có vị nhạt nhẽo đáng sợ. Sau đó đi xem phim và ngồi trong một quán rượu hai giờ. Rồi họ về ngủ "trên những khăn trải giường không ngửi thấy mùi mốc". Sáng hôm sau khi đã tắm "trong một bồn tắm thực sự", họ đi tham quan Hà Nội, đến phố Hàng Đào, đến phố Thợ Nhuộm, phố Hàng Da, "như phố xá của chúng ta thời Trung cổ".

Ngày 21-1, Rastuin bắt đầu mơ mộng "Nếu Chúa ban phước lành, anh hứa với Pierét, rốt cuộc anh sẽ xin được bổ nhiệm hoặc ở Hà Nội, hoặc ở Sài Gòn và hứa với em, anh sẽ đưa em tới đây. Em có thể tin tưởng tuyệt đối ở anh".
Logged
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên
*
Bài viết: 595



« Trả lời #34 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2008, 02:04:50 pm »

Ở tiểu đoàn 1, trung đoàn 4 lính Ma rốc, trung uý Đờ Payơrê báo với bố:

“Con đã đến Điện Biên Phủ trong sự ồn ào náo động của máy bay, của dù và của các quân nhân đủ mọi quốc tịch, trong cái lòng chảo hình như đã trở thành một địa điểm thời thượng. Hơn nữa nó đã có diện mạo của một vùng dành cho đám lính tráng thô bạo. Các ruộng lúa đã biến mất dưới những hệ thống hàng rào dây thép gai và các mô đất đều bị đào xới như các cây thớt pho mát Gruye. Trung đội con có nhiệm vụ thay thế một ngôi chùa nhỏ ẩn dưới hàng cau bằng một công trình xây dựng kiên cố kiểu chiến lũy Maginô, với lý do dối trá và dễ dãi là ngôi chùa đó chiếm một điểm cao chiến lược” (Thư viết ngày 23-l).

Cũng trong tiểu đoàn này, trung uý Ga lốp Banh tâm sự riêng với em trai là Ăngđrê: "Ngày 16 người ta đưa các anh lên máy bay và chở các anh đến xứ Thái. Nhất là em đừng nói gì với mẹ và chị dâu, sợ mẹ và chị quá lo lắng. Nhưng ở đây không phải xấu hơn nơi khác đâu" (Thư viết ngày 24-l).

Trung uý Brunbrúc đã được không vận cùng với tiểu đoàn 2, trung đoàn 4 pháo binh thuộc địa vào ngày Noen năm 1953. Mồ côi từ nhỏ, tình cảm của anh dành cho em trai là Goócgiơ và chị là Alíc:

“Đã năm ngày rồi, anh ở cứ điểm mới ở xứ Thái làm anh nhớ lại cứ điểm Nà Sản, chỉ khác là ở Nà Sản các anh thay thế ai đó còn ở đây thì mọi cái đều phải làm mới. Các anh lật hàng tấn đất và anh chẳng có thời gian rỗi. Bữa ăn đêm Noen ở Hà Nội hơi tẻ nhạt nhưng vẫn là bữa ăn đêm Noen còn ngày đầu năm ở đây thì quê kệch hơn và đánh dấu một sự trở về với đất, thậm chí dưới đất". (Thư viết ngày 3-l).

Nêne, Rây nô, Pisơlanh, Xamalen, Phốcx, Rastuin, Bectơrăng, Galốppanh, Payơrê, Brunbrúc và cả trung tá Gô sê nữa, không ai từ Điện Biên Phủ trở về. Cùng với họ, hàng trăm thanh niên khi ra đi đã lớn tiếng cười nếu người ta nói với họ rằng các anh sắp kết thúc cuộc đời rồi, mọi việc sắp dừng lại ở đó, ở vùng trũng của thung lũng dẹp đẽ này của xứ Thái.

Đến ngày 28-12, thiếu tá Xuđra thuộc tiểu đoàn 31 Công binh sẽ thu thập tại chỗ 2200 tấn gỗ và máy bay sẽ mang đến cho ông 3350 tấn. Con số đó xem ra có vẻ lớn nhưng thật ra nhu cầu của ông lên tới ... 36000 tấn. Việc xây dựng đường băng hạ cánh nói riêng là một chuyện nát óc. Song song với đường mòn bằng đất, phải làm một đường băng bằng lưới sắt DSP nguồn gốc sản xuất từ Mỹ, nhưng vì thiếu đá nên Công binh buộc phải lót các ống tiêu nước đào dưới đường băng bằng các bó cành cây và bó củi. Đó không phải là điều lý tưởng; Xuđra sẽ thấy khi có cơn bão đầu tiên vì đất sẽ mềm đi. Các tấm ở mép đường băng có thể ngóc dậy, sẽ được ổn định bằng những cọc neo cắm nghiêng và hàn vào các tấm. Công binh sẽ sử dụng 22800 tấm và 15450 cọc, tổng cộng là 510 tấn sắt.

Một câu hỏi được đặt ra: tại sao không đổ bê tông và không xây công sự? Đúng là không ai biết đội quân đồn trú sẽ ở lại Điện Biên Phủ bao lâu. Không thể bê tông hoá cho vài tuần lễ, hoặc vài tháng. Vận tải hàng không không bao giờ có đủ phương tiện để thỏa mãn yêu cầu của Công binh. Tốt nghiệp Trường võ bị Xanh Xia khoá "Ganglianô", trung uý Patờricốt của tiểu đoàn 31 Công binh, thừa nhận anh đã ngạc nhiên khi thiếu vắng các lô cốt:

“Đây chỉ là những hầm trú ẩn tạm bợ chôn dưới đất và phủ đất lên trên, được chắn giữ bằng các khúc cây hoặc các sườn nhà; các nắp hầm nếu có thì cũng chủ yếu là đá vụn, sắt vụn thu nhặt về, phần lớn những hầm trú ẩn này không đủ sức chịu đựng những quả đạn trúng đích. Đã có dự định dùng bê tông nhưng để làm công việc này phải lắp ráp một trạm nghiền và nhất là phải chuyển đến đây hàng ngàn bao xi măng và gỗ cốp pha gây nên một trọng tải quá lớn đối với một căn cứ chỉ được tiếp tế duy nhất bằng máy bay".

Patricô vẽ bức tranh: "Một vùng trũng trơ trụi và có thể bị ngập lụt, một vành đai gò đồi có rừng che phủ nằm trong tay kẻ thù, tiếp tế khó khăn, một trung uý Công binh trẻ tuổi như tôi không hiểu tại sao một nơi như thế này lại được chọn làm một trận chiến đấu phòng ngự" .
Logged
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên
*
Bài viết: 595



« Trả lời #35 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2008, 02:06:25 pm »

Khi vấn đề phá rừng của Gabrien và vấn đề sử dụng gỗ thu hồi sẽ được đặt ra với ông, đại tá Lăng le sẽ giải thích rằng cây cối xứ Thái không có điểm chung với cây cối của rừng Pháp. ông sẽ nói đến "những cây không thể chuyên chở được mà phải phá bằng thuốc nổ" trước khi chỉ rõ rằng ông đã bắt đầu giải phóng mặt bằng Gabrien "cuối tháng giêng và thật lạ lùng là kẻ thù lại để yên cho chúng ta làm việc. Buổi sáng chúng ta đến vị trí ở cách Điện Biên Phủ 4 hoặc 5 kilômét, có lúc bị chìm ngập trong sương mù. Cũng có thể giẫm phải mìn hoặc rơi vào ổ phục kích. Thế là trong cả giai đoạn này, trước khi tiểu đoàn 5, trung đoàn 7 lính Angiêri đến, chúng ta đã phá được các bụi rậm mà không có chút phản ứng nào của kẻ thù”.

Lăng le đã gặp may. Dưới sự chỉ huy của trung tá Gút, tham mưu trưởng của GONO, có thiếu tá Vađốt đi cùng, đoàn trinh sát cuối cùng đến Gabrien thật bi thảm. Gút đã chết và đại uý Companh thuộc tiểu đoàn 5 dù Việt Nam là nạn nhân thứ hai.

Companh kể:

“Tôi đang cùng đại đội của tôi ở An nơ Mari thì chiều ngày 28-12, trung tá Gút yêu cầu cử một đoàn hộ tống để tiến hành một cuộc trinh sát về phía Gabrien. Tôi chỉ định một trung đội và tháp tùng trung tá đang có thiếu tá Va đô và một lính lê dương đi cùng. Trung đội đã triển khai, trung tá đi phía sau, thỉnh thoảng nghiên cứu bản đồ trên thực địa và địa hình, ông hơi tụt lại và tôi không cách xa ông cùng với người lính lê dương. Trên địa hình rải rác những bụi rậm lớn. Bỗng những phát súng vang lên, trung tá ngã xuống, tôi vừa chạy lại phía ông vừa bắn các bin, trong lúc đó có những binh sĩ Việt Minh toan tiếp cận, hẳn là để chiếm lấy chiếc xắc cốt. Tôi đã bị trúng đạn, bị gãy chân nhưng đội hộ tống vừa chạy lại phía chúng tôi vừa bắn và Việt Minh quay lui. Trung tá Gúth (Chú thích: Sinh năm 1908 ở Năngxi, Lui Gúth là thiếu uý năm 1930 và phục vụ ở trung đoàn Xênêgan thứ 13 ở Angiêri. Tái ngũ năm 1939. Được bổ nhiệm về văn phòng nguyên soái Gioăng, ông được chỉ định sang Đông Dương và đã đáp máy bay sang đó. Đưa lên Điện Biên Phủ, ông được bổ nhiệm Tham mưu trưởng GONO. )  đã chết và chiều hôm đó tôi cũng phải sơ tán về Hà Nội”.

Những vụ chặt cây đã bắt đầu, số lượng xe tải không đủ, các khúc gỗ phải vác vai. Lao động kiệt sức này chỉ kéo dài được một thời gian thôi, bởi vì một số đơn vị nhỏ của Việt Minh đã có thể ngụy trang ở trong rừng khống chế các công trường và họ cũng làm như khi Gúth đi qua, họ bắn vào những người "tiều phu” làm cho những người này ngừng hoạt động.

Khi đại tá Lơgiăngđơ của Công binh lục quân Bắc Việt, đến đánh giá các nhu cầu, ông khám phá ra một tình huống mà ông chỉ mới biết qua thư từ và thiếu tá Xuđra nói thẳng thắn với ông rằng ông ta không thể làm được gì nếu người ta không gửi gỗ xây dựng và đá cho ông. Xuđra nói về một cuộc "khủng hoảng lớn về vật liệu" và trong báo cáo, Lơgiăngđơ làm nổi bật sự ứng biến của Công binh. Yêu cầu đến dồn dập: gỗ cây, gỗ phiến, ống, nhưng không thể đáp ứng được và để giảm bớt việc tiêu thụ các túi đất - số lượng cung ứng sẽ là 550000 đơn vị, Lơgiăngđơ cho làm những trục lăn bằng phên tre đan mà cuối cùng đã được sử dụng phổ biến.

Những vật liệu kiếm tại chỗ có thể không ấn tượng lắm nhưng có thể sử dụng được, - Caxtơri tự bảo vệ. Năm 1939 khi tôi ở Xa rơ, tôi đã làm hầm trú ẩn với những phương tiện tương tự. Những thân cây ... một lớp đất, một lớp thứ hai bằng thân cây, một lớp đất thứ hai ... Điều đó có thể tự làm.

Xuđra nhắc lại là các tiểu đoàn đã tự xây dựng hầm trú ẩn của họ, "Cônhi việc của chúng tôi chỉ hạn hẹp trong việc chỉ ra cho họ những tiêu chuẩn bảo vệ mà vì thiếu vật liệu đã không thể giữ đúng". Chỉ sở chỉ huy trung tâm và bệnh viện ngầm dưới đất là do Công binh xây dựng. Xuđra nói thêm "không một hầm trú ẩn nào có thể chịu đựng được đạn pháo 105 và đạn cối 120".
Logged
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên
*
Bài viết: 595



« Trả lời #36 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2008, 02:08:45 pm »

Cuộc khủng hoảng cũng tác động cả đến các pháo thủ: "Các công trình đã bị kìm hãm do thiếu vật liệu, thiếu tá Knếc thuộc tiểu đoàn 2, trung đoàn 4 pháo binh thuộc địa, nhận xét. Một số vật liệu được Công binh cung cấp với số lượng hạn chế" (bao đất, má kẹp đinh đĩa, dây thép gai nhưng gỗ thì lấy từ các làng đã bỏ trống hoặc chặt trong rừng)".

Knếc cũng lấy làm tiếc rằng các bếp lưu động không đi theo tiểu đoàn, các pháo thủ nấu cơm trên những bếp tạm thời. Sau đợt tấn công của Việt Minh "các bếp này toả khói trông rất rõ, đã trở thành những cái bia hảo hạng cho kẻ thù vì vậy không thể sử dụng lâu dài". Theo Knếc "những bếp lò chạy xăng có thể giúp ích nhiều". Hiệu quả hơn, không quân đã phát các bếp dầu hoả cho nhân viên của mình. Một lỗ hổng khác, các pháo thủ chỉ có một y tá cho mỗi tiểu đoàn pháo còn mỗi tiểu đoàn bộ binh có một bác sĩ. Họ không được trang bị lưới nguỵ trang để che pháo nhưng thiếu sót này bắt nguồn từ một ý nghĩ: tại sao lại phải nguỵ trang khi mà nòng pháo 155 sẵn sàng để bịt mồm pháo binh Việt Minh đã có gan bắn vào vị trí Pháp? Hơn nữa kẻ thù vờ như ngại phản ứng của pháo Điện Biên Phủ và củng cố cái cảm tưởng của pháo thủ là họ mạnh hơn.

Từ 31-1, Caxtơri nhận xét, pháo binh Việt Minh xuất hiện, bắn ba mươi phát. Nó đã bị đánh trả bởi pháo 155 và máy bay cường kích của ta. Mỗi lần một khẩu pháo bị phát hiện, ba phút sau khi máy bay cất cánh là chấm dứt không nghe tiếng pháo địch nữa và không thấy bắn trả trong nhiều ngày. Đó là những khẩu pháo di động, kéo vào rồi lại kéo ra, cỡ pháo không bao giờ quá 75 li sơn pháo.

Ở Isaben, bác sĩ Pông mô tả "căn hộ" của mình với vợ:

"Cửa đóng bằng một tấm tre đan buộc vào khung bằng một sợi dây. Toàn bộ được gia cố bằng những thân cây tăng thêm một lớp tre, phía trên là đắp đất. Giường là một ghế dài bằng đất nện, trên đó đặt một cái đệm bằng gai. Nằm giường cứng thì tránh được ác mộng” (Thư viết ngày 28-2).

Cái tinh tế nhất là phòng vệ sinh: "Một cái hố mỗi chiều một mét, sâu 1,50 mét, lót vách bằng tre. Trên trần treo một cái gáo, dùng nó tắm nước ấm mỗi buổi chiều".

Ở Gabrien, trung uý Phốc thề không thể sớm quên những "công trình ở mặt trận". "Tôi có một cái lỗ đẹp, rộng rãi, che tối bằng những khúc gỗ, tròn và đất dầy. Tôi hy vọng nó chống đỡ được cối" (thư viết ngày 15-l).

Một tháng sau, anh tâm sự với bố:

“Đây là một cuộc chiến tranh ghê tởm trong rừng rậm Việt Minh, những con người biết làm chiến tranh và biết sử dụng địa hình thì ở trên đỉnh các mỏm núi, giữa rừng cây. Họ hơi lan ra phía sườn đối diện (năm mét phía sau, không hơn). Kết quả: sau khi tìm được một con đường mòn bằng dao phát, quân mình lên đến đỉnh và rơi vào những hõm chông dưới đất đã được ngụy trang, bị chúng xỉa vào mặt và chúng chỉ cách mình có năm mét. Không thể gọi pháo bắn vì quá gần địch. Thế là quân ta phải rút lui thì lúc đó địch phản kích. Về mặt cơ động thì cũng đơn giản thôi nhưng họ chỉ huy giỏi”.

Cũng có lúc đã xuất hiện sự mệt mỏi ở những con người buộc phải lao động gian khổ trên vị trí và những buổi đi làm đêm, còn lại ít thời gian để nghỉ ngơi. Ở những sĩ quan vững vàng nhất, có biểu hiện mệt mỏi và chán nản, mặc dầu chỉ cần tám ngày nghỉ trên bãi biển vịnh Hạ Long là họ sẽ khôi phục được sức sống. Đại uý Pisơlanh ngày 5-2 đã phát đi một tiếng vọng: "Phải đi săn tin tình báo trực tiếp, cho nên chúng tôi thường phải ra ngoài, tình hình đó không phải không gây nên sự mệt nhọc. Tiểu đoàn tôi có mặt ở đây hai tháng rưỡi, chẳng có lúc nào thất nghiệp. Vài ngày nghỉ ngơi ở Hải Phòng là rất tốt đối với chúng tôi”.
Logged
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên
*
Bài viết: 595



« Trả lời #37 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2008, 06:56:48 pm »

Luôn kín đáo để Gia nhin khỏi lo lắng, cô ấy vừa mới báo tin đã sinh cháu Đa men, đứa con thứ tư của họ, Rây nô nhắc lại với cô : Tiểu đoàn 1 dù ngoại quốc luôn luôn báo động, chẳng có nhiều thời gian để viết thư:

“Anh vẫn luôn luôn ở cái góc đó nhưng nhịp độ các cuộc hành quân nhanh hơn, đó là lý do sự im lặng. Em phải biết nghi ngờ trước những thông tin của báo chí. Đêm rất lạnh và ẩm, thời tiết chẳng dễ chịu đối với người phải ngủ ở ngoài trời... Rồi cũng quen đi, chứng sổ mũi qua đi rồi lại trở lại..”.

Nhật ký tiểu đoàn 8 xung kích ghi ngày đến của những quả đạn đầu tiên trên cứ điểm Epécviê : "15 giờ ngày 3-2. Một số hầm trú ẩn không có người đã bị phá huỷ, một lính dù bị thương. Ngày 5, không đùa được nữa: hạ sĩ nhất Cay rôn và một người Việt Nam bị giết, trung sĩ Lơpácqua bị thương. Nhưng Việt Minh lại im".

Tháng 2, các phương tiện quân y không còn quan trọng, như kiểu loại trừ quân dù thông báo những tổn thất. Có phải người ta đã quên Pu Ya Tao và cuộc "chạy đua kiếm món nhắm”?

Từ ngày 21-11 đến 21-12-1953 và có tính đến sự vắng mặt của ba tiểu đoàn dù trở về Hà Nội, cơ quan y tế mặc dù vậy đã vào sổ đăng ký được 636 người, trong đó có 207 người bị thương và 75 người bị tai nạn, kể cả tù nhân và dân thường Thái. Người ốm (354) đông hơn người bị thương. Khi đại tá bác sĩ Lơ Gác, nhà dịch tễ học, đi thanh tra trại hồi tháng giêng, hai tháng sau cuộc hành quân Hải li, ông rất đỗi ngạc nhiên về tình trạng không được chăm sóc về sức khoẻ đang ngự trị ở Điện Biên Phủ. Ngay cả khi những đơn vị đầu tiên có ưu tiên những việc như phòng ngự và tổ chức trận địa. Bộ chỉ huy hiểu rằng 12 ngàn người sẽ đến sống trong lòng chảo "một thời gian" và điều đó đòi hỏi phải có những biện pháp phòng bệnh tối thiểu.

Biên bản ghi nhận của bác sĩ Lơ Gác: "Những chỗ dốc đầu tiên của địa hình đã được sử dụng để đổ rác. Chọn chỗ đó không phải là điều mong muốn khi phải chất đầy hai bờ sông Nậm Rốm, nơi đã trở thành một thùng rác thực sự, mặc dù vậy người ta vẫn buộc phải đến lấy nước để ăn uống".

Phải mất hai tháng dể dọn sạch rác ở các hố vệ sinh đào sai và đặt một trạm lọc nước. Hai tuần lễ nữa lại trôi qua, cho đến khi người ta nhận thấy đã xây dựng nó ở hạ nguồn các bến tắm mà cần phải đưa nó lên thượng nguồn mới đúng. Nó có lưu lượng là 45 ngàn lít nước mỗi ngày mà quân số thì cứ tăng lên, Hà Nội sẽ đưa lên một mô hình mạnh hơn (60 ngàn lít nước một ngày). Trạm đầu tiên lại được tháo ra và lắp lại lần này là ở Isaben, nghĩa là lại về hạ nguồn?

Ngày 5-3, bác sĩ Pông thổ lộ với vợ là Giôgiét:

“Thường có khá ít người ốm, chỉ có vài bệnh a míp ở người Angiêri và họ cũng vui lòng thôi, họ uống bất kể cái gì. Họ từ chối không uống nước của trạm lọc với lí do là nước đựng trong những bình hơi bị rỉ. Lý lẽ một cách tế nhị khéo léo họ nói đinh rỉ sẽ gây ra têtanốt (!) không có lý do gì là nước lại có thể gây ra nhiều chuyện như thế. Và thế là họ đi uống nước sông hầu như đã bị khô cạn, nơi. mà hằng ngày ở thượng nguồn hơn 10 ngàn người tắm rửa và giặt giũ”.

Bác sĩ Lơ Gác quan sát thấy rõ ràng: "mặc dù có sự cấm kị, có những bảng nhắc nhở hướng dẫn, quân lính vẫn tiếp tục tắm ở thượng lưu trạm lọc nước. Bất kể dây thép gai, họ biến bờ sông thành hố xí và một số người làm công tác phục vụ đã đổ rác ở gần nước. Đã đặt lính gác nhưng rồi lính gác cũng biến". Rõ ràng là sinh thái học không có chỗ ở Điện Biên Phủ. Lơ Gác ngạc nhiên hơn khi được biết không ai có màn:

“Một chấm đen ở chân trời: bệnh sốt rét! ông lo lắng. Không có màn sẽ là một điều rất tai hại nếu khuyết điểm này không được khắc phục ... Làm sao mà lý giải được tình trạng 10000 người đã có mặt tại một vùng mà nguy cơ về bệnh sốt rét là chuyện thực, không có lấy một sự bảo vệ, nghĩa là không có màn” (Chú thích:Bác sĩ Pon Grauuyn: "Hiện tượng lạ kỳ, không tìm thấy muỗi và trường hợp duy nhất ở Đông Dương, ngủ không mắc màn" (Theo cuốn Tôi là bác sĩ ở Điện Biên Phủ, Paris, Nxb Nước Pháp, 1954)
Logged
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên
*
Bài viết: 595



« Trả lời #38 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2008, 06:57:14 pm »

Không thiếu những véc-tơ, bắt đầu bằng các con suối dưới ruộng, "những nơi ẩn náu thực sự cho muỗi anôphen". Bản thân các đơn vị quân đội, nhất là "những đơn vị thường hay được miễn uống thuốc phòng Nivaquin, là bể chứa vi rút".
Những làng người tị nạn cũng là mối lo của Lơ Gác, ông đã đi qua các làng này và thấy vấn đề vệ sinh ở đó không được bảo đảm, khi ông nhận thấy số trẻ con to lá lách khá nhiều, đó là dấu hiệu của bệnh sốt rét. (Chú thích: Đại tá bác sĩ Đuy ma đã báo cáo với tướng Cônhi rằng "các làng Thái là những ổ virút đáng ngại... Không nên lơi lỏng các biện pháp phòng bệnh, anôphen là con muỗi bay lặng lẽ, và người ta chỉ phát hiện ra nó khi nó đã sinh sôi (Báo cáo ngày 15-l-1954)

Pông cũng đã thăm người tị nạn. Ngày 6-3, ông kể chuyện này với vợ:

“Cùng với Lơ đamany, anh đã đến các làng mạc. Người Thái cũng sống trong những điều kiện tiện nghi tương đối, trong các căn nhà sàn. Lợn đen nhiều vô kể. Nhiều đứa trẻ bị bệnh gầy mòn vì sốt rét, chân tay mảnh khảnh, bụng to tướng và lá lách tụt xuống bụng dưới".

Đã có những cuộc kiểm tra để xem binh lính có uống đều Nivaquin hằng ngày không:

"Thỉnh thoảng, bác sĩ Pông nhấn mạnh, lại làm kiểm tra nước tiểu để tìm hiểu xem ai uống Nivaquin. Kết quả thật tệ hại. Trong một số đại đội, 100% kết quả âm”.

Kế tục bác sĩ Ri vơ, bác sĩ trưởng ở Điện Biên Phủ ngày 20-12, Lơ Đamany, vốn tính lạc quan, nhận xét về số người sơ tán trong tháng giêng (495 trong đó 270 phải mổ): "Bệnh nhân không đông nghĩa là phòng bệnh tốt".

Trong một vùng mà đường hạ cánh thường ngang mặt ruộng lúa, Điện Biên Phủ là nơi may mắn cho việc săn đuổi. Căn cứ có máy bay riêng: sáu máy bay Bearcat của không đoàn 1, lữ đoàn không quân 22. Xanh tông - bốn cái đầu tiên đã hạ cánh ngày 8-12; hai máy bay Moran 500 làm nhiệm vụ quan sát, một Moran cứu thương và một trực thăng. Một tháp kiểm tra di động đang hoạt động tại chỗ và các máy bay từ ngoài đến đều do Tom đơ, chỉ điểm của sở chỉ huy can thiệp không quân do thiếu tá Ghêranh nắm quyền chỉ huy từ ngày 5-1. Ông này suýt nữa không đến đây vì lúc đầu người ta nghĩ đến trung tá Bruynê ở Cát Bi nhưng ông này không nhận.

“Bruynê nói riêng với tôi rằng ông ta biết nhiều người ở Điện Biên Phủ ... và ông ta không muốn đến đó, tướng Đờ sô phát hiện. Tướng Lôlanh cho rằng ông ta vô kỷ luật - Với lại tôi cũng thế - nhưng Bruynê không phải là một chàng trai như mọi người, ông ta đã có 2000 phi vụ ở Đông Dương trong sáu năm liên tục. Tôi cho rằng thật là không hay khi cử một anh chàng đã có vợ, đã được thưởng 14 cành cọ huân chương chiến tranh, sang cái lỗ này. Bruynê không thể nhận chức vụ này, ông ta sinh ra không phải để làm việc đó. Có thể ông ta sẽ đấm vào mặt ai đó..”.

Đờ sô rốt cuộc đã thổ lộ với Chủ tịch ủy ban điều tra rằng Bruynê "không chịu được đại tá Đờ Caxtơri". Là người lịch sự ông ta không nói lý do.

Hoạt động của máy bay khu trục bị hạn chế. Những cuộc tấn công vào vị trí pháo binh - hoặc theo dữ liệu là như vậy - chi viện cho trinh sát mặt đất và cả Ghêranh ghi trong báo cáo việc phát quang bằng bom napan. Trường hợp có tấn công của Việt Minh, người ta báo là đường băng sẽ bị cấm vận chuyển nhưng không quá 48 tiếng; việc xây dựng một đường băng dự bị bằng đất dài 1000 mét đi từ bắc Isaben, đã được các tốp nhỏ Công binh khởi sự, họ "vất vả đào hì hục trên các bờ ruộng cứng như đá trong mùa khô". Chắc là Ghêranh hiểu rằng "pháo binh Việt Minh chỉ có thể bị phát hiện một cách mơ hồ tại nơi họ chiếm lĩnh vị trí" nhưng sự lạc quan của pháo thủ hay lây lan. Trước ủy ban điều tra, Lăng le gợi lại sự lo lắng của đại tá Pirốt, chỉ huy pháo binh.
Logged
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên
*
Bài viết: 595



« Trả lời #39 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2008, 06:57:52 pm »

- Cuối cùng tướng Catơru cố làm cho ông ta nói rõ.

- Ngay cả trước nữa. Tôi nhớ lại là đã đưa ra mấy câu hỏi với ông ta: "Đại bác Việt Minh ở đâu ông có biết không? ông có thể làm câm mồm chúng được không? ông ấy chỉ cho tôi một bản đồ: "Đây, họ có thể ở kia, hoặc đây, hoặc đây ..” . Tôi có cảm giác là ông ta lo lắng.

- Nhưng lúc đầu ông ta là người tự tin, Catơru ngạc nhiên vì chưa biết câu chuyện trên, ông ta ở trong số những người (mà cũng là tất cả những người pháo binh vì tất cả họ) từ tổng thanh tra pháo binh đến các đại đội trưởng pháo binh đều phạm sai lầm) đã nói rằng địa điểm đã ngăn cản Việt Minh chiếm lĩnh các sườn đồi hạ xuống Điện Biên Phủ, họ phải đứng chân ở phía bên kia nghĩa là ở tầm quá xa không hành động được một cách hiệu quả, nếu họ chiếm lĩnh các sườn đồi đi xuống thì họ sẽ bị định vị và bị dập tắt bởi các cuộc phản pháo hoặc không quân ... Bởi vậy hình như mãi về sau, đại tá Pirốt mới cảm nhận được những khó khăn trong việc phản pháo địch.

- Cuối cùng, ông nhận thấy ông ấy lo lắng?

- Vâng, thưa ngài. Cũng bị chất vấn về vấn đề trên, Caxtơri thừa nhận đã phạm lỗi vì đã quá tin:

- Tôi đã phạm sai lầm chính vì nghĩ rằng pháo binh ta có tầm quan trọng căn bản đối với hành động của kẻ thù.

- Đúng, Catơru liên kết các ý, nhưng sai lầm mà ông ta đã phạm, mọi người cũng đã phạm, bắt đầu từ những nhà kỹ thuật. Pháo thủ của ông, đại tá Pirốt... đã khẳng định về vấn đề này.

- Pirốt rất tin người, ông ta không những cả tin mà còn chưa bao giờ nói với tôi: "Không, việc đó không ổn rồi!". Còn vị tư lệnh pháo binh của lục quân Bắc Việt Nam, đại tá Đờ Uyntơ, còn khẳng định hơn Pirốt.

- Và tổng thanh tra pháo binh cũng thế. ông ta đã đến gặp ông?

- Tôi rất ít thấy ông ấy. Hình như ông ta có đến một lần...

- Vâng, tướng Pennachiôni có đến một lần...

- Tóm lại, ông Chủ tịch kết luận, tinh thần mà họ diễn đạt với ông là Việt Minh muốn bắn hiệu quả thì buộc phải hạ vị trí pháo xuống sườn đồi dẫn đến lòng chảo Điện Biên Phủ, nhưng họ không thể đặt các đại đội pháo của họ trên các sườn đó mà không bị phát hiện và do đó bị tấn công bằng phản pháo.


Không ai tưởng tượng được rằng tướng Giáp và các cố vấn Trung Quốc của ông đã coi sách pháo binh Pháp là lỗi thời, là không thể dùng được nữa!

Quân đội đồn trú không phải chỉ có pháo 155 mà còn có chiến xa. Chúng đến vào ngày 18-12. Những chiếc xe tăng Shaffee M24 18 tấn, trang bị một đại bác 75 li, hai liên thanh 7,5 li và một trọng liên 12,7 li bên ngoài tháp tăng. Việc vận chuyển chúng đã đặt ra nhiều vấn đề kỹ thuật nhưng chúng được tháo ra ở Hà Nội để cho khung xe là phần nặng nhất có thể xếp lên máy bay. Bay với trọng tải có giới hạn, các máy bay này đã thực hiện chuyến bay trong những điều kiện khó khăn nhưng ba xe tăng đầu tiên đã có mặt ở đó. Sau khi lắp ráp lại, chúng đã chạy thứ dưới quyền chỉ huy của thượng sĩ Carét.

Ở Hà Nội, Cônhi đẩy nhanh việc tháo các xe tăng, những xe này khi đến Điện Biên Phủ sẽ lập thành đại đội tăng của đại úy Herơvuiot gồm mười chiếc. Thế là ít, vì người ta dự tính đưa ba chiếc sang Isaben.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM