Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:48:36 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Điện Biên Phủ từ góc nhìn của người lính Pháp  (Đọc 163734 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên
*
Bài viết: 595



« Trả lời #110 vào lúc: 05 Tháng Sáu, 2008, 09:16:17 pm »

Vài ngày sau, thể xác không hồn của Pirốt đã được tìm thấy trong hầm trú ẩn của ông. Bị cắt cụt một cánh tay sau khi bị thương, người lính già đã lấy được một lựu đạn, rút chốt ra và ôm nó vào lòng cho đến khi nổ (Chú thích: Sinh năm 1906 ở Săngplít (Hốt-Xaon). Sáclơ Pirốt nhập ngũ 1924, 1926 cưới Ôđét Mayô, có hai con trai. Thiếu úy pháo binh 1929. Đại úy ở Ma rốc năm 1939. Thiếu tá và đổ bộ vào Italia năm 1943. Bị thương ở Benvêđe. Chiến dịch Pháp, rời trung đoàn pháo 16 ở Itxoa 1945. Chỉ huy tiểu đoàn 3, trung đoàn 69 pháo phòng không. Đi Đông Dương tháng 3- 1946. Bị đạn ở cánh tay gần Thủ Dầu Một, bị cụt tay và hồi hương tháng 3-1947. Trung tá 1948. Đi nhiệm kỳ 2 tháng 8-1949. Bổ nhiệm về cơ quan tham mưu. Về nước cuối 1951. Đại tá tháng 7-1952. Đi nhiệm kỳ 3 tháng 11 1953. Chỉ huy trung đoàn 41 pháo thuộc địa rồi Phó tư lệnh GONO 10- 12-1953. Theo lý lịch công tác, đại tá Pirốt mất ngày 20-3-1954.). Sau những cuộc họp bí mật đen tối, đã có quyết định mai táng người phó của đại tá Caxtơri ở phía trong cùng căn hầm của ông ấy và phản ứng đầu tiên của GONO là ỉm sự việc này đi, một sự che đậy không thể không có sự đồng ý của Lăng le và Cônhi. Người ta nói đến sự biến mất, "sự ngã xuống trên chiến trường", bị mắc bệnh nhiễm trùng kéo theo cái chết, trước khi thừa nhận rằng người sĩ quan đáng thương này tự nhận thấy có trách nhiệm trong sự thất bại của việc phản pháo, đã kết liễu đời mình. Điều này không ngăn cản được Quốc vụ khanh Mắc Giắckê khẳng định rằng đã gửi hai điện báo đi Hà Nội mà "vẫn không biết được sự thật về vụ Pirốt”.

Bị thương vì vôi và gạch vụn văng vào mặt trong hầm của trung tá Gô sê, thiếu tá Va đô viết thư cho vợ ngày 18-3: "Trung tá Lăng le là người chỉ huy phòng thủ. Một con người tuyệt vời! Đại tá Pirốt và trung tá Keller không còn nữa. Các anh đã nắm quyền chỉ huy và mọi việc tiến triển tốt... Anh tính còn phải trải qua 8 ngày gay go nữa”.

Từ khi Lăng le ngự trị ở phân khu trung tâm, thiếu tá Ghêranh, cố vấn không quân của GONO, nhận thấy có những thay đổi, theo quan điểm của ông, đưa đến "những hậu quả tai hại nhất". Trước khi có cuộc tấn công của Việt Minh, ông vẫn dự buổi giao ban hàng ngày còn bây giờ thì ông bị lãng quên. Ở sở chỉ huy can thiệp của không quân, mỗi người vẫn tin rằng sẽ có một hình thức mới về sử dụng không quân và Ghêranh thấy mọi việc đã thay đổi biết chừng nào. Chi viện hỏa lực không quân đầu tiên kể từ đêm Bêatơrít thất thủ và hoạt động của hai máy bay Bearcat vào sáng ngày 15, hỏa lực cao xạ dày đặc đã đón chào họ ngay từ đợt xuất kích đầu tiên. Ghêranh báo cáo là hai chiếc khu trục đã bị bắn hạ bởi "pháo cao xạ 37mm lần đầu tiên được đưa vào sử dụng". Việc sử dụng máy bay khu trục sẽ phải thay đổi vì từ nay hễ một chiếc máy bay xuất hiện trên bầu trời thì pháo cao xạ sẽ chào đón họ. “Vậy tấn công bằng napan các vị trí Việt Minh hoặc các vị trí cao xạ trong những điều kiện như thế nào khi chúng ta đã biết rằng chuyện can thiệp này phải thực hiện ở độ thấp? (Chú thích: Ném bom napan phải bay là là mặt đất cách mục tiêu khoảng 20m, nếu không chính xác sẽ gây thảm họa. Với độ cao đó, cự li đó, đánh vào súng phòng không cổ điển dù có bất ngờ chăng nữa cũng là sự điên rồ (Báo cáo của trung tá Phêlíc Bruynê).)

Các máy bay Đacôta lâu nay vẫn thả dù ở độ cao dưới 200 mét, sẽ phải bay cao hơn, vậy thả thiếu chính xác là điều khó tránh khỏi. Còn việc quan sát từ trên không chỉ thực hiện được khi tránh được pháo cao xạ và chất lượng các phi vụ sẽ bị ảnh hưởng. Làm sao thả đạn khói để chỉ điểm một mục tiêu tiềm tàng được nếu mười, hai mươi hoặc ba mươi khẩu cao xạ tập trung hỏa lực vào máy bay "cào cào", trở thành bia bay?. Pháo phòng không đã trở thành vật đáng ghét nhất đối với các phái đoàn và tướng Đờ sô tự nhủ là ông tin rằng một số pháo phòng không có cỡ lớn hơn 37mm.

“Họ bắn vào máy bay chúng ta với loại pháo khác hơn là pháo 37mm. Tôi không biết các pháo thủ Pháp có biết dùng pháo 105 hoặc 155 để bắn máy bay không, nhưng người ta nói với tôi Việt Minh làm một cái hố để bắn máy bay. Chính mắt tôi nhìn thấy những túm khói đen ở độ cao 400-500 mét”.
Logged
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên
*
Bài viết: 595



« Trả lời #111 vào lúc: 05 Tháng Sáu, 2008, 09:17:14 pm »

Caxtơri vừa mới khám phá ra rằng kẻ thù không những có nhiều đạn dược hơn ông ta biết mà còn biết bảo vệ các khẩu pháo của họ chống lại các cuộc phản pháo của Pháp. Nếu sự xuất hiện của phòng không Việt Minh làm cho Caxtơri phải lo lắng thì các phi hành đoàn của các máy bay B26 và Privateer đang gặp phải những khó khăn khác, dù muốn hay không cũng phải chấp nhận. Trong báo cáo của mình, trung tá Bruynê cho rằng những cuộc oanh kích từ trên không của vùng lòng chảo cũng trở nên nguy hiểm như những cuộc oanh kích những năm 1944-1945 vào các tổ hợp công nghiệp Đức ở vùng Rua:

“Phòng không không phải là sự đe dọa nghiêm trọng nhất, Bruynê báo cáo. Cất cánh với trọng tải đầy, giữa trời mưa phùn, ban đêm, máy bay không có độ nhìn rõ, không có khả năng kiểm soát bên trên khu vực khó khăn nhất của hành trình, đến Điện Biên Phủ trong điều kiện thời tiết tồi tệ với một bầu trời đã "no" máy bay, bay theo đội hình, duy trì cho đến khi có tấn công mặc dầu có những biến đổi khó tin và một sự chờ đợi thường kéo dài hơn một giờ, sự tiếp cận mà người ta lặp đi lặp lại hai lần, ba lần, mười lần, kế hoạch tiếp theo kế hoạch, bởi vì phải tấn công có kết quả, dầu khí tượng, dầu khó khăn trong việc nhận dạng mục tiêu bị chìm đi giữa vô số miệng hố, dầu có phòng không, đã đặt các phi hành đoàn các máy bay ném bom trước những thử thách có thể so sánh mọi mặt với những thử thách mà các đàn anh đã trải qua trên vùng Rua”.

Ở Isaben, Lalăng lo lắng về chuyện liên lạc với GONO. Mỗi buổi sáng, các lính bộ binh của ông mở đường theo hướng bắc đi gặp những đơn vị từ phân khu trung tâm đi ra ngược theo hướng họ. Dù con đường vẫn ở dưới sự kiểm soát của GONO, Isaben là một nắm đấm chìa ra phía nam: tiểu đoàn 2, trung đoàn 1 lính bộ binh Angiêri của đại úy Giăng Xênen và tiểu đoàn 3, trung đoàn 3 bộ binh ngoại quốc của thiếu tá Grăng Đ'Esnông chia nhau các cuộc xuất quân và công việc bảo vệ. Mỗi tiểu đoàn có bác sĩ của mình, Ainiê của tiểu đoàn 3, trung đoàn 3 bộ binh ngoại quốc và Pông của tiểu đoàn 2, trung đoàn 1 bộ binh Angiêri nhưng tính đến sự biệt lập của Isaben, trạm giải phẫu dù 3 của trung úy, bác sĩ Rêsiô đã được thả dù ngày 14, cùng ngày với đoàn bảo an, làm yên lòng Lalăng vì những bệnh xá của anh sẽ bị ứ đọng nếu đường mòn Pa vi bị cắt. Một trạm quân y thứ hai, trạm giải phẫu dù 6 của trung úy, bác sĩ Viđan, hai ngày sau từ Nam Bộ đến, để tránh hoặc đúng hơn là để làm chậm sự ngột ngạt của không gian quân y.

“Ngày 15-3, tôi đang ở Sài Gòn thì nhận được lệnh lên đường, Vi đan kể. Ngày 16, trạm quân y của tôi - 7 y tá và 800kg dụng cụ, được chở ra Hà Nội bằng máy bay. Một máy bay Đacôta chờ chúng tôi và hai giờ sau, chúng tôi nhảy dù xuống một khu vực gần Isaben. Ngược lại những điều người ta báo cho chúng tôi, pháo binh Việt Minh không bắn vào sân bay, mà là một kiểu tạm đình chiến, hình như do có một cuộc trao đổi người bị thương với Việt Minh. Một sự yên tĩnh tuyệt đối đến nỗi chúng tôi gấp dù lại như sau một cuộc nhảy tập. Một chiếc xe tải đưa chúng tôi về trạm quân y trung tâm, tại đây bác sĩ Grauuyn giới thiệu tôi với trung tá Lăngle. Sau đó từ trạm quân y chúng tôi đến Élian 12 giữa sông Nậm Rốm và tỉnh lộ 41, bên cạnh sở chỉ huy của thiếu tá Sênen của tiểu đoàn 2 Thái, ở đây bác sĩ Ba rô giao cho chúng tôi sử dụng một hầm trú ẩn cũ, loại gì đó khá vững chắc, có khung bằng kim loại. Một loại đường hầm mở hai đầu mà chúng tôi tổ chức thành ba phòng. phòng lựa chọn, phòng mổ, và phòng hậu phẫu. Và chúng tôi bắt đầu mổ...”

Cũng ngày 16, một tiểu đoàn dù mới được thả xuống gần Isaben, nhưng không khí yên tĩnh mà Viđan được hưởng đã nhường chỗ cho sự náo động. Tiểu đoàn 6 dù thuộc địa xuống mặt đất dưới làn đạn pháo và Biga, không được vui vẻ lắm, bị bong gân. Băng bó mắt cá xong, ông xin Lalăng một xe Jeep để đưa ông đến sở chỉ huy GONO. Tổn thất chỉ là tối thiểu, quân của ông tập hợp lại trước khi hành quân theo hướng Élian.

Sổ tính toán của đại tá Đờ Caxtơri cũng giống như sổ của một người bán thực phẩm khô, chỉ có hai cột: cột vào và cột ra. Tiểu đoàn 3, bán lữ đoàn lê dương ngoại quốc thứ 13 ở Bêatơrít được ghi vào cột "ra”, nhưng cột "vào" lại thêm đoàn bảo an của đại úy Bôtenla. Vì Gabrien thất thủ, tiểu đoàn 5, trung đoàn 7 bộ binh Angiêri bị "ra" nhưng Caxtơri lại tiếp nhận tiểu đoàn 6 dù thuộc địa, như vậy thế cân bằng lại được khôi phục.
Logged
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên
*
Bài viết: 595



« Trả lời #112 vào lúc: 05 Tháng Sáu, 2008, 09:18:46 pm »

Ở đại đội 4, tiểu đoàn 6 dù thuộc địa của trung úy Uynđơ, trung úy Gia cốp không nguôi giận. Anh đã hết nhiệm kỳ công tác và đang chờ người ta xác định ngày hồi hương. Thế mà, đáng lẽ gửi anh đến căn cứ quân sự ở Hải Phòng để chờ tàu thủy thì người ta lại thả dù anh xuống Điện Biên Phủ. Ngày 18-2 ở Lào, anh ước tính cuộc tham chiến của anh ở Đông Dương kết thúc, anh viết thư cho Mác xen, vợ anh, ở lại Pa ri tại nhà người chị là Xêlin: "Năm ngày nữa, anh tròn hai năm công tác ở đây; hơn hai tháng nữa anh sẽ trở về Hà Nội để thu xếp hành lý. Anh hy vọng sẽ xuống tàu cuối tháng 4 hoặc đầu tháng 5”.

Ở nhiệm kỳ đầu, Mác xen đã sang Hà Nội thăm anh và họ đã sinh được một đứa con trai là Misen vào năm 1950. Nhiệm kỳ hai, cô không được phép sang Đông Dương. Ngày 7-3, Gia cốp còn nói với cô về ngày trở về của anh. Tiểu đoàn 6 dù thuộc địa đã rời Lào để về tìm lại khí hậu Bắc Bộ (“chủ nhật trước bọn anh còn cởi trần dưới nắng gắt thế mà mấy ngày sau lại áo quần đầy người như đang sống ở Pháp giữa mùa đông! ). Qua thư từ, Gia cốp được biết mọi người nhà, vợ con anh đều mạnh khỏe, "thằng bé Misen" đã 4 tuổi rồi. Anh viết: "Đúng là em hãy chuẩn bị để gặp lại anh, vì trong hai tháng tới anh sẽ xuất phát hoặc bằng máy bay hoặc bằng tàu thủy, anh chưa rõ lắm nhưng phương tiện giao thông không quan trọng. . . ".

Ngày 9-3, anh mắng yêu vợ hơi suy sút tinh thần một tý; "Nào, can đảm lên em, kiên nhẫn một tý rồi mọi việc sẽ xong. Chờ hai tháng nữa thôi! Chúng ta đã chờ đợi hai mươi lăm tháng rồi. Lâu thật, anh cũng hiểu, quá lâu nữa là đằng khác nhưng chúng ta không thể làm gì được cả, vậy hãy kiên trì và nghĩ tới những ngày tháng tươi đẹp đang chờ chúng ta”.

Mác xen hỏi anh thỉnh thoảng có gặp trung úy Tráp người bạn thân của anh không, anh trả lời với giọng văn chế giễu: "Tráp sức khỏe tuyệt vời. Em hỏi có gặp anh ấy không, nhưng ngày nào mà anh chẳng gặp, cùng một tiểu đoàn mà - tiểu đoàn 6 dù mà báo chí đã nói đến rất nhiều".

Cùng ngày, Tráp cũng viết về chủ đề đó cho Ximon - vợ anh: "Thời gian trôi qua và ngày về đến gần. Gia cốp một tháng nữa thì ra về. Anh còn ba tháng và anh sẽ về hầu như ở bên em".

Ngày 15-3, trước ngày nhảy dù xuống Điện Biên Phủ lần thứ hai, Gia cốp viết ngoáy mấy dòng thư cho vợ:

“Sáng nay anh về Hà Nội để chiều nay nhảy dù theo kế hoạch tác chiến. Không có một lúc nào rỗi rãi, nhưng đó là chiến tranh, chúng ta không thể làm được gì khác. Hãy theo dõi trong báo chí các sự việc ở Đông Dương, vì anh có cảm giác là bọn anh sẽ trải qua những cuộc chiến đấu gay go, có thể đó là những ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh này”.

Tiếp theo sau là những dòng vô cùng âu yếm kết thúc bức thư phát đi từ Hà Nội, trong lúc tử thần đã đến đấy gõ cửa...
Quân dù của Biga đào hầm, hào và tiếc những cái họ đã làm trong thời gian đầu ở đây, sau cuộc hành quân Hải li. Không còn vấn đề thả dù các tấm ván và phiến gỗ xuống nữa, và người ta chẳng tìm được cái gì để bảo vệ các hầm trú ẩn mới. Người của tiểu đoàn 6 chỉ có hệ thống D (độ lệch từ) để chống đỡ vị trí của họ ở chân cứ điểm Élian 4. Không có bê tông, không có tháp xe tăng cải tạo, không có lô cốt, vị trí có hình một cái hào vòng tròn nối liền các vị trí chiến đấu giới hạn bằng các vị trí vũ khí nặng. Không có vách ngăn, các lối vào được bảo vệ, mới ở dạng dự án và các nắp che bằng các vật liệu hỗn tạp nhất. Thậm chí người ta còn thấy người của tiểu đoàn 6 đánh nhau dưới những chiếc dù rơi tự do để thu hồi những tấm phên và những cuộn dây kẽm gai. Sở chỉ huy của Biga được đào nhanh và mái của nó được làm bằng những tấm ván không dày, đến nỗi người ta tự hỏi làm sao mà nó chịu đựng được đống đất đắp lên để bảo vệ. Các đại đội của ông cũng không hơn gì.

Từ ngày vợ anh sinh cho anh bé gái Mari Pie, trung úy Samalăng có một bộ mặt mãn nguyện của ông bố và sự sinh con này đáng cho anh được nhận kẹo hạnh nhân, thịt chín dầm mỡ mà anh chia sẻ ngay với ông bạn Lơ Viguru. Samalăng viết cho Blăngsơ hai mươi bốn giờ sau khi nhảy. Anh bình luận dài dòng về Mari Pie mà anh nhận được những bức ảnh đầu tiên và sáng ngày 17 anh thêm một vài chữ vào bức thư chưa đưa cho người bưu tá: "Đã có thể sơ tán vài người bị thương cho nên có hy vọng cho việc xuất phát của chuyến thư. Mọi việc tốt đẹp, trời đẹp, tinh thần bộ đội tuyệt vời. Bộ mặt chiến tranh đã thay đổi, nhưng còn xa mới được như ở Italia”.

Ở Italia, Samalăng là hạ sĩ ở tiểu đoàn 8 lính Ma rốc. Anh có thể so sánh chiến dịch Italia với chiến tranh Đông Dương.
Ngày 21-3 anh nói về hầm trú ẩn của anh cho Blăngsơ: "Anh có một căn nhà xinh xắn nhưng nếu em phải ngủ ở đó thì em chẳng bao giờ trở lại đó nữa... Đó là một loại hang động mà người lính chạy giấy của anh đã đào trong sườn dốc để anh tránh pháo của Việt Minh (...) ở trên cửa vào, anh đã đặt một cái biển: Biệt thự Mari-pie".
Logged
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên
*
Bài viết: 595



« Trả lời #113 vào lúc: 05 Tháng Sáu, 2008, 09:21:25 pm »

Gồm bốn điểm tựa, An nơ Mari do tiểu đoàn 3 Thái đóng giữ Tiểu đoàn Thái đã hành động tốt trong các cuộc hành quân. Dưới quyền chỉ huy của thiếu tá Ácsămbôn cho đến tháng 12, tiểu đoàn đã "sờ" đến đại úy Thimônniê, một sĩ quan thiết kỵ. Phó chỉ huy là đại úy Lui và mỗi đơn vị trong số bốn đại đội có hai sĩ quan khung. Ngày 13-3, Hà Nội đã tăng viện trung úy Cuốc đét và trung sĩ nhất Limusi. Sự ngạc nhiên đầu tiên của hai người là sự mong manh, bấp bênh của lính Thái dưới đạn pháo, cối. Quả vậy, khi Bêatơrít bị pháo kích trước khi bị tấn công, nhiều quả 105 đã nổ ở đại đội 12 của đại úy Ghiơminô trên An nơ Mari 3. Một người chết và ba người bị thương. An nơ Mari 3 tuy vậy không phải là vị trí phơi ra nhiều nhất vì nó ở phía bắc đường hạ cánh, điểm tựa 4 ở bên trái còn điểm tựa 1 và điểm tựa 2 ở xa hơn.

Lính Thái bị địch vận mạnh. Truyền đơn kêu gọi đảo ngũ được rải ban đêm ở hàng rào kẽm gai, những chiếc loa không nhìn thấy phát thanh nhạc địa phương, những bài hát, những lời kêu gọi của Việt Minh và những khẩu hiệu cộng sản. Sự cổ động này có những hiệu quả tai hại đối với những người có gia đình ở làng gần đó. Sức ép tâm lý ngày càng tăng lên khi Việt Minh ngày càng xiết chặt Điện Biên Phủ. Đội biệt kích của trung úy Lơgubê xuất quân hàng đêm và đụng độ với địch.
Chuông báo động những đơn vị Việt Minh đi qua và mỗi cuộc đấu súng ban đêm đều có người bị thương, được đưa đến điểm tựa 2 của trung úy Misen Lê vi. Ở đây có cả Thimôniê và bệnh xá của bác sĩ Vécđaghê. Ngày 15-3, lính Thái theo dõi cuộc phản kích theo hướng Gabrien và khoảng 11 giờ sáng, họ rụng rời chứng kiến sự trở về của những lính lê dương thất trận. Ngày hôm đó lại được đánh dấu bằng một cuộc quấy nhiễu của súng cối, ba người nữa bị chết. Ở điểm tựa 3, Ghiơminô lại bị những pháo kích mới của pháo 105, trung sĩ nhất Máckê, trung sĩ Barie, đại đội trưởng Phrêgiu đều bị thương. Quân địch đến gần và Thimônmê bực mình: "Lính Thái của chúng ta rất yếu kém, không còn sức bật nữa, ông viết. Tinh thần của họ không duy trì được nữa và người ta lo lắng trước một cuộc xung phong ồ ạt, họ chỉ đánh trả một cách hình thức mà thôi".

Ông đã báo cáo với trung tá Tơranca và yêu cầu "cho một hoặc hai đại đội lê dương đến tăng viện". Tơranca đào đâu ra được hai đại đội lê dương. Việt Minh thậm chí đã chõ vào cả tần số rađiô để báo trước sẽ có "một cuộc pháo kích dữ dội và một cuộc giáp lá cà...".

Tuy nhiên, loa còn nói thêm: “Vẫn còn kịp để các bạn rời bỏ vị trí và lợi dụng đêm tối để đến cùng đồng đội thực sự cửa mình".

Không dễ dàng gì ngăn chặn một dòng thác tuyên truyền như vậy vì đêm đến loa lại nói dài dòng và loa ở các cứ điểm Huy ghét và Clôđin lại trả lời chúng nhưng không ăn thua gì. Thêm vào cái mớ ồn ào, lộn xộn đó là những phát đạn 105 và cối xen kẽ nhau với đòn đánh trả của tập đoàn cứ điểm và người ta hiểu vì sao lại khó ngủ ở Điện Biên Phủ. Đến lúc hoàng hôn các súng máy Việt Minh bắn cách điểm tựa không đến bốn trăm mét và Ghiôminô có một quyết định căn bản. Không đợi để bị tấn công và nhìn lính Thái tan rã, ông quyết định sơ tán. Lo cấp trên có ý kiến, ông báo cáo với trung tá Tơranca và ông này báo tin cho Thimonniê. Không có mệnh lệnh "Ghiơminô đã tự ý rút lui với quân lính và vũ khí của mình", viên đại uý càu nhàu.

Bỏ qua điểm tựa 4 do đại đội 9 của đại uý Đêsirê trấn giữ, Ghiơminô tìm đến doanh trại của tiểu đoàn 1, trung đoàn 2 bộ binh ngoại quốc và được thu dụng ở cứ điểm Huy ghét 1 của trung uý Buốcgiơ. Thiếu tá Clêmăngxông ra lệnh cho trung uý Đônađiơ của đại đội 3 chiếm lại An nơ Mari 3 trước khi Việt Minh nhận thấy quân ở đây đã bỏ đi. Ghiơminô ở lại sân bay 2 thay vào chỗ của Đônađiơ. Đêm 15 rạng ngày 16 tháng 3, trung uý Đanlơ ở điểm tựa 1 và trung uý Misen Lê vi ở điểm tựa 2 kinh hoàng chờ đợi cuộc pháo kích trước cuộc tấn công... nhưng nó không xảy ra. Sáng ngày 16, Việt Minh tăng cường các cuộc bắn pháo, loa tiếp tục kêu gọi đảo ngũ rồi lại yên lặng, Vécđaghê lợi dụng tình huống đó để sơ tán 6 người bị thương.

Vào 17 giờ bỗng một lính bộ binh Angiêri từ phòng tuyến địch đến trước hàng rào dây kẽm gai và cho biết là anh ta mang một bức thư gửi cho "người chỉ huy". Người ta để cho anh ta chờ đợi mệt mỏi 20 phút trước khi dẫn anh ta đi theo đường chữ chi qua hàng rào. Anh ta tên là Bumêđieni, bị bắt làm tù binh ở Gabrien, và anh đưa thư cho đại uý Thimônniê. Việt Minh chấp nhận trả những người bị thương bị bắt. Việc trao trả sẽ diễn ra ở lối vào Bản Hạ, một làng gần đấy, vào 8 giờ sáng mai. Bằng rađiô, Thimonniê báo cáo cho Tơranca, Tơranca kể lại cho GONO, ở đó chẳng ai ngạc nhiên, Việt Minh đã làm như vậy sau khi Bêatơrít thất thủ. Dù sao nữa thì Điện Biên Phủ không thể giãn ra vô hạn độ, số người bị thương nhận vào chữa chạy trong các trạm quân y đã vượt quá khả năng thu nhận. Nhưng có thể từ chối họ được không?
Logged
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên
*
Bài viết: 595



« Trả lời #114 vào lúc: 05 Tháng Sáu, 2008, 09:23:08 pm »

Bumêđieni được trả lại cho phía Việt Minh để xác nhận rằng trung uý bác sĩ Vécđaghê và các y tá của ông sẽ đến nơi hẹn vào giờ đã hẹn. Có phải vì sự dàn xếp này mà đêm trở nên yên tĩnh không? Chỉ có vấn đề là những cuộc đảo ngũ mới lại xảy ra. Ngày 17-3 vào 6 giờ Vécđaghê ra lệnh? không mang vũ khí, mang băng chữ thập đỏ, không bàn tán gì dù là nói thầm, và trang phục chỉnh tề.

“Tôi cùng với y tá trưởng Chiang và 25 người khiêng cáng. Cuộc gặp diễn ra cách An nơ Mari khoảng ba kilômét để giải quyết vấn đề ở Gabrien nhưng vẫn ở một cự li rõ ràng. Tôi tiếp xúc với một sĩ quan trẻ nói tiếng Pháp cừ, và trong lúc người của tôi thu xếp cho thương binh nằm lên cáng, chúng tôi đã nói chuyện với nhau mà không để lộ tí nào những cảm tưởng của mình. Chúng tôi đồng ý với nhau rằng chiến tranh là kinh khủng, nhất là sau những trận đánh những ngày qua đã phải trả giá đắt bằng sinh mạng con người. Ông ta cho biết đã có vợ chưa cưới và đợi kết thúc chiến tranh sẽ cưới nhau, còn tôi thì nói với ông ta về vợ và hai đứa con trai của tôi. ông ta cho tôi một số thông tin về các sĩ quan của Gabrien và tôi rất đỗi ngạc nhiên trước sự hiểu biết của ông ta về tình hình cán bộ của tiểu đoàn 5, trung đoàn 7 bộ binh Angiêri”.

Theo Thimonniê, bác sĩ này đã đem về "11 người bị thương trong đó có một người Âu". Phiếu 78 của GONO gửi vế Hà Nội nói là 31 người bị thương được trả lại, nhưng thiếu tá Méccơnem nói sát với sự thật hơn, là có 14 người bị thương trong đó có trung sĩ Anphơrét Trét. Vécđaghê mang về một bức thư trong đó Việt Minh dự tính sẽ trả một số người bị thương nữa, Thimonniê đón lấy quả bóng đó để thảo một thư trả lời lịch sự - có thể là quá lịch sự - giao cho Bumêđieni (Chú thích: Một buổi phát thanh của hãng thông tin Việt Minh ngày 2-5-1954 lúc 19 giờ, công bố "thư cảm ơn ngày 17-3 của đại uý Pháp Thimonniê gửi Bộ chỉ huy Quân đội nhân dân Việt Nam", theo đó Pháp được phép nhận 78 lính bị thương trên Gabrien. Tin này không chính xác về số lượng cũng như địa điểm.). ông yêu cầu "không bắn phá những vị trí Pháp nữa nếu những tù binh mới được trao trả và các điều kiện của cuộc trao trả này như thế nào".

Lợi dụng sự tạm yên lặng để sơ tán người bị thương, Thimonniê được trả lời bằng những phát đạn 105 nhằm vào các điểm tựa vào buổi trưa sau khi các bà vợ Thái rút về phía nam làm ngừng một lúc các đường chữ chi qua hàng rào, gây hỗn loạn cho các lính bộ binh thuộc địa bằng những lời dèm pha của họ. Theo họ, Việt Minh chuẩn bị tấn công và lính Thái được yêu cầu rời đi để khỏi bị tàn sát.

“Bị khiếp sợ, thậm chí bị đe dọa, Thimonniê báo cáo, những người lính Thái muốn chúng ta hiểu rằng họ không ngần ngại sử dụng vũ khí chống lại nếu chúng ta mưu toan can thiệp bằng vũ lực. Vị trí sẽ không phòng thủ được, ở điểm bắc của điểm tựa 2, nhiều vũ khí tự động không có người sử dụng. Phong trào đang lan ra, tuy nhiên không tác động đến điểm tựa 1 và đại đội của trung uý Đanlơ nhưng khi đêm đến chẳng mấy chốc chỉ còn lại người Âu”. 

Khoảng 15 giờ, Thimonniê xin cho lệnh rút "nếu muốn cứu lấy một phần quân số và vũ khí". Trung tá Tơranca đồng ý và, lập tức hai trung uý, Misen Lê vi và Gatuymen thi hành. Họ phá các súng máy 12,7 li và các súng cối, đạn thì đem chôn, trong lúc đó Việt Minh, chú ý đến sự di chuyển ồn ào lộn xộn, lại bắn. Khoảng 16 giờ, GONO yêu cầu cầm cự đến đêm, một đại đội dù và ba xe tăng sẽ đến trấn an lính Thái. Quá chậm rồi, hai điểm tựa phía bắc đã rút. Thimonniê đi sau cùng và đến điểm tựa 4, ở đây đại đội Đêsirê không động đậy gì. Ông ta qua đêm ở đó và sáng sớm ngày 18, lợi dụng sương mù, các tàn quân của tiểu đoàn 3 Thái rút lui. Người ta truyền lệnh cho Thimonniê trở về Isaben cùng với trung uý Đanlơ và đại đội 11. Đại đội 9 của đại uý Đêsirê sẽ được thay thế vào buổi trưa và cũng về vị trí của Lalăng.

GONO không còn tin cậy ở tiểu đoàn 2 Thái. Vécdaghê được bổ nhiệm về tiểu đoàn 1, trung đoàn 2 bộ binh ngoại quốc vì ở đây khuyết bác sĩ từ ngày Đêsơlót ra đi. An nơ Mari 3 trở thành Huy ghét 6 và được giao cho các lê dương của trung uý Đonnađiơ, An nơ Mari 4 do Đêsirê rút đi, trở thành một bộ phận trong vị trí của tiểu đoàn 1, trung đoàn 2 bộ binh ngoại quốc lấy tên là Huy ghét 7, GONO điều đại đội 1 của trung uý Rông đô, tách từ đoàn bảo an đến đó. Tiểu đoàn 3 Thái, quân số còn 412 người so với 735 lúc xuất phát sẽ kết hợp vào quân đồn trú Isaben. Thêm vào những tàn quân của đại đội 12 của Ghiơminô và còn trừ đi số đảo ngũ đã lên tới gần hai trăm. Dù sao vẫn là Việt Minh trở lại làm chủ hai điểm tựa bắc mà không cần giao chiến. Đối với tướng Cônhi "đó là một tai họa vì An nơ Mari kiểm soát con đường". Caxtơri nghĩ rằng Việt Minh có thể sử dụng An nơ Mari như một đài quan sát, miễn là không đồn trú ở đó. "Tôi sẽ cho nã pháo ngay!".

Ông ta nói đúng, Việt Minh đặt đài quan sát ở đó.
Logged
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên
*
Bài viết: 595



« Trả lời #115 vào lúc: 05 Tháng Sáu, 2008, 09:24:31 pm »

Làm sao mà tinh thần của Điện Biên Phủ lại không bị ảnh hưởng bởi những tổn thất mà các bộ đội của tướng Giáp đã gây cho họ? Và chẳng ai đến an ủi quân đồn trú, một khiếm khuyết mà ủy ban điều tra quan tâm. Lăng le dự định lên một chiếc máy bay bay về Hà Nội để bảo vệ mạnh mẽ các lợi ích của Điện Biên Phủ rồi trở lại ban đêm bằng nhảy dù. Nhưng ngày này đến ngày khác trôi qua, Lăng le ngày càng bị thôi thúc nhưng máy bay bay đêm cất cánh mà không có ông. Ông còn hứa cả với trung tá Tơranca, người đã có thể hồi hương, sẽ đi cùng. Còn Cônhi, ông ta rời tập đoàn cứ điểm ngày 12, dưới làn đạn pháo Việt Minh (Chú thích: Trong một bức thư đề ngày 30-7-1955 ở Cônhôcôli (đảo Coócxơ) Cônhi gọi sự khủng hoảng trầm trọng mà ông đã trải qua. Để đề phòng mọi tin đồn, ông nhắc lại rằng "những người mà tôi đã chỉ huy hơn 2 năm trong các cuộc chiến đấu của Sư đoàn 2 hành quán ở Bắc Bộ gặp tôi khá thường xuyên tại những nơi "không phải là chỗ của vị tướng" để khỏi nhầm lần về ý nghĩa sự từ bỏ của tôi. Tôi không cho phép ai được gợi ý rằng, sự sợ rủi ro về tính mạng đã có thể ngăn cản tôi lên Điện Biên Phủ (Lưu trữ của ủy ban điều tra).). Ông ta toan trở lại Điện Biên Phủ ngày 15 nhưng đường băng đã bị pháo kích, phi công từ chối. Tướng Cônhi không chịu dùng một máy bay mang ký hiệu chữ thập đỏ và tướng Đờ sô không muốn đưa một máy bay cho ông sử dụng với lý do là máy bay có thể bị phá hủy. 

Ở Isaben, bác sĩ Pông thỏa thuận với vợ về một thời hạn 5 ngày để viết thư. Ông thừa nhận ngày 17-3 binh sĩ đã trải qua "một địa ngục thực sự" và kể chi tiết về ngày 18: "Sự yên tĩnh gần như đã trở lại: máy bay Đacôta lập một cầu hàng không để thả dù người, súng ống, đạn được và đồ tiếp tế. “Việt Minh bắn pháo vào những tốp đi thu nhặt". Pông không giấu diếm chuyện hai điểm tựa đã bị mất và một đồn lẻ - An nơ Mari - đã rút: "Các anh đã nhận một phần quân số của họ gồm những người Thái. Anh đã kiếm được hai y tá tốt người Thái”.

Ông bác sĩ còn nói đến một "bệnh dịch" lạ lùng mà nạn nhân là các lính bộ binh thuộc địa:

“Một vấn đề nổi cộm nhất được đặt ra - nói ra thật là nực cười khi buồn đi ngoài. Quả vậy, các cầu tiêu đều nằm trên trục bắn pháo của Việt Minh và thường bị đạn pháo vây quanh. Một quả 105 không nổ đã chui vào một góc và nằm dưới hố xí. Chẳng ai muốn đến đó nữa và tình trạng này dẫn đến một bệnh táo bón tâm lí thực sự”.

Ở chỗ Biga, trung uý Gia cốp viết cho Mác xen:

“Em có thể nghi hoặc khi đọc báo, nhưng anh hiện đang ở Điện Biên Phủ và anh dám hy vọng tình hình sẽ cải thiện vào thời gian sắp tới để anh có thể trở về Hà Nội sửa soạn hành trang. Anh chưa thể xác định cụ thể ngày hồi hương nhưng anh nghĩ rằng anh sẽ được thông báo trong mười lăm ngày tới”.

Phải chăng anh đã có linh cảm gì? "Có thể trong nhiều ngày tới em sẽ không có tin tức nhưng em hãy yên tâm, tình hình không cho phép dễ dàng gửi thư và anh cũng không biết bức thư này bao giờ đến tay em" (ngày 21-3).

Mác xen đã gợi ý anh lần đi phép sắp tới anh sẽ cùng cô và bé Misen đi Bítcarốt trong vùng Lăng đơ, anh liền hưởng ứng "tháng sáu ở Bítcarốt thì anh sành lắm ... Nghỉ một tháng ở đấy cả ba người thì thoải mái lắm”.

Về phần mình, Vécđaghê kể với vợ việc Việt Minh trao trả người bị thương ở Gabrien nhưng anh không đả động gì đến việc rút bỏ An nơ Mari. Cũng không có một lời nào về việc bổ nhiệm anh đến đơn vị Clêmăngxông. Bí mật quân sự. Ngày 23-3, anh phàn nàn về báo chí:

“Chẳng có gì mới từ sau những trận đánh dữ dội các ngày 13, 14 và 15. Mọi việc đã trở lại trật tự. Tinh thần tuyệt vời, chỉ lung lay vì những tin tức hãi hùng mà báo Pháp đã đăng để đưa các em vào trong mọi tình huống. Chỉ cần em biết rằng ở đây không phải chỉ có một phóng viên báo chí, điều đó làm cho em có thể đánh giá được tính xác thực của các tin tức mà các em đọc trong báo”. (Chú thích: Năm thành viên của Cục báo chí thông tin đã được cử lên Điện Biên Phủ, nhưng đó là những hạ sĩ quan chứ không phải là nhà báo chuyên nghiệp: Pie Soenđoócphe, Đa men Camuýt, Giáng Pê rô, Ray mông Máctinốp (bị giết 13-3), Ăngđrê Lơbông (bị thương và sơ tán ngày 14-3).
Logged
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên
*
Bài viết: 595



« Trả lời #116 vào lúc: 07 Tháng Sáu, 2008, 11:33:45 am »

Ở tiểu đoàn 8 xung kích, bức thư cuối cùng của đại uý Pisơlanh gửi cho bố đã được phát đi ngày 20-3:

“Hôm nay, lần đầu tiên kể từ cuộc tấn công của Việt Minh, có một chuyến thư đi. Không một máy bay nào có thể hạ cánh ban ngày, đường băng ở dưới hỏa lực của các đại bác Việt Minh, bắn vào tất cả những cái gì đỗ xuống. Cho nên con giả thiết rằng chuyến thư này sẽ đi đêm nay. Bố đừng quá lo lắng, những thiệt hại của chúng ta không quan trọng lắm mặc dầu pháo binh Việt Minh thường xuyên quấy nhiễu. Ở đại đội của con - chúng con sờ vào gỗ (theo mê tín - ND) - không ai bị giết, không ai bị thương. Phải có những quả trái phá mới giết được một người!”

Ở tiểu đoàn 6 dù thuộc địa, Samalăng kết hợp chuyến đi máy bay của những người bị thương với việc chuyển thư từ.
Theo cách nhìn của anh, mỗi máy bay bay đi đều mang theo các túi thư, nhưng không phải lúc nào cũng như vậy. Hai ngày sau khi trở lại Điện Biên Phủ, anh viết cho Blăngsơ:

“Một máy bay Hồng thập tự vừa đỗ xuống để lấy người bị thương, nhưng không thể đưa họ lên máy bay được, Việt Minh bắn pháo dữ dội vào sân bay. Máy bay phải bay đi mà không chở được thương binh. Còn các anh, luôn luôn quá  trung hậu, các anh vừa chấp thuận một cuộc tạm ngưng chiến để Việt Minh lấy người bị thương của họ" (ngày 18-3) (Chú thích: Ăngđré Samalăng muốn ám chỉ cuộc tạm ngưng chiến do Việt Minh đề xuất sau khi Bêatơrít sụp đổ, cuộc ngưng chiến này là để lấy thương binh Pháp chứ không phái lấy thương binh Việt Minh.).

Ba ngày sau, trong khi vẫn giữ kín các hoạt động của tiểu đoàn Biga, Samalăng mô tả môi trường cho Blăngsơ:

“Phong cảnh đã thay đổi nhiều kể từ tháng 11. Không còn nhà cửa, không còn cây cối. Chỉ có lô cốt, hầm hào, dây kẽm gai. Một nỗi phiền lòng là không có cách gì mua được gà vịt, trái cây, bánh nếp. Không có gì hơn ngoài binh lính, đạn được và các cuộc thả dù. Ở xa trên các ngọn đồi, người ta đoán đó là làng mạc, ở đó chắc có gà, vịt, nhưng "chúng xanh quá ... Chẳng ai rõ kết cục sẽ như thế nào nhưng bọn anh có một niềm tin: Việt Minh sẽ nướng chủ lực của họ ở nơi đây" (ngày 23-3).

Trong một bức thư cũng viết ngày 23, bác sĩ Pông có vẻ tin chắc là đã đến được "thời điểm tất và chỗ tốt".

“Chiếc xe tải mang thư từ đã đè phải mìn lúc trở về. Người lái xe và người đi theo đã thoát được, không bị thương. Việt Minh pháo kích liên tục. Sáng nay, họ đã phá hủy một trực thăng. Họ tiếp tục bắn và người ta không thể sơ tán người bị thương . . . Người ta phải nghĩ đến cách chấm dứt lò giết người này. Mọi người đã chán ngấy rồi nhưng những năm 1914-1918 cha ông chúng ta chắc chắn đã gặp những lúc khó khăn hơn”.

Đối với máy bay vận tải, ngoài sự cần thiết phải tiếp tế cho tập đoàn cứ điểm dưới hỏa lực pháo còn thêm một đòi hỏi cấp bách: sơ tán người bị thương về Hà Nội. Chiều ngày 16 tháng 3 chiếc máy bay Zulu - Zulu của Phrôngsơ Công tê mang hiệu Chữ thập đỏ trên thân máy bay và ở bánh lái dẫn hướng bay đến Điện Biên Phủ. Trung sĩ Cu đe là người lái, trung uý Hô kê vừa là cơ trưởng vừa là dẫn đường. Công binh đã sửa sang lại đường băng vì đạn pháo đã làm hỏng vài tấm lưới sắt và 10 phút trước khi đậu, Torri đỏ yêu cầu Cu đe chờ đợi. Máy bay bay quanh thung lũng rất đông, vì vậy mỗi máy bay phải chờ đến lượt mình. Bốn phút trước khi hạ cánh, Cu đe đưa máy bay vào trục đường băng và Hê kê cho anh biết "người bị thương đang trên đường đi tới". Không có gió và viên phi công chuẩn bị hạ cánh thì bỗng những quả đạn đầu tiên nổ. Phản ứng nhạnh nhất, Cu đe dận ga, chuyển sang tốc độ đầy đủ bằng đường bay là là và liệng trên Isaben trước khi trình diễn một lần nữa. Anh muốn biết Việt Minh suy nghĩ gì về Chữ thập đỏ của Zulu Zulu? Máy bay hơi lấy độ cao, một màn mù nhẹ lơ lửng trên đường băng, máy bay hạ xuống, đi vào đường băng, bánh chạm đất. . . '

Torri đỏ ra lệnh hoãn hạ cánh, người bị thương đã quay trở lại và Việt Minh tiếp tục bắn. Cu đe đưa máy bay bay lên, càng thu vào, bay qua, mọi việc tốt đẹp, nhưng thông báo cuối cùng của Torri đỏ đã gây nên một chút rùng mình về việc đã qua: "Các anh đã bị cao xạ bắn ở vòng thứ hai". Phi hành đoàn không hay biết gì.
Logged
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên
*
Bài viết: 595



« Trả lời #117 vào lúc: 07 Tháng Sáu, 2008, 11:48:06 am »

Đại tá Ni cô đã có chỉ thị cho các phi công của ông: mỗi lần bay lên, phải hướng về phía nam, để khỏi bay trên Gabrien vì ở đây cao xạ địch chờ máy bay cất cánh. Bây giờ các phi công bay qua Isaben trước khi hạ cánh, và đỗ máy bay mặt hướng về phía bắc. Không một máy bay nào, được đậu trên mặt đất quá ba phút và đối với những phi hành đoàn bị đạn pháo vây quanh thì thời gian đó cũng đã quá lâu. Các thương binh phải ra khỏi hầm trú ẩn khi đã báo máy bay đến và xe tải chở họ đến đường băng cùng một lúc với máy bay hạ cánh.

Thứ năm ngày 17, trung uý Rô giê đờ Ruýpphơray lại lái chiếc Zulu Zulu bay đến Điện Biên Phủ. Trên máy bay, một nữ hộ tống viên trẻ tuổi, Misen Lơxuyơ, người tin tưởng vào bùa bảo vệ của chữ thập đỏ sơn trên thân máy bay. Đến Sài Gòn ngày 11-1, cô được gửi đến Bắc Bộ ngày 13 và hôm sau ngày 14, cô làm nhiệm vụ đầu tiên ở Điện Biên Phủ. Ngược lại với những gì đã xảy ra hôm qua với trung úy Hê kê, Zulu Zulu đã hạ cánh không gặp khó khăn gì. Misen đã từng đến lần cuối vào ngày 2-3 trên chiếc máy bay Bristơn dân sự trưng dụng và cô lại trở về ngày 4 cùng đại úy Gastông Giơba và 24 người bị thương.

Bây giờ không khí hoạt động đòi hỏi nhanh như điện và cô hộ tống viên, trong nỗi e ngại máy bay trở về mà không nhận được thương binh, có linh cảm là thương binh sẽ không tôn trọng một kỷ luật nào và không chú ý đến sự hướng dẫn của cô. Họ không tin rằng chữ thập đỏ của Zulu Zulu là bùa hộ mệnh! Người của trạm giải phẫu Grauuyn đang dùng hết sức nâng cáng lên, những thương binh bị thương ở các chi trên đang chen chúc lên máy bay, không thể kiểm soát nổi nữa. Moátxinắc, Tổng biên tập báo Caraven cũng ở trong danh sách những người đi. "Bị dồn ép từ mọi phía, bị xô đẩy, bị đẩy lùi rồi lại bị đẩy tới phía cửa", anh ngạc nhiên vì đã vào được trong máy bay.

“Thương binh đã đợi ở đó khi chúng tôi đỗ xuống, Misen Lơxuyơ kể, nhưng chúng tôi phải dỡ hết những thứ mang đến: cáng, các thùng vật tư và máu tươi. Khi trung uý Ruýpphơray nhận được lệnh cất cánh thì những quả đạn pháo đầu tiên đã nổ ở gần đường băng, chúng tôi ngừng việc dỡ hàng và với sự giúp đỡ của người thợ máy, tôi đã đẩy lên được một số lượng tối đa người bị thương. Mọi việc diễn ra nhanh chóng đến đáng sợ, máy bay đã lăn bánh mà những người cuối cùng vẫn bám lấy, van xin và cố leo lên máy bay bất chấp những thương tật của họ. Và chúng tôi phải đẩy họ ra để đóng cửa! Những quang cảnh ghê rợn!” (Chú thích: Chúng tôi luôn luôn có những người bị thương ngồi và những người nằm, Misen Lơxuyơ viết. Khi sơ tán ban đêm, điều chủ yếu là được mang đi còn tư thế không quan trọng. Ngày 17-3, con số 32 người sơ tán tuy vậy là con số kỷ lục" (Thư trao đổi với tác giả).)

Trong buồng lái, hai sĩ quan, Ruýpphơray và Coócnuy cố gắng cho máy bay đã quá tải cất cánh. Sau khi đã qua 4 ngày ở Torri đỏ, đại uý Coócnuy được lệnh trở vế Hà Nội "trên một máy bay đầu tiên có thể đi được" và trong lúc hai người "kéo cần", khoảng xa cách các làn đạn pháo đang tăng lên, thì Misen, cổ khản giọng "đang cố xếp lại trật tự cho các thân thể đang nằm trên sàn". "Sau khi đến thế giới nhỏ bé của em, cô nói tiếp, em nhận thấy có đến 32 thương binh chứ không phải 24 "như quy định". Một sự quá tải nghiêm trọng! Máy bay vất vả lắm mới lấy được độ cao và em nghĩ không bao giờ được gặp lại bố mẹ em nữa".

Cùng với Moátxinắc, đại uý Sujinô bị thương vào cánh tay ở Gabrien, cũng lên máy bay. Việc cất cánh diễn ra trong những điều kiện khó khăn, phần lớn thương binh ở phía đuôi máy bay, máy bay đã chồm lên sau khi rời mặt đất, đuôi thì bệt xuống mặt đất vì trọng tải không bình thường đó. Tuy nhiên với sự giúp đỡ của Coócnuy, Ruýpphơray đã ổn định máy bay và từ từ lấy độ cao. Cuối cùng, Zulu Zulu đã thoát khỏi nguy hiểm và bay về Hà Nội.

Trong cùng ngày, nhiều ý định đã được thực hiện. Đại uý Mô be trên máy bay Yankee Bravo thực hiện một cuộc thả dù và cảnh giác, đợi lệnh của Torri đỏ để hạ độ cao và cố hạ cánh. Trên máy bay có nữ hộ tống viên Emê Can ven. Bị cao xạ xem là mục tiêu và hình như đã hiểu được mưu mẹo của ông, Mô be được lệnh trở về Hà Nội.
Logged
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên
*
Bài viết: 595



« Trả lời #118 vào lúc: 07 Tháng Sáu, 2008, 11:49:09 am »

Brigít đờ Kécgôlay tham gia hai nhiệm vụ, nhiệm vụ thứ nhất với trung uý Bisuoang, nhiệm vụ thứ hai với đại uý Vanniê, cả hai đều đạt kết quả âm: Phải quay về vì hỏa lực địch quá dày.

Ngày 18-3, điều kiện khí tượng thuận lợi, ra đa định hướng của Torri đỏ và mối vô tuyến đã hoạt động trở lại sau khi sửa chữa, riêng không đoàn vận tải Phơrăngsơ Công tê thực hiện 23 phi vụ thả dù trong ngày. Thiếu tá Crischian Đác, 38 tuổi, cất cánh vào buổi chiều, lái chiếc Zulu Tăng gô, máy bay thứ hai mang ký hiệu chữ thập đỏ trong phi hành đoàn có trung sĩ nhất Garăngđô, các trung sĩ Pia và Truýtsơmốt. Đại uý bác sĩ Guy Lavăngđiê có nguyện vọng muốn nhìn tận mắt những khó khăn mà phi hành đoàn gặp phải, đã đi theo hộ tống viên Emê Canven. .

“Các cuộc hạ cánh ban ngày để lấy thương binh gần như luôn luôn thất bại, Emê Canven nhớ lại. Các xe cứu thương chờ ở sân bay, máy bay hạ cánh, các động cơ vẫn quay và, được sự giúp đỡ của các y tá trạm giải phẫu Grauuyn, chúng tôi vội vội vàng vàng xếp người bị thương lên máy bay trong lúc quân địch hiệu chỉnh đường bắn. Hôm đó có một sự đề phòng khác thường, chúng tôi mặc áo gilê tránh đạn nhưng như vậy chưa đủ..”.

Quả nhiên, Đácđơ hạ cánh Zulu Tăng gô không có khó khăn gì nhưng máy bay mới dừng lại thì những quả đạn đầu tiên đã bay đến. Bị đạn vây quanh, máy bay lâm nguy, sợ xảy ra kịch biến, Torri đỏ ra lệnh cất cánh. Viên phi công đang hướng máy bay về phía nam thì một quả đạn rơi gần đó Cả phi hành đoàn nhìn thấy ngọn lửa, còn mảnh đạn đã làm bị thương đại uý bác sĩ. Lavăngđiê bị một mảnh đạn nhưng không bị bất tỉnh, còn cô hộ tống cố gắng giữ thăng bằng trên sàn máy bay, mở áo gilê chống đạn và cổ va rơi của bác sĩ để xem vết thương nặng nhẹ như thế nào. Đácđơ tính từng giây và cất cánh nhưng súng phòng không đã dặt nó dưới làn đạn. Mỗi người trên máy bay hiểu rằng chỉ cần một quả đạn thôi, một quả duy nhất, và thế là một không khí căng thẳng cực độ bao trùm trong máy bay và bỗng nhiên mọi người thấy số mệnh họ thật mong manh. Cuối cùng thì, Zulu Tăng gô đã lấy được độ cao và bay ra ngoài tầm súng. Về Hà Nội, Đácđơ nhận thấy ra đa định hướng VHF đã bị phá hủy, bánh lăn đuôi bị một mảnh đạn làm gãy thân và cánh máy bay có mười chín lỗ thủng.

Các máy bay khác cũng bị trúng mảnh đạn trong lúc thả dù xuống tập đoàn cứ điểm, nhất là máy bay Zulu Bravo của thiếu uý An be Clerê và Zulu In đia của thiếu uý Giăccơ Huybe, phi công của máy bay này là trung sĩ Lamáccơ. Với tinh thần kiên trì, trung uý Bitsuang quay về trên thung lũng sông Nậm Rốm và yêu cầu Torri đỏ cho phép hạ cánh. Lời yêu cầu bị từ chối vì địch không ngừng pháo kích. Trung uý Hê kê và phi công Cu đe trên máy bay Yankê Bravô cũng đăng ký hạ cánh sau một cuộc thả dù nhưng Torri đỏ không lay chuyển: rủi ro quá lớn. Ở mặt đất, thiếu tá Ghêranh tự hỏi: “cấm đỗ ban ngày có phải hợp lý hơn không". Một máy bay không nhận dạng được chẳng đã thành công trong việc đưa người bị thương đi hôm 18-3 đó sao, vì danh sách của Sở y tế có ghi tên 14 người sơ tán trong đó có trung uý Bécna Rúc của tiểu đoàn 5, trung đoàn 7 bộ binh Angiêri.

Hơn nữa, ngày 18-3 một ngày cần ghi nhớ. Quả vậy, không còn vấn đề làm vận tải đường không đưa người và hàng đến bằng hạ cánh nữa. Từ nay mọi thứ đều phải thả dù và nếu phòng không hoạt động tích cực ban ngày thì sẽ thả dù ban đêm. Đại tá Ni cô hiểu những khó khăn sẽ nảy sinh trong những phi vụ này, trong báo cáo của ông, nhắc lại "những điều kiện kiệt sức cả vế tinh thần lẫn thể xác" là các phi hành đoàn phải chịu đựng khi hoạt động, ông lưu ý là vùng lòng chảo chỉ có thể đến từ một phía, đối diện với phía bắc.

Là phi công của trung uý Hê kê, Cu đe nhớ lại "có lúc trên bầu trời giống như một trường đua ngựa, có đến 6 hoặc 7 máy bay cùng thả dù một lúc giữa các cứ điểm Huy ghét và các cứ điểm Élian, nhưng với những đường vòng ngẫu nhiên và trên những độ cao khác nhau. Súng phòng không quất mạnh lên bầu trời và một vài máy bay làm nhiều động tác "không dứt khoát", những cái đập cánh tạo ra những đường bay quanh co, tuồng như phi công đang say rượu, những máy bay khác có những đường bay ngoặt gấp đánh lạc hướng quân địch; bản thân tôi cũng bay theo hình con nhép có bốn lá làm cho tôi tránh được các đường đạn. Sau khi thả xong kiện hàng cuối cùng thật là hạnh phúc: bay thẳng đứng lên”.
Logged
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên
*
Bài viết: 595



« Trả lời #119 vào lúc: 07 Tháng Sáu, 2008, 11:50:27 am »

Về một số cuộc thả dù, phi hành đoàn chờ đợi sự kết thúc với tinh thần lo sợ hơn; đó là thả nhiên liệu. Ở mặt đất, xe tải xe cứu thương, xe Jeep và nhất là xe tăng của đại uý Héevuiét cần có nhiên liệu, và 2 tấn rưỡi xăng với tỷ lệ thả bốn thùng xăng xuống mỗi lần bay qua thì rất lâu, thậm chí quá lâu dưới hỏa lực phòng không, may thay, còn ở cách xa mình. Một máy bay Đacôta trung bình chở 2 tấn rưỡi hàng, đi khứ hồi Hà Nội - Điện Biên Phủ, sau khi hạ cánh và dỡ hàng, mất hai giờ ba mươi lăm phút. Cũng chiếc Đacôta đó thả dù hàng, mang nhiều nhiên liệu, ít hàng: hai tấn thay vì hai tấn rưỡi, thời gian bay mất ba thậm chí đến bốn giờ. Tiềm lực các máy bay có thể sử dụng được bị giảm bởi vì, với cùng một trọng tải hàng do 10 máy bay vận chuyển bằng hạ cánh thì phải có 16 máy bay để thả dù, như vậy các phi hành đoàn phải trải qua nguy hiểm lâu hơn.

“Tốc độ đường dài của chúng tôi là khoảng 270 km/h, Giăng Ađiát sĩ quan - phi công thuộc Không đoàn vận tải Xênêgan viết, nhưng trước khi thà dù, chúng tôi giảm xuống còn khoảng 160 để tránh cho dù khỏi bị cháy thành đuốc. Để thả các kiện hàng, phải mất 12 đến 15 lần bay qua, như vậy tạo ra nhiều cơ may cho phòng không Việt Minh. Chúng tôi có dưới chân mình 2000 lít nhiên liệu có chỉ số octan cao, nghĩa là có nhiều khả năng nổ. Khi chúng tôi phải thả, kiện hàng này tiếp theo kiện hàng khác, 2,5 tấn đạn dược, chỉ cần một viên đạn cháy hoặc một mảnh đạn nóng bỏng là có thể biến chúng tôi thành khói. Chúng tôi chẳng bao giờ mang theo dù của mình, chẳng được việc gì cả”.

Cách tránh là thả dù ban ngày ở độ cao cao và Caxtơri đã cởi mở với tướng Cônhi: "ông ấy trả lời là không phải lo lắng gì ông ấy đang nghiên cứu một hệ thống thả dù mở chậm".

Đang nghiên cứu? Mà thời gian thì thôi thúc và nhu cầu thì hàng ngày. Cho đến ngày 18 một cuộc trực thăng vận vẫn được thực hiện để thu nhặt nhiều sĩ quan quan sát đường "nằm khàn" ở Điện Biên Phủ. Rủi ro rất cao vì trực thăng không có được thiết bị để bay đêm và phải hạ cánh ban ngày nghĩa là có nguy cơ bị một quả đạn phá tan. Một mưu mẹo sẽ được sử dụng và người ta hy vọng Việt Minh sẽ không ngờ đến mưu đó: chiếc trực thăng sẽ mang ký hiệu chữ thập đỏ .

“Chúng tôi rời Điện Biên Phủ ngày 18-3 vào buổi trưa trên một chiếc Siko mang ký hiệu chữ thập đỏ, trung uý quan sát Pie Béclông nhớ lại. Sau khi có ý định sử dụng chúng tôi làm đội quan sát và liên lạc hoặc ở các đại đội pháo, bộ chỉ huy cho rằng hiểu biết của chúng tôi về chiến trường nhìn từ trên trời xuống là một nguồn vốn sinh lợi hơn và chúng tôi đi lập căn cứ ở Mường Sai, Lào”.

Thứ sáu ngày 19, cô hộ tống viên Êlisabét Gra lên máy bay Zulu Zulu do trung uý Bisuoang, một trong những tay lái giỏi nhất của không đoàn, lái. Cô hộ tống viên là người không tin vào đức tính bảo vệ của các chữ thập đỏ. Trung sĩ nhất Đơ gây, thợ máy, trung sĩ nhất Sơđônê và thương sĩ Stếcmâyê không có ý kiến, họ mù quáng đi theo Bisuoang. Cũng như hôm qua, Bisuoang luồn vào trong một đường vòng thả dù nhưng, đáng lẽ đi theo guồng của các máy bay thả kiện hàng thì anh bất ngờ tách ra và hạ cánh với việc bật đèn xanh của Torri đỏ. May thay, những người bị thương đã có ở đó và Êlisabét Gra cũng phải vất vả mới tránh được sự chen lấn nhau. Những người khỏe nhất thì đi qua cửa và người ta giơ cáng ra cho cô hộ tống, ai nấy đều bị ám ảnh bởi thời gian đang trôi đi rất nhanh. Ba phút bằng sự vĩnh hằng? Được các quan sát viên của họ báo động, các đại bác của Việt Minh khai hỏa. Không rõ có linh cảm gì xui khiến, Bisuoang vẫn ngồi trên ghế, nhả phanh ra và di chuyển máy bay khoảng 100 mét. Anh ta chưa dừng lại thì một quả 105 nổ ngay tại chỗ anh ta vừa rời đi. Bị thu hút vào công việc, cô hộ tống viên không nhìn thấy gì cả. Bisuoang không kéo dài nữa, anh bấm chuông xuất phát. Năm giây sau, anh nổ máy Zulu Zulu và lăn bánh với 23 người bị thương. Theo lệnh của thiếu tá Ghêranh, anh đưa người bị thương đỗ xuống Mường Sai và quay lại thử vận may một lần nữa. Giữa lúc đó pháo binh Việt Minh đã chiếm lĩnh không gian và Ghêranh ra lệnh cho Bisuoang thu hồi thương binh ở Mường Sai và đưa về Hà Nội. Bisuoang không biết anh là người vừa thực hiện cuộc "sơ tán y tế” cuối cùng ở Điện Biên Phủ. Đúng vậy, khi đại uý Gastông Giôba xuất hiện một giờ sau đó, ông thấy một chuỗi những vụ nổ ở phần khu trung tâm và trên đường băng: "Chúng tôi nhận được lệnh quay trở lại và sau ba giờ bay chúng tôi với máy bay trống rỗng đỗ xuống Bạch Mai - Hà Nội", Cristin đờ Lestơrát, hộ tống viên của Giôba lấy làm tiếc Cô gái trẻ không có cơ hội chợp mắt tối đó vì một giờ sau, cô được biết là mình lại ra đi cùng với đại uý Bécna Sơmilépski vì một nhiệm vụ đặc biệt.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM