Đánh đông dẹp bắc
Thành viên

Bài viết: 595
|
 |
« Trả lời #210 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2008, 12:06:03 pm » |
|
Hồi xảy ra cuộc tấn công của Việt Minh ngày 30-3, chúng ta còn nhớ. Nicốt giữ điểm tựa Săng Êlidê trên Êlian 2 và Nicôla rất tin tưởng ở anh. Sau khi liếc mắt về phía Lily 3 đang nhả khói như một bộ lò cao, Nicốt giao binh sĩ cho trung úy Ăngtoan đờ Xôle, sĩ quan đang phục vụ nhiệm kỳ hai từ tháng 5-1953. Được bổ dụng về trung đoàn 1 Ma rốc, Xôle được thuyên chuyển về tiểu đoàn 1, trung đoàn 4 Ma rốc ngày 23-4, tình nguyện lên Điện Biên Phủ, và đêm sau anh đã nhảy dù sau xuống tập đoàn cứ điểm. Là bố của hai đứa con trai, anh chẳng nói gì về quyết định của anh với Maylít, vợ anh, rơi từ trên trời xuống khi được tin chồng bị bắt làm tù binh ở Điện Biên Phủ.
Có báo vụ viên của anh đi theo, Nicốt đi về hướng điểm tựa Pêranh, đang hiện lên dưới trời sắp tối như một ngọn núi lửa phun trào, trên đó máy bay Đacôta - đom đóm chiếu xuống một ánh sáng yếu ớt.
Nicốt:
“Tôi đã đến được Lily 3 không khó khăn gì. Pêranh bị lắc mạnh vì một viên đạn nổ, nhưng hình như anh vô sự. Đêm đã xuống và chúng tôi không thể đi một vòng qua các công sự phòng ngự. Tôi đã tiếp xúc bằng điện thoại với các trung đội trưởng để báo việc tôi đến, rồi khoảng 18 - 19 giờ chúng tôi chia nhau bữa ăn. gồm bít-quy và một hộp cá trích. Hai giờ sau, sau một đợt nã pháo ngắn, Việt Minh mở một đợt xung phong mới. Tôi gọi sở chỉ huy tiểu đoàn và yêu cầu pháo 105 bắn chi viện. Đại úy Lacrôzơ lưu ý tôi là pháo có thể "đấm lưng" chúng tôi nhưng tôi vẫn khẩn khoản yêu cầu bởi vì không còn cách nào khác để đập tan các đợt xung phong của Việt Minh”.
Đạn đã bắn đúng chỗ và Việt Minh phải rút lui, hòa vào đêm tối, mang theo những người bị thương. Những tin tức về các trung đội đã tiếp xúc không đến được sở chỉ huy Pêranh; trong đêm tối liên lạc bằng chạy chân không thể thực hiện được. Người ta chờ đợi Việt Minh lại tiếp tục xung phong khi mà các "bộ đội" tìm được chỗ yếu, một hành lang do người chết và người bị thương phòng thủ, nếu không họ sẽ đào một đường hầm dưới rào dây kẽm gai, phương pháp mà họ đã dùng tại Huy ghét 5 để bắt trung úy Giôzơ và các lính lê dương của anh tại sào huyệt.
“Khoảng 2 giờ sáng, Nicốt tiếp, vì phải giải quyết một nhu cầu tự nhiên, tôi ra khỏi sở chỉ huy. Máy bay - đom đóm chiếu sáng trận địa và những cột khói bay lên xung quanh chúng tôi. Bỗng tôi nhìn thấy bóng những bộ binh Việt Minh tôi đã học cách nhận dạng họ khi ở Êlian 2 nhảy không có tiếng động xuống đường hào gần hầm chúng tôi. Tôi hiểu rằng chúng tôi phải làm "như những con chuột". Hầm chỉ huy không phải là cơ quan phòng ngự và nếu chúng tôi không khéo chuồn thì sẽ bị loại khỏi vòng chiến”.
Nicốt báo động Pêranh, các báo vụ viên của anh và những người ở trung đội chỉ huy. Tính từng giây? Nicốt nhặt cái túi của anh mà anh thậm chí chưa kịp mở, cầm khẩu các bin, trong lúc báo vụ viên của anh theo sau, anh lao vào một đường hào, đối diện với nơi mà anh phát hiện Việt Minh. Chưa hoàn toàn bình phục về cơn choáng, Rô be Pêranh không chộp được cơ hội này nên rơi vào tay Việt Minh. Những tiếng súng nổ, lẻ tẻ, bộ binh Việt Minh đã tràn vào Lily 3 (Huy ghét 4) như một ngọn triều ở chân núi Xanh - Misen khi thủy triều dâng. Có những hạ sĩ quan Pháp và lính Ma rốc toan chạy về tuyến hai, một số đến được, một số khác chạm trán với các "bộ đội". Lily 3 đã thất thủ . Mười lăm phút sau, Nicốt và báo vụ viên của anh đã đến được hào của đại đội 2, Xô le đã đón họ. Họ đã trốn thoát. Một số lính và hạ sĩ quan của đại đội Pêranh đi theo họ. Họ đưa đến những tin xấu: trung sĩ nhất Ben Buaza bị tử thương, các trung sĩ Ben Hát đát và Apđalát cũng vậy. Trung sĩ Đenphốt, phó của trung úy Payơrê, xuất hiện ở đường chữ chi của Lily 2:
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên

Bài viết: 595
|
 |
« Trả lời #211 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2008, 12:06:57 pm » |
|
“Khoảng 2 giờ sáng, anh viết, Việt Minh đã đến nhưng họ không vào phía có tôi và trung đội tôi, điều đó cho phép chúng tôi, khi thấy đồn không thể chống cự được nữa (nguyên văn), làm nổ tung hàng rào kẽm gai và nhập vào hào giao thông nối với sở chỉ huy tiểu đoàn ... Việt Minh tiến lên, lúc đó tôi ở cách trung úy Payơrê khoảng 15 mét về phía sau. Một quả lựu đạn địch rơi cách anh ấy 50cm, lúc đó anh đang quỳ xuống. Tôi thét lên để báo cho anh nhưng đã quá muộn”..
Trung úy của anh đã bị thương và Đenphốt không quay trở lại? (Chú thích: Những quang cảnh như thế lại được thấy ở Huy ghét 4. Trong lúc vội vã rời Lily 3 mà Việt Minh đã quẳng lựu đạn vào các hầm hố, các lính bộ binh thuộc địa đã bỏ mặc Payơrê. Chứng cớ là Việt Minh không ở gần, có thể giúp đỡ người bị thương, chỉ với sự nỗ lực phi thường, viên sĩ quan đã vượt qua các chướng ngại, vượt qua đống đổ nát của hệ thống rào và gục xuống, kiệt sức vì quá cố gắng và mất máu, trong một thửa ruộng bùn lầy mà anh dừng lại để nghỉ lấy sức. Trong lúc đó, Nicôla đã đạt được yêu cầu phái đại đội 3 của tiểu đoàn 1, bán lữ đoàn 13 lê dương ngoại quốc đến giúp anh giành lại Lily 3. Lại một lời cầu mong thành tích. Từ hai ngày nay, đạiđdội 3 của đại úy Capâyrông đóng quân ở tả ngạn sông Nậm Rốm, tại Êlian 3. Đại đội có 60 lê dương và nếu các trung đội đều có các hạ sĩ quan vững vàng chỉ huy, thì Capâyrông chỉ còn có một sĩ quan, trung úy Uynpát. Anh dẫn đầu dàn quân và vượt qua chỗ lội. Việc đi lại các điểm tựa nam sân bay diễn ra trong trật tự và Uynpát hướng đến các điểm tựa nam sân bay:
“Giữa đường, một lính lê dương báo cho tôi là có một người, Thư của trung sĩ Đenphốt gửi cho bố mẹ của trung úy Payơrê. bị thương nằm trong một thửa ruộng, cách chúng tôi khoảng 40 mét. Tôi bảo anh ta đến xem có phải là người của chúng ta không. Anh ấy đi và gọi tôi: đó là một người của ta bị thương nặng. Tôi đến chỗ họ, người đó bị dính đầy bùn, nói là bị thương ở bụng và khẩn khoản yêu cầu đưa anh về tiểu đoàn 1 dù ngoại”.
Uynpát giao cho hai người khiêng cáng đưa người bị thương này về phía sau và trở lại "một cách nhanh nhất" để đi phản kích. Rôgie Uynpát, tốt nghiệp võ bị Xanh Xia khóa "Gariglianô", không nhận ra người bị thương dính đầy bùn nhưng đó chính là một người bạn đồng khóa của anh, Đôminíc đờ Payơrê. Điều đó đã nói lên người bị thương ở trong tình trạng như thế nào. Những người cáng thương đưa anh đến một địa điểm có tên là "Nghĩa trang’, và họ trở về đơn vị mình. Trong lúc đó ở sở chỉ huy của tiểu đoàn 1, trung đoàn 4 Ma rốc, chắc là người ta được Đenphốt cho biết là Payơrê bị thương và đại úy Lacrôzơ cử thượng sĩ nhất Panarôni và trung sĩ Sômácxen đi theo sau đại đội Capâyrông với nhiệm vụ đưa viên sĩ quan về . Hai người này đã tìm thấy anh trên bờ hào, nơi mà những người cáng thương đã để anh lại. "Tôi tìm thấy ông ấy lúc 6 giờ sáng, Panarôni chứng minh. Ông ấy yếu đi nhiều vì mất máu và đau đớn nhưng vẫn cố chịu đựng".
Đenphốt nói Payơrê bị thương khoảng 2 - 3 giờ sáng. Bị mảnh đạn vào bụng và vùng thắt lưng, Payơrê đã qua hơn bốn giờ không được săn sóc. Một giờ nữa lại qua đi để chờ bác sĩ Prêmiliơ khám cho. Người ta đưa anh đến "trong một tấm bạt lều, gào lên vì đau đớn và đòi chết. Tôi cho chuyển anh đến trạm giải phẫu của Hanz, ở đấy, dù đã xử lý bằng huyết tương và moócphin, cũng không thể duy trì được cuộc sống cho anh”.
Một cha tuyên úy ở bên cạnh người bị thương và bác sĩ Prêmiliơ lực bất tòng tâm, đã chứng kiến giây phút cuối cùng của Payơrê. Anh đã chờ quá lâu, mất máu quá nhiều, không còn sức lực nữa mà phấn đấu để sống. Anh là người tốt nghiệp võ bị Xanh Xia thứ ba, khóa "Gariglianô" phục vụ ở tiểu đoàn 1, trung đoàn 4 Ma rốc bị tử trận. (Chú thích: Sinh năm 1930. Đôminíc Bonnê đờ Payơré nhập ngũ năm 1949. Anh được ghi vào danh sách đi Đông Dương. Anh lên tàu tháng 12. được cử về tiểu đoàn 1, trung đoàn 4 Ma rốc ngày 28, anh được không vận cùng tiểu đoàn lên Điện Biên Phủ.)
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên

Bài viết: 595
|
 |
« Trả lời #212 vào lúc: 19 Tháng Bảy, 2008, 09:27:11 pm » |
|
Chương XIV "CHÀO ĐÓN CÁC BẠN TRÊN CÁCLÔLÔ" Caxtơri không phải là người biết những bí mật tối thượng và Nava không nói với ông ta ý tưởng của mình về "một cuộc ngừng bắn đơn phương". Tư lệnh GONO như vậy không phải quan tâm việc gì khác ngoài việc tiến hành trận đánh của mình. Trước ủy ban điều tra của Caxtơri, ông nhắc lại rằng " các mệnh lệnh đã nhận được có tính chất tuyệt đối, không có chuyện lơi lỏng được. Ngoài ý thức cá nhân ra, có thể là ý thức về điều ấy, tôi được lệnh phải giữ vững và giữ càng lâu càng tốt". Đằng sau những yêu cầu về các phương tiện bổ sung mà Caxtơri nêu lên, có bóng dáng của Lăng le "nhà tiêu thụ" hàng đầu của tập đoàn cứ điểm, nhờ sự trung gian của GONO, từ cuối tháng 4, đã không ngừng đòi giữ một tiểu đoàn dù mới. Ở Hà Nội ai đó đã có ý kiến rằng Lăng le tiêu thụ quá nhiều. Từ ngày 13-3, người ta đã thả dù cho ông. Tiểu đoàn bảo an của Bôtenla, tiểu đoàn 6 dù thuộc địa của Biga, tiểu đoàn 2, trung đoàn 1 dù của Brêsinhắc và cuối cùng, tiểu đoàn 2 dù ngoại quốc của Liêdenphen. Lăng le luôn luôn chưa thỏa mãn " Người ta từ chối các ông về tiểu đoàn mới?", ông Chủ tịch ủy ban điều tra lo lắng. Lăng le hiểu rằng đại tá Sôvanhắc không thể tự mình chủ động gửi một tiểu đoàn dù khác. Ông phải được Nava bật đèn xanh. Lăng le thừa nhận đã gây sức ép mạnh mẽ với Sôvanhắc nhưng ông "không tự động đề xướng mà không báo cho tướng Đờ Caxtơri biết, Đờ Caxtơri đã đồng ý về vấn đề tăng viện bằng đường không". Rồi ông dốc túi: “ Điều mà tôi trách đại tá Sôvanhắc, nhất là đã ngăn cản việc gửi các tiếp viện không thả bằng dù. Có một trận đánh đang diễn ra, người ta muốn nó được lâu dài. . . Muốn nó kéo dài phải gửi người đến bởi vì người ta tiêu thụ khoảng 100 người mỗi ngày. Vậy thì phải nhận nhiều. Một trăm người mỗi ngày. Để gửi họ, chỉ có việc kêu gọi những người tình nguyện, đeo vào lưng họ một cái dù và đẩy họ ra qua cửa máy bay ... Người tình nguyện, có hàng ngàn, mọi người đều biết, bộ tư lệnh các đơn vị đổ bộ đường không muốn cấp bằng cho những người đó. Đó là điều phi lý. Đòi phải có bằng là đế loại bớt một phần, là làm gãy chân một phần những người khác và để gửi các tăng viện đầu tiên cho tôi vào tháng 5 mà tôi lại cần ngay bây giờ. Cần có một quyết định của tướng Nava để sau đó ít ra là mười ngày tranh cãi không dứt, đạt được việc cho phép các người tình nguyện nhảy dù xuống”. Những người đầu tiên không có bằng nhảy dù đã xuống mặt đất trong đêm 16 rạng ngày 17-4 và cho đến ngày 4-5, 680 người tình nguyện sẽ nhảy dù. Những vụ từ chối nhảy có lẽ đã được ghi nhận, nhưng làm sao khác được? Giữa sự hăng hái ghi tên vào danh sách "để sát cánh cùng các bạn" và cái thực tế của cửa máy bay đang mở ra trên một thế giới hỗn loạn, đen tối và ồn ào, lấm chấm những vụ nổ và đạn vạch đường, có một sự khác biệt căn bản: ở bên này người ta còn cười còn ở bên kia là cái chết đã đoán trước. Ngày 1-5, Nava đồng ý gửi tiểu đoàn 1 dù thuộc địa của đại úy Badanh đờ Bơzông. Tham chiến ở Lào từ đầu năm cùng với tiểu đoàn 6 của Biga và tiểu đoàn 2, trung đoàn 1 dù của Brêsinhắc, tiểu đoàn 1 dù thuộc địa đã có những trận đánh ác liệt. Đại úy Maranh của đại đội 1 và trung úy Uêbe đã bị chết. nhưng Việt Minh buộc phải rút và Badanh đã kết hợp với một cuộc hành quân không vận vào Mường Sài. Rồi lính dù của ông đã canh gác sân bay Cát Bi trước khi đến Gia Lâm chờ nhảy dù xuống Điện Biên Phủ. Trung úy Phốtxuynê đã kế nhiệm đại úy Mác tanh và đại úy Pugiê, cựu sĩ quan hầu cận của Na va, tạm thời chỉ huy đại đội 4 của đại úy Tơrêhiu bị vỡ mắt cá ở Mường Sài. Cuộc nhảy dù kéo dài nhiều đêm, ba, có thể là bốn. Vì hỏa lực phòng không dày đặc và tình trạng chật hẹp của khu vực nhảy, không còn thể thả một tiểu đoàn trong một đêm. Ở đại đội 4, trung úy Đuypirơ ngày 4-5 viết thư cho bố mà anh gọi âu yếm là "pater". Đợt đầu tiên đã nhảy hôm qua. “ Con vẫn luôn luôn ở Hà Nội đợi ngày lên đường đi Điện Biên Phủ. Hai đại đội đã nhảy và tối nay đến 1ượt chúng con, tinh thần rất tốt. Con viết thư cho bố vì con không muốn mẹ phải lo lắng. Lên trên đó không thể viết nữa nhưng tiểu đoàn sẽ gửi điện để thông báo tin tức gần như là hai ngày một lần. Ngược lại thư từ có thể đến với chúng con. Vậy bố đừng quên viết thư cho con nhé”.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên

Bài viết: 595
|
 |
« Trả lời #213 vào lúc: 19 Tháng Bảy, 2008, 09:28:32 pm » |
|
Đuypia kết thúc thư bằng: "nụ hôn thắm thiết” để che giấu sự xúc động mà anh chẳng có thì giờ cũng chẳng có ý chí để thể hiện. Giăng Mari Đuypia - mà người thân gọi là Gianíc - cố gắng cứng rắn lên để khỏi phải nghĩ đến bố mẹ, ở lại cùng Xanh Amănglêzô nơi ông bố làm nghề buôn bán ngũ cốc; nếu chỉ trong một giây thôi, nghĩ rằng có thể mình sẽ không bao giờ được gặp lại sáu anh chị em của mình thì anh có nguy cơ xỉu xuống, và cảm thấy tinh thần của mình sẽ bị tháo tơi ra như một chiếc dây cũ kỹ. Vậy thì "nụ hôn thắm thiết” và người ta phải trở lại để quàng dây dù vào người.
Một trong những người cuối cùng nhảy xuống là một sĩ quan dự bị phục vụ trong ngạch thường trực. Thiếu úy Gibô, cũng thế, không muốn làm bố mẹ anh ở Lơ Havơrơ lo lắng, nơi ấy anh và cô em 15 tuổi đã sinh ra. Anh viết cho người bạn gái là Mácxen Ôbanh. Viết trên giấy mang tiêu đề và phù hiệu của tiểu đoàn 1 dù thuộc địa, thư đề ngày 5-5, lúc 19 giờ 30.
“Lần này tớ được sử dụng về việc đánh nhau, Gibô hớn hở viết. Tớ lên máy bay cho một cuộc phiêu lưu lớn và máy bay sẽ cất cánh sau 4 giờ nữa. Với 1 giờ rưỡi bay, cậu thấy gần đến giờ mà tớ sẽ ra cửa máy bay nghe tiếng hô "nhảy", tất nhiên nếu pháo phòng không cho phép. Tiểu đoàn đã bắt đầu nhảy từ hai ngày trước( (đúng hơn là hai đêm). Khu vực nhảy nhỏ bé, bởi vậy bọn mình nhảy thành từng tốp 8 người. và Việt Minh cách mỗi đầu khu vực nhảy có vài trăm mét. Trận đánh sẽ kết thúc như thế nào? Không phải là người bi quan, tớ chẳng thấy gì là tốt lành và không một ai trong binh sĩ tự dối mình. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử người ta chở quân tiếp viện bằng đường không trong những điều kiện như thế. Đây sẽ là lá thư cuối cùng của tớ, tớ không có can đảm viết thư cho bố mẹ. Tớ chẳng để lại cái gì ở đằng sau tớ, không thư từ, chẳng nhật ký, như cậu đã nói ngày nào đó, đây là một thủ thuật để thoát khỏi sự phức tạp. Cậu biết cậu phải làm gì nếu tớ không thể viết nữa”.
Gibô yêu cầu Ôbanh chào hộ vài người bạn và thêm đoạn tái bút: "Chén rượu cô nhắc cuối cùng này ngon thật!".
Sĩ quan bất bình nhất của tiểu đoàn hẳn là đại úy Tơrêhiu. Khi ông biết rằng tiểu đoàn 1 dù thuộc địa sắp nhảy xuống Điện Biên Phủ, ông phản ứng như kiểu bị một viên ngói ném vào đầu: "Tôi cũng chẳng buồn nhìn binh sĩ trong đại đội tôi lên máy bay trong khi tôi ở lại mặt đất với lý do tôi bị vỡ mắt cá phải bó bột!”.
Ba mươi bốn tuổi, Tơrêhiu bắt đầu binh nghiệp lúc 17 tuổi trong hải quân nhưng sự thất trận năm 1940 đã hướng anh đi theo kháng chiến. Là thành viên của mạng lưới "Senbơn” dùng tàu tốc hạm hồi hương về nước Anh, các phi công đồng minh bị rơi ở Brơtanhơ, anh gia nhập lực lượng Pháp tự do, thực tập biệt kích và nhảy dù. Làm các nhiệm vụ ở Brơtanhơ và ở Noócmăngđi, rồi Tổng cục tình báo cuối 1944, đại úy từ tháng 10-1952, một tháng sau tàu Lơ Pastơ đưa anh đến vịnh Hạ Long. Là người Brơtông vùng Pluha, Tơrêhiu không chịu ngồi dưới đất với "cái chân gãy" trong lúc đại đội anh nhảy xuống Điện Biên Phủ "Tôi xin nói rằng nếu được băng bó chặt chẽ, tôi có thể nhảy xuống mặt đất trong những điều kiện chấp nhận được. Đại úy Badanh đã đồng ý và trả lại cho tôi đại đội 4 thân yêu của tôi còn Pugiê sẽ nắm đại đội 3”.
Thứ ba ngày 4-5, Caxtơri báo cho đại úy bác sĩ Lơ Đamany là ông sẽ đến thăm những người bị thương trong buổi sáng. Hai trạm giải phẫu (29 và 44) gồm khoảng 20 hầm trú ẩn đầy chật người, chẳng ai dám liều lĩnh hỏi xem thiếu tướng có định ở lâu trong những địa đạo đã quá đông người này. Đây là cuộc đi thăm người bị thương lần đầu của Caxtơri. Trung tá Tơranca, phó tham mưu trưởng, đến trước để tìm hiểu con đường mà người ta định dẫn thiếu tướng đi qua và báo tin là một cuộc trao huy chương đã được dự định. Hạ thấp giọng, Tơranca thổ lộ với bác sĩ Grauuyn là sẽ có nhiều sự tượng trưng trong buổi lễ bởi vì, ông nói thêm, vẻ ngượng ngùng như một kẻ đi hái trộm táo, "cái túi đựng mề đay lại thả nhầm vào chỗ Việt Minh".
"Sẽ điều chỉnh sau”. Ông nói để yên lòng mọi người.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên

Bài viết: 595
|
 |
« Trả lời #214 vào lúc: 19 Tháng Bảy, 2008, 09:29:27 pm » |
|
Caxtơri đến, mặc quần sóc và sơmi cộc tay - người ta nói với ông là nhiệt độ tăng lên trong các hầm quân y - đội mũ ca lô đỏ của các kỵ sĩ Spahi (kỵ binh Bắc Phi do Pháp tổ chức ND) và chân đi giày thấp cổ. Những hào giao thông hôi thối mà ông đi qua không gây xúc cảm gì cho ông và không tỏ ý ngần ngại, ông sẵn sàng lội trong bùn, đi qua những khu vực có mùi khó chịu xông lên. Ông dừng lại ở đầu giường những con người im lặng, mắt trũng sâu, mà Grauuyn mỉm cười giới thiệu như một người đang quan tâm đến tinh thần các bệnh nhân của mình. Lơ Đamany để thiếu tướng dừng lại ở chân giường các sĩ quan bị thương, một số trong đó như Đephơlin và Rôlanh đã "vào viện" từ nhiều tuần nay. Rôngđô cũng vậy, bị mảnh đạn vào bụng tưởng là chết nhưng bây giờ tình hình đã khá hơn. Bị bận bịu vì những ca mổ mà ông làm theo "kiểu dây chuyền", Ginđrây không thể đến. Dưới ánh sáng mạnh của chùm đèn mổ, ông mải miết rạch, nắn lại, cắt dây chằng, cưa, để cứu những gì còn lại của sự sống trong những thân thể bị làm hư hại, biến dạng mà người ta đưa đến cho ông. Mổ cho thương binh có lúc phải trải qua những giờ chờ đợi trên cáng, dưới mưa gió, trong đáy một đường hào, phẫu thuật không phải là một chứng chỉ sống lâu. Các con số đã chứng minh. Trạm giải phẫu cơ động 29 của Grauuyn và trạm giải phẫu cơ động 44 của Ginđrây bổ sung cho nhau, cả hai đã nhận 636 người bị thương trong tháng 4; 201 người trong số đó đã được mổ, nhưng 78 đã chết. Có khi chết trước khi mổ, hoặc do phải chờ đợi quá lâu, hoặc vì vết thương quá nặng không còn chút hy vọng nào. (Chú thích: Ginđrây và Grauuyn không phải là ngoại lệ. Tháng 4 người ta ghi nhận ở chỗ bác sĩ Viđan (Trạm giải phẫu thả dù 6) có 269 người vào, 166 người được mổ và 39 người chết. Ở chỗ Rêđiô ở Isaben (trạm giải phẫu dù 3) có 265 người vào, 199 được phẫu thuật và 29 người đã chết. Ngày 29-4, số người bị thương do các tổ chức quân y đảm nhiệm lên đến 908. Trong tổng số này không có những người bị thương điều trị ở các bệnh xá tiểu đoàn hoặc trả lại đơn vị họ sau khi chăm sóc.)
Thiếu tướng lắc đầu trước thiếu úy Lêcuyê, anh chưa lấy lại được thăng bằng, cũng chưa nói được từ khi một viên đạn cào sọ anh. Bên cạnh trung úy Birê, bị thương vào đầu gối trong cuộc phản kích vào Huy ghét 1, trung úy Đờ Cắccơray đã hồi phục sau khi bị cắt chân; Hanhz, một lê dương trẻ của tiểu đoàn 2 dù ngoại là một điều ngạc nhiên cho thiếu tướng. Bị cắt cụt hai tay và một chân, Hanhz hòa nhập vào bệnh viện dưới hầm đến mức trở thành gương mặt tiêu biểu. Khi tinh thần một thương binh bị suy sụp, các bác sĩ hoặc cả cô Giơnơvievơ đờ Gala, đã nêu Hanhz làm tấm gương.
Bị thương ở cẳng chân, trung úy Rôlanh trao đổi vài lời với thiếu tướng, nhưng tướng không nhìn thấy hai sĩ quan khác của tiểu đoàn dù ngoại quốc mà các đồng đội của họ, được sự tiếp tay tích cực của đại úy bác sĩ Rôngđy, cho ở trong hầm để được hưởng "tình đoàn kết lê dương" vô giá: Trung úy Bonnen và trung úy Đờ Stabenrát, người đang vật lộn giữa cái sống và cái chết. Tình trạng sức khỏe chung của Stabenrát đáng quan tâm hơn là vết thương của anh và Rôngđy không ngăn chặn nổi bệnh kiết lị đang làm hao mòn người bệnh. Được chữa chạy ở Hà Nội, "Stab" sẽ nhanh chóng lấy lại thần sắc, nhưng với những tin tức thảm hại đến hằng ngày từ các điểm tựa tuyến một, câu duy nhất mà mọi người nhai đi nhai lại là "việc ấy sẽ kết thúc như thế nào?". Giữ một nụ cười dúm dó, Caxtơri đi qua những lối đi bùn lầy, quay lại phía trung tá Tơranca ở mỗi giường và nói vẫn những lời ấy: "Huy chương quân sự, Bắc đẩu bội tinh, Tuyên dương với cành cọ... Nụ cười của những người được nhận, sự hài lòng, nụ cười vô tư, xúc động, ai mà biết được? Trung úy Ruyte còn không nhận thấy mình được "tặng huy chương quân đội".
Viên sĩ quan bị thương này không nhìn thấy chiếc mũ ca lô đẹp đẽ của vị tướng vì mắt anh bị băng. Trung úy Xinvestơrơ là một trong số những sĩ quan liên lạc và quan sát âm thầm được gửi lên tuyến 1 để chi viện cho bộ binh. Sinh năm 1927 ở Moócbihan, đậu bằng nhảy dù năm 1946 (số 5829), viên sĩ quan nầy thuộc khóa Xanh Xia "tướng Phrerơ" và anh đã đến Điện Biên Phủ từ 16-3. Được chỉ định làm sĩ quan liên lạc và quan sát ở tiểu đoàn 2 Thái vào buổi chiều ngày 1-5, anh được lệnh có những chi viện cần thiết cho đại úy Perê ở Đôminíc 3. Từ một đài quan sát tạm thời, Xinvestơrơ điều khiển những làn đạn ngăn chặn của pháo 105 ở Isaben và các súng cối 120 ở vỉ trí trung tâm. Anh không thể làm hơn. Ngày hôm sau, sau khi Đôminíc 3 thất thủ, Xinvestơrơ được giao về cho tiểu đoàn 6 dù thuộc địa sử dụng.
“Một đài quan sát nhỏ được giao cho tôi, viên sĩ quan nhớ lại và chính trong khí quan sát đường chân trời để định vị những làn đạn ngăn chặn đã được vẽ trên bản đồ trinh sát, mà tôi bị thương bằng mảnh đạn ở mặt. Báo vụ viên đưa tôi về sở chỉ huy của tiểu đoàn 6 dù thuộc địa, rồi phải băng mặt nhưng tôi vẫn còn tương đối khỏe mạnh để có thể đi được Tôi đã theo những đường hào đi về hướng cầu Bailây, tay đặt lên vai một hạ sĩ quan. Trên chiếc cầu bị những làn đạn nổ trên không quét dọn, một chiếc xe Jeep vừa đến, và tôi vừa kịp leo lên xe thì nó đã lao đến trạm phẫu thuật dưới đất và tôi đã được bác sĩ Viđan mổ”.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên

Bài viết: 595
|
 |
« Trả lời #215 vào lúc: 19 Tháng Bảy, 2008, 09:30:43 pm » |
|
Xinvestơrơ gặp điều không may là ở rìa của một chùm đạn 120 cho nên ngoài một vết thương ở khuỷu tay phải, mặt và sọ cũng bị thủng nhiều chỗ; một mảnh đạn đã đi qua mũi và làm gãy xương mép dưới mắt trái trước khi làm nổ mắt. Một mảnh đạn khác đã trúng vào phía trên mắt phải, mắt đã nhắm lại vì "quả đấm" nhưng vẫn nguyên vẹn.
“Tôi hiểu rằng các y tá rất bận bịu vì các yêu cầu, anh nói thêm, cho nên tôi không bao giờ đòi hỏi cho biết rõ ràng, cụ thể về những vết thương của mình, mà tôi không biết gì hết. Tôi chẳng có lý do gì để phàn nàn cả vì tôi không đau nhưng đã nhận thức được là mình bị mất một con mắt. Ít lâu sau cuộc đi thăm của tướng Đờ Caxtơri, tôi vén cái băng ở phía phải lên và tôi thấy màu mờ mờ của một bóng điện, điều đó làm tôi yên tâm bởi vì dẫu thị lực giảm, tôi vẫn giữ được một con mắt”
Khởi đầu từ những khúc quanh ẩm thấp của những đường hào giao thông nối liền các hầm quân y, cuộc đi thăm của thiếu tướng đã dừng lại trước căn hầm thứ hai mươi. Thời gian trôi qua và ở sở chỉ huy của GONO, người ta tự hỏi về cuộc tấn công sắp tới của Việt Minh. Lily 3 đã sụp đổ trong đêm và trung úy Payơrê rốt cục không được chết ở trạm phẫu thuật của Hanz. Ở chỗ thiếu tá Clêmăngxông, mỗi người tuy không nói ra nhưng nghĩ rằng đi từ bắc xuống nam, lần lượt quét sạch những cứ điểm này đến cứ điểm khác ở tuyến một, Huy ghét 7 của Spôgiô, rồi Huyghét 1 của Sơvaliê, Huy ghét 5 của Luyxiani. Lily 3 của Pêranh, mục tiêu sắp tới của Việt Minh hoàn toàn lôgíc sẽ là Clôđin 5. Cuộc tấn công sẽ gây ra bao nhiêu người chết và người bị thương? Người tả sẽ phải làm gì với những người phê bình mới, với tình hình hiện nay trong các hầm trú ẩn?
“Với bạn đồng nghiệp của tôi là Staécman, bác sĩ Vécđaghê chứng minh, chúng tôi đã tập hợp ở Huy ghét 3 hơn 200 người bị thương của hai tiểu đoàn của chúng tôi. Tôi trực tiếp chăm sóc 10 người bị thương, lồng ngực phát triển thành viêm màng phổi có mủ (chọc hút, tháo ra, rửa bằng dung dịch kháng sinh...). Họ được "ở" trong những căn hầm của nhân viên bỏ trống vì những người ở trước nay đang ở các điểm tựa ngoại vi. Về ăn uống và bài tiết, thì còn kém hoàn hảo nhưng có sự giúp đỡ lẫn nhau và bên cạnh những vấn đề khác, chuyện này không khiến chúng tôi bận tâm lắm. Staécman và tôi có đầy đủ một chục y tá thạo việc (trong đó có một lê dương là thầy thuốc chuyên khoa miệng của Đức). Chúng tôi tính rằng việc bố trí lực lượng đã được thu hẹp và phải nhờ đến sự đóng góp không phải là ít của các y tá đại đội. Bốn phụ nữ người Việt trong tiểu đoàn hành quân của quân lê dương giấu trong điểm tựa đã tỏ ra rất tận tụy, với sự hiện diện và nữ tính của họ, đã có sự giúp đỡ đáng kể đối với những người bị thương nặng nhất của chúng ta”.
Ở Hà Nội, việc lắp biên cho bộ máy nghiền người được khởi động lại ngày 3-5 vào buổi tối. Đại đội 2, tiểu đoàn 1 dù thuộc địa của đại úy Étmơ lên máy bay và đội hình đã cất cánh với sự hiện diện của đại tá Sôvanhắc "kẻ thù thân thiết" của Lăng le. Là SAS cũ (bằng 2266), cựu huấn luyện viên nhảy dù ở Vannơ - Mơcông, Étmơ là một khuôn mặt của giới nhảy dù và rời Hà Nội đối với ông là một sự dằn vặt về tinh thần. Là nữ y tá ở bệnh viện Lanétxăng, Marizơ, vợ anh, đang có thai 8 tháng và Étmơ hối hận đã có ý nghĩ dại dột rằng có lẽ mình sẽ không bao giờ biết mặt con. Trước khi đi anh đã khuyên Marizơ về nước sinh con.
Ở Điện Biên Phủ khi đại đội 2 tập hợp lại ở mặt đất, đại tá Lăng le vội chạy đến với người bạn Étmơ mà ông ôm hôn thắm thiết như anh em và báo cho Étmơ biết ông vừa gửi điện cho Marizơ báo cho cô biết là ông xã đã đến nơi "an toàn". Đêm sau, đại đội 3 của đại úy Pugiê, đeo dù ở chân máy bay và viên sĩ quan ngạc nhiên thấy trong hàng ngũ, không chỉ có một người được hồi hương mà ông đã thuyên chuyển về căn cứ phía sau mà cả những người ốm nằm viện nay bỗng nhiên xuất hiện và giải thích rằng họ đã hoàn toàn bình phục. Một người trong bọn họ nói với giọng khúm núm làm như người ta lấy lại quà đã tặng cho anh: "Thưa đại úy em không thể bỏ lỡ dịp được!”
Trung úy Néctu thuộc đại đội Pugiê, nhớ lại là trước khi đi "đại tá Sôvanhắc đã đến lưu ý mọi người về tầm quan trọng và các khó khăn của cuộc nhảy dù: không có khu vực nhảy thực sự, cọc tiêu chỉ gần đúng thôi còn hỏa lực cao xạ thì mãnh liệt và liên tục”.
Sau bài diễn văn để củng cố tinh thần đó, quân dù ngồi vào các ghế dài có thể hạ xuống và các máy bay Băng giô cất cánh, mang theo cùng với họ một phần của đại đội chỉ huy của đại úy Penduýp.
“Sau một cuộc bay vô sự ở độ cao nhỏ, Néctu kể, tình hình đã xấu đi ở trên bầu trời Điện Biên Phủ, máy bay phải quay vòng trên các lớp mây. Chiếc Đacôta mà tôi đi, bay xuống một cách chóng mặt để có một độ cao hợp lý cho việc thả dù - giữa 100 và 200m - giữa những đường đạn vạch đường và những tiếng nổ của đạn cao xạ, trong lúc một đèn chiếu quét tìm nó để cho bắn hạ nó trước khi nó bay lên cao. Đó là phương pháp: làm thế nào để máy bay đổ các toán dù ra một cách nhanh nhất rồi quay về nhờ mây che khuất. Tôi nhảy xuống một bãi đất đầy dây kẽm gai đã tháo rời và những hố đạn bùn lầy, cúi đầu theo quán tính dưới các làn đạn. Tôi tập hợp được một số người của trung đội gồm 14 người Âu và cũng chừng ấy người Việt. Ba người trong số đó đã bị thương, được săn sóc ở tiểu đoàn 8 xung kích và tôi đã trao lại trung úy Bayi gói thư mà người ta giao cho tôi”.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên

Bài viết: 595
|
 |
« Trả lời #216 vào lúc: 19 Tháng Bảy, 2008, 09:31:50 pm » |
|
Đêm ngày 4 rạng ngày 5-5, đại úy Badanh và những người còn lại của trung đội chỉ huy, trong đó có thiếu úy Gibô - nhảy cùng với một bộ phận của đại đội 4 của Tơrêhiu xuống chiến trường mà hàng trăm viên đạn nổ, những chùm đạn cao xạ và đạn vạch đường tấn công vào bầu trời, những chùm ánh sáng của các đèn chiếu Việt Minh truy tìm máy bay và những tia chớp, hàng ngàn tia chớp không rõ nguồn gốc làm chói mắt các binh sĩ nhảy dù khi họ đứng vào khung cửa máy bay, tất cả những luồng ánh sáng đó giao nhau, giống như những đoàn tàu hỏa bốc cháy. Lóe mắt vì ánh sáng, các binh sĩ dù có cảm giác rằng họ đang bị những nhà săn ảnh đến đón tiểu đoàn 1 dù thuộc địa, bấm đèn chớp lia lịa trước mặt họ.
“Chiếc Đacôta của đại úy Đênoaiê mà tôi ở trên đó, thực hiện vòng bay đầu tiên giữa những chùm đạn vạch đường rất lớn nhưng đợt thả đầu đã được thực hiện hoàn hảo, hạ sĩ nhất Moren kể lại. Vài phút trước khi thả đợt hai, máy bay bị trúng đạn cao xạ, chúng tôi bị lắc mạnh, gây nên sự hoảng sợ. Người thả, trung sĩ nhất Patítxông không hề mất bình tĩnh vẫn thả được 4 người. Tôi là người thứ tư, những người khác không gặp may (nguyên văn), họ trở về Hà Nội” (Báo cáo của Rôbe Moren).
Badanh giận điên người: trong ba đêm, 402 lính dù của đơn vị ông, trong đó 160 người Việt, đã nhảy, 402 trên một quân số 876. Gần một nửa tiểu đoàn đã bị tách ra khỏi quyền lực của ông? Còn một hy vọng: đêm sau, đại đội 1 của trung úy Phốtxuyriê sẽ nhảy, quân số sẽ được tăng thêm chừng ấy. Chân bó bột của Tơrêhiu khi chạm đất vẫn giữ được bột nhưng khi anh kiểm điểm lại tình hình của đại đội anh, anh còn giận dữ hơn Badanh. Quân số có 142 người, anh chỉ tập hợp được 86. Khi Badanh yêu cầu Lăng le xác nhận rằng số còn lại của tiểu đoàn ông sẽ được thả đêm ngày 6 rạng ngày 7-5, "chàng trai Pie" giơ tay lên trời; tình hình Điện Biên Phủ đêm sau sẽ như thế nào?
Với những quân dù thả xuống vị trí trung tâm, việc tháo dù dưới hỏa lực là một sự khởi đầu gian nan. Họ không hình dung được rằng cuộc chiến tranh Đông Dương lại trở thành một chiến trường khép kín như thế này mà các vị trí quân bạn thì bị pháo binh Việt Minh bắn bằng mắt nhìn thấy, với những nơi ở của thương binh, giống những nhà cứu tế của những người già sắp chết, ở đó dồn lại hàng trăm người bị thương mà chẳng ai có thể bảo vệ nữa, ngay cả lá cờ hão huyền của Hội Chữ thập đỏ! Điện Biên Phủ chuẩn bị chết rồi thế mà Na va vẫn cho phép tiểu đoàn 1 dù thuộc địa đến để được trụng nước sôi trong lòng chảo?
Đại đội Étmơ được đưa về Êlian 2 để tăng cường cho tiểu đoàn 1, bán lữ đoàn 13 của thiếu tá Rô be Cutăng giữ đỉnh đồi với hai đại đội, kể từ khi mà người ta rút bớt của ông đại đội Capâyrông. Sau một đêm ở Êlian 3, nơi mà nhiều người bị thương được điều trị và băng bó chờ đợi cơn ác mộng kết thúc, đại đội Pugiê được lính Ma rốc của đại úy Nicốt thay phiên. Biga cử Pugiê đến gặp Étmơ ở Êlian 2 mà ông sẽ nắm quyền chỉ huy.
"Còn tiểu đoàn Cutăng? Pugiê hỏi.
- Nó sẽ xuống đồng bằng làm dự bị. Cutăng cần được thở một chút".
Pugiê leo lên vào sáng ngày 5-5; trời mưa. Được ngụy trang trong các căn cứ hỏa lực của Việt Minh trên núi Phíctíp và núi Sô vơ, các khẩu cối và pháo không giật đón chào ông và là điều có lợi để thu hút các lính dù vào nhiệm vụ mới và thích nghi với nó. Một hình ảnh tượng trưng, bộ quân phục chiến đấu mới tinh của họ đã bị lấm bùn và khi vượt qua hệ thống rào không phải không bị rách.
“Đại úy cử chúng tôi đến thay phiên cho lính lê dương, Néctu xác nhận. Hầm hố ở đây tương đối thoáng. Chúng tôi chạy, đầu cúi xuống bờ hào, giẫm lên nhiều xác chết còn để tại chỗ. Hệ thống đường hào khó đi lại vì bùn lên đến tận đầu gối. Tôi nhớ mãi hình ảnh về sự sinh sản nhanh chóng khó tin được cửa những con dòi, chúng chui vào khắp nơi và cái mùi ghê tởm tỏa lên từ mặt đất”.
Binh sĩ tiểu đoàn 1 dù thuộc địa củng cố hầm hố với bất cứ cái gì họ vớ được và cố trốn tránh một cách vô ích cái chướng khí lộn mửa là là trên mặt đất. Không thể chôn cất tất cả các xác chết, trong đó có những xác chết đã đợi chôn cất từ cuộc tấn công 30-3. Khi gió thổi mùi ô uế lên đồi, mỗi người vui mừng vì rốt cuộc đã có cảm giác được hít thở nhưng thời gian ngừng đó ngắn ngủi, lính dù và lính lê dương trước họ, phải tuân thủ những đòi hỏi của chiến tranh. Điện Biên Phủ đã trở thành nơi chất xác chết. Điện Biên Phủ có mùi tử thần. Đôi khi, tiếng vọng trả lại tiếng rít khô khan của một viên đạn bắn lén rồi một loạt đạn 105 ập xuống Êlian 2 và một vài phút im lặng lại diễn ra trên điểm tựa. Pugiê ở trong hầm rượu làm sở chỉ huy mà trước ông, Nicôla và lính Ma rốc, Ghirô và lính lê dương đã kế tiếp nhau, rồi đến Cutăng và tiểu đoàn 1, bán lữ đoàn 13 mà binh sĩ đã chẳng đợi phải yêu cầu mới đi khi họ biết là mình được thay phiên. Nhưng điều không may lại xen vào, một quả đạn nổ ở đại đội 2 tiểu đoàn 1, bán lữ đoàn 13, quân lê dương nằm rạp xuống đất. Một người trong bọn không đứng dậy nữa, đó là đại úy của họ. Tiểu đoàn mất vị đại úy thứ ba kể từ đầu chiến dịch. (Chú thích: Sinh năm 1917, Camiơ Sunê nhập ngũ 1936. Trung sĩ 1940, bị xem là mất tích ở Bỉ, ông đã trở lại phòng tuyến của mình. Bị bắt làm tù binh ngày 25-5 ở Bulôxuyếc Me. Hồi hương tháng 3-1945. Vào du kích tháng 2-1944. Thượng sĩ nhất tháng 2-1945, thiếu úy tháng 6, trung úy 1946. Tháng 7 huấn luyện viên gỡ mìn ở Xanh Xia, cưới Giannơ Phuê, có 3 con trai. Tình nguyện vào lê dương, đến Sidi Ben Apbe tháng 11-1951, đi Đông Dương tháng 1-1952, đại úy ngày 2-1. Đến Hải Phòng ngày 16-2. Bổ dụng về bán lữ đoàn 13 lê dương ngoại quốc, được không vận lên Điện Biên Phủ.)
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên

Bài viết: 595
|
 |
« Trả lời #217 vào lúc: 19 Tháng Bảy, 2008, 09:33:09 pm » |
|
Đó là Sunê mà ông bạn Rastuin mô tả cho Pierét là "một đại úy hơi luống tuổi chắc là một hạ sĩ quan cũ. Anh nghĩ rằng anh ấy đã có 22 hoặc 23 năm công tác, như vậy phải ở lớp tuổi 40-45. Anh là người Paloa có giọng nói của người Bêácnơ. Vì anh ở bán lữ đoàn 13 lê dương ngoại quốc, anh đội một mũ bê rê bằng ka ki thảm hại, theo kiểu Bêácnơ, có một cái mỏm ở phía trước. Anh ấy nhỏ hơn anh, khô như cái que".
Trước khi rời vị trí, binh sĩ chôn cất vị đại úy của họ trong một tấm vải bạt lều cùng với một cái chai đựng những thông tin về lý lịch. Dẫu xảy ra thảm kịch, Cutăng và phó của ông là đại úy Gioócgiơ, hình như không vội vã trở về Giuynông. Giải thích cho Pugiê biết anh có thể qua một đêm nữa ở sở chỉ huy của Êlian 2, Cutăng ra lênh cho Gioócgiơ đem quân về. Thực ra, Cutăng giấu một bí mật mà ông cho rằng nói với Pugiê chẳng có ích gì. Bốn mươi ba tuổi, quê quán ở Đơ Xevơrơ, ông đã cầm đầu cơ quan an ninh quân sự của binh đoàn lê dương năm 1953 và khái niệm bí mật ở còn người ông là một bản chất thứ hai. Và bí mật của ông có thể là chuyện chết người: cũng như người Đức năm 1916, Việt Minh đã đào một đường hầm dưới quả đồi.
“Từ vài ngày nay, Jioócgiơ viết, chúng tôi nghe những tiếng đào dưới đất và chúng tôi đã yêu cầu các binh sĩ lê dương tạm ngừng dùng xẻng vào việc củng cố hầm trú ẩn bị pháo Việt Minh làm hư hỏng để khỏi lẫn lộn giữa tiếng cuốc của Việt Minh và của chúng ta. Nói chung, những tiếng động đó lẫn vào tiếng nổ của đạn pháo, vì thế không dễ mà phân biệt. Tôi nghĩ rằng Việt Minh đã đào xong từ 24 đến 28 giờ khi cuộc thay quân diễn ra”.
Pugiê xác nhận là Việt Minh đã im lặng - trong đường hầm ngầm - từ hai ngày nay; ông nói thêm rằng Cutăng không nói gì với ông. Vả lại, quân dù làm được gì nếu biết Việt Minh đặt chất nổ dưới chân họ? "Chẳng làm được gì trừ việc rút vị trí mà điều này thì loại trừ”.
Giữ im lặng, Cutăng tránh cho quân dù khỏi toát mồ hôi lạnh và nêu một bài học đẹp về tinh thần gan dạ cho binh sĩ của mình với quyết định chỉ đến ngày mai mới trở về Giuynông sau khi qua đêm cuối cùng ở Êlian 2. Người ta hiểu rằng lính lê dương không chậm lại khi thay phiên. Gặp họ trên đường vào, một số trong bọn họ còn thét vào tai lính dù: "Sẽ chào đón các bạn trên cÁclô lô?". Lô lô, người ta hiểu rằng đó là các điểm tựa Êlian.
Binh sĩ của tiểu đoàn 1 dù thuộc địa không biết rằng vị trí của họ là một mục tiêu mà Việt Minh ôm ấp hy vọng chiếm được từ tối 30-3. Sáng ngày 6, trung úy Néctu nhận xét "mưa gió mùa tạm yên, điều đó không ngăn cản sự quấy nhiễu của Việt Minh. Chúng ta phải ra khỏi vị trí để, một mặt đẩy lui những thợ đào đắp đã đào suốt đêm và mặt khác phá hủy những đường hào nhánh. Đêm nay, những đường hào gần nhất chỉ cách hầm trú ẩn của chúng ta 30 mét".
Sau khi uống một ca cà phê nóng bỏng, ca đầu tiên trong ngày, Lăng le và Biga dùng "tàu điện ngầm", hào giao thông dẫn đến phía sau của Êlian 4, vị trí chủ chốt của trận địa phòng ngự trên tả ngạn Êlian 2 và Êlian 4 là Êlian Thượng mà công sự phòng ngự đều hướng về phía mặt trời mọc. Trong thung lũng, tiểu đoàn 6 dù thuộc địa ở Êlian 10 và cùng một lúc theo dõi lối ra của các Đôminíc và của Êlian 4. Ngang tầm các ruộng lúa chắn lối vào cầu Bai lây, Êlian 3 do đại đội Nicốt thuộc trung đoàn 4 Ma rốc canh giữ. Ở Êlian 12, cũng ở dưới đồng bằng, thiếu tá Sênen làm cứ điểm con nhím với hai đại đội cuối cùng của ông thuộc tiểu đoàn 2 Thái và hai trung đội lê dương do thiếu tá Clêmăngxông cử đến. Gần một ngàn người đã ở quá lâu trên phòng tuyến. Trước mặt, các trung đoàn Việt Minh cứ 48 giờ lại được thay phiên!
Ở Êlian 4, sở chỉ huy của Brêsinhắc đóng trong một hang núi đào bằng cuốc chim và cuốc các hốc mở trong vách tạo rất nhiều nơi trú ẩn cho binh sĩ. Lăng le và Biga thông báo cho "Brétsơ" về sự chi viện của tiểu đoàn 1 dù thuộc địa dành cho ông, chắc là đại đội 4 của đại úy Tơrêhiu và Ban tham mưu của tiểu đoàn với đại úy Badanh. Brêsinhắc không đòi hỏi gì cả, chẳng tiếp viện, chẳng đạn dược; nếu Lăng le có ông ta sẽ gửi cho Brêsinhắc. Từ khi các đại đội Sáclơ, Minô bị tiêu diệt và Pêriu chết, tiểu đoàn chỉ còn lại đại đội Clêđíc; trung úy Lơghêrê là chỉ huy dự bị. Còn bệnh xá thì hoạt động không có bác sĩ. (Chú thích: Trung úy bác sĩ Ăngđrê Giuốcđăng bị thương ngày 14-4 bởi "các mảnh đạn cối ở vùng xương chậu ngoài và ở một phần ba phía trên đùi". Sau khi được săn sóc, ông xin về Êlian 4.)
"Ngày 6-5, Clêđíc xác nhận, đại đội tôi gồm những đơn vị của các đại đội khác, 100 người khỏe mạnh trong đó trung úy Pốtchiê, trung đội người Nùng của tôi, và trung úy Xêdarini cùng với các khẩu cối của anh. Cũng bố trí ở Êlian 4, đoàn bảo an của thiếu tá Bôtenla cũng chẳng tốt hơn đâu".
Tiểu đoàn 5 dù Việt Nam chủ yếu bị rút lại còn đại đội của đại úy Phu và những người thoát nạn của đại đội 3 giao lại đại úy Ghiơminô. Tiểu đoàn còn không đủ 150 người bởi vì nó không được tính đại đội Biga phối thuộc cho tiểu đoàn 8 xung kích để giữ Ôpêra bis. Cối 60 của thiếu úy Latan bố trí trên đỉnh Êlian 4.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên

Bài viết: 595
|
 |
« Trả lời #218 vào lúc: 19 Tháng Bảy, 2008, 09:34:10 pm » |
|
“Ba hoặc bốn vị trí ở ngoài trời, bị các làn đạn Việt Minh rung chuyển, và một hầm trú ẩn đơn sơ ở gần một trong các trận địa cối tổ ong nối liền với nhau bằng những đường hào bị lấp cạn một nửa, Latan điểm lại. Bị tổn thất, trung đội khinh binh cũ của tôi đã được phân bổ vào các đơn vị khác. Tôi được trang bị một vô tuyến điện SCR 300 và mỗi ngày hai, ba lần tôi tụt xuống thấp 30 mét, ngang tầm đại đội 3 của đại úy Ghiơminô, người kế nhiệm trung úy Mácke. Tôi nhấm nháp một mẩu thức ăn và chúng tôi nghe rađiô về những tin tức Hội nghị Giơnevơ. Những cuộc tụt xuống sở chỉ huy của đại đội 3 rất "thể thao" vì Việt Minh, ở cách đó không đến một tầm súng trường trên sườn núi Phíctíp, theo dõi những di chuyển của chúng tôi và chống lại bằng các làn đạn bắn thẳng”.
Lăng le và Biga không thể hoàn thành vòng đi của họ nếu không qua Êlian 10. Họ dừng lại ở sở chỉ huy của Thômát. Tiểu đoàn chỉ còn hai đại đội ở chiến tuyến và cũng như các đại đội của các tiểu đoàn bên cạnh, phải hợp nhất lại. Hai đại úy chỉ huy các đại dội này, Tơráp và Lơ Pagiê. Đại úy Lơ Buđéc vừa ra khỏi bệnh viện nhưng với những vết thương mới, vừa lên sẹo, ông đã trở lại sở chỉ huy và được phân công làm một chỉ huy dự bị.
“Công sự của Việt Minh không ngừng xiết chặt, đại úy Tơráp nhận xét. Chúng đào ban đêm và mọi cử động về phía ta mà họ nhìn thấy sẽ bị trừng phạt bằng một viên đạn hoặc một quả đạn. Chúng tôi tiếp cận 24 trên 24 giờ. Những tổn thất của chúng ta là nghiêm trọng, đại đội tôi đã hai lần được tổ chức lại, bổ sung bằng người của đại đội 3 và 4 đã được giải thể và quân tăng viện nhảy dù xuống ban đêm. Tuy nhiên, những người cũ và cán bộ tiếp theo nhau đã biến mất...”
Tơráp và Lơ Pagiê mỗi người có 60 người. Những người bị băng bó rất đông đúc trong các hầm hào, họ di chuyển trong bùn ngập đến mắt cá chân. Họ chỉ có một ý nghĩ trong đầu: Điện Biên Phủ không sụp đổ. Nói thì dễ hơn làm và bức công điện của đại úy bác sĩ Lơ Đamany gửi từ tảng sáng ngày 6-5 về Hà Nội đã nói dài về tình hình các cơ quan quân y.
“Ngày 6-5 - chủ nhiệm quân y GONO gửi Cục quân y.
- Thứ nhất: tình hình người bị thương cực kỳ bấp bênh do lụt lội và nhiều hầm sụp đổ. Không còn chỗ.
- Thứ hai: nhu cầu khẩn cấp mọi loại thuốc - các kho thuốc của tôi bị phá hủy.
- Thứ ba: tất cả các bác sĩ khỏe mạnh.
- Thứ tư làm việc rất đáng phục: Trạm giải phẫu dù 5 (Hanz) và trạm giải phẫu dù 6 (Viđan).
Stop và hết”.
Tính đến thứ tư, ngày 5-5, quân số của GóNO (tập đoàn cứ điểm - ND) còn khỏe mạnh và bị thương nhẹ , nghĩa là những người đã trở lại đơn vi sau khi được săn sóc, lên đến 288 sĩ quan, 1116 hạ sĩ quan, 6316 binh lính và 438 quân bổ sung. Thêm vào đó 1444 người bị thương phải sơ tán và 531 người bị thương không được lựa chọn, tất cả là 1975 người. Quân số của tập đoàn cứ điểm như vậy đã lên đến 10.133 nhưng số chiến binh ở tuyến đầu chỉ non một phần ba; đó là sự bù trừ đối với một quân đội hiện đại: phải có người để vận chuyển và quản lý đạn dược, nhiên liệu, lương thực thực phẩm, xáy dựng lại các kho, sửa chữa xe tăng, pháo, phải có công binh để xây dựng lại lô cốt, đào hào, đặt mìn, sửa chữa hầm trú ẩn và đêm đêm đi thu nhặt những kiện hàng có thể đến được. Trừ bọn "chuột Nậm Rộm", mỗi người đều đóng góp cho trận dành.
Tối ngày 5, một vũ khí mới xuất hiện nhưng trong cái lộn xộn của những cuộc bắn phá và tiếng nổ, ít chiến binh có tai thính để nhận biết một tiếng rít kèm theo là tiếng gió sột soạt và một tiếng nổ giống như tiếng mở nút chai sâm banh. Nebelwerfer? (súng cối bắn đạn hóa học), một số lê dương liên tưởng đến loại vũ khí này mà gần 10 năm trước họ chiến đấu chống Hồng quân mặc quân phục Đức. Một số khác, ngược lại, lại nghĩ đến "pháo đàn ống Stalin" của Liên Xô Đây có lẽ là một vũ khí của Trung Quốc mà hiệu lực kém hơn cối 120. Dàn pháo gồm 6 ống chồng lên nhau, trên 3 ống, dưới 3 ống và những quả đạn bắn ngày 5-5 có độ tản mác đến nỗi hiệu quả gần như bằng không. Những dàn pháo này phải đến gần buổi chiều ngày 6-5, khai hỏa ở cự ly gần 2.000 mét từ phía sau các Đôminíc, điểm đạn rơi ở trong một hình vuông mỗi cạnh gần 50 mét, mới chính xác hơn và nhất là ấn tượng hơn.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên

Bài viết: 595
|
 |
« Trả lời #219 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2008, 09:00:28 pm » |
|
Bỏ qua các tuyến đầu đã bão hòa, các pháo "đàn ống Stalin" ngắm vào phân khu trung tâm. Ở Clôđin 3, đại úy Buốcgiơ nghĩ rằng "các cuộc bắn kém hiệu chỉnh. Phần lớn đạn rơi vào rào kẽm gai. Tuy vậy các pháo kích này khó chịu đựng vì, ở trong hầm trú ẩn, chúng tôi có cảm giác là mỗi quả đạn đều nhằm vào chúng tôi và khi tiếng rít của đạn bay qua đã giảm đi, quả tên lửa tiếp theo ở trong chùm đạn đạt cường độ tối đa, làm cho chúng tôi nghĩ rằng kiểu bắn tồi tệ này không bao giờ ngừng".
Sự tham gia của những vũ khí mới vào chiến dịch quá ngắn ngủi, không đáng bị trừng trị bởi một cuộc oanh kích mạnh mẽ. Còn pháo binh của trung tá Vayăng thì từ lâu đã từ bỏ phản pháo. Tuy nhiên, đối với chiến binh nào có thời gian quan sát bầu trời, cảm giác bao trùm là hoạt động của không quân đã mạnh mẽ hơn. Nhìn vào đâu cũng luôn luôn thấy một máy bay khi thì bổ nhào tấn công, khi thì thả dù hoặc thả bom. Thực ra, số lượng máy bay không thay đổi nhiều, nhưng phạm vi hoạt động đã giảm đi. Một điểm xa trung tâm còn tồn tại là các Êlian. Từ sáng sớm đến hoàng hôn, màn ba lê trên không diễn ra liên tục, nhưng trong các hầm hào, lính bộ binh bị điếc tai vì những tiếng đạn rơi, không chú ý đến việc đó. Vả lại, ý kiến của họ về việc chi viện của không quân, đã được khẳng định: các ông không quân đã mặc họ chết. Và không phải chỉ có binh lính nghĩ như vậy; đã nhiều lần cán bộ của họ có tiếng dội về sự "vô trách nhiệm hoàn toàn” của không quân. Đó là điều bất công. Riêng các phi công thuộc không quân của Hải quân, tuy nhiên họ không phải là đơn vị đông nhất, đã không bị chỉ trích. Hai phi đoàn tham gia từ đầu chiến dịch, phi đoàn 11f và 8F, đến từ các hàng không mẫu hạm Aromăngsơ và Boa Belô, thả neo ở vịnh Hạ Long. Những phi đoàn này đã được rút đi, nhường chỗ cho phi đoàn 14F gồm 25 chiếc Coócxe (Cướp biển) đến đóng ở sân bay Bạch Mai ngày 15-4. Các phi công trong lực lượng không quân của hải quân là những đứa con cưng của các chiến binh. Từ mặt đất, các chiến binh phấn khởi theo dõi các cuộc tấn công của các máy bay Henđivơ và Hencát mà tổn thất cũng tỉ lệ thuận với tinh thần táo bạo của họ (Chú thích: Ở phi đoàn 3F, trung úy Ăngđriơ bị cao xạ bắn rơi ngày 31-3, trung úy Lô giê nhảy khỏi máy bay bị cháy ngày 9-4, nhưng dù không mở. Phi đoàn 11F mất trung úy Rôbanh ngày 5-12-1953, rồi trung úy Đờ Măngđrơvin đụng phải một lèn đá ở Vịnh Hạ Long khi làm nhiệm vụ về. Trung úy Lêpinát bị cao xạ bắn rơi ngày 15-3, thượng sĩ nhất Rô be kịp nhảy dù nhưng không còn sống trong thời gian bị bắt. Ở phi đoàn 28E chiếc Privateer của trung úy Manphanôpslu bị bắn rơi ngày 12-4 và chiếc của trung úy Môngghiông ngày 8-5. Ba người nhảy dù, nhưng chỉ hai trở về, Cácpăngchiê và Kerômmơ.)
Không quân của Hải quân cũng có những máy bay oanh tạc Privateer có thể mang bom nặng 1000 pao (nửa kilôgam). Trang bị bay đêm và bay không có tầm nhìn của nó, bảo đảm khi thời tiết xấu, các máy bay 13 - 26 không xuất kích được thì Privateer vẫn đàng hoàng cất cánh. Lấy căn cứ ở Cát Bi, các máy bay này tham gia tương đối liên tục các cuộc hành quân.
"Ông có bao nhiêu chiếc? Chủ tịch ủy ban điều tra hỏi trung tá Bruynê thuộc sân bay Cát Bi - Hải Phòng
- Thưa tướng quân, có 6!".
Công việc của B26 ít nhận thấy hơn vì chúng tấn công từ độ cao khoảng 10.000 piê. Ít dùng trên tập đoàn cứ điểm vì hỏa lực cao xạ, chiếc B26 kiểu Straffer rất đáng sợ vì hỏa lực mạnh của nó; nó được trang bị 16 trọng liên 12,7 mm (8 ở trước mũi, 6 ở các cánh và 2 ở trên tháp sống lưng) và mang 8 quả bom 250 pao trong bụng. Bruynê cho rằng nếu B26 là một máy bay tấn công tốt thì "sử dụng nó làm máy bay ném bom cổ điển còn có lợi hơn".
“Uy lực hàng đầu của B26 là các quả bom và máy ngắm Norden của nó mà độ chính xác là tối ưu giữa 8000 và 11000 piê" (piê = hơn 30cm).”
Bruynê khẳng định nhờ có Norden, độ chính xác bắn của B26 "dẫu ở độ cao nào vẫn cao hơn độ chính xác ném bom bằng bổ nhào ... Nhưng B26 không nhìn thấy từ mặt đất hoặc nhìn thấy rất ít. Vì vậy, đối với lính bộ binh, máy bay họ không nhìn thấy là máy bay không chiến đấu hoặc chiến đấu kém".
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|