Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 12:35:19 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Điện Biên Phủ từ góc nhìn của người lính Pháp  (Đọc 164108 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên
*
Bài viết: 595



« Trả lời #240 vào lúc: 27 Tháng Bảy, 2008, 08:26:20 am »

chương XVI
“VÀ NHẤT LÀ KHÔNG CÓ CỜ TRẮNG”

Sau cuộc tấn công của Việt Minh ngày 13-3, đại tá Lalăng nhận được lệnh nghiên cứu khả năng về một đường ra cho quân đồn trú của ông: “Sự nghiên cứu này hoàn toàn mang tính lý thuyết vì tôi không thể biết được tình hình tương lai của quân bạn và kẻ thù. Trong những ngày đầu tháng 5, tướng Đờ Caxtơri đã nói với tôi cần trở lại nghiên cứu vấn đề này vì các khó khăn đã trở nên nghiêm trọng”.

Giả thuyết về sự kết thúc của Điện Biên Phủ đã nằm ở trong đầu óc tất cả mọi người và Caxtơri giải thích trước ủy ban điều tra rằng, trong triển vọng này ông muốn Lalăng cố gắng thoát đi bằng con đường Lào.

“Với chúng tôi ông nói thêm, điều đó khó khăn hơn và giải pháp này chỉ có thể thực hiện được nếu nó đã được chấp nhận từ sau khi Bêatơrít và Gabrien sụp đổ. (..) nó có thể giúp cứu được một phần quân đồn trú, nhưng không phải toàn bộ, bởi vì những đường mòn mà chúng ta có thể rút lui sẽ trở thành một đường số 4 mới. (Chú thích: Ám chỉ cuộc rút khỏi Cao Bằng do tướng Cácpăngchiê quyết định và những cuộc chiến đấu dữ dội diễn ra dọc đường số 4 tháng 10-1950, kết thúc bằng việc tiêu diệt các binh đoàn Lơ Pa và Sác tông.)  Một bộ phận của đơn vị đầu tiên sẽ đi qua, đoạn đầu cô thế thoát, nhưng nếu chỉ một phần ba quân số thoát ra được cũng đã là một kết quả tốt đẹp rồi".

Liệu tướng Giáp có những phương tiện để bố trí một hoặc hai trung đoàn phục kích ở điểm phía nam của tập đoàn cứ điểm, trong trường hợp ông nắm được tư tưởng ngông cuồng của người Pháp là mở một lối đi qua đất Lào? Caxtơri nghĩ rằng sự ngăn chặn hướng này là một vấn đề hão:

“Những người có tri thức về rừng rậm và những địa điểm bắt buộc phải đi qua, sẽ hiểu rằng đó là câu chuyện về trận đánh trong đường hầm, trong cầu thang hoặc trong một hành lang. Và chúng ta không thể cơ động ngoài đường mòn, họ sẽ dễ dàng ngăn chặn chúng ta, tuy nhiên, một bộ phận những đơn vị đi đầu sẽ qua được... nhất là quân dù”.

Ngày chủ nhật 2-5, ở Hà Nội, Nava họp với Cônhi và các sĩ quan chủ chốt trong bộ tham mưu của ông cùng các sĩ quan khác đến từ Sài Gòn và đại tá Crevơcơ thuộc các lực lượng ở Lào. Người ta nói về cuộc hành quân Anbatơrốtx, tóm tắt như sau: Quân lê dương và quân dù ra khỏi thung lũng, đi về phía Lào nơi có ít Việt Minh du nhập. Lộ trình theo lưu vực sông Nậm Hu hướng về cánh đồng Chum. Về phần mình, đại tá Crevơcơ kìm giữ các lực lượng địch ở vùng Sốp Nao và mở một hành lang an toàn trong lưu vực sông Nậm Hợp. Nhưng đây là vùng núi, rất hiếm đường mòn và việc bố trí các đơn vị đi đón của trung tá Gôda chưa hoàn thành trước ngày 20-5.

Người ta vẫn áy náy trước sự hão huyền của kế hoạch này mà lộ trình đại thể cũng giống như cuộc tập kích Sốp Nao hồi cuối tháng 12 của tiểu đoàn 1 dù ngoại quốc và tiểu đoàn 8 xung kích! Người ta biết rằng từ vùng rừng núi này họ đã trở về, kiệt sức sau khi đã đụng phải một địa hình hầu như không thể vượt qua được ấy thế mà người ta lại dự định ném họ lại về phía Lào lần nữa, trong khi Việt Minh đang bám theo họ, sau khi họ đã nhiều đêm không được ngủ, ăn uống thiếu thốn và mệt mỏi đến lả người? Người ta yêu cầu họ tái diễn Sốp Nao. Và bỏ rơi đồng đội bị thương. Ngay cả khi người ta dự tính để Grauuyn và Lơ Đamany lại tại chỗ, cũng có thể trong các tiểu đoàn, một số bác sĩ từ chối không chịu bỏ bệnh nhân. Caxtơri sẽ cho dốc hết các hòm đạn của những xe tăng và những khẩu pháo cuối cùng, cho bắn những viên đạn cuối cùng. Kế hoạch được minh họa trên giấy trông thật đẹp như những cuộc đấu thương trên mình ngựa ngày xưa. Nhưng trong thực tế, chắc chắn đó là một cuộc tàn sát nếu một cuộc đầu hàng nhanh chóng không được áp đặt Người ta không thể đấu gươm giữa hai ngàn cái cáng. (Chú thích: Trong báo cáo của mình, Tướng Đờ Caxtơri đòi phải xác định tác giả của Anbatơrốtx - kế hoạch rút quân do chính ông đề nghị với tướng Nava ngày 1- 5. Tuy nhiên ông xác nhận sự khởi động của ông là theo lệnh của tướng Cônhi.)

Nhưng Nava cho rằng GONO còn có thể giữ được. Điều đó đối với ông có nghĩa là: cho đến khi có kết luận của các cuộc thương lượng ở Giơnevơ. Nhưng Pari không muốn có đầu hàng ở Điện Biên Phủ và Nava không dự kiến tới sự triệt hạ binh đoàn đồn trú dũng cảm này bằng hỏa lực; ông thích Anbatơrốtx hơn. Hoặc một cuộc ngừng bắn, vì ông đã viết 1 thư cho Êli. Cônhi thì muốn thà tăng thêm các cuộc thả dù 1 để đem lương thực thực phẩm đến và chiến đấu giữ vững quân đồn trú cho đến một cuộc ngừng bắn. Tuy nhiên, để tuân lệnh, ông cho nghiên cứu Anbatơrốtx và nhấn mạnh rằng không chỉ tốn kém mà còn phá vỡ tinh thần binh sĩ. Việc bỏ lại những người bị thương sẽ đụng đến sự nhạy cảm đồng đội của họ. Nava không nhượng bộ vì ông cho rằng: bản thân Cônhi sẽ xác định những thể thức và thời hạn của Anbatơrốtx. Việc sơ tán một phần Điện Biên Phủ được chuẩn bị trong vài ngày và việc chi viện của không quân đã được dự tính cho suốt cả kế hoạch "Bất kể điều kiện thời tiết như thế nào".
Logged
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên
*
Bài viết: 595



« Trả lời #241 vào lúc: 27 Tháng Bảy, 2008, 08:27:31 am »

“Sáng ngày 6-5, tôi họp các tư lệnh binh đoàn - Caxtơri báo cáo, tôi nói với họ: "Thế nào, các ông có đồng ý ngày mai thoát ra không? Tôi đã chia, phân bổ những người muốn đi những người tình nguyện, thành ba bộ phận: Isaben với Lalăng, quân lê dương với Lơmôniê và Vađô, quân dù với Lăngle và Biga. Còn tôi, tôi ở lại với ba tiểu đoàn và pháo binh để dò đường quân địch, gây càng nhiều tiếng động càng tốt và yểm trợ cho các đơn vị ra đi, cũng là bảo vệ người bị thương. Tôi giữ Tơranca lại với tôi và cho “tùy nghi di động" đối với những người muốn thử. Xêganh Pazít, tham mưu trưởng của tôi, xin đi và tôi đã cho phép, nhưng đó là một giải pháp tình thế”.

Trong vài ngày, Anbatơrốtx là chủ đề của một cuộc phổ biến hẹp, nhưng khó nói được rằng các sĩ quan cao cấp không hay biết gì trong một thời gian dài. Sáng ngày 6-5, sự thoát ra có vẻ như có thể thực hiện được và thành một "Giải pháp ít xấu nhất", bởi vì theo quan sát của máy bay và những bức ảnh cuối cùng ném xuống GONO thì chỉ có một đường hào của Việt Minh vắt qua lộ trình phía nam. Mọi việc sẽ thay đổi trong đêm chiến đấu cuối cùng, giữa ngày 6 và ngày 7-5.

Mười giờ sáng ngày 7, Caxtơri nhận một cuộc gọi của Cônhi, ông báo cáo với Cônhi những thiệt hại nặng nề trong đêm trước. Cônhi biết các Êlian và Clôđin 5 đã mất, tuy nhiên ông vẫn ra lệnh thi hành kế hoạch Anbatơrốtx. Tuy vậy, cuộc lên đường với đội hình quân dù - quân lê dương không thực hiện được nữa, các dữ liệu đã thay đổi vì bốn tiểu đoàn dù đã mất trong đêm. Những đơn vị sẵn sàng còn lại thuộc tiểu đoàn dù ngoại quốc của Ghirô và tiểu đoàn 8 xung kích của Turê, tiểu đoàn này còn đại đội 4 ở Êpécviê và đại đội 1 ở Đôminíc 4. Hà Nội có nắm chắc các báo cáo đêm qua không?

Là người có kỷ luật, Lăngle phục tùng và ra các lệnh chuẩn bị. Càng khó hiểu hơn bởi như thế, quân đồn trú sẽ phải chống cự suốt ngày vì cuộc thoát ra được dự kiến vào đêm ngày 7 rạng ngày 8. Vậy chẳng ai báo cáo cho Cônhi rằng tuyến phòng thủ của các Êlian không còn nữa và sau khi chiếm Êlian 10, Việt Minh đã ở bên bờ sông Nậm Rốm? Ở Êlian 3, đại đội của đại úy Nicốt nhận được lệnh đến với trung đoàn 4 Ma rốc ở Lily. Nước sông đã dâng lên và cuộc vượt sông được thực hiện bằng một dây cáp mà công binh giăng để bảo đảm cho việc đi đi, lại lại. Một số lính Bắc Phi mang vác quá nặng bị tuột dây và chết đuối giữa dòng.

Đại đội của đại úy Capâyrông thuộc tiểu đoàn 1, bán lữ đoàn 13 cũng đang chiếm giữ Êlian 3. Với khoảng 60 lê dương còn lại, từ rạng đông, đại đội phải đến Êlian 4 tăng cường cho đại úy Brăngđông nhưng trận đánh của các Êlian đã kết thúc và khi Capâyrông biết mình sắp ra đi, thiếu tá Cutăng điều ông trở lại bên hữu ngạn để tăng cường cho cứ điểm Giuynông.
Trong khi diễn ra những cuộc vận động lộn xộn đó, người ta chuẩn bị cho Anbatơrốtx. Ở đại đội 1, tiểu đoàn 8 xung kích, đại úy Xalanh được lệnh trang bị cho binh sĩ của mình, đủ cơ số về đạn và 3 ngày khẩu phần cá nhân. "Chúng tôi chờ đợi hơn hai giờ trong các hào trước khi nhận được lệnh khác”,  Trung úy Rắc ca nhớ lại.

Trung úy Phlơri thuộc công binh tiểu đoàn 8 xung kích, đến các điểm tựa Clôđin và "chuẩn bị phá hủy các dây kẽm gai, mở một lối đi qua bãi mìn cho cuộc đột phá cuối cùng". Chỉ huy trưởng cảnh sát quân sự Salaun dược đại tá Tơranca triệu tập đến GONO và báo cho biết là lính sen đầm sẽ không đi: “Cần có người duy trì trật tự và bảo vệ người bị thương".

Đến trưa, Lăngle tiếp các tiểu đoàn trường.

“Cuộc họp đã diễn ra, Đruin thuộc phòng 3 xác nhận, nhưng không phải là hình thức trực tiếp. Đây là một cuộc tiếp xúc trên rađiô với các chỉ huy không thể đến được. Chỉ có Vayăng, Lơmơniê, Vađô và Ghirô. Biga chắc chắn là có mặt, và có thể là Turê mà sở chỉ huy cách không xa lắm”.

Cutăng thuộc tiểu đoàn 1, bán lữ đoàn 13 lê dương ngoại quốc, Clêmăngxông thuộc tiểu đoàn 1, trung đoàn 2 bộ binh ngoại quốc và Nicôla thuộc tiểu đoàn 1, trung đoàn 4 Ma rốc, không rời sở chỉ huy của mình để được nghe thông báo về cuộc thoát vây bằng lực lượng lớn mà về một số khía cạnh nào đó, giống như một trò hề.

Lăngle im lặng khi các sĩ quan mô tả hành trang của quân đội mất ngủ và ăn uống thiếu thốn kham khổ từ tháng 4 đến nay. Binh sĩ đã đạt đến giới hạn của sự cố gắng rồi và người ta thấy họ cũng chẳng còn hăng hái gì để xông lên chống lại những vật cản của Việt Minh mà những cuộc trinh sát trên không mới nhất đã cho biết là ba đường hào song song đã được phát hiện thay vì một cái độc nhất quan sát được hôm qua.

Logged
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên
*
Bài viết: 595



« Trả lời #242 vào lúc: 27 Tháng Bảy, 2008, 08:29:06 am »

Ghi nhận những ý kiến phủ định của các vị "bốn lon", Lăngle đến Caxtơri báo cáo về sự thất bại của việc chuẩn bị cho Anbatơrốtx. Lơmơniê và Vađô tháp tùng ông. Lăngle chẳng nể nang gì và mô tả cho cấp trên biết về tình hình trên sông Nậm Rốm. Hai xe tăng và tổ trọng liên bốn nòng của Rơđông vẫn còn ngăn chặn đường vào cầu Bai lây, nhưng bao lâu nữa Lăngle chờ đợi một cuộc tấn công nữa của Việt Minh vào buổi chiều, đã tập hợp người lại. Tàn binh của tiểu đoàn 1, bán lữ đoàn 13, đại đội Biga đã phình lên vì thu thập thêm những người thoát nạn của các Êlian và Đuyluya với những lính Thái trắng của ông ta. Có sự phụ tá của trung úy Đuybua, đại úy Alic có ba trung đội của tiểu đoàn 3, trung đoàn 3 Angiêri. Những người này có thể cản trở sự vượt sông của Việt Minh cho đến tối, nhưng dưới làn đạn pháo, tổn thất của họ sẽ cao.

Nhưng để người bị thương ở đâu? Việt Minh đã tập hợp lại cho cuộc xung phong cuối cùng: "Họ cũng chẳng thèm ngụy trang nữa?", đại úy Lơ Pagiơ đang quan sát Êlian 3 từ hữu ngạn, gầm lên.

Lơmơniê và Vađô đi ra. Lăngle ở lại một mình với tướng Caxtơri qua sóng điện từ gọi Cônhi để nói với ông rằng tập đoàn cứ điểm sắp chết. Trên bầu trời các máy bay Đacôta vẫn bình tĩnh tiếp tục các thủ thuật của mình. (Chú thích: Thứ năm ngày 6-5, 62.700 tấn đạn dược bộ binh và 46.260 tấn đạn pháo (kể cả đạn cối 120) đã được thả dù. Thứ 6, ngày 7-5 các máy bay Đacôta thả thêm 5.330 tấn đạn bộ binh.)

Cuộc nói chuyện giữa Cônhi và Caxtơri được ghi âm ở Hà Nội. Đằng sau những từ ngắn gọn hoàn toàn theo tác phong quân sự, người ta thấy bóng dáng của một tai họa. Hai vị tướng biết chăng, vượt lên trên sự thất bại mà hai ông không dự kiến được, nỗi đau khổ của chiến binh sẽ thay tên nhưng không tan đi? Vũ khí quyết định một cách khác, còn những lời lẽ của Cônhi, mặc dầu đầy tình thân ái và cả xúc cảm nữa, vẫn nặng nề như những hòn đá và Caxtơri nhận nó như đang chịu đựng một cuộc ném đá vào người.

Hình như không phải có một mà có hai cuộc nói chuyện "cuối cùng". Đầu tiên Cônhi và Caxtơri chỉ nói trong lĩnh vực chiến thuật, nói về những đơn vị Việt Minh mà sự vận động là bấy nhiêu điều chỉ dẫn quý báu. Anbatơrốtx được gợi ý là chỉ một mình Lalăng ở Isaben thực hiện. Với phân khu trung tâm, Việt Minh chuẩn bị tấn công bằng cách vượt sông và mặc dầu có sự chi viện nhất quán của không quân, binh sĩ còn quá ít và quá kiệt sức để có thể tiếp tục lại cuộc chiến đấu. Cônhi không ngớt lời nói "Tạm biệt ông bạn thân của tôi" với tư lệnh GONO đang bám lấy ông như một người chết đuối vớ được sào. "Thôi, tạm biệt ông Caxtơri, tạm biệt ông bạn".

Phải kết thúc, không còn nghe cái giọng nói đang xa dần trong lỗ trũng của thung lũng vùng núi Thái, tiếng nói của kẻ chiến bại mà những sợi dây liên lạc vô hình cứ mỗi giây qua, lại lặng đi không nghe được, không phải vì thiếu vật tư mà bởi vì điều gì cần nói đã nói hết.

Ít lâu sau, tướng Bôđê, đại diện của Nava ở Hà Nội cầm lấy ống nghe để nói với tư lệnh GONO, cũng với những ngữ điệu đó sự xúc động đó, và câu "Tạm biệt ông bạn thân. Mọi lời chúc tốt đẹp với bạn", như cách Bôđê nói với một người bạn gái đang bước lên một con tàu mà sự trật bánh đã được lập trình khi ra khỏi nhà ga. Và rồi với một câu của Bastiani, tham mưu trưởng của ông, Cônhi trở lại điện thoại gần như là giằng lấy máy nghe trong tay Bôđê. Một ý nghĩ kinh khủng bất chợt đến mà ông muốn nhanh chóng xua đuổi đi. Phải kết thúc, dĩ nhiên rồi, nhưng sau tất cả những hi sinh đã phải chịu đựng, sau niềm vinh quang mà các chiến binh đã tô điểm bằng máu của mình, không được làm hỏng tất cả bằng việc giương cờ trắng. Nhất là không có quy phục, không có đầu hàng với nghĩa nhục nhã của từ này. Ngừng bắn và chờ đợi, không đối thoại. "Đồng ý chứ, ông bạn thân mến, nhất là không có cờ trắng?".

Lúc đó, Caxtơri ngập ngừng nói về "Sự bảo vệ tuyệt đối cần thiết đối với những người bị thương"... Cônhi không phải là một quái vật, ông cũng đã nghĩ đến những người bị thương tuy nhiên cần đặt họ dưới sự bảo vệ của một lá cờ gì đó có mang dấu chữ thập đỏ, không phải của lá cờ trắng. Nhất là không có cờ trắng!

“Những gì ông đã làm thật quá đẹp để người ta phải làm như vậy, ông hiểu chứ, ông bạn thân mến?.

- Vâng thưa tướng quân.

- Thôi tạm biệt ông bạn thân mến, hẹn gặp lại
" . (Chú thích: Trong cuốn sách của ông "Chiến dịch Điện Biên Phủ” (Pari Julliard, năm 1963) Julesroy khẳng định đã nghe bản ghi âm cuộc đối thoại giữa Cônhi và Đờ Caxtơri và cuốn băng đã bị cắt xén ở chỗ nói về việc đừng kéo cờ trắng.)
Logged
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên
*
Bài viết: 595



« Trả lời #243 vào lúc: 27 Tháng Bảy, 2008, 08:33:56 am »

Trong một bức thư đã dẫn, Caxtơri kể lại rằng, trước khi rời phòng làm việc của ông, sau khi bắt tay ông lần cuối cùng, Lăngle quay lại phía ông, nét mặt nhăn nhó như muốn nở một nụ cười: "Tha lỗi cho tôi đã có lúc bực bội, nhưng tôi nghĩ rằng tôi đã làm tốt công việc của mình”.

Theo Caxtơri, đó là những lời cuối cùng của Lăngle mà ông nghe được. Lăngle về hầm sở chỉ huy, các sĩ quan của ông đang đợi, ông xác nhận với họ những điều mà Caxtơri thông báo cho ông: Ngừng bắn vào 17h30.

Ông không có sự ám chỉ nào về một cuộc tiếp xúc với địch để thông báo cho họ về quyết định này. Các cuộc nghe rađiô của "quân đội nhân dân Việt Nam” cho biết việc này khá sớm. Đã có những chỉ thị cho các đơn vị nhấn mạnh việc phá hủy vũ khí và trang bị, nhưng tránh gây ra những tiếng nổ có thể làm cho Việt Minh hiểu quá sớm là họ có thể tiến lên mà không lo bị đánh trả. Đạn dược thì đem dìm trong sông Nậm Rốm. Ở chỗ Caxtơri, hồ sơ lưu trữ khá nhiều và một phần của nó không bị đốt. Trong hầm thông tin, mỗi người, với nỗi tức giận không kiềm chế được, đập vỡ những máy quý trong đó một số thuộc loại kỹ thuật rất tân tiến, không thể để vào tay quân thù. Giận điên người vì đã từng phải tranh cãi nhiều với bọn viên chức bàn giấy quyền được sang Đông Dương, (Chú thích: Sinh năm 1930, Rô giê Alessăngđrini được gọi nhập ngũ năm 1951. Hạ sĩ nhất ở Tuyni, học trường sĩ quan dự bị. Thiếu úy năm 1952, xin sang Đông Dương phục vụ theo chế độ sĩ quan dự bị trong quân đội thường trực. Lên tầu ngày 17-9-1952. Bổ nhiệm về đơn vị thông tin, hồi hương ngày 5-8-1953 tình nguyện sang trở lại. Tháng 1-1954 thiếu úy thường trực, ngày 21-4 ở sở chỉ huy thông tin của GONO. Từ ngày 10-5-1954 mất trong thời gian làm tù binh, tháng 6-1954.) thiếu úy Alessăngđrini đập vỡ tất cả những gì có trong tay.

Trong các sở chỉ huy khác, thái độ cũng như vậy và Lăngle, được các sĩ quan thân cận bắt chước, đã có một cơn cuồng nhiệt về sự phá hủy. Thậm chí ông đốt cả chiếc bê rê đỏ và đội một cái mũ rừng kỳ cục mà ông không rời ra nữa. Vécdenhan ghi nhận rằng "mọi thứ đều bị phá hủy, chiếc camera của Sôenđoócphê, các máy chữ, Rơrăng đập vỡ các tổ hợp thu phát, các điện thoại của anh và đốt kho pin. Người ta giẫm lên các súng lục và các khẩu các bin".

Ở Clôđin 4, đại úy Biêngvôn do dự không muốn bỏ chiếc bê rê màu xanh lá cây và tìm ra một cách giải quyết: Anh lộn nó lên để đội thành bê rê đen. Anh giữ chiếc đồng hồ quả quýt, chiếc nhẫn mặt đá khắc và nhét chiếc nhẫn cưới vào dây chuyền thẻ căn cước. Anh giữ lại "đôi giày biệt động quân không đến nỗi tồi", nhưng anh lại không lấy xà phòng, dao cạo rồi về sau lại tiếc. Anh vẫn mang cái biđông ở thắt lưng và anh bạn Viơle cho anh hai cuộn băng cá nhân. Thế là anh đã sẵn sàng cho "cuộc sống của người tù”. Ở Clôđin 3, đại úy Buốcgiơ không ngạc nhiên khi được lệnh bắn những phát đạn cuối cùng và phá hủy vũ khí.

“Về lương thực, ông nói, còn một khẩu phần cho mỗi người để sống sót và hoa quả đông lạnh. Tôi đã nhét một số vào cái túi Mỹ với bộ quần áo tập, một chiếc sơ mi, một quần lót, vài đôi tất bàn chải đánh răng và nửa ống kem đánh răng. Chúng tôi để lại không biết bao nhiêu thứ ở Huy ghét 1, khi Sơvaliê đến thay phiên, vì thế mà hóa ra nghèo”. 

Trên vị trí của liên thanh 4 nòng, trung úy Rơđông không chờ đợi. Anh đến sở chỉ huy pháo binh và Vayăng đích thân xác nhận với anh lệnh phá hủy khẩu cuối cùng. Hôm trước, ngụy trang dưới một chiếc dù trắng, khẩu thứ nhất đã bị loại vì một quả cối. Rơđông truyền đạt cho thượng sĩ Lơnli.

“Chúng tôi phá vỡ khẩu súng, Rơđông viết, vứt đạn và nòng súng thay thế vào một hố bùn. Rồi sau đó là sự yên tĩnh, sự im lặng mà chúng tôi không còn thích nghi nữa! Êpécviê phủ đầy dù trắng, cảnh đó làm cho tưởng rằng sở chỉ huy của tướng Đờ Caxtơri ở gần đó đã kéo cờ trắng”.

Đại úy Hécvuiét cho tháo đầu các động cơ xe tăng và những người lái cho quay động cơ tăng tốc. Phá bên trong các tháp xe tăng, khóa vào vỏ xe, khóa nòng pháo thì hàn với lựu đạn chày. Ở cụm pháo của thiếu tá Knếc, 8 khẩu 105 vẫn còn có thể bắn, nhưng đạn dự trữ không bảo đảm phát huy được hỏa lực, còn 600 quả mà một nửa để trong các kho nhỏ phải bỏ lại vì không có thời gian để vứt xuống sông. Số còn lại, khoảng 300 quả đã được ném xuống sông. Tổng kết của toàn tiểu đoàn 2, trung đoàn 4 pháo thuộc địa là nặng nề, phản ánh những tổn thất phải chấp nhận: 49 người chết, 179 bị thương, trong đó 17 người bị thương hai thậm chí ba lần. Các xe kéo đều bị phá hủy, một số còn lại mất xích, không thể chạy được, bánh xe trượt trong bùn. Ai đoán được là xe kéo pháo lại cần đến các dây xích dùng để chạy trên các đường ngập tuyết?
Logged
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên
*
Bài viết: 595



« Trả lời #244 vào lúc: 27 Tháng Bảy, 2008, 08:35:22 am »

Sau những khẩu cối 81 hướng về các Êlian, thiếu úy Anle đợi mãi một cuộc tiếp tế đạn không thể có được, nhưng khi rađiô của anh tiếp xúc được với Biga, viên sĩ quan mới nở một nụ cười "Anle gọi "Bruynô" . Có phải ướt chân không" .

Anh muốn ám chỉ Anbatơrốtx, theo kế hoạch này, anh phải qua sông Nậm Rốm. "Bruynô" trả lời là không và thông báo với anh bằng một giọng thiếu âm sắc là ngừng bắn vào 17h30. Anle phải phá hủy vũ khí, trang bị và không kéo cờ trắng. Là sĩ quan dự bị phục vụ trong quân đội thường trực, Anle không biết rằng có một lệnh ký cùng ngày đăng trong công báo ngày 12 và làm cho anh trở thành trung úy bộ binh thuộc địa thường trực kể từ ngày 1-4. Anh không phải là người đặc biệt theo đúng điều lệnh, nhưng anh cho rằng có những mệnh lệnh, nhất là mệnh lệnh ngừng bắn phải làm thành văn bản, anh cử một lính dù đến sở chỉ huy của Biga để xin khẳng định trên giấy trắng mực đen những chỉ thị đã truyền đạt bằng rađiô. Biga chấp nhận lời thỉnh cầu và thảo một lá thư ngắn xác nhận sẽ ngừng bắn vào 17h30. "Không có cờ trắng", ông nhấn mạnh. Trước khi ký vào tờ giấy “Bruynô" nói thêm: "Tiểu đoàn 6 đáng thương. Các lính dù đáng thương".

Chẳng bình luận gì, Anle nhét bức thư vào túi áo trong. Liếc mắt vòng quanh như để ôm hôn vị trí và chuẩn bị thi hành. Bây giờ anh đã được che chở

“Để tăng thêm tầm bắn các súng cối của chúng ta, anh nói, chúng ta có những lượng thuốc nạp mà chúng ta thường kẹp vào dưới cánh đuôi đạn, song từ nhiều tuần nay, chúng chẳng làm được gì cho chúng ta vì những cuộc bắn chi viện chỉ ở cự li không quá 300 m. Mới hôm qua thôi, chúng tôi bắn không đến 100m. Tôi cho đổ đầy vào nòng súng cối 81 những mồi tiếp nổ và nhét một quả lựu đạn đã rút chốt vào trong. Vũ khí, trạm rađiô và thiết bị đều chung số phận như thế.”

Trên Êlian 12 mà từ đó họ theo dõi, với cái cổ họng bị thắt lại, các cuộc chiến đấu của Êlian 4 và Êlian 10, binh sĩ tiểu đoàn 2 phải suốt đêm chịu đựng một cuộc pháo kích mãnh liệt nhưng tiếp theo không có xung phong. Nhận được lệnh ngừng bắn, các sĩ quan bàng hoàng:

“Tôi gần như không đủ thời gian để ra lệnh phá hủy vũ khí, trung úy Đốtxi viết, tôi vội vàng phá khẩu các bin, khẩu súng lục và trạm rađiô thì thấy những Việt Minh đầu tiên xuất hiện trong hào của tôi. Chúng tôi là một trong số những đơn vị đầu tiên bị bắt và công việc đầu tiên của bộ đội Việt Minh là tách người Thái khỏi người Âu trước khi đưa chúng tôi đi về phía bắc, mà chẳng lục soát gì chúng tôi”.

Trên cứ điểm Giuynông, đại úy Philíp và các lê dương của ông thoạt tiên được biết vào sáng ngày 7 là cuộc đột phá sẽ diễn ra theo hướng Lào. Philíp không biết rằng đại đội của Capâyrông, bạn ông, vừa vượt qua sông để đến tăng cường cho Brăngđông ở Êlian 4.

“Được thiếu tá Vađô triệu tập, Philíp viết, ông giải thích cho tôi người ta chờ đợi gì ở tôi và những người còn lại của đại đội tôi. Tôi phải tiến hành những cuộc trinh sát và những công việc chuẩn bị cho cuộc thoát vây với lực lượng lớn, dự kiến vào đêm ngày 7 rạng sáng ngày 8-5. Hai trung sĩ cuối cùng của tôi, Kinh và Lơroy, nhận biết được những lộ trình đã được những lính Thái của đại úy Đuyluya cắm cọc tiêu và đến 14 giờ, đại đội 10 đã sẵn sàng, nhưng khi tôi trở về chở thiếu tá Viđô, ông cho biết sẽ ngừng bắn vào 17 giờ 30. Đại thể, tôi chỉ còn một giờ để phân phối lương thực và phá hủy vũ khí cùng điện đài. Tôi huy động cả người hầu cận của tôi, Guystauơ Malô, là một báo vụ tiên và y tá”.

Ở đại đội Capâyrông, lính lê dương vừa hồi lại sức sau hai lần tắm bắt buộc trong cuộc vượt kép sông Nậm Rốm và sau buổi ăn trưa - một khẩu phần cho hai người và một bát cơm - họ chiếm lĩnh vị trí trên sông Nậm Rốm. Đến 15 giờ, Capâyrông cho trung úy Uynpát biết là sẽ ngừng bắn.

“Không phải là điều bất ngờ, Uynpát thừa nhận, nhưng thật là một đòn choáng váng. Chúng tôi đã tin tưởng vững như thép về cuộc thoát vây đi sang Lào! Kiên nhẫn, tôi cho tháo vũ khí - chúng tôi còn hai khẩu pháo 37 không giật - những chi tiết rời thì chôn xuống bùn còn đạn thì vứt xuống sông. Tôi mặc bộ quần áo chiến đấu, đeo khẩu côn và 14 viên đạn, đội mũ sắt và đi đôi giầy biệt kích không có tất vì vướng khó đi. Và tôi đợi..”.

Logged
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên
*
Bài viết: 595



« Trả lời #245 vào lúc: 27 Tháng Bảy, 2008, 08:36:31 am »

Trung úy Lêpimay thuộc tiểu đoàn 3, trung đoàn 10 pháo binh thuộc địa, từ tháng tư đã nghĩ rằng: "Kết cục của trận đánh sẽ không có lợi cho chúng ta". Anh nói thêm: “Đây là một ý tưởng, một thái độ thuần túy trí thức, nhưng sau 56 ngày chiến đấu, gần như thường xuyên căng thẳng vào lúc phải giơ tay lên để tỏ ý khuất phục - và điều đó không dễ dàng chút nào người ta phản kháng với lòng dạ của mình. Thế là xong, đó là sự kết thúc! Người ta đã mất. Một cảm giác bất lực làm ta nghẹt thở”.

Có những người hình dung đoạn kết của kịch bản và trước hết là sự ra đi đến một trại từ binh, ở đó họ ít có cơ may được nuông chiều và vỗ béo như những con ngỗng vùng Gaxcônhơ. Cho nên họ phải phòng ngừa. Đại úy Biza nhét vào cái túi của ông khẩu phần ăn, áo quần lót, một bản đồ, một la bàn và một con dao găm. Vũ khí này là một điều nguy hiểm bởi vì Việt Minh sớm hay muộn cũng sẽ lục soát, nhưng Biza không muốn bị cầm tù lâu, tư tưởng của ông ta là trốn đi khi có thể. Một đại úy của tiểu đoàn 1, bán lữ đoàn 13, Kruymenắckê, làm khá hơn nhiều. Khi cài túi rồi, ông ta buộc vào chân trên mắt cá một khẩu súng lục 7,65 mà ông ta cho là có thể cần đến khi trốn đi. Ở Đôminíc 4, đại úy Xalanh tỏ ra ít lo xa hơn: "Trong những giờ phút tự do cuối cùng, tôi đã nghĩ đến việc mang theo một ít lương thực dự bị, nhưng tôi lại quên cầm xà phòng, bàn chải răng? lược và dao cạo".

Một trong số sĩ quan của ông, trung úy Rắc ca: “Tôi lấy một mảnh bạt lều, các đồ dùng vệ sinh, hai ngày lương thực và cái bi đông. Tôi cảm thấy kỳ cục nếu mang thêm nữa với hy vọng chậm phải theo chế độ ăn “cơm" đang chờ chúng ta. Giấu một vũ khí, một la bàn. Chúng ta sẽ bị lục soát, như vậy chẳng ích gì ".

Đại úy Đêmông trả tự do cho các lính bổ sung của ông, nhưng ông không thuyết phục được Toan - hầu cận của ông, “trốn vào rừng". Đại đội 4 tập hợp ba chục người sống sót, ba lô trên lưng, sẵn sàng để thực hiện Anbatơrốtx, được báo là mọi việc đã kết thúc. Không đầu hàng nhưng cũng chẳng bắn nữa, thượng sĩ Pôlô, một chiến binh cũ ở Triều Tiên, trung đội trưởng trung đội xung phong, thân hình cao lớn giữa đám người "đã yếu đi, ngây dại, lấm bùn, nét mặt phờ phạc" mà Đêmông nhìn quyến luyến: “Đến 16 giờ, ông nhấn mạnh, đạn phải bắn hết, vũ khí được tháo ra và phân tán các chi tiết. Khẩu các bin và khẩu súng lục của tôi do Bria trung đội trưởng trung đội chỉ huy thực hiện. Hai quả lựu đạn cháy sẽ phá hỏng các trạm rađiô của tôi".

Đêmông đã chuẩn bị ba lô cho Anbatơrốtx. Ông mang theo chiếc camera nhận được vào dịp Noen và chiếc máy ảnh, bọc trong một khăn tắm, tất cả cho vào một túi ni lông. Thêm vào đó hai hộp khẩu phần, một mảnh vải dù da cam của phi công, một mét dây dù, những túi để lọc nước, những miếng rượu cô đặc và ở thắt lưng, ngoài con dao ra là một bật lửa ga và một hộp nạp ga. Thêm một lưỡi dao cạo và theo thói quen cũ từ hồi còn là thiếu sinh quân cả kim chỉ nữa. Trên bộ quân phục ngụy trang là một áo mưa, chân đi giày xăng đá đóng đanh mới, đánh bóng.

Đại úy Công bơ tiểu đoàn phó tiểu đoàn 2, trung đoàn 4 pháo binh thuộc địa suýt nữa ra đi mà không có ba lô vì Látxana lính hầu cận của ông phải mang cho ông. Số là Látxana đã biến mất và vị đại úy tự hỏi là nhờ điều kỳ diệu nào mà ông tìm lại được cái ba lô vào cuối buổi chiều, đặt ở trên bờ đường. Người hầu cận để máy ảnh vào đáy ba lô nhưng lại quên khăn mặt và xà phòng. Công bơ mang theo một chăn nhỏ, quần áo ấm mặc ngoài, một áo chiến đấu và một đôi bốt (Chú thích: Đoàn kết sinh lễ nghĩa: Khi đôi giầy đại úy Rốtlơ Giăngtin tiểu đoàn 3, trung đoàn 3 bộ binh ngoại quốc rời bỏ ông ta thì Côngbơ cho ông đôi bốt nhảy dù.) nhảy dù. Caban bạn ông, đã đi qua các đường mòn năm 1945 khi người Nhật truy kích các đơn vị Pháp hành quân sang Trung Quốc, ngoài những khẩu phần cá nhân, ông ta còn dự trữ cả những viên thuốc lọc nước và thuốc chống sốt rét. Bi đông của ông ta thì đựng nước chè không đường.

Ở những người bị thương mà một số đã trải qua hàng tuần lễ trong những hầm trú ẩn có mùi khó chịu, việc thông báo ngừng bắn được xem như là một hình phạt mới. Từ trong “hố" của họ, trung úy Xanhglăng và trung úy Đờ Xanhile ra lệnh cho người lính lê dương đến thông báo việc ngừng bắn, hãy phá hủy vũ khí của họ và phân tán đạn.

Từ đáy ba lô , Xanhglăng nhớ lại, Xanhile lôi ra một chai cô nhắc nhỏ và nói với tôi: "Tôi muốn giữ nó cho một trường hợp khác, tuy nhiên chúng ta không rõ tương lai dành cho ta điều gì, vậy thì xin nâng cốc vì các bạn và vì tất cả chúng ta!" Chúng tôi nghĩ rằng vì những vết thương không thể ra được nghĩa là không thể đáp ứng những đòi hỏi, có thể chúng tôi sẽ phải nghe tiếng lựu đạn lăn lông lốc trên cầu thang. Nhưng rượu đã tác động vào nội tạng đã yếu đi của chúng tôi, tôi nhìn vấn đề một cách thanh thản và thậm chí với một thái độ dửng dưng đầy tính hiếu kỳ”.
Logged
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên
*
Bài viết: 595



« Trả lời #246 vào lúc: 27 Tháng Bảy, 2008, 08:39:07 am »

Trong đường hào đi đến trạm giải phẫu của Hanz, trung sĩ nhất Secgiăng, quản trị trưởng đại đội của đại úy Pugiê , đã qua buổi tối ngày 6-5 trong dòng người xếp hàng chờ đợi trong giao thông hào chật hẹp này mà chẳng ai biết bao giờ mới hết. Anh làm quen với một lính dù khác mà "hàm răng dưới đã xệ xuống ngực", ngồi như anh ở đáy hào "bùn ngập đến nửa mông”. Anh này dúng ngón tay vào vết thương lấy máu viết tên anh vào chiếc ba lô: Hạ sĩ Hốttơ Cuvectuya thuộc tiểu đoàn 2, trung đoàn 1 dù. Hai người trở nên thân nhau và gần nửa đêm Secgiăng được bác sĩ Vidan mổ. .

“Sáng ngày mồng 7 tôi tỉnh giấc trên một chiếc cáng, giữ thăng bằng một cách bấp bênh trên mặt hố nước bẩn, trong một hầm dưới đất. Những người bị thương khác, trong đó có một tù binh Việt Minh ở trong những hốc vách. Tôi ở bên cạnh một thùng chứa nước, một chỗ tốt..”.

Trong hầm trú thứ nhất mà người ta để anh ở đó, trung úy Ruyte có một người bạn là trung úy Rôngđô, "người có hậu môn nhân tạo ỉa vãi phân". Ruyte tưởng tránh được mùi hôi thối khi người ta đưa anh đến hầm của binh đoàn biệt kích hỗn hợp không vận nhưng anh không hài lòng hơn. Anh ở với thiếu úy Buliê "người ốm vất vả nhất mà tôi chưa từng thấy, trong lúc Cácơray, người bạn thứ ba của chúng tôi bị cắt cụt một chân có một tinh thần thật lạ lùng".

“Cái vết thương của tôi đã bị nhiễm trùng, Ruyle nói tiếp, bị thối và tôi lại bị kiết lỵ không dám ăn gì cả. Chắc chắn là tại nước sông. Đã có dòi trong vết thương bó bột của Buliê và ngoài ba mùi hôi thối của chúng tôi, chúng tôi phải diệt dòi. . Trời mưa góp phần vào làm cho cái đường hào thành những vũng bùn ghê người, không thể cáng chúng tôi đi thay băng, ngửi thấy đầy mùi xác chết”.

Nhờ trung úy Hêbe của binh đoàn biệt kích hỗn hợp không vận, ba thương binh có được "một hộp dầu hỏa dùng làm đèn" nhưng khổ vì thiếu thông gió. Tuy nhiên chính họ đã được ưu tiên bởi vì một số hầm chẳng có đèn ngày cũng như đêm. Ngày 7-5, Ruyte, Bullê và Cácơray được một y tá cho biết là các cuộc chiến đấu sẽ chấm dứt.

“Đó là sự cáo chung, Ruyle nhận xét, người ta sẽ giương cờ trắng lên trạm giải phẫu vào 17 giờ. Đối với chúng tôi đó là một sự suy sụp tinh thần ghê gớm. Cácơray đã khóc không cần che giấu".

Trong một hầm khác, Alanh Lêcuyê có vẻ như thoát nạn. Một sợi dây kim loại được bác sĩ Grauuyn đặt vào nối liền hai mép của vết thương sọ não và bác sĩ hy vọng ý chí muốn sống của Lêcuyê sẽ thắng. Anh cần sự yên tĩnh sự thư giãn, một chút hạnh phúc và nếu không thì anh "như là người bị chôn sống" trong căn hầm cùng ba người bị thương khác. Khi một lê dương bị bó bột đến tận vai báo tin ngừng bắn "chúng tôi khóc nức nở như những đứa trẻ", Lêcuyê thú nhận.

Sau khi đến bệnh xá của tiểu đoàn 1 dù ngoại quốc, trung úy Rúc cảm thấy an toàn, anh đã trở về với người của mình. Jớtx đã giúp anh vượt sông mà anh không ngờ lại sâu đến thế và anh buộc phải bơi. Một chiến công với cái mông của anh có hàng chục mảnh đạn nằm gần đó .

“Ở bệnh xá tôi bị lột trần truồng. Tất cả những gì tôi mang trên lưng bị ướt sũng và lấm bùn. Tôi phải nằm trên cáng, người ta rửa vết thương cho tôi, băng tạm và tiêm. Tôi xin tiêm moócphin vì chân tôi rất đau. Tôi phải ngủ thiếp đi. Khi tỉnh dậy vào buổi chiều, bác sĩ Rôngđi báo cho biết là chúng ta ngừng bắn. Tôi chỉ ngạc nhiên một phần. Tôi lấy một cái quần, một áo và một puynlôve và tôi dốc các túi của bộ quân phục chiến đấu đã bị ướt: lịch, bật lửa, la bàn. Tất cả trong những túi nhỏ ni lông”.

Trừ những loạt đạn pháo bắn vào Isaben, tiếng pháo đã giảm dần và đến 17 giờ các pháo của phân khu trung tâm ngừng bặt. Chỉ còn đại liên và vài khẩu pháo không giật đối đáp nhau và riêng súng phòng không là hoạt động rất tích cực. Trên bầu trời vào cuối buổi chiều, các máy bay ném bom nhận được lệnh quay về và chỉ ném bom vào những mục tiêu thứ yếu nhưng chỉ khi đã về đến trên bầu trời vùng châu thổ thì các phi hành đoàn mới biết về sự kết thúc của Điện Biên Phủ (Chú thích: Ngày 7-5, sau khi làm nhiệm vụ cuối cùng ở Điện Biên Phủ trở về, chiếc B26 của đại úy Đơpacđông bị súng 12 ly 7 bắn trúng cánh trái, rồi một quả đạn cao xạ giật đầu cuối của cánh phải, một quả thứ hai giết thượng sĩ nhất Môruy sau khi chọc thủng khoang đựng bom. Đơpacđông đã lái được máy bay vế đến Cát Bi (trao đổi thư giữa tác giả và tướng Đơpacđông).).
Logged
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên
*
Bài viết: 595



« Trả lời #247 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2008, 11:30:48 pm »

Một trận đánh khi tàn lụi giống như một buổi hoàng hôn. Quả tim của phân khu trung tâm đập chậm lại và các chiến binh giữ lại trong trí nhớ sự im lặng đè lên các trung tâm đầu não của GONO. Sau những phát súng cuối cùng và trước khi bộ đội Việt Minh bước vào sân khấu, sự tan biến của những tiếng động chiến tranh gây nên một sự ngạc nhiên sâu sắc. Mắc Ruyte nói về "sự im lặng mênh mông tiếp theo sau trận đánh đầy ấn tượng mạnh mẽ". Clốt Xecgiăng nói về “sự kinh hoàng khi phải chìm đi trong cái im lặng bất ngờ đang đè lên chúng ta sau những ngày và đêm đầy tiếng động". Rô be Salaun thì đảm bảo rằng "sự im lặng trùm lên vừa đầy ấn tượng vừa xa lạ". Ở sở chỉ huy của Lăngle, đại úy Lơpagiơ: "Cái đánh vào chúng ta là sự im lặng. 56 ngày nay, chúng ta sống trong sự ồn ào náo động, bỗng dưng, chẳng còn gì nữa?". Với trung úy Anle vừa sang bên hữu ngạn "sự im lặng đang ngự trị ở trong thung lũng vốn là inh tai".

“Cách các cứ điểm Êlian không xa lắm, bộ đội Việt Minh đã phản ứng một cách phấn khởi về cuộc đơn phương ngừng bắn. Họ biết được nhờ nghe lỏm rađiô hay là việc pháo GONO ngừng bắn làm họ cảm thấy chiến thắng sắp đến với họ? Tay luôn bị trói, đại úy Brăngđông được một sĩ quan nói tiếng Pháp rất trau chuốt hỏi cung. Đó là một người quen cũ, đơn vị của sĩ quan này đã chạm súng với đại đội Brăngđông - và đã gây cho ông những tổn thất nặng nề vào tháng 12- 1953, trong vụ Mường Pồn. Người ấy đòi tù binh của mình chỉ cho con đường ngắn nhất để đi đến sở chỉ huy của tướng Đờ Caxtơri. Úi già, Brăngđông chẳng biết gì cả “khoảng 17 giờ - 17 giờ 30 ông viết, những đoàn bộ đội Việt Minh tiến về Điện Biên Phủ, tiếng reo hò vang lên từ các hàng quân cửa họ, về sau tôi mới biết là phân khu trung tâm đã ngừng chiến đấu” .

Những câu chuyện khác cũng xác nhận câu chuyện của Brăngđông. Bị bắt làm tù binh vào những giờ đầu tiên trong ngày và bị thương ở chân - anh bị khập khiễng nhưng vẫn đi được, trung sĩ nhất Mênagiơ lúc đầu bị nhốt trong một lô cốt với những người hấp hối và những người chết. Đến rạng sáng, bộ đội Việt Minh rời đi và Mênagiơ lợi dụng cơ hội để cố tìm về với những người của tiểu đoàn 6. Đến một khuỷu hào anh đụng vào một tiểu đội Việt Minh đang ngồi xổm trên bờ hào theo kiểu người Việt Nam. Thấy anh không có súng, chân bị băng, họ không tỏ ý chống lại và bảo anh ngồi bên cạnh họ. Mênagiơ xin nước uống nhưng bi đông của họ đã rỗng.

“Tôi ngồi như vậy đến 16 - 17 giờ, anh nói, rồi nghe những tiếng reo hò rất lớn vang lên tiếp theo sau đó là sự im lặng đầy ấn tượng. Chẳng còn những tiếng nổ, chẳng còn bắn nhau. Các Việt Minh “của tôi" nhảy lên vì vui sướng và bảo tôi: Đi mau lên, đến chỗ Hồ Chí Minh, rất tốt, rất tốt!" Tôi leo lên bờ hào, một đoàn tù binh đang tiến về phía Đôminíc. Người ta dẫn tôi đến với đoàn và tôi lại có vận may lạ lùng là được gặp lại cậu bạn ở tiểu đoàn 6: Rinhắc, Xôtôrô và hạ sĩ nhất Mácxông, họ giúp tôi bước đi..”

Ở Đôminíc 2, đại úy Clêđíc vẫn luôn luôn bị trói, ông phát hiện "những công trình phi thường và một lối vào được ngụy trang dẫn vào dưới lòng đất". "Chúng tôi đang ở đó, ông nói, thì một tiếng reo hò từ phía ngoài vang đến và được các sĩ quan Việt Minh đứng quanh chúng tôi nhắc lại cho chúng tôi biết là tập đoàn cứ điểm đã sụp đổ.

Tiếng reo hò tác động vào Mác xen Clêđíc như một quả truỳ: "Tôi rời rạc chân tay, hoàn toàn suy sụp (mất ngủ) và nhất là về tinh thần, bởi vì cho đến giờ phút cuối cùng ở Êlian 4, chúng tôi vẫn tưởng rằng có thể thoát ra được”.

Môrít Đuyten, một trong các sĩ quan của Clêđíc mặt bị nhiều mảnh đạn nhỏ, đến trạm cấp cứu để được băng bó. Nhiều thân thể không hồn ùn lại trước lối vào của sở chỉ huy để chờ chôn cất. Thấy anh, Brêsinhắc nói: "Anh bị thương. Anh đứng vào chỗ cuối". Đuyten vâng lệnh, sửng sốt nhìn trung úy Giăccơ Abađi hình như hóa điên anh phá hủy các hồ sơ sau khi ra lệnh phá vỡ các trạm rađiô. "Brêsơ" sau đó đã cử một trung sĩ người Việt đến trước Việt Minh để nói với họ rằng không cần ném lựu đạn.

“Bộ đội Việt Minh bảo những người có thể đi được ra ngoài, Đuyten kể, chúng tôi đi theo đường hào của ta rồi vào đường hào của họ trước khi đến phía trong cùng của một thung lũng, ở đó có nhiều người của họ bị thương. Chúng tôi ở lại đó cho đến lúc Việt Minh vui sướng reo lên. Tôi hiểu rằng thế là hết và sự im lặng đột ngột đã làm cho tôi hoàn toàn đờ đẫn”.

Bộ đội Việt Minh đến như một đợt triều dâng ở Điện Biên Phủ. Những tốp lẻ, ngày càng đông, tập hợp lại trên vị trí giống như một ngôi làng bị một dòng bùn chảy phủ lên. Gần những khẩu trọng liên bốn nòng đã bị phá hủy mà phía sau chúng là cả một núi vỏ đạn 12 li 7, trung úy Rơđông đã cất lon đi và những Việt Minh đầu tiên, anh thấy có vẻ "rách rưới". Người ta cũng có thể nói như vậy với nhiều chiến binh GONO. Cầm một khẩu súng Môde, có cắm lưỡi lê một "bộ đội” thúc anh đi qua sông. "Chẳng người nào muốn lục soát tôi" viên sĩ quan ngạc nhiên.
Logged
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên
*
Bài viết: 595



« Trả lời #248 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2008, 11:33:01 pm »

Ở trạm quân cảnh của chỉ huy trưởng quân cảnh Xalaun:

“Họ kiểm tra từng hầm, từng hào, một cách có phương pháp. Họ bắt những người ở trong đó đi ra, nếu không chủ động đi ra và dẫn đến cầu Bai lây (cầu Mường Thanh) và cả đi về phía Bắc, theo đường mòn Pa vi. Tôi đợi họ ở ngoài và tôi muốn vào lại để lấy các hồ sơ của các lính quân cảnh Ácnon bị giết ở Êlian 2 và Xăngxuy đang nằm bệnh xá trong một căn hầm nhưng họ không cho vào nữa”.

Anle không có thời gian để đến sở chỉ huy của Biga:

“Họ như một đàn ong, lặng lẽ, hiệu quả. Tôi quyết định phá hủy rađiô của tôi và chờ đợi. Họ nói với nhau như tuồng không có chúng tôi, nhưng đột nhiên có một bộ đội đe tôi bằng chiếc lưỡi lê cắm ở đầu ở một khẩu súng nặng hơn anh ta. Tôi hỏi một người Việt của chúng ta về nguyên nhân của việc bực bội đó. “Họ nói anh phải vứt súng lục đi!" Tôi hoàn toàn quên khuấy vũ khí mà tôi còn mang, lấy được của một người Đức trong thời kỳ giải phóng và tôi đeo thắt lưng. Lúc đó tai tôi vang lên những từ mà hằng ngày trong thời gian bị bắt làm tù binh tôi vẫn nghe: “Đi đi, mau lên!”.

Đại úy Kruymenắckê thuộc tiểu đoàn 1, bán lữ đoàn 13 đã “sửng sốt vế việc quân địch đã mau lẹ bám chắc vào khu vực trung tâm và tổ chức việc sơ tán những người chiến bại: Không có hành động thô bạo, cho phép tù binh cầm một túi dết đựng những đồ dùng vệ sinh và sau đó "Đi đi mau lên" về phía cầu sông Nậm Rốm". "Krum" cho rằng mình thuộc “sức khỏe loại 2" và chỉ bước đi với một ý nghĩ trong đầu: Dừng lại và ngủ. Phó của ông, trung úy Giêrácđanh, cánh tay bó bột và một mảnh đạn dưới xương bánh chè đã hơn một tháng nay đang ở trong hầm thì trung sĩ Giăngsépski đến báo tin ngừng chiến. Viên sĩ quan giao cho anh khẩu cácbin của mình với nhiệm vụ phân tán rải rác các bộ phận của súng:

“Bộ đội Việt Minh đã vào sau đó, họ rất bận rộn nhưng không bị kích động. Thấy tôi bị thương, họ bảo tôi ra, không có hành động bạo lực, chúng để cho tôi có thời gian lấy một số đồ dùng tối thiểu. Mặc quần soóc và đi chân không, cánh tay đeo băng, tôi bước thấp bước cao với một tốp tù binh bị thương”.

Ở các cứ điểm Clôđin, đại úy Biêngvô nhận xét "một cơn gió nhỏ lo lắng đã thổi đến, đặc biệt ở những người Ma rốc và những người Việt" rồi những Việt Minh đầu tiên "đã tiếp cận chúng tôi. Có thể có những bàn tay giơ lên và than ôi những mảnh giẻ trắng kín đáo”. Ở Clôđin 3, đại úy Buốcgiơ chăm chú nhìn bộ đội Việt Minh "chân họ đi kiểu giày đánh tenis và miệng hô mau lên, mau lên! vừa thể hiện sự vui mừng và nhất là sự vội vã muốn thấy chúng tôi chuồn đi để họ lục soát nơi ở của chúng tôi".

Ở Giuynông, đơn vị người Thái trắng, Đuyluyat vừa đập vỡ rađiô khi những trinh sát Việt Minh lội sang sông. Người phó của ông là trung sĩ nhất Ruvray đi theo một sĩ quan Việt Minh đang hỏi anh về cơ cấu tổ chức Điện Biên Phủ. Tò mò, Đuyluyat hỏi viên sĩ quan không mang phù hiệu cấp bậc gì, có phải là Chính ủy không. Một loạt đạn ngắn của tiểu liên đã bắn gần chân ông ta, để ông ta hiểu rằng sự tò mò của ông là không đúng chỗ.

Đuyluyat:

“Tôi bị trói cánh khuỷu ở sau lưng và cùng với Ruvray, chúng tôi được một "bộ đội" dẫn đến chỗ lội qua sông rồi áp giải chúng tôi đến tận các quả đồi, chúng tôi qua đêm đầu tiên trong một hầm nhỏ ẩm thấp và tôi có một cảm giác được an ủi - điều làm tôi xấu hổ. Tất nhiên là kẻ chiến bại, là người tù binh nhưng vẫn được sống!”

Ở chỗ các lê dương của tiểu đoàn 1, bán lữ đoàn 13, trung úy Uynpát thi hành lệnh của đại úy Capâyrông:

“Tôi là người đầu tiên ra khỏi hào và nhanh chóng yên tâm. Việt Minh, khoảng một chục người, đến từ khu vực cầu, quan tâm nhiều hơn đến sở chỉ huy Đờ Caxtơri cách đây gần 100m hơn là đám lê dương không còn vũ khí đang noi theo tôi Khi họ đến đông hơn, họ chỉ cho tôi hướng đông bắc”.

Bộ đội Việt Minh vội vã đến bắt Đờ Caxtơri đến nỗi họ đốt cháy giai đoạn, không vào sở chỉ huy Lăngle. Ông này cùng với các sĩ quan của mình đành để thời gian trôi qua: "Một cuộc phi nước đại phóng túng trên đường cái, Lơ Pagiơ ghi lại, vượt qua hầm của chúng tôi đến chỗ tướng Đờ Caxtơri".

Đội mũ ca lô đỏ của kỵ binh Spahi, đeo cuống huân huy chương, Caxtơri đứng chờ đợi họ, và tự giới thiệu với một sĩ quan. Một lát sau, người sĩ quan này ngồi vào ghế bành của tướng và hân hoan gọi điện cho cấp trên báo cáo rằng ông ta đang ở sở chỉ huy của GONO.
Logged
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên
*
Bài viết: 595



« Trả lời #249 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2008, 11:34:46 pm »

Lơ Pa giơ:

“Cuối cùng một bóng người đã xuất hiện trong khung cửa hầm và một lính bộ binh Việt Minh, tiểu liên ngang hông, với cái nhìn long lanh của kẻ chiến thắng, lệnh cho chúng tôi ra khỏi hầm. Với tư thế nghiêm trang, không giơ tay lên, chúng tôi đi ra. Tôi không có gì ngoài bộ quân phục chiến đấu và những tấm ảnh của vợ tôi và con gái tôi. Chúng tôi đi qua những khu vực có nhiều xác chết của cả hai bên. Tôi nhặt một túi dết mà số phận đã đặt lên trên đường tôi đi, nó chứa một mảnh vải lều và một pulôve.”

Đại úy Vécđenhan đi ra sau Lơ Pagiơ với một ý nghĩ đã xác định chạy sang hầm bên cạnh lấy chiếc túi để quên ở đó. Không dễ dàng gì vì Việt Minh đứng đầy chung quanh, ngón tay lăm lăm cò súng. Nào với bốn bước chân anh đã làm được: “Tôi mất mười giây và chịu một loạt câu chửi rủa và cả nguy cơ xơi lựu đạn ném xuống đường hầm, nơi tôi nhảy xuống lấy cái túi” .

Một trong các đại úy của Biga thấy người Việt Minh đầu tiên của mình trong phòng mổ của trạm giải phẫu. Dùng bàn tay phải để đỡ cánh tay trái của mình, Lơ Buđéc trở lại đặt mình vào hai bàn tay chuyên môn của Ginđrây. Trung sĩ Lơvacsơ đã gây mê cho ông trước khi cố định vết gãy, anh đã để mở các vết thương, được bảo vệ bằng gạc tuyn và băng.

Grauuyn lúc đó vào báo là Việt Minh đã đến. Nên đợi họ ở ngoài "để họ khỏi quẳng lựu đạn"? Bao quanh Giônơvievô đờ Gala như là một đội cận vệ và để Lơ Buđéc ở lại trong hơi gây mê, tất cả mọi người leo lên những bậc thang bùn lầy.

Grauuyn, Ginđrây và các kíp của họ không đi xa. Một sĩ quan Việt Minh dừng họ lại, họ được phép quay trở lại với người bị thương mà nhiều người đang chờ đợi trong hào dẫn đến trạm để được chăm sóc hoặc để mổ. Bác sĩ Riviê thuộc tiểu đoàn 6 dù thuộc địa, trốn ở chỗ Grauuyn từ buổi sáng, ở lại trong trạm. Tuy nhiên, người chiến thắng đòi được gặp những người bị thương của phía mình bị bắt làm tù binh.

Bác sĩ đại úy Vécđaghê thừa nhận rằng: "ông được an ủi nhiều vì Việt Minh đã đến lúc trời còn sáng như vậy góp phần tránh được mọi sự quá trớn. Sự tiếp xúc giữa tôi và họ là rất đúng mực, tôi mang băng chữ thập đỏ và tôi đã được ở lại với những người bị thương của chúng ta”.

Ở tiểu đoàn 8 xung kích, trên cứ điểm Êpeiviê "Việt Minh đã đến ở phía trên cầu thang dẫn đến bệnh xá, Patơrit đờ Cácpho biết: Họ thét chúng tôi phải ra nhanh (đi đi, mau lên) nhưng những yêu cầu bắt buộc của họ không mang tính chất khiêu khích. Vừa tập hợp xong, hàng ngũ bé nhỏ của chúng tôi bắt đầu di động và tôi cố đến gần thiếu tá Turê, ông đã có những dấu hiệu kiệt sức”.

Các y tá Giêôphrây và Tơrêhiu đi theo bác sĩ. Hai người khác Rivie và Rômiti ở lại với những người bị thương và để giải thích cho sự có mặt của họ, họ làm bó bột ở chân. Ở sở chỉ huy của tiểu đoàn 8, người chiến thắng tỏ ra rất vội vã đến nỗi Turê, Lamuliát và Banpêtơrơ bị bắt buộc bằng vũ lực phải đi ra "đến nỗi, Đêmông phát hiện, họ không kịp mang túi đồ đạc của họ chuẩn bị cho cuộc thoát vây sang Lào".

Ở trạm giải phẫu dù số 5, nơi Hanz và Viđan làm việc, Viđan xác nhận rằng "người ta đã cho phép họ ở lại và tiếp tục các ca mổ". Nhân dịp lần đầu được ra ngoài với không khí tự do, Hanz thoạt đầu khám phá ra họ đã khác đi biết bao nhiêu: “Bị mụ đi như tất cả các chiến binh khác, chúng tôi gầy đi hàng chục ki lô, chúng tôi còn mang găng tay vấy máu và bùn nhưng chúng tôi đặc biệt bị choáng vì ánh sáng ban ngày” .

Bác sĩ trưởng Lơ Đamany được xếp vào đoàn tù binh đi về phía Bắc. Bác sĩ Prêmiliơ thuộc trung đoàn 4 Marốc và bác sĩ Rôngđy thuộc tiểu đoàn 1 dù ngoại quốc, Mađơlen thuộc tiểu đoàn 2 dù ngoại quốc cũng hòa nhập vào đoàn. Rôngđi tức giận phải rời bỏ bệnh xá của mình nhưng anh phải phục tùng vì anh đoán thấy bộ đội Việt Minh sẽ dễ dàng bóp cò. Hai y tá của anh, Ran và Đi Lorengô giải thích cho cái đội tuần tra Việt Minh, được bố trí theo chiến thuật bàn cờ, rằng trong hầm chỉ có những người bị thương nặng và kỳ diệu thay, họ được phép ở lại tại chỗ. Việt Minh không tiến hành một cuộc kiểm tra nào và tiếp tục đi trong lúc những người khác ngày càng đông, xuất hiện trong địa điểm.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM