Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 04:08:58 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6  (Đọc 71560 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #20 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2010, 09:30:41 pm »


II- TIẾP TỤC PHẢN CÔNG VÀ TIẾN CÔNG ĐẨY LÙI ĐỊCH TỪNG BƯỚC,
MỞ RỘNG VÀ CỦNG CỐ VÙNG GIẢI PHÓNG, GIỮ VỮNG THẾ CHỦ ĐỘNG CHIẾN TRƯỜNG

Khi tiếng súng Tổng tiến công và nổi dậy năm Mậu Thân 1968 của quân và dân ta trên chiến trường miền Nam tạm lắng, phía Mỹ cho rằng, Quân giải phóng đã kiệt sức, vì quân số thương vong quá nhiều, vũ khí đạn dược, lương thực không được tiếp tế, bổ sung kịp thời. Lợi dụng tình hình này Bộ Chỉ huy quân sự Mỹ tại miền Nam (MACV) nhanh chóng tập trung lực lượng và phương tiện chiến tranh triển khai biện pháp chiến lược quét và giữ, phòng ngự chiều sâu1. Ở vòng ngoài, máy bay B52 tăng cường đánh phá nhằm tiêu diệt và đẩy lùi lực lượng vũ trang Quân giải phóng miền Nam, tàn phá nhà cửa, ruộng vườn, dồn dân vào các ấp chiến lược, trại tập trung, tạo ra các vành đai trắng nhằm ngăn chặn các cuộc tiến công của đối phương. Ở vòng trong, 50% quân chiến đấu Mỹ và đồng minh, 80% quân đội Sài Gòn được huy động làm nhiệm vụ càn quét, phục vụ cho công cuộc bình định nông thôn (chủ yếu là vùng đồng bằng đông dân, nhiều của). Giờ đây, quân chiến đấu Mỹ bắt đầu được sử dụng như lực lượng hỗ trợ cho quân đội Sài Gòn ra trận mà Tây Nguyên là địa bàn được Bộ chỉ huy quân đội Mỹ chọn làm thí điểm. Theo đó, các đơn vị quân chiến đấu Mỹ lui về phòng giữ các thị xã Kon Tum, Plâyku, Buôn Ma Thuột, thành phố Đà Lạt đồng thời giảm thiểu các cuộc hành quân do quân Mỹ thực hiện nhằm tránh thương vong cho binh sỹ Mỹ. Thay vào đó, các đơn vị quân đội Sài Gòn được đảm lãnh trách nhiệm mở các cuộc hành quân đối phó với chủ lực ta trên chiến trường này.

Với ý đồ chiến lược như vậy, ngày 10-1-1969, địch huy động ba tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 42, một tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 47 Sư đoàn 23 và hai tiểu đoàn biệt động quân đội Sài Gòn, có sự yểm trợ của pháo binh, máy bay và một số đơn vị bộ binh Mỹ, mở cuộc hành quân Bình Tây 48 đánh vào căn cứ ta ở vùng núi Chư Pa (Gia Lai) - một trong những vị trí có tầm quan trọng chiến lược của chiến trường Tây Nguyên, cách thị xã Plâyku 38 km về phía tây bắc. Do sớm phát hiện được âm mưu và kế hoạch của địch, nên ta đã chủ động bố trí lực lượng và thế trận đón đánh. Khi những cánh quân của địch vừa đặt chân vào khu vực căn cứ, ngay lập tức chúng bị các lực lượng vũ trang Tây Nguyên giáng trả quyết liệt. Sau vài giờ ta loại khỏi vòng chiến đấu một bộ phận quan trọng lực lượng và phương tiện chiến tranh của địch, đẩy lui các mũi tiến công của chúng ra xa căn cứ. Núng thế, chỉ huy quân địch quyết định rút toàn bộ lực lượng còn lại ra vòng ngoài để củng cố và bổ sung quân số, vũ khí. Ngay sau đó chúng mở cuộc hành quân Bình Tây 49 tiếp tục tiến công Chư Pa.

Rút kinh nghiệm lần trước, địch sử dụng pháo binh và không quân tập kích dữ dội vào các mục tiêu để dọn đường cho bộ binh tiến công. Dưới bom đạn, bộ đội ta vẫn gìm súng bình tĩnh chờ địch. Khi các mũi tiến quân của địch lọt gọn vào khu vực chuẩn bị sẵn, bộ đội và du kích bất ngờ và đồng loạt nổ súng vào cả phía trước phía sau và hai bên sườn đội hình tiến quân của địch, chia cắt chúng ra thành từng mảng. Bị bất ngờ và trước lối đánh mưu trí, dũng mãnh của ta, địch bị tổn thất nặng, hàng trăm tên địch bị loại khỏi vòng chiến đấu. Để cứu nguy cho đồng bọn, địch vội vã điều quân từ Phú Yên cơ động lên mở tiếp cuộc hành quân Bình Tây 50 giải toả Chư Pa. Với khí thế đang lên, lực lượng vũ trang ta đã nhanh chóng đánh bại cuộc hành quân mới này của địch.

Các cuộc hành quân thí điểm trong khuôn khổ chủ trương phi Mỹ hoá chiến tranh của địch, ngay từ những ngày đầu đã bị lực lượng vũ trang và đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đánh bại. Trải qua 20 ngày chiến đấu quân và dân các dân tộc Tây Nguyên đã bẻ gãy hoàn toàn ba cuộc hành quân Bình Tây 48, Bình Tây 49 và Bình Tây 50 của quân đội Sài Gòn và quân Mỹ, loại khỏi vòng chiến đấu 2.500 tên địch, bắn rơi và bắn hỏng nhiều máy bay các loại, phá huỷ và phá hỏng hàng chục xe quân sự, thu nhiều vũ khí và quân trang, quân dụng. Thắng lợi Chư Pa giáng một đòn mạnh mẽ vào âm mưu bình định cấp tốc của địch ở Tây nguyên, bảo vệ vững chắc căn cứ kháng chiến của ta.

Tiếp đó, với âm mưu ngăn chặn các cuộc tiến công của lực lượng vũ trang quân giải phóng: đánh phá hành lang chiến lược căn cứ và hệ thống kho tàng của ta, ngày 24-1-1969, địch huy động lực lượng của Trung đoàn 9 Sư đoàn 3 lính thủy đánh bộ Mỹ và năm tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 1 quân đội Sài Gòn (khoảng 7.000 quân), có không quân và pháo binh yểm hộ, mở cuộc hành quân Cái hẻm Điuây (Dewey Canyon) đánh lên vùng núi Côcava (tây Trị - Thiên) nhằm tiêu diệt chủ lực, phá kho tàng và mạng đường chiến lược 559 của ta. Sớm phát hiện được những thủ đoạn mới của địch, Bộ Tư lệnh Quân khu Trị - Thiên trực tiếp chỉ đạo lực lượng vũ trang và nhân dân các địa phương khẩn trương làm công tác chuẩn bị mọi mặt để chủ động đánh địch. Khi quân địch vừa kéo lên, Trung đoàn 5 bộ binh, Tiểu đoàn 3 đặc công có sự phối hợp của lực lượng các binh trạm và du kích miền tây dũng cảm ngăn chặn địch, bảo vệ vững chắc căn cứ, đường hành lang và các kho hậu cần. Sau 18 ngày chiến đấu liên tục, quân ta đánh thiệt hại Trung đoàn 9 lính thuỷ đánh bộ Mỹ và một số đơn vị quân đội Sài Gòn, loại khỏi vòng chiến đấu 2.863 tên, bắn rơi và phá huỷ 49 máy bay, sáu khẩu pháo...

Trong khi đó, quân và dân Nam Bộ cũng kiên cường trụ bám địa bàn đánh bại các cuộc hành quân của địch vào căn cứ U Minh (Rạch Giá, Cà Mau), tập kích sân bay Lộ Tẻ, sở chỉ huy Sư đoàn 25 Mỹ tại Đồng Dù, tiến công cụm quân Mỹ ở Thị Tính (huyện Bến Cát, tỉnh Thủ Dầu Một), gây cho địch nhiều thiệt hại.
______________________________________
1. “Quét và giữ” và “Phòng ngự chiều sâu” là những biện pháp chiến lược của Abram - Tư lệnh quân chiến đấu Mỹ ở Nam Việt Nam, thay cho biện pháp “Tìm và diệt” của Oétmolen - Tư lệnh quân chiến đấu Mỹ những năm 1965 -1968.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #21 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2010, 09:32:38 pm »


Trong lúc quân và dân ta trên khắp chiến trường miền Nam đang kiên cường bám trụ, đánh trả quyết liệt các cuộc hành quân thí điểm chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh của địch, thì ngày 25-1-1969 tại Pari (thủ đô nước Pháp) phiên họp đầu tiên của hội nghị bốn bên để giải quyết vấn đề chiến tranh ở Việt Nam chính thức khai mạc. Mặc dù Mỹ phải thừa nhận đại diện Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là một đại diện chính thức và hợp pháp trên bàn đàm phán, nhưng chính quyền Níchxơn luôn tìm mọi cách để kéo dài thời gian đàm phán, với hy vọng sẽ nhanh chóng tạo được thắng lợi lớn trên chiến trường nhằm gây áp lực với ta trên bàn hội nghị1. Thái độ và quan điểm của phái đoàn Chính phủ Mỹ ở hội nghị Pari càng chứng tỏ một thực tế đòn quân sự trên chiến trường luôn là nhân tố có tính quyết định nhất đến thái độ và lập trường của mỗi bên trên bàn đàm phán. Vì vậy, trong chỉ thị gửi Đảng bộ miền Nam, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam chỉ rõ: năm 1969 phải đẩy mạnh các đợt hoạt động tiến công địch (trước mắt là đợt xuân và hè), tạo nên những thắng lợi làm xoay chuyển cục diện chiến trường theo hưởng có lợi cho ta.

Chấp hành chỉ thị của Bộ Chính trị, Thường vụ Trung ương Cục miền Nam chỉ đạo các địa phương, đơn vị toàn miền Nam “động viên cao độ tinh thần quyết chiến, quyết thắng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, nắm vững thời cơ, kiên quyết xốc tới đẩy mạnh tổng công kích, tổng khởi nghĩa trên khắp ba vùng, nhằm tiêu diệt, tiêu hao một bộ phận quan trọng sinh lực quân Mỹ và phương tiện chiến tranh của Mỹ - ngụy, phát động một cao trào đấu tranh chính trị, binh vận và du kích chiến tranh rộng rãi, đánh bại về cơ bản chương trình “bình định cấp tốc” của địch, làm tan rã phần lớn ngụy quân, ngụy quyền, mở rộng vùng giải phóng nông thôn, giành quyền làm chủ từng phần ở đô thị (chủ yếu là cơ sở), làm chuyển biến lực lượng so sánh có lợi cho ta, tạo thế và lực mới, tiến lên giành thắng lợi quyết định”2.

Thực hiện quyết tâm chiến lược của Đảng, đêm 22 rạng, ngày 23-2-1969, trên khắp chiến trường, quân và dân ta đồng loạt mở đợt tiến công mùa xuân. Pháo binh, bộ binh, du kích, đặc công đánh vào hơn 400 mục tiêu quân sự của địch tại 36 thành phố và thị xã, 100 quận lỵ và thị trấn, 35 sở chỉ huy từ trung đoàn trở lên, 38 sân bay, 17 căn cứ hậu cần; trọng điểm là các thành phố lớn các tỉnh lỵ quan trọng như Sài Gòn, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Cam Ranh, Plâyku, Phước Long, Mỹ Tho, Bến Tre, Trà Vinh, Rạch Giá, Châu Đốc, các căn cứ quân sự hậu cần, sở chỉ huy đầu não của chúng ở Đà Nẵng, Núi Quế, Sùng Mây (Trung Bộ), Đồng Dù, Dầu Tiếng, Đồng Tâm (Nam Bộ)...

Ở Khu V, lực lượng vũ trang ba thứ quân tiến công hệ thống kho tàng chiến lược của quân Mỹ ở An Đồn (Đà Nẵng), Đèo Son, Miếu Lỗ (Quy Nhơn), Cam Ranh (Khánh Hoà), tiêu diệt một bộ phận quân chiến đấu và phương tiện chiến tranh của địch; đánh thiệt hại các sở chỉ huy Bộ Tư lệnh dã chiến số 3 lính thuỷ đánh bộ, Sư đoàn 23 (Amêrican) và các lữ đoàn 11, 196, 198 quân viễn chinh Mỹ. Sư đoàn 2 chủ động kéo lực lượng cơ động Mỹ ra các khu chiến An Hoà (Quảng Đà), Tiên Phước (Quảng Nam), tây Tư Nghĩa và Đức Phổ (Quảng Ngãi) để cầm chân, tiêu hao, tiêu diệt.

Trên chiến trường Tây Nguyên, cuộc chiến đấu giữa ta và địch diễn ra quyết liệt. Sau khi đánh bại các cuộc hành quân Bình Tây 48, Bình Tây 49 và Bình Tây 50, trong những tháng đầu năm 1969, lực lượng vũ trang ba thứ quân Tây Nguyên chuyển sang tiến công tuyến phòng thủ của địch ở phía tây thị xã Kon Tum. Được pháo binh chi viện, bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và du kích tiến công các căn cứ địch ở Plây Cần và đồn Kleng (Kon Tum), Đức Cơ (Gia Lai)... Trước áp lực tiến công của ta, một mặt địch nhanh chóng tăng cường lực lượng để đối phó, mặt khác sử dụng không quân và pháo binh ném hàng nghìn tấn bom, bắn hàng chục nghìn quả đạn đại bác yểm trợ cho bộ binh Mỹ liên tục phản kích, hòng tiêu diệt và đẩy lùi quân ta ra khỏi khu vực có các căn cứ và đồn bốt của chúng. Cuộc giao chiến giữa ta và địch mỗi lúc một thêm quyết liệt. Các chiến sĩ ta luồn lách bám sát đội hình địch, liên tục tiến công đánh giáp lá cà, giành giật với địch từng ngọn đồi, từng thung lũng. Phối hợp với hướng chính, bộ đội đặc công bí mật thọc sâu đánh mạnh hậu cứ Lữ đoàn 1 thuộc Sư đoàn 4 bộ binh Mỹ ở Tân Phú và Buôn Ma Thuột. Tại Bình Thuận, lực lượng chủ lực và du kích tại chỗ tập kích căn cứ Cam Êsépic, tiêu hao nặng một tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 101 dù, hai đại đội pháo, phá huỷ 13 máy bay các loại. Đây là trận đánh tiêu biểu nhất trên chiến trường cực Nam Trung Bộ trong đợt hoạt động mùa xuân 1969.

Sau hơn một tháng tiến công địch (từ ngày 23-2 đến 31-3-1969), quân và dân Khu V đã loại khỏi vòng chiến đấu hàng nghìn tên địch, bắn rơi và phá hủy hàng trăm máy bay, phá huỷ phá hỏng hàng trăm xe quân sự, cùng nhiều phương tiện chiến tranh khác của chúng. Đánh giá sự kiện trên, Hãng tin Pháp AFP dẫn lời của tướng Hoàng Xuân Lãm - Tư lệnh quân khu I - Quân đoàn I quân đội Việt Nam Cộng hòa cho rằng: “Những trận đánh dữ dội diễn ra ở Khu V, đặc biệt là xung quanh thành phố Đà Nẵng từ khi bắt đầu cuộc tiến công cho đến nay (ngày 14-3-1969), chứng tỏ hạ tầng cơ sở của địch (cách mạng miền Nam) hãy còn nguyên vẹn”.
______________________________________
1. Các bên tham dự hội nghị Pari bàn về vấn đề Việt Nam:
    1- Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do đồng chí Xuân Thuỷ làm trưởng đoàn, đồng chí Lê Đức Thọ làm cố vấn đặc biệt.
    2- Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam do ông Trần Bửu Kiếm làm trưởng đoàn, bà Nguyễn Thị Bình và ông Trần Hoài Nam làm phó trưởng đoàn.
    3- Chính phủ Mỹ do ông Hariman làm trưởng đoàn.
    4- Chính phủ Việt Nam Công hòa do ông Nguyễn Cao Kỳ làm trưởng đoàn, Phan Đăng Lâm làm phó trưởng đoàn.

2. Thường vụ Trung ương Cục: Chỉ thị số 71 / TVTWC về nhiệm vụ xuân 1969, tài liệu lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #22 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2010, 09:34:52 pm »


Tại miền Đông Nam Bộ, đêm 22 rạng ngày 23-2-1969; bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và du kích đồng loạt nổ súng tiến công trên hầu khắp chiều sâu phòng ngự của địch ở cả ba vùng chiến lược. Trên hướng trọng điểm bắc và tây bắc Sài Gòn, ba trung đoàn thuộc các Sư đoàn 11, Sư đoàn 7 và Sư đoàn 9, các trung đoàn 16, 286 của Phân khu 12, được sự chi viện của pháo binh, đặc công miền, bộ đội địa phương và du kích phối thuộc, tiến công hệ thống các căn cứ của Sư đoàn 25 bộ binh Mỹ ở Dầu Tiếng, Đồng Dù, Bến Tranh, Trà Cao. Đoàn pháo binh 69 của miền nhiều lần bắn phá các căn cứ Sư đoàn 1 bộ binh và Sư đoàn 1 kỵ binh cơ động đường không Mỹ ở Trảng Lớn, Lai Khê, Phước Vĩnh, Técních, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên cùng nhiều vũ khí và phương tiện chiến tranh của chúng. Cùng ngày, các phân đội đặc công của Công trường 9 (mật danh của Sư đoàn 9) tập kích tiêu hao nặng các cụm quân dã chiến của Sư đoàn 25 bộ binh Mỹ ở Cống Vệ, Thái Mỹ, Đức Hoà... Bộ đội công binh và du kích Phân khu 2 phục kích, tập kích đánh tàu địch trên sông Đồng Nai và căn cứ hải quân Gò Dầu Hạ (Tây Ninh), loại khỏi vòng chiến đấu 10 tàu, thuyền các loại và hơn 200 tên địch3. Hai giờ 30 phút ngày 26-2-1969, Tiểu đoàn 3 đặc công thuộc Bộ tư lệnh miền và Tiểu đoàn 28 đặc công Sư đoàn 7, dưới sự chỉ huy trực tiếp của Phó chỉ huy trưởng đặc công miền - Anh hùng Nguyễn Cụ (Nguyễn Tư Cường) sau khi bí mật cơ động lực lượng, vũ khí đã bất ngờ tiến công căn cứ Đồng Dù - “cánh cửa sắt” vững chắc bảo vệ cửa ngõ phía bắc Sài Gòn. Đây là căn cứ được xây dựng rất kiên cố, với hệ thống cứ điểm liên hoàn, với bảy hàng rào dây kẽm gai, xen kẽ là các bãi mìn, lô cốt dày đặc bảo vệ xung quanh. Mặc cho pháo sáng, đèn dù soi rọi kết hợp với pháo binh bắn cầm canh suốt đêm, các chiến sĩ phân đội mở cửa vẫn nhẹ nhàng, lần lượt cắt đứt bảy hàng rào kẽm gai. Khi hàng rào cuối cùng bị cắt rời, cũng là lúc hiệu lệnh tiến công được phát ra. Lập tức pháo binh ta bắn cấp tập, tiêu diệt và chế áp các hoả điểm đề kháng của địch, tạo điều kiện thuận lợi cho bộ đội trên các hướng, các mũi nhanh chóng đánh chiếm các mục tiêu chủ yếu trong tung thâm căn cứ của địch theo đúng kế hoạch phân công.

Do tạo được yếu tố bất ngờ và sử dụng lực lượng, cách đánh thích hợp, nên chỉ sau 30 phút chiến đấu, ta đã phá huỷ cơ bản sở chỉ huy Sư đoàn 25, khu thông tin, đài rađa, hai trận địa pháo, 100 lô cốt, 29 hầm ngầm, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 1.200 tên địch; phá huỷ, phá hỏng 179 xe quân sự, 12 pháo và hàng chục máy bay các loại... Bị đánh thiệt hại nặng Sư đoàn 25 bộ binh Mỹ buộc phải co cụm để bảo toàn lực lượng còn lại. Sau đó, một lữ đoàn dù quân đội Sài Gòn được điều lên tăng cường cho Tây Ninh, rút một tiểu đoàn dù Mỹ từ Củ Chi được đưa tới án ngữ ở Hiệp Hoà đề phòng Sư đoàn 9 của ta tiến công. Trận tập kích Đồng Dù là trận đánh đạt hiệu suất chiến đấu cao của Quân giải phóng trong đợt hoạt động xuân Kỷ Dậu 1969.

Trên hướng đông và đông bắc Sài Gòn, tháng 2-1969, Sư đoàn bộ binh 5 chủ lực miền và lực lượng vũ trang tại chỗ liên tục tiến công địch khu vực Biên Hoà, Long Bình, tạo thế và hỗ trợ trực tiếp cho nhân dân nổi dậy đánh phá bình định giành quyền làm chủ ở Trảng Bom (Xuân Lộc), Vĩnh Cửu, Long Thành, Nhơn Trạch... Cùng thời gian trên, Trung đoàn 33 bộ đội chủ lực miền đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn quân đội Hoàng Gia Thái Lan ở Bầu Cối (đông nam chi khu Long Bình), buộc địch phải tập trung sáu tiểu đoàn tổng trù bị chiến lược quân đội Sài Gòn hành quân giải toả vòng trong; đồng thời khẩn cấp đưa Lữ đoàn 3 kỵ binh không vận đến giải toả và án ngữ vòng ngoài (nam bắc sông Đồng Nai) của chi khu Long Bình.

Sau một thời gian lúng túng chống đỡ do bị bất ngờ, địch đã dần ổn định tình hình, củng cố được lực lượng và bắt đầu triển khai các cuộc hành quân phản kích một cách quyết liệt trên khắp chiến trường. Ngày 17-3-1969, địch huy động 12 tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 25 bộ binh và Sư đoàn 1 bộ binh, sử dụng Trung đoàn thiết giáp số 11 làm lực lượng xung kích, mở cuộc hành quân Cái nêm Átlát (Atlas Wedge), với mục tiêu: phá thế bao vây của bộ đội và du kích ta, giải toả khu vực Dầu Tiếng (Thủ Dầu Một). Bên cạnh việc huy động một số lượng lớn quân chiến đấu tinh nhuệ (khoảng 10.000 tên), Mỹ cũng đồng thời triển khai kế hoạch sử dụng máy bay B52 ném bom huỷ diệt trên diện rộng trên hầu khắp địa bàn các tỉnh Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Bình Long và khu vực biên giới Việt Nam - Campuchia, hòng ngăn chặn lực lượng vũ trang ta có thể rút sang Campuchia đứng chân, tạo bàn đạp để phản kích lại các cuộc hành quân của quân Mỹ. Bởi vậy, ngày 18-3-1969, không quân Mỹ được lệnh ném bom Campuchia. Níchxơn đánh giá hành động quân sự này của Mỹ là điểm ngoặt đầu tiên trong cách tiến hành chiến tranh Việt Nam của chính quyền”4 ông ta.

Trên phạm vi diễn ra cuộc hành quân, chỉ trong 10 ngày (từ ngày 18 đến 28-3-1969), không quân và pháo binh Mỹ và Sài Gòn đã dội hơn 1.500 tấn bom đạn các loại xuống khu vực đồn điền cao su Misơlanh, xuống cả những thôn, ấp mà chúng nghi là có cơ sở cách mạng và lực lượng vũ trang giải phóng trụ bám. Trước sự đánh phá điên cuồng của không quân địch, ta bị những tổn thất nặng nề về lực lượng và cơ sở cách mạng. Dù vậy, lực lượng vũ trang ba thứ quân và nhân dân các địa phương vẫn chủ động mở chiến dịch tiến công Tây Ninh - Bình Long - Biên Hoà, đánh vào các căn cứ sào huyệt của địch ở Trà Cao (Tây Ninh), Nước Trong (Biên Hoà)..., loại khỏi vòng chiến đấu hơn 2.000 tên, đánh thiệt hại chín đại đội hỗn hợp quân Mỹ và quân đội Sài Gòn, phá huỷ phá hỏng hơn 200 xe quân sự các loại, bắn rơi 20 máy bay, thu nhiều quân trang, quân dụng, đập tan cuộc hành quân mang mật danh Cái nêm Átlát của địch. Tiếp đó, để ngăn chặn tuyến đường cơ động của quân ta xuống phía đông, phía tây sông Sài Gòn và khôi phục tuyến phòng thủ liên tỉnh lộ 13, cuối tháng 3-1969, địch rút lực lượng và phương tiện chiến tranh ở Trà Cao - Lộc Giang, mở tiếp cuộc hành quân mang mật danh Montana. Phát hiện được ý đồ của địch, bộ đội và du kích nhanh chóng cơ động lực lượng, chủ động phục kích, tập kích, quần lộn với địch, làm thất bại cuộc hành quân Montana của chúng.
______________________________________
1. Theo Lịch sử quân đội nhân dân Việt Nam, tập 2, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994, tr.337; năm 1969 Sư đoàn 1 gồm 3 trung đoàn 95C, 101C và 209 được điều từ Tây Nguyên vào miền Đông Nam Bộ.
2. Cuối năm 1967, Trung ương Cục quyết định giải thể Quân khu miền Đông và Quân khu Sài Còn - Gia Định, lập sáu phân khu. Mỗi phân khu có Phân khu uỷ và Bộ chỉ huy phân khu:
    - Phân khu 1 gồm các huyện Củ Chi, Hóc Môn, Gò Vấp, Bến Cát, Dầu Tiếng và một phần huyện Trảng Bàng.
    - Phân khu 2 gồm các huyện Tân Bình, khu vực phía bắc huyện Bình Chánh, các quận 6, 5, 3 và bắc Long An.
    - Phân khu 3 gồm các huyện Nhà Bè, khu vực nam huyện Bình Chánh, các quận 2, 4, 7, 8 và nam Long An.
    - Phân khu 4 gồm các huyện Thủ Đức, khu vực nam Bình Chánh, các quận 9, 1 và đặc khu Rừng Sác (Đoàn 10).
    - Phân Khu V gồm các quận Bình Hoà, Dĩ An, Phú Nhuận và các huyện Lái Thiêu, Phú Giáo, Tân Uyên.
    - Phân khu 6 gồm các lực lượng nội thành: Ban cán sự đảng nội thành, biệt động, đặc công nội thành và các ngành các giới nội đô (không có đất).

3. Miền Đông Nam Bộ kháng chiến, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1993, tr. 379-380.
4. Giôdép A.Amtơ: Lời phán quyết về Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội,1985, tr.277.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #23 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2010, 09:36:13 pm »


Mặc dù giành được những thắng lợi trên mặt trận quân sự nhưng do địa bàn đứng chân còn lại của lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ rất eo hẹp, khiến cho bộ đội, du kích sau khi tác chiến buộc phải nhanh chóng cơ động để bảo toàn lực lượng, nên việc hỗ trợ cho mặt trận chống phá bình định ở các địa phương của lực lượng vũ trang, còn hạn chế. Vì thế, những tháng đầu năm 1969, ta không thực hiện được việc mở rộng quyền làm chủ ở nông thôn, cũng như chưa củng cố vững chắc được vùng giải phóng.

Ở đồng bằng sông Cửu Long, trong tháng 2-1969, quân và dân ta nổ súng tiến công một loạt các căn cứ địch ở Bến Tre, Mỹ Tho, Cần Thơ, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cà Mau... Pháo binh ta dội đạn vào các sân bay, kho tàng, gây cho địch nhiều thiệt hại. Nổi bật nhất là đêm 22-2-1969, Trung đoàn 1 có Tiểu đoàn pháo binh 309F chi viện trực tiếp, bất ngờ tập kích thị xã Mỹ Tho và căn cứ Đồng Tâm, loại khỏi chiến đấu hàng chục tên địch, phá huỷ và phá hỏng 12 máy bay các loại, sáu khẩu pháo... Kết hợp với đánh địch trên bộ, lực lượng đặc công và công binh của khu, của các địa phương chặn đánh nhiều đoàn tàu chiến đấu và vận tải trên sông của địch, phá huỷ và phá hỏng bảy tàu, tiêu huỷ hàng trăm tấn nhiên liệu, cũng trong thời gian trên, Trung đoàn 2 (thiếu Tiểu đoàn 263) tổ chức phục kích tại kênh Chợ Gạo và Gò Công, diệt một đại đội bảo an.

Phối hợp với hoạt động của bộ đội chủ lực khu, lực lượng vũ trang các tỉnh đẩy mạnh các hoạt động tiến công địch ở vùng sâu, vùng yếu, hỗ trợ trực tiếp cho nhân dân nổi dậy chống phá bình định. Đêm 24-2-1969, lực lượng đặc công Tỉnh đội Bến Tre sử dụng một đại đội kết hợp chặt chẽ với cơ sở nội tuyến tập kích căn cứ của Tiểu đoàn 2 thuộc Trung đoàn 10 quân đội Sài Gòn đóng tại Bình Phú (ngoại ô thị xã Bến Tre), loại khỏi vòng chiến đấu 120 tên địch; một đại đội bí mật tập kích phá huỷ năm khẩu pháo 105 mm của Mỹ ở trận địa Đồng Cò và Chợ Giữa. Phát huy chiến quả của đòn quân sự, các cơ sở mật đã tập hợp nhân dân nhiều thôn, ấp ở ven thị xã Bến Tre đồng loạt nổi dậy phá lỏng thế kìm kẹp, phá một số ấp chiến lược của địch.

Mặc dù quân và dân đồng bằng sông Cửu Long đã nỗ lực đẩy mạnh tiến công địch nhưng do điều kiện bảo đảm về lực lượng vũ khí, cơ sở vật chất kỹ thuật gặp rất nhiều khó khăn, nên đòn tiến công quân sự không đủ mạnh để có thể hỗ trợ cho nhân dân nổi dậy đấu tranh. Mặt khác, cơ sở mật, lực lượng tự vệ mật cũng như các tổ chức quần chúng cách mạng ở nhiều xóm, ấp bị thiệt hại nặng trong năm 1968 chưa kịp được khôi phục.... do vậy, phong trào chống phá bình định ở các địa phương thuộc đồng bằng sông Cửu Long chẳng những không phát triển được, mà ngược lại cơ sở cách mạng tiếp tục bị tổn thất, lực lượng vũ trang bị tiêu hao, vùng giải phóng, vùng làm chủ ở nhiều nơi có nguy cơ bị thu hẹp. Đây cũng là những khó khăn chung của nhiều địa phương trên chiến trường miền Nam.

Thực tiễn tác chiến của quân và dân miền Nam đợt hoạt động xuân 1969 trong điều kiện cả thế và lực của ta đều quá chênh lệch so với địch, nên kết quả đạt được rất thấp, một số nơi không thực hiện được mục tiêu đề ra ban đầu như các địa phương thuộc Nam Trung Bộ và Khu IX. Tuy vậy, đợt hoạt động xuân 1969 của quân và dân miền Nam vẫn là một đòn đánh bồi vào ý chí xâm lược của Mỹ vốn đã bị lung lay do chấn động của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 và đó còn là đòn tiến công gây bất ngờ lớn đối với Mỹ khi chúng bắt đầu thể nghiệm chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh với công thức: bộ binh quân lực Việt Nam Công hòa với sự chi viện của hoả lực Mỹ. Đợt hoạt động xuân 1969 có ý nghĩa chính trị rất lớn, làm gay gắt thêm những mâu thuẫn vốn đã gay gắt giữa Mỹ và chính quyền Sài Gòn, mâu thuẫn trong nội bộ quân đội và chính quyền Sài Gòn cũng như mâu thuẫn trong nội bộ nước Mỹ. Thực tế chiến trường cho thấy, quân đội Sài Gòn sẽ khó trụ vững khi quân Mỹ rút đi...

Tiếp theo đợt hoạt động xuân 1969, trong tháng 4-1969, trên khắp các chiến trường miền Nam, lực lượng vũ trang và nhân dân ta vẫn tiếp tục duy trì nhịp độ tiến công địch một cách thường xuyên và liên tục. Từ Khu VI trở vào, ta đánh 934 trận, loại khỏi vòng chiến đấu hàng ngàn tên địch, đánh thiệt hại hai tiểu đoàn quân đội Sài Gòn, ba cụm quân Mỹ, một sở chỉ huy tiểu khu, sáu đoàn cán bộ bình định, bắn rơi và phá huỷ hơn 150 máy bay, phá huỷ và phá hỏng 346 xe quân sự, bắn chìm 74 tàu chiến trên sông của địch. Bộ đội chủ lực miền phối hợp với bộ đội và du kích địa phương đánh địch ở Trà Cao, Bến Cầu (Tây Ninh), Dầu Tiếng (Thủ Dầu Một). Chủ lực Khu VI tập kích địch trên sông Mao (Bình Thuận). Trên mặt trận Đường 9 - tây Trị - Thiên, trong thời gian từ ngày 17-3 đến 31-4-1969. Đoàn 7 (bộ đội tỉnh Quảng Trị) và Trung đoàn 8 có sự phối hợp của lực lượng vũ trang tại chỗ và nhân dân khu vực phía nam huyện Hướng Hoá làm thất bại cuộc hành quân mang mật danh Lam Sơn 271 với lực lượng năm tiểu đoàn địch, đánh bại ý đồ đánh phá kho tàng và hành lang vận chuyển chiến lược của ta ở khu vực Tam Tanh, A Giới (tây nam Quảng Trị)1.

Song song với nhiệm vụ đẩy mạnh tiến công tiêu diệt địch thường xuyên, quân và dân ta cũng khẩn trương chuẩn bị lực lượng và thế trận cho đợt hoạt động hè. Ở miền Đông Nam Bộ, các Sư đoàn 5, Sư đoàn 7 và Sư đoàn 9 tập trung lực lượng trên hướng Tây Ninh và tây Bình Long, tiến công Sư đoàn 1 kỵ binh cơ động đường không Mỹ trên liên tỉnh lộ 13; đồng thời, phối hợp chặt chẽ với đặc công, pháo binh và bộ đội địa phương đánh thiệt hại nặng các căn cứ kho tàng của địch ở Técních, Phước Vĩnh, Dầu Tiếng, Trảng Lớn. Sư đoàn 5 đứng chân hoạt động ở Long Khánh (Chiến khu Đ), Định Quán (trên đường 20), dùng đặc công, pháo binh tập kích sở chỉ huy và đánh thiệt hại nặng Sư đoàn 18 quân đội Sài Gòn, bảo vệ vững chắc căn cứ và kho tàng của ta. Tại đồng bằng sông Cửu Long bộ đội chủ lực tiến công địch ở Mỹ Tho, Bến Tre, mở hướng tiến công mới ở An Giang, Hà Tiên, bắc Rạch Giá, hỗ trợ tích cực cho đánh phá bình định, tạo thế uy hiếp địch ở đô thị. Các chiến trường Khu V, Trị - Thiên - Huế, lực lượng bộ đội tỉnh, huyện và du kích các xã, ấp tích cực hoạt động ngăn chặn và làm thất bại các cuộc hành quân của địch nhằm vào hệ thống căn cứ, kho tàng và đường hành lang chiến lược của ta.
______________________________________
1. Chiến trường Trị - Thiên - Huế trong cuộc kháng chiến chống Mỹ toàn thắng, Nxb. Thuận Hoá, Huế, 1985, tr.172.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #24 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2010, 09:36:40 pm »


Trên chiến trường Tây Nguyên và đường 9 - tây Trị - Thiên, do vị trí chiến lược của vùng đất này cả ta và địch đều tập trung một số lượng lớn binh lực và phương tiện chiến tranh. Theo đánh giá của Mỹ, chủ trương phi Mỹ hoá và tiếp đến là Việt Nam hoá chiến tranh chỉ có thể thành công khi chúng giành được thắng lợi về quân sự ở chiến trường Tây Nguyên và đường 9 - tây Trị - Thiên. Đầu năm 1969, chúng đã mở một số cuộc hành quân thí điểm cho việc thực hiện chủ trương phi Mỹ hoá chiến tranh ở khu vực này, nhưng bị quân và dân ta đánh bại. Do vậy một mặt, địch phải co cụm lực lượng, tổ chức phòng thủ bảo vệ căn cứ, mặt khác, sẽ tiếp tục mở các cuộc hành quân đánh phá bàn đạp tiến công của ta. Đây là điều kiện tốt để quân và dân Tây Nguyên, đường 9 - tây Trị - Thiên tiến công tiêu hao, tiêu diệt sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch, góp phần cùng với toàn miền từng bước làm thay đổi cục diện chiến trường ngày càng có lợi cho ta.

Theo kế hoạch thống nhất ngày 11-5-1969, toàn miền Nam bắt đầu bước vào đợt hoạt động hè. Bộ đội đặc công, biệt động, pháo chuyên trách cùng các đơn vị bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân, du kích đánh vào hơn 800 mục tiêu, trong đó có 57 căn cứ sở chỉ huy từ cấp trung đoàn trở lên và 41 sân bay của địch trên toàn miền.

Tại miền Đông Nam Bộ, trên hướng chủ yếu, bộ đội chủ lực vào đợt sớm hơn. Chuẩn bị cho kế hoạch tiến công hè, trước đó, Quân uỷ và Bộ chỉ huy miền quyết định đưa Sư đoàn 9 tới hoạt động ở địa bàn tỉnh Tây Ninh, Sư đoàn 7 tổ chức đánh địch ở Bình Long. Sư đoàn 5 (thiếu) thọc sâu xuống Chiến khu Đ đánh các cụm quân địch trên đường số 26 và 22. Ngày 5-5-1969, Trung đoàn 174 thuộc Sư đoàn 5 tiến công căn cứ Đồng Pan, tiêu hao một bộ phận tiểu đoàn địch chốt giữ ở đây. Để tránh bị ta xoá sổ, bộ phận địch còn lại ở Đồng Pan lui về cố thủ ở Bầu Cỏ (Tây Ninh). Cùng ngày, Trung đoàn 141 thuộc Sư đoàn 7 đánh địch ở căn cứ Tà Tê và bắc liên tỉnh lộ 13 nhưng không thành công, nên hai lữ đoàn thuộc Sư đoàn 1 kỵ binh cơ động đường không Mỹ vẫn giữ quyền làm chủ liên tỉnh lộ 13, ngăn chặn lực lượng vũ trang ta tiến xuống tuyến trung gian.

Trước sự thay đổi bố trí lực lượng tác chiến của ta trên chiến trường, địch buộc phải căng lực lượng và phương tiện ra đối phó một cách bị động, tạo thuận lợi cho nhân dân các địa phương chống phá bình định, giành và giữ thế chiến trường.

Theo đúng thời gian quy định, bắt đầu từ ngày 11-5-1969, Sư đoàn 7 phối hợp với đặc công đánh thiệt hại Trung đoàn 11 thiết giáp Mỹ trên hướng tây và tây nam thị xã Hớn Quản (Bình Long), tập kích căn cứ Lữ đoàn 3 Sư đoàn 1 kỵ binh cơ động đường không Mỹ ở Técních. Thị xã Hớn Quản và liên tỉnh lộ 13 bị ta uy hiếp mạnh, địch phải khẩn cấp điều tám tiểu đoàn dù của cả quân Mỹ và quân Sài Gòn lên tăng cường cho lực lượng tại đây. Trên hướng Tây Ninh, Sư đoàn 9 tiến công vào một số căn cứ địch đóng ở khu vực xung quanh Toà Thánh (thị xã Tây Ninh), đánh địch ở khu vực Vườn Điều buộc địch phải tập trung lực lượng tổng trù bị chiến lược của quân đội Sài Gòn và Lữ đoàn 1 thuộc Sư đoàn 25 bộ binh Mỹ đến ứng cứu, giải toả.

Trên hướng thứ yếu, trong hai ngày 8 và 9-5-1969, Trung đoàn 5 Sư đoàn 5 vận động tiến công hai chiến đoàn 43 và 52 Sư đoàn 18 quân đội Sài Gòn, đánh bại cuộc hành quân càn quét của chúng trên khu vực suối Tầm Bung và đường 20. Tiếp đó, Sư đoàn 5 tiếp tục bám đánh Sư đoàn 18 quân Sài Gòn ở Bà Rịa - Long Khánh, đánh thiệt hại nặng Chiến đoàn 52. Với khí thế tiến công địch dồn dập, liên tục, đạt hiệu suất cao, Sư đoàn 5 trở thành tấm gương sáng về tinh thần, ý chí và phương thức tác chiến cho lực lượng vũ trang và nhân dân toàn miền Nam noi gương và học tập.

Ở vùng ven đô và tuyến trung gian, nơi địch tập trung lực lượng và phương tiện chiến tranh để hình thành các tuyến phòng thủ vững chắc bảo vệ các thành phố, thị xã, vì vậy hoạt động của ta hết sức khó khăn. Tuy nhiên, với ý chí kiên quyết trụ bám địa bàn đánh địch, bộ đội địa phương và du kích Long Thành trong hai ngày 15 và 16-6-1969 đã đánh thiệt hại một tiểu đoàn thuộc Sư đoàn Báo Đen (quân đội Hoàng gia Thái Lan). Với khẩu hiệu “Rừng Sác là nhà, sông Lòng Tàu là trận địa, bến cảng kho tàng địch là quyết chiến điểm”, Đoàn 10 đặc công Rừng Sác mặc dù trong tình thế bị bao vây bốn mặt, lực lượng bị tiêu hao, mọi nguồn tiếp tế bị cắt đứt vẫn kiên quyết bám trụ, tự lo cái ăn, tự tìm kiếm và tạo ra vũ khí đánh địch. Ngày 19-5-1969, để lập công mừng sinh nhật Bác Hồ, trong vòng 30 phút, chiến sĩ Đoàn 10 đánh chìm hai tàu chở dầu bảy nghìn tấn và 15 nghìn tấn của địch trên sông Lòng Tàu. Chiến công này đã góp phần cổ vũ mạnh mẽ tinh thần và củng cố niềm tin vững chắc cho cán bộ, chiến sĩ đặc công Rừng Sác, thôi thúc họ vượt qua mọi khó khăn, kiên trì bám trụ địa bàn đánh địch.


Tại Khu V, đêm 12-5-1969, các đơn vị đặc công các tổ, đội pháo cối chuyên trách bất ngờ tập kích trận địa tên lửa hốc (HOOK) ở Sơn Trà (Đà Nẵng), sở chỉ huy Trung đoàn 1 lính thuỷ đánh bộ Mỹ ở Hầm Xẻ (Quàng Đà), Lữ đoàn 11 Sư đoàn Amêricơn ở Gò Hội (Quảng Ngãi), Trung đoàn 5 lính thuỷ đánh bộ Mỹ ở An Hoà (Quảng Đà), gây cho địch nhiều thiệt hại.

Ở Khu VI, trong tháng 5, đặc công ta tập kích Trung đoàn 44 quân đội Sài Gòn ở sông Mao (Bình Thuận), trại biệt kích ở Lương Sơn, tiểu khu và trận địa pháo Kim Ngọc, buộc địch phải điều quân ra ứng cứu. Trên mặt trận đường số 1, số 8, số 11 và nam bắc Hoà Đa, chủ lực khu và lực lượng địa phương tại chỗ chặn đánh Chiến đoàn bộ binh cơ giới 1/5 quân đội Sài Gòn, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên, phá huỷ, phá hỏng nhiều xe quân sự.

Phối hợp với chiến trường Nam Bộ và Khu V, trên chiến trường Tây Nguyên, sau thất bại ở K’leng, quân Mỹ lui về giữ thị xã Plâyku, đẩy dần các đơn vị quân đội Sài Gòn ra phía trước. Thực hiện kế hoạch tiến công đợt hè 1969, Bộ Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên (B3) quyết định mở chiến dịch Đắc Tô 2 nhằm giáng tiếp một đòn nữa vào chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh của Mỹ, tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch phá kế hoạch bình định của chúng ở Tây Nguyên phối hợp chặt chẽ với chiến trường đồng bằng Khu V và toàn miền tiến công địch.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #25 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2010, 09:37:14 pm »


Cuối tháng 4, đầu tháng 5-1969, ở Tây Nguyên, mùa mưa bắt đầu. Sông, suối nơi đây trở nên rộng lớn và nước chảy xiết hơn khi lũ đầu nguồn đổ về. Công việc chuẩn bị cho chiến dịch của quân và dân ta vì thế gặp muôn vàn khó khăn, đặc biệt là công tác vận chuyển vũ khí, lương thực, thuốc men và cơ động lực lượng. Dù vậy, với khí thế của cuộc vận động thi đua “trẩy hội Điện Biên, lập công dâng Bác”, các lực lượng vũ trang, trong đó có sự góp sức quan trọng của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, đã không quản khó khăn, ngày đêm ra sức chuẩn bị mọi mặt, quyết tâm “Đánh cho Sư 4 (Sư đoàn 4 bộ binh Mỹ) đảo điên, đánh cho quân đội Việt Nam Công hòa ở Tây Nguyên tơi bời”. Căn cứ vào thế bố trí lực lượng và khả năng thực tế của địch, Bộ Chỉ huy chiến dịch quyết định sử dụng Trung đoàn 66, Trung đoàn 28 bộ binh, Trung đoàn 40 pháo binh trên hướng tiến công chủ yếu; các Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 24, Tiểu đoàn 20 đặc công và lực lượng vũ trang tỉnh Kon Tum hoạt động ở phía đông Đắc Tô. Trên hướng phối hợp, thuộc các tỉnh Gia Lai và Đắc Lắc, Trung đoàn 95 đánh địch trên đường 19, tiểu đoàn 361 và 37 tiến công địch ở vùng ven thị xã Plây Ku.

Phát hiện ta sắp mở chiến dịch Đắc Tô 2, địch đổ Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 4 thuộc Trung đoàn 41 quân đội Sài Gòn xuống khu vực Ngọc Pha Ria và Ngọc Bờ Biêng tổ chức các hoạt động ngăn chặn. Ở Ngọc Pha Ria, Tiểu đoàn 1 phối hợp với lính biệt kích ở đồn Plây Cần nống ra xung quanh lùng sục, bị bộ đội ta chặn đánh. Trong lúc quân địch đang lúng túng tìm cánh đối phó, thì các phân đội hoả lực của ta liên tục tập kích vào nơi trú quân của chúng, đánh phá các vị trí Ngọc Hồi, Plây Cần, điểm cao 824... Bị đánh cả mặt trước lẫn mặt sau, Tiểu đoàn 1 quân đội Sài Gòn không thực hiện được ý đồ ngăn chặn ta, phải lùi ra và cụm lại phía nam Ngọc Pha Ria.

Ở Ngọc Bờ Biêng, Tiểu đoàn 4 vừa đặt chân xuống đất đã bị ta đánh thiệt hại nặng hai đại đội, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên địch.

Đêm 10 rạng ngày 11-5-1969, bộ binh và pháo binh của ta tiến công mãnh liệt vào căn cứ hành quân liên hợp Mỹ - quân đội Sài Gòn ở Đắc Tô, sân bay Kon Tum, sở chỉ huy Trung đoàn 42 quân Sài Gòn, thị trấn Tân Cảnh, bao vây đồn Plây Cần. Đồng thời, ta tổ chức phục kích đánh xe cơ giới và bộ binh địch hành quân giải toả trên đường 18 và đường 14. Bị lực lượng vũ trang ta uy hiếp mạnh cả bên trong lẫn bên ngoài, địch sử dụng tám tiểu đoàn bộ binh, 3 chi đoàn thiết giáp mở cuộc hành quân mang mật danh Dân quyền, đánh lên khu vực tây bắc thị xã Kon Tum nhằm kéo giãn lực lượng tiến công của ta. Đây là thời cơ thuận lợi mà ta đã dự kiến để tiêu diệt quân địch và phương tiện chiến tranh của chúng.

Những ngày đầu, trước sức tiến công của ta, binh sĩ địch hoang mang, lo sợ. Để bảo toàn lực lượng, quân địch thường chủ động tìm cách né tránh đụng độ với chủ lực ta, đồng thời co cụm trên các điểm cao, chốt giữ những vị trí có tác dụng khống chế khu vực xung quanh. Do vậy, ý định tiêu diệt sinh lực địch của ta không thực hiện được. Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên đã cử cán bộ tham mưu xuống bám sát các đơn vị để chỉ đạo việc triển khai thực hiện phương án tác chiến mới. Theo đó, trên các địa bàn được phân công, từng đơn vị tổ chức cho bộ đội kiên trì truy lùng suốt ngày đêm, phát hiện địch là triển khai lực lượng bao vây liên tục tiến công không cho chúng phân tán đội hình. Nhờ vậy, trong các ngày từ 17 đến 23-5-1969, ta liên tiếp bao vây đánh thiệt hại nặng Tiểu đoàn 22 quân biệt động Sài Gòn tại dãy núi Ngọc Dơ Lang. Ngày 24-5-1969, tại Plây Thông Breng, điểm cao 668, Tiểu đoàn 9 thuộc Trung đoàn 66 bằng chiến thuật vận động tiến công, đánh thiệt hại nặng Tiểu đoàn 2 quân biệt kích ứng chiến Sài Gòn, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 300 tên. Cũng trong thời gian này, bộ đội ta loại khỏi chiến đấu 250 tên thuộc Tiểu đoàn 1 biệt kích ứng chiến quân đội Sài Gòn. Đây là trận đánh có hiệu suất diệt địch cao nhất của chiến dịch.

Tiếp đó, ngày 31-5-1969, bị quân ta tiến công liên tục, các tiểu đoàn 11 và 23 biệt động quân đội Sài Gòn đã co cụm chốt giữ khu vực điểm cao 875. Tại đây, tháng 11-1967, với chiến thuật chốt điểm kết hợp vận động tiến công, Trung đoàn 174 đã đánh bại Tiểu đoàn 2 Lữ đoàn 173 quân dù của Mỹ. Không để cho địch có thời gian ổn định lực lượng và kịp củng cố công sự, Trung đoàn 66 và Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 28 nhanh chóng hình thành thế bao vây và liên tiếp mở các đợt tiến công diệt hai tiểu đoàn quân Sài Gòn, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên.

Trước cách đánh kiên quyết, dũng mãnh của ta, chỉ huy quân địch đã quyết định lùi đội hình, nhằm tạo ra một khoảng cách cần thiết cho không quân và pháo binh đến oanh kích hòng sát thương bộ đội ta. Song, quân địch rút đến đâu, bộ đội ta áp sát ngay đến đó. Vì thế, chẳng những âm mưu của chúng không thực hiện được, mà còn tạo thêm điều kiện thuận lợi để ta bao vây, áp sát địch và tiến công đạt hiệu quả cao hơn. Cũng chính từ chiến dịch này, hình thức chiến thuật bao vây tiến công liên tục của bộ đội ta đã được hình thành. Lúc đầu, bộ đội Tây Nguyên gọi là bao vây công kích. Báo cáo tổng kết chiến sự sáu tháng đầu năm 1969 của Bộ Tư lệnh Quân khu II - Quân đoàn II quân đội Sài Gòn cũng nêu rõ: chiến thuật bám sát bao vây được cộng sản Bắc Việt triển khai và áp dụng lần đầu tiên vào năm 1969, khi chúng đương đầu với các cuộc hành quân của ta (quân đội Sài Gòn) tại chiến trường cao nguyên Trung phần.

Cùng với hướng tiến công chủ yếu, trên hướng phối hợp, Trung đoàn 95 và bộ đội địa phương Gia Lai liên tục chặn đánh địch trên đường số 19, phá huỷ và phá hỏng nhiều xe cơ giới. Do lực lượng và vũ khí bị tiêu hao nặng, Liên đoàn 2 biệt động Sài Gòn từ Plây Cần phải vội vàng tháo chạy về Ngọc Rinh Rua.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #26 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2010, 09:38:30 pm »


Ngày 26-6-1969, ta chủ động kết thúc chiến dịch Đắc Tô 2. Bằng chiến dịch này, lực lượng vũ trang và đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đã giáng đòn phủ đầu mạnh mẽ vào chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh của Mỹ. Ta đánh thiệt hại nặng chín trong số 12 tiểu đoàn trực tiếp tham gia cuộc hành quân của địch, loại khỏi vòng chiến đấu 4.135 tên, phá huỷ 88 xe quân sự bắn rơi và phá huỷ 103 máy bay các loại, bắt hàng trăm tù binh, thu nhiều vũ khí. Đặc biệt, với chiến thắng trong chiến dịch Đắc Tô 2, lực lượng vũ trang Tây Nguyên đã sáng tạo một hình thức chiến thuật mới - hình thức vận động bao vây tiến công liên tục. Hình thức chiến thuật mới này không chỉ mở ra khả năng về đánh tiêu diệt quy mô lớn quân ngụy trên chiến trường, mà còn là một đóng góp quan trọng cho việc phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Ở Trị - Thiên, sau khi bị thất bại trong các cuộc hành quân mang mật danh Cái hẻm Điuây và Masachusé (Massachusetts Striker) đầu năm 1969, ngày 10-5-1969, Bộ Tư lệnh quân đội Mỹ ở miền Nam Việt Nam và Bộ tư lệnh hành quân quân đội Sài Gòn quyết định mở cuộc hành quân mang mật danh Tuyết trên núi Apát (Apache Snow) với lực lượng năm tiểu đoàn (gồm các tiểu đoàn 1, 2, 3 thuộc Lữ đoàn 187 Sư đoàn 101 quân dù Mỹ, hai tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 1 quân đội Sài Gòn, đánh ra thung lũng A Lưới - A Bia1.

Từ những khu vực đóng quân trên các chốt ở cạnh núi A Bia, A Lê Lốc, A Lê Thiên, các điểm cao 337 và 1.087, v.v..., trong các ngày 10 và 11-5-1969, Tiểu đoàn 3 Lữ đoàn 187 Sư đoàn 101 quân Dù Mỹ do Trung tá W.Hônicớt (Weldon Honeycutt) chỉ huy, bắt đầu tổ chức lùng sục lực lượng ta xung quanh khu vực núi A Bia. Khi càn đến khu vực yên ngựa phía bắc A Bia, quân địch bất ngờ bị lực lượng phục kích của ta chặn đánh quyết liệt, hàng chục binh lính địch bị loại khỏi vòng chiến đấu. Chỉ huy quân địch vội vàng ra lệnh rút quân, đồng thời gọi không quân và pháo binh bắn chi viện.

Sáng 12-5-1969, máy bay B52 và các loại máy bay ném bom khác của Mỹ bắt đầu rải thảm nhằm huỷ diệt A Bia. Tiếp đó, ba đại đội (A,B,C) thuộc Tiểu đoàn 3 Mỹ chia thành nhiều mũi cùng lúc tiến lên phía bắc A Bia. Tại đây, cán bộ và chiến sĩ Trung đoàn 8 của ta đã chuẩn bị sẵn trận địa đón đánh địch. Khi những toán quân Mỹ đi đầu vừa tiến vào, hoả lực các cỡ của ta đồng loạt phát hoả. Vấp phải đòn phản kích mãnh liệt của ta, thêm vào đó, trời mưa to, đường sá lầy lội, nên quân địch tiến lên không được mà rút lui cũng không xong. Binh lính trở nên hoảng loạn. Nhân thời cơ thuận lợi này, bộ đội ta khẩn trương tổ chức trận địa phục kích, đón đánh Đại đội C thuộc Tiểu đoàn 3 quân Mỹ, loại khỏi vòng chiến đấu 37 tên, số còn lại tháo chạy tán loạn. Tiếp đó, bộ đội ta nghi binh thu hút Đại đội B Mỹ về hướng trận địa mai phục sẵn và đánh quỵ đại đội này.

Cố giành cho được một thắng lợi sau khi bổ sung lực lượng, vũ khí và phương tiện chiến tranh, ngày 17-5-1969, chỉ huy quân Mỹ quyết định sử dụng Tiểu đoàn 1 Lữ đoàn 506 tiến lên đánh chiếm điểm cao 900. Thế nhưng, kế hoạch đặt ra của chỉ huy quân Mỹ đã không thực hiện được bởi mưa lớn kéo dài, không sao cơ động nổi lực lượng, vũ khí và trang bị. Cuộc tiến công của địch một lần nữa phải dừng lại.

Ngày 19-5-1969, Trung tướng Menvin Jai (Melvin Zais) - Tư lệnh Sư đoàn 101 quân Dù Mỹ ra lệnh cho các Tiểu đoàn 2 thuộc Lữ đoàn 501, Tiểu đoàn 2 thuộc Lữ đoàn 502 và Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 3 Sư đoàn 1 quân đội Sài Gòn tổ chức bao vây A Bia trên các hướng đông bắc, đông nam và tây nam, hòng cắt đường tiếp tế và đường rút của bộ đội ta. Dù vậy, cán bộ đến chiến sĩ ta vẫn khắc phục khó khăn, kiên quyết trụ bám trận địa, dồn sức đánh trả các cuộc tiến công, tiêu hao được một bộ phận sinh lực địch. Sau 13 ngày đêm chiến đấu liên tục trong điều kiện thiếu lương thực, vũ khí đạn dược, quân số bị tiêu hao mà nguồn bổ sung hầu như bị địch ngăn chặn hoàn toàn, ngày 23-5-1969, ta chủ động rút khỏi A Bia.

Trong các cuộc giao chiến giành giật khu vực A Bia, lực lượng vũ trang và nhân dân Trị - Thiên đã đánh thiệt hại nặng Lữ đoàn 187 quân dù Mỹ, loại khỏi vòng chiến đấu 1500 tên địch2. Song, về phần mình, cán bộ và chiến sĩ trực tiếp tham gia chiến đấu ở A Bia phải chịu gần một triệu pao (Poud)3 bom đạn do không quân và pháo binh địch trút xuống. Sức tàn phá của bom đạn Mỹ đã biến những cánh rừng tươi tốt A Bia thành ngọn đồi trơ trọi, nham nhở. Các trận kịch chiến ác liệt và kéo dài giữa ta và địch ở A Bia khiến thương vong của cả hai bên lên rất cao. Binh sĩ Tiểu đoàn 3 Lữ đoàn 187 quân dù Mỹ gọi đây là Đồi thịt băm (Humburger Hill). Xác lính Mỹ chết và bị thương không kịp đưa về phía sau, bởi phương tiện vận chuyển duy nhất là máy bay lên thẳng bị hoả lực phòng không của ta đánh trả quyết liệt rất khó đáp xuống. Điều đó càng làm cho tinh thần số quân địch còn sống sót ở A Bia thêm hoảng loạn.
______________________________________
1. Địa danh mà một số cuốn sách của các tác giả Mỹ như: Từ điển chiến tranh Việt Nam, Nxb. Green Wood Press Westport, 1998; Việt Nam những trận đánh quyết định của J.Pimloff, Thông tin khoa học - Công nghệ - Môi trường, Bộ Quốc phòng ấn hành, 1997, đều gọi tắt là: A Sầu - A Bia.
2. Theo Giôdép A.Amtơ, trong cuốn Lời phán quyết về Việt Nam, Nxb.Quân đội nhân dân, Hà Nội,1985, tr.255, số lính Mỹ bị chết trong trận A Bia là 480 người (1 tuần).
    Theo J.Pimloff: Việt Nam những trận đánh quyết định: Tlđd, tr. 130, số lính Mỹ bị chết là 70, bị thương 372 (10 ngày); quân Mỹ diệt được 630 quân Bắc Việt Nam.

3. 1 pao (Pound) = 0,454 kilôgam.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #27 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2010, 09:39:31 pm »


Mặc dù đã tìm mọi cách bưng bít, nhưng tin tức trận A Bia đã nhanh chóng được truyền về nước Mỹ, khiến dư luận Mỹ càng thêm phẫn nộ chính sách chiến tranh của chính quyền Mỹ và góp phần thổi bùng lên phong trào phản đối cuộc chiến tranh ở Việt Nam nhanh chóng lan rộng ra khắp đất nước. Thượng nghị sĩ E.Kennơđy (Edward Kennedy) cho rằng: “Cuộc tiến quân lên núi A Bia là vô đạo đức, dã man, vừa vô nghĩa vừa vô trách nhiệm”, và “không thể đem sinh mệnh của người Mỹ làm vật hy sinh vì lòng tự ái quân nhân” (tin Thông tấn xã AP, ngày 21-5-1969). Ngày 27-6-1969, tạp chí Laifơ (Life) đăng ảnh 241 binh sỹ Mỹ tử trận trong trận A Bia ở Việt Nam và điều đó càng làm cho công chúng Mỹ căm phẫn, chán ghét cuộc chiến tranh do Mỹ tiến hành ở Việt Nam.

Trước sức ép chính trị và dư luận công chúng, Tổng thống Mỹ Níchxơn buộc phải ra lệnh cho tướng Abram (Abrams) ngừng ngay các cuộc hành quân vào các vị trí mà chúng cho là do quân đội Bắc Việt kiểm soát; đồng thời, đẩy nhanh tốc độ thực hiện chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh và từng bước rút quân chiến đấu Mỹ về nước.

Chiến công của quân và dân Trị - Thiên ở A Lưới - A Bia trong đợt hè năm 1969 có tác động mạnh tới nỗ lực chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Trận A Bia cho thấy khả năng chịu đựng tổn thất về con người của nước Mỹ đã đến tới hạn cuối cùng, là biểu hiện tập trung của “tình trạng chiến tranh tuyệt vọng”1 của Mỹ trên chiến trường Việt Nam. 

Sau hơn một tháng tiến công địch (từ ngày 11-5 đến 20-6-1969) quân và dân ta trên chiến trường miền Nam đã thực hiện tốt nhiệm vụ tiêu diệt, tiêu hao sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch loại khỏi vòng chiến đấu 29 tiểu đoàn và cụm địch tương đương, lực lượng và thế trận chiến tranh nhân dân từng bước được phục hồi trên cả ba vùng chiến lược. Kết quả đợt hoạt động hè cũng chứng tỏ rằng, ta có khả năng căng kéo địch ra những chiến trường mới - nơi ta có điều kiện thuận lợi để đánh địch tốt hơn. Đợt tiến công đợt hè của ta, mà nổi bật là chiến dịch Đắc Tô 2 trên chiến trường Tây Nguyên và trận đọ sức quyết liệt giữa ta và địch ở thung lũng A Lưới - A Bia trên chiến trường tây Trị - Thiên là đòn phủ đầu hiệu quả nữa nhằm vào quân đội Sài Gòn và quân Mỹ trong khuôn khổ chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh.

Phối hợp với đòn tiến công quân sự, đồng bào ta ở nhiều nơi nổi dậy diệt ác, phá kìm kẹp của địch, giành quyền làm chủ. Trong đợt hoạt động xuân và hè năm 1969, ở Trung Trung Bộ ta phá được 150 ấp chiến lược, 90 khu dồn dân, giải phóng 20 vạn dân. Nhân dân các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long như Cần Thơ, Vĩnh Long, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cà Mau, nổi dậy đấu tranh chính trị chống địch cào nhà, cày ủi ruộng vườn, dồn dân lập ấp chiến lược, chống bắt lính. Lực lượng các địa phương trên đã tiêu diệt, bức hàng, bức rút hàng trăm đồn bốt địch... 6.000 đồng bào ở Ba Làng An (Quảng Ngãi) bị địch dùng vũ lực cưỡng ép vào khu tập trung, đã kiên quyết đấu tranh buộc chúng phải trả về làng cũ2. Tuy vậy, do địch tăng cường các chương trình bình định, ráo riết bắt lính đôn quân, thực hiện chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh; bên cạnh đó, đòn tiến công quân sự của lực lượng vũ trang ta chưa đủ mạnh và chưa có sự gắn bó chặt chẽ với các cuộc nổi dậy của quần chúng các địa phương, nên nhìn chung, trên toàn miền Nam trong năm 1969, phong trào đấu tranh của quần chúng còn lẻ tẻ, kết quả đạt được rất hạn chế và tại một số địa phương, ta giành được quyền làm chủ không lâu đã bị địch tái chiếm, gom dân đưa vào các ấp chiến lược, khu tập trung mới...

Để từng bước tháo gỡ khó khăn cho chiến trường, tháng 7-1969, Trung ương Cục miền Nam mở hội nghị lần thứ chín đánh giá tình hình và đề ra phương hướng, nhiệm vụ mới cho cách mạng miền Nam. Trên cơ sở nội dung chủ yếu của Nghị quyết Bộ Chính trị (tháng 4-1969), hội nghị một lần nữa khẳng định ý nghĩa thắng lợi to lớn trong hơn một năm qua trên các mặt chính trị, quân sự, ngoại giao của quân và dân miền Nam; đồng thời chỉ rõ: đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn đang ở trong tình trạng khủng hoảng về chiến lược, phải từng bước xuống thang, thực hiện Việt Nam hoá chiến tranh để rút dần quân chiến đấu Mỹ về nước.

Hội nghị nghiêm túc chỉ ra những khuyết điểm, thiếu sót về phương thức tác chiến của các lực lượng vũ trang; về thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các đòn quân sự với chính trị và ngoại giao; về công tác bảo đảm, bổ sung lực lượng và vật chất cho chiến trường... Hội nghị cho rằng, nguyên nhân chính là do trong thời gian qua, các cấp lãnh đạo chưa nhận thức được đầy đủ và chưa linh hoạt, sáng tạo vận dụng những chủ trương của Trung ương vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của địa phương; chưa thấy hết được âm mưu và thủ đoạn mới của địch. Do vậy tuy đã có những nỗ lực lớn, nhưng kết quả giành được còn rất hạn chế.

Hội nghị đề ra nhiệm vụ cho quân và dân miền Nam trong thời gián tiếp theo là “Động viên nỗ lực phi thường của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta, ra sức phát huy thắng lợi đã giành được, kiên quyết khắc phục những khuyết điểm, nhược điểm, nắm vững và sáng tạo thời cơ, tiếp tục đẩy mạnh tổng công kích, tổng khởi nghĩa với ba mũi giáp công... kết hợp với tiến công ngoại giao, khẩn trương xây dựng lực lượng quân sự và chính trị, phát triển thế tiến công chiến lược một cách toàn diện, liên tục và mạnh mẽ trên cả ba vùng chiến lược, đánh bại chiến lược “quét và giữ”, chính sách bình định và mục tiêu, biện pháp phòng ngự của địch, đánh bại âm mưu kết thúc chiến tranh trên thế mạnh và chủ trương “phi Mỹ hoá” chiến tranh của chúng, đánh cho Mỹ phải rút quân, đánh cho nguy phải suy sụp...”3. Về phương hướng hoạt động trước mắt của quân và dân miền Nam, hội nghị chỉ rõ:

- Đẩy mạnh tiến công quân sự và xây dựng lực lượng vũ trang, đó là vấn đề có ý nghĩa quyết định nhất.

- Tăng cường công tác dân vận làm cơ sở cho phong trào đấu tranh chính trị binh vận. Phát huy vai trò của chính quyền cách mạng, đẩy mạnh công tác an ninh, kinh tế, tài chính, mở rộng và xây dựng căn cứ cách mạng.

- Tăng cường xây dựng đảng vững mạnh về tư tưởng chính trị và tổ chức để bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ trong mọi tình huống.

Cũng tại hội nghị này, Trung ương Cục quyết định tổ chức lại cơ cấu và địa bàn một số chiến trường: thành lập Khu VII gồm Phân khu 4, tỉnh Biên Hoà, Bà Rịa, Long Khánh và Đặc khu Rừng Sác; các quận nội thành Sài Gòn được tách thành phân khu trước kia, nay nhập lại do đồng chí Nguyễn Văn Linh làm Bí thư Thành uỷ. Đối với chiến trường miền Tây Nam Bộ (Khu 9), Trung ương Cục điều đồng chí Võ Văn Kiệt làm Bí thư Khu uỷ, đồng chí Lê Đức Anh làm Tư lệnh.
______________________________________
1. Giôdép A.Amtơ: Lời phán quyết về Việt Nam, Sđd, tr. 254.
2. Viện nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Viện Lịch sử Đảng: Lịch sử Đảng cộng sản Việt nam, 1954-1975, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội,1995, t.2, tr.440-441.
3. Trung ương Cục miền Nam: Nghị quyết Trung ương Cục lần thứ chín, tháng 7-1969.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #28 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2010, 09:40:48 pm »


Thực hiện Nghị quyết của hội nghị Trung ương Cục lần thứ chín, lực lượng vũ trang ba thứ quân và nhân dân toàn miền Nam khẩn trương bắt tay làm công tác chuẩn bị cho đợt hoạt động mùa Thu năm 1969, với tinh thần: phát huy thắng lợi của xuân và hè, đẩy mạnh hoạt động của ba thứ quân, nhất là dân quân du kích và bộ đội địa phương, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, phá kế hoạch bình định nông thôn của chúng, mở rộng vùng giải phóng và nâng cao quyền làm chủ của nhân dân.

Ngày 11-8-1969, đợt hoạt động thu của quân và dân miền Nam bắt đầu với đòn tiến công đồng loạt của lực lượng bộ binh, pháo binh, đặc công... vào 140 mục tiêu, gồm hơn 30 đô thị, 61 quận lỵ, 49 sở chỉ huy, 27 sân bay, ba hải cảng, 14 kho và nhiều vị trí chiến lượt khác của định trên chiến trường miền Nam. Đây là cao điểm 1 của đợt thu.

Tại miền Đông Nam Bộ, đêm 11-8-1969, trên hướng chủ yếu Bình Long, Sư đoàn 9 (thiếu Trung đoàn 88) và Trung đoàn 1 Sư đoàn 1 (lực lượng dự bị của Bộ Chỉ huy miền) tập kích căn cứ Trung đoàn 11 thiết giáp Mỹ trên đường 13 thuộc phía tây thị trấn Lộc Ninh (Bình Long). Tiếp đó, đêm 12-8-1969, bộ đội ta phục kích trên đường 13, tiêu diệt nhiều xe cơ giới của Trung đoàn 15 thiết giáp quân đội Sài Gòn, bắt sáu tù binh, thu nhiều vũ khí. Cùng ngày, ta diệt cụm xe cơ giới Mỹ ở Tân Khai, tổ chức lực lượng phục kích đánh nhiều trận ở tây thị xã Hớn Quản, đánh thiệt hại nặng ba đại đội cơ giới, bắt một số tù binh, thu một số xe cơ giới địch.

Đêm 11-8-1969, trên hướng Lộc Ninh, pháo binh Sư đoàn 7 tập kích trại biệt kích quân đội Sài Gòn, loại khỏi vòng chiến đấu 100 tên. Cùng thời gian trên, đặc công miền bất ngờ tập kích đánh thiệt hại nặng lực lượng địch ở chi khu Chân Thành, căn cứ Técních là hậu cứ Trung đoàn 9 quân đội Sài Gòn.

Trên hướng thứ yếu Phước Long, đặc công Sư đoàn 5 tiến công trại huấn luyện biệt kích Bù Na, sau đó chuyển sang phối hợp với lực lượng vũ trang Khu X đánh thiệt hại nặng chi khu Bù Đăng, phá ba ấp chiến lược xung quanh Bù Đăng. Ở Tây Ninh, Trung đoàn 88 Sư đoàn 9 tập kích cụm quân dù thuộc Tiểu đoàn 1 quân Sài Gòn, nhưng không dứt điểm được và quân số bị thương vong rất cao. Trong lúc đó, Trung đoàn 2 Sư đoàn 1 sử dụng lực lượng đặc công tiến công vào cụm Lôvêa, đánh thiệt hại nặng Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 8 dù quân đội Sài Gòn, buộc chúng phải bỏ Lôvêa chạy về Suối Dây. Phương thức tác chiến dùng bộ phận lực lượng nhỏ đánh địch đạt hiệu xuất cao, mà thương vong của bộ đội lại thấp của Trung đoàn 2 nhanh chóng được phổ biến rộng rãi trên khắp chiến trường miền Nam. Sự sáng tạo và thực hành hiệu quả phương thức tác chiến này có tác dụng rất lớn trong điều kiện ta gặp khó khăn về lực lượng chiến đấu và bảo đảm hậu cần.

Trên chiến trường Nam Trung Bộ (Khu VI), Bình Thuận là địa bàn được chọn làm trọng điểm tiến công trong đợt thu. Ngày 11-8-1969, trên hướng bắc của tỉnh Bình Thuận, bộ đội ta tập kích căn cứ sông Mao, tiêu hao nặng một tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 44 quân đội Sài Gòn, buộc địch phải dồn lực lượng ra đối phó với ta ở hướng Bình Thuận. Nhân thời cơ thuận lợi này, bộ đội địa phương và du kích bắc Bình Thuận,Tuy Phong và nam Ninh Thuận tổ chức phục kích diệt nhiều xe cơ giới địch trên các đường số 1 và số 20.

Ở đồng bằng sông Cửu Long, lực lượng pháo binh chuyên trách liên tục tập kích có hiệu quả vào một số mục tiêu ở thị xã Mỹ Tho và cáo thị trấn Cai Lậy, Cái Bè, An Hữu; căn cứ Bình Đức; biệt động tỉnh Mỹ Tho đánh thiệt hại căn cứ của Trung đoàn 6 thiết giáp quân đội Sài Gòn. Ở Bến Tre, với phương thức kết hợp tiến công hai chân ba mũi một cách chặt chẽ, linh hoạt, từ ngày 12 đến 16-8-1969, quân và dân các huyện Giồng Trôm, Mỏ Cày, Châu Thành đã kết hợp tiến công và nổi dậy, diệt lực lượng yểm trợ bình định, hỗ trợ tích cực cho phong trào phá số ấp chiến lược, giành quyền làm chủ ở một số nơi.

Mặc dù rất cố gắng, nhưng nhìn chung giai đoạn đầu của đợt hoạt động thu, sức tiến công của ta giảm sút nhiều. Lực lượng vũ trang của ta không đánh được những đòn gây thôi động mạnh, nên chưa hỗ trợ có hiệu quả cho phong trào đấu tranh chống phá bình định. Do vậy, ta vẫn tiếp tục bị mất đất, mất dân; lực lượng vũ trang cũng như lực lượng chính trị của ta hao hụt thêm nhiều, trong khi khả năng khôi phục chậm. Phong trào cách mạng miền Nam đứng trước những thử thách mới, rất nghiêm trọng.

Giữa lúc toàn Đảng, toàn dân toàn quân cả nước ta, mà trực tiếp là miền Nam đang phải vật lộn khắc phục mọi khó khăn, thách thức để mau chóng làm xoay chuyển tình thế của cuộc kháng chiến, thì tại Hà Nội, vào hồi 9 giờ 47 phút, ngày 2-9-1969: Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu của dân tộc ta qua đời. Đêm 3-9-1969, Đài tiếng nói Việt nam truyền đi Thông cáo đặc biệt của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, báo tin cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta và bè bạn quốc tế về sự ra đi của Hồ Chủ tịch - lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, Người sáng lập và rèn luyện đảng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Người cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam; người chiến sĩ cộng sản, người bạn thân thiết, thuỷ chung của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, nhân dân tiến bộ trên thế giới và các dân tộc đang đấu tranh cho độc lập dân tộc, dân chủ và hoà bình. Đồng bào, chiến sĩ hai miền Nam - Bắc và bè bạn quốc tế bàng hoàng, xúc động trước nỗi đau thương mất mát to lớn này.

Ở miền Nam, ngày 4-9-1969, Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hoà miền Nam Việt Nam, Hội đồng cố vấn Chính phủ, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng và Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ và hoà bình Việt Nam tổ chức hội nghị liên tịch bàn việc tổ chức lễ truy điệu và để tang Hồ Chủ tịch.

Lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh được quân và dân miền Nam tổ chức trọng thể bằng các hình thức treo cờ rủ, mang băng tang, lập bàn thờ, tổ chức lễ cầu siêu ở các chùa chiền, thánh thất. Hội nghị liên tịch gửi Ban Chấp hành Trung ương Đảng bức điện bày tỏ lòng thương tiếc vô hạn của đồng bào miền Nam đối với Bác Hồ muôn vàn kính yêu; đồng thời, bày tỏ quyết tâm của đồng bào chiến sĩ miền Nam nguyện “đoàn kết sắt son triệu người như một, biến đau thương thành sức mạnh, quyết kiên trì, đẩy mạnh cuộc kháng chiến, quyết chiến thắng, đánh cho Mỹ phải rút hết, đánh cho ngụy quyền, ngụy quân sụp đổ hết, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc”1.

Bộ chỉ huy các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng miền Nam ra quyết định ngừng bắn trong 3 ngày trên toàn chiến trường (từ 0 giờ ngày 8 đến 0 giờ ngày 11-9-1969) để đồng bào, chiến sĩ tổ chức lễ truy điệu Hồ Chủ tịch. Ngày 8-9-1969, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình Việt Nam tổ chức trọng thể lễ truy điệu chủ tịch Hồ Chí Minh và ra lời hiệu triệu, kêu gọi quân và dân miền Nam biến đau thương thành sức mạnh, quyết tâm chiến đấu, hy sinh làm tròn trách nhiệm và vinh dự to lớn trên tuyến đầu chống đế quốc Mỹ xâm lược.
______________________________________
1. Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hoà miền Nam Việt Nam: điện gửi Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam: tháng 9-1969.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #29 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2010, 09:41:43 pm »


Lợi dụng sự kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đẩy mạnh chiến tranh tâm lý hòng gây hoang mang, nản lòng trong nhân dân và lực lượng vũ trang Quân giải phóng miền Nam, nhất là nhân dân trong vùng giải phóng. Hàng ngày, chúng cho máy bay lên thẳng rải truyền đơn, dùng loa phóng thanh kết hợp với các phương tiện thông tin như: vô tuyến truyền hình, đài phát thanh, báo chí, mở chiến dịch tuyên truyền, kích động rầm rộ với luận điệu “Cụ Hồ Chết, Bắc Việt sẽ chia rẽ, Việt cộng cũng sẽ chia rẽ”, và “Cụ Hồ Chết, bên kia không còn có ai có đủ tài đức, uy tín để lãnh đạo”...

Những thủ đoạn chiến tranh tâm lý của địch vẫn không thể lay chuyển nổi quyết tâm đoàn kết kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta. Biến đau thương thành hành động cách mạng, trong tháng 9, toàn miền Nam cùng bước vào đợt hoạt động cao điểm 2 của kế hoạch tiến công mùa thu 1969. Mở đầu, đêm 4 rạng ngày 5-9-1969, lực lượng vũ trang và nhân dân ta từ Trị - Thiên đến đồng bằng sông Cửu Long tiến công đồng loạt vào các mục tiêu chiến lược của địch. Ở Huế, bộ binh ta tiến công vào hậu cứ Sư đoàn 1 kỵ binh cơ động đường không Mỹ. Tại Quang Nam, đặc công và biệt động phối hợp đánh thiệt hại căn cứ lực lượng đặc biệt Mỹ ở An Hoà. Đêm ngày 4 rạng ngày 5-9-1969, bộ đội đặc công tập kích một loạt các vị trí địch từ Cây Cay đến Chân Thành, đánh thiệt hại một cụm cơ giới Mỹ, hậu cứ Trung đoàn 9 quân đội Sài Gòn và chi khu Chơn Thành (Bình Long), loại khỏi vòng chiến đấu 400 tên, phá hủy 32 xe quân sự. Cũng thời gian trên, Sư đoàn 7 và Sư đoàn 9 hình thành thế bao vây, tiến công liên tục các mục tiêu địch ở xung quanh Lộc Ninh, An Lộc (Hớn Quản) và Chơn Thành.

Sau hơn một tháng đánh địch ngày 15-9-1969, quân và dân miền Nam đã chủ động kết thúc đợt hoạt động thu. Trong đợt này, ta loại khỏi vòng chiến đấu hàng chục ngàn tên địch, bắn rơi và phá huỷ hàng trăm máy bay, hàng ngàn xe quân sự, bắn chìm, bắn cháy 193 tàu xuồng, phá huỷ 284 pháo các cỡ..., thu nhiều vũ khí và đồ dùng quân sự...

Tiếp tục phát huy những kết quả và vận dụng kinh nghiệm tích luỹ được từ các đợt tiến công xuân hè và thu 1969, cuối tháng 10, lực lượng vũ trang giải phóng và nhân dân miền Nam mở đợt hoạt động đông - xuân (1969 -1970), nhằm đánh bồi vào ý chí xâm lược vốn đang lung lay của địch, tiêu diệt thêm một bộ phận sinh lực và phương tiện chiến tranh, làm rối loạn địch ở đô thị, đồng thời đẩy lùi âm mưu bình định nông thôn của chúng. Trong đợt hoạt động này, lực lượng vũ trang có nhiệm vụ đánh mạnh căng kéo địch, tiêu diệt một bộ phận sinh lực và phương tiện chiến tranh của chúng, làm suy yếu hệ thống phòng ngự của địch quanh Sài Gòn, tạo điều kiện tốt cho phong trào du kích chiến tranh, phá âm mưu bình định của địch, thúc đẩy phong trào đấu tranh chính trị đô thị lên một bước.

Đứng chân trên địa bàn miền Đông Nam Bộ lúc này có Sư đoàn 5, Sư đoàn 7 và Sư đoàn 9 chủ lực miền được tăng cường Trung đoàn 320 từ chiến trường Tây Nguyên vào với lực lượng tương đối mạnh đó, ta dự định đánh mạnh trên các hướng đông bắc và tây nam Sài Gòn, nhằm lôi kéo lực lượng địch ra vòng ngoài (Tuyên Phước, Bình Long và Tây Ninh) để tiêu diệt; đồng thời, phá lỏng hệ thống phòng ngự của Mỹ - ngụy trên tuyến vành đai bảo vệ Sài Gòn. Trên địa bàn hai tỉnh Phước Long và Bình Long, quân Mỹ lúc này có hai trung đoàn bộ binh cơ giới, ba tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 1 kỵ binh cơ động đường không, Trung đoàn 11 thiết giáp và ba đại đội thiết giáp Mỹ; quân đội Sài Gòn có một trung đoàn và một tiểu đoàn bộ binh, một tiểu đoàn biệt kích và 12 đại đội bảo an, dân vệ1. Căn cứ vào tương quan lực lượng, khả năng đôi bên, Bộ Tư lệnh miền quyết định sử dụng lực lượng Sư đoàn 7 (gồm các Trung đoàn 209, 165 và 141), một trung đoàn pháo binh của miền, Tiểu đoàn 18 đặc công, Tiểu đoàn 94 công binh... mở chiến dịch Phước Bình - Bù Đốp, nhằm tiêu diệt sinh lực địch, chặn cắt giao thông trên các đường số 13 và 14, hỗ trợ tích cực cho phong trào đấu tranh chống phá bình định của nhân dân ở khu vực Bù Đốp, Phước Bình, Bổ Túc và Lộc Ninh. Đồng chí Đàm Văn Ngụy - Sư đoàn trưởng Sư đoàn 7 - được bổ nhiệm làm Chỉ huy trưởng chiến dịch.

Ngày 3-11-1969, chiến dịch Phước Bình - Bù Đốp chính thức mở màn. Trung đoàn 209 và Trung đoàn 165 tổ chức lực lượng bao vây chi khu Bù Đốp và linh hoạt sử dụng lực lượng (khi cấp trung đoàn, lúc cấp trung đội, đại đội) liên tục tiến công, nhằm kéo địch ra khỏi công sự, đồn bốt để tiêu diệt kết hợp với đánh địch vận động dã ngoại. Được trung đoàn pháo binh của miền phối hợp yểm trợ kịp thời và hiệu quả, Tiểu đoàn 28 đặc công tập kích cụm quân địch ở núi Cậu, đánh thiệt hại nặng một đại đội Mỹ; Tiểu đoàn 6 đánh tiêu hao một bộ phận Trung đoàn 11 thiết giáp Mỹ ở Thị Tính. Trung đoàn 141 tập kích địch trên điểm cao 244, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên. Tiểu đoàn 28 công binh phục kích và tập kích diệt hàng chục xe quân sự địch trên đường 14. Địch huy động ở mức tối đa hoả lực phi pháo chi viện cho bộ binh phản kích. Chiến sự diễn ra dằng dai và rất quyết liệt. Thế nhưng, mọi cố gắng của địch vẫn không có hiệu quả.

Sau hơn một tháng chiến đấu liên tục, ta loại khỏi vòng chiến đấu hơn 1.000 tên địch, bắn cháy, phá huỷ, phá hỏng nhiều máy bay, xe quân sự, thu hàng trăm súng các loại và nhiều đồ dùng quân sự của địch. Điều quan trọng là bằng cuộc chiến đấu đó, ta đã thu hút và ghìm chân phần lớn lực lượng địch trên địa bàn chiến dịch đối phó với ta. Điều đó khiến cho chúng không những không có điều kiện để thực hiện kế hoạch bình định, dồn dân lập ấp chiến lược, mà hơn thế, hệ thống ấp chiến lược của địch ở nhiều địa phương đã bị quân và dân ta phá lỏng, phá rã. Như vậy, mục đích của chiến dịch đặt ra đã cơ bản được thực hiện. Do vậy, ngày 10-12-1969, ta chủ động kết thúc chiến dịch Bình Phước - Bù Đốp. Thắng lợi của chiến dịch đã góp phần quan trọng vào việc làm lung lay thế trận phòng ngự có chiều sâu của địch, tạo chuyển biến mới trong thực hành đánh địch quy mô cấp chiến dịch của chủ lực Quân giải phóng miền Nam.
______________________________________
1. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2001, tr. 259, 261.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM