chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #40 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2010, 10:15:31 pm » |
|
Trong những năm chiến tranh, nền công nghiệp miền Bắc bị phá hoại khá nặng. Dù vậy, nhờ chủ động và tích cực sơ tán, phân tán, phòng tránh cũng như với nỗ lực to lớn của giai cấp công nhân, các ngành công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp địa phương, vẫn được duy trì và đẩy mạnh.
Sau khi Mỹ ngừng ném bom, bắn phá miền Bắc, Đảng, Nhà nước chủ trương nhanh chóng phục hồi và phát triển các cơ sở sản xuất, chỉnh đốn và tích cực khôi phục các xí nghiệp do trung ương quản lý, sắp xếp một cách hợp lý các xí nghiệp đã sơ tán, phân tán, ra sức đẩy mạnh sản xuất, nâng cao sản lượng và chất lượng sản phẩm. Trước mắt, các ngành công nghiệp nỗ lực phấn đấu tăng nhanh sản lượng khai thác than, sản lượng điện, cơ khí, khai thác và chế biến gỗ, xi măng; sử dụng có hiệu quả lực lượng cơ khí phục vụ nông nghiệp và giao thông vận tải cũng như đòi hỏi của công nghiệp địa phương; giải quyết tốt việc chế biến lương thực, thực phẩm, tăng thêm hàng tiêu dùng nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và đời sống của nhân dân. Trong khi chú trọng việc khôi phục sản xuất, xây dựng thêm một số xí nghiệp mới, Đảng, Nhà nước đồng thời chỉ rõ cần tiếp tục cải tiến và tăng cường quản lý xí nghiệp nhằm ổn định sản xuất và khắcphục tình trạng buông lỏng quản lý trong những năm chiến tranh phá hoại. Ba xí nghiệp lớn là Cơ khí Trần Hưng Đạo, Dệt 8/3 và Rượu Hà Nội được trung ương chỉ đạo thí điểm về cải tiến quản lý trong thời kỳ này.
Theo phương hướng trên, trong năm 1969, các xí nghiệp, công trường, hầm mỏ đã có những cố gắng trong công tác cải tiến quản lý kinh tế, các ngành công nghiệp vừa đẩy mạnh sản xuất, vừa sắp xếp lại cơ sở thuộc ngành mình. Ở tầm vĩ mô, nhà nước quyết định chia Bộ Công nghiệp nặng thành các bộ: Điện và than, Cơ khí và luyện kim, Tổng cục Hoá chất; thành lập Bộ Vật tư...
Những năm 1970, 1971, tiến độ khôi phục và phát triển sản xuất công nghiệp tiếp tục được chú trọng đẩy nhanh. Trong hai năm này, nhà nước tăng đầu tư cho các ngành công nghiệp trên 40% ngân sách. Cũng như những năm chiến tranh, thời kỳ này, công nghiệp địa phương vẫn tiếp tục được ưu tiên phát triển. Nếu năm 1965, nhà nước đầu tư cho công nghiệp địa phương 403 triệu đồng (so với năm 1960 là 8,1 triệu đồng) thì năm 1970, con số đó tăng lên 106 triệu đồng. Sự đầu tư của nhà nước cùng sự nỗ lực của đội ngũ cán bộ, công nhân trong các ngành công nghiệp đã đưa lại những kết quả tương đối khả quan trên lĩnh vực sản xuất công nghiệp.
Một số xí nghiệp công nghiệp mới được xây dựng. Nếu năm 1965, số xí nghiệp công nghiệp quốc doanh, công ty hợp doanh trên miền Bắc là 1.132 thì đến năm 1971, con số đó lên tới 1.339 (trong đó, do trung ương quản lý là 289 và do địa phương quản lý là 1.050).
Trong khi đó, số hợp tác xã tiểu, thủ công nghiệp cũng tăng lên. Năm 1965, toàn miền Bắc có 2.529 hợp tác xã tiểu, thủ công nghiệp (không kể hợp tác xã đánh cá, làm muối, khai thác gỗ). Năm 1971, con số đó đạt tới 2.647 (trong đó bậc cao là 1.289 và bậc thấp 1.358)1.
Chỉ qua ba năm từ 1968 đến 1970, nhiều ngành sản xuất công nghiệp đã đạt hoặc vượt mức trước chiến tranh phá hoại. So với năm 1965, đến năm 1971, tổng sản lượng điện tăng 20%; máy điêden tăng 19%, động cơ điện các loại tăng 49%, phân bón hoá học tăng 61%...2. Mặc dù bị lụt lội năm 1971 gây nhiều thiệt hại cho nền kinh tế quốc dân nói chung, bao gồm cả sản xuất công nghiệp nhưng trong năm này, giá trị tổng sản lượng công nghiệp và thủ công nghiệp vẫn đạt được mức chỉ tiêu kế hoạch đề ra và tăng 14% so với năm 1970. So với năm 1970 thì năm 1971, điện tăng 34% (810kw/h), than tăng 22% (3,26 triệu tấn), ximăng tăng 38%, súppe lân tăng 21%, vải tăng 17%, giấy tăng 22%...
Báo cáo trước quốc hội khoá IV kỳ họp thứ hai (3-1972), Thủ tướng Phạm Văn Đồng khẳng định: “Năm 1971, chúng ta đã hoàn thành thắng lợi kế hoạch nhà nước trong công nghiệp, năng lực sản xuất của nhiều ngành đã được khôi phục và tăng lên đáng kể, thúc đẩy đà phát triển nhanh hơn hẳn mấy năm gần đây, nhất là ngành than, điện, cơ khí, vật liệu xây dựng. Giá trị tổng sản lượng năm 1971 vượt mức sản xuất thời kỳ trước chiến tranh”3.
Cùng với nông nghiệp, công nghiệp - hai ngành sản xuất chính của nền kinh tế miền Bắc các ngành giao thông; bưu điện, tài chính, ngân hàng, thương nghiệp thời kỳ này cũng có nhiều nỗ lực to lớn và đạt được những kết quả quan trọng, góp phần xứng đáng vào nhiệm vụ khôi phục kinh tế, phát triển văn hoá - xã hội và tăng cường sức mạnh quốc phòng của hậu phương lớn miền Bắc. Trong những năm chiến tranh, lĩnh vực kết cấu hạ tầng mà trước hết và chủ yếu là giao thông vận tải, bị bom đạn Mỹ đánh phá dữ đội, liên tục. Trong bốn năm (1965 -1968), tính trung bình cứ mỗi kilômét đường sắt và đường bộ miền Bắc phải hứng chịu 19,3 quả bom đạn, bị đánh phá 4,1 lần. Riêng tuyến đường sắt Hà Nội - Vinh mỗi kilômét bị đánh phá tới 19,5 lần. Cho đến cuối 1968, toàn bộ hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ miền Bắc bị tổn thương nghiêm trọng, bị tàn phá nặng nề. Khi chiến tranh phá hoại lần thứ nhất kết thúc, công tác khôi phục giao thông được đặt lên hàng đầu. Nếu những năm từ 1955 đến năm 1957, chỉ số vốn đầu tư của nhà nước cho giao thông vận tải trung bình hàng năm là 100% thì tới những năm từ 1966 đến 1971, con số tương ứng là 435,4%. Đó là một tỉ lệ khá lớn, đảm bảo cho việc khôi phục và tiếp tục phát triển toàn bộ hệ thống giao thông vận tải sau những tháng năm dài bị bom đạn Mỹ đánh phá dữ dội, nhằm phục vụ hiệu quả cho nhu cầu kinh tế, văn hoá - xã hội và an ninh quốc phòng của hậu phương miền Bắc. Nhờ sự nỗ lực của toàn dân, toàn quân trên lĩnh vực này, nên một thời gian ngay sau ngày Mỹ ngừng ném bom miền Bắc, các tuyến giao thông quan trọng và hệ thống cầu phà từ Lạng Sơn đến Vĩnh Linh được khôi phục; nhiều tuyến đường khác cũng được mở rộng hoặc nâng cấp. Do vậy, chỉ một thời gian ngắn, khối lượng hàng hoá luân chuyển lại đạt và vượt mức trước chiến tranh phá hoại. Nếu lấy chỉ số khối lượng hàng hoá luân chuyển năm 1964 là 100 thì con số tương ứng là: năm 1969 – 84,2 (trong đó đường sắt là 48, đường bộ là 162,6, đường sông là 125,6 và đường biển là 88,4); 1971 -119,2 (đường sắt là 84,1, đường bộ là 166, đường sông là 161,4, đường biển là 162,3)4.
Bên cạnh những kết quả trên lĩnh vực khôi phục và phát triển kinh tế, thời kỳ này, sự nghiệp giáo dục, văn hoá, y tế cũng có những bước tiến mới. Trong những năm chiến tranh phá hoại, nền giáo dục miền Bắc đã vươn lên đạt được nhiều thành tựu to lớn. Đến năm 1968, “miền Bắc đã có một vạn hai nghìn trường phố thông, mỗi xã đều có trường cấp I, nhiều xã có trường cấp II, các huyện đều có ít nhất một trường cấp III. Số người đi học đã hơn sáu triệu, trong đó có hơn một triệu cán bộ và công nông đang học bổ túc văn hoá. Số người vào học các trường đại học và trung học chuyên nghiệp tăng gần gấp ba lần so với trước chiến tranh chống Mỹ. Hơn 30 trường đại học và 200 trường trung học chuyên nghiệp đã phối hợp chặt chẽ với các ngành và các địa phương, đẩy mạnh công tác đào tạo cán bộ, tập trung cũng như tại chức”5. Giờ đây, trong khung cảnh tạm trở lại yên bình, nền giáo dục miền Bắc tiếp tục được đẩy mạnh. Nếu năm học 1965-1966, toàn miền Bắc có 4,9 triệu người đi học (bao gồm vỡ lòng, phổ thông, bổ túc, trung học và đại học) thì năm 1971-1972, con số đó lên tới hơn sáu triệu, trong đó, riêng học sinh phổ thông (cấp I, II, III) là hơn 4,5 triệu. Tính trung bình cứ một vạn dân miền Bắc, có tới hơn 2.500 học sinh phổ thông, 61 sinh viên đại học. Đặt trong điều kiện miền Bắc vừa qua những tháng năm chiến tranh khốc liệt, còn bộn bề biết bao công việc cấp bách, thành tựu mà sự nghiệp giáo dục đạt được trên đây là rất to lớn, rất quan trọng. Những thành tựu đó không tách rời sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, không tách rời nền tảng là chế độ xã hội ưu việt được xây dựng và không ngừng củng cố trên miền Bắc.
Nhiệm vụ nâng cao đời sống văn hoá tinh thần cho nhân dân vẫn là một trọng tâm trong công tác lãnh đào của các ngành, các cấp thời kỳ này. Trong điều kiện cho phép, ngành văn hoá đã có những cố gắng to lớn. Nếu năm 1965, ngành xuất bản ấn hành 22.411.000 bản sách phục vụ đông đảo bạn đọc thì tới năm 1971 con số tương ứng là 31.299.000 bản. Hệ thống thư viện công cộng tiếp tục được tăng cường. Năm 1965, toàn miền Bắc có 105 thư viện. Năm 1971 con số đó đạt tới 173. Ngoài ra, mạng lưới truyền thanh, số đội chiếu bóng, số phim được sản xuất và số đoàn nghệ thuật cũng tăng nhanh6. Sự nghiệp y tế cũng có bước tiến cả trên bình diện số lượng cơ sở phòng, chữa bệnh tăng, đội ngũ y, bác sĩ ngày càng đông đảo, chất lượng khám, chữa bệnh không ngừng được cải thiện... Đến năm 1971, số bệnh viện tăng từ 252 (1965) lên 431; số bệnh xá tăng từ 350 (1965) lên 587, chưa kể tới các cơ sở khám như viện điều dưỡng, trại phong, viện nghiên cứu y học, trạm vệ sinh phòng dịch, trạm bảo vệ bà mẹ, trẻ em... đều tăng về số lượng. Tương ứng với sự phát triển của các cơ sở phòng, chữa bệnh, đội ngũ cán bộ y tế cũng tăng nhanh. Tính bình quân, vào năm 1971, cứ 10.000 dân có 11 bác sĩ, y sĩ, nhiều hơn hai lần so với năm 1965. “Nhờ những thành tựu của nền y học xã hội chủ nghĩa, sức khoẻ của nhân dân ta hơn hẳn trước, tuổi thọ được nâng lên nhanh chóng, tỉ lệ chết của trẻ em mới đẻ giảm xuống vào mức thấp nhất thế giới, một loạt những bệnh xã hội lần lượt được thanh toán”7.
Sau những tháng năm chiến tranh ác liệt, bị bom đạn Mỹ tàn phá nặng nề, hậu phương lớn miền Bắc từng bước được khôi phục và đạt được nhiều kết quả trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội. Vẫn còn đó biết bao gian khổ, khó khăn, thiếu thốn; còn đó một loạt vấn đề nóng bỏng và bức xúc đặt ra trên tất cả mọi mặt của đời sống đất nước đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải khẩn trương giải quyết. Nhưng những kết quả đạt được của miền Bắc thời kỳ này, xét trong điều kiện hiện thực lúc đó, là rất đáng tự hào. Và nó tạo thêm điều kiện thuận lợi để miền Bắc đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, tăng sức chi viện cho chiến trường, sẵn sàng đập tan âm mưu và hành động mở rộng chiến tranh của đế quốc Mỹ. ______________________________________ 1. Tổng cục Thống kê: 30 năm phát triển kinh tế và văn hoá của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nxb. Sự thật. Hà Nội. 1978. tr. 73. 2. Tổng cục thống kê: Niên giám thống kê 1971, Hà Nội, 1974, tr.138, 140. 3. Báo Nhân dân, số ra ngày 28-3-1972. 4. Viện Kinh tế học: 45 năm kinh tế Việt Nam (1945 -1990), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1990, tr.138. 5. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr.402. 6. Toàn bộ số liệu dẫn theo Tổng cục Thống kê: 30 năm phát triển kinh tế và văn hoá... Sđd. Có thể tham khảo thêm một vài số liệu sau đây dẫn theo sách trên: năm 1965, hệ thống truyền thanh miền Bắc có 214.200 loa và 137.000 máy thu thanh; 66 đội nghệ thuật. Tới năm 1971, con số tương ứng là 311.900 loa, 328.500 máy thu thanh và 79 đội nghệ thuật chuyên nghiệp. 7. Phạm Văn Đồng: 25 năm chiến đấu và thắng lợi, Nxb. Sự thật. Hà Nội, 1970, tr.28.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #41 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2010, 10:17:23 pm » |
|
II- KHẨN TRƯƠNG TĂNG CƯỜNG TIỀM LỰC QUỐC PHÒNG, XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN, MỞ RỘNG TUYẾN VẬN TẢI CHIẾN LƯỢC 559, TĂNG SỨC CHI VIỆN CHIẾN TRƯỜNG Sau khi Chính phủ Mỹ tuyên bố đơn phương chấm dứt mọi hành động chiến tranh đối với miền Bắc Việt Nam (ngày 1-11-1968), mặc nhiên thừa nhận sự phá sản hoàn toàn của chiến lược chiến tranh cục bộ, tháng 4-1969, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta ra nghị quyết động viên nỗ lực to lớn của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trên cả hai miền Nam, Bắc phát triển chiến lược tiến công, vươn lên đánh bại chủ trương Việt Nam hoá chiến tranh của đế quốc Mỹ. Thực hiện Nghị quyết Bộ Chính trị về mặt quân sự, Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh tập trung chỉ đạo các đơn vị lực lượng vũ trang điều chỉnh tổ chức, sắp xếp biên chế cho phù hợp với nhiệm vụ chiến đấu và tình hình bổ sung quân số cũng như khả năng đảm bảo hậu cần ở từng chiến trường, từng địa bàn đơn vị đứng chân và hoạt động. Trên miền Bắc, các lực lượng vũ trang đã rút ra 14.300 cán bộ, chiến sĩ để tổ chức thành chín trung đoàn làm nhiệm vụ sản xuất, khôi phục kinh tế. Trong khi đó, tại những địa bàn đứng chân, cán bộ, chiến sĩ các đơn vị, bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ cũng đã tích cực cùng lực lượng công binh và nhân dân các địa phương khẩn trương tháo gỡ bom mìn, san lấp hố bom, khôi phục và mở rộng các tuyến giao thông, phục hồi và đẩy mạnh sản xuất... Để nâng cao chất lượng lực lượng vũ trang, một trong số những nhân tố có ý nghĩa quyết định là tăng cường công tác tư tưởng và tổ chức. Trên mặt công tác này, tháng 5-1969, cán bộ trung cấp, cao cấp thuộc cơ quan Bộ Quốc phòng và các quân khu quân chủng, binh chủng, sư đoàn trong toàn quân được triệu tập về Thủ đô Hà Nội nhằm quán triệt tình hình và nhiệm vụ trong giai đoạn mới của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Gửi thư cho lớp học, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “- Vấn đề số một là phải không ngừng nâng cao quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, đánh cho đến thắng lợi cuối cùng. Phải có quyết tâm cao để vượt mọi khó khăn, làm tròn nhiệm vụ. Quyết tâm phải biến thành hành động dũng cảm, chiến đấu kiên quyết, không sợ hy sinh gian khổ, triệt để chấp hành nghiêm chỉnh mọi chỉ thị, mệnh lệnh, trong bất kỳ tình huống nào cũng phải chỉ huy đơn vị quyết đánh, quyết thắng, cũng phải quản lý đơn vị chặt chẽ, giữ nghiêm kỷ luật, chấp hành tốt mọi chính sách. - Phải có cách đánh giặc tốt. Trong mỗi lần hoạt động phải rút kinh nghiệm và học tập kinh nghiệm tốt các đơn vị đánh giỏi, để đơn vị nào cũng đánh giỏi, địa phương nào cũng đánh giỏi. - Tinh thần trách nhiệm phải cao. Phải thật sự đồng cam cộng khổ với chiến sĩ. - Phải giáo dục bộ đội giữ gìn tốt vũ khí trang bị, tiết kiệm từng viên đạn, từng hạt gạo, không để lãng phí” 1. Nói chuyện với đoàn đại biểu lớp học đến chúc thọ nhân dịp Người tròn 79 tuổi, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ thế và lực của quân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Người nói: Quả cân chỉ một kilôgam, ở vào thế lợi thì lực của nó tăng lên nhiều, có sức mạnh làm bằng được một vật nặng hàng trăm kilôgam. Đó là thế thắng lực. Ta đánh Mỹ, lấy ít thắng nhiều được là nhờ cái thế của ta rất lợi. Thế ta thắng đã rõ ràng. Thế địch thua đã rõ ràng; nhưng chúng còn rất ngoan cố, chưa chịu từ bỏ âm mưu xâm lược nước ta 2. Người căn dặn: “1. Phải cố gắng cùng các địa phương làm tốt hơn nữa nhiệm vụ của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn, để đánh thắng giặc Mỹ. Đó là nhiệm vụ hàng đầu. 2. Phải xây dựng lực lượng thật tốt, chất lượng thật cao. Luôn luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu giỏi, bảo vệ tốt miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Chú ý tiết kiệm sức người và sức của, giữ gìn thật tốt vũ khí, trang bị. 3. Bộ đội phải hết lòng giúp dân, tham gia củng cố hậu phương ta ngày càng vững mạnh. Phải cùng với các cơ quan nhà nước và các đoàn thể, chấp hành thật tốt các chính sách đối với anh em thương binh bệnh binh và các gia đình có công với kháng chiến” 3. Sau khi lớp học của cán bộ trung, cao cấp kết thúc, tháng 6-1969, toàn quân bước vào đợt sinh hoạt chính trị Về tình hình và nhiệm vụ mới. Cũng trong khoảng thời gian này, nhiều đơn vị trong toàn quân mở đại hội thi đua Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược; các quân khu, quân chủng, binh chủng và các đơn vị trên miền Bắc tổ chức tổng kết bốn năm đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ và đề ra phương hướng hành động trong giai đoạn mới của cuộc kháng chiến. Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, cùng toàn Đảng, toàn dân, lực lượng vũ trang mở đợt học tập và làm theo Di chúc của Người, đợt quán triệt tinh thần Nghị quyết hội nghị Trung ương 18. Đây thực sự là những sinh hoạt chính trị rộng lớn trong toàn quân, góp phần quan trọng củng cố quyết tâm, nâng cao ý chí chiến đấu, đảm bảo cho lực lượng vũ trang làm tốt nhiệm vụ chiến đấu ở miền Nam, bảo vệ miền Bắc, làm tròn nghĩa vụ đối với cách mạng hai nước Lào và Campuchia. Công tác xây dựng đảng, nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ, đảng viên luôn chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng lực lượng vũ trang. Từ tháng 4-1970, các đơn vị toàn quân triển khai thực hiện cuộc vận động lớn Nâng cao chất lượng đảng viên và kết nạp đảng viên lớp Hồ Chí Minh do Bộ Chính trị Trung ương Đảng phát động. Gắn với việc xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, cuộc vận động lớn trên đây được toàn thể cán bộ, chiến sĩ toàn quân hưởng ứng bằng những hành động thiết thực trong chiến đấu, công tác góp phần nâng cao sức mạnh của lực lượng vũ trang. ______________________________________ 1, 2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.465-466, 455. 3. Hồ Chí Minh: Toàn tập. Sđd, t.12, tr. 456.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #42 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2010, 10:18:27 pm » |
|
Tháng 11-1970, quân uỷ Trung ương tổ chức hội nghị tổng kết công tác xây dựng chi bộ đảng trong quân đội. Trên cơ sở đánh giá kết quả và những tồn tại, hạn chế về công tác xây dựng chi bộ đảng trong quân đội thời gian qua; chỉ rõ vị trí và tầm quan trọng hàng đầu của công tác xây dựng chi bộ vững mạnh trong việc xây dựng đơn vị cơ sở, xây dựng đảng bộ, xây dựng trung đoàn, sư đoàn mạnh, hội nghị đã đề ra một số giải pháp tiếp tục đẩy mạnh mặt công tác này.
Cuộc vận động Nâng cao chất lượng đảng viên và kết nạp đảng viên lớp Hồ Chí Minh cùng hội nghị tổng kết công tác xây dựng chi bộ đảng là những nỗ lực quan trọng trong sự nghiệp xây dựng quân đội vững mạnh toàn diện, đáp ứng đòi hỏi của tình hình và nhiệm vụ mới. Trên thực tế, đã có 23.000 cán bộ, chiến sĩ ưu tú được kết nạp đảng lớp Hồ Chí Minh đưa tổng số đảng viên trong toàn quân đến cuối năm 1970 lên tới 35 vạn. Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội được tăng cường. Tỷ lệ đảng viên ở các đại đội bộ binh là 25% đến 35% số quân. Tỷ lệ đó ở các đại đội binh chủng là trên 40%...
Đi đôi với việc tăng cường công tác chính trị, tư tưởng, từ mùa hè 1969, toàn quân triển khai thực hiện chỉ thị của Quân uỷ Trung ương về Kiện toàn tổ chức, nâng cao chất lượng và điều chỉnh số lượng bộ đội thường trực một cách thích hợp. Các sư đoàn, trung đoàn bộ binh chủ lực của Bộ Tổng tư lệnh và của các quân khu được kiện toàn, bổ sung đủ về quân số, trang bị. Xuất phát từ tình hình mới, các sư đoàn phòng không 377, 375 và Trung đoàn công binh cầu phà 269 cùng hai trung đoàn tên lửa đất đối không 268 và 278 giải thể; tăng cường cho các đơn vị làm nhiệm vụ bảo vệ yếu địa và các đơn vị chiến đấu ở nam Quân khu IV, ở tuyến vận tải chiến lược 559. Quân chủng hải quân và các quân khu, binh chủng, nhà trường trên miền Bắc giảm bớt quân số ở cơ quan và ở đơn vị phục vụ, rút ra hơn 13.000 cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ trực tiếp chiến đấu. Đoàn vận tải 559 bộ đội Trường Sơn và các đơn vị bảo đảm kỹ thuật cũng được kiện toàn, bổ sung quân số và phương tiện. Trên tinh thần đó, Đoàn 500 - lực lượng vận tải và bảo đảm vận tải từ nam sông Gianh trở vào vĩ tuyến 17 gồm bảy tiểu đoàn xe, tám tiểu đoàn công binh, hai tiểu đoàn pháo cao xạ 37mm, một tiểu đoàn đường ống và các trạm hành quân chuyển thương, các đội điều trị sáp nhập vào Đoàn 559. Đồng thời, số vũ khí, khí tài bị hư hỏng hoặc ngoài biên chế được thu hồi để sửa chữa, bảo dưỡng.
Tiếp theo đợt kiện toàn về tổ chức, biên chế, nâng cao chất lượng của bộ đội thường trực, tháng 2-1970, hội nghị Quân uỷ Trung ương họp bàn việc thực hiện Nghị quyết hội nghị lần thứ 18 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đã chỉ rõ: Nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của quân đội ta lúc này là xây dựng những binh đoàn chủ lực mạnh làm trụ cột cho cả chiến trường Đông Dương, xây dựng bộ đội chủ lực ở miền Nam đủ mạnh để có thể đánh những trận tiêu diệt lớn; nâng cao sức mạnh chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến đấu của lực lượng dự bị chiến lược trên miền Bắc sát với tính chất, yêu cầu, nhiệm vụ của những binh đoàn chủ lực cơ động, có khả năng tác chiến tập trung, hiệp đồng binh chủng trên các chiến trường.
Thực hiện chủ trương quan trọng đó của Quân uỷ Trung ương, bốn sư đoàn bộ binh chủ lực là 308, 304, 312, 320 được khẩn trương củng cố, tăng cường sức mạnh chiến đấu và nâng cao khả năng cơ động; hai sư đoàn 325 và 320B chuyển từ nhiệm vụ huấn luyện quân thành các sư đoàn cơ động của Bộ Tổng tư lệnh; Sư đoàn 316 làm nhiệm vụ chiến đấu trên chiến trường Lào được tăng thêm thành phần binh chủng trong biên chế. Trong khi đó, các binh chủng cũng nhanh chóng tăng cường lực lượng, vũ khí và phương tiện chiến đấu. Binh phóng Pháo binh xây dựng thêm các đơn vị pháo xe kéo, tăng thêm các trung đoàn pháo binh dự bị trực thuộc Bộ Tư lệnh1, trang bị thêm vũ khí và phương tiện cho các đơn vị thuộc quyền nhằm nâng cao khả năng cơ động, uy lực và tầm bắn. Ngoài ra, một số sư đoàn bộ binh chủ lực (Sư đoàn 304 và Sư đoàn 308), các quân khu, mặt trận cũng được tăng cường lực lượng pháo binh; một số trung đoàn xe tăng xe thiết giáp thuộc lực lượng dự bị của Binh chủng Thiết giáp cũng được củng cố. Các binh chủng đặc công, thông tin, công binh đều tổ chức thêm các đơn vị mới và tăng cường sức mạnh toàn diện của các đơn vị thuộc quyền; riêng binh chủng công binh phát triển thêm các trung đoàn, tiểu đoàn công binh công trình, cầu đường, vượt sông, rà phá bom, mìn, đưa tổng quân số của binh chủng lên tới 41.000 cán bộ, chiến sĩ vào năm 1971. Lường trước đòi hỏi của tình hình chiến trường, ngoài lực lượng vũ khí và phương tiện hiện có theo biên chế, các binh chủng còn dự trữ một số cán bộ, nhân viên kỹ thuật vũ khí, phương tiện để khi cần, sẽ nhanh chóng phát triển thêm các đơn vị mới.
Tương ứng với việc củng cố tổ chức, kiện toàn biên chế, tăng cường sức mạnh của lực lượng vũ trang, đặc biệt các binh đoàn chủ lực, một vấn đề đặt ra là phải nhanh chóng nâng cao số lượng và chất lượng của đội ngũ cán bộ quân sự, cán bộ chính trị, cán bộ và nhân viên kỹ thuật nghiệp vụ. Về mặt này, sau ngày thành lập Trường đại học Kỹ thuật quân sự trên cơ sở Phân hiệu 2 Đại học Bách khoa, Bộ Quốc phòng ra các quyết định thành lập Viện khoa học quân sự Việt Nam trực thuộc Bộ Quốc phòng (2-7-1969), chuyển Cục Kỹ thuật (Tổng cục Hậu cần) thành Viện kỹ thuật quân sự thuộc Bộ Tổng tham mưu (29-7-1969), thành lập Cục Kỹ thuật Quân chủng Phòng không - không quân (4-9-1969). Tiếp đó, tháng 3-1970, Thường trực Quân uỷ Trung ương ra nghị quyết chuyên đề Về công tác nhà trường trong quân đội. Theo đó, trong hai năm 1970 và 1971, nhiệm vụ chủ yếu của các nhà trường trong toàn quân là bổ túc, nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ, đảm bảo trình độ của đội ngũ cán bộ các cấp trong toàn quân được nâng lên đồng đều (trừ các trường đào tạo cán bộ kỹ thuật). Bên cạnh đó, các trường vẫn phải hết sức chú trọng đào tạo cán bộ quân sự, chính trị theo hướng cơ bản, toàn diện, đáp ứng yêu cầu trước mắt và lâu dài của sự nghiệp xây dựng quân đội.
Để hoàn thành nhiệm vụ này, ngày 11-5-1970, Bộ Quốc phòng ra quyết định thành lập Cục Nhà trường trực thuộc Bộ Tổng tham mưu, giúp Bộ Tổng tham mưu chỉ đạo công tác nhà trường trong toàn quân. Trong hai năm 1970, 1971, hệ thống nhà trường, hệ thống đội đào tạo và bổ túc cán bộ, nhân viên kỹ thuật, nghiệp vụ trong toàn quân của hơn 100 đơn vị được tổ chức lại thành 16 trường. Các trường đã nỗ lực cải tiến và từng bước đổi mới chương trình đào tạo, huấn luyện; cải tiến công tác quản lý; tăng thêm thời gian học tập, rèn luyện tại trường của các khoá đào tạo, các lớp bổ túc. Nhờ đó, số lượng và chất lượng đào tạo không ngừng được nâng lên. Đến năm 1971, số học viên của các nhà trường quân đội lên tới 20.000 người. Mỗi năm, hàng nghìn cán bộ, nhân viên kỹ thuật thuộc hai hệ đào tạo và bổ túc ra trường, góp phần vào việc nâng cao sức mạnh chiến đấu của các đơn vị trong toàn quân. Bên cạnh đó, một số khá lớn kỹ sư, công nhân kỹ thuật cũng được nhà nước điều vào phục vụ quân đội. Do vậy, đội ngũ cán bộ, nhân viên kỹ thuật công tác trong lực lượng vũ trang ngày càng tăng, đạt tới 30.000 người vào năm 1971. Cũng vào năm này, tổng số quân đội thường trực trên miền Bắc là 436.000, tăng hơn năm 1968 46.000 cán bộ, chiến sĩ; trong đó, thành phần lực lượng thuộc các binh chủng kỹ thuật chiếm 46%, (năm 1965 là 30%). ______________________________________ 1. Lực lượng dự bị trực thuộc Bộ Tư lệnh Pháo binh tăng từ ba lên năm trung đoàn và được trang bị các loại pháo 130, 122, 82mm, hoả tiễn BM14, cối 160 mm.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #43 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2010, 10:19:09 pm » |
|
Cũng trong nỗ lực nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang, song song với việc tổ chức, sắp xếp lại hệ thống nhà trường quân đội, Bộ Tổng tham mưu đồng thời tổ chức biên soạn, bổ sung các tài liệu huấn luyện về chiến dịch, chiến thuật, trước hết là chiến dịch tiến công của bộ đội chủ lực trên chiến trường rừng núi, chiến dịch tiến công tổng hợp phá bình định của địch ở vùng nông thôn đồng bằng và cách đánh địch phòng ngự trong công sự vững chắc... Quân uỷ Trung ương và Bộ Quốc phòng triệu tập hơn 300 cán bộ toàn quân dự lớp tập huấn về đường lối quân sự của Đảng, cách đánh mới về chiến dịch, chiến thuật, về công tác tham mưu, công tác đảng - công tác chính trị, công tác đảm bảo hậu cần chiến dịch, chiến đấu... Tiếp sau lớp tập huấn quân sự toàn quân, các quân khu, binh chủng, sư đoàn tổ chức các lớp tập huấn ngắn ngày cho cán bộ chỉ huy đơn vị và cơ quan. Lực lượng vũ trang trên miền Bắc dấy lên đợt thao luyện nhằm làm cho đội ngũ cán bộ cơ sở và chiến sĩ thuần thục 10 môn kỹ thuật cơ bản, đặc biệt là các kỹ thuật đánh xe tăng, xe cơ giới, bắn máy bay, phá gỡ bom mìn, vượt chướng ngại vật và phòng chống hơi độc. Cấp phân đội tập trung huấn luyện bốn hình thức chiến thuật, bao gồm tập kích, phục kích, đánh địch trong công sự vững chắc, vận động tiến công kết hợp chốt. Một số tiểu đoàn trong khi huấn luyện các hình thức chiến thuật cơ bản đã chú trọng vào một số hình thức chiến thuật nhằm tạo nên truyền thống trong cách đánh của đơn vị mình. Cấp trung đoàn, sư đoàn huấn luyện cách đánh tập trung, hiệp đồng binh chủng, bao vây đánh lấn tiêu diệt địch trong hệ thống công sự vững chắc và vận động bao vây tiến công liên tục nhằm tiêu diệt cấp trung đoàn, chiến đoàn địch khi chúng đóng quân dã ngoại. Những đơn vị thuộc các binh chủng vừa triển khai huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật của binh chủng mình, vừa hợp luyện với các sư đoàn bộ binh nhằm nâng cao khả năng đánh hợp đồng binh chủng. Bám sát yêu cầu và nhiệm vụ huấn luyện, chiến đấu trong tình hình mới, công tác đảng - công tác chính trị kịp thời nắm bắt, tổng kết và phổ biến kinh nghiệm các trận đánh đạt hiệu suất cao, các điển hình về huấn luyện quân sự giỏi; quán triệt cho cán bộ chiến sĩ về tư tưởng chỉ đạo tác chiến, về những nội dung và yêu cầu của cách đánh mới... Năm 1970, nhiều đoàn cán bộ được cử vào miền Nam, cùng Bộ Tư lệnh miền, các quân khu, các chiến trường, các mặt trận chỉ đạo việc huấn luyện theo yêu cầu tác chiến trong giai đoạn mới. Tư liệu về cách đánh chiến dịch, chiến thuật do Bộ Tổng tham mưu biên soạn được sử dụng trong các lớp tập huấn cán bộ, tập bài ở cơ quan và trong huấn luyện bộ đội.
Cùng với việc nâng cao chất lượng toàn diện của khối chủ lực, công tác quân sự địa phương những tháng năm này cũng được các quân khu, các tỉnh, thành trên miền Bắc chú trọng đẩy mạnh. Ngày 12-5-1970, Thường trực quân uỷ Trung ương ra nghị quyết Về công tác quân sự địa phương, trong đó xác định rõ: công tác quân sự địa phương bao gồm toàn bộ nhiệm vụ quân sự của Đảng thuộc ở địa phương, là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ công tác quân sự của Đảng, là một trong những công tác chủ yếu của các cấp bộ đảng địa phương. Nhiệm vụ công tác quân sự địa phương giờ đây tập trung vào những nội dung chủ yếu sau đây:
1. Động viên, tổ chức và chỉ đạo toàn Đảng, toàn dân địa phương và các lực lượng vũ trang địa phương chuẩn bị đề phòng chiến tranh trong thời bình và tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân ở địa phương, để bảo vệ địa phương, bảo vệ Tổ quốc trong thời chiến.
2. Cùng với công an nhân dân trấn áp bọn phản cách mạng cũng như mọi âm mưu, hành động phá hoại của địch, bảo vệ sản xuất, bảo vệ an ninh xã hội.
3. Trực tiếp xây dựng lực lượng vũ trang địa phương, lực lượng dự bị vững mạnh làm nòng cốt cho phong trào toàn dân đánh giặc ở địa phương và làm cơ sở vững chắc cho việc xây dựng bộ đội chủ lực.
4. Xây dựng, tích luỹ, bảo vệ tiềm lực kinh tế và quốc phòng ở địa phương, thi hành mọi chủ trương, chính sách củng cố quốc phòng, xây dựng quân đội động viên sức người sức của ở địa phương cho công cuộc xây dựng, củng cố quốc phòng và chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.
Để hoàn thành chức năng, nhiệm vụ chủ yếu đó, tháng 7-1970, Bộ Quốc phòng tổ chức hội nghị quân sự, địa phương toàn miền Bắc, quyết định những biện pháp nhằm đẩy mạnh công tác quân sự địa phương, góp phần vào công cuộc củng cố quốc phòng, xây dựng lực lượng vũ trang trong tình hình mới. Tiếp đó, ngày 11-8-1970, Bộ Quốc phòng trong công văn số 140/QP đã đề nghị Hội đồng Chính phủ quy định rõ thời gian huấn luyện quân sự cho lực lượng tự vệ, quân nhân dự bị ở các cơ quan, xí nghiệp nhà nước.
Đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ quân sự ở địa phương, cơ quan quân sự địa phương các cấp cần tiếp tục được kiện toàn.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #44 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2010, 10:20:36 pm » |
|
Tháng 10-1971, căn cứ vào đề nghị của Bộ Quốc phòng, Hội đồng Chính phủ đã quy định tên gọi và nhiệm vụ của cơ quan quân sự địa phương các cấp. Theo đó, các cơ quan tỉnh đội, huyện đội, xã đội chuyển thành bộ tư lệnh (đối với thành phố trực thuộc trung ương), bộ chỉ huy quân sự (cấp tỉnh), ban chỉ huy quân sự (cấp thành phố trực thuộc tỉnh, huyện, thị xã, khu phố) và ban chỉ huy (cấp xã). Các cơ quan quân sự này có nhiệm vụ làm tham mưu giúp uỷ ban hành chính cấp mình chỉ đạo toàn bộ công tác quân sự địa hương, tổ chức thực hiện chỉ thị, mệnh lệnh của các cơ quan quân sự cấp trên, trực tiếp chỉ đạo, chỉ huy mọi mặt xây dựng và hoạt động của các lực lượng vũ trang địa phương cũng như hướng dẫn toàn dân tham gia xây dựng lực lượng vũ trang, củng cố quốc phòng giữ gìn trị an trên địa bàn mình...
Nhìn chung, cả sau khi Mỹ tạm ngừng ném bom miền Bắc, công tác quân sự địa phương vẫn là một trong số những nhiệm vụ trọng tâm của sự nghiệp củng cố nền quốc phòng; lực lượng quân sự địa phương tiếp tục được tăng cường cho ngang tầm đòi hỏi của tình hình và nhiệm vụ trong thời kỳ mới của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Ngoài việc cơ quan quân sự địa phương các cấp được chấn chỉnh, kiện toàn, thời kỳ này, bộ đội địa phương phát triển thêm hàng chục đại đội và được bổ sung, trang bị một số vũ khí mới; lực lượng dân quân tự vệ lên tới hơn hai triệu người tính đến năm 1971, trong số đó, riêng tự vệ chiến đấu và du kích là 87 vạn. Vũ khí, trang bị của lực lượng đông đảo và rộng khắp này là hàng vạn khẩu súng bộ binh, hàng nghìn súng máy và pháo cao xạ, hàng trăm khẩu pháo mặt đất, súng cối, ĐKZ;... Dân quân, tự vệ các địa phương Quân khu IV còn được trang bị các loại súng cối 60 và 82mm, súng chống tăng B40, B41, ĐKZ. Việc huấn luyện nâng cao bản lĩnh chính trị và trình độ tác chiến cho dân quân, tự vệ cũng như lực lượng dự bị được cấp uỷ đảng, chính quyền và cơ quan quân sự địa phương các cấp chú trọng, tạo điều kiện thuận lợi...
Mặc dù buộc phải đơn phương tuyên bố chấm dứt mọi hành động quân sự chống phá miền Bắc Việt Nam nhưng trên thực tế, từ 1969 đến 1971, đế quốc Mỹ nhiều lần cho máy bay xâm phạm bầu trời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đánh phá một số mục tiêu trên địa bàn Quân khu IV. Trong một cố gắng mưu toan giải thoát tù binh hòng trấn an công chúng Mỹ cũng như gây áp lực để thương lượng với phía Việt Nam trong cuộc đàm phán đang diễn ra căng thẳng tại Pari, đêm 20-11-1970, biệt kích Mỹ bất ngờ tập kích bằng máy bay trực thăng vào khu vực ngoại vi thị xã Sơn Tây... Ngoài khơi, tàu biệt kích luôn rình rập và tiến hành các hoạt động đánh phá vùng ven biển miền Bắc, đặc biệt là khu vực Cửa Hội, Hòn Mát, Hòn Ngư, Hòn La, Hòn Gió...
Trước tình hình đó, đồng thời với việc tập trung tăng cường lực lượng vũ trang nhằm đáp ứng đòi hỏi ngày càng tăng của chiến trường, Bộ Tổng tham mưu khẩn trương chỉ đạo Quân chủng Phòng không và Quân chủng Hải quân bố trí lại thế trận, kiện toàn về tổ chức, đổi mới và tăng thêm trang bị, vũ khí cho lực lượng phòng không, phòng thủ miền Bắc. Ngay sau khi chiến tranh phá hoại lần thứ nhất kết thúc, Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không đã triển khai kế hoạch tác chiến bảo vệ vững chắc vùng trời miền Bắc, chỉ đạo các cơ quan chức năng và các đơn vị thuộc quyền tiến hành tổng kết kinh nghiệm và đi sâu nghiên cứu cách đánh máy bay trinh sát địch, đẩy mạnh công tác huấn luyện nhằm nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu. Các binh chủng không quân, tên lửa, rađa và các sư đoàn phòng không từng bước được kiện toàn về tổ chức, biên chế, bổ sung và đổi mới một số trang bị, vũ khí1. Thêm nhiều tiểu đoàn cao xạ được thành lập nhằm tăng cường khả năng bảo vệ vững chắc các địa bàn, các khu vực mục tiêu trọng yếu. Để phát huy khả năng chiến đấu hiệp đồng của bộ đội không quân trên mặt trận bảo vệ giao thông ở phía nam Quân khu IV, ngày 19-5-1970, Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không ra quyết định điều một số đơn vị rađa phối thuộc chiến đấu với bộ đội không quân và sư đoàn phòng không. Trước đó, Binh chủng không quân đã chuẩn bị sở chỉ huy sân bay Vinh và đã điều một số biên đội thuộc Đoàn không quân Sao Đỏ (Trung đoàn không quân 921) bí mật vào sân bay Vinh. Ngoài ra, Quân khu IV bấy giờ còn được tăng cường một lực lượng khá lớn các đơn vị làm nhiệm vụ bảo vệ, bảo đảm giao thông vận tải gồm hàng chục đại đội pháo mặt đất, hàng chục tiểu đoàn, đại đội pháo cao xạ và nhiều đại đội công binh, trinh sát. Sau khi được tăng thêm lực lượng, Sư đoàn phòng không 367 nhận lệnh hiệp đồng chặt chẽ với quân dân Quân khu IV, Bộ Tư lệnh 559, triển khai thế trận chiến đấu bảo vệ cửa khẩu và các tuyến đường số 18, 20, 12. Vào những thời điểm chiến trường miền Nam mở các hoạt động quân sự lớn, lực lượng phòng không bảo vệ địa bàn Quân khu IV, bảo vệ hệ thống cửa khẩu của tuyến vận tải chiến lược 559 được tăng cường2.
Đối với vùng biển, từ giữa năm 1969, Bộ Tư lệnh Hải quân kiêm Quân khu Đông Bắc đã chấn chỉnh một bước tổ chức lực lượng hải quân. Theo đó, một số đơn vị được tách ra hoặc sáp nhập, trở thành các tiểu đoàn trực thuộc Bộ Tư lệnh. Những đơn vị này có nhiệm vụ hoạt động, tác chiến hoặc độc lập hoặc phối hợp với các đơn vị bạn đánh địch trên những vùng biển được phân công; chuẩn bị chiến trường và các điều kiện bảo đảm khác cho lực lượng cơ động của quân chủng vào hoạt động khi cần; tham gia công tác xây dựng dân quân, tự vệ ở vùng ven biển... ______________________________________ 1. Cho đến những tháng cuối năm 1971, tổ chức lực lượng Quân chủng Phòng không được điều chỉnh lại như sau: - Thành lập Mặt trận cửa khẩu (tương đương sư đoàn phòng không) gồm các trung đoàn phòng không 224, 227, 243, 250 và các trung đoàn tên lửa 237, 275. - Sư đoàn cơ động 367 gồm các trung đoàn pháo phòng không 230, 380, 241. - Sư đoàn phòng không 365 gồm các trung đoàn pháo phòng không 282, 284, 232 và Trung đoàn tên lửa 274. - Điều Trung đoàn tên lửa 238 về trực thuộc Sư đoàn phòng không 363. - Các trung đoàn pháo phòng không 228, 226 về trực thuộc Quân chủng. 2. Phối hợp chiến đấu trong mùa khô 1971-1972, hoả lực phòng không hình thành ba khu vực chính là Quảng Bình - Vĩnh Linh, Thanh Hoá - Nghệ An và khu vực đường số 7. Chiến đấu trên các khu vực này có các sư đoàn phòng không 361, 365, 377...
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #45 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2010, 10:21:41 pm » |
|
Bước sang năm 1970, Thường trực Quân uỷ Trung ương ra quyết định Quân chủng Hải quân tách khỏi Quân khu Đông Bắc. Tỉnh đội Quảng Ninh và toàn bộ lực lượng vũ trang thuộc Quân khu Đông Bắc được bàn giao sang Quân khu Tả Ngạn. Ngay sau đó, quyết định này được thực hiện nhanh, gọn. Bộ Tư lệnh Hải quân, trên cơ sở quán triệt nhiệm vụ mà Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh giao cho, đã khẩn trương sắp xếp, bố trí, chấn chỉnh tổ chức một số đơn vị và cơ quan, khôi phục các khu vực hải quân Sông Mã, Cửa Hội, Sông Gianh1; thành lập thêm một số đơn vị, nhằm tăng cường sức mạnh của toàn quân chủng bổ sung cho chiến trường miền Nam tham gia phát triển kinh tế vùng ven biển và vận tải biển chi viện chiến trường... Đến cuối năm 1970, việc củng cố, chấn chỉnh tổ chức, biến chế và triển khai thế trận mới của lực lượng hải quân đã căn bản hoàn tất. Giờ đây, quân chủng không chỉ đảm nhận nhiệm vụ bảo vệ toàn bộ vùng biển rộng lớn của miền Bắc xã hội chủ nghĩa mà còn trực tiếp chiến đấu ở vùng biển Cửa Việt, tăng cường lực lượng đặc công nước cho các chiến trường sông biển ở phía nam, tham gia xây dựng kinh tế ở hậu phương lớn. Đó thực sự là một cố gắng lớn, một bước phát triển của Quân chủng Hải quân.
Đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của chiến trường, tổ chức và hoạt động của tuyến vận tải quân sự ở hậu phương miền Bắc nhanh chóng được chấn chỉnh. Hầu hết các tuyến đường sắt, đường thuỷ chạy qua miền đất lửa Khu IV đều nhanh chóng được khôi phục sau cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của không quân, hải quân Mỹ chấm dứt. 14 binh trạm trong chiến tranh được tổ chức lại theo các hướng đảm bảo vận chuyển phía sau (2 binh trạm vận chuyển cho chiến trường Lào) và vận chuyển tạo chân hàng cho Đoàn 559, cho Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị. Trong khi đó, hoạt động vận tải quân sự trên địa bàn nam Quân khu IV được chuyển từ trục đường 15 sang trục quốc lộ 1. Toàn bộ hệ thống kho tàng quân sự, bồn chứa xăng dầu được chấn chỉnh và quy hoạch lại theo hướng phục hồi những cơ sở cũ, kiên quyết bỏ những khu kho ở quá xa các trục giao thông, di dời các khu kho ra khỏi nhà dân, nhà kho hợp tác xã, đình, chùa... Điều đó cho phép công tác tiếp nhận, bảo quản hàng hoá quân sự được tiến hành thuận lợi trước khi chuyển tới Đoàn 559. Tuyến bảo đảm hành quân vào Nam và tuyến chuyển thương trên miền Bắc cũng được củng cố.
Nhận rõ tầm quan trọng của công tác chi viện chiến trường trong giai đoạn mới, tháng 6-1970, Bộ Chính trị quyết định thành lập Hội đồng chi viện tiền tuyến Trung ương là cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ do đồng chí Đỗ Mười, Phó Thủ tướng Chính phủ làm Chủ tịch Hội đồng, đề ra phương hướng lớn nhằm động viên mạnh mẽ sức mạnh tiềm tàng của hậu phương miền Bắc vào công cuộc kháng chiến, chi viện sức người, sức của cho chiến trường.
Trên tuyến vận tải chiến lược 559, cuộc chiến ngăn chặn và chống ngăn chặn diễn ra ngày càng quyết liệt. Mục tiêu chiến lược hàng đầu của phía Mỹ, trong cuộc chiến này là triệt để cắt đứt tuyến “đường mòn”, chặn đứng mọi nguồn chi viện của hậu phương lớn nhằm bóp nghẹt cách mạng và chiến tranh cách mạng miền Nam. Thực hiện mục tiêu chiến lược đó, ngay sau ngày buộc phải tuyên bố chấm dứt hoàn toàn việc ném bom miền Bắc (1-11-1968), không quân Mỹ dồn sức đánh phá dữ dội tuyến vận tải 559, rải xuống các cửa khẩu đường 12, 20 sang tây Trường Sơn một số lớn bom từ trường, bom nổ chậm, mìn vướng, mìn lá..., tạo ra các khu vực “chết”, khiến cầu, đường bị tắc nghiêm trọng và rất khó khắc phục.
Trước tình hình đó, Quân uỷ Trung ương chỉ đạo tập trung lực lượng và phương tiện, kiên quyết giải toả các điểm tắc, giữ vững các cửa khẩu hiện có, mở thêm các cửa khẩu và các tuyến đường vòng tránh, kết hợp giữa vận chuyển đường bộ và vận chuyển đường sông. Đồng thời lúc này, Đoàn 500 được lệnh phải nhích lên đảm nhiệm một số trọng điểm ở khu vực các cửa khẩu để giảm nhẹ khó khăn cho Đoàn 5592.
Trong khi đó, Bộ Tổng tham mưu điều gấp hai trung đoàn, 45 đại đội cao xạ, một số tiểu đoàn công binh, ôtô vận tải bổ sung cho tuyến vận tải. Thế nhưng, việc đảm bảo giao thông, việc vận tải chuyển giao hàng hoá của Đoàn 500 cho Đoàn 559 vẫn gặp nhiều trở ngại, khó khăn; lực lượng và phương tiện của ta vẫn tiếp tục bị hao tổn nặng... do sự đánh phá ngày càng gia tăng, bằng nhiều thủ đoạn tương đối hiệu quả của không quân Mỹ.
Từ 1969, cuộc chiến ngăn chặn của Mỹ ngày càng quyết liệt. Lúc này một loạt thành tựu mới nhất của nền khoa học kỹ thuật và công nghiệp chiến tranh Mỹ được áp dụng triệt để trong cuộc chiến tranh này. Một trung tâm điện tử đặt trên đất Thái Lan được xây dựng và đi vào hoạt động, thu thập, xử lý toàn bộ tín hiệu hàng triệu chiếc máy thu phát được mệnh danh là “Tên gác đường” mà không quân Mỹ tung xuống khắp nẻo rừng Trường Sơn, nơi có tuyến đường chạy qua; truyền dẫn tín hiệu đó cho không quân Mỹ - bao gồm hàng trăm máy bay ném bom chiến lược B52 và hàng nghìn máy bay ném bom chiến thuật thực hiện các phi vụ đánh phá ngăn chặn. Các phi vụ này ngày càng gia tăng theo nhịp độ chiến tranh trên bộ ở miền Nam. Trong các năm từ 1969 đến 1971, một khối lượng khổng lồ bom mìn chờ nổ bao gồm nhiều chủng loại được rải dọc tuyến đường mòn, đặc biệt ở các khu vực địa hình hiểm yếu, các đầu mối giao thông, tạo nên các điểm tắc dài ngày rất khó khắc phục. Hơn nữa, để tăng thêm hiệu quả ngăn chặn, địch thường xuyên cải tiến vũ khí đưa vào sử dụng các loại vũ khí, thiết bị mới, thay đổi chiến thuật và quy luật đánh phá, tăng cường hoạt động của máy bay AC130 gắn khí tài quan sát, phát hiện mục tiêu bằng tia hồng ngoại và tiêu diệt mục tiêu bằng rốc két 40mm, đẩy mạnh trinh sát điện tử, mở rộng căn cứ xuất phát của không quân để tăng thêm số lượng máy bay và số lần xuất kích... Những tháng năm ấy trên các nẻo đường Trường Sơn, ngày cũng như đêm hầu như không ngớt tiếng gầm rít của máy bay Mỹ. Những chiếc AC130 dai dẳng bám theo các trục đường, bắn hỏng nhiều xe vận tải của ta. ______________________________________ 1. Khu vực hải quân có quyển hạn tương đương cấp trung đoàn. Mỗi khu vực có các phân đội thuyền chiến đấu, đặc công nước, công binh hàng hải, thông tin, rađa. 2. Ví dụ, trên đường 12 và 128. Binh trạm 12 nhích lên đảm nhiệm các trọng điểm phía tây đèo Mụ Giạ tới bắc Na Tông. Trên đường 20, Binh trạm 14 đảm nhiệm trọng điểm Ta Lê, Phu La Nhích đến bắc Ca Cốc...
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #46 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2010, 10:22:27 pm » |
|
Kết hợp với hoạt động ngăn chặn của không quân, đế quốc Mỹ tăng cường các hoạt động thám báo, tung nhiều toán biệt kích liên tục mở các cuộc hành quân hòng chặn cắt bằng được sự chi viện từ miền Bắc vào miền Nam... Tính trung bình mỗi tháng có từ một đến hai cuộc hành quân nống lấn của quân đội Sài Gòn và 18 đến 20 toán biệt kích được tung xuống các khu vực có tuyến đường mòn ngang qua...
Sự đánh phá ngăn chặn dữ dội của địch đã gây nhiều khó khăn, trở ngại cho hoạt động vận chuyển của ta. Hơn bao giờ hết, những tháng năm ấy, cuộc chiến đấu trên tuyến vận tải chiến lược trở nên cực kỳ quyết liệt và rất nóng bỏng. Trong cuộc chiến đấu đó, yêu cầu bức thiết đặt ra là phải bảo vệ vững chắc mạch máu giao thông, phải nhanh chóng mở rộng tuyến đường, phải khẩn trương tổ chức lại và tăng cường thế trận tăng cường lực lượng chiến đấu, công tác trên toàn tuyến, đồng thời hoàn chỉnh hệ thống chỉ đạo, chỉ huy nhằm đảm bảo cho tuyến 559 cùng một lúc đảm trách và hoàn thành ba nhiệm vụ: chi viện chiến lược, đảm bảo hậu cần chiến dịch; tác chiến hiệp đồng đánh bại các cuộc hành quân lớn, bảo vệ vững chắc tuyến vận tải chiến lược và vùng giải phóng; kết hợp chặt chẽ giữa vận tải đường bộ với vận tải đường sông, tăng cường lực lượng và phương tiện cho tuyến 559 đủ sức tác chiến bảo vệ giao thông.
Từ những tháng đầu của năm 1969, Đoàn 559 phối hợp chặt chẽ với Đoàn 500 khẩn trương giải toả một số khu vực trọng điểm vượt khẩu trên đường 12 và đường 20, mở thêm các tuyến 20c, 20d và một số đoạn vòng tránh. Bộ Tổng tham mưu tăng cường cho Đoàn 559 các đơn vị công binh mở đường 18, tạo thêm cửa khẩu mới qua biên giới Việt - Lào để tới khu vực đường 9. Lúc này, 20.000 dân công của tỉnh Quảng Bình được huy động làm đường 10 nối với đường 18 và đường 16. Đồng thời, một số đoạn đường sông cũng được triệt để khai thác để “thả trôi” các kiện hàng... Trong lúc đó, tuyến đường ống xăng dầu vượt Trường Sơn cũng bắt đầu được xây dựng, góp phần rất quan trọng vào việc đảm bảo vận chuyển trên tuyến 559...
Nhằm hợp lý hoá về tổ chức, tập trung lãnh đạo, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác vận tải chiến lược, giữa năm 1969, Quân uỷ Trung ương ra quyết định giải thể Đoàn 500, sáp nhập các cung đoạn, lực lượng, phương tiện trên địa bàn Trường Sơn vào Đoàn 559. Từ đây, tất cả các đường vượt khẩu tiếp giáp với tuyến hậu phương thuộc quyền phụ trách của Đoàn 559; khu vực tây nam Quảng Bình trở thành hậu cứ của tuyến vận tải quân sự cơ giới.
Trong các năm 1970, 1971, Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương đã có những cuộc họp bàn và đề ra phương phương cùng những giải pháp lớn về việc bảo vệ và mở rộng tuyến vận tải chiến lược nhằm đáp ứng cao nhất sự chi viện ngày càng tăng cho chiến trường Nam Đông Dương.
Trong một nỗ lực nhằm hoàn chỉnh hình thức tổ chức và tăng cường năng lực chỉ đạo, chỉ huy lực lượng trên toàn tuyến, chuẩn bị việc vận chuyển lớn chi viện hướng Nam Bộ và Campuchia khi đường biển vào Xihanúcvin bị cắt, tháng 4-1970, Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương cho phép Đảng uỷ, Bộ Tư lệnh 559 thành lập Bộ Tư lệnh khu vực 470. Đây là một đơn vị cấp sư đoàn đầu tiên được thành lập trên tuyến chi viện chiến lược, đứng chân và hoạt động trên một địa bàn quan trọng là khu vực ba biên giới, đồng thời là tiền phương của Bộ Tư lệnh 559.
Tiếp đó, thực hiện quyết định của Bộ Quốc phòng, tháng 7-1970 Mặt trận 968 và Đoàn chuyên gia quân sự 565 ở Hạ Lào được lệnh sáp nhập vào Đoàn 559. Giờ đây, Đoàn 559 đã được tổ chức thành một đơn vị tương đương cấp quân khu, đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ huy trực tiếp của Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh. Đại tá Đồng Sỹ Nguyên giữ chức vụ Tư lệnh và Đại tá Đặng Tính là Chính uỷ đoàn 559. Ngoài Bộ Tư lệnh khu vực 470, trực thuộc Bộ Tư lệnh Đoàn 559 còn có các bộ tư lệnh 471, 472, 473, 5711. Việc tổ chức các bộ tư lệnh khu vực (các sư đoàn khu vực) là một sáng tạo lớn trên tuyến chi viện chiến lược. Cách tổ chức đó chẳng những phát huy được khả năng chỉ huy phối hợp các hoạt động của toàn bộ lực lượng trên từng khu vực mà còn đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ ngày càng nặng nề của tuyến chi viện chiến lược.
Lúc này, Đoàn 559 đảm nhận nhiệm vụ chiến đấu và vận tải chi viện chiến trường trên một khu vực rộng lớn từ nam sông Gianh (Quảng Bình) đến miền Đông Nam Bộ, qua Đông Bắc Campuchia và Hạ Lào, với tổng chiều dài toàn tuyến vận chuyển tới 6000 km ngang qua nhiều khu vực địa hình phức tạp. Để hoàn thành nhiệm vụ, đoàn được tăng cường một lực lượng lớn gồm các đơn vị chiến đấu, các đơn vị đảm bảo và vận tải cùng nhiều phương tiện vật chất - kỹ thuật. Đến cuối năm 1970, thêm 40 trung đoàn, tiểu đoàn vận tải ôtô, vận tải đường sông, pháo cao xạ, công binh chiến đấu và công tác trong đội hình bộ đội Trường Sơn, nâng tổng số quân của Đoàn 559 lên tới 70.000 người. Bên cạnh đó, đoàn còn được bổ sung hơn 3.500 xe tô, 200 khẩu pháo cao xạ và súng cối, 1000 chiến xe ủi, xe kỹ thuật rà phá bom mìn, 700 máy vô tuyến điện. Năm 1971, lực lượng chiến đấu và công tác trên tuyến vận tải chiến lược đạt tới con số 90.000 người.
Toàn bộ lực lượng trên đây được tổ chức thành các bộ phận cơ động và tại chỗ. Bộ phận cơ động gồm bốn trung đoàn ôtô vận tải 11, 12, 13, 27; hai trung đoàn đường ống xăng dầu, ba trung đoàn pháo cao xạ, tám trung đoàn công binh và Sư đoàn 968 bộ binh. Đây là lực lượng cơ động chiến đấu, đảm bảo giao thông trên toàn tuyến; trong đó các trung đoàn ôtô làm nhiệm vụ vận tải đường dài, tập trung vào những hướng có nhu cầu lớn theo yêu cầu của cấp chiến lược. Bộ phận tại chỗ là lực lượng thuộc quyền chỉ huy của năm bộ tư lệnh khu vực, được tổ chức thành các binh trạm, tiểu đoàn, đại đội, bố trí trên địa bàn mà mỗi bộ tư lệnh khu vực được phân công đảm trách. Các lực lượng tại chỗ này triển khai hoạt động của mình trên những cung trạm nối tiếp nhau từ các cửa khẩu đến điểm nhận hàng của các hướng chiến trường. Ngoài các lực lượng cơ động và tại chỗ, trên tuyến 559 còn có hàng vạn thanh niên xung phong, dân công hoả tuyến - những nam, nữ thanh niên từ mọi miền quê hậu phương miền Bắc đêm ngày trụ bám kiên cường trên mọi nẻo đường, dưới các tán rừng Trường Sơn, làm nhiệm vụ mở đường, bảo đảm giao thông, bốc dỡ và gùi thồ hàng hoá... Vào những thời điểm chiến trường chuẩn bị mở các hoạt động quân sự lớn, yêu cầu về quân số, vũ khí, vật chất tăng lên, tuyến vận tải chiến lược còn được phối thuộc thêm một số đơn vị. Chuẩn bị cho cuộc tiến công chiến lược năm 1972, từ tháng 7-1971, Sư đoàn phòng không 377 mới tái lập cùng nhiều trung đoàn công binh và một số biên đội máy bay tiêm kích được điều động gấp vào tham gia chiến đấu mở đường trên tuyến 559... ______________________________________ 1. Tháng 10-1971, Bộ Quốc phòng phê chuẩn việc cho phép Đoàn 559 thành lập các bộ tư lệnh khu vực, phụ trách từng địa bàn, chỉ đạo trực tiếp các binh trạm, tổ chức chiến đấu hợp đồng binh chủng trên tuyến chi viện chiến lược nhằm đối phó hiệu quả với các thủ đoạn và cường độ đánh phá ngăn chặn của địch.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #47 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2010, 10:23:51 pm » |
|
Trước kia việc vận chuyển trên tuyến chủ yếu được tiến hành vào ban đêm trong những tháng mùa khô, trên mạng đường phía tây Trường Sơn. Năng lực vận chuyển do vậy bị hạn chế và dễ bị địch ngăn chặn. Giờ đây, trước đòi hỏi của chiến trường, để đẩy mạnh vận chuyển với quy mô lớn, với nhịp độ ngày càng dồn dập, khẩn trương, tuyến vận tải chiến lược phải có tầm vóc vượt xa tầm vóc hiện tại; phương thức vận chuyển phải được cải tiến, hệ thống đường sá phải được xây dựng và mở rộng thêm, hệ thống các binh trạm, kho tàng, trạm sửa chữa phải được tăng cường và bố trí hợp lý... Để đáp ứng đòi hỏi đó, toàn bộ lực lượng công binh, thanh niên xung phong, dân công hoả tuyến được huy động vào công tác mở đường, đảm bảo giao thông. Trong điều kiện địch đêm ngày đánh phá ác liệt, tập thể những người chiến đấu, công tác trên mặt trận này đã khắc phục muôn vàn giàn khổ hy sinh, phát huy trí thông minh và lòng dũng cảm, đêm ngày trụ bám địa bàn, kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ được giao. Họ kết hợp các phương tiện cơ giới và thô sơ, kể cả dùng biện pháp nghi binh lừa máy bay địch dội bom xuống sườn núi để lấy đá, mở đường. Nhiều nơi, lợi dụng suối cạn ẩn dưới tán cây rừng, những người mở đường đã cải tạo thành những đoạn, những cung “đường kín”, “đường xanh” cho các đoàn xe chạy vào ban ngày. Nối các đoạn, các cung này với nhau, Đoàn 559 đã xây dựng thành tuyến “đường kín” dài hơn 1000km từ bắc Lùm Bùm đến khu vực Hạ Lào1. Trong hai năm 1970 và 1971, sáu trục dọc phía tây Trường Sơn và hàng trăm kilômét trục ngang, hàng nghìn kilômét đường vòng tránh các trọng điểm được những người mở đường Trường Sơn làm mới và nâng cấp, đảm bảo cho các đoàn xe cơ giới hoạt động cả ngày và đêm, tăng khối lượng và tăng tốc độ vận chuyển vật chất ra phía trước.
Bên cạnh vận tải đường bộ, trước đòi hỏi cấp bách của chiến trường, Quân uỷ Trung ương chỉ thị “phải tích cực tăng tỉ lệ vận chuyển đường sông, đường ống, phải nhanh chóng cải tạo các dòng sông, khẩn trương đưa đường ống vào càng sớm càng tốt”2.
Trên mặt công tác này, ngay từ giữa năm 1968, Tổng cục Hậu cần bàn bạc, phối hợp với Bộ Tư lệnh 559 tổ chức đoàn khảo sát, chuẩn bị cho việc triển khai lắp đặt hệ thống đường ống dã chiến từ xóm Rục (Quảng Bình) đến Lùm Bùm (Lào). Tiếp đó, Công trường 18 được thành lập và thi công đoạn đường ống qua các khu vực Vinh - Nam Đàn - Linh Cảm dài 42 km. Đoạn đường ống này, ngay sau đó, được chọn làm trung điểm để kéo dài tuyến đường ống ra phía bắc và vào phía nam. Đây quả thật là một nhiệm vụ mới mẻ, đầy khó khăn, đặt ra một loạt vấn đề thuộc về kỹ thuật rất phức tạp trong điều kiện địa hình núi cao, suối sâu, vực thẳm; nhiều khu vực là vùng trọng điểm đánh phá của địch... Được sự hỗ trợ, giúp đỡ tích cực và hiệu quả của nhà nước, của chính quyền và nhân dân địa phương khu vực đường ống đi qua, toàn bộ lực lượng cán bộ, chiến sĩ, nhân viên kỹ thuật làm nhiệm vụ xây dựng tuyến đường ống chiến lược nối từ hậu phương miền Bắc tới chiến trường miền Nam đã khắc phục muôn vàn gian khổ, thiếu thốn, thử thách, khó khăn; trụ bám kiên cường cả những nơi máy bay địch đêm ngày bắn phá, tìm hiểu và nắm vững quy luật hoạt động của máy bay địch để tìm cách đối phó hiệu quả, kiên quyết gia tăng tiến độ thi công. Nhờ đó, trong ba năm (1969 đến 1971), hệ thống đường ống dài gần 1000 km được lắp đặt và đi vào hoạt động. Vượt qua bao khu vực địa hình phức tạp và hiểm trở với những bình độ xấp xỉ gần nghìn mét so với mực nước biển, từ Hà Nội qua sông Hồng, sông Mã, sông Lam, tuyến đường ống Bắc - Nam chia thành hai nhánh lớn, một nhánh vượt Cổng Trời sang tây Trường Sơn, theo Đường số 12 vào Ka Vát, Bản Xôi, Lằng Khằng (thuộc đất Lào); một nhánh vượt sông Gianh, theo các tuyến đường 10, 18, băng qua dòng Sê Băng Hiêng, vươn tới bắc đường 9. Đây thực sự là bước ngoặt lớn, ảnh hưởng mạnh mẽ tới việc bảo đảm vận tải hàng hoá và sức cơ động binh khí kỹ thuật quy mô lớn của lực lượng vũ trang ta trên các hướng chiến trường. Bởi nếu như mùa khô 1968-1969, bằng phương tiện vận chuyển chính là xe xitéc3, ta chỉ đưa vào tuyến 559 được hơn 90 tấn xăng - trong khi nhu cầu xăng dùng cho số đầu xe của chỉ riêng Đoàn 559 cũng đã là 500 tấn, thì tình hình đó, giờ đây, đã được khắc phục một cánh căn bản. Chỉ trong mùa khô 1970 -1971, khi tuyến đường ống có chiều dài 500 km đi vào hoạt động, khối lượng xăng vào đến tuyến 559 nhận tới 40. 899 tấn xăng dầu, bằng 73,9% tổng khối lượng kế hoạch phải giao cho tuyến 559... Nguồn nhiên liệu được bảo đảm, Đoàn 559 và các chiến trường có thêm điều kiện tăng cường hoạt động vận tải cơ giới và sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại phục vụ chiến đấu, đặc biệt vào thời kỳ quân ta mở các chiến dịch quân sự lớn trên chiến trường4. Năm 1969, khối lượng hàng vận tải vào chiến trường qua tuyến 559 là 170.000 tấn, tăng 29% so với năm 1968, bao gồm hàng chục vạn khẩu súng bộ binh, súng B40, B41, ĐKZ và hàng trăm triệu viên đạn các loại, hàng nghìn máy vô tuyến điện và nhiều vật chất đảm bảo khác. Cũng trong năm này, hơn 80.000 quân từ miền Bắc hành quân vượt Trường Sơn vào bổ sung cho các chiến trường toàn miền Nam. Các năm 1970 và 1971, hậu phương miền Bắc đã gửi vào chiến trường một khối lượng lớn vật chất và 195.000 quân, trong đó có nhiều cán bộ, chiến sĩ thuộc các binh chủng kỹ thuật, đáp ứng yêu cầu kiện toàn tổ chức, biên chế, trang bị của lực lượng vũ trang ba thứ quân, tăng nhanh thành phần binh chủng ở các chiến trường, tạo điều kiện cho bộ đội ta nâng cao trình độ tác chiến, mở các chiến dịch quân sự lớn đánh bằng lực lượng binh chủng hợp thành, góp phần quyết định làm xoay chuyển cục diện chiến tranh. ______________________________________ 1. Để giữ bí mật, ở nhiều cung đường, lực lượng đảm bảo giao thông đã có sáng kiến xây dựng trận địa và kho tàng giả để đánh lạc hướng sự chú ý của máy bay địch, đồng thời tích cực ngụy trang cho các đoạn “đường kín” bằng cách bắc giàn cho cây leo, treo các giò phong lan hoặc làm lưới ngụy trang... 2. Dẫn theo: Công tác vận tải quân sự trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước trên đường Hồ Chí Minh (1959-1975), Tổng cục Hậu cần, 1984, tr.86. 3. Để đảm bảo xăng dầu, có lúc bộ đội ta đã phải dùng túi nilông lót vào ba lô để gùi xăng dầu qua các vùng trọng điểm đánh phá của máy bay Mỹ. 4. Đầu mùa khô 1971-1972, tổng số phương tiện cơ giới hoạt động trên tuyến 559 lên tới 11.000 đầu xe máy. Trong điều kiện nguồn khai thác xăng ở Campuchia rất hạn chế; thêm vào đó, tuyến 559 lại phải trực tiếp vận chuyển chi viện cho Khu V, Tây Nguyên, Trung Lào, Hạ Lào và một phần cho Khu VI, Nam Bộ thì việc đảm bảo hoạt động cho các phương tiện cơ giới, kỹ thuật đòi hỏi một khối lượng xăng dầu rất lớn.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #48 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2010, 10:25:16 pm » |
|
III- ĐẤU TRANH NGOẠI GIAO, CÔ LẬP ĐỊCH, TRANH THỦ SỰ ĐỒNG TÌNH, ỦNG HỘ QUỐC TẾ Hỗ trợ cho nỗ lực Việt Nam hoá chiến tranh, từ năm 1969, Chính quyền Mỹ đồng thời triển khai thực hiện chiến lược ngoại giao nước lớn rất độc ác. Đây là hoạt động đối ngoại thâm độc và xảo quyệt của đế quốc Mỹ, chẳng những nhằm làm suy giảm sự ủng hộ về tinh thần lẫn vật chất của hai nước xã hội chủ nghĩa hùng mạnh là Trung Quốc và Liên Xô đối với sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta mà còn muốn thông qua hai nước này ép Việt Nam phải giảm bớt những nỗ lực quân sự trên chiến trường đến mức thấp nhất, phải chấp nhận những điều kiện của đối phương đưa ra trên bàn hội nghị. Đấy thực sự là toan tính, là âm mưu cực kỳ thâm độc của chính quyền Níchxơn nhằm phối hợp với sức mạnh của Mỹ, ngụy trên chiến trường để kết thúc chiến tranh có lợi cho Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Theo một số tác giả Mỹ thì, thật ra, từ những năm 1967, 1968, nghĩa là trước khi bước chân vào Nhà Trắng, “Níchxơn tin rằng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia độc lập với những mục tiêu cứng nhắc nên không thể giao thiệp với họ mà thành công trong việc cứu Việt Nam Cộng hoà, trừ phi tranh thủ những người ủng hộ là Liên Xô và Trung Quốc của họ cùng với Mỹ gây sức ép” 1. Kể tờ ngày đó, Níchxơn đã xem thế tam giác của mối quan hệ Mỹ - Xô - Trung là con đường có thể có để gây sức ép đối với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” 2. Thực hiện ý đồ trên, trong các năm từ 1969 trở đi, chính quyền Mỹ, bên cạnh việc tăng cường cuộc chiến tranh trên không, trên bộ ở miền Nam Việt Nam và mở rộng cuộc chiến đó ra toàn bộ bán đảo Đông Dương, đã ráo riết triển khai chính sách đối ngoại rất nham hiểm. Họ chắc tin rằng, bằng cách ngoại giao qua đầu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đe doạ leo thang chiến tranh ồ ạt đối với miền Bắc và đẩy mạnh nỗ lực Việt Nam hoá chiến tranh sẽ đưa lại thành công cho Mỹ trong vấn đề Việt Nam. Trong khu vực, Mỹ tìm cách lôi kéo, gây sức ép với Chính phủ Campuchia, tăng cường chiến tranh ở Lào. Trên bàn đàm phán tại hội nghị Pari, chủ trương của chính quyền Níchxơn là vừa tham gia, vừa tìm cách hạ thấp hội nghị, đòi hội nghị đi vào “họp hẹp”, đòi có “họp riêng” 3; vừa tham gia vừa trì hoãn, kéo dài bằng cách nêu ra và bám giữ những đòi hỏi vô lý... Thực chất, mục tiêu của Mỹ là lợi dụng hội nghị Pari để đánh lạc hướng sự chú ý của dư luận trong nước và trên thế giới, biến hội nghị thành bình phong che đậy những nỗ lực chiến tranh mà Mỹ và chính quyền Sài Gòn đang ráo riết tiến hành trên bán đảo Đông Dương, dùng sức mạnh trên chiến trường để tạo áp lực trên bàn hội nghị, buộc nhân dân Việt Nam phải chấp nhận những điều kiện do phía Mỹ áp đặt. Trước âm mưu và hành động chiến tranh mới của địch, Đảng và Nhà nước ta chủ trương tiếp tục giữ vững và phát huy chiến lược tiến công địch trên chiến trường, đẩy mạnh cuộc đấu tranh ngoại giao, tăng cường hoạt động quốc tế, ra sức tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ ngày càng cao của các nước xã hội chủ nghĩa, các chính phủ và nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới. Nghị quyết Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 4-1969 nhận định: “ Tiến công ngoại giao là một mặt tiến công quan trọng có ý nghĩa chiến lược lúc này. Nó có nhiệm vụ phát huy thế thắng, và thế chủ động của ta, tiến công một kẻ địch đang thất bại, bị động về mọi mặt và phải xuống thang; phát huy thắng lợi quân sự và chính trị trên chiến trường, phát huy thế mạnh của ta trên trường quốc tế, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ lớn nhất của nhân dân tiến bộ trên thế giới, kể cả nhân dân Mỹ; triệt để lợi dụng những mâu thuẫn và bế tắc của địch, làm cho tình hình hậu phương của Mỹ ngày càng bất lợi cho Mỹ, làm cho chúng ngày càng cô lập, lúng túng và bị động, nắm vững thời cơ, phối hợp với tiến công quân sự và tiến công chính trị, tiến công liên tục và sắc bén, kiên trì nguyên tắc, khéo vận dụng sách lược, vừa kiên quyết và linh hoạt buộc Mỹ phải rút quân và nhận một giải pháp chính trị đáp ứng yêu cầu cơ bản của ta” 4. ______________________________________ 1, 2. Dẫn theo G.Côncô: Giải phẫu một cuộc chiến tranh, Nxb. Quân đội nhân dân. Hà Nội, 1991, t. 2, tr. 89. Cũng theo tác giả này, trong tính toán của giới lãnh đạo cao cấp Mỹ thời kỳ chiến tranh Việt Nam thì, phạm vi rộng lớn của những lợi ích chung Mỹ- Xô ở những nơi khác trên thế giới, kể cả việc kiềm chế các chính sách của Trung Quốc, sẽ làm cho Liên Xô sẵn sàng đáp ứng những sáng kiến của Mỹ. Đồng thời, phía Mỹ cũng thừa nhận rằng, Trung Quốc cần sự giúp đỡ của Mỹ để phá thế bị cô lập của họ. Đưa ra và thực hiện được những thủ đoạn ngoại giao nhằm vào hai nước Xô, Trung, Mỹ tin rằng sẽ tạo nên sức ép mạnh buộc người Việt Nam phải khuất phục. 3. Nguyễn Duy Trinh: Mặt trận ngoại giao thời kỳ chống Mỹ, cứu nước (1965-1975), Nxb. Sự thật. Hà Nội, 1979, tr.98. 4. Những văn kiện của Đảng về cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954-1969), bản lưu tại Bộ môn Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, t. 1.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #49 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2010, 10:26:18 pm » |
|
Tiến công địch trên mặt trận ngoại giao, tại hội nghị Pari, ngay từ đầu, ta kiên quyết đấu tranh buộc phía Mỹ phải chấp nhận Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tham dự hội nghị với tư cách là một bên độc lập và bình đẳng. Trong mấy tháng đầu của cuộc đàm phán, đoàn ta tại Pari vẫn căn cứ vào lập trường bốn điểm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đề ra từ ngày 8-4-1965, khi Mỹ đưa quân vào miền Nam, mà đấu tranh; còn Mặt trận Dân tộc Giải phóng thì dựa vào Cương lĩnh đã công bố để đấu lý. Chủ động tiến công địch, ngày 8-5-1969, trong phiên họp toàn thể lần thứ 16 của Hội nghị Pari, đại biểu Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam bất ngờ đưa ra giải pháp toàn bộ 10 điểm bao gồm các mặt quân sự, chính trị, đối nội, đối ngoại của miền Nam Việt Nam sau này và vấn đề thống nhất lại Việt Nam nhằm giải quyết vấn đề miền Nam. Nội dung chủ yếu của giải pháp toàn bộ 10 điểm là:
1. Tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.
2. Chính phủ Mỹ phải rút hết quân đội, nhân viên quân sự, vũ khí và dụng cụ chiến tranh của Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam mà không được đòi điều kiện gì.
3. Quyền của nhân dân Việt Nam chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc mình là quyền tự vệ thiêng liêng bất khả xâm phạm. Vấn đề các lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam sẽ do các bên Việt Nam cùng nhau giải quyết.
4. Nhân dân miền Nam Việt Nam tự giải quyết công việc nội bộ của mình, không có sự can thiệp của nước ngoài.
5. Trong thời gian từ khi hoà bình được lập lại cho đến khi tổng tuyển cử, không một bên nào cưỡng bức nhân dân miền Nam Việt Nam phải nhận chế độ chính trị của mình.
Các lực lượng chính trị đại diện cho các tầng lớp nhân dân và các khuynh hướng chính trị ở miền Nam Việt Nam, kể cả những người vì lý do chính trị phải cư trú ở nước ngoài, tán thành hoà bình, độc lập, trung lập, sẽ cùng nhau thương lượng để cùng nhau thành lập một chính phủ liên hiệp lâm thời trên nguyên tắc bình đẳng, dân chủ và tôn trọng lẫn nhau, nhằm thực hiện một miền Nam Việt Nam hoà bình, độc lập, dân chủ, trung lập.
6. Miền Nam Việt Nam thực hiện chính sách ngoại giao hoà bình, trung lập.
7. Việc thống nhất nước Việt Nam sẽ thực hiện từng bước bằng phương pháp hoà bình, trên cơ sở bàn bạc và thoả thuận giữa hai miền, không có sự can thiệp của nước ngoài.
8. Hai miền cam kết không tham gia liên minh quân sự với nước ngoài, không cho phép nước ngoài có căn cứ quân sự, quân đội và nhân viên quân sự trên đất nước mình, không công nhận sự bảo hộ của bất cứ nước nào.
9. Giải quyết những hậu quả chiến tranh: các bên thương lượng về việc thả những quân nhân bị bắt trong chiến tranh, Chính phủ Mỹ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về những thiệt hại và tàn phá do Mỹ gây ra cho nhân dân Việt Nam ở cả hai miền.
10. Các bên sẽ thoả thuận về mọi sự giám sát quốc tế đối với việc rút quân đội, nhân viên quân sự, vũ khí và dụng cụ chiến tranh của Mỹ và các nước thuộc phe Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam.
Với những nội dung trên, đây là một giải pháp vừa kiên trì nguyên tắc bảo đảm độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của miền Nam, đòi Mỹ chấm dứt xâm lược, rút hết và không điều kiện quân Mỹ và quân chư hầu ra khỏi miền Nam, để nhân dân miền Nam tự quyết định lấy chế độ chính trị của mình, không có sự can thiệp của nước ngoài; vừa mở ra triển vọng giải quyết hợp lý hợp tình vấn đề Việt Nam. Đây là lần đầu tiên Mặt trận đưa ra một giải pháp thực tế, tỏ rõ thiện chí mở đường cho Mỹ rút ra trong danh dự mà vẫn giữ được chính quyền thân Mỹ ở miền Nam. Bị động chống đỡ với đòn tiến công ngoại giao này của ta, trong bài diễn văn tám điểm của Tổng thống Mỹ Níchxơn, ngày 14-5-1969 và thông điệp sáu điểm của Nguyễn Văn Thiệu ngày 11-7-1969, Mỹ và chính quyền Sài Gòn vẫn bám giữ lập trường ngoan cố, đòi rút quân Mỹ có điều kiện, đòi hai bên - Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cùng xuống thang, cùng rút quân ra khỏi miền Nam và đòi giữ nguyên chính quyền Sài Gòn. Thực chất, đây là những điều kiện ngang ngược, đánh đồng giữa kẻ xâm lược và người bị xâm lược của chính quyền Mỹ.
Dẫu vậy, từ đề nghị của hai bên, lần đầu tiên trên bàn đàm phán đã xuất hiện hai kế hoạch giải quyết vấn đề Việt Nam. Tựu trung, trong kế hoạch của mình, phía Việt Nam đòi giữ nguyên quân miền Bắc ở lại miền Nam sau khi Mỹ rút và đòi xoá bỏ chính quyền Sài Gòn. Ngược lại, hai điểm chủ chốt trong kế hoạch của Mỹ là quân đội miền Bắc phải rút cùng quân Mỹ và giữ nguyên chính quyền Sài Gòn. Đó là hai vấn đề then chốt tồn tại suốt các phiên họp kế tiếp sau đó mà để giải quyết, các bên tham gia đàm phán đều nhận thức rất rõ, trước tiên và chủ yếu phải tạo áp lực bằng ưu thế quân sự trên chiến trường.
Việc thành lập Chính phủ Cách mạng lâm thời đã tạo ra tình thế mới liên quan tới cuộc đàm phán đang diễn ra tại Pari. Từ đây, ở miền Nam, xuất hiện hình thái hai chính quyền song song tồn tại. Hơn nữa, trong một thời gian ngắn, đã có nhiều nước công nhận Chính phủ cách mạng lâm thời, trong đó hơn 20 nước đặt quan hệ ngoại giao và nhiều tổ chức dân chủ quốc tế cũng như khu vực công nhận, do đó có thêm điều kiện thuận lợi để tăng cường hoạt động đối ngoại và đó còn là một thực tế mà Mỹ, ngụy dù không muốn vẫn buộc phải chấp nhận.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|